BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 28739)
(Xem: 27516)
(Xem: 25872)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Ký Ức Tuổi Thơ

02 Tháng Tư 201212:00 SA(Xem: 507)
Ký Ức Tuổi Thơ
51Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
51
Tôi sinh ra vào thời gian hiệp định Paris được ký kết, tức khoảng đầu năm 1973. Ba tôi sau này hay nói: “Cứ tưởng sinh ra con là đất nước không còn chiến tranh nữa…”. Câu nói thường hay bị bỏ lửng giữa chừng, có lẽ vì cái hy vọng hòa bình của ba tôi đã chẳng bao giờ được như ông mong muốn.

30 tháng 4, 1975, Sài Gòn mất vào tay Cộng Sản. Tôi còn quá nhỏ nên không nhớ được sự kiện này. Tôi không nhớ được đã có hàng đoàn xe tăng mang cờ Việt Cộng chạy ngang qua đầu con hẻm nhà tôi. Tôi không nhớ đã có những anh chị du kích, tay mang băng đỏ, cầm súng AK đi từng nhà kêu gọi bà con ra đường đón mừng quân giải phóng. Tôi càng không nhớ được đã có một trái đạn pháo rơi xuống con rạch nhỏ ngay phía sau nhà, giết chết một số người trong xóm “nhà sàn”. Do đó, ngày 30 tháng 4 năm 1975 đối với tôi cũng như bao ngày khác, nó không có một ý nghĩa đặc biệt gì, như nó chưa từng hiện hữu…Duy chỉ có những hệ quả của nó đã theo đuổi gia đình tôi, và nhiều gia đình khác nữa, như một bóng ma trong suốt thời gian sống trong chế độ Cộng Sản.



Sự kiện đầu tiên mà tôi nhớ được là lần gia đình tôi bị chia đôi: Má tôi, chị tôi 7 tuổi, tôi 3 tuổi, và em gái tôi 6 tháng bị đưa đi “vùng kinh tế mới”. Ba và 3 anh lớn, tuổi từ 9 tới 16 ở lại Sài Gòn. Sau này có lần tôi hỏi tại sao lại để đàn bà con nít đi tới nơi rừng thiêng nước độc, còn đàn ông con trai lại ở thành phố, Ba tôi trả lời :

”Lúc đó ba đang làm cho Xí Nghiệp In Tập Thể Thanh Niên, một hình thức đoái công chuộc tội theo lời ông chủ tịch phường. Tuy nhiên lại có lịnh đi kinh tế mới. Nhà in không đồng ý cho ba đi vì ba đang huấn luyện một số người về kỹ thuật in ấn và báo chí. Chính quyền cho ba ở lại Sài Gòn, nhưng phần còn lại của gia đình phải đi. Sau khi bàn với má, ba xin cho các anh con ở lại để đi học, để má và các con nhỏ đi vì đàn bà con nít dễ được cho phép trở lại Sài Gòn hơn.” Thế là gia đình tôi ly tán.

Đầu năm 1976, bốn mẹ con đùm túm lên xe. Sau nửa ngày xe đò, 1 giờ xe lam, rồi 2 giờ xe trâu, chúng tôi được bỏ xuống một bãi đất trống cạnh con đường mòn. Theo như lời má nói, nơi này thuộc quận Võ Đắc, tỉnh Bình Tuy.

Chung quanh mảnh đất cỏ tranh mọc cao ngập đầu. Bên kia con đường mòn là một giếng nước cỏ cây um tùm bao quanh. Trời chập choạng tối. Má tôi chỉ kịp lấy từ trong hành lý vài gói cơm sấy, tàn dư Mỹ Ngụy còn sót lại, cho vào tí nước mang theo rồi bốn mẹ con ngồi quay quần bên ngọn đèn bão hiu hắt ăn uống ngon lành ngay giữa nơi đồng không hiu quạnh.

Tối hôm đó mẹ con tôi lần đầu tiên trong đời biết được ý nghĩa của câu “màn trời chiếu đất”. Hai tấm nylon, một trải dưới đất, một giăng trên nóc mùng để tránh sương, bốn tấm thân mệt nhoài ôm nhau cố dỗ giấc ngủ chập chờn qua đêm trong tiếng gió rít và tiếng côn trùng kêu ray rứt. Tội nghiệp đứa em gái tôi, chỉ mới sáu tháng tuổi đã phải chia xẽ nổi nhọc nhằn thời cuộc của gia đình, của đất nước. Em tôi không khóc nhiều. Em mệt lã không khóc được hay em thông cảm với hoàn cảnh ngặt nghèo mà nín lặng để mẹ được rảnh trí tìm lời giải đáp cho bài toán sinh tồn của bốn mạng người?

Mờ sáng hôm sau chúng tôi có khách. Khách là những người nông dân trong vùng, nghe có người từ thành phố lên lập nghiệp nên kéo nhau đến thăm. Họ tỏ vẻ chua xót khi biết mẹ con tôi ngủ đêm hôm qua trên cánh đồng trống. Ông Luật, người to lớn có râu quai nón, cùng vợ và anh con trai vạm vỡ giúp mang mớ hành lý lỉnh kỉnh về nhà ông. Ông mời mẹ con tôi ở lại nhà trong thời gian bà con hàng xóm giúp dựng căn nhà cho chúng tôi.

Nhà ông Luật thật lớn, nằm bên kia con đường mòn sau cái giếng hoang. Trước nhà có một hàng cây cao làm hàng rào. Hàng cây cành lá sum xuê che khuất nên từ con đường không nhìn thấy được căn nhà. Trong sân có mấy chiếc xe cộ, một chuồng trâu với một đàn trâu lớn nhỏ nhung nhúc. Ông Luật vô nam theo chính sách Dinh Điền của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Nhờ chịu khó làm ăn nên ông có được cơ ngơi như vậy. Nghe đồn ông Luật đã ở đây mười mấy năm và là người giàu nhứt vùng này. Mọi người trong gia đình ông đều hiền lành dễ thương. Ông thường cho chị em tôi ăn đường phèn, những cục đường trắng trong, ngọt thanh lúc nào cũng có sẵn trong chiếc dĩa nhỏ trên cái bàn ông thường ngồi uống nước trà.

Về sau ông nhận ra được má tôi là người cùng quê, cùng làng ngoài miền trung. Có lần ông kể cho hai chị em tôi nghe là lúc còn thanh niên ông ở coi nhà và cày ruộng cho ông ngoại tôi. Ông mồ côi cha mẹ từ nhỏ. Ông Cố tôi đem về nuôi giúp việc trong nhà và cưới vợ cho. Mổi lần tới mùa gặt, ông thường dắt ngựa chở má hay mấy dì tôi đi coi gặt. Một lần ông nói mà tôi vẩn còn nhớ tới bây giờ: ” Ông không ngờ gặp lại má con trong tình cảnh như vầy. Ông Xã Triều (ông ngoại tôi) hiền lành đạo đức lắm, vậy mà vẫn bị người ta bắt vô núi giết.” Sau này lớn lên tôi mới biết “người ta” đó là ai. Từ lúc đó, tôi không nghe ông kêu má tôi là “cháu Hưng” nữa, mà ông đổi lại, kêu bằng “cô Sáu”. Một lần khác khi có Ba tôi lên từ Sài Gòn, ông sang nhà chơi và sai cô con dâu coi dùm em tôi để ba má tôi có chút thì giờ trò chuyện. Cô con dâu hát ru:
Chim quyên xuống đất ăn trùn
Anh hùng lỡ vận lên rừng đốt than!
Đốt than thì phải sàng than,
Làm sao đừng để lấm gan anh hùng.

Ông Luật mắng cô con dâu ngay tại chổ, cấm cô không được hát mấy câu này khi có ba hoặc má tôi ở gần. Có lẽ ông sợ ba má tôi buồn. Buồn thật đó, nhưng ba má tôi làm sao buồn bằng bao nhiêu người khác, những người vợ mất chồng, con mất cha, những bà mẹ già đầu mang khăn tang vì có con trai đi chinh chiến không về? Dù sao đi nửa thì gia đình tôi vẫn còn nguyên vẹn. Chúng tôi còn đòi hỏi gì hơn trong hoàn cảnh đất nước tang thương như thế này?

Căn nhà của mẹ con tôi được dựng lên thật nhanh, hình như chỉ trong 2 hay 3 ngày. Những tấm tôn được xe trâu chở tới từ một trại lính cũ gần đó. Vách nhà đắp bằng đất lấy từ các gò mối. Căn nhà vuông vức, nền đất, một cánh cửa ra vào bằng gỗ, vài ba cửa sổ có cánh bện bằng lá tranh khô. Vài tuần sau, những người hàng xóm tốt bụng đào cho một cái giếng bên hông nhà. Nhờ cái giếng này mà má tôi không phải cong lưng gánh nước từ nhà ông Luật về mổi ngày. Lúc đầu, ông Luật sai người nhà gánh dùm, nhưng sau đó Má tôi từ chối và tự mình gánh nước lấy.

Lúc căn nhà mới dựng xong, đêm đêm thường nghe tiếng động như có ai chọi đá trên mái tôn. Nghĩ là có người quậy phá, má tôi hay cầm đèn dầu ra ngoài dòm ngó. Sau đó có người cho biết rằng chổ nhà tôi lúc trước có giao tranh rất lớn giữa lính Quốc Gia và lính Cộng Sản, có đâu tới mấy trăm người chết. Phải chăng oan hồn những người lính đó không thích sự hiện diện của căn nhà trên nấm mồ chung của họ? Tôi thấy má tôi lập một bàn thờ nhỏ sau nhà, lúc nào cũng có ít trái cây hay nải chuối. Từ đó chúng tôi không còn nghe tiếng động trên mái tôn nữa.

Những người dân quê chất phát nơi đây có tấm lòng vô cùng nhân hậu. Họ giúp đỡ gia đình tôi thật nhiều trong suốt thời gian mẹ con tôi ở Võ Đắc. Ba má tôi rất cảm động. Để cảm ơn họ, mổi lần từ Sài Gòn lên, ba tôi hay đem cá Linh khô phân phát cho mổi gia đình một ít. Ngoài ra, ông còn đem thùng đồ nghề kềm búa, tới trại lính cũ tháo kẽm gai về làm hàng rào cho họ.

Từ khi đám cỏ tranh bị dẹp sạch để làm nhà, tôi phát hiện ra thêm một nhà hàng xóm. Không xa nhà tôi mấy, bên kia đám cỏ tranh là nhà dì Mười. Dì Mười có chồng đi lính Quốc Gia chết. Dì có 8 người con trai, không có con gái. Từ khi biết dì, tôi chỉ thấy dì toàn mặc đồ đen. Anh Thức, con trai lớn của dì 16 tuổi. Anh cao ốm trắng trẻo như học sinh thành phố. Anh thường cho chị em tôi ngồi ké xe cộ mổi khi anh đi kéo xe đâu đó về. Anh Lập, con trai út, hay dụ tôi leo lên xe cộ ngồi chơi rồi kêu chó ra sủa dưới chân. Tôi sợ lắm. Mổi lần như vậy, anh bắt tôi phải ăn mấy trứng thằn lằn rồi mới chịu đuổi chó đi cho tôi xuống. Có lẽ nhờ ăn trứng thằn lằn mà tôi khoẻ mạnh vô cùng. Má tôi nhớ lại là trong thời gian ở đó tôi không hề bịnh và thịt da chắc nịch mặc dù chỉ ăn cơm với cá Linh khô và rau lang luộc.

Chiều chiều chị tôi và tôi hay qua nhà ông Luật chơi với chị Thắm, cháu nội ông Luật. Chị Thắm cỡ 6-7 tuổi và có lẽ là đứa con gái điệu nhứt trên đời. Chị Thắm hay bắt chị tôi thắt bím và hái bông gài lên tóc cho chị, rồi đi khắp nhà khoe là chị đẹp hơn chị tôi! Một lần từ nhà ông Luật về, tôi vấp phải một cái sọ người. Hai chị em sợ quá vừa chạy vừa khóc. Từ đó chúng tôi không dám qua nhà ông Luật chơi nữa. Chị Thắm chắc buồn lắm vì không có ai để so sánh sắc đẹp. Thỉnh thoảng chị chạy qua nhà tôi, nhưng không dám khoe với má tôi là chị đẹp hơn chị tôi.

Tôi bắt đầu mon men qua nhà dì Mười vì không còn chổ để đi. Các anh con dì không có vẻ gì là thích chơi với thằng con nít 4 tuổi như tôi. Tôi sợ nhứt là mấy con chó nhà dì. Sau một lần bị chó cắn vào bắp chân, tôi không qua đó nữa. Tôi về nhà chơi với con thỏ bằng nhựa màu đỏ mà ba tôi đem lên trong một lần lên thăm. Chiếc ghế bố trở thành xe cộ, con thỏ nhựa trở thành con trâu kéo. Có khi con thỏ nhỏ được lên chức làm voi trận, còn tôi thì làm Tướng Quân Trần Hưng Đạo như trong câu chuyện anh tôi thường hay kể cùng với bài hát “Đây Bạch Đằng giang sông hùng dũng của nòi giống Tiên Rồng…”

Má tôi được chính quyền giao cho một miếng đất ruộng để trồng lúa. Nhà không đàn ông, không trâu cày, còn má tôi dù là con địa chủ nhưng chưa bao giờ đụng tay tới việc đồng áng nên không biết sẽ làm gì với miếng đất đó. May thay, nhờ một lần băng bó dùm vết thương cho bác nông dân đạp phải mảnh bom lúc cày ruộng với túi cứu thương đem theo từ Sài Gòn, má tôi được cử làm y tá bất đắc dĩ cho cả xã. Nhận thêm công tác dạy học cho trẻ con trong vùng, gia đình tôi hoàn toàn không phải cày cấy gì. Những người trong vùng thay nhau canh tác dùm trên miếng đất, cày cấy, đập gặt rồi chở gạo thẳng về nhà cho chúng tôi khi tới mùa.

Sống trong sự đùm bọc yêu thương của người dân Võ Đắc gần một năm thì mẹ con tôi nhận được giấy cho phép trở lại Sài Gòn. Chúng tôi được về không phải như ba tôi tính trước là đàn bà con gái dễ được cho về. Lý do họ cho má tôi về Sài Gòn là để lo cho đám con sau khi chính quyền bắt ba tôi bỏ tù. Không ai biết tại sao ba tôi bị bắt. Có người nói ông bị gán tội làm CIA vì khi xét nhà họ tìm thấy nhiều sách báo, giấy tờ bằng ngoại ngữ cùng chiếc radio giống điện đài. Người khác thì cho rằng sau khi đã dùng ba tôi để huấn luyện xong số người ở nhà máy in, họ không cần ông nữa nên bắt ông bỏ tù vì tội làm phụ tá Bộ Trưởng Thông Tin trước kia. Vì lý do gì đi nữa, tôi chỉ biết rằng trong mấy năm sau đó tôi không được gặp ba tôi nữa.

Buổi chia tay vói người dân Võ Đắc thật xúc động. Ông bà Luật gởi cho mấy con gà cùng một bao gạo lớn. Dì Mười kho cho một nồi thịt heo. Người cho chồng bánh tráng, kẻ tặng gói khô nai. Chị Thắm ôm chị tôi khóc nức nở. Anh Lập con dì Mười cho tôi chiếc lồng có con chim sáo. Tất cả đồ đạc, tài sản của mẹ con tôi chất đầy chiếc xe trâu do anh Thức đánh ra tận bến xe lam. Ông chủ tịch xã mua lại cái nhà. Khi giao tiền ông còn dặn dò: “ Chị cầm tiền về lo cho các cháu. Nhớ khuyên chồng chị học tập tốt Đảng và Nhà Nước sẽ khoan hồng…”.

Thời gian đầu trở lại Sài Gòn, má tôi thật sự không biết làm gì để nuôi con. Cũng may nhờ có mấy bao gạo ân tình đem về từ Võ Đắc, má tôi đổ ra thúng để trước nhà bán lấy tiền mua thức ăn. Một đồng nghiệp cũ của Ba tôi là bác Thùy nhà bán quán ở đầu ngõ thỉnh thoảng vào thăm, lúc đem theo chai nước mắm, khi đem tặng bó rau. Anh hai tôi, thay vì giúp đỡ má lo cho các em, lại đi theo đám du kích, cũng tay đeo băng đỏ, tay cầm AK dọa nạt kẻ thất thế. Chắc anh quên rằng chính gia đình mình cũng là kẻ thất thế, hay anh cố tình chạy trốn sự thật? Đây là điều ô nhục lớn nhất trong gia đình tôi. Cũng vì đó mà khi cải tạo về có một thời gian thật lâu Ba tôi không thèm nhìn mặt anh hai.

Cũng vào khoảng thời gian này có nhiều câu ca dao mới được truyền miệng trong giới bình dân. Câu được nghe nhiều nhất là:
Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa
Áo quần bán trước, cửa nhà bán sau
Ăn cơm thì ăn với rau
Đừng ăn thịt cá mà đau dạ dày

Má tôi chưa tới nổi phải bán nhà, nhưng phải bán một số quần áo để có tiền xoay xở. Cơm cũng không có mà ăn vì hợp tác xã chỉ bán mì vắt hoặc khoai mì khô. Lâu lâu lại bán bánh mì ổ dài cả thước, cứng như cái ống nước phải hấp lên mới ăn được. Rau muống được ăn triền miên, thỉnh thoảng trong giấc mơ chúng tôi được ăn thêm thịt cá. Tôi rất khâm phục má tôi là dù khó khăn tới mức nào đi nữa bà vẫn bắt anh em tôi đi học. Anh ba tôi đã có lần xin má cho nghỉ học đi bán cà rem ở cổng trường, bị má la cho một trận tơi bời. La xong má quay mặt đi, nước mắt chảy dài.

Còn một ít thuốc Tây trong tủ thuốc gia đình, má tôi đem thử ra lề đường chợ Bà Chiểu đứng bán. Không ngờ đó là món hàng quý hiếm vì nhiều người tìm mua để gởi cho thân nhân trong các trại cải tạo. Cũng nơi lề đường chợ Bà Chiểu má tôi gặp lại nhiều người bạn cũ. Dì Thanh cung cấp thuốc Tây cho má tôi đứng bán. Từ khi có Dì Thanh giao thuốc cho má tôi bán, cuộc sống gia đình có phần dễ thở hơn. Trong vòng 1 năm, má tôi sắm được cái tủ lạnh để anh em tôi ở nhà bán nước đá. Má cũng sắm được vài cây vàng để dành sau này cho mấy anh tôi đi vượt biên.

“Nghề” bán thuốc Tây của má tôi chấm dứt khi bà bị công an bắt vì đây là hàng quốc cấm. Không chịu khai ai là người cung cấp thuốc, bà bị nhốt ở đồn công an quận Bình Thạnh hết mấy ngày vì tội ngoan cố. Nhờ có bà Út bồng em gái tôi lên đồn công an năng nỉ họ thả má tôi về để nuôi con nhỏ nên má tôi được tha, nhưng toàn bộ số thuốc bị tịch thu. Bà Út là cô ruột của má tôi. Bà có chồng là dân biểu thời Việt Nam Cộng Hòa, có hai con và làm chủ một tiệm may nổi tiếng ở Sài Gòn. Chồng con bà chết vì tai nạn xe cộ trong những ngày cuối tháng 4 năm 1975. Nhà và tiệm may bị tịch thu không lâu sau khi quân giải phóng vào. Bà sống ở đâu không ai biết, chỉ biết là bà luôn xuất hiện khi má tôi gặp cảnh khó khăn nhất để giúp đỡ. Bà là thần hộ mệnh của má tôi. Anh em chúng tôi thương bà lắm. Hiện nay má tôi là người hàng tháng gởi tiền về Việt Nam để mướn người chăm sóc cho bà.

Một ngạc nhiên lớn xảy ra cho gia đình: ba tôi được tha về. Tôi không nhớ là ba tôi được tha vào năm nào, nhưng lý do được tha thì rất rõ ràng. Nhà máy in bị hư máy, bao nhiêu thợ cũng không sửa được. Họ liền nghĩ tới ba tôi, người đã giúp làm cho nhà máy in hoạt động trở lại mấy năm về trước. Ba tôi lại tiếp tục làm cho nhà máy in. Hàng ngày ông đạp chiếc xe sườn ngang màu đen, phía trước và sau đều có cột cái poọc-ba-ga, sáng đi chiều về. Mổi chiều đi làm về ba tôi thường cho tôi ngồi yên sau, em gái tôi ngồi yên trước rồi chở anh em tôi chạy một vòng trong xóm.

Bên cạnh nhà tôi là nhà dì Bảy con ông Mười. Dì Bảy có chồng đi lính chết, có hai đứa con là thằng Cu và con Bé. Nhà dì Bảy nghèo như không thể nào nghèo hơn. Tôi ít khi thấy dì ở nhà. Thằng Cu bằng tuổi tôi, còn con Bé bằng tuổi em tôi, nhưng vì đói ăn triền miên nên tụi nó bé tí teo. Tôi nhớ thằng Cu thường hay đứng dòm miệng người khác ăn. Khi tôi ăn chuối nó thường đứng đợi tôi ăn xong để xin cái vỏ. Nó ăn cái vỏ chuối ngon lành như người ta ăn sơn hào hải vị. Tôi ân hận vì đã chưa bao giờ chia cho nó trái chuối đang ăn, chỉ dù một miếng nhỏ.

Ông Mười tối ngày say sưa và chưởi rủa um sùm. Ông chưởi ai tôi không biết, chỉ biết có lần một đám công an tràn vô nhà khi ông đang chưởi, đánh cho ông một trận thừa sống thiếu chết. Họ bịt miệng rồi trói ông đem ra đường phơi nắng.

Má tôi sang được một sạp bán chạp phô trong chợ Bà Chiểu. Vì không đủ tiền sang nguyên sạp nên phải chia đôi một sạp lớn với bà người Tàu. Bà này không biết nói tiếng Việt nhiều. Tôi chỉ nghe bà “Nị, Ngộ” suốt ngày, ngoài ra không hiểu gì khác. Bà bán hàng không bao giờ bớt giá, còn má tôi hay bớt chút ít nên có nhiều khách hơn bà. Hình như bà không ưa má tôi lắm.

Nhà còn chiếc xe Honda Dame cũng có gắn cái yên nhỏ đằng trước cho em tôi ngồi. Lâu lâu vào cuối tuần, ba chở má, tôi, và em tôi đi thăm bà con. Đôi khi ba chở anh em tôi ra sạp hàng của má, ghé hàng ăn cho ăn tô bún bò rồi chở về. Đây có lẽ là thời gian hạnh phúc nhất trong những năm tuổi thơ của tôi.

Cuối năm 1979 nhà tôi dọn đi xóm khác. Ba tôi cho rằng dọn tới chổ mà không ai biết mình sẽ dễ sống hơn. Ba tôi lầm.

Đây là một xóm lao động nghèo, sâu trong một con hẻm có nhiều ngóc ngách. Hầu hết các gia đình trong xóm làm nghề buôn bán lặt vặt hay đạp xe ba gác, xích lô. Khi dọn về, thấy nhà tôi có tivi, tủ lạnh, xe Honda nên ai cũng cho là nhà tôi giàu lắm. Ngày đầu tiên trong căn nhà mới chúng tôi lần lượt có khách tới thăm: ông tổ trưởng tổ dân phố, ông tổ phó an ninh, bà trưởng hội phụ nữ, cuối cùng là chú công an khu vực. Tôi không nghĩ là họ tới để chào mừng gia đình tôi. Họ tới để hỏi lý lịch ba má tôi, để cảnh cáo ba má tôi rằng mọi người trong xóm đều là tai mắt của nhà nước nên đừng âm mưu làm chuyện gì mờ ám chống phá Cách Mạng.

Rồi anh hai tôi đi vượt biên bị bắt. Ba má tôi chạy chọt rất nhiều mới được tha về. Công an khu vực tới nhà dòm ngó hàng ngày. Anh ba tôi bị kêu đi nghĩa vụ quân sự nên ba má tôi tìm đường cho anh vượt biên mặc dù anh bị cha con ông tổ phó an ninh theo dỏi từng bước. Ngày đi chủ tàu còn 2 chổ. Ba tôi đi tìm anh hai tôi cả ngày không ra vì anh đi chơi đâu đó với bạn bè. Đành quyết định cho anh tư đi chung với anh ba. Vài ngày sau lại có chuyến vượt biên khác. Ba má sắp xếp cho anh hai dắt tôi đi. Khi ra đến bến xe má tôi đổi ý dắt tôi về, để anh hai đi một mình. Chuyến đó tàu ra biển bị chìm. Hơn nửa số người trên tàu chết đuối. Anh hai lại bị bắt.

Rồi công an ập tới nhà bắt ba tôi đi. Lần này họ xét nhà, lấy đi hết mọi thứ từ vàng vòng, tivi, xe Honda… Họ đập bể các chậu bông tìm kiếm vàng bạc. Họ moi từng túi quần, túi áo tìm kiếm tiền. Họ rạch nát mấy tấm nệm giường, ngay cả bóp tiền má tôi cầm trên tay hớt hải từ chợ chạy về khi nghe tin công an xét nhà cũng bị họ lấy đi mất.

Nhà tôi trở lại chỉ còn 4 mẹ con như lúc trên Võ Đắc. Chỉ khác là những người hàng xóm bây giờ không có nhiều tình người, hay tính người, như người dân quê mà chúng tôi đã gặp. Điển hình là ông tổ phó an ninh và bà hội trưởng hội phụ nữ. Hai người này thường xuyên rình rập nhà tôi. Bất cứ lúc nào nhà có khách thì y như rằng vài phút sau có công an khu vực xuất hiện. Cậu út tôi lúc đó là sinh viên Đại Học Sư Phạm Kỹ Thuật Thủ Đức. Mổi khi đạp xe về Sài Gòn cậu hay ghé nhà thăm má tôi, sẵn tiện uống ly nước đá rồi đi tiếp. Một lần cậu đang ngồi uống nước trong nhà thì ông tổ phó an ninh cùng anh con trai làm phường đội ập vô nhà, bắt cậu trình giấy tờ và hạch hỏi cậu tôi ghé nhà có mưu đồ gì. Còn bà hội trưởng phụ nữ rất nhiều lần cảnh cáo là nhà tôi có tủ lạnh, bán nước đá cho hàng xóm mà không đóng thuế!

Trong vòng không đầy một tháng mà có quá nhiều chuyện xãy ra cho gia đình tôi. Anh hai vượt biên bị bắt. Anh ba, anh tư ra đi chưa biết tin tức. Ba tôi bị bắt không biết đang bị giam giữ nơi nào. Cha con ông tổ phó an ninh thường xuyên tới nhà hỏi anh ba và anh tư tôi ở đâu, phải kêu về gấp để đi nghĩa vụ. Ban đêm nhà bị trộm rình. Mái nhà tự dưng bị dột. Khi mưa lớn, nước chảy từ mái nhà xuống sàn như thác đổ. Má tôi lại bị công an kêu lên kêu xuống nhiều lần để thẩm vấn. Mổi lần như vậy phải gởi sạp hàng cho người khác coi dùm. Tội cho tấm thân đàn bà yếu đuối bị khổ từ tâm tới xác. Tôi không hiểu làm sao mà Má tôi không phát điên lên trong hoàn cảnh như vậy.

Một ngày mùa hè, sở công an báo là đang giam Ba tôi ở số 4 Phan Đăng Lưu. Má lật đật tìm cách đi thăm nuôi. Sau khi xin được giấy, tìm tới nơi thì họ nói đã chuyển đi Chí Hòa. Chạy tới Chí Hòa, họ lại bảo đã chuyển đi trại Đồng Phú, Sông Bé. Nóng lòng muốn thăm chồng, má tôi đã nhờ dượng Bảy, chồng cô ruột tôi, sáng sớm chở bằng Honda lên trại Đồng Phú. Khi tới trại Đồng Phú 2, họ nói ba tôi ở Đồng Phú 1. Tìm tới Đồng Phú 1, họ lại nói ba tôi ở Đồng Phú 2. Trở lại Đồng Phú 2 thì hết giờ thăm nuôi. Má tôi biểu dượng Bảy chạy xe về rồi một mình ở lại qua đêm để hôm sau được thăm chồng. Hôm sau tới giờ thăm nuôi thì quản trại lại không cho gặp vì giấy phép thăm nuôi đã hết hạn! Mệt mỏi, uất hận tới tận cùng, khi về được tới nhà tối hôm đó má tôi chắc có lẽ đã ngã quỵ nếu không có tin hai anh tôi đã vượt biên đến được Thái Lan.

Không lâu sau hai anh tôi tới Mỹ. Vừa làm vừa học, các anh thường xuyên gởi tiền về nuôi gia đình. Những thùng đồ Mỹ như một phép lạ thay đổi cuộc sống gia đình tôi thật nhanh. Bọn trẻ con trong xóm được tôi phân phát kẹo Mỹ, nho khô nên không ghét chị em tôi như trước nữa. Ông tổ phó an ninh, bà hội trưởng hội phụ nữ thỉnh thoảng cũng được má tôi biếu ống kem đánh răng hay cục xà bông thơm do các anh gởi về. Chú công an khu vực thì phải biếu những món lớn hơn như hộp thuốc bổ hay sấp vải xoa. Một điều lạ là những khi nhà tôi nhận đồ Mỹ, chỉ trong vài tiếng đồng hồ là những người này xuất hiện “tới thăm chị và mấy cháu”. Họ chẳng khác nào một đám ruồi nhặn nghe mùi tanh hôi mà ập đến. Tư cách con người sao quá rẻ mạt.

Mổi tháng một lần má dắt chị tôi hoặc tôi đi thăm nuôi ba và anh hai. Đường đi xa và lầy lội, mình mẩy ê ẩm vì phải ngồi trên sàn xe. Có khi xe bị lún sình, tất cả hành khách phải xuống lội sình đẩy xe lên. Có lần chiếc xe bị lật ngay giữa vũng sình, may là không ai bị thương nặng. Một buổi thăm nuôi thường chỉ dài một hai tiếng. Nơi đây tôi được ăn các món thịt rừng do ba tôi mua từ những cán bộ trại đi săn về bán lại. Thịt heo rừng nhiều nạc và mềm. Thịt nai càng nấu càng dai. Tôi không dám ăn thịt trăn, nhưng đem về hủ mỡ trăn làm thuốc xứt phỏng rất hữu hiệu.

Ba năm sau ba và anh hai tôi được tha về. Ba không cho má tôi đi bán ngoài chợ nữa. Cuộc sống gia đình bắt đầu nhàn nhã hơn. Anh em tôi được đi học đàng hoàng. Chị tôi trở thành cô giáo. Tôi vừa học xong lớp 12 và đứa em gái đang học lóp 11 thì gia đình được ra đi đoàn tụ với hai anh bên Mỹ. Anh Hai tôi ở lại vì đã có vợ con, thừa hưởng căn nhà.

Vài điều nực cười là ông tổ phó an ninh có qua nhà, nhờ ba má tôi biểu hai anh ở Mỹ bảo lảnh dùm con trai của ông từ Tây Đức qua Mỹ. Đây là anh con trai làm phường đội lúc trước hay rình rập nhà tôi, đòi bắt hai anh tôi đi nghĩa vụ. Anh này đi “hợp tác lao động” qua Đông Đức, trốn qua Tây Đức nhưng không chứng minh được tư cách tỵ nạn và không có người bảo lãnh nên bị trả về Việt Nam. Còn bà hội trưởng hội phụ nữ dặn tới dặn lui là qua Mỹ nhớ kiếm dùm Việt Kiều về cưới hai cô con gái của bà.

Trước khi rời Việt Nam đi Mỹ năm đầu 1992, ba má tôi có ra Võ Đắc thăm lại các ân nhân cũ. Cảnh vật đổi thay, người xưa cũng không còn. Ông Luật ngã bịnh chết vì quá uất ức khi chính quyền lấy hết trâu bò ruộng đất của ông đưa vào hợp tác xã. Vợ con ông dọn đi đâu không ai biết. Dì Mười đi làm ruộng đạp phải mìn bị nổ chết không toàn thây. Anh Thức và hai người em đi nghĩa vụ bên Campuchia không về. Các anh còn lại tản mát khắp nơi. Ông chủ tịch xã bị mấy người từ ngoài bắc vô thay thế. Nghe nói ông chán nản, dắt gia đình đi vượt biên chết mất xác ngoài biển đông.

Tuổi thơ của tôi là như vậy đó. Nó chẳng khác một cơn ác mộng. Có khác chăng là cơn ác mộng không thể để lại những ký ức hằn sâu trong tâm trí một đứa trẻ con từ khi nó mới 3 tuổi. Trong cơn ác mộng này tôi học được chính chủ nghĩa Cộng Sản đã gieo biết bao nhiêu tang thương cho gia đình, cho đồng bào, cho đất nước tôi. Tôi học được sự khác nhau giữa cái tốt và cái xấu. Tôi học được giữa cảnh khốn cùng vẫn có những tấm lòng rộng mở. Tôi học phải biết thương yêu anh em, cha mẹ, thương yêu đồng loại. Tôi học được sự tráo trở của lòng dạ con người. Và có lẽ quý hơn hết, cơn ác mộng đã cho tôi bài học làm người.

Raleigh
30 tháng 4, 2007
Phan Quang Thi
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn