BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 34486)
(Xem: 32877)
(Xem: 31184)
(Xem: 24398)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Những Mùa Xuân Bão Lửa

29 Tháng Sáu 201112:00 SA(Xem: 1384)
Những Mùa Xuân Bão Lửa
52Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
52
Đông Hà, Lam Sơn 719.

Tôi trở lại Đông Hà ngay sau khi cuộc hành quân Lam Sơn 719 vừa chấm dứt. Thành phố cuối cùng ở vùng địa đầu giới tuyến này đang oằn mình dưới những cơn gió Lào khốc liệt. Ngọn gió hừng hực lửa bốc những hạt cát nóng bỏng ném vào người gây cảm giác bỏng rát. "Nắng lửa, mưa dầu", thật không một thành ngữ nào có thể diễn tả đầy đủ hơn cái điều kiện khí hậu khắc nghiệt của miền đất nghèo đói và lắm tai ương này. Nhưng cũng từ vùng đất này mà người dân Quảng Trị đã sinh ra, cần cù gian khổ, đấu tranh với thiên nhiên, vươn lên từ nghèo khó để thành người...

Đông Hà, Bộ Chỉ Huy Tiền Phương của Chiến dịch Lam Sơn 719, là một giao điểm chiến lược quan trọng của vùng cực Bắc Việt Nam Cộng Hòa, là một trong những ngã ba của Tổ Quốc, nối liền Lào Việt. Dọc theo quốc lộ 9 đi về hướng Tây là Cam Lộ, Lao Bảo, Khe Sanh rồi biên giới Lào Việt. Cam Lộ nổi danh trong lịch sử với chiến khu Tân Sở. Có lẽ đây là chiến khu đầu tiên trong lịch sử kháng Pháp khi vua Hàm Nghi từ bỏ ngai vàng bôn tẩu về đây thảo hịch Cần Vương.

Tôi đứng lại ở một cột mốc cây số lỗ chỗ vết đạn ở bên đường. Dưới dấu đạn là hàng chữ nửa còn nửa mất mang tên một địa danh: Savanakhet. Cái tên nghe thật gần gũi thân quen với dân địa phương như một làng bản nào đó của Việt Nam. Không có gì thay đổi mấy kể từ khi Pháp rời khỏi Việt Nam: Cách 25 dặm về phía Tây là một cổng chắn đơn sơ phân chia Lào Việt và Savanakhet là thị trấn lớn đầu tiên nằm phía bên kia phần đất vương quốc Lào. Tôi đứng đây, giữa núi rừng hoang mang, chung quanh là biển lửa. Những cơn lốc điêu tàn đã thổi qua những làng mạc, những ruộng lúa, bờ tre của quê hương trong suốt bao năm qua để lại những vết thương cháy nám.

Tôi ngồi lên trụ đá, cố quên đi hình ảnh một Đông Hà tang tóc sau Lam Sơn 719. Thành phố trắng khăn tang. Những mẹ khóc con, vợ khóc chồng, con khóc cha, hậu quả của những toan tính bất lương của bọn con buôn chiến tranh, nấp dưới những chiêu bài hoa mỹ. "Anh vào đó "đái" một cái rồi ra ngay". Đó là lệnh xuất quân Chiến dịch Lam Sơn 719 của Tổng Thống kiêm Tổng tư lệnh Quân Đội Nguyễn Văn Thiệu (xem Hồ Sơ Mật Dinh Độc Lập-Nguyễn Tiến Hưng). Cái "đái" lịch sử dó đã nuốt trọn cả chục ngàn người lính Việt Nam. Không còn ai nghe thấy nữa những tiếng rên la vang rừng dậy núi của thương binh nhẹ đã bị bỏ rơi lại trên những cánh rừng sâu thăm thẳm của dãy Trường Sơn. Nước mắt đã chảy thành sông biển...

Trong thời gian qua, áp lực của Bắc Quân đã đè nặng lên mặt trận phía Tây và Tây Nam Huế, khiến Sư đoàn 1 Bộ Binh VNCH, phải dồn nổ lực chính của mình để bảo vệ vùng đất cận sơn, phía Tây thành phố, tạo một lỗ trống cạnh sườn phía Bắc. Do nhu cầu chiến trường, Sư đoàn 3 Bộ Binh được thành lập, làm nút chặn cửa ngỏ phương Bắc, để cho Sư đoàn 1 rảnh tay, yên tâm đối phó với mặt trận phía Tây. Trung đoàn 2 Bộ Binh - một trong những Trung đoàn tinh nhuệ của Sư đoàn 1 - được bổ sung làm xương sống cho Sư đoàn tân lập, một lần nữa lại được dịp quần thảo với Bắc Quân trên địa bàn quen thuộc, chịu trách nhiệm bảo vệ vùng đất quê hương, nơi họ sinh ra và lớn lên.

Sau khi Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bay ra Đông Hà đích thân ban lệnh xuất quân mở màn Chiến dịch Lam Sơn 719, hàng đoàn chiến xa của Thiết đoàn 1 Kỵ Binh cuốn bụi mù trời cùng với các binh chủng bạn ào ạt tiến vào Hạ Lào. Mục tiêu là Tchépone. Tiểu đoàn 3/2 của Sư đoàn 3 được giao phó trọng trách làm mũi xung kích tiến chiếm Tchépone. Không hổ danh là một đơn vị Bộ binh ưu tú, Tiểu đoàn 3/2 đã vượt qua lưới lửa - trên một chiến trường do Bắc Quân chọn lựa - xông thẳng vào mục tiêu, chiếm giữ Tchépone ngay từ những ngày đầu của Chiến dịch Lam Sơn 719. Chính nhờ sự tiến quân thần tốc này mà Tiểu đoằn 3/2 đã nhanh chóng vượt qua cái bẩy sập do Bắc Quâ dương lên, sau này trở thành Tiểu đoàn may mắn nhất trong suốt cuộc hành quân. Các đơn vị bạn đã lần lượt đưa lưng trần đi vào những tọa độ của trận địa pháo địch, chịu thiệt hại khá nặng nề tại ngưỡng cửa Hạ Lào.

Trong những ngày cuối cùng của Chiến dịch. Tướng Vũ Văn Giai, Tư lệnh Sư đoàn 3 Bộ Binh kiêm Tư lệnh Bộ chỉ huy Tiền Phương, đã quay quắt trước những tin dữ bay đến tới tấp. Tổn thất. Mất liên lạc. Những đứa con ưu tú của ông đã lần lượt bị loại khỏi chiến trường. Tướng Giai nổi tiếng trong đơn vị là một vị Tướng rất thương yêu binh sĩ thuộc quyền. Ông không phải là một vị Tướng lấy xương máu của binh sĩ để xây đắp danh vọng cho cá nhân mình - nhất tướng công thành vạn cốt khô. Nhiều huyền thoại về ông đã được truyền tụng trong hàng ngũ binh sĩ của Sư đoàn rằng ông là một tín đồ Thông thiên Học có trình độ - tu học và chứng ngộ - và bởi vậy ông có khả năng biết trước sự thành công hay thất bại của một cuộc hành quân, do đó không bao giờ ông chịu xua binh sĩ của mình đi vào chỗ chết. Dĩ nhiên ông không mấy hài lòng với "Chiến dịch thí quân" Lam Sơn 719, nằm trong Kế hoạch Việt Nam Hoá Chiến Tranh của Ngũ Giác Đài. Nhưng lệnh là lệnh. Những con chốt đã sang sông trong một ván cờ lịch sử.

Trong tiếng bom đạn gầm thét làm rung chuyển từng thuớc đất của Hạ Lào, Tiểu đoàn 3/2 đã xây dựng xong vị trí cố thủ vững chắc tại Tchépone. Cũng như Bộ chỉ huy Tiền Phương, Bộ chỉ huy Tiểu đoàn 3/2 đã nhận được những tin tức bi đát của chiến trường. Tiểu đoàn đã hoàn toàn mất liên lạc với các đơn vị bạn. Rút lui theo lệnh hay ở lại cố thủ? Đây là một câu hỏi lớn liên quan đến vấn đề sống chết của toàn đơn vị. Rút lui khi mọi cánh cửa ra khỏi Hạ Lào đều đã bị khóa chặt bởi ba Sư đoàn Bắc Quân, là chấp nhận trở thành bầy thú bị săn đuổi, là chắc chắn sẽ bỏ xác tại rừng già. Bộ chỉ huy Tiểu Đoàn cuối cùng đi đến quyết định: Ở lại và tử thủ Tchépone. Ở lại để chiến đấu và để chết như những người lính, mặt đối mặt với kẻ thù, chứ không thể chấp nhận trở thành thân phận của những con thú bị săn đuổi. Chưa kể là Bắc Quân cũng sẽ phải trả với một giá đắt mới hy vọng xóa tên được Tiểu Đoàn ưu tú dày dạn kinh nghiệm chiến trường này...

Lúc đó, trên cao độ an toàn của chiếc trực thăng thị sát chiến trường, trong đầu óc của Tướng Gia là một cơn bão lửa. Phải làm sao nhanh chóng bốc những "đứa con" của ông ra khỏi vòng lưới lửa. Càng nhanh càng tốt. Cứu binh như cứu hỏa. Một phút chậm trễ là tiêu ma hàng ngàn binh sĩ thuộc quyền. Tướng Giai đã tỏ ra bình tĩnh cố gắng kềm hãm cơn giận như muốn nổ bùng ra bất cứ lúc nào đối với những tên chủ chốt trong chiến dịch đem con bỏ chợ này. Đối diện với ông, Trung tướng Cố vấn Mỹ, Quân đoàn 1, cũng yên lặng giương mắt nhìn Tướng Gia dò hỏi. Trước đó, Tướng Giai đã nhiều lần yêu cầu trực thăng Mỹ tiếp tay giúp đỡ trong việc giải cứu binh sĩ, nhưng những lời yêu cầu này đều đã bị từ chối khéo với nhiều lý do. Dĩ nhiên, người Mỹ đâu có muốn đem trực thăng vào đây để làm mồi cho phòng không địch.

Nhưng lần này thì Tướng Giai không còn chịu đựng được nữa. Ông móc súng ra và chĩa vào vị Trung tướng Cố vấn:

- Đây là lệnh: Tôi yêu cầu ông huy động toàn bộ trực thăng mà ông có, đem vào đây để mang lính của tôi về. Nếu không you và tôi chia nhau mỗi đứa một viên. Nghe rõ?

Trước sự kiện bất ngờ này, Trung tướng Cố vấn Quân đoàn 1 biết rằng không phải chuyện đùa. Thế là lệnh được ban hành cấp tốc. Và rồi hàng đoàn trực thăng Mỹ như bầy ong vỡ tổ cất cánh ào ạt bay về phía Tây.

Một trong những đơn vị mà Tướng Giai còn liên lạc được trong lúc này là Tiểu đoàn 3/2, lúc đó còn đang cố thủ tại Tchépone. Bắc Quân còn mãi đang quần thảo trong vùng rừng núi với các đơn vị khác của QLVNCH, cho nên chưa rảnh tay đối phó với Tchépone. Thế là an ninh bãi đáp được thực hiện nhanh chóng. Và rồi những giọt nước mắt mừng vui ứa ra trên những khuôn mặt cháy nắng của người lính bộ binh Tiểu đoàn 3/2 khi những chấm đen đầu tiên của đoàn trực thăng Mỹ xuất hiện trên bầu trời Tchépone.

Nhờ quyết định đúng đắn vào buổi đầu mà toàn bộ Tiểu đoàn đã được cứu sống. Một Tiểu đoàn với gần 500 sinh mạng. Đây đâu phải là những con số của một bài toán cộng, trừ, mà là những con người. Những con người thật với những tình cảm vui buồn, hờn giận, thương yêu, hy vọng. Những con người với những buộc ràng tình cảm yêu thương cha con, chồng vợ, nước mắt, nụ cười... Con số này không phải là nhỏ.

Đã đi qua một mùa Hè đỏ lửa. Phượng vẫn nở đỏ khung trời trí nhớ. Và một nơi nào đó của miền Trung nghèo khó, cơn gió Lào khốc liệt vẫn thổi lên từng cơn bão lửa.

Gio Linh, mùa Xuân năm 1972.

Cách Đông Hà 10 dặm về phía Bắc là quận Gio Linh. Đi thêm chừng 12 dặm nữa là con sông Bến Hải chia đôi hai miền đất nước. Vùng đất này cũng đã nổi danh trong thời kháng chiến chống Pháp, qua một bản nhạc bất hủ của Phạm Duy: Bà Mẹ Gio Linh. Bà Mẹ Gio Linh của Phạm Duy vẫn là hình tượng muôn đời của những bả mẹ rong truyền thống Việt Nam kháng chiến chống ngoại xâm. Bà mẹ này khi nghe tin đứa con thân yêu duy nhất của mình, bị giặc bắt, đem đi chặt đầu giữa chợ, đã lẳng lặng:

... không nói một câu,

Mang khăn gói đi lấy đầu...

Trong bóng chiều hấp hối, trên đường trở về nhà, một mình bước thấp bước cao, ôm bên hông chiếc rổ chứa đầu con, tôi biết người mẹ đó đã không còn nước mắt trước một đau thương quá lớn. Những bà mẹ Việt Nam trong suốt cuộc chiến tranh dài Việt Nam vừa qua đã không còn nước mắt..

Gio Linh trước khi chiến tranh ập đến là một vùng đất tương đối trù phú với những thồ sản nổi tiếng: chè tươi, sắn cơm, mít, thơm, tắc (một loại tráy cây giống như quýt). Hàng ngày, sớm chiều hai buổi, những bả mẹ Gio Linh với gánh hàng kẽo kẹt trên vai, vẫn tiếp tục nuôi lớn những đàn con Việt biết hy sinh cho đại nghĩa, nếu cần.

Khi tôi về thăm Gio Linh đầu Xuân năm 72 thì Gio Linh đã điêu tàn lắm rồi. Cũng trên những chiếc quang gánh ngày xưa đó, bây giờ một đầu là đứa con thơ, bên kia là một thứ gia tài còm cỏi, sứt mẻ, những gì còn sót lại nhặt nhạnh được sau một cuộc chiến đằng đẳng kéo dài ngót một phần tư thế kỷ này. Người dân Gio Linh đang bồng bế, dìu dắt nhau ra khỏi vùng lửa đạn. Gio Linh đã không còn biết đến bằng cái tên đích thực của nó, mà trở thành những căn cứ chiến lược: A1, A2, Cồn Tiên... vùng đất trách nhiệm của Chiến đoàn A Thủy Quân Lục Chiến.

Cồn Tiên với những cánh rừng sim bạt ngàn, nay đã bật gốc trở thành những ngọn đồi trơ trọi dưới những cơn mưa pháo. Giòng suối nhỏ trong veo mà ngày xưa, những nàng tiên còn lưu luyến trần gian một thời tắm suối nay cũng đã khô cạn. Thế gian, từ lâu đã không còn là mảnh đấy dung thân cho những nàng tiên. Đã hết rồi những mùa hoa sim nở, những đồi sim mênh mang của Hữu Loan trong Màu tím Hoa Sim... Cửa thiên đàng đã mờ mịt rêu phong. Quê hương ca dao với những mối tình đôn hậu:

Đói lòng ăn nửa trái sim
đã hoàn toàn mất dấu. Ngôi miếu nhỏ, tương truyền ngày xưa thờ một chiếc vỏ trấu của một hạt lúa lớn hàng trăm người ăm không hết, nay đã đổ nát tan hoang, bên cạnh dòng suối cạn khô.

Uống lưng bát nước đi tìm người thương...

Và Quảng Trị, quê hương của những rừng Mai, nhu tên gọi của một ngọn núi với những mùa Xuân rực rỡ mai vàng - Mai Lĩnh - mùa Xuân 1972, mai Quảng Trị đã không buồn nở nữa. Một không khí âm u, rờn rợn, báo hiệu tai ương chết chóc: Mùa Hè Đỏ Lửa 1972.



Dọc theo Đại Lộ Kinh Hoàng , dân Quảng Trị ùn ùn đổ về Nam chạy loạn, máu thịt tung vãi dưới những cơn mưa pháo của Bắc Quân. Những đồi cát trắng tinh dọc theo Quốc lộ 1 đã ngả sang màu đỏ úa. Những trẻ thơ bò quanh quẩn trên tử thi lạnh cóng của người mẹ hiền tìm dòng sữa ngọt, nhưng dòng sữa đã cạn khô. Nắng tháng Tư lạnh lùng đổ lửa trên những xác người lớn, trẻ con nằm nghiêng ngửa bên nhau. Cái chết không còn phân biệt một ai.

Người ở lại Bastogne.

Trong một quán cóc nhỏ bên bờ sông Hương, tôi ngồi với dăm ba người bạn. Nói về những người sống và kẻ chết, những người ở bên này và bên kia. Tên của một người bạn cũ được nhắc nhở đến: Bùi Đăng Lũy, người vừa nằm xuống ở Bastogne. Bastogne, một cái tên lạ hoắc. Hỏi ra mới biết đây là tên của ngọn Phú Xuân, một cao điểm trấn ngự Tây Nam thành phố Huế, vùng đất thư hùng của Sư đoàn 1 Bộ Binh và Sư đoàn Sao Vàng - Bắc Việt trong mấy tháng qua. Trấn giữa đỉnh Bastogne là một Đại đội của Tiểu đoàn 1/1, mà Đại đội Trưởng là Bùi Đăng Lũy. Lũy và tôi hồi nhỏ ở gần nhau trên một con đường dọc theo bờ sông An Cựu. Biết nhau từ hồi trung học nhưng không mấy thân, giao du chỉ ở mức độ chừng mực, vì hồi đó tôi không thích chơi với những anh có dáng dấp công tử, mà chúng tôi liệt vào loại Playboy. Chúng tôi chỉ bắt đầu chơi thân với nhau khi hai đứa vào học Văn Khoa Sàigòn, cư ngụ ở gần khu vực chợ Ông Tạ, và hàng ngày cùng đèo nhau đến trường bằng chiếc xe đạp đua đàn ông của Lũy. Con đường Lê Văn Duyệt hồi đó là đường hay bị kẹt xe nhất của thành phố Sàigòn, nhất là vào giờ cao điểm. Trong những lúc này thì chiếc xe đạp của Lũy là một phương tiện di chuyển lợi hại nhất. Những lúc bị kẹt xe, Lũy như một lực sĩ cử tạ, nâng chiếc xe đạp lên đầu, len lách qua đám người, xe, chật như nêm cối, xong lại để xe xuống tiếp tục phóng đi.

Học khoảng nửa năm Dự bị Văn Khoa, Lũy bỏ học tình nguyện vào Thủ Đức. Chiếc xe của Lũy được chuyền tay cho tôi và sau này tôi lại chuyền tay cho một bạn bè nào đó, không còn nhớ. Rất lâu, mỗi người một nơi, chúng tôi không còn liên lạc với nhau, nhưng qua bạn bè, tôi biết Lũy bây giờ đã lên Trung úy và đang là Đại đội Trưởng trấn giữ Bastogne, làm một thứ Kiều Phong có thực, nhất kiếm trấn ải.

Lệnh của Tướng Ngô Quang Trưởng: Phải giữ Bastogne bằng mọi giá. Quyết tâm của Bắc Quân: Phải nhổ cái gai sắc cạnh này. Bastogne trở thành nơi thử lửa của hai kỳ phùng địch thủ. Để thanh toán mục tiêu Bastogne, một Trung đoàn Bắc Quân của Sư đoàn Sao Vàng được tung vào tận chiến, với mục đích thanh toán chiến trường càng nhanh càng tốt. Với chiến thuật tiền pháo hậu xung cổ điển, Bắc Quân hai mặt ồ ạt tiến lên đồi ngay sau đợt pháo đầu tiên vừa chấm dứt. Tiếng kèn thúc quân, tiếng hô xung phong lẫn trong tiếng đạn pháo vang rền. Dưới ánh sáng hỏa châu, Bastogne như bao phủ bởi một lớp sương dầy đặc khói súng. Dưới chân đồi là một rừng cây đang chuyển động nhấp nhô! Không. Đó là cả một biển người với những tiếng thét man dại: Hàng sống! Chống chết!... Hàng sống! Chống chết!...

Lũy nói với người Thiếu úy Đại đội Phó:

- Tụi nó mang cả trung đoàn định xơi tái mình đây. Một chọi mười cũng được. Nhằm nhò gì.

Đợt xung phong đầu tiên của Bắc Quân đã bị chận lại ngay lưng chừng đồi, trước dàn lưới lửa cùng với lòng quyết tâm của những người lính bộ binh Sư đoàn 1 - Đại đội Bùi Đăng Lũy. Chiến trường bỗng trở nên yên lặng một cách đáng ngại. Không khí ngột ngạt, đe dọa. Lũy biết là địch đang củng cố hàng ngũ chuẩn bị cho một trận tấn công mới. Đây rồi, cơn địa chấn lại mở màn. Hàng ngàn trái pháo mở đầu cho đợt xung phong thứ hai của Bắc Quân, rung chuyển đỉnh Bastogne như muốn sang bằng cứ điểm này thành bình địa. Lại những tiếng kèn xung trận, lại hàng sống! chống chết! và những đầu người lố nhố dưới ánh hỏa châu.

Tiếng người hiệu thính viên báo cáo tổn thất. Trên 30 người thương vong trong đợt pháo vừa qua. Lũy ra lệnh cho người Hạ sĩ quan Truyền Tin: Lệnh của thẩm quyền, cho di tản thương binh ra khỏi chiến trường, thương binh nhẹ cõng thương binh nặng.

Xong Lũy lên tiếng như nói với mình

- Mẹ kiếp! Tụi nó coi bộ mập địa, tố kỹ quá. Chơi toàn pháo lớn không hà, không có cái nào lép cả!

Một lần nữa, Bắc Quân lại bị chận đứng trước ngưỡng cửa phòng thủ. Nhưng Lũy đã thấy rõ âm mưu của đối phương. Bắc Quân đang cố gắng dồn toàn lực tập trung mũi nhọn về phía anh để chọc thủng tuyến phòng ngự, tấn công dứt điểm trong đợt xung phong cuối cùng.

Mặt trận lại trở nên yên tĩnh ngột ngạt trước khi báo hiệu một cơn giông bão mới.

Tiếng báo cáo vang lên trong máy truyền tin từ các trung đội: Mấy đứa con sắp hết kẹo. Đợi lệnh.

Lũy quyết định nhanh như một lằn chớp, gọi người Thiếu úy Đại đội Phó:

- Mang cây đại liên phía bên hông qua cho tôi. Lựu đạn nữa. Còn bao nhiêu gom hết lại đây. Xong ông dắt mấy đứa con chém vè. Tôi ở lại. Nghe rõ?

Một phút nấn ná, giọng người Đại đội Phó mang âm hưởng nước mắt:

- Moa ở lại với toa.

- Ê, tôi là Đại đội Trưởng nghe bạn, đừng có giỡn mặt. Đi đi, lẹ lên. Lo cho mấy đứa con về đến nơi đến chốn. Gởi lời chào vĩnh biệt bà xã moa.

Quay qua người Hạ sĩ quan Truyền Tin:

- Trình với mặt trời, trong vòng ba mươi phút nữa Bastogne sẽ là vùng oanh kích tự do. Xong. Bắt đầu từ đây, tôi cũng đếch cần chú nữa. Dzọt lẹ đi, nên nhớ là chú chỉ có khoảng ba mươi phút để ra khỏi nơi đây, nếu không muốn bị Napalm nướng thành con heo quay đấy.

Không ai chứng kiến được trận thư hùng cuối cùng giữa một Bùi Đăng Lũy quần thảo với một Trung đoàn của quân đội chính quy Bắc Việt như thế nào, chỉ biết hai hôm sau, khi một đơn vị khác của Sư đoàn 1 tái chiếm Bastogne, giữa một chiến trường còn nồng nặc mùi tử khí, giữa những thây người vương vãi, thịt xương tung tóe, xác của Bùi Đăng Lũy vẫn còn nằm đó, trên công sự phòng thủ với hàng trăm dấu đạn trên người. Bắc Quân đã phẩn nộ và rửa hận bằng cách trút vào xác chết Lũy hàng loạt những vết đạn căm thù.

Nhìn vào góc cạnh nào đi nữa, khi quyết định một mình ở lại Bastogne chặn địch cho đồng đội rút lui, Lũy đã là một anh hùng. Lựa chọn cho mình một cái chết, nhất là chết cho kẻ khác là một hành động dũng cảm. Dĩ nhiên, Lũy cũng có gia đình, có vợ con như bao nhiêu người khác - vợ đẹp, con ngoan là đằng khác - Nhưng với cả trăm binh sĩ thuộc quyền, họ cũng có những mái ấm gia đình như Lũy. Họ cũng có quyền được sống. Với trách nhiệm và tư cách của một người lãnh đạo, và với dũng khí Đông phương. Lũy đã chọn lựa ở lại, làm một Kiều Phong trên đỉnh Bastogne.

Tôi giã từ Huế sau một đêm say ngất ngưởng. Tôi muốn quên tất cả. Những bạn bè còn mất. Những mùa Hè đỏ lửa. Những Đại lộ Kinh hoàng. Những tiếng thét trong rừng sâu Hạ Lào. Những hàng phượng đỏ ối dọc theo bờ sông Hương. Những tà áo quấn quít trong nắng chiều. Những Đông Hà - Gio Linh - Quảng Trị... Quê hương của tuổi thơ khốn khổ... Tất cả.

Khi chuyến bay của hãng Hàng Không Việt Nam rời phi trường Phú Bài, tôi cố nhìn lại một lần nữa mảnh đất nghèo miền Trung qua khung cửa kính. Một vùng đất bất hạnh. Đầy đau thương nhưng lắm tự hào. Tôi nghĩ thầm rồi mình sẽ về sống chết trên mảnh đất nghèo khổ đó, một ngày không xa. Máy bay đã chuyển dần cao độ hướng ra biển, bỏ lại đàng sau những núi đồi nhấp nhô. Trong những đỉnh núi quanh hiu đó, có một ngọn mang tên Phú Xuân.

Nguyên Anh.
Ý kiến bạn đọc
29 Tháng Ba 20177:48 SA
Khách
KG BBT
Đây là một sự nhầm lẫn đáng tiếc
Nguyên Anh tôi không hề viết bài này, vì khi chiến sự nổ ra tại VN tôi chỉ mới là một chú sói con Hướng đạo Quân Đội.
Riêng hai bài kia thì đúng là do tôi viết.
Quý vị có thể vào trang nhà của Nguyên Anh và tìm kiếm trong phần tên tác giả để kiểm chứng, vì nếu tác giả viết bài này không phải là tôi thì đó là một sự thất lễ.
Các bài viết của tôi được đăng trên: Dân Làm Báo, Trí Nhân Media,Nam Úc Tuần Báo, Chính Luận VN, và một số trang khác.
Trân trọng
Nguyên Anh
Chủ bút website Quyền Được Biết
www.quyenduocbiet.com
04 Tháng Bảy 20117:00 SA
Khách
Xin vinh danh anh hùng ĐĐT Bùi Đăng Lũy và xin duợc nghiêng mình kính phục
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn