BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 35715)
(Xem: 33262)
(Xem: 32427)
(Xem: 24687)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Những đứa trẻ Thái Bình – Chu Kỳ Rực Rỡ (79 – 82)

14 Tháng Hai 201212:00 SA(Xem: 606)
Những đứa trẻ Thái Bình – Chu Kỳ Rực Rỡ (79 – 82)
50Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
00

PHẦN BỐN


CHU KỲ RỰC RỠ


79

Cuộc trường kỳ kháng chiến đã sang giai đoạn tổng phản công, và sắp bước-tới giai đoạn tổng tấn công. Khi toàn dân tích cực tổng tấn công giặc-Pháp xâm lăng, bấy gìờ, kháng chiến thành công. Kháng chiến thành công,-là giặc đã thua tan tành. Quân ta kéo về, chiếm lại thủ đô:

Trùng trùng say trong câu hát

Lớp lớp đoàn quân tiến về

Chúng ta đi nghe vui lúc quân thù đầu hàng

Cờ ngày nào tung bay dưới phố

Trùng trùng quân đi như sóng

Lấp lánh lưỡi lê sáng ngời… (1)

Bài hát Tiến về Hà Nội vang vang khắp làng Tường An, gây phấn khởi vô-vàn. Tiền tuyến, giặc sắp sửa đầu hàng. Hậu phương, đã chiến thắng hết-các thứ giặc. Giặc dốt, có thể, còn sót vài tên già lụ khụ. Chứ giặc-mê tín dị đoan, giặc nghiện rượu thì bị tiêu diệt hoàn toàn. Uống rượu là-uống máu đồng bào, mỗi giọt rượu là một giọt máu đồng bào. Hai-khẩu hiệu này nghe ghê quá. Lại cái tranh vẽ mới khiếp. Người đàn-ông ngồi uống rượu, với cái thủ lợn. Vợ con anh ta ngồi trên đầu anh ta,-gầy gò nheo nhóc. Máu vợ con anh ta chẩy vào chai rượu, và anh ta uống-tì tì. Anh ta uống máu vợ con anh ta. Không ai dám uống rượu nữa. Du-kích đi bắt nấu rượu, gắt gao hơn đoan Tây ngày xưa. Nấu rượu là Việt gian.-Tội Việt gian nặng lắm, ai cũng sợ. Những người nghiện rượu bị chỉ trích-tàn nhẫn. Ngay cả sách i tờ cũng có câu chê bai rượu chè:

Rượu vào chếnh choáng hơi men

Nói khuếch nói khoác chỉ nên khinh thường

Cờ bạc bị bài trừ tận gốc. Tết nhất, hội hè, nhi đồng không thèm quay-thò lò hay đánh cò cua tôm cá. Đám cưới đời sống mới, đám giỗ đời-sống mới, không cần rượu. Ca hát là đủ. Tặng cô dâu bài Thi đua tăng gia-sản xuất. Tặng chú rể bài Lên đường giết giặc. Những nhãn hiệu thuốc độc-Văn Diển, Phông Ten (2), chẳng ai buồn nhớ tiếc. Thuốc phiện càng hết-đường tồn tại. Vì, thuốc phiện nguy hiểm hơn thực dân Pháp. Như thế, hậu-phương đã hoàn thành các công tác chính phủ đề ra. Hậu phương chuẩn bị-tổng phản công. Ta sắp chiến thắng giặc Pháp rồi. Làng thôn tưng bừng mở-hội, đón chờ kháng chiến thành công. Tường An lại rộn rã những trò chơi-mới, ở ao đình. Đó là những trò bắt Việt gian, đập vỡ đầu phản động, và-khắc phục gian khổ, để chiến thắng giặc Pháp.

Người ta thả ba chú vịt xuống ao đình rộng lớn. Ba chú vịt mang tên-Việt gian gộc. Hàng chục người tham dự trò chơi bắt Việt gian. Họ cởi trần,-mặc trần xì chiếc quần đùi, nhẩy xuống ao, đuổi, bơi, lặn bắt ba con vịt,-mà thời thế đã được hóa kiếp làm… Việt gian hạng nặng. Vịt bay là là-trên mặt nước. vịt bơi nhanh. vịt lặn trốn. Vịt kêu hốt hoảng. Trên-bờ, tiếng hoan hô cổ võ, tiếng đả đảo Việt gian vịt ầm ỹ, khiến vịt càng-hoảng sợ. Chừng mười lăm phút, chưa bắt được Việt gian, là thua cuộc.-Mười người khác thay thế, nhẩy xuống ao tiếp tục bắt Việt gian. Ai bắt-được Việt gian, đem về cắt tiết, làm lông, mà thưởng thức tiết canh,và-vịt luộc chấm nước mắm gừng. Trò chơi đập vỡ đầu phản động cũng rất hào-hứng. Một hàng niêu đất buộc bằng dây chuối luộc, và treo toòng ten,-trên một sợi dây thừng dài, cao quá đầu người. Mỗi người tham dự phải-để ban tổ chức bịt mắt lại, dẫn quanh co một lát, rồi mới buông ra. Người-tham dự cầm cái gậy, quờ quạng, đi trên sân đình. Đến nơi, mà anh ta tin-chắc, có bè lũ phản động, anh ta vung gậy đập. Đập vỡ cái niêu, anh ta-được hoan hô. Đập hụt, anh ta bị cười ồ. Trò chơi khắc phục gian khổ để-chiến thằng giặc Pháp gây thích thú nhất. Cây tre bương thật dài. Gốc-cắm sâu vào bờ ao, người ta cắm một cành tre tươi, máng một tặng phẩm.-Cây tre bương vàng óng. Không cần bôi mỡ, mà vẫn cứ trơn. Nó chòng-chành, rún rẩy. Chỉ múa tay, uốn éo thân hình đi quá nửa cây tre bương,-là rơi ùm xuống ao. ít người hy vọng giật giải này. Những người lớn-không thích hợp với trò bắt Việt gian, và khắc phục gian khổ để chiến thắng-giặc Pháp. Họ đã làm trò cười cho phụ nữ, nhi đồng.

Khoa, người bạn gái Hà Nội tản cư, và đồng chí cu Đường thân mến của nó-đang đứng trên bờ ao, trong hàng ngũ khán giả. Một vùng trời thôn dã náo-nhiệt, vang vọng tiếng cười, tiếng hét. Chưa bao giờ, kể từ ngày khai-thiên lập địa, làng Tường An vui đến thế. Trẻ già, trai gái cùng vui.-Những keo vật, những đêm chèo năm xưa đã vui lắm. Nhưng, niềm vui có-giới hạn, và phụ thuộc vào sự được mùa hay mất mùa. Bây giờ, tiếng trống-đồng mở rộng một tương lai chan chứa, chứ không dìu vể dĩ vãng hắt-hiu, như tiếng trống chèo, trống vật. Ngay cả tiếng trống ngũ liên canh-đê gợi chết chóc, đói lạnh cũng bị tiếng trống đồng lấn át. Tiếng trống-ngũ lôi của đám đông đồng tử áo mầu sặc sỡ, nón lá quét sơn rước thần,-đón thánh thì chịu khuất phục hoàn toàn bởi tiếng trống đồng cách mạng của-bầy nhi đồng đầu trần, áo nâu. Mặt đất cằn khô muôn thuở và phẳng lì an-phận, câm lặng chờ đợi một kiếp đời sau khấm khá hơn kiếp đời này, đã-nứt nẻ. Ở những kẽ nứt nẻ, những mầm ước mơ nhú lên. Người nông thôn-đã biết mộng mơ cuộc sống khác cuộc sống hiện tại. Kháng chiến là thửa-ruộng gieo rắc mạ mộng mơ. Kháng chiến thành công, mạ sẽ thành tương lai-vàng ngập đầy đồng. Người nông thôn tin tưởng thế. Sự câm lặng lên tiếng-rộn ràng.

- Đồng chí cu Đường!

Liên vỗ vai Đường, nheo mắt:

- Dám bắt Việt gian không?

Đường xăn tay áo:

- Sợ gì nhẩy.

Nó cởi áo. Khoa nắm chặt cánh tay Đường:

- Gượm đã.

Liên hỏi:

- Tại sao lại gượm?

Khoa đáp:

- Đề cho Việt gian nó mệt phờ râu ông cụ.

Liên khoái chí, cười khúc khích. Đường gạ Khoa:

- Tao với mày thi đua… khắc phục gian khổ, nhé!

Khoa lắc đầu:

- Mày thi đua một mình đi.

Đường nói:

- Giải thưởng mấy chục bạc, tha hồ chén bánh cuốn. Xuống chợ Mễ ăn-bánh cuốn bà phó Nhự, là nhất. Thừa tiền, ta uống nước dừa. Có ngu mới chê.

Liên vỗ nhẹ vai Khoa:

- Bánh cuốn bà phó Nhự ngon lắm hở, Khoa?

Khoa nuốt nước bọt:

- Tuyệt cú mèo! Liên chưa đi chợ Mễ à?

- Chưa.

- Khoa sẽ đưa Liên xuống Ô Mễ, vào nhà anh Côn chơi.

- Ăn bánh cuốn bà phó Nhự, nữa chứ?

- ừa.

- Thế thì giật giải khắc phục gian khổ đi!

- Cần gì, Khoa xin tiền mẹ.

- Tiền giải thưởng ăn bánh cuốn mới ngon.

Chiến sĩ thi đua Khoa nổi máu thi đua. Nó bảo Đường:

- Nào, thi đua.

Hai đứa trẻ cởi áo đưa cho Liên cầm. Những người tham dự trò chơi khắc-phục gian khổ để chiến thắng đang làm trò cười cho khán giả. Họ đi trên cây-tre bương, như đi cột mỡ. Mgã là thường. Mỗi lần, một người rớt xuống-ao, cây tre lại rung rinh. Đường xung phong đi trước. Nó chờ cây tre hết-rung rinh, mới đặt chân lên. Đường giống con khỉ. Đường giống người làm-xiếc đi trên dây. Nó không được cầm cây tre dài, lấy thăng bằng thân thể.-Đường đã tới giữa đường khắc phục. Đường rón rén thêm chút nữa. Nó mở-kỷ lục. Khán giả hoan hô Đường. Đường nắm chắc giải thưởng rồi.

- Đồng chí cu Đường!

Liên muốn dặn dò gì nó. Đường giật mình ngoái lại nhìn. Và, nó rơi-tỏm xuống ao. Khán giả cười ồ. Đưòng bơi vào bờ, ngoi lên, khắc phục-gian khổ lần thứ hai. Nó nhìn Liên, càu nhàu:

- Đừng gọi tớ, nghe chửa!

Đường đã đứng ở gốc tre. Nó uốn éo thân hình. Lần này, chưa tới giữa đường,-nó đã ngã. Còn lần cuối cùng, Đường cố gắng khắc phục gian khổ. Nó-thất bại, phải nhường người khác tranh giải. Chưa ai đi xa hơn-Đường. Đến lượt Khoa, Đường hất đầu:

- Cái Liên nó có gọi, mặc kệ nó nhé!

Khoa hỏi Liên:

- Lúc nãy, Liên muốn dặn gì cu Đường?

- Muốn bảo cu Đường là, ra quá nửa cây tre, chạy nhanh, và chụp lấy-giải.

Khoa gật gù:

- ờ, ờ, hay đấy.

Khoa thận trọng bước. Thấy Khoa tranh giải, mọi người tận tình khích lệ-Khoa. Vì, khoa là con yêu của làng Tường An. Khoa hát hay. Khoa đóng-kịch giỏi. Khoa chỉ huy nhi đồng gương mẫu. Khoa lễ phép, và ngoan-ngoãn. Ai cũng yêu mến Khoa, muốn Khoa đoạt giải. Khoa giơ tay chào-mọi người. Hoan hô Khoa! Hoan hô thằng Khoa! Khoa đã bước lên kỷ lục-của cu Đường. Khoa phá kỷ lục. Hoan hô Khoa! Khoa rơi tõm xuống ao.-Khán giả tiếc rẻ giùm Khoa. Con Liên ngẩn ngơ giây lát. Khoa đã bơi vào-bờ.

- Tích cực thêm đi Khoa!

- Gắng sức nữa nhé, khoa!

Khán giả người lớn khích lệ Khoa ồn ào. Khoa ngước nhìn Liên. Chỉ nhìn rõ-một mình Liên. Hai cánh tay con bé Hà Nội tản cư dang rộng, và giơ cao, như-thể hối thúc Khoa hãy chiếm bằng được giải thưởng. Ở sân đình, tiếng-hoan hô vang dội, vì đã có người đập vỡ đầu phản động. Một góc ao, ba-tên Việt gian gộc đang bị vây hãm. Khán giả cổ võ những kẻ bắt Việt-gian náo nhiệt hơn. Khoa không biết. Không cần biết. Không thèm biết,-cả những ồn ào khuyến khích mình.

- Mau lên, Khoa ơi!

Liên giục khoa. Khoa nghe rõ. Nghe xong, thì tỉnh táo ngay, thì quên-cú ngã vừa rồi. Khoa đưa tay vuốt cho hết những giọt nước còn dính-trên mặt. Khoa chớp mắt. giấc mơ ngắn hiện ra liền. Bắt đầu là con đường bậc-thang, con đường gập ghềnh như sống trâu, mùa mưa lầy lội nhất, phải,-vì thế, nên mang tên đường Lầy, đưa xuống chợ Mễ. Chợ Mễ một tháng sáu-phiên. Những ngày thường, chợ cũng họp, nhưng không đông bằng ngày phiên-chính. Chợ phiên mới có bánh cuốn bà phó Nhự, mới có nước dừa, mới có-cùi dừa kẹp bánh đa, ăn vừa dòn, vừa ngậy. Liên muốn xuống chợ Mễ ăn-bánh cuốn. Ăn bánh cuốn bằng tiền giải thưởng, ngon vô cùng. Khoa sẽ-đưa Liên xuống chợ Mễ, sẽ đưa Khoa ra khỏi lũy tre làng Tường An.

- Mau lên, chứ Khoa!

Khoa nhẩy lên bờ. Khoa lại khắc phục gian khổ. Đề, làm vui lòng Liên.-Để, chiến thắng Liên. Lúc này, chỉ có Liên. Chỉ vì Liên. Khoa đã đi quá-giữa. Quá một chút nữa. Cây tre rung rinh nhiều. Khoa nghiêng mình bên-phải. Khoa nghiêng mình bên trái. Khoa rung rinh cùng với cây tre bương-quái ác. Khoa hồi hộp. Liên còn hồi hộp hơn. Khán giả vỗ tay rền vang.-cu Đường nhẩy cỡn, hét ỏm tỏi:

- Bánh cuốn bà phó Nhự!

Khoa chợt nhớ lời Liên. Mắt Khoa rực sáng. Nó nhìn rõ giải thưởng rồi.-Khoa chạy nhanh. Chạy, và bông nhông, chụp lấy giải thưởng, y hệt-Luyến mít sơ lanh vừa chạy, vừa bông nhông, chụp bóng. Giải thưởng-và Khoa lăn tòm xuống ao. Trên bờ, tiếng hoan hô vang dậy. Khoa đã ngóc-đầu khỏi mặt nước, một tay giơ giải thưởng, một tay bơi vào bờ. Liên chạy-tới cầm tay Khoa, lôi Khoa lên. Cu Đường vồ lấy giải thưởng, bóc ra xem.-Nó hả hê nói:

- Khoái tỉ quá, một trăm cụ Hồ, Khoa ơi! Tha hồ chén bánh cuốn.

Đường nheo mắt:

- Bắt thêm con vịt chăng?

Khoa lắc đầu. Liên đập lưng Đường:

- Cu đồng chí Đường được mỗi cái nước ăn tham.

Giải khắc phục gian khổ đã mất, khán giả kéo vào sân đình. Trời đã-nhạt nắng, nên trò chơi bắt Việt gian kém hấp dẫn. Ba tên Việt gian bơi-lặn rất giỏi, chúng chưa bị bắt. Khoa nằm ngửa trên bờ ao đình, vươn-tay thoải mái. Nó nghe Đường ca ngợi bánh cuốn bà phó Nhự, và, tưởng-tượng, phiên chợ Mễ mùng sáu sắp tới, tưởng tượng, con đường Lầy, nó-và Liên sẽ sóng đôi bước. Cu Đường lẽo đẽo đi sau, hay đi trước, tùy nó.

(1) Tiến về Hà nội, của Văn Cao

(2) Rượu Văn Điển và rượu Phông Ten nổi tiếng và thịnh hành ở miền Bắc-thời Pháp thuộc. Còn thứ rượu ngang bị coi là rượu lậu, nghĩa là rượu nấu-không có môn bài của nhà nước bảo hộ

80

Mùa xuân lại sắp về. Kháng chiến, thế mà, đã được bốn năm. Cuộc trường-kỳ kháng chiến có thể kéo dài hằng trăm năm. Vua Lê Lợi, ngày xưa,-kháng chiến chống quân nhà Minh, ròng rã, mười năm mới chiến thắng. Hồ-chủ tịch kêu gọi toàn dân đẩy mạnh cách mạng thành công, kháng ciến-thắng lợi, dù phải hy sinh tới giọt máu cuối cùng. Nhất định, trường kỳ-kháng chiến sẽ đánh bại thực dân xâm lăng Pháp. Nhất định, Việt Nam sẽ-độc lập muôn năm. Hồ chủ tịch đoan quyết: Chúng ta sắp thắng lợi. Chỉ-cần toàn dân thi đua giết giặc.

Người người thi đua

Ngành ngành thi dua

Ta nhất định thắng

Giặc nhất dịnh thua

Hồ chủ tịch dạy thế. Dân làng Tường An tin tưởng triệt để vào lời dạy-của Hồ chủ tịch, phấn khởi phát động cuộc thi đua mùa xuân tới, để-lập công dâng lên Hồ chủ tịch:

Lập công ta dâng lên Bác

Chúng ta là con của Người

Luôn luôn lúc nào cũng nhớ

Trung thành với Đảng với dân…

Bài hát mới nhất, và chữ đảng cũng mới nhất. Không ai biết đảng là gì,-đảng ra sao. Cứ hát. Say sưa hát như loài vẹt, như con sáo, con yểng,-trong lồng kín mít, nói những câu người ta dạy chúng nó nói. Chờ đón-xuân về, Khoa ôm đàn banjo, ngồi trên hè nhà mình, tay vê dòn, miệng-nghêu ngao:

Chim ca vang mừng mùa xuân sang

Nghe gió xuân lòng nhớ mong chàng

Xuân đến vui với hoa

Riêng có em sót sa

Nhìn về phương trời xa

Em thương ai lạnh lùng biên khu

Trong gió sương chờ giết quân thù

Em ngóng trông chiến công

Ghi khắp trên núi sông

Trời Việt Nam thắm hồng… (1)

Khoa say sưa hát, không biết có người đang đứng nhìn nó.

- Hay lắm!

Khoa cụt hứng, ngước mắt. Nó reo mừng:

- Anh Côn!

Khoa đặt cây đàn banjo xuống thềm, chạy tới nắm chặt tay Côn:

- Hôm nọ, em đi chợ Mễ, ghé vào thăm anh mà anh không có nhà. Anh trốn-em, hở?

Côn xoa đầu Khoa:

- Anh sang Đống Năm. Em tìm anh hỏi tin anh Vũ, hả?

- Không. Em muốn chơi banjo-alto, nên nhờ anh dạy cách ác co.

- Tiếc quá nhỉ! Anh sắp đi rồi.

- Anh đi đâu?

- Tình nguyện lên Sơn Tây, học ở trường lục quân Trần Quốc Tuấn. Anh-đến chào bố mẹ em. Bố mẹ có nhà không?

- Có.

Khoa dẫn Côn ra vườn sau, tìm cha mẹ đang cắt ngồng cải. Cha Khoa đưa-Côn vào nhà, và bắt Khoa rót nước, mời Côn uống, làm như Côn đã lớn-lắm. Mà Côn đã lớn thật. Vẻ trịnh torng của cha-Khoa khiến Côn buồn buồn. Một chiều nào đó, tưởng đã xa vô cùng, đứng-trên cầu Bo với Vũ, Côn đã nghĩ tới ngày bạn bè xa nhau, xa thật lâu,-và lớn lên, lớn thật mau. Gặp gỡ nhau, chắc sẽ ngỡ ngàng, lạnh nhạt.-Ba năm rồi, từ tiêu thổ kháng chiến, Côn không gặp Vũ lần nào. Vũ đã đi-chiến đấu. Côn muốn gặp Vũ, tìm lại tình bạn xưa trong chiến đấu.-Chắc, không đến nỗi ngỡ ngàng.

- Anh Côn uống nước đi.

Côn đau nhói ở tim. Côn chợt hiểu, lớn khôn là biết đón nhận những-nỗi đau sót. Cha Khoa không gọi Côn là cháu nữa. Sự thân mật vất trả về quá-khứ. Côn nâng chén nước. Uống cạn nỗi buồn.

- Cháu sang chào hai bác, độ nửa tháng sau, cháu lên đường.

- Anh Côn tính đi đâu?

- Cháu theo học trường lục quân Trần Quốc Tuấn ở Sơn Tây.

- Xa quá nhỉ!

Cha Khoa trầm ngâm giây lát:

- Anh suy nghĩ kỹ chưa?

Côn đáp:

- Cháu tình nguyện.

Cha Khoa thở dài:

- Thằng Vũ nhà này chẳng hiểu sống chết ra sao. Các anh vừa lớn, ham-vui, và thường làm khổ gia đình.

Côn chớp mắt:

- Lớp cháu, người ta tình nguyện đi hết. Anh nào ít tuổi, khai dối tuổi.-Nhiều anh không được nhận đơn, khóc cạn nước mắt. Cháu ở nhà, không biết-làm gì. Chúng cháu sẽ lên Việt Bắc.

Khoa khen ngợi Côn:

- Anh hách ghê! Vài năm nữa, em cũng sẽ ra đi.

Cha Khoa hỏi:

- Anh Côn ở lại dùng cơm với em Khoa, nhé?

Côn nói:

- Cháu sang chào hai bác, chơi với em Khoa một lát thôi. Chiều nay cháu-phải lên Lạng.

Côn đã ở lại chơi với Khoa hàng tiếng đồng hồ. Khoa bắt Côn dạy nó ác co-một vài bản nhạc phổ thông. Khi Côn về, Khoa tiễn chân Côn đến tận cây-đa đường Lầy. Khoa hãnh diện thêm, vì anh Côn của nó sắp trở thành người-chỉ huy bộ đội. Khoa nghĩ rằng, măm nay, Vũ cũng làm bộ đội rồi.

Người bộ đội quần áo nâu đầy những mụn vá giang hồ, tóc cắt ngắn nhuốm bụi-đời, da sạm mầu chinh chiến đường xa, thoáng nhìn đã thấy ngập tình yêu-mến. Người bộ đội là linh hồn của kháng chiến. Người bộ đội đánh đuổi giặc-Pháp, chịu đựng gian khổ cho hậu phương yên vui. Bộ đội đã về Tường An.-Đó là tuổi trẻ thành phố ra đi từ chinh chiến. Mắt ngời sáng. Miệng-cười tươi. Tuổi trẻ đi chiến đấu, mơ ước được trở về sống với Hà Nội, Hải-Phòng, Nam Định…, như Vũ mơ ước được trở về sống với Thái Bình, sống-với kỷ niệm và tình yêu. Tuổi trẻ thần thánh của một giai đoạn lịch sử-ngập ánh hào quang. Côn đã theo chân Vũ. Chắc Luyến, Long, Lộc, cũng-đã theo chân Vũ. Ra đi. Bước chân chiến đấu in đầy dấu vết lãng mạn-trên quê hương. Một ý nghĩa nào khác, không cần biết. Một âm mưu nào-khác, không cần hay. Chỉ biết chiến đấu thắp sáng quê hương u tối, đang-đầy bóng giặc cướp nước. Nếu chưa thắng giặc, còn trường kỳ kháng chiến.-Và, Khoa sẽ lớn khôn, sẽ ra đi làm lịch sử, sẽ mơ thành người sông-Lô.

Khoa tung tăng bước. Đã về tới con đường làng mình. Khoa đứng ngắm cánh-đồng, sau mùa gặt nắng hanh vàng. Cơn gió lạnh nhẹ ướp tươi tâm hồn-Khoa. Tiếng gà gáy te te nhọn. Buồn não nùng. Khoa không nhận ra cái vẻ-buồn đó. Tiếng gà gáy báo trưa bắt không gian trải rộng, và thời gian thu-cánh. Và, hoàn toàn im lặng, để cảm xúc dâng lên. Một mình Khoa đi-giữa đường trưa. Trưa thần tiên. Trưa thanh bình trong kháng chiến. Khoa-lại muốn được cùng Liên đi trên đường trưa. Trưa ngai ngái mùi dắt. Trưa-phảng phất hương đồng. Trưa rất ca dao. Trưa khiến xốn xang lòng người.-Khoa dang tay ôm chặt buổi trưa thần tiên của quê hương mình. Khoa bước-chậm, cúi đầu nhìn dấu chân in trên mặt đường. Đưa từ một xóm nhỏ tới,-tiếng hát bùi ngùi:

Làng tôi không xa kinh kỳ sáng chói

Có những cánh đồng cát dài

Có lũy tre còm tả tơi

Ruộng khô có những ông giá rách vai

Cuốc đất bên đàn trẻ gầy

Có người bừa thay trâu cầy



Bao giờ anh chiếm được đồn Tây… (1)

Bài hát làm Khoa buồn. Quê hương Khoa cũng chỉ nghèo đến thế là cùng.-Người bừa thay trâu cầy. Và, đất cầy trên sỏi đá. Quê đã nghèo, mà-giặc Pháp còn tràn về đốt phá, chém giết, và thiêu rụi tương lai. Khoa bỗng-lo cho số phận con đường trưa. Giặc về đây, những dấu giầy đinh tàn bạo-của chúng sẽ cầy nát mặt đường, sẽ xoá hết những dấu chân kỷ niệm của-Khoa, và Liên, và của dân làng. Buổi trưa thần tiên bị phá tan bởi tiếng-súng. Buổi chiều thơ mộng bị đâm chết bởi lưỡi lê. Tiếng gió luồn qua bờ-tre khóm lá, như tiếng thầm tình tự, sẽ chỉ còn âm vang của hờn oán, đau-thương. Khoa rùng mình sợ hãi. Khoa hốt hoảng. Khoa vụt chạy.

Thằng bé biến khỏi không gian thần tiên. Nó đã chìm vào ác mộng của-chiến tranh. Nó, mơ hồ, thấy chia lìa, đứt đoạn.

(1) Nhạc phẩm Xuân nhớ chiến sĩ, của Ngọc Bích

(2) Bài hát của Phạm Duy

81

Buổi sáng đầy sương mù. Mặt trời đã nhô lên cao. Ánh nắng còn quá yếu, chưa-đủ làm tan sương mù che kín làng thôn. Khoa thức dậy, thật muộn. Nó ra-vườn, kiếm vài trái bòng đẹt rụng muộn, đem sang cho Liên đánh chuyền.-Qua hàng dậu tre thưa, Khoa ngạc nhiên thấy, trên đường Lầy, lố nhố-những người gồng gánh, chạy nhanh về Đồng Đức, Tường An. Những điểm đen-nổi bật trong không gian mù sương. Khoa mở căng mắt nhìn. Cảnh tượng-thật đẹp. Y hệt đứng xem người giấy chạy quanh chiếc đèn kéo quân.-Những người gồng gánh đã như một hàng kiến dài, trên đường Lầy. Văng-vẳng tiếng quát tháo, tiếng giục giã, và tiếng khóc. Khiến Khoa càng ngạc-nhiên hơn. Nó chạy vào nhà, thưa chuyện với cha. Hai cha con, tất tả,-chạy ra đầu làng, thăm hỏi sự tình. Mới tới nửa đường, đã gặp ông phó-Đẩu, mặt mày tái ngắt, lắp bắp báo tin:

- Tây nó sang Thái Bình rồi!

Giặc Pháp dã chiếm thị xã Thái Bình. Dân ở các làng gần thị xã bồng bế nhau-chạy giặc. Tin loan truyền rất nhanh. Khi sương mù tan, cả làng đều biết-giặc đã kéo sang tỉnh mình. Sự sợ hãi hiện rõ trên khuôn mặt mỗi người.-Nhất là những người Hà Nội, Nam Định, Hải Phòng tản cư về đây.

Pháp đã chiếm hết các tỉnh miền đồng bằng. Nay, chiếm nốt Thái Bình, không-hiểu dân chúng sẽ tản cư đi đâu. Có thể, sắp tiêu thổ kháng chiến, thực-hiện khẩu hiệu đồng không nhà trống. Nhà cửa đốt cháy, ruộng vườn-phá nát hoa mầu. Niềm vui hôm qua nhường chỗ cho kinh hoàng hôm nay.-Đến trưa, làng thôn đông đầy người tản cư. Thành phố tản cư về thôn quê. Bây-giờ thôn quê tản cư qua thôn quê.

Một ngày căng thẳng của dân làng-Tường An. Gia đình nào cũng lo gói quần áo, sửa soạn chạy giặc. Bàn thờ-ông bà, cánh cửa gỗ lim tháo gỡ, vất xuống ao, sợ giặc tới đốt nhà. Chưa-ai nghe được một tiếng súng nhỏ. Giặc còn cách những mười cây số. Biết-đâu bộ đội ta chẳng đã đào sẵm mồ chôn chúng. Thái Bình là mồ chôn-thực dân Pháp mà.

Một ngày qua. Hai ngày qua. Rồi, một tuần lễ qua. Giặc vẫn ở thị xã. Sự-căng thẳng bớt đi. Du kích đeo dây mìn trên vai, lưng giắt lựu đạn; dân-quân, mã tấu sáng ngời, tuần hành khắp thôn xóm, biểu dương lực lương, và-trấn an dân làng. Những anh du kích trông oai lắm. Mìn đã gài ở cổng-làng. Giặc đến đây, nó sẽ chết hết. Dân quân, du kích chuẩn bị đón giặc,-giết giặc.

Đêm im lặng. Những con chó sống sót lại bị giết hết. Trống-đồng của thiếu nhi thôi đánh. Đêm sợ hãi. Gió lạnh thổi dữ dội. Tiếng-tre già cọ sát nhau nghe rụng rời. Không ai thiết nghĩ đón tết nữa.-Ban ngày, dân làng kéo nhau lên miễu Vang. Nếu giặc tới từ ngả Giai,-Lạng, thì chạy xuống Thụy Bình. Nếu giặc tới từ ngả Ô Mễ, thì chạy lên-Giai, Lạng. Đứng miễu Vang, có thể, nhìn rõ đường số 10, nhìn rõ-những chiếc xe căm nhông giặc chở quân. Những chiếc xe nhỏ bé, cơ hồ như-những con bọ hung nhúc nhích.

Như vậy, là giặc Pháp sang Thái Bình, bằng đường số 10. Chúng từ Nam-Định kéo quân qua bến đò Tân Đệ. Giặc Pháp không hề gặp sự kháng chiến-của quân ta. Những cái ụ cao, đắp ở bên đây bến đò, chắc đã bị giặc-san bằng. Những khúc đường đầy hầm hố, cũng được giặc lấp kín. Giặc-chạy xe căm nhông, nối đuôi nhau, trên đường số 10. Chưa đụng trái mìn-nào. Ta có mìn rùa, mìn đĩa giật tung cả xe tăng, tầu bò giặc. Khoa nghe-kể chuyện vua mìn đưòng số 5, Sáu đậu (1). Anh này gài mìn tuyệt vời.-Vai đeo cái bánh xe ô tô cùng với mìn, một mình anh đi gài. Sáu đậu gài-mìn giỏi, đến nỗi máy dò mìn của giặc không tìm ra. Mỗi trái mìn của-Sáu đậu là một chiếc xe của giặc Pháp nổ tung. Sáu đậu được phong làm-vua mìn đường số 5. Đường số 10, khúc Tân Đệ-Thái Bình, chưa có vua-mìn. Cũng chưa có trái mìn nào giật nổ tung xe căm nhông của giặc Pháp.

Nửa tháng trôi đi, giặc Pháp vẫn co ro trong thị xã. Chúng không dám về-nông thôn. Sự sợ hãi bớt dần. Tuy thế, dân làng cứ chuẩn bị chạy giặc, cùng khẩu-hiệu Chuẩn bị tổng phản công của chính phủ. Mỗi nhà, đào một cái hầm bí mật-trốn giặc, nếu chạy không kịp. Hầm bí-mật giấu đồ vật quí giá, đề phòng giặc đốt nhà. Giặc đến nhà, đàn bà phải-đánh. Khẩu hiệu mới này không gây được phấn khởi. Làng thôn đã ngưng hẳn-mọi sinh hoạt hậu phương kháng chiến. Như một sửa soạn riêng, chờ-đón một thiên tai.

Khoa đã hì hục đào riêng cho mình một cái hầm bí mật,-ở bờ ao. Hầm bí mật của Khoa có Đường giúp sức. Khoa với Đường đào-cho Liên một cái hầm bí mật. Hầm bí mật này, nhà kia biết, ở chỗ nào. Nó chỉ-còn bí mật với giặc Pháp! Mà, giặc Pháp chưa về làng. Mỗi buổi chiều,-đại đội chủ lực quân của huyện Thư Trì vác kèn đến gần thị xã, trêu-tức giặc. Họ phân tán lực lượng, thỉnh thoảng nổ vài phát súng, rồi thổi-kèn khiêu khích. Giặc Pháp hoảng sợ bắn thâu đêm. Sáng lớn, súng bé-thi nhau khạc đạn. Chủ tịch Tường An hân hoan thuật chuyện, và đoan-quyết giặc Pháp sẽ bắn hết đạn, bộ đội ta vào bắt sống trọn ổ! Chợ-Mễ lại họp. Không có phiên chính. Chợ họp thưa thớt. Vừa họp, vừa lo chạy-giặc. Một tiếng động ồn ào là đủ giải tán cả chợ. Người ta chạy bán sống,-bán chết. Rồi, dần dà, đâm quen.

Tết đã đến. Tết buồn thảm. Nhà Khoa chật người họ hàng tản cư về, từ-Đồng Thanh, Thắng Cựu, Đoan Túc. Chẳng ai nghĩ giặc thèm đặt chân tới-cái làng nghèo xơ, nghèo xác. Sợ giặc thì vẫn sợ, song cứ vẫn tin-tưởng sắp tổng tấn công đuổi giặc khỏi đất THái Bình. Mồng ba tết, trời-lạnh, và nhiều sương mù, khiến mọi người dậy trể. Tất cả đều vụt thức, khi-nghe tiếng súng nổ, ở phía đườhg Lầy. Giặc đã về làng! Không thể trốn-chạy được. Giặc về âm thầm quá. Như thể từ trên trời rơi xuống.-Dân làng thúc thủ, đành ngồi yên run sợ, cầu Trời khấn Phật, và phó thác số-mạng cho tổ tiên. Súng nổ khắp làng. Cái lưới đã bủa vây. Dân làng giống-hệt đàn cá. Giặc tiến gần. Tiếng Tây xí xa xí xố. Giặc vào làng. Mìn du-kích chưa chịu nổ. Không hiểu dân quân, du kích đang làm gì, lúc này?-Dân quân, du kích cách mạng bừng mùa Thu. Sao vương bóng cờ bay-trên chiến khu.

Làng xóm im lặng. Ngay cả những con chim chích chòe cũng-hoảng sợ, bay trốn tận nơi nào. Nghe rõ từng bước chân giặc, từng tiếng-nói của giặc. Không nghe rõ tiếng xung phong giết giặc của dân quân, du-kích. Đạn bắn vun vút qua mái nhà. Tiếng chíu của đạn đi hãi hùng, ghê-rợn. Cha Khoa bắt mọi người nằm úp mặt xuống nền nhà, không được chạy trốn,-cứ ngồi chờ giặc đến. Sống chết có số. Bốn tiếng đó bỗng linh thiêng vô-cùng. Nó an ủi mọi ngưòi, kể cả người luôn miệng thầm nhắc nó, nhắc run-rẩy.

Một tràng đạn liên thanh quạt ròn rã, Khoa hoảng quá, chạy vụt ra khỏi-nhà, vướng vào bức mành mành, và kéo đứt bức mành mành. Khoa ngã xuống sân-gạch. Nó đứng ngay dậy, cắm cổ, chạy sang nhà ông Năm, quên hết các-thế bò trận giả, các thế nằm tránh đạn máy bay. Đạn nổ ròn rã. Tiếng-chân giặc chạy huỳnh huỵch đã thật gần. Khoa rồi trí, nó chạy thục mạng-qua con ngòi, lách dậu, vào vườn dâu của bác Hạch. Khoa nằm ở góc vườn,-đôi mắt nhắm chặt. Kim Đồng sợ giặc Pháp. Anh quên luôn giấc mộng mơ-thành người sông Lô. Anh Kim Đồng phóng khỏi nhà, té nhào trên sân,-vùng lên chạy trốn. Trung đội trưởng Khoa đánh rơi nhiệm vụ chỉ huy nhi-đồng rồi.

Khoa nằm úp mặt. Cằm nó đập xuống đất vườn, theo nhịp run của hai hàm-răng. Giặc Pháp đã vào tới xóm. Giặc Pháp xông vào vườn dâu của bác Hạch.-Bốn thằng giặc cao lớn, mặc quần áo lốm đốm hai ba mẩu, đầu đội bê rê đỏ-chói. Chúng bắt được cô Nhài. Chúng lôi cô Nhài ra giữa vườn. Chúng lột-quần áo cô Nhài. Khoa nhắm mắt. Nó chết giấc. Khoa không biết gì nữa. Khi-nó mở mắt, bốn thằng giặc Pháp, đã biến đâu mất. Cô Nhài ngồi ôm mặt,-khóc tức tưởi. Quần áo cô rách nát. Tóc tai rũ rượi. Khoa lồm cồm ngồi-dậy. Có tiếng động đậy, cô Nhài ngước mặt đẫm lệ ngó Khoa. Thằng Khoa đứng-dậy, rón rén bước. Cô Nhài gọi nó:

- Khoa!

Khoa đua tay lên miệng xuỵt xuỵt. Cô Nhài nói:

- Giặc rút rồi.

Khoa đến gần cô Nhài.

- Lúc nãy, cháu có thấy gì không?

Khoa lắc đầu:

- Cháu nhắm mắt, cháu sợ.

- Thật cháu không thấy gì chứ?

- Dạ.

- Cháu đừng nói với ai là cô bị Tây bắt ở đây, nhé!

- Dạ.

- Cháu hứa đi!

- Cháu hứa.

Khoa không hiểu cô Nhài bắt nó hứa để làm gì. Cô Nhài dọa nó:

- Cháu mà nói cho ai biết, cô sẽ cắn lưỡi tự tử.

Khoa tròn xoe mắt:

- Cháu không dám nói đâu.

Khoa chui khỏi vườn dâu, chạy về nhà. Cha mẹ nó đamg lo giùm nó.-Giặc sắp vào nhà Khoa, có lệnh rút lui. Chưa ai dám nhúc nhích. Đến trưa,-dân làng đổ xô ra lối ngõ. Dân quâm du kích liệng hết lựu đạn, dây mìn-xuống ao, đang mò lên. Du kích Da gặp giặc, giặc đá đít ngã lăn, và giặc-cười. Du kích Da thuật chuyện một cách hân hoan. Thằng Nhai bị giặc bắt-đi làm bồi. Mẹ nó bị Tây đen rạch mặt hãm hiếp, nằm chết ở bờ ngòi. Thôn-dưới có năm người chết vì đạn lạc. Giặc không cố tình giết ai, dù là-dân quân, du kích. Giặc không đốt một căn nhà nào. Chúng chỉ hãm hiếp-đàn bà. Chúng đến chớp nhoáng, gây hoảng sợ, phá vỡ niềm tin kháng chiến,-rồi rút ngay. Thôn trên, một du kích bị giặc đốt cháy. Anh du kích-này gài quả mìn rùa, ròng dây vào căn nhà gần đó, và chui xuống hầm bí-mật. Giặc đứng trên mìn. Anh du kích giật, không nổ. Giặc theo đường dây,-biết chỗ ẩn nầp, phóng lửa đốt căn nhà. Anh du kích chết trương dưới-hầm bí mật. Buổi chiều, lôi anh ra, xác anh to tướng, cháy vàng, y hệt-con lợn quay. Người thôn trên nói, thằng phó cúp tóc tản cư là Việt gian.-Gặp giặc, nó giơ hai tay đầu hàng, miệng nói tiếng Tây moa coáp phơ, giặc-xoa đầu nó, dẫn nó đi. Rất nhiều chuyện vừa kinh hãi vừa bụồn cười xảy ra,-sau khi giặc rút. Có thằng giặc không nghe được lệnh rút, mải mê tìm-đàn bà. Lúc nó ra khỏi xóm, nó ngơ ngác. Ông phó Đẩu thấy nó. Nó vất-súng, giơ tay hàng, mà ông phó Đẩu sợ, bỏ chạy. Du kích Nhẫn dẫn nó ra đê.-Thế là nó thoát thân.

Du kích xuống thớ, không dám ti toe. Du kích được mỗi cái tài tiêu diệt-chó. Giặc vừa càn lướt, chưa đầy tiếng đồng hồ, mà tinh thần trường kỳ-kháng chiến đã lép xẹp (2). Không khí cách mạng, không khí thi đua lập-công tan rã. Mặt đất khô cằn, câm nín tưởng đã nứt nẻ cho mầm hy vọng-đâm chồi. Hy vọng ấy vừa nhú lên, đã bị đâm nát, bởi giầy đinh bạo-tàn của quân xâm lược. Mặt đất, bây giờ, lộ rõ những kẽ kinh hoàng.

Dân làng căm thù giặc. Dân làng không tin tưởng cụ Hồ, và kháng chiến nữa.-Người ta đề phòng chạy giặc lần thứ hai, lần thứ ba… Khoa, thật sự, mất-hẳn buổi trưa thần tiên, buổi chiều thơ mộng. Con đường in đầy dấu vết kỷ niệm-của nó đã bị giầy đinh giặc Pháp cầy nát. Súng đạn giặc đã về đây. Lưỡi-lê giặc đã tới đây. Với bạo tàn, man rợ. Chiến tranh đã hiện hình con-khủng long gớm ghiếc. Khoa, thật sự, sợ hãi và buồn phiền. Chiến tranh-không giống cuộc chơi giặc giã. Chiến tranh sẽ còn khốc liệt, tàn nhẫn-gấp ngàn lần. Đời sống êm đềm cũ thế là hết. Khoa đã đến nhà Đường, tìm-Liên, ngay khi rời nhà mình. Giặc chưa xâm phạm nhà Đường. Liên sợ hãi-tái mặt. May là cha Liên về, trước vài hôm. Sự hồn nhiên, vẻ tinh nghịch-của Liên không còn. Súng đạn tước đoạt cả nỗi ước mơ của con người.-Súng đạn tệ thật. Chiến tranh tồi bại quá.

Kể từ hôm giặc lướt về làng, không ai thiết làm lụng. Thì giờ dành cho-đề phòng chạy giặc. Ngót một tháng, sinh hoạt mới gần như xưa. Không còn-trống đồng, hội họp, mít tinh, trận giả, và hô khẩu hiệu Chuẩn bị tổng-phản công nữa. Dân làng cầu Trời, Phật để giặc đừng về. Trời, Phật-không chứng giám. Giặc lại về. Lần này, dân làng biết trước mà chạy.-Gia đình Khoa chạy với gia đình Liên, lên Giai, Lạng. Giặc về càn quét đủ-mọi thứ. Đi với giặc, còn có nhiều lính Việt gian. Giặc bắt lợn, gà,-trâu, bò, rồi phóng hỏa đốt nhà. Du kích thôn trên ngứa tay, ném trái lựu-đạn chầy giết chết vài tên giặc. Giặc vây cả thôn, chém giết ông già, bà-cả, đàn bà có mang, và con nít để trả thù. Giặc Pháp dã man, như-những bài hát kể tội chúng. Chúng quăng dân ta vào lửa, rồi chính ngọn lửa-đó, chúng nướng gà, ăn ngon lành. Buổi chiều, giặc rút, làng thôn ngập-lụt tang tóc. Mùi thịt người cháy khét lẹt. Máu loang lổ trên khắp đường-ngõ. Những tiếng khóc tức tưởi vang vọng lên trời xanh, thâu đêm, tới-sáng.

Lần này, giặc Pháp đóng đồn ở chợ Ô Mễ, kiểm soát phạn vi mười cây số.-Cờ tam tài treo cao trên nóc quán chợ. Làng Ô Mễ lập Hội Tề, theo giặc, để-cầu an. Giặc tung tin không bắt bớ ai, không ngăn cản ai muốn trở về-thị xã làm ăn. Những người tản cư hoang mang, bán tín, bán nghi. Người-muốn trở về thị xã cũng chẳng dám mói cho ai nghe y nghĩ của mình. Sự ngờ vực-nhau đã có từ lâu. Bây giờ, ngờ vực nhiều hơn.

Tường An cách Ô Mễ-chừng năm cây số. Đứng ở cây đa đường Lầy, trông rõ cờ Pháp ngạo nghễ-tung bay. Và, đó chính là nỗi đe dọa thường xuyên. Đồn Mễ, mỗi ngày đi-càn quét một lần. Giặc chỉ cần đến Thọ Bi, dân làng Tường An đã bồng bế,-cuốn gói chạy miết. Thoạt tiên, cả dân làng chạy giặc. Dần dà, đàn bà,-trẻ con, ông già, bà lão ở lại nhà. Khổ cực quá, dân làng đâm liều mạng.-Chạy giặc mãi, ruộng đồng ai làm, thóc gạo đâu mà ăn. Miễu Vang là nơi-tụ tập hàng ngày của thanh niên, và… dân quân, du kích. Một hôm, có-chiếc tầu nhỏ của giặc chạy trên sông Trà Lý. Anh du kích Muôn định làm-người sông Lô, núp dưới chân đê, tung bừa trái lựu đạn. Lựu đạn nổ. Súng-ca nông của giặc bắn đáp lễ hai mươi trái. Miễu Vang tán loạn. Người-này ôm người nọ, lăn cả xuống hồ. Mặt đất muốn rạn vỡ. Cây cối rung rinh.-May mà giặc chỉ bắn thị uy. Tầu giặc chạy cả tiếng sau, mọi người mới hoàn-hồn, để nguyền rủa du kích Muôn thậm tệ.

Bộ đội biệt tăm dạng. Hai tháng liền, không hề thấy bộ đội về làng. Hình-ảnh những anh bộ đội áo nâu, vai đeo ba lô nặng chĩu, súng cầm tay hiên-ngang đi, đã bị phai nhòa trong ý nghĩ của dân làng. ít người tản cư-đã mon men sang Ô Mễ. Và, họ biết Hà Nội bây giờ vui lắm. Dân Hà Nội-hồi cư về đông như trẩy hội. Con đường Thái Bình-Nam Định-Phủ Lý-Hà Nội,-Tây kiểm soát hết, xe hàng đã chở khách chạy tấp nập. Những người-tản cư mang tâm trạng vọng tề.

Đống Năm không còn. Đống Năm đã tan nát.-Những người tản cư bốn phưong về Thái Bình, tạo Đống Năm thành một thị-trấn ở hậu phương kháng chiến, cũng biến hết. Kẻ lê gót lên Việt Bắc xa-mù, kẻ về tề sống an phận. Đất tề lạnh, nhưng đất tề không lo chạy giặc.-Tin đồn thị xã Thái Bình, dân chúng hồi cư về, mỗi ngày một đông. Người-ta dựng nhà mái rạ, mái tôn tạm bợ, trên những nền nhà tiêu thổ kháng-chiến năm xưa. Giặc Pháp đặt chân qua khắp mười hai phủ, huyện rồi. Xa-tít tắp, như Thần Đầu, Thần Huống, giặc còn tới chém giết, đốt phá,-hãm hiếp. Và, chẳng thấy bộ đội tổng phản công.

Bao giờ kháng chiến thành công, bao giờ đuổi giặc Pháp khỏi Thái Bình,-chủ tịch Tường An không giải thích. Mã tấu, lựu đạn, dao găm, dây mìn-thì giấu tận dưới ao. Du kích chạy giặc, như bất cứ ai, và sợ hãi, như-bất cứ ai. Một vùng trời lãng mạn, một vùng trời tin tưởng bị lưỡi lê đâm-rướm máu. Thôn ổ mất luôn cả sự an phận ngày xưa. Và, Khoa, Khoa mất-luôn con đường ngập trăng, mất luôn buổi trưa thần tiên, mất luôn buổi-chiều thơ mộng. Tiếng thầm tình tự luồn qua bờ tre, khóm lá đã câm-nín. Ngọn cỏ thôi ngậm sương. Giặc Pháp dẫm nát một khối hạnh phúc nhỏ-bé của Khoa. Khoa hối tiếc. Khoa buồn nản. Rồi, Khoa nghiến răng. Mạch-máu Khoa chuyển dạt dào. Khoa nhớ đến Vũ, đến Côn. Khoa nhớ cả báng súng-Nhật đập vỡ mặt anh Đạo, nhớ Vọng đã chết đói, nhớ cô Nhài dọa tự tử,-nếu Khoa không giữ kín vụ vườn dâu.

Khoa thoáng hiểu một nỗi niềm cay đắng cô Nhài phải chịu đựng, như một-người suốt đời ngậm trái bồ hòn. Những người quê hương Khoa đã từng ngậm-trái bồ hòn. Chết đi, trái bồ hòn vẫn chưa thoát khỏi miệng. Người ta cựa-quậy mạnh, là để trái bò hồn, hoặc trôi xuống dạ dày, hoặc văng ra.-Trái bồ hòn, như một định mệnh oan nghiệt, mãi mãi, vướng ở cuống họng. Vũ-đã ra đi, Côn đã ra đi, bao nhiêu người đã ra đi, chắc chắn không phải-vì một mưu đồ gì ghê gớm. Mà, chỉ vì một mộng ước khiêm nhường. Là trở về-với hạnh phúc thân yêu cũ, với quê hương, không còn ai phải ngậm đắng,-nuốt cay. Tự nhiên, mạch máu Khoa chuyển dạt dào như, tự nhiên, tiếng-Khoa vỡ ra, một hôm nào đó. Không bởi những khẩu hiệu, những bài hát,-những lời dạy… Tất cả đã bị xóa đi, ở Tường An, từ hôm giặc về đốt-phá, chém giết.

Khoa đã bước hẳn ra cái không gian thần tiên vây phủ bằng những lớp-sương mầu lãng mạn. Cách mạng không giản dị, như tiếng hát câu ca. Kháng-chiến không dễ dàng, như khẩu hiệu tuyên truyền. Kháng chiến phải gian khổ.-Khoa nghĩ chuyện trốn nhà ra đi. Cậu bé vừa chợt xấu hổ chuyện sợ giặc,-trốn lủi ở vườn dâu.

(1) Có một huyền thoại về ông vua giật mìn này. Trước khi đi gài mìn, ông-ta uống cút rượu, ăn sáu bìa đậu phụ, rồi lên đường công tác. Giật đổ-xe giặc, ông ta cười khá khà. Đoạn rút lui

(2) Vào cùng một ngày, quân nhẩy dù Pháp phân chia lực lượng, hành quân-chớp nhoáng ở nhiều phủ huyện trong tỉnh. Cuộc hành quân này có tính cách-phô trương lực lượng hơn là gieo rắc căm thù

82

Ngày nào, giặc Pháp, ở đồn Ô Mễ, cũng đi càn quét. Chúng chỉ đến đường-Lầy, bắn vào làng, rồi kéo quân về. Hoặc, chúng đứng trên bờ đê, ria đạn-liên thanh thị uy. Làng Tường An không còn gì để giặc vơ vét. Con đường-dẫn tới không thể chạy bằng xe căm nhông, nên giặc khó lòng đặt đồn bót.-Đêm đêm, đạn ô buy, đạn đại bác câu về hàng trăm trái, bảo vệ đồn Mễ.-Dân làng ngủ dưới hầm tránh đạn. Nhiều đứa trẻ sinh ra dưới hầm.-Chúng cất tiếng khóc cùng với tiếng đạn bay trên đầu, và nổ tung đâu-đó. Ban ngày, lo chạy giặc. Ban đêm, lo tránh đạn đại bác. Trong nỗi-chết đe dọa thường xuyên, dân làng quên mất kháng chiến, quên mất chính-phủ, quên luôn cả Hồ chủ tịch. Công việc đồng áng, lo vào sáng sớm.-Đại bác câu về từ mười giờ khuya tới ba giờ sáng. Những đêm có trăng,-đại bác nghỉ câu. Và, dân làng cầy cấy, gặt hái vào những đêm đó.-Đại bác thường câu vu vơ. Thỉnh thoảng mới chết một người. Có khi-ngót năm chục trái rơi xuống một thửa ruộng, biến thửa ruộng thành cái ao-sâu có bờ. Đại bác làm vườn tược ngả nghiêng, xơ xác. Những cây-chuối trúng mảnh đạn, ngã rũ, nom phát rợn người.

Nhiều gia đình tản cư đã bồng bế nhau xuống đồn Mễ, xin giấy thông hành-vào thị xã. Từ đây, họ sang Nam Định hay lên Hà Nội. Xe Con Voi của-Ông Lê Văn Định đã chạy khúc Thái Bình-Tân Đệ. Mẹ Khoa muốn hồi cư,-muốn về tề. Cha Khoa chưa quyết định. Cha Khoa vẫn tin tưởng giặc-Pháp sắp bị đánh bật khỏi Thái Bình. Về tề sớm, vừa mang tiếng theo-giặc, vừa không biết chạy đâu, nếu quân ta tấn công, san bằng đồn bót-giặc. Ở làng, chạy giặc đã quen rồi, khổ cực cũng quen rồi. Miễu Vang là-nơi tụ họp hàng ngày.

Gia đình Liên vẫn còn ở Tường An; mỗi ngày, Khoa-đều gặp Liên, ở miễu Vang. Khoa thường trèo lên cành cây cao, nhìn về-đường số 10, xem xe giặc chạy tới, chạy lui. Một buổi sáng, không giống-bất cứ buổi sáng nào, Liên rủ Khoa đến ngồi dưới gốc cây cổ thụ. Con-bé cầm tay Khoa, giọng bùi ngùi:

- Tiếc nhỉ, Khoa nhỉ?

Khoa chưa hiểu Liên tiếc điều gì. Thằng bé đã quên đi cái cảm giác tuyệt-vời, những lần Liên cầm tay nó hay khoác tay lên vai nó.

- Khoa có tiếc gì không?

- Tiếc chứ.

- Nếu giặc Pháp đừng về Tường An, Liên sẽ muốn ở đây mãi, cho tới-ngày hai đứa mình lớn lên. Rồi, kháng chiến thành công, Liên về Hà Nội,-Khoa về Thái Bình. Mùa hè, chúng mình về Tường An nghỉ.

- Kháng chiến sẽ thành công.

- Bây giờ, buồn quá. Liên thích cầu Chờ ở quê nhà Khoa. Liên chưa-đến bến Đợi. Chắc Liên sẽ thích lắm, nếu Liên được tới. Quê nhà Khoa có-nhiều kỷ niệm, Liên không tài nào quên nổi. Như mật ngọt ở cuống hoa mẫu-đơn…

- Sáng mai, Liên làm ong nhé!

_ Chịu thôi, nhỡ giặc Pháp đi càn.

- Khoa thù giặc Pháp.

Khoa nghiến răng ken két. Mắt Khoa long lên. Không có trái cam, để Khoa-chộp mà bóp nát. Giọng Liên vẫn bùi ngùi:

- Liên nhớ những ngọn đèn dầu đĩa, ở lớp Bình dân học vụ. Liên nhớ tiếng-trống đồng, Khoa bảo, để phá giấc ngủ của Liên. Tiếc nhỉ, Khoa nhỉ?

Liên xích lại gần Khoa hơn:

- Ở Hà Nội, không có cầu Chờ, không có con đường đất nhễ nhãi ánh-trăng.

Con bé nói thật nhỏ:

- Liên sắp về Hà Nội.

Khoa hốt hoảng:

- Liên sắp về tề!

Liên đưa tay, đặt lên miệng Khoa:

- Đừng nói to.

Khoa bứt tay mình khỏi tay Liên. Nó túm một nắm cỏ, dứt mạnh, rồi ném-xa. Liên hỏi:

- Khoa giận Liên à?

Khoa lặng thinh. Tâm hồn nó rối bời. Giọt sương đọng trên đầu ngọn-cỏ đã bị dẫm đè. Sương tan, và cỏ nát. Khoa chớp mắt. Nó cúi đầu. Kỷ-niệm hôm qua hiện lên rực rỡ, rồi ủ rũ, cơ hồ những hàng chuối trúng-đạn đại bác của giặc Pháp. Khoa nắm chặt đôi bàn tay. Nó cắn chặt môi.-Rồi, khẽ lắc đầu:

- Khoa không bao giờ giận Liên cả.

- Liên biết mà.

- Liên về tề, Khoa sẽ buồn lắm.

- Rồi Khoa cũng về thị xã.

- Khoa không về.

- Tại sao?

- Vì Khoa là em của anh Vũ. Anh Vũ đã ra đi… À, bao giờ Liên bỏ-làng Tường An?

- Liên mới chỉ nghe bố nói. Hôm nào Liên đi, Liên sẽ bảo Khoa.

Liên dặn dò:

- Nếu Khoa về thị xã, cố xin bố mẹ cho lên Hà Nội chơi, nhé! Nhà Liên ở-số 42 phố cửa Bắc.

Khoa vuốt tóc:

- Khoa không về thị xã đâu. Khoa thù giặc Pháp.

Liên hỏi:

- Kháng chiến thành công, Khoa phải về chứ?

Khoa đáp:

- Khoa sẽ theo đoàn quân về, chiếm lại thủ đô Hà Nội.

Liên đặt nhẹ bàn tay lên vai Khoa:

- Có cho Liên chờ Khoa ở một cửa ô không?

- Cửa ô nào?

- Cửa ô trong một bài hát mà Khoa thích đó.

Khoa ngẩng mặt. Nó chớp mắt lia lịa. Cái tưởng đã quên, lại được nhớ.-Và, mộng ước tưởng đã phong kín, lại mở ra. Năm cửa ô đón mừng đoàn-quân tiến về. Khoa sẽ về Hà Nội, sẽ vào Hà Nội, từ một cửa ô. Khoa-không thể về tề, vào tề, sống chung với giặc Pháp. Những bông hoa-ngày mai, đón tương lai về tay, đang xuân đời mỉm cười vui hát lên…-Khoa mỉm cười:

- Ngày ấy, Liên còn nhớ mặt Khoa không nhỉ?

- Nhớ Khoa mãi. Chỉ sợ Khoa quên Liên thôi.

- Đời nào quên Liên.

- Nhỡ Khoa quên.

- Thì Khoa còn nhớ căn nhà Liên, ở cửa Bắc.

- Chúng mình sẽ dạo chơi quanh hồ Hoàn Kiếm, và sẽ nhắc chuyện Tường An,-chuyện cầu Chờ, chuyện bến Đợi…

- Và chuyện hẹn hò gặp nhau, ở miễu Vang, dưới gốc cây cổ thụ.

Liên ngả đầu lên vai Khoa. Rất hồn nhiên. Bây giờ, Khoa đã nghe rạo rực tự-đáy hồn. Mạch máu Khoa chuyển mạnh. Liên đã phả thêm lý tưởng-vào chuyến ra đi sắp tới của Khoa. Tất cả, còn nguyên vẹn. Tất cả,-chưa bị bắn phá. Không có bom đạn nào bắn phá nổi tình người. Không có-lưỡi lê nào đâm thủng nổi mộng ước. Hai đứa trẻ vừa chớm buồn một chia ly,-ngồi yên dưới gốc cây. Gió kéo đến làm lá reo vui. Bầu trời xanh nhiều sắc-mây lang thang. Một ngày bình thản trong mùa ly loạn. Một ngày đủ cho-Khoa thu xếp hành lý yêu thương. Một ngày Khoa muốn dài thêm. Để, ngồi-bên Liên tính chuyện mai sau.

Chiều đã xuống. Chiều xuống vội vàng. Mọi người rời miễu Vang trở lại làng,-lo cơm nước, và sửa soạn tránh đạn đại bác. Đêm ấy, đại bác câu về cơ-man. Tiếng nổ tiếp theo tiếng nổ. Đất rung chuyển. Sáng mai, hẳn sẽ-nhiều chuyện buồn thảm. Khoa nằm trên chiếc chiếu, trải dưới hầm, không-nghĩ đạn bay ngang đầu. Qua kẽ lá, Khoa vẫn nhìn rõ bầu trời, lấp lánh-những vì sao. Khoa mường tượng một vùng trời Hà Nội. Khoa chọn một vì sao-đặt tên là sao Liên, để nay mai đi chiến đấu, sẽ có những đêm nằm gối-đầu lên súng, ngắm một vì sao, mà nhớ một người, chở vào đời mình đầy ắp-kỷ niệm. Khoa ngủ thiếp đi dưới hầm tránh đạn đại bác.

Buổi sáng, Khoa vừa-thức dậy, cha mẹ đã giục hối lên miễu Vang. Khoa ngỡ sẽ cùng Liên ngồi-dưới gốc cây hôm qua, nói những câu chuyện êm đềm. Liên đến muộn. Sao-hôm nay Liên đến muộn thế? Khoa nóng lóng gặp Liên, bảo cho Liên biết,-vì sao nào là Liên. Và, nhắc Liên, lúc nào, nhớ Khoa nhất, là lúc vì-sao lung linh nhất.

Khoa ngồi một mình dưới gốc cây. Khoa nhắm mắt. Khoa mong mình có thể ngủ-được một giấc dài, cho tới khi Liên đến. Liên sẽ đứng trước mặt Khoa.-Khoa mở mắt, thấy Liên cười. Và, Khoa đã ngủ. Rồi, Khoa mở mắt. Nắng-làm chói mắt Khoa. Đường đang đứng trước mặt Khoa, chứ không phải Liên. Khoa-nháo nhác:

- Liên đâu, Liên đâu mày?

- Nó về Hà Nội, từ sáng sớm.

Khoa nghẹn ngào. Nó đưa hai tay úp mặt. Nước mắt Khoa ứa ra. Nó-thấm ngay, bằng cánh tay áo.

- Nó nhắn tao nói với mày rằng, bao giờ kháng chiến thành công, mày nhớ-lên Hà nội, rủ nó về Tường An nghỉ hè!

Tai Khoa ù đi. Tâm hồn Khoa rét mướt.

- Mày nghe rõ chưa, Khoa?

Khoa từ từ đứng dậy. Nó ngước nhìn trời. Trời chưa có sao.

- Lúc nó nhắn tao nói với mày, nó khóc. Tao thương hại con Liên quá. Nó-bảo mày đừng quên nhà nó, ở cửa Bắc. Mày nghe rõ chưa, Khoa?

(còn tiếp)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn