BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 63287)
(Xem: 58330)
(Xem: 35814)
(Xem: 28028)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Kho vàng của thượng tướng cộng sản Chu Văn Tấn

30 Tháng Giêng 201412:00 SA(Xem: 4700)
Kho vàng của thượng tướng cộng sản Chu Văn Tấn
55Vote
418Vote
30Vote
20Vote
122Vote
2.645
Trại tù Thanh Liệt, huyện Thanh Trì, ngoại ô Hà Nội, cũng nhưtrại tù Hỏa Lò ở Hà Nội, là những trại giam hình sự, nhưng có một số phòng đặc biệt đểgiam cầm những phần tửmà chế độ cộng sản gọi là “phản động, chống đối cách mạng”. Tại trại tù Hỏa Lò, trong thời gian chiến tranh, các phi công Hoa Kỳ (trong đó có đương kim Thượng NghịSĩ Mc.Cain) bị bắt giữ, giam cầm. Các tù nhân chiến tranh Hoa Kỳ này thường gọi mỉa mai đó là “Khách sạn Hilton”.

 

(Cổng trại tù Thanh Liệt (bí sốB-14) ngoại ô Hà Nội – hình do một người bạn Mỹtặng tác giảnăm 1993 tại Hoa Thịnh Đốn, với câu nói: “Chúng tôi biết sau cổng trại tù này, Ông đã bịbiệt giam hơn 10 năm…”. Hình nhỏbên trái: - Hình chụp tác giảtại tư gia ởSydney khi ởtù về, 1992, sau 10 năm 1 tháng 17 ngày bị biệt giam ở trại tù Thanh Liệt).


Suốt hơn 10 năm bịgiam tại trại tù Thanh Liệt, phòng số8 – Khu D -, tôi không được ra ngoài đi lao động, không được liên lạc với gia đình, chỉthường xuyên bị“làm việc” với các cán bộquản giáo, hoặc thẩm vấn viên từBộNội Vụ. Những năm tháng sau cùng thì tôi dường nhưbị“bỏquên”, không ai hỏi tới, đặc biệt là sau ngày họp báo Quốc Tếnăm 1982 mà tôi đã “phản phé” làm cho chếđộHà Nội phải mất mặt trước các ký giảngoại quốc. Vì sống cô đơn trong cảnh biệt giam, thiếu dinh dưỡng và các vết thương bịtra tấn còn hằn sâu trên thân xác ngày càng kiệt quệ, tôi phải vận dụng trí óc đểquyết tâm tồn tại, nhất là không bịđiên loạn.

Viết đến đây, tôi nhớlại những chuyến qua Hoa Kỳ công tác, sau khi ởtù vềtừđầu năm 1992 đến nay, tôi có dịp gặp lại một sốbạn cựu quân nhân Mỹđã từng bịHà Nội giam cầm ởHỏa Lò, tuy chỉcó vài năm, nhưng dường nhưhầu hết đều bịbệnh tâm thần, gia đình ly tán. Tôi cũng có đọc một bản nghiên cứu của cơquan STARTTS vềtù nhân chính trịdưới các chếđộcộng sản, tổng kết là tất cảtù nhân chính trịnào bịbiệt giam từ5 năm trởlên đều mắc phải bệnh tâm thần, trầm uất vô thức, có lúc bi quan đến tận cùng tuyệt vọng, có lúc nóng giận bất chợt. Những ai chưa hềtrải qua một ngày cận kềvới cái chết ngoài mặt trận trong chiến tranh, chưa hềmột ngày bịcộng sản biệt giam đày đọa tinh thần và thểxác, không bao giờhiểu được, không cảm thông chia sẻ, chỉbiết đem cái “bình thường” đểphê bình trách cứcái “bất thường vô thức” của người tù chính trịđang cốđấu tranh nội tâm ngày đêm đểtồn tại và tiếp tục chiến đấu. Thay vì nâng đỡ, cảm thông, thì lại lạnh lùng phán xét, hạnhục bằng lời phỉbáng những người đã trởvềtừđịa ngục đang cốgắng đồng hành vì TựDo cho quê hương.

Trởlại với gần 4.000 ngày đêm bịtù biệt giam, tôi đã tận dụng tối đa sức con người đểsống còn qua từng hơi thở, “tiếp xúc” với gia đình qua trí tưởng tượng, “tâm sự” với muỗi rệp cho bớt nỗi cô đơn trong mấy nghìn đêm đáy vực. Tôi luyện ôn lại ngoại ngữ, nhớrõ từng câu thơ, từng đoạn văn, đã “viết” bằng trí nhớ, và bất cứnhững gì xảy ra trong nhà tù mà tôi biết được, không bao giờtôi quên. Tôi vẫn còn nhớrõ những cái chết khốn cùng đau thương của các người bạn là Nguyễn Kim Thúy (Giám Đốc Nha KếHoạch, PhủĐặc Ủy Trung Ương Tình Báo VNCH) ởphòng số7 bên cạnh, của Tiến Sĩ Tô Cẩm Sơn ởPháp về… (tôi đã kểlại trong hồi ký lao tù “Tắm Máu Đen”). Và luôn cảnhà thơNguyễn Chí Thiện, qua trao đổi lén lút giữa hai phòng giam, số8 và số7. Có ba lần tôi được sống chung với một vài bạn tù khác, trong một thời gian ngắn, vì tù nhân chuyển vềtrại quá đông mà thiếu buồng giam. Có cựu Trung Tá Cảnh Sát Trần Văn Xoàn, từtrại Nam Hà chuyển về, được đưa vào tạm sống chung với tôi khoảng một tuần, rồi chuyển đi nơi khác. (Bạn Trần Văn Xoàn sau này qua Mỹtheo diện H.O. và đã qua đời tại Nam Cali. Tôi đã có dịp gặp lại ông bạn Xoàn trong những lần tôi qua Hoa Kỳ công tác đấu tranh). Một lần khác là với hai tù nhân hình sự, khoảng hai ngày đêm, cũng chẳng nói gì với nhau, mạnh ai nấy sống. Nhưng có một lần đặc biệt tôi được sống chung với một người tù đặc biệt gần hai tuần lễ, trong một dịp Tết, vào năm 1988, sau khi tôi đã ởtù hơn bảy năm. Từđó, câu chuyện “Kho vàng của Thượng Tướng Việt Cộng Chu Văn Tấn” mà tôi vẫn còn nhớrõ, được kểlại hôm nay, không kèm theo lời bình luận.

Chiều 30 Tết năm 1988, tôi đang nằm trong xà lim biệt giam, không còn muốn nhớđến hương vịcủa những ngày Tết xa xưa với gia đình và những người thân yêu, sợrằng hồi tưởng ký ức sẽlàm kiệt quệthêm tinh thần trong tận cùng cô đơn. Vẳng nghe những tiếng ồn ào của đám tù nhân hình sựtừcác khu khác vọng về, tiếng quát tháo của đám cán bộquản giáo và bảo vệ. Lại có tiếng mởcửa sắt các buồng giam. Chợt, có mấy cán bộmởcửa phòng giam của tôi và đưa vào một người tù, ra lệnh cho tôi dọn dẹp phòng vì có người đến ởchung, tạm thời trong dịp Tết. Tôi chẳng có gì gọi là “tài sản” riêng tưđểmà dọn dẹp, vội ngồi lên, dựa lưng vào vách tường, thản nhiên nhìn người “bạn tù” mới vào. (Suốt hơn 10 năm trong tù, tôi chỉđược phát cho hai bộáo quần tù, một cái áo bông đã rách đểmặc mùa đông, và một cái bô nhựa vệsinh, chẳng có gì hơn. Những năm cuối đời tù hơn 10 năm, áo quần đã rách, nhiều lúc tôi khỏa thân, “một trăm phần trăm em ơi”, và từng bịbà cán bộy tá mắng là “kém văn hóa” mỗi khi thấy tôi “bày hàng sexy”, nằm trần trụi trên giường. Tù nhân chúng tôi chẳng biết đâu mà mò, áo quần rách nát, xin cấp phát bộkhác thì không cho, lại còn bịmắng là “kém văn hóa, bêu xấu chếđộ”!). Khi cán bộkhóa cửa và bỏđi, tôi quan sát người tù mới vào, đấy là một ông già gầy gò, mặt sạm đen, mang theo một túi xách bằng vải, tù nhân thường gọi là “nội vụ”, có nghĩa là vật dụng riêng và áo quần được phép mang theo. Chợt ông ta mỉm cười chào tôi và nói với giọng “Bắc Kỳ” đặc sệt, khàn khàn:
- “Thếlà chúng ta được trực diện với nhau rồi. Tôi ởbuồng bên cạnh từmấy tháng qua, có vài lần nói chuyện với ông vào đêm khuya, nhưng chưa gặp mặt. Buồng của tôi hôm nay có mấy tên hình sựbịbắt vào dịp Tết, dồn vào đấy, cho nên tôi bịtống qua bên này sống tạm với ông đấy. Thếcũng vui. Sống với bọn hình sựngán lắm. Tôi biết ông là “Z” mà, có thoáng thấy ông mấy lần khi ra lấy cơm.

(Ghi chú: tù nhân ngoài Bắc thường gọi “tù ngụy quân ngụy quyền” là diện “Z”, chẳng hiểu vì sao, cũng nhưbộđội cộng sản xâm nhập vào miền Nam trong chiến tranh thì được gọi là “đi “B”).

Qua một vài lần lén nói chuyện với nhau trước đấy vào ban đêm, tôi cứnghĩ ông ta còn trẻ, ai ngờlại là một ông già, khô nhưmột gốc tre rừng. Tôi cười:
- “Có phải ông bạn là “Ông Liên Khu Việt Bắc” không?” (Đấy là tên tôi đặt ra cho ông ta sau vài lần lén chuyện với nhau, mấy tháng trước đó).

Ông ta vừa tháo túí vải ra vừa nói nhỏ:
- “Đúng đấy, từtừrồi chúng ta nói chuyện sau. Lại đến Tết rồi, tôi biết là ông không có tiếp tế. Tôi có ít quà và thuốc lào đây. Cùng khò vài bi với nhau cho ấm đã”.

Ông ta lôi điếu cày ra, lấy thuốc và mời tôi. Lâu rồi không được rít thuốc lào, tôi hút liên tục hai hơi, bụng đói, ho sặc sụa, và tê cảngười, gần nhưđứng thở, xây xẩm mặt mày.

Trong tuần lễđầu tiên sống chung với nhau, chúng tôi chỉnói chuyện tầm phào, chuyện gia đình, phong tục tập quán, chuyện đời tù. Tôi thận trọng nhận xét, qua lời nói và cửchỉ, trình độ, ông ta rất thành thật, mộc mạc, không có dấu hiệu gì tìm hiểu nhiều vềtôi, không soi mói dò la. Đặc biệt ông ta rất tốt bụng, chia cho tôi quà bánh và thuốc lào trong những ngày Tết với nhau, coi tôi nhưlà người thân trong gia đình, cùng chung khổnạn.

Tên ông ta là Chu Văn Neo, người bộtộc Nùng ởLạng Sơn, thuộc Liên Khu Việt Bắc. Cấp bậc Thượng Tá bộđội. Trình độhọc vấn cấp tiểu học nhưng tỏra rất từng trải chuyện đời. Đôi khi chúng tôi nói chuyện chen lẫn tiếng Việt với tiếng Quảng Đông, khi ông ta biết tôi cũng nói được một ít ngôn ngữnày. Đặc biệt, khi tôi cho biết có thời gian tôi từng phục vụchung với anh em biệt kích người Nùng ởmiền Nam, huấn luyện vềTâm Lý Chiến cho các toán nhảy ra Bắc công tác mật trong thời gian chiến tranh, và tôi có bí danh Nùng là Wòng-A-Lình, thì ông ta cầm tay tôi, nói rất chân tình:
- “Nhưvậy là chúng ta có duyên với nhau. Không ngờlại gặp nhau trong hoàn cảnh này, sống chết chưa biết ngày nào, coi nhau nhưanh em vậy, đừng hại nhau là tốt rồi”.

Ông ta cho biết họWòng thuộc một bộtộc Nùng rất lớn ởLai Châu, và vợông ta cũng thuộc bộtộc này. (Ởmiền Nam có đơn vịNùng Wòng-A-Sáng). Từđó, chúng tôi thường tỉtê tâm sựvới nhau nhiều chuyện trong đời rất vui. Ông ta có vợvà ba con, đều là con gái, ởLạng Sơn, thỉnh thoảng gửi quà tiếp tếcho ông ta qua các trại tù. Ông bạn tù này của tôi cho biết là bịbắt từnăm 1979, đã ởtù gần 10 năm rồi, qua nhiều trại ởCao Bằng, Hoàng Liên Sơn, Bắc Cạn, Hà Nội, và nhiều lần bịchuyển vềtrại Thanh Liệt này. Chưa biết ngày nào được thả, không có án lệnh gì cả. Khi kểchuyện vềvợcon, có một chi tiết vui vui làm tôi cười thầm và vẫn còn nhớđến hôm nay. Ông ta tâm sựlà người vợlớn hơn ông ta bốn tuổi, tuy đã có ba con với nhau, nhưng mấy chục năm qua chung sống, ông ta chưa hềnhìn thấy “mật khu” của vợmình. Vì lẽ, đời sống bộđội ít khi ởnhà, thỉnh thoảng gặp nhau thì lại sinh con, tắm suối cũng mặc váy, “gần” nhau thì chỉlén lút vào ban đêm trên nhà sàn chung đụng nhiều người trong gia đình anh em bà con với nhau. Ông ta tặc lưỡi:
- “Thây kệ, có con là được rồi! Thếnào cũng xong”.

Nằm nghe ông ta kểchuyện giữa đêm khuya trong tù, tôi cười thầm: “Tắt đèn, nhà tranh cũng nhưnhà ngói (Tắt đèn – Ngô Tất Tố), chịNăm cũng nhưchịMười”.

oOo

Đã hết Tết rồi mà chúng tôi vẫn còn được sống chung với nhau, cũng vui và bớt cô đơn. Chưa biết ngày nào sẽxa nhau. Một đêm, khi kểchuyện vềKhu TựTrịViệt Bắc, tôi hỏi ông ta:
- “Ông có bà con gì với Tướng Chu Văn Tấn không?”

Ông ta cho biết là cháu họ, gọi Tướng Chu Văn Tấn bằng Ông Chú, đồng thời cũng là Ông Thầy. Trong bộtộc Nùng, ông Tướng Tấn còn được gọi là Ông Châu, Ông Quan. Tôi lại hỏi:
- “Có phải bí danh của ông Tướng Tấn là Quan Trung không?”

- “Ông hay đấy, sao ông biết rõ vậy?”

- “Có lẽchúng ta sẽchết trong tù cho nên tôi cũng chẳng muốn giấu gì ông. Ởmiền Nam, khi chúng tôi thảtoán biệt kích Nùng ra các khu Việt Bắc của các ông thì cơquan Tình Báo Việt-Mỹhỗn hợp thường cấp cho giấy đi đường, phép của Thượng Tướng Quan Trung. Giấy phép giảnhưng trông nhưthật, đấy là “nhà nghề” tình báo mà. Nhưng tôi muốn hỏi riêng ông, tại sao bí danh Quan Trung, chữQuan không có “g” ?

- “À, Quan Trung không phải giống nhưbí danh Quang Trung của Ông Vua Nguyễn Huệđâu. Đấy là bí danh do “Ông Hồ” đặt cho Ông Thầy của chúng tôi. Ông Quan, Ông Châu là tên gọi của ThủTrưởng BộTộc, Quan Trung có nghĩa là Ông Quan, Ông Châu trung với Đảng, hiếu với Dân đấy! Ông Thầy của chúng tôi còn có bí danh khác là Năm Hồng”.

Ông ta lại cho biết thêm đa sốngười bộtộc Nùng ởvùng Việt Bắc, giáp giới với Trung Cộng, chỉhọc đến cấp tiểu học là cao nhất. Sau đó, tùy theo nhu cầu công tác, sẽđược học bổtúc văn hóa. Tướng Chu Văn Tấn cũng chỉhọc đến tiểu học, trước kháng chiến 1945, đi lính cho Pháp, chuyên vềdu kích miền núi. Người Nùng nói thông thạo cảhai thứtiếng: tiếng Việt và tiếng Quảng Đông. Có một chi tiết mà tôi thường lưu ý riêng là trong suốt thời gian sống chung với nhau, trong mọi câu chuyện khi đềcập đến HồChí Minh thì ông ta không gọi là “CụHồ” hay “Bác Hồ” nhưnhững đảng viên cộng sản hoặc người dân khác, mà chỉgọi là “Ông Hồ”. Có lẽvới tinh thần bộtộc tựtrị, với tính tình mộc mạc hoang sơnhưnúi rừng, với sựphục tùng riêng tưnào đó, đối với ông ta thì Tướng Chu Văn Tấn - Ông Thầy - là cao cảnhất.

Những ngày đêm còn lại, ông bạn tù Chu Văn Neo lại tỉtê kểthêm cho tôi nghe vềchuyện tù, vềcuộc đời và kho vàng của Thượng Tướng Chu Văn Tấn, nhưlà một tiết lộbí mật, không hềquan tâm gì đến hậu quảkhi nói ra. Tôi nhớlại, sắp xếp câu chuyện mạch lạc trước sau, không thêm một lời bình luận nào cả. Từkhi ra khỏi ngục tù Thanh Liệt đến nay, tôi không có dịp và cũng không có thì giờđểquan tâm tìm hiểu thêm tài liệu vềsựkiện này.

Sau đây là chuyện kể, lời của người bạn tù trong dịp Tết 1988 tại trại giam Thanh Liệt:

… “Tôi đã bbt giam gn 10 năm nay ri, ktnăm 1979 đến nay (1988), bchuyn tri nhiu ln, nhiu nơi. Tôi tin rng tôi sbchết trong tù, sbthtiêu, nhưÔng Thy ca tôi, cho nên tôi chng ngi gì mà không nói qua cho ông biết. Tôi cũng không sông sbáo cáo li vi các “cp Trên” vì hcũng skhông khai thác được gì thêm. Nhng gì tôi biết thì tôi smang theo khi chết. Còn vcon tôi thì tôi không mun nghĩ đến na, hsng vi núi rng quen ri, có tôi hay không còn tôi thì cũng chng sao. Riêng đi vi ông, tuy mi quen nhau, được chung sng vi nhau chưa biết ngày nào scách ly, nhưng tôi cũng đã nghe nói vông ri. Ông tnước ngoài vđây, ông ra hp báo chng li cng sn. Tôi trng ông vđiu đó, mc dù tôi cũng là đng viên cng sn, nhưng tôi theo đng là vì tôi theo Ông Thy ca tôi. Bây githì Ông Thy ca tôi đã chết ri, tôi chng còn có gì phi lo na. Già yếu, tù ti không án lnh, trước sau gì cũng chết đây thôi… Ông Thy ca tôi được phong quân hàm Thượng Tướng đu tiên, lúc chưa ti 50 tui, tng làm BTrưởng Quc Phòng, làm Phó ChTch Quc Hi. Chcó núi rng Vit Bc ca chúng tôi mi sinh ra được mt Ông Thy vĩ đi nhưvy. Ngay chính gic Pháp cũng phi ntrng gi Ông Thy là “Hùm xám Bc Sơn” trong thi kỳ kháng chiến chng Pháp kia mà. (Tôi lưu ý mi ln nói vTướng Chu Văn Tn thì ông bn tù ca tôi dường nhưcó kèm theo mt vài tiếng nc, tiếng khóc ut c nào đó). Khi “Ông H” làm vic Pc Pó thì chính Ông Thy ca chúng tôi lo vic bo van ninh, và “Ông H” lúc nào cũng tin cn Ông Thy , mt trong sít đng chí được “Ông H” quý yêu nht. Ông Thy ca chúng tôi cũng là UViên Trung Ương Đng đy…

Ông còn nhkhông, vào năm 1945, 1946 gì đó, có Tun LVàng khp cnước, kêu gi nhân dân đóng góp vàng đlàm phương tin chi tiêu đánh gic Pháp, gic Nht. Tôi nghe nói đã quyên góp được hơn 400 ký vàng đloi, và nhiu thđtrang sc khác, cũng nhưmy chc triu tin Đông Dương thi đó. Sau đó, “Ông H” lnh cho Ông Thy chúng tôi chuyn ti khong hơn 200 ký vàng và my triu đng qua Tàu đcu xin ng hvic đánh Pháp, giành đc lp. Chính tôi cũng được đi theo các đoàn chuyn ti vàng này. Nhưng Ông Thy ra lnh là chchuyn đi khong 100 ký thôi, scòn li thì chôn ct ti nhiu nơi Lng Sơn, Cao Bng, ssdng riêng cho khu TTrVit Bc sau này. Thi by gimà có được svàng nhưvy là ln lm đy. Chúng tôi chbiết theo lnh ca Ông Thy, không thc mc, không báo cáo vi ai c. Tôi được biết nhng nơi chôn ct vàng y nhưng đến chết cũng không khai báo. Có mt vài anh em chúng tôi cũng được biết, nhưng hcũng nhưtôi, không bao gitiết l, tôi tin điu đó, nht là khi Ông Thy ca chúng tôi đã bthtiêu…

Chúng tôi không bao giphn li Ông Thy. Chết thì thôi, sá gì…

Sau khi “Ông H” chết, thì ông Lê Dun, không biết tìm hiu tin tc đâu, cct vn Ông Thy chúng tôi vcác kho vàng bí mt ti vùng Vit Bc. Nhưng cũng chng khai thác được gì. Có nhiu ln Ông Thy bgi vHà Ni “làm vic”, có tôi tháp tùng, bhăm da đđiu nhưng chúng tôi không hhé môi. Đến năm 1979, chuyn chiến tranh biên gii Vit-Trung li xy ra, nht là ti các vùng Cao Bng, Lng Sơn. Quân ta bđánh tơi bi, riêng btc Nùng ca chúng tôi thì rút sâu vào rng cho nên không bthit hi nhiu. Li có tin đn là Ông Thy và chúng tôi có mt ước gì đó vi Trung Quc, mun vùng lên lp khu ttrriêng cho người Nùng chúng tôi và Ông Thy slàm thlãnh bit lp. Ông Lê Dun li nghi ngthêm, tước hết binh quyn và chc vca Ông Thy, bt vHà Ni giam lng. Chúng tôi bơvơtđó… Và tôi cũng bbt giam luôn, bcách ly. Tôi btra kho sut my năm tri, âm mưu gián đip vi Trung Quc thì chng có, còn bí mt chôn ct vàng thì tôi không khai báo. Tôi đã nói vi ông ri, có chết cũng không nói mà. Sau này thì hcgiam lng tôi, thnh thong cho gia đình tiếp tếquà, không có án lnh, không biết bao giđược thra. Tôi tin là sbchết luôn trong tù. Đến năm 1984 thì tôi được tin các bn tù cho biết là Ông Thy ca tôi đã chết Hà Ni, chết trong tù, nghe nói là bbóp c, thtiêu, sau khi hkhông khai thác được tin tc gì vkho vàng. Hcho chôn Ông Thy Văn Đin, có nói ra thì ông cũng chng biết Văn Đin đâu. Và sau đó thì cho ci táng vThái Nguyên, quê hương ca Ông Thy chúng tôi. Đi vi tôi, đy là mt cái tang ln, tôi có li thlà sng chết gì cũng theo Ông Thy… Ri đến năm 1986 thì ông Lê Dun chết. Bây gilà năm 1988 ri, tôi cũng chng biết ra sao… Tôi tiếc là chúng ta không được gp nhau ngoài đi, gp nhau Vit Bc, vì vi tánh khí ca ông, mc dù mi trc din nhau, nhưng tôi tin là chúng ta có thcng tác nhiu vic. Biết đâu, vi thân tình, tôi scho ông biết thêm vkho vàng ca chúng tôi, kho vàng ca Ông Thy…

Thôi, chúng ta cngđi, ri mai snói chuyn tiếp… My con gà bên kia vách tường huyn Thanh Trì sp gáy sáng ri đy… “.

Câu chuyện còn đang gay cấn, tôi tò mò muốn biết thêm nhiều điều bí mật làm tưliệu hi hữu trong đời, mỗi đêm được nghe kểchuyện là một điều thích thú, quên cảđời tù. Biết đâu nếu sau này còn sống, ra khỏi tù, tôi sẽcó dịp tìm tòi thêm tài liệu, tôi đã nghĩ nhưvậy trong thời gian chung sống với bạn tù Chu Văn Neo.

Nhưng vào một buổi sáng, khi chưa có tiếng kẻng sớm trong trại tù, cán bộquản giáo và bảo vệmởcửa phòng giam của tôi và ra lệnh cho ông bạn tù di chuyển. Ông ta xin phép cán bộđểlại cho tôi mấy cái bánh đậu xanh, một ít thuốc lào với giấy vấn và diêm đểhút. Rồi, ông ta liếc nhìn tôi, lách mình qua khung cửa sắt, cúi đầu đi theo cán bộ, không nói một lời. Tổng cọng chúng tôi được sống chung với nhau khoảng hai tuần lễ.

Tôi viết lại câu chuyện kểtrong tù nhân dịp Tết 1988, đến nay đã 25 năm trôi qua, có lẽông bạn tù của tôi đã chết rồi, mang theo bí mật vềkho vàng của Thượng Tướng Chu Văn Tấn vào cõi Vô Cùng nào đó… “Hồn ởđâu bây giờ?”…

Võ Đi Tôn

Chuyện kể trong tù nhân một dịp Tết
Hải ngoại, cuối năm 2013

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn