BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 35655)
(Xem: 33247)
(Xem: 32353)
(Xem: 24669)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Hồi Ký Vượt Tù

01 Tháng Chín 201012:00 SA(Xem: 1306)
Hồi Ký Vượt Tù
51Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
51
Đêm đầu tiên ở trại tù lao động Bến Giá tuy nằm đất ẩm lạnh và đèn dầu không đủ sáng nhưng tôi cảm thấy thoải mái hơn nhiều nhà giam tường gạch cửa sắt Vĩnh Long. Nơi đây có gió mát sông Hàm Luông, được nhìnthấy trăng sao qua khung cửa rộng và được hút thuốc, nói chuyện thỏai máị Buổi sáng đầu tiên dậy sớm lãnh cơm, tù mới và tù cũ gặp nhau, vui mừng được gặp lại một số bạn cũ trước ở chung tù Cải tạo: Nguyễn Tuấn, Trọng Tuấn, Kim, Vũ và Phạm Trung Hiếu (HQ Từ). Trại tù lao động Bến Giá tương đối đơn sơ, rộng chừng 500 thước vuông, ở ngã ba sông, hàng rào làm bằng ô rô, chà là và ít kẽm gaị Tuy đơn sơ nhưng vấn đề vượt tù ở đây không mấy dễ thành công. Bến Giá mùa hè, trời nóng bức, không một bóng câỵ Buổi sáng ra đi lao động lúc 6 giờ lạnh lẽo, bù mắt cắn ngứa và đaụ Trưa nắng cháy da, chiều về lảo đảo mệt nhoàị Sinh hoạt ở đây thường ngày đều đều, nặng nhọc, người tù chiều về như đàn lạc đà chở nặng qua sa mạc mênh mông.

Trại tù Bến Giá thuộc vùng cửa biển Hàm Luông, là vùng hoang vu, rừng lức, ô rô và dừa nước mênh mông. Đất phèn, muỗi mòng và chẳng bao giờ nghe được tiếng chim hót, có chăng chỉ là tiếng ếch, nhái, ểnh ương. Khi màn đêm buông xuống, muỗi bay như mắt cửi và chuột bò chạy cả vào mùng. Trại nằmcheo leo ở ngã ba sông, con đường đất độc đạo dẫn ra tỉnh lộ Long Toàn ở hướng tây dài hơn 5 cây số, ngang qua nhiều trạm gác và bộä chỉ huy nông trường. Hai mặt đông tây giáp sông, nam bắc là nhà cán bộ và vọng gác. Vấn đề vượt tù ở đây không khó bởi lẽ mình không bị giam trong bốn bứùc tường với cửa sắt, tuy vậy sự thành công không là chuyện dễ vì ở đây là vùng sình lầy, chỉ có một con đường độc đạo, bọn bảo vệ là dân địa phương chuyên nghề bắt còng, bắt cua ngày trước nên rất giỏi trong việc lùng kiếm, theo dấu chân, đó là chưa nói đến sự kiểm soát, điểm danh từng giờ. Hệ thống báo độäng bằng 3 tiếng súng,hệ thống chốt dày đặc mỗi khi có báo độâng mất tù, chốt xa nhất là trạm Đầu Bờ Trà Vinh cách trại trên 58 cây số.

Tôi đến xứ này như con thú lạc đường, vùng đất tôi chưa một lần đi qua trongđời, tầm mắt tôi không vượt nổi được rừng dừa nước, rừng lức, ô rô, chà là mịt mùng. Tôi nhớ mãi những tấm lòng vàng đã chỉ bảo cho tôi những điều quý giá, chỉ cho tôi biết hướng nào phải đi và đường nào phải tránh, nhất là nên ẩn mình gần trại vài ngày chờ cho báo động và chốt giải tán xong mới đi, vì kinh nghiệm cho biết những lần vượt tù tự túc mà đi ngay đều thất bại vì không tránh né hết được chốt và sự tìm kiếm, lục lọi dấu chân trên sình lầỵ Tôi nói vượt tù tự túc có nghĩa là không có xe cộ, ghe thuyền do thân nhân dàn sẳn đón ở ngoài khi mình thoát ra, mà mình phải tự thân, lập thân, chạy bộ bằng đôi chân đấât. Những tấm lòng vàng: Thiện, người tù dân điạ phương đã một lần trốn và bị bắt lại - Dì Hai bán bún - Trâm bánh cam, cháu của ông trưỏng trại Mười Rùạ Trâm thường bảo cho tôi biết lưu ý bà Ba bán bánh tét vì bà nầy nổi tiếng chỉ điểm nhiều lần cho bảo vệ mỗi khi phát giác vượt tù, Trâm còn bảo tôi mấy anh lúc trước vượt sông Bến Giá đều bị bắt lại vì phải xuyên lộ 17 đi về bến đò Ngủ Lạc, lộ nầy có rất nhiều công an.

Cuối tháng 6, trời vào mùa mưa, chúng tôi được chuyển sang làm ruộng ở gần lộ Long Toàn, nhóm tôi chuyển mạ. Đây là công việc tuy nặng nhưng được di chuyển lanh quanh vì vậy sự tìm hiểu địa thế rộng rãi hơn và có nhiều cơ hội để vượt thóat. Người cán bộ trách nhiệm kiểm soát chúng tôi có tật ghiền rượu và chúng tôi đã khai thác lợi điểm này bằng những bữa nhậu trong giờ giải lao và nghỉ trưa để mong tìm cơ hội.

Một buổi chiều cuối tháng 7, trời nhiều gió, cán bộ Châu đã say, ngưòi bảo vệ xách súng đi về quán rượu, mọi người nhìn tôi với mắt dò hỏị Tôi thầm hiểu là ai nấy đều thấy cơ may, đầu óc tôi suy nghĩ thật nhiều và âu lo, chỗ chúng tôi đứng chỉ có 1con đường duy nhất là chạy vào rừng thưa chờ đêm tối sẽ vượt sông Bến Giá xong xuyên lộ 17 nhiều nguy hiểm, còn xuôi về tây nam thì phải qua cánh đồng trống để về Trà Vinh. Đã qua bao tháng ngày chờ đợi, lòng tôi nôn nóng nhưng bâng khuâng. Anh Hai và Hạnh giục tôi lên đường nhưng tôi lưỡng lự vì trời còn quá sớm, mới có 3 giờ chiều, còn hơn 3 giờ nữa trời mới tối, nhóm tôi lại quá đông đến 7 người, anh Hai đã lớn tuổi, sức yếu, Bé chân cao chân thấp, Bình yếu tim hay xỉạ Rừng thưa khó che chở cho 7 người trong hơn 3 giờ chờ trời tốị Con sông Bến Giá nước lớn và rộng, không hiểu cả toán có thể vượt qua nổi không? Tôi thoáng thấy âu lo và đầu óc tôi chỉ nghĩ đến thất bại hơn là thành công. Tự nhiên tôi thấy thiếu can đảm, bâng khuâng, không dứt khoát. Có lẽ đó là điều chẳng lành vì vậy tôi đã bỏ ý định và tiếp tục việc chuyển mạ của chúng tôị Năm phút sau, người bảo vệ xách súng trở lại gọi chúng tôi điểm danh từng người, hắn nhe răng ra cười khi thấy đầy đủ, tôi thở phào nhẹ nhởm.

Đầu tháng 8, tất cả được dồn xuống ruộng cấy lúa, những thửa ruộng cuối cùng. Thanh sau nhiều ngày theo Thiện học hỏi đường đi, bắt đầu tung cánh . Thanh ghé ngang tôi nói nhỏ ''Anh Vinh, em đí', tôi mỉm cười và trả lời qua ánh mắt đồng ý. Thanh bình thản ra đi, ngang qua nhiều toán lao động có bảo vệ, đến nhóm cuối cùng, Thanh ngừng lại ở mương ruộng xong băng qua đường khuất sau hàng cây và

mất dạng. Lần điểm danh đầu tôi báo đủ, sắp đến giờ điểm danh thứ hai tôi báo cho Xuân tổ trưởng và góp ý có thể báo được rồi vì đã 2 tiếng đủ cho Thanh đi xa rồị Xuân hốt hoảng chạy đến hỏi ý Thêm (anh ruột của Xuân), Thêm chưa bằng lòng, tôi phải bàn với Thêm là đủ giờ rồi khỏi lọ Thêm đồng ý, Xuân đến báo với bảo vệ. Lập tức 3 tiếng súng nổ báo động, bọn bảo vệ nông trường súng cầm tay

túa ra, hôm ấy đặc biệt có Mười Tràng, phó giám đốc công trường mặt mày hung dữ, tay cầm cây K54, Mười Tràng goị Xuân đến chửi mắng hăm doạ. Mười Tràng lên đạn đòi bắn Xuân, mặt Xuân tái xám thật tội nghiệp. Sau đó Mười Tràng ra lệnh cho Xuân và tôi lội xuống con lạch giữa ruộng chui vào các lùm cây để tìm kiếm. Mười Trường lải nhải, nếu tìm không ra sẽ bắn thế mạng. Năm giờ chiều,

tan giờ lao động, chúng tôi được dẫn về lại trại, thoát được Mười Tràng trong lòng nhẹ nhỏm.

Tháng 8 nông trường, tháng nhiều sôi động vì xãy ra nhiều vụ trốn tù về đêm đây là thành qủa của sựï mốc nối của gia đình với những tên bảo vệ. Trong 8 người tù trực đêm, tôi và Phú là 2 tổ phó để mất tù nhiều nhất. Trực đêm là công việc của tổ trưởng và tổ phó do anh em bầu ra; công việc thật khó khăn vì phải thức suốt đêm, báo cáo mỗi đầu giờ và thường hay ''lạc đạn'', khi bị mất tù.

Đêm mồng 5, hôm ấy là ngày thăm nuôị Long và An ra đi từ chập tối, lần điểm danh 8 giờ tối bỏ qua, 9 giờ mới báo cáo mất tù. Lập tức bọn bảo vệ xách đèn và kiểm soát, la hét, nộ nạt; chúng tịch thu đồ của Long, An để lại. Mười phút sau Năm Khen trưởng ban bảo vệ khét tiếng đánh người đến cửa gọi lớn Thằng nào gác đêm. Đội trưởng Thôi trả lời: Thưa, anh Vinh và hắn gọi tôi: Anh Vinh đâu ra gặp anh Năm. Tôi bước ra cửa trả lời: Có tôị Năm Khen bảo: Tại sao bây giờ mới báo? Tôi trả lời: 9 giờ tôi đi rờ chân từng người mới biết giường anh Long và An chỉ có mền đắp lên gối, nên tôi báo liền. Hắn gằn giọng: Mất người lâu rồi mới báo, bao che phải không? Hắn quay sang bảo vệ Bảy Đỏ nói: Dấu chân tuị nó khô rồi, đi lâu rồị Hắn gầm gừ rồi quay đị Tôi trở vào nhà, nghe tiếng Bảy Xuân: Anh Vinh hên. Tôi đến giừơng Dũng rít ké 1 điếu thuốc lào, thở phào nhẹ nhỏm, xong trở lại giừơng trực, chui vào mùng chạy trốn bầy muỗi đói.

Giữa tháng 8, những đường dây móc nối bị bể - quán cô Thủy bị dẹp - Thủy và Cước bị đuổi không cho bán quán ngoài cổng trạị Một số bảo vệ bị bắt: Bảy Đỏ, Đỏ Den và một số khác - lúc này nông trường được tăng cường thêm bộ đội canh gác thật gắt. Nhưng bọn chúng chỉ chú trọng 3 mặt đông, tây, và nam; nhìn thấy mặt bắc bỏ ngõ, tôi bàn với Quốc Tuấn (BK Dù). Quốc Tuấn đồng ý, dù vậy tôi

không tham gia được vì con đường mương nhỏ chạy ngang, cách vọng gác chừng 3 thước, đủ cho 1 thân người bò dưới đó, chạy ngang đội 6 nơi Tuấn ở, còn tôi ở đội 7 không thể đến đó an toàn. Cuối cùng Quốc Tuấn ra đi cùng với Trọng Tuấn ở chung nhà, nhưng bị phát giác quá sớm, vì vậy chỉ một mình Quốc Tuấn thoát ra, Trọng Tuấn kẹt lại nhưng may mán không bị phát giác.

Cuối tháng 8, tình cờ một buổi trưa có mấy tên bảo vệ lưới cá ở đường mương hướng đông, tôi và Hạnh theo coi, tôi quan sát thấy lỗ hổng hàng rào bên kia mương nơi đặt máy bơm lúc trước chưa được lấp lạị Lỗ hổng này thẳng hàng với cột volley và hông trái nhà đội 2. Tôi và Hạnh bàn tính sẽ ngồi căn tin uống cà phê, trời sập tối sẽ bò ra cột volley, nhìn về đội 2 lấy chuẩn xong giữ hướng lội xuống mương, sang bên kia sẽ đúng ngay lỗ hổng để thoát rạ Mọi việc đang êm xuôi, trong lòng đang bồn chồn thì anh Ba rề đến hỏi tôi: Hồi trưa thấy ông thị sát mặt trận, đánh không cho theo vớị Tôi không thể chối được với ông bạn gìa thân thiết bèn nói thật, nhưng ngại đông. Anh Ba nói ông cụ đang hấp hối rất cần đị Tôi bàn bạc với Tuấn và Hạnh; cuối cùng nhường cho anh Ba va T. Tuấn, quả nhiên lần này thành công nhẹ nhàn và êm ái như dự trù. Hạnh lại thêm một lần cằn nhằn và thở ra tiếc rẽ, tôi lại phải trấn an và trong thâm tâm tôi cũng rất nôn nóng, bồn chồn và tiếc hùi hụi.

Đầu tháng 9, những ngày cuối của vụ làm ruộng, tôi bị sốt rét phải nằm nhà. Bình vượt thoát thành công sau khi cho cán bộ Châu nhậu và lừa nó để đi mua rượu thêm. Lại thêm một lần tôi thấy buồn bởi kế hoạch phục rượu tôi đã cưu mang từ kâu mà giờ đây chẳng có tôị Bình ra đi, tôi và Phú cứ nhìn nhau cười và chửi đổng mỗi lúc nhấp chén rượu đế cháy tim gan. Một hôm đi lao động về, vưà vào cổng trại mệt đừ đã gặp Hiếu chờ với nét mặt khẩn trương. Hiếu ghé tai nói nhỏ: Tụi nó biết mày rôì, hồi trưa tao nghe Hai Đối hỏi anh Đức liên đội trưởng cái gì đó có tên Đ.Ụ Bá. Đêm ấy thật là đêm kinh hoàng, tôi nằm mơ Tư Bình Nam Giám đốc công trường, Hai Đối, Năm Khen trên chiếc xe Jeep lùn đến bắt tôị Tỉnh giấc, thấy mình còn bình yên tôi mừng thầm, gọi nhỏ Hạnh hỏi: Hồi hôm nghe anh mớ gì không? Hạnh đáp: Không, chỉ thấy anh đạp em và ú ớ gì đó thôi, nghe không rõ. Tôi cảm thấy yên tâm và chuẩn bị mọi thứ để đi lao động.

Ngày 17-9-82, ngày sinh nhật của tôi, buổi sáng trời mưa nhỏ, sắp hàng đi lao động trong lòng suy nghĩ bâng khuâng. Đội trưởng Thông loan báo tôi dẫn toán 10 người đi bộ chỉ huy nông trường làm nhà. Đang buồn vu vơ, tự nhiên thấy lòng thỏai mái, thấy Hạnh và anh Hai mặt mày hớt hải vì nghe được đi làm ở bộ chỉ huy, nơi có rất nhiều cơ hộị Tôi miên man nghĩ một điều gì đó, nghĩ đến con số 17 đã đến với đời tôi nhiều lần vinh nhục. Tôi sinh ngày 17, tốt nghiệp khóa 17; nhận đơn vị đầu tiên trong đời ngày 17; bị bắt ngày 17 và đến nông trường cũng ngày 17.

Đến BCH nông trường, tóan tôi được chỉ định làm nhà Bệnh xá, 5 người lên mái đóng đòn tay, 5 người khiêng cây, tôi và Hạnh leo lên mái chừng hơn 1 giờ cốt ý là để quan sát bốn bề, sau đó tôi đổi cho anh Haị Người bảo vệ hôm ấy là Uùt (em của Năm Khen), Uùt tương đối hiền lành, hơn thế nữa hắn vừa cặp bồ được Hạnh bán chè nên hắn tỏ ra vui vẻ và dễ dãi hơn mọi ngày.

Tôi đi vát cây gặp Hải tóan mộc đang ngồi nhổ đinh, Hải nói nhỏ với tôi Hôm nay tụi nó nhậu lớn trong BCH mình đi anh Vinh. Tôi trả lời Hải Để coi, bây giò còn sớm quá. Tôi vá bốn anh em khiêng cây qua lại BCH, bên trong Tư Bình Nam, Mười tràng, Hai Đối và một số công an tỉnh đang nhậy nhẹt, la hét um sùm, một vài tên bảo vệ cũng vào nhậu ké.

Trời lất phất mưa, tôi ngồi bên cạnh Uùt dưới tàn tre, rút thuốc mời nó hút và hỏi chuyện bâng quơ về Hạnh bán chè, hắn cười ra vẻ thích thú. Tôi và Hạnh gỉa bộ đi cầu ở ao cá tra, con đường tương dối an toàn, chỉ sợ một điều là khi băng qua con đường đất trống mà thôị Đang nhìn nhau lưỡng lự thì anh Hai đi đến, tôi thấy không ổn bè quay lại khiêng cây.

Mười giờ sánh có tiếng súng báo động bên phía mương dừa, tôi thấy lòng đau thắt, thất vọng bởi vì tôi khó thực hiện ý định vượt tù ngày hôm nay bởi vì tuị nó kiểm soát gắt gao hơn và chốt đã đóng khắp các ngã đường. Trời càng lúc càng mưa thật lớn, nước ngập vào nhà, tôi lại thấy tiếc, ít có dịp mưa lớn như thế này. Bảo vệ Uùt dồn hết chúng tôi vào nhà mộc, ngồi một lúc hắn giao toán cho tôi rồi xách súng đị Dì Hai bán bún từ khu mương dừa mới đến, tôi hỏi ai trốn ngoài đó. Dì trả lời Chú Hiếu trắng. Vừa nghe tôi lặng người đi và buồn. Từ đã bỏ đi và tôi khó lòng vượt thoát được ngày hôm nay; mặc dầu cơ hội đã đến.

Hai giờ chiều, trời hết mưa, bảo vệ Uùt trở ra điểm danh và mọi người trở lại làm việc. Uùt ôm súng ngồi ở gốc tre, tôi và Hạnh khiêng thêm cây, bọc qua phía chuồng heo có dàn mướp um tùm, ngang qua giếng nước, cán bộ Năm Thanh đang coi mấy anh em đóng giếng, tôi ngừng lại xin Hoành một điếu thuốc, nói vài câu bâng quơ rồi trở lại khiêng cây.

Bốn giờ chiều, trời lại mưa lâm râm, cuối chân trời mây u ám, giờ lao đông sắp mản, tôi thấy cần phải quyết định không để lở cơ hội hôm naỵ Tôi bảo nhỏ Hạnh bay, mắt Hạnh sáng lên, chùng tôi đi về phiá cầu cá tra, ngang qua toán làm giếng, tôi thấy ngại Năm Thanh nhưng cố gắng bình tỉnh như đi mình đi cầu tiêụ Ra tới mương cá tra, chúng tôi lanh lẹ phóng xuống, qua bờ bên kia xuống thêm một mương nữa, leo lên chạy theo mương dừa, băng qua con lộ và phóng xuống vũng dừa nước, cả ba đứa hụp xuống đến cổ, đi bộ trong nước, con lạch càng lúc càng sâu, chúng tôi bơi qua bờ bên kia, leo lên chạy trong rừng dừa nước; chạy hết rừng thứ nhất bơi sang 1 con lạch đến rừng thứ hai rồi một con lạch nữa đến rừng thứ ba người thấm mệt, chân đạp gai chảy máu, chân vướng dây leo té sấp té ngữa, người ướt như chuột lột vậy mà mồ hôi đổ và hổn hển không kịp thở. Lúc này tiếng súng bên ngoài nổ ran, bọn chúng bắt đầu lùng kiếm vì vậy chúng tôi cố gắng chạy thêm, mặc dầu rất mệt. Bơi qua con lạch cuối cùng, tôi sút bị chìm vì quá mệt; leo lên hàng dừa nước xong bò ra rừng lức và cứ thế ba đứa bò hàng dọc chui sâu vào rừng lức chằng chịt suốt mấy tiếng đồng hồ. Trời bắt đầu mưa nhiều thêm, tôi nghĩ bụng trời thương cho cơn mưa lớn khỏi sợ bọn chúng tìm ra dấu chân. Ba đứa nằm nghỉ, Hạnh nghe có tiếng người và bước chân đi, mặt nó tái xanh quay lại bảo nhỏ tôi Anh Vinh có người, tôi ra lệnh im lặng và ngồi chụm lưng vào nhaụ Ba đứa ngồi im lặng, lắng tai nghe ngóng, tiếng muổi bay như ổ ông bên tai, tay chân đau và ngứa, vuốt đến đâu máu đến đó, không dám đập sợ tiếng động. Tiếng người càng lúc càng xa, ngồi úp mặt xuống hai đầu gối, áo thun trùm đầụ Chợt có những tràng AK và đại liên thật gần, tôi hồi hộp không biết chuyện gì xãy ra.

Trời càng khuya càng lạnh, muổi tấn công đủ mọi phía, đau và ngứa khó chiụ, lâu lâu vuốt vào cánh tay xác muổi nhám bàn tay và máu rít rít. Cố ru giấc ngũ nhưng chỉ chập chờn, hai chân tê cóng. Thỉnh thỏang Hải và Hạnh kề tai nói nhỏ Có tiếng người đi, tôi hồi hộp áp tai xuống đất nghe ngóng, quả thật có tiếng chân người nhưng xa dần. Hừng sáng bị ngứa cổ vì cảm lạnh, muốn ho nhưng không dám, úp mặt vào hai bàn tay, cuối xuống sát đất thở mạnh cho khỏi ngứa cổ, khỏi ho vậy mà nó cứ ngứa mãi thật khó chiụ. Mặt trời đã lên cao, ánh sáng xuyên cành lá, tôi nghe rõ nhiều chân người từ xa, Hải và Hạnh cũng thế, hai đứa nhìn tôi nét mặt âu lo, tim tôi đập mạnh, tiếng người càng lúc cang gần và xôn xao. Tôi ra dấu cho Hải, Hạnh ngồi yên đừng gây tiếng động. Tiếng người thật gần, thật rõ, thật đông rồi từ từ xa dần. Tôi ghé tai nói nhỏ Hải, Hạnh Có lẽ anh em đi lao động, mình ở gần đường cáị Hai đứa nhìn tôi với đôi mắt đồng ý và nét mặt bớt lo âu. Gần trưa tôi bẻ mấy cành lức để trống một khỏang không, cõng Hải đứng lên để quan sát, nó cho biết là chúng tôi ở gần ngã tư 1A, con đường bên phiá tráị Tôi cãm thấy an tâm vì tôi và Phú thường bàn với nhau lúc làm mương dừa, nếu khi mình thoát ra chạy ngược về hướng nam chui vào rừng lức gần ngã tư 1A thì rất an toàn, rừng lức rậm rạp bao la khó tìm, vã lại những vụ trốn trước kia đều về hướng Bắc hoặc tây bắc, mình sẽ đánh lạc hướng chúng tìm kiếm.

Buổi trưa nắng gắt, ánh nắng rọi xuống qua kè hở, câây lá đở lạnh và đở ngứa dù không làm khô được đất rừng ẩm ướt muổi mòng. Buổi chiều trời tắt nắng, tiếng người xôn xao lại đến gần, xa xa có vài tiếng súng nổ, chúng tôi ngồi yên lắng tai nghe từng bước chân đi, thỉnh thoảng nghe được tiếng nói chuyện của anh em tù và tiếng la hét của tên bảo vệ.

Đêm xuống lạnh lẻo, muổi mòng tấn công dữ dội, tòan thân người đau và ngứa, cổ lại ngứa bắt ho nhưng ráng kiềm chế. Đêm dài như vô tận nhưng rồi cũng qua đi trong giấc nhũ gà ngủ gật. Aùnh sáng lại lên nhưng vẫn còn lạnh, khát nước quá nhưng phải cắng răng; mặt trời lên dần, ánh sáng chiếu qua khe hở của cây lá, tôi bẻ một nhánh cây cắm xuống đất lấy bóng mặt trời để đinh hướng Bắc, cào đất bằng ngón tay theo vệt bóng xong đút một cành cây khác song song vết cào vào gốc cây để khỏi bị xê dịch hướng. Buổi trưa thật nóng và khát nước, tôi phải nằm sát xuống đất ẩm, Hạnh mếu máo đòi bò ra kiếm nước, tôi không đồng ý, cu cậu phải nằm im.

Đoàn người tù về sau giờ lao động nghe tiếng xôn xao từ từ ngang qua rồi mất hẳn. Mặt trời đã xuống nhưng ánh nắng hãy còn, tôi quay mình nằm xuống nằm song song với vết cào, chui đầu vào giữa hai bụi cây theo hướng Bắc là hướng chúng tôi sẽ đi vào chập tốị Màn đêm buôn xuống chúng tôi bò đi, cố giữ thật thẳng đúng hướng hy vọng sẽ ra đúng ruộng Hai Đối; sau đó băng qua 4 con mương dừa xong quẹo trái 90 độ là bắt được đường ra Bến Giá, phải làm đúng như vậy mới mong đúng đường vì trời tối như mực. Bò hơn 1 giờ thì ra khỏi rừng lức, bắt gặp rừng dừa nước, ba đứa trầm mình xuống nước mát lạnh, uống một bụng no nệ Hải nói bên kia rừng dừa là ruộng Hai Đốị Tôi nhìn lên bầu trời quả là sao Đại hùng nằm trước mặt, tôi gật đầu và ba đứa bơi sang gần đến bờ thì thấy bóng đèn, chúng tôi nhẹ nhàn nép sát vào gốc dừa, nước ngập đến cổ, lặng lẽ quan sát, một dịp hú hồn vì đó là đèn soi cá của dân xa xạ Ba đứa thận trọng từng bước trong rừng dừa, lát sau đã thấy khoảng trống bên phải, xa xa là hai vệt trắng mờ mờ, con đường cuối ruộng Hai Đốị Ba đứa đổi hướng đông lội qua vài vũng nước cạn đến ruộng Hia Đốị Giờ này còn quá sớm, có lẽ chừng 8 giờ đêm vì vậy chúng tôi ngồi lại bên sườn của đống cỏ ruộng để quan sát trước khi băng qua con lộ. Chừng 1 giờ sau, có nhiều ánh đuốc trên đường, chúng tôi thấy rõ có người gồng gánh, có người xách tay vừa đi vừa nói chuyện ồn ào, Hải bảo là tụi nó đi bắt cá, nơm ếch về, tôi ngồi yên không có ý kiến. Một lúc lâu, tôi đoán vào khoảng 10 giờ đêm, là lúc phải lên đường mới kịp đến Bến Gía 12 giờ có chợ khuya để dễ trà trộn, tránh được công an. Tôi bảo Hải, Hạnh quan sát thật kỷ con đường đất, khi hoàn toàn chắc chắn không có bóng người, ba đứa băng ngang qua lộ, tôi thở phào nhẹ nhởm lúc qua hết mương dừa thứ nhất và lẩn khuất trong bụi rậm, chúng tôi tiếp tục băng qua 2 mương lộ nữa rồi quẹo tráị Đường gập ghềnh gai gốc, mò mẩm và nương tựa nhaụ Qua một bải trống Hải nghi là đến mương dừa có nhà bọïn bảo vệ mới làm cách nay hơn tháng, Hải biết vì nó ở trong toán làøm mộc. Quả thật một lúc sau chúng tôi thấy mờ mờ căn nhà lá im lìm. Chúng tôi quay lui một khỏang rồi băng ngang thêm hai mương dừa rồi quẹo trái 90 độ vì đi không chính xác; mặc dầu tránh được nhà bảo vệ chúng tôi phải lội nước đến đầu gối qua một khỏang ruộng sâu mới lên được con lộ Long Toàn. Ba đứa núp vào bụi cây nghe ngóng xong lại lên đường. Đoạn đường đầu tiên nguy hiểm và hồi hộp vì con đường này khi đến ngã ba có nhiều nhà công an và cán bộ nông trường. Ba đứa đi lặng lẽ, tiếng chó sủa vang khi đến gần ngã ba, chúng tôi đi sát bờ rào răng cắn chặt lấy môị Qua được đoạn nguy hiểm rồi đến đọan đồng trống hơn một cây số trước khi lên cầu đập Bến Giá. Tôi bảo Hải, Hạnh để ý quan sát nếu có bóng người hoặc đèn xe là tuột xuống bờ ruộng liền. Vừa đi vừa nghe ngóng, trong lòng tôi bồn chồn lo âu, lo vì cầu đập Bến Giá sợ có lính gác, vì vậy chúng tôi phải chuẩn bị sẳn, xé một bên tay áo, nếu quả thật có lính gác, tôi sẽ dồn sõi vào tay áo cột lại dùng làm vũ khí, Hải và Hạnh đã được dặn trước là sẽ núp phiá móng cầu bên kia rồi làm tiếng lạ cốt cho lính gác trên cầu đi ra bờ đường nhìn xuống tìm kiếm và tôi sẽ tấn công từ bên này móng càụ Dù là tính toán như vậy nhưng lòng tôi hồi hộp lo âu vì nếu sự việc xãy ra thì chỉ một mất một còn, năm ăn năm thua hoặc thua hòan toàn, tôi lâm râm cầu nguyện. Gần đến cầu Bến Giá đã thấy nhiều bóng đèn bên chợ, tôi mừng thầm nhưng lòng hồi hộp, tim muốn rớt ra ngoài khi nghĩ đến lính gác trên cầụ Ngừng lại quan sát một lúc, trên cầu chẳng có ai gác, tôi thở phào nhẹ nhỏm và ba đứa băng qua cầụ Trái với dự trù, gìờ này chưa đến nữa khuya, hay đã quá trể mà chẳng thấy ai đi chợ, có nhiều ánh đèn nhưng hàng quán đóng cửa im lìm, ghe thuyền đậu san sát trên cạn, dưới nước, chân đạp vỏ sò hến đau đau. Ba đứa quay lại lên đường tỉnh lộ, qua một trạm gác hiu hắt không người, rồi đến đoạn đường nhiều tre um tùm hai bên, tôi cảm thấy nhẹ nhàn vì đã qua được vùng nguy hiểm. Ghé tai nói nhỏ với Hải, Hạnh cố đi thật nhanh, có động hoặc đèn xe là tấp vào bụi ngaỵ Đường đi không nhìn thấy rõ, có đoạn cát mịn, có đọan đất gồ ghề, có đoạn đá cục chân vấp chảy máu đau nhói tê buốt. Đôi lúc thấm mệt nhưng cố gắng vừa đi vừa chạy chỉ mong cho chóng qua được quảng đường dài trước khi trời sáng, lắm khi hồi hộp lo âu vì phải băng qua những cây cầu sợ có lính gác.

Có lè đã 2 giờ sáng, có tiếng gà gáy xa xa, thỉnh thoảng những người đàn bà gồng gánh ngang nghe mùi bắp nấu, Hạnh nói tiếng miền Tây hỏi mua 6 trái, ba đứa vưà đi vưà ăn, bao tử bớt xót xa va sức khoẻ thấy khá nhiềụ Xa xa phiá sau có ánh đèn xe chạy chậm, tôi đoán là xe đò Long Toàn lên, chừng nữa giờ sau xe đến gần, chúng tôi vưà đến xóm nhà gần cầu ngang, tạt vào trong bờ cây để tránh đèn xe và quan sát. Xe đò sớm chỉ có mấy người đàn bà đi buôn, xe qua rồi chúng tôi tiếp tục đi, đến cầu ngang trời còn đang tối, mới có 2 quán mở cửạ Chúng tôi vào quán ông ba Tàu, ngồi bàn trong góc gọi 3 tô hủ tiếu, 3 ly cà phê và 6 điếu thuốc capstan. Đồng hồ trên tường chỉ đúng 5 giờ 12 phút sáng, đợi hủ tiếu, ngồi uống trà hút thuốc, đầu choáng váng muốn say.

Aên xong, xe đò đậu gần đó nổ máy, 3 đứa chui tuốt vào trong cùng xe, ngồi với tư thế tự nhiên, chỉ có điều ngại là chân không có dép nên cố giấu đôi chân khi đèn bật sáng. Xe chạy ì ạch, lắc lư. Trời từ từ sáng, tôi lén nhìn những khuông mặt đàn ông trên xe, nhưng may mắn không có mặt quen, cũng phần nào yên tâm. Gần 8 giờ sáng xe đến ngọai ô Trà Vinh cách trạm Đầu Bờ chừng hơn cây số, ba đứa xuống xe tạt vào một chợ nhỏ mua dép; vừa mua dép Hạnh (giọng miền tây) nói luôn miệng Hồi hôm xỉn quá, xây chừng nhiều quá. Anh chủ bán dép có vẻ tinh ý, bảo nhỏ chúng tôi vào sau nhà rửa mặt, rửa chân, anh ta cười với đôi mắt hàm ý nhưng hiền lành. Trở ra mua thêm1 gói thuốc rồi từ giả. Ba đứa lên xe lôi về Trà Vinh, tôi bảo Hạnh để ý khi nào đến gần trạm Đầu Bờ thì báo để tất cả quay lưng nhìn phía bên kia đường tránh bọn chốt nhận diện nếu có. Đến bến xe Trà Vinh, Hải chia tay, phóng lên xe đò về Sài gòn, đó lần sau cùng tôi gặp Hải, giờ này chẳng biết Hải phiêu bạt nơi nào.

Tôi và Hạnh đón xe Cần Thơ nhưng không có, 2 đưá vào quán sửa đậu nành. Lòng tôi như bâng khuâng, bèn bảo Hạnh đi xe lôi, để thua ở đây thì cay đắng lắm. Hạnh đồng ý thuê xe lôi 700 đồng về bến phà Cần Thợ Hơn 1 giờ chiều, đứng trên phà Cần Thơ nhìn lại trời nước và dòng sông Cái Vàm nơi cách nay 8 tháng tôi lái tàu vượt biên đi qua và cuối con sông này ngoài cửa biển nơi tôi đã bị bắt và bị trói hai tay ra sau, tự nhiên thấy lòng bâng khuâng.

Tôi và Hạnh đi xe lôi đến quán cơm ngã tư bến xe Cần Thơ, vào quán Hạnh viết mấy chữ dán lại rồi thuê xe đạp ôm chuyển về nhà cô Tư.

Hơn 2 giờ chiều,chúng tôi trở lại căn nhà yên tỉnh. Nơi hơn 8 tháng trước tôi đã ở lại đây để chuẩn bị một chuyến đị Cô Tư, cô Sáu đón chúng tôi với những giọt nước mắt vui mừng.

Tôi ở lại đây một đêm với những chai bia xuất khẩu và khói thuốc capstan ngọt ngào quấn quít. Sáng dậy sớm, mặc áo quần gọn gàng đẹp đẻ của Hạnh cho để ra xe đò về thành phố. Hạnh rươm rướm nước mắt tiển tôi lên xe ôm, và từ đó chúng tôi không còn gặp nhau nữa.
Sài gòn vẫn bình thường như ngày tôi đi, phố xá đông đảo, xe đạp, áo bà ba,quần jean và dép sa bô như ngày nào.

Vài hôm sau tôi tìm thăm T.Tuấn, Q.Tuấn, Hiếu trắng (HQ Từ), rất đổi vui mừng. Hơn tháng sau đến thăm anh Ba, rồi gặp Hoành vừa trốn về cùng Phú. Sáu đứa lái xe đạp hàng dài ra quán cây còn ngã tư Bảy Hiền để Phú đải một chầu cờ tây cho thỏa lòng mơ ước của những ngày tháng trong tù

Cali 1984
Phan Đình Bá
(H.Q17. Bá Gỗ)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn