Những giai điệu Bolero Việt Nam pha lẫn chất ngũ cung và cả dân ca của vùng sông nước Nam Bộ. Nhưng đồng thời, nhạc Bolero vẫn giữ nguyên sự nhẹ nhàng, lắng đọng trong ca từ.
- Vì giai điệu nhẹ nhàng, ca từ bình dị, nội dung dễ hiểu nên nhạc Bolero dễ dàng tiến nhập trái tim của con người. Đáp ứng nhu cầu về mặt tinh thần của đông đảo quần chúng nhân dân lao động. Chứ không hề mang tính trừu tượng và cần có kiến thức về âm nhạc sâu rộng mới có thể hiểu được như một số thể loại nhạc bác học khác.
Nếu đi từ Ngã Năm Chuồng Chó, chạy xe đạp, lên Phú Nhuận cỡ chừng 10 phút, rồi chạy thêm khoảng 15 phút nữa là đến trung tâm đường Hai Bà Trưng, rồi lên đường Đồng Khởi, Nhà Thờ Đức Bà, Chợ Bến Thành… Nếu đi hướng ngược lại, về An Nhơn, là đến An Phú Đông rợp bóng mát cây xanh, vườn tược, mà còn có cả con sông bé tí, với một bến đò ngang thơ mộng. Hoặc đi theo hướng Thông Tây, nếu rẽ phải là lên Xóm Mới, một thời oanh liệt với nhiều lò sản xuất pháo lừng danh, qua cầu Sắt là gặp Xa Lộ Thủ Đức gió lộng, còn rẽ trái là lên phường 12 Thông Tây, nơi từng nổi tiếng là vườn trồng hoa Tết, cung cấp rất nhiều cho thị trường Sài Gòn mỗi dịp Xuân về.
Một bóng người lao vội về phía hắn.
Hắn lùi lại, né tránh, tay gồng lên, cố đẩy khối thịt đồ sộ ra xa, miệng lắp bắp: - "Bật điện! Bật điện!". Gã mặt sẹo chửi đổng: - "Mẹ mày! Thích sáng à.". Và thò tay vào bật điện.
Hắn hốt hoảng khi đối diện với một thân thể lõa lồ, phì nộn, cặp mắt ti hí đang giương lên, hau háu nhìn hắn.
Chóp chép miệng, nước miếng tứa ra từ 2 khóe mép, chảy dài xuống khuôn mặt nung núc những thịt, Đại Phu Nhân sấn đến, nhấc bổng hắn, vất tọt lên giường. Hắn vùng dậy, bỏ chạy. Đại Phu Nhân nhoài người, túm tay, giật lại. Hắn ngã sóng xoài, cằm va vào chân giường, toét máu.
Xốc hắn đứng dậy, Đại Phu Nhân chằm chằm nhìn vào khuôn mặt trắng bệch của hắn rồi hềnh hệch cười...
Em Cúc ngồi im một lát rồi chợt vùng lên, lội nước, xà sang bên nhà Lão Nhớn giả lả:
- Bói giùm một quẻ đi vậy. Cho đỡ cơn sầu!
Nhớn nhe răng cười khúc khích:
- Ớ.. ờ... Bây giờ lại tin cả thần thánh nữa cơ à?
Cúc dẩu mồm lên:
- Chứ sao! Gì thì gì…! Ông trời cũng phải có mắt chớ!
Nhớn hớn hở:
- Vậy thì trèo lên đây. Ấy, nhè nhẹ thôi không thì sập bố nó chõng của người ta. Gớm cái thân sao mà "bồ tượng" thế! Rồi tối thì nhớ đến nhà con, nghe bà!
Ầm ĩ, chộn rộn những ngày trước tết, đêm 29 rạng sáng 30 tết, nhiều người Ông Tạ cũng không ngủ. Chợ Ông Tạ càng không ngủ – đêm cuối trước tết còn chợ, sau đó sẽ nghỉ đến mùng ba, mùng bốn tùy năm. Thực tế mùng bảy mới hy vọng chợ hoạt động như cũ. Ấn tượng thuở nhỏ của tôi là chợ búa khu Ông Tạ nghỉ tết khá lâu, mùng sáu vẫn loe hoe ít sạp hàng buôn bán. Phải mùng bảy hạ nêu, chợ mới chính thức vào công việc một năm mới.
Tôi biết và đọc thơ văn của ông từ cuối những năm 1960, nhất là sau này, khi tập tễnh “làm quen” với các báo ở Sài Gòn khi ấy. Bài thơ mà tôi tâm đắc và thích thú nhất của ông là bài thơ dài 18 khổ, viết cho tuổi mới lớn, đăng ở tuần báo Tuổi Ngọc vào đầu thập niên 1970. Bài thơ ra đời, như đánh dấu một trang thơ rất Huế và cũng rất hồn nhiên thơ mộng xen lẫn sự lãng mạn của lứa tuổi học trò mới lớn, không riêng gì người Huế, các anh trai sinh viên, học sinh Quốc Học, chép lưu vào sổ tay, mà các O nữ sinh Đồng Khánh cũng chép vào nhật ký, lưu bút, nâng niu, trân trọng…
Năm 1930, Nam Kỳ có cả thảy 6,690 đại điền chủ có từ 50 mẫu đất trở lên. Coi truyện Hồ Biểu Chánh ta thấy chưa có ông đại điền chủ nào có tiền mặt trong nhà quá 40,000 đồng. Trong tiểu thuyết “Con Nhà Giàu” ta thấy cha mẹ Cậu Tư – một đại điền chủ có 500 mẫu điền, chết để lại có 25,000 đồng trong tủ.
Hồi xưa tiền có giá, chưa có danh từ tỷ phú như bây giờ, chỉ đến triệu phú là hết mức. So sánh thêm, thử lướt qua một vài chi tiết về tiền lương mỗi tháng của những người gọi là công chức và dân lao động để biết tiền bạc ngày xưa có giá cỡ nào.
Đặng Xuân Xuyến không chọn cách vẽ lại Hà Nội bằng những địa danh cụ thể như Hồ Tây, tháp Rùa hay phố cổ mà vẽ Hà Nội bằng "cảm giác". Cái hay của người cầm bút lâu năm nằm ở chỗ biết tiết chế cái tôi ồn ào để nhường chỗ cho cái tôi chiêm nghiệm. Hà Nội của Đặng Xuân Xuyến không phải là Hà Nội của một du khách, mà là Hà Nội của một người "trong cuộc" đã đi xa, nay trở về nhìn thấy những vết rạn nứt trong lòng phố và lòng người.
Cuộc cải cách thể chế với việc sáp nhập địa giới hành chính tựa như một lệnh “đặc xá” mà chính quyền trung ương tự tặng cho mình và giới quan chức khắp các địa phương dưới quyền. Một khi ranh giới đổi tên, cơ quan đổi chủ, chữ ký cũ hết hiệu lực thì chẳng ai phải chịu trách nhiệm trước mọi vấn đề dân sinh. Sai phạm của các quan tham cũng bay mất, không còn cơ sở để truy cứu. Dân càng kiện càng thua, cố nữa thì nhà tù đã chờ sẵn ở cuối con đường tìm công lý. Chuyện Dân oan nhan nhản khắp cả nước, thiếu gì.
Trong làng, xã các bà, các cô khéo tay, gói bánh ngon, đều được các gia chủ rước về phụ trách việc gói bánh. Bánh có hình ống với kích thước thay đổi tùy theo người gói : bề dài khoảng 20-25cm, đường kính khoảng 10cm. Vì thế, bánh có tên là “đòn.” Người Nam thường dùng từ ngữ “đòn bánh tét.” Bánh được gói bằng nhiều lớp lá chuối, rồi quấn chặt bằng dây lác hoặc dây tre. Chính lớp lá chuối dầy giúp bánh không bị thiu dưới thời tiết nóng của miền Nam. Sau đó đem luộc trong nhiều giờ. Luộc bao lâu thì tùy theo kinh nghiệm của người gói. Nếu luộc chưa đúng mức, bánh sẽ bị sượng, ăn mất ngon.
Mỗi lần trò chuyện cùng ai mà có nhắc tới tên Pleiku, Kontum hay Ban Mê Thuột thì những kỷ niệm êm đềm ngày nào ở cao nguyên lại hiện về trong trí nhớ của tôi.
Tôi lại hình dung ra rõ ràng trước mắt mình là cả một khung trời bao la, cảnh vật vừa hùng vĩ, oai nghiêm, lại vừa chen lẫn chút thê lương.
Một dải đất trải dài từ Bắc xuống Nam 300 cây số dọc Trường Sơn đã trở thành không thể nào quên.
Thời chiến tranh, nơi ấy mang tên “Cao Nguyên Trung Phần” của nước Việt-Nam Cộng-Hòa. Vùng này chỉ có núi và rừng trùng điệp nối tiếp nhau.
Ở cao nguyên đâu đâu cũng có lính; họ đến từ mọi miền đất nước; họ sống chết bên nhau và thương yêu nhau như huynh đệ.
Ban ngày nắng đổ chói chang, còn ban đêm sương lam mờ mờ phủ xuống mang theo cái lạnh tê người.
Ở đây cách biệt xóm làng, muốn mua một gói thuốc cũng phải lội bộ rất xa nên hầu như chúng tôi không bước chân ra khỏi căn cứ lần nào. May mắn tôi gặp lại một người quen cùng quê, chuẩn úy Nguyễn Tỵ, anh cũng bị động viên mùa hè đỏ lửa 1972, ra trường về Tiểu khu Pleiku, phiên chế vào tiểu đoàn Địa Phương Quân đóng ở đây, hai anh em chuyện trò cũng vơi đi niềm tâm sự của đời lính xa nhà.
Kiệt Tấn là một trong những con số hiếm hoi những nhà văn miệt vườn ấy. Nhưng ở Kiệt Tấn, có hai nửa. Nửa miệt vườn và nửa kia nằm trong số nhà văn thành thị. Một số không nhỏ truyện ngắn ông sáng tác khi sinh sống ở trong nước hay nhất là ở hải ngoại thuộc loại này.
Nó không có cái thứ ngôn ngữ miệt vườn nữa. Mặc dầu vậy, nó vẫn bàng bạc cái tâm tình, lối sống, lối suy nghĩ của một nhà văn miền Nam chính hiệu. Quê hương, đất nước, con người đi đâu thì vẫn là những hoài niệm khó quên, lãng đãng chỗ này chỗ kia được gửi gắm vào trong các truyện ngắn, truyện dài..
Có những lúc tôi tự hỏi: tiếng Việt mà tôi mang theo suốt đời — từ tiếng mẹ ru ở Hà Nội trước 1954, đến tiếng Việt miền Nam ở Sài Gòn trước 1975, rồi đến những năm tháng đi học xa nhà. Nay còn bao nhiêu người nghe được nhịp thở của nó.
Những lúc ngồi đọc báo, một bài báo tiếng Việt, bất kể từ trong nước hay ngoài nước, nghe người trẻ nói, xem những dòng chữ trên mạng, và nhiều khi thấy như mình đang đứng trước một thứ tiếng Việt khác: xa lạ, cứng nhắc, nặng tính hành chính, và thiếu cái hồn mà tôi từng biết. Tôi tự hỏi: “Mình đang đọc tiếng Việt nào đây?”
Thằng bé bước vào quán với những bước đi không vững, nó ghé sát bà bán quán, chìa tay ra một số tiền, chắc là vừa đủ cho một bát cơm hẩm không thịt, cá. Tôi nhìn cái lưng áo rách bươm của nó mà chạnh lòng, nó còn khổ hơn mình. Thằng bé nhận phần cơm quay ra, tôi chết sững khi chạm mắt mình vào đôi mắt nó, đôi mắt của anh tôi, tôi không thể nào nhầm được, đó là thằng con thứ hai của anh tôi, nó có đôi mắt giống hệt mắt của anh tôi… không thể nào nhầm được.
Sau tháng 4 năm 1975, Bảo Tố bị tù Cộng Sản 5 năm qua các trại Trảng Lớn, Long Khánh. Một kỷ niệm đặc biệt là vào năm 1978 nhân dịp Tết ở trong trại tù, Bảo Tố nổi hứng đàn ghi ta cho ca sĩ Duy Trác hát một bài của Cục Chỉnh Huấn là Thề Không Phản Bội Quê Hương “Ngàn cánh tay giơ lên, hàng ngàn cánh tay giơ lên , quyết đấu tranh cho một nền hòa bình công chính…” Và kế tiếp là bản Sài Gòn Chỉ Vui Khi Các Anh Về do Duy Trác sáng tác trong trại tù. “ Còn gì nữa đâu thành phố mộng mơ, thành phố đớn đau vẫn còn nhắn nhủ, Sài Gòn chỉ vui khi các anh về”. Các tù nhân lúc đó kéo đến cùng vỗ tay hưởng ứng hát theo rất vui. Cán bộ trại tù tới giải tán và mấy ngày sau Bảo Tố và Duy Trác bị nhốt riêng vì tội dám hát “nhạc phản động”.
Những làn gió thổi trong rừng ra đem theo màn sương li ti lùa vào lòng xe, cho hành khách thấy khoẻ hẳn lên. Những cây rừng cổ thụ mọc sát bên đường dây leo như những con rắn khổng lồ quấn quanh chằng chịt. Cheo leo trên sườn núi là những chiếc chòi canh giữ rẫy nhỏ và dễ thương như tổ chim. Còn hoa rừng, hoa rừng nhiều vô số đủ màu sắc ẩn hiện trong lá.. Và ơ kìa! Những người thượng (người dân tộc) từ trong sương bất ngờ hiện ra trông hư thực giống như màu sắc tranh lụa nhạt nhoà.
Ông cười bằng đôi mắt nhưng lời nói tựa thở than: “Không có điếu đóm, thì cuộc đời này tẻ nhạt vô cùng!” Mỗi khi cơm nước xong, ông ra ngoài nhà xe kéo vài hơi. Ông ngồi trên ghế bành, chậm rãi vân vê từng sợi thuốc trên đầu ngón tay, vo tròn bằng viên bi tra vào nõ điếu. Đâu đó xong xuôi, ông rút một chân tre khô chẻ sẵn, châm mồi lửa đưa vào nõ thuốc. Ban đầu, ông rít từng hơi ngắn, đầu nõ cháy đỏ, rồi hút một hơi thật dài, tiếng ro re trong điếu vang nghe ấm nồng vui tai. Bấy giờ, Cha mới ngả lưng vào ghế, miệng phả nhẹ từng làn khói trắng, lòng sảng khoái vô cùng.
Con người giống như một cái cây được gieo trồng từ hạt, nhú mầm vươn lên trong sự bao bọc của đất, tưới tắm nắng mưa… lớn dần theo thời gian, cành lá sum sê, rồi một ngày đơm hoa kết trái dâng hiến cho đời những gì tinh túy nhất như một cách tạ ơn.
Ngoài công ơn trời biển của ông bà, cha mẹ mà ta luôn ghi tâm khắc cốt, dọc đường đời còn có không ít những lần ta thọ ơn của ai đó mà chưa có dịp đền đáp. Dù vô tình hay hữu ý, dù lớn lao hay bé nhỏ, dù biểu lộ hay lặng thầm… tất cả đã trôi theo thời gian như nước chảy qua cầu. Những ân tình đó thật khó phai mờ trong ký ức và vẫn thường hiện ra trong tâm tưởng, chỉ cần gợi lại, chỉ cần nhắc đến là trong ta dâu biển chợt ùa về, bần thần, ray rứt, thậm chí đớn đau.
Bịnh nhân rất an tâm khi giao sinh mạng cho bác sĩ giỏi. Thầy thuốc làm việc theo lương tâm, lãnh lương chánh phủ, luôn luôn theo phương châm "Vì lợi ích của bịnh nhân, không vì tiền bạc.” Chỉ mổ để cứu bịnh nhân. Không mổ vì tiền. Đây là điểm son của nền y tế VNCH trước năm 1975 mà ngay cả nước Mỹ cũng không có. Số sinh viên đến thực tập mỗi ngày rất đông, không dưới 100 người nên bịnh viện lúc nào cũng đầy ắp tà áo trắng. Chỉ có một điều là số nữ sinh viên quá ít nên thiếu bóng hồng tha thướt.
Chúng tôi sử dụng cookie để cung cấp cho bạn trải nghiệm tốt nhất trên trang web của chúng tôi. Nếu tiếp tục, chúng tôi cho rằng bạn đã chấp thuận cookie cho mục đích này.