BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 27762)
(Xem: 26429)
(Xem: 25073)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Giải trừ văn hóa đảng, Trở về nguồn cội văn hóa truyền thống

01 Tháng Sáu 201112:00 SA(Xem: 544)
Giải trừ văn hóa đảng, Trở về nguồn cội văn hóa truyền thống
51Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
51
Văn Hóa Đảng (VHĐ)

 Tội ác của Chủ Nghĩa Cộng Sản (CNCS) rất là kinh khủng. Trong thế kỷ XX, ước tính có hơn 100 triệu sinh mạng đã bị những người Cộng Sản (CS) trực tiếp giết (Le Livre Noir Du Communisme: Liên Xô 20 triệu, Trung Quốc 65 triệu, Bắc Hàn 2 triệu, Cambốt 2 triệu, Afghanistan 1.5 triệu, Việt Nam 1 triệu, Đông Âu 1 triệu, Nam Mỹ 150,000).

 Nếu kể cả những nạn nhân gián tiếp thì con số rất là khủng khiếp (Việt Nam chỉ sau 75, xác bỏ biển Đông hơn nửa triệu, kể đường bộ, các trại cải tạo, vùng kinh tế mới... không dưới một triệu).

Do đó, từ năm 2006, Nghị Hội Âu Châu, gồm 46 quốc gia, đã thông qua Nghị quyết 1481 với số phiếu áp đảo 99/42, lên án chủ nghĩa và các chính thể CS, trong dĩ vãng và hiện nay đã phạm tội ác chống nhân loại không thua gì chủ nghĩa Phát xít Đức Hitler (CNPX) trong đó có CSVN. Tập đoàn lãnh đạo các chính thể này phải được đưa ra xét xử tại tòa án quốc tế.

Thực ra CNCS, bản chất còn dã man, kinh khủng hơn chủ nghĩa Phát xít nhiều vì đối tượng giết hại, tàn sát của chúng chính lại là đồng bào của nó. Ngoài ra, cái tác hại trầm trọng đáng sợ nhất là sự hình thành Văn Hóa Đảng (VHĐ), thực chất là văn hóa dối trá, ngu dân và mục tiêu là phá hủy nền văn hóa truyền thống của dân tộc, làm biến dị con người trở nên mê muội mù quáng, không còn phân biệt thiện ác, đúng sai theo văn hóa truyền thống nữa. Não trạng con người như bị đóng băng không bao giờ thay đổi.

1. Văn Hóa Đảng và Trung Quốc (TQ)

Thầy Lý Hồng Chí, sư phụ của Pháp Luân Đại Pháp, TQ, trong bài nói chuyện về đề tài “Không Phải Là Làm Chính Trị” (Kinh văn 26/1/006), phát biểu: “Về vấn đề đảng Cộng Sản bức hại Pháp Luân Công, mấy năm vừa qua vẫn luôn có rất nhiều người Trung Quốc, do không biết rõ chân tướng, nên mới cho rằng sự bức hại ấy là cần thiết; nguyên nhân là do đảng quá nửa thế kỷ thống trị TQ đã rót đầy một bộ văn hóa đảng (VHĐ) vào người dân TQ làm cho người TQ khi nhìn vấn đề, suy nghĩ chỉ theo VHĐ... Trung Cộng hôm nay đã rơi vào chỗ hủ bại triệt để, khủng hoảng bốn bề, cùng đường bế tắc... Người TQ khi sang xã hội Tây phương, đã không hiểu nổi ngôn từ hành vi của người TQ; đều cảm thấy kỳ quái lắm; những ngôn từ hành vi của những người lãnh đạo TQ khi ra nước ngoài khiến người phương tây cho là có vấn đề lý trí.”

VHĐ đã khiến tư tưởng và văn hóa của TQ trở nên biến dị đến mức nào... Vì sự biến dị tư tưởng này đã khiến Trung Cộng dễ dàng tìm được lý do hợp pháp cho các loại áp chế liên tục lên dân TQ... Để có thể duy trì địa vị thống trị hợp pháp, Trung Cộng lợi dụng và kích động nhiệt tình yêu nước của người TQ, không ngừng bành trướng tình cảm yêu nước cho người dân, trở nên nhầm lẫn “không có đảng Cộng Sản thì không có TQ,” “yêu nước là yêu đảng,” “yêu đảng là yêu nước.” Lừa dối người TQ hết lần này qua lần khác.

2. Văn Hóa Đảng và Việt Nam

a) Văn Hóa Việt Nam Truyền Thống (VHTT)

Văn hóa truyền thống VN, đặc thù một nền văn hóa của bốn ngàn năm văn hiến, có đặc điểm yêu nước và tinh thần bất khuất. Văn hóa này là di sản vô giá của tiền nhân. Chính nền văn hóa này mà tổ tiên ta đã đập tan tham vọng đồng hóa, thôn tính triền miên của kẻ thù khổng lồ phương Bắc, qua 1000 năm Bắc thuộc, và những chiến công lẫy lừng của Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung... chứng tỏ dân tộc Việt Nam vô địch trước mọi kẻ thù. Đây là chân lý lịch sử, một di sản vô giá của tiền nhân.

Xin trích một đoạn thư của Nguyễn Tiến Trung, sinh viên Bách Khoa HCM, hiện là sinh viên năm thứ tư ở Pháp (tgnn169@hotmail.fr) gởi cho thầy Nguyễn Minh Hiền, bộ trưởng Bộ Giáo Dục và Đào Tạo, cùng các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước, có đoạn:

“Văn hóa Việt Nam là sự tổng họp tinh hoa của ba hệ tư tưởng lớn: Phật, Nho, Lão, và sau này có thêm đạo Thiên Chúa. Đạo Phật với tư tưởng từ bi, hỉ xả; đạo Nho với Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín, và suy nghĩ xả thân cho đất nước; đạo Lão với tinh thần trung dung, coi thường danh lợi; và đạo Thiên Chúa với tình yêu bao la cho con người. Nhưng chủ nghĩa Mác Lênin lại là bạo lực cách mạng, phải đào mồ chôn người khác, và phải luôn nuôi trong đầu những ý nghĩ hận thù. Chúng ta đâu có xứng đáng là con cháu Nguyễn Trãi ‘lấy chính nhân thắng cường bạo’ với việc sử dụng bạo lực để đàn áp người trái ý kiến với mình.

“Ngày 11 tháng 9, 2001, cả thế giới bàng hoàng và đau đớn khi hai tòa nhà WTC ở New York bị tấn công, em đã nhảy lên vui mừng vì đế quốc Mỹ bị trừng phạt. Tính ác trong người em nổi dậy nhưng em lại cho đó là suy nghĩ đúng đắn, theo những gì được dạy dỗ. Đến bây giờ em vẫn không hiểu tại sao lúc đó em có thể suy nghĩ như vậy.”

Không biết ông Nguyễn Minh Hiền cùng các cấp lãnh đạo có ai đọc bức thư này không.

b) Văn Hóa Đảng và miền Bắc VN

Không may cho đồng bào miền Bắc, trong đó có những cán bộ Việt Minh miền Nam tập kết, bắt đầu từ sau Hiệp Định Genève (1954) bị đặt dưới sự thống trị của VHĐ cho đến hôm nay. Xin nghe nhà văn Dương Thu Hương kể lại sự thống trị, áp đặt văn hóa này trong cuộc phỏng vấn của Đinh Quang Anh Thái ở Pháp trung tuần tháng 2, 2006 vừa qua: “...Lần đầu tiên vào miền Nam, tôi không choáng ngợp vì nhà cao cửa rộng của miền Nam, mà vì tác phẩm của tất cả các nhà văn miền Nam đều được xuất bản trong một chế độ tự do; tất cả các tác giả mà tôi chưa bao giờ biết đều có tác phẩm bầy trong các hiệu sách, ngay trên vỉa hè; và đầy rẫy các phương tiện truyền thông như TV, radio, cassette. Những phương tiện đó đối với người miền Bắc là những giấc mơ, ở miền Bắc, tất cả mọi báo đài, sách vở đều do nhà nước quản lý. Dân chúng chỉ nghe đài Hà Nội mà thôi và chỉ có những cán bộ được tin tưởng lắm mới được nghe thêm đài Sơn Mao, tức là đài Trung Quốc. Còn toàn bộ dân chúng nghe một tiếng nói, tức tiếng nói của Đảng. Đảng là chân lý tuyệt đối. Vào Nam tôi mới hiểu rằng, chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người. Trong khi đó, ở miền Nam, người ta có thể nghe bất cứ thứ đài nào Pháp, Anh, Mỹ nếu người ta muốn. Đó mới là chế độ văn minh. Và thật chua chát khi nền văn minh đã thua chế độ man rợ. Đó là sự hàm hồ và lầm lỗi nhất mà dân tộc VN phạm phải.” Song song đó là “...một chế độ cường quyền ức hiếp người dân khiến người dân sợ hãi, nỗi sợ hãi nghiền nát con người thành những con kiến.”

Với chánh sách này, thì không bao lâu, Văn Hóa Truyền Thống sẽ bị phá sản trầm trọng. Hầu hết trí thức, sĩ phu truyền thống, xương sống sức mạnh của dân tộc bị Văn Hóa Đảng tiêu diệt và xuất hiện một tầng lớp trí thức biến dị gọi là trí thức Xã Hội Chủ Nghĩa, với một tinh thần nô lệ trầm trọng, mất hết nhân phẩm và liêm sỉ (tiêu biểu là Tố Hữu).

Tuy nhiên bên cạnh cái bất hạnh của những đảng viên miền Nam tập kết ra Bắc, phúc thay có hơn triệu đồng bào miến Bắc có điều kiện di cư vào Nam thoát được VHĐ cho đến năm 1975.

c) Văn Hóa Đảng và miền Nam VN

May mắn cho miền Nam, sau Hiệp Định Geneve (1954) miền Nam không bị Văn Hóa Đảng thống trị, được nằm trong hệ thống thế giới tự do, Văn Hóa Truyền Thống nói trên được bảo tồn và phát triển. Do đó mà sau 1975, khi nhận diện mặt thật chủ nghĩa CS hầu hết nhân dân miền Nam đều muốn tìm đường ra đi. Hơn hai triệu người đã đến được bến bờ tự do, hơn nửa triệu bỏ xác dưới lòng đại dương, làm chấn động lương tâm nhân loại. Đoàn người này đến bến bờ tự do với hai bàn tay trắng chỉ mang theo duy nhất di sản vô giá của tiền nhân là VHTT.

Cũng chính vì truyền thống bất khuất mà rất nhiều quân nhân đã tự sát khi Dương Văn Minh kêu gọi buông súng, trong đó có 5 vị tướng mà mọi người đều biết là Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng, Phạm Văn Phú, Trần Văn Hai và Lê Nguyên Vỹ... Để thấy được cái lớn lao của VHTT này chỉ cần xem qua 3 cuốn vidéo: Cuốn thứ nhất về Biến Cố Trần Trường ghi lại cuộc đấu tranh hết sức hào hùng của Cộng Đồng Người Việt Tỵ Nạn (CĐ) khu Little Saigon, khẳng định sự liều chết ra đi của mình, làm chấn động chính trường Mỹ và đã thành công hạ lá cờ CS và hình HCM. Người CS rất mất mặt trước biến cố này, những ai còn lương tâm và biết nghĩ đã phải sáng mắt vậy. Thế nhưng lại ngoan cố xuyên tạc mục tiêu đấu tranh là “Hận Thù Quá Khứ” để đỡ đòn... Biến cố đã làm thay đổi tư duy rất nhiều người Mỹ về cuộc chiến VN, một vinh danh lơn lao cho những quân nhân Mỹ đã hy sinh và cựu chiến binh. Từ biến cố này mà đến nay lá cờ CS không thể xuất hiện nơi công cộng nào ngoại trừ tòa đại sứ và lãnh sự CS.

Hai cuốn kế, một là “Ba Mươi Năm Nhìn Lại” của Trung Tâm Asia và một là “Ba Mươi Năm Viễn Xứ” của Trung Tâm Thúy Nga nói lên thành quả vô cùng hãnh diện của đoàn người tỵ nạn Việt Nam, một bộ phận Dân Tộc mà Phạm Văn Đồng cho là bất lương sẽ biến mất với thời gian, nhưng trái lại, không những không biến mất mà phát triển lớn mạnh, xây dựng hình thành gần như trọn vẹn một nước VN Tự Do hải ngoại với VHTT vô cùng ngoạn mục mà chế độ phải nể sợ.

Bên cạnh đó, không may cho những đồng bào không đi được, đành phải chấp nhận cuộc sống dưới VHĐ và cuộc sống đó là xã hội Việt Nam vô đạo đức suy đồi lạc hậu thế nào có lẽ không cần phải dài dòng vậy.

 Một chút tâm tình xin chia sẻ với những đảng viên thuộc thế hệ thứ nhất

 Thưa quý vị, thực tế hôm nay không ai có thể bào chữa thủ phạm gây nên sự thống khổ dân tộc và tàn phá quê hương Việt Nam hơn nửa thế kỷ qua là do trước nhất là HCM kế đến là quý vị. Nếu còn mơ hồ xin nghe những tâm tình những đảng viên thức tỉnh sau đây:



a) Xin trích một đoạn thư của Luật Sư Nguyễn hữu Thọ (NHT) gửi cho con lúc lâm chung. NHT là lãnh tụ của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam (MT), một tổ chức có công đầu đã đưa CNCS lên đỉnh cực thịnh tháng 4, 1975. Do đó, ông được cân nhắc lên chức chủ tịch nước, một chức vụ cao nhất nước. Thư có đoạn: “Bài học thất bại trong cuộc đời làm cách mạng của cha là bài học chọn lầm lý tưởng CS và chủ nghĩa CS, và sai lầm lớn nhất của cha là tự nguyện trở thành đảng viên CSVN. Nhưng điều đáng lên án nhất là tính cách phục tùng đến hèn nhát của cha đối với những mệnh lệnh phi nhân, bất nghĩa của tập đoàn lãnh tụ độc tài chuyên chế đã mất hết tình tự dân tộc.” Rõ ràng VHĐ đã biến ông không còn là ông, chỉ biết mù quáng phục tùng Đảng, khi phát hiện thì quá trễ vô cùng đau đớn.

Thành phần dân tộc bị ĐCSVN lừa, phản bội tàn nhẫn và đau đớn nhất là Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam. Tổ chức này không những có công đầu, mà quan trọng hơn, không có MT, nếu CSBV hiện nguyên hình không thể chiến thắng được. Đúng như Võ Nguyên Giáp thú nhận trong hồi ký viết năm 1985: “Nếu không có những hội đoàn như Hội Cựu Chiến Binh Việt Nam chống chiến tranh thì Hà Nội đã phải đầu hàng Hoa Kỳ rồi.” Rõ ràng không có MT, Phong Trào Chống Chiến Tranh không làm sao phát triển được. MT đã lừa dối dân tộc Việt Nam và nhân dân thế giới đặc biệt là nhân dân Mỹ; nhưng tai hại nhất là MT đã tạo chính nghĩa cho CSVN xăm lăng miền Nam.

Đau đớn thay! Chỉ ba tháng sau ngày chiến thắng, ĐCSVN giải tán Chánh phủ Lâm thời của MT và rồi sau đó giải tán luôn MT, đồng thời ra lệnh cho đồng bào miền Nam bôi xóa, hạ tất cả cờ của MT, mà trước đây chúng đã bắt buộc dân sơn lên vách và treo lên trước nhà trong chiến dịch lấn đất giành dân, trước khi ngưng chiến!

Những thành phần lãnh đạo MT, những ai là không phải đảng viên, sau khi nhận diện ĐCS, biết thân tìm đường trốn chạy sớm, những ai tưởng bở ở lại không tránh khỏi học tập tẩy não. Còn thành phần đảng viên thì chỉ là những chậu kiểng. BS Dương Quỳnh Hoa vô cùng bất mãn, xin bỏ Đảng, không được chấp thuận vì sợ đảng viên gốc miền Nam sẽ bỏ Đảng tập thể. Cuối cùng chấp thuận nhưng với điều kiện chỉ được công bố 10 năm sau!

b) Nhà văn Dương Thu Hương trong cuộc phỏng vấn nói trên vừa rồi ở Pháp: “Tháng 5 năm 1975, với tư cách một nữ cán bộ CS, tôi được vào thăm Sài Gòn. Trước sự phồn thịnh của miền Nam, trong khi tất cả mọi người trong đội quân chúng tôi đều hớn hở cười thì phản ứng đầu tiên của tôi là ôm đầu ngồi khóc bên vỉa hè.Tôi khóc vì Thế Giới Tự Do đã khiếp nhược bỏ chạy trước một thể chế man rợ. Đảng đã đánh lừa chúng tôi khi tuyên truyền láo rằng miền Nam là một ổ đĩ điếm, thối nát, nghèo khổ cùng cực và thiếu hẳn tự do. Thật sự, Nam vượt xa Bắc như Trời với Đất. Tôi khóc vì tôi thấy tuổi xuân của tôi đã hy sinh một cách uổng phí...” Và rồi hôm nay sau hơn 30 năm: “Cái Xã Hội Chủ Nghĩa này là xã hội nhà thổ và là cái bảng treo đầu heo bán thịt chó, chứ thực chất của nó là sự cướp bốc của một đội ngũ cầm quyền, cướp bốc tài sản của quốc gia, tài sản của dân chúng và tàn phá tài nguyên đất đai của tổ quốc. Tất cả những sự cướp bốc và tàn phá đó là những cái giá mà thế hệ sau phải trả.”

c) Tiến Sĩ Hà sĩ Phu, trong bài viết “Biện chứng về ngụy biện trong công cuộc đổi mới” (bài II): “Tôi viết bài này chính vì mặc cảm tội lỗi, tội lỗi của cái nhìn của thế hệ, của giống nòi, mặc cảm bị lưu manh lừa. Những thế hệ con cháu sau này sẽ hiểu chúng ta là những người thế nào, khi thấy chúng ta đã chung sống với cái phi lí, với cái lưu manh một cách hòa thuận đến thế.”

d) Sau hơn 30 năm thống nhất, dưới sự thống trị của VHĐ, xã hội Việt Nam ra sao, xin nghe ông Trần Quang Thuận, phó chủ nhiệm Văn Phòng Quốc Hội Việt Nam trả lời cuộc phỏng vấn của đài BBC: “Cơ chế hiện nay đang tạo kẽ hở cho tham nhũng, vơ vét tiền của Nhà nước. (Tham nhũng là chuyện thường ngày), không tham nhũng mới là lạ! Những cái mà chúng ta mất lớn nhất lại không phải là mất tiền, mất của dù số đó là hàng chục tỉ, hàng trăm tỉ. Cái lớn nhất bị mất là đạo đức. Chúng ta sống trong một xã hội mà chúng ta phải tự nói dối với nhau để sống. Thói quen đi lặp đi lặp lại nhiều lần thành “đạo đức” đó là rất mất đạo đức. Đấy là một cái nguy, nhưng tôi thấy ít người quan tâm, chỉ chăm chăm vào vụ tham nhũng này, vụ tham nhũng kia.”

Cuộc phỏng vấn được đài BBC nêu lên yêu cầu thính giả thảo luận. Anh Thu Phong, một cựu du học sinh ở Hoa Kỳ mười năm trước, góp ý hết lời kính phục ông trước những lời nói vô cùng xác thực và anh rất thấm thía qua bức thư của mẹ có đoạn: “Con phải tìm cách ở lại, không nên trở về VN. Mẹ khuyên con như vậy, không phải là mẹ muốn cho con có một cuộc sống vật chất sung túc mà là vì nơi quê hương mình, mọi hình thức sống đều khởi nguồn bằng sự dối trá. Những gì mẹ dạy cho con, tạo cho con nên một con người không còn thích hợp trong xã hội này nữa. Con không thể đương đầu nổi với sự dối gạt từ trên xuống dưới. Dù mất đi tiền bạc, của cải và ngay cả đất đai, mẹ có buồn; nhưng nỗi buồn lớn lao, đau xót nhất, không bao giờ nguôi ngoai là mất đi nền văn hóa tốt đẹp mà cha ông ta đã tạo dựng... môi trường xã hội này sẽ nghiền nát con ra, nếu con quá chân thật. Dù xa mẹ, con hãy ở một nơi nào đó để con có đủ trí thức và hành động theo chiều hướng của một con người thật sự.”

Sau sáu năm, khi vừa học xong vì không xa được miền đất cha ông, anh không nghe lời mẹ, lại trở về và những lời mẹ dặn năm xưa lại hiển hiện ra trước mắt, anh không thể chấp nhận; cũng may nhờ điều kiện hôn phối, anh lại trở ra được! Hầu hết những thính giả góp ý đều cùng tâm trạng khắc khoải như Thu Phong.

e) Thực tế trên đây, trong “Nhật Ký Rồng Rắn” của Trung Tướng Trần Độ, có thời là chủ nhiệm Ban Văn Hóa Văn Nghệ Trung Ương đã nhận định: “Nói thì dân chủ, vì dân mà làm thì chuyên chính, phát xít... Chế độ này bắt mọi người phải đảng trị, bắt trẻ con phải đảng trị, bắt người già phải đảng trị... (Họ đã hình thành một xã hội lừa dối: Lãnh đạo dối lừa, Đảng dối lừa, cán bộ dối lừa, làm ăn giả dối, giáo dục giả dối, bằng cấp giả dối, đến gia đình cũng lừa dối, lễ hội lừa dối, tung hơ lừa dối...”

 Sự thật sẽ giải trừ Văn Hóa Đảng và CNCS

 “Sự Thật” là “bản chất của vũ trụ,” là sức mạnh vô song (Thầy Lý Hồng Chí sáng lập “Pháp Luân Đại Pháp” một pháp môn tu luyện ở Trung Quốc năm 1992. Chỉ trong thời gian ngắn có hơn trăm triệu người theo trong đó có nhiều đảng viên. Đảng Cộng Sản Trung Quốc sợ quá ra lệnh cấm và đàn áp rất dã man) Thầy đã thấy rõ cái công lực của CS chỉ là lừa dối, bịp bợm làm người dân mê muội không còn biết đâu là đúng đâu là sai, nên đã dùng phương sách vô cùng hữu hiệu “giảng rõ chân tượng” phơi bày nói lên “sự thật.” Đến nay, đầu năm 2007, mặc dầu hoàn cảnh nói lên sự thật này rất giới hạn nhưng đã có khoảng 20 triệu đảng viên bỏ đảng. Nếu tự do ngôn luận truyền thông được thực hiện tốt thì số người bỏ đảng chắc chắn phải là gấp bội và cũng có thể ĐCSTQ không còn.

Đức Phật Thích Ca có nói: “Ở đời có ba sự thật không thể che giấu mãi được là Mặt Trời, Mặt Trăng và Sự Thật.” Sự thật sớm muộn rồi cũng được phơi bày và ngày nào mà mọi sự thật được phơi bày thì tất cả ĐCS phải cáo chung. Vấn đề là làm sao tạo điều kiện cho mọi người nói lên sự thật.

Thế nhưng có vấn đề là thường mỗi người nhìn ra sự thật khác nhau, đâu là sự thật đích thực. Sự thật đích thực là sự thật từ cái nhìn của người trí thức chân chính (TT). Thế nào là một trí thức chân chính?

1. Trí thức chân chính, trường học và trường đời

Theo VHTT từ Trí Thức rất cao quý. Do đó mới có phân biệt, trí thức tức trí thức chân chính, ngụy trí thức và trí thức khoa bảng. “Người trí thức phải trải qua trường học và trường đời. Trường học thuộc phạm trù giáo dục, Trường đời thuộc phạm trù xã hội, hai lãnh vực này tuy hai về mặt hình thức nhưng lại thống nhất thành một thể trong quá trình hình thành và phát triển con người. Người thiển cận thường cho rằng càng học cao bao nhiêu thì càng biết nhiều bấy nhiêu, nhưng thực ra cái cái biết này chỉ tập trung vào một phần rất nhỏ của đời sống con người. Nếu chỉ dựa vào bằng cấp chuyên môn, chỉ biết giá trị của trường học mà không ý thức được sự quan trọng của trường đời.

Trường đời giúp con người khoa bảng trở nên người trí thức và chọn con đường lý tưởng. Do đó trường học đã khó, trường đời lại còn khó hơn. Trường đời giúp con người phát triển khả năng suy tư, tự xét mình trước khi xét người. Chính cái khả năng suy tư đó mới giải hóa được tinh thần kiêu căng khoa bảng. Chính cái khả năng suy tư đó làm cho người có học trở nên con người biết nghĩ. Trường học chỉ đào tạo chúng ta thành một người chuyên môn, tiếp tục trường đời để cải tiến bản thân và cho xã hội. Chính cái ý thức đó người khoa bảng trở nên người trí thức...” (GS Nguyễn Hữu Chì, NS “Đi Tới” số 37, 38).

Ngắn gọn, người trí thức là người có học thức, luôn trau dồi nhận thức, biết lắng nghe, sáng suốt, có lý tưởng, mạnh dạn nói lên “Sự Thật,” không nói một đàng làm một nẻo và trên hết là hành động theo đạo lý. Do đó không mơ hồ, có một sự phân biệt rất rõ rệt giữa trí thức, ngụy trí thức và khoa bảng và cái nhìn của trí thức là gần “sự thật” nhất vậy. 

2. Sự thật “Chiến Tranh Việt Nam.”

Rất tiếc trong cuộc chiến này nhân dân Việt Nam và Hoa Kỳ đã trả cái giá vô cùng lớn lao mà đến nay, tiếng súng đã chấm dứt hơn 36 năm rồi nhưng rõ ràng chiến tranh VN đã đi vào lịch sử cả 2 nước không đúng sự thật. Thật là một đau xót vô cùng cho những người đã nằm xuống cho chính nghĩa cuộc chiến vậy.

a) Chiến tranh VN đối với dân tộc Việt Nam.

Đối với dân tộc VN thực chất là chiến tranh “Giải Phóng Dân Tộc” (GPDT) phát xuất từ văn hóa truyền thống, đặc điểm yêu nước và bất khuất, một di sản vô giá của tiền nhân. Cuộc chiến khởi phát từ giữa thế kỷ thứ 19 qua hai giai đoạn, thực chất khác nhau. Thoạt đầu là đấu tranh “Giải phóng chống thực dân Pháp.” Đến khoảng trước Đệ Nhị Thế Chiến, cuộc chiến đang dang dở thì CNCS, một thảm họa nhân loại bành trướng. Hồ chí Minh (HCM) tên thật là Nguyễn Tất Thành, khi đến Pháp gia nhập đảng Cộng Sản Quốc Tế lấy tên Nguyễn Ái Quốc. Từ đây Ông trở thành tên Việt gian, cuồng tín chỉ biết bành trướng CNCS. Tên này lấy từ bút hiệu “Người Yêu Nước” (Le Patriote) của những nhà cách mạng tiền bối Nguyễn Thọ Truyền, Phan Văn Trường,...

Sau đó đến Trung Hoa, để giấu tung tích CS, ông đổi tên là Lý Thụy, năm 1930 thành lập ĐCSVN. Tiếp theo, để giấu mặt chính quyền Trung Hoa và quốc tế đồng thời để lường gạt những nhà cách mạng quốc gia, năm l941 ông thành lập “VN Độc Lập Đồng Minh Hội” viết tắt là Việt Minh (VM). Ở đây xin lưu ý hầu hết tài liệu quốc tế cũng như đa số đồng bào, có sự lầm lẫn quan trọng. Thực ra khi HCM thành lập tổ chức VM, y chưa có tên HCM mà là Lý Thụy và trước đó là Nguyễn ái Quốc. Vừa thành lập VM, không qua mặt tướng Tàu Trương Phát Khuê nên bị bắt giam (đầu năm 1942). Để tỏ tinh thần đoàn kết, năm sau (1943) được cụ Nguyễn Hải Thần, một lãnh tụ cách mạng quốc gia rất uy tín, lãnh ra, y đổi tên là HCM (Việt Nam Pháp Thuộc Sử, Phan Khoang), bí danh của cụ Hồ Học Lãm (chết năm 1942) cùng là lãnh tụ cách mạng quốc gia đồng thời với cụ Nguyễn Hải Thần.

Trong giai đoạn này cụ Nguyễn Hải Thần cùng nhiều nhà cách mạng quốc gia có thành lập tổ chức “Việt Nam Cách Mạng Đồng Minh Hội,” một tổ chức cách mạng quốc gia, khác với tổ chức VM, một tổ chức CS, Quốc gia trá hình, của Lý Thụy. Ông mang tên HCM từ đây, tiến hành thủ đoạn tiêu diệt tất cả những lực lượng quốc gia yêu nước. Ông đã thành công đánh lừa thế giới và đồng bào, trở thành độc quyền chống Pháp, thắng Pháp qua trận Điện Biên Phủ. Rồi biến Việt Nam thành tiền đồn thế chiến giữa CNCS và “Thế Giới Tự Do.”

Bùi Tín nhận định trong cuộc phỏng vấn đăng trên Việt Tide số phát hành 7 tháng 7, 2006: “Ông Hồ Chí Minh đã du nhập vào Việt Nam một chủ thuyết hết sức tai hại là chủ thuyết Cộng Sản. Ông Hồ đã đem áp dụng học thuyết đó hơn 60 năm, gây tàn phá bằng hằng triệu tấn bom B52 trút xuống đất nước, gây thiệt mạng trên 3 triệu người, mà phần lớn là tinh hoa của đất nước cả hai bên. Những người đó là những người dũng cảm nhất của cả hai bên. Mất mát của dân tộc như thế là vô cùng to lớn. Vậy mà, đến bây giờ, giới lãnh đạo đảng CS vẫn chưa tỉnh ra để xin lỗi nhân dân về những việc làm đã gây tổn thất nhân mạng, tàn phá tài sản, làm tan vỡ các gia đình. Tôi nghĩ rằng tội của giới lãnh đạo nặng lắm, không có cách gì gỡ được.”

Bùi Tín chỉ thấy phân nửa “sự thật.” Dù 3 triệu hay mấy triệu sinh mạng chết, nó lớn thật nhưng dù sao nay nó là lịch sử, chuyện đã rồi không làm sao sửa được. Sự thật cái tác hại đáng nói và lớn hơn cả là cái CNCS đã tạo xây dựng VHĐ và ĐCSVN đã trở thành “thực chất của nó là sự cướp bóc của một đội ngũ cầm quyền, cướp bốc tài sản của quốc gia, tài sản của dân chúng” (lời DTH)

Nhân dân miền Nam nhìn góc cạnh nào đó có thể chia sẻ với quan điểm “Về các chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (VNCH), đối với chúng tôi (Tỉnh Thức, Tiêu Dao Bảo Cự, đảng viên 74-89, bị Đảng khai trừ, TDDC số 2) không có chính quyền nào đáng tôn trọng. Sau khi bị lật đổ vào năm 1963, chính quyền Ngô Đình Diệm được tổng kết đánh giá như một chính quyền “độc tài, gia đình trị.” Các chính quyền kế tiếp cho đến năm 1975 là những chính quyền thư lại độc tài quân phiệt, tất cả đều lệ thuộc người Mỹ...”

Sau 1954 dù Pháp rút đi, miền Nam chưa hoàn toàn độc lập, vì Hiệp Định Genevè là giữa CSBV với thực dân và Đồng Minh, nhơn danh “Phe Tư Bản” (PTB) chống Cộng. Cuộc đấu tranh chính thống “Giải Phóng” của dân tộc VN giờ đây còn phải tiếp tục nhắm mục tiêu ngăn chận CNCS. Thế nhưng Ngô Đình Diệm may mắn được thế lực từ ngoài đưa về lãnh đạo miền Nam. Đây là thời cơ ngàn vàng, Ông thay vì xây dựng tự do dân chủ khai thác sức mạnh VHTT, cùng với chính sách chính quyền Kennedy chủ trương chỉ viện trợ cố vận và kinh tế, CSBV không thể nào xăm lăng miền Nam được hay ít nữa không thể thảm bại như xảy ra, Ông lại xây dựng chế độ độc tài Gia Đình Trị, tạo điều kiện cho CSBV thành lập MTGPMN.

Thế nhưng thưa ông Bảo Cự và những đồng chí của ông, dù sự tồi tệ của các chính quyền miền Nam đến đâu đi nữa cũng không biện minh được quý vị đã mù quáng trở thành một đảng viên CS tồi tệ như lời sám hối của LS Nguyễn Hữu Thọ. Và nếu vì “hàng trăm” lý do nào đó, sự sai lầm ở thời điểm đó thì cũng có thể tạm hiểu. Nhưng trước những sự thật quá khứ đã được phơi bày và nhất là trước thực tế xảy từ ngày ĐCSVN cưỡng chiếm miền Nam, cai trị cả nước ròng rã 36 năm nay mà quý vị vẫn còn biện minh cho sự tồn tại của nó để rồi kêu gọi đối thoại hòa giải thì quả thật nhận thức của ông còn rất xa “sự thật.”

“Sự thật” không ai có thể phủ nhận những nấm mồ của quân dân miền Nam là những nấm mồ hy sinh cho lý tưởng tự do, dân chủ phù hợp xu thế tiến bộ loài người, chớ không vì ý thức hệ hay chủ nghĩa ngoại lai vậy. Trái lại “sự thật” rõ ràng những nấm mồ của quân dân miền Bắc là những nấm mồ hy sinh cho sự bành trướng, xăm lăng CNCS, xây dựng một xã hội lạc hậu, dã man (lời DTH).

Nếu không có CNCS thì VN đã được độc lập từ cái mốc Hiệp Ước Elysee 3 tháng 8, 1949 trước áp lực đấu tranh của dân tộc và xu thế giải thực thế giới từ lâu. Và do đó, cái mà quý vị huênh hoang là “Hào Quang” lại nói lên cái tội ác vô cùng lớn lao qua cái giá sinh mạng dân tộc đã hy sinh vô nghĩa cho “Hào Quang” tưởng tượng này. Và thử nghĩ nếu dân tộc VN đi lên từ cái mốc ấy thì VN hiện nay ra sao so với những nước trong vùng? Càng suy nghĩ càng thấy tội của quý vị đối với dân tộc càng lớn và đúng như Bùi Tín nói không có cách nào gỡ vậy.

Với DTH: ...“ Sự thật” đó là dân tộc chúng ta đã có lúc ngu dại; vì là một nước nhỏ nên bị đưa đẩy giữa hai thế lực, dân tộc bị kẹp giữa hai đầu toa tàu lịch sử “và” dân tộc VN sau chiến tranh chia làm hai và bên nào cũng không muốn thoát khỏi cái bóng hắc ám của quá khứ. Một phía là sự thù hận mù quáng, phía kia là lòng kiêu hãnh ngu dốt và bỉ ổi. Cả hai đều ở trong nhà tù của mình!” Thế nào là hận thù mù quáng? Té ra sự đấu tranh của bà cùng phong trào đấu tranh trong nước chống tập đoàn cầm quyền hiện nay cũng mù quáng sao?

Rõ ràng “sự thật” của Bùi Tín và DTH không thể là sự thật đích thực. Quý vị cần phải điều chỉnh “nhận thức lại.”

3. Đốt thẻ Đảng hóa giải sợ hãi, “sự thật” được phơi bày.

Như trên đã nói “sự thật” đích thực là sức mạnh vô song, vũ khí hữu hiệu để giải trừ VHĐ và CNCS. Phương cách hữu hiệu nhất để hóa giải sự sợ hãi tạo điều kiện mọi người nói lên “sự thật” là “Phong Trào Đốt Thẻ Đảng.”

Quý vị đảng viên kỳ cựu, đặc biệt quý vị đảng viên gốc miền Nam, thiển nghĩ không ai nghi ngờ quý vị vì tinh thần yêu nước mà đã trở thành đảng viên CS như LS Nguyễn Hữu Thọ. Nay trước mọi sự thật phơi bày, Đảng CS không phải là Đảng lý tưởng của quý vị, còn chút lương tâm, trách nhiệm và tự trọng không lý do gì quý vị vẫn im lặng, ôm thẻ đảng mặc nhiên trung thành với đảng đến cuối đời, và nó sẽ đi vào lịch sử muôn đời. Thời gian không còn nữa, cái giá mà quý vị tiếp tục ôm nó rất lớn sẽ cảm nhận lúc lâm chung như LS Nguyễn Hữu Thọ. Hủy nó đi là thực sự trở về với dân tộc, chuộc lỗi lầm, đồng thời giải cứu quê hương và cũng là việc làm giải nghiệp lớn nhất. Nghe nói Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp và nhiều vị khác, đã đi chùa thậm chí có vị đã cất chùa nữa, thiết nghĩ không gì giải nghiệp bằng “đốt thẻ đảng.”

 Chủ Nghĩa CS biến thành Chủ Nghĩa Đô La (CNĐL)

 Với sự cuồng tín ĐCSVN đã “đánh bại” Hoa Kỳ và miền Nam VN, hủy diệt VHTT, triệt hạ quyền tư hữu. Và nay rõ ràng ĐCSVN đang trên đà phá sản, biến dạng thành đảng Mafia, cuồng tín chạy theo CNĐL tạo nên xã hội băng hoại suy đồi xuống cấp không thể tưởng tượng. Người dân, cán bộ chỉ biết chạy theo đô la làm những việc làm vô cùng tội ác vô đạo đức (tổ chức vượt biên vô trách nhiệm hốt vàng, xuất cảng lao động phụ nữ trá hình, tham nhũng tràn lan từ “đỉnh cao” trở xuống...) Vô số những hiện tượng hết sức tiêu cực đã trở nên bình thường (nhận định của Trần Quang Thuận). Cán bộ đảng viên cao cấp hằng ngàn vị từ hai bàn tay trắng nay trở nên là triệu phú thậm chí tỷ phú đô la.

Dân tộc VN sau thời gian dài bị biến dị vì VHĐ nay chồng chất thêm chủ nghĩa Đô La thật là bi đát. Cái đáng sợ là trong nước do áp lực của chế độ, tình trạng biến dị còn hiểu được, thế nhưng hải ngoại đặc biệt là ở Hoa Kỳ, tình trạng biến dị cũng rất trầm trọng mà hai hiện tượng nổi bật không ngờ sau đây:

a) Truyền thông báo giới mặc nhiên cải danh “Người Việt Tỵ nạn CS” một chính danh nói lên đặc điểm bất khuất rất cao quý của văn hóa truyền thống (Và chỉ với danh nghĩa này mà chúng ta mới được như hôm nay), thành danh nghĩa “Việt kiều,” một danh nghĩa nói lên sự gian dối, lường gạt lòng nhân đạo của thế giới. Đúng thế, nếu là Việt kiều chúng ta không có tư cách hiện diện nơi đây. Chúng ta không quên CSVN đã ra nhiều công sức cùng với trí thức phản chiến Mỹ ở Đại Học Boston cố thực hiện công trình cải danh căn cước tập thể Người Việt Tỵ Nạn thành Việt kiều. Mục tiêu là xóa đi danh nghĩa tỵ nạn, tức xóa đi danh nghĩa xăm lăng, không cho nó đi vào lịch sử (đưa đến vụ kiện của Đại Úy Nguyễn Hữu Luyện). Cùng mục tiêu này, mấy năm gần đây các bia tưởng niệm Thuyền Nhân ở Indonesia, Malaisia bị đập phá... Và rồi đến nghĩa trang Biên Hòa cũng cùng chung số phận !

b) Nhiều trí thức, thậm chí là nhiều viên chức lãnh đạo miền Nam trước đây, nhiều vị giáo sư đại học, nhiều vị lãnh đạo tranh đấu lại tỏ ra thức thời lên án cả hai bên, cho rằng cuộc chiến trước đây là vô nghĩa, nội chiến huynh đệ tương tàn, cuộc chiến ủy nhiệm do chủ nghĩa ngoại lai, Nga Mỹ dàn dựng. Và rồi cuộc đấu tranh dằng dai hiện nay là do thế hệ già hai bên vì hận thù xưa. Sau khi thế hệ này chết đi lớp trẻ không dính líu với cuộc chiến không có hận thù sẽ hòa giải nhau dễ dàng. Thật vô cùng ngạc nhiên với cái nhìn thay đổi này, không còn thấy CNCS là tội ác nữa.

Quý vị đã từng kêu gọi trả lại “sự thật” cho lịch sử. Phải chăng cái nhìn này là “sự thật” thật hôm nay của quý vị?

Thế thì tất cả những quân nhân đã nằm xuống cụ thể ở nghĩa trang Biên Hòa để ngăn chận CS là đã bị phản bội hay bị lường gạt vậy? Sau hơn 30 năm, vô số những sự thật phơi bày và nhất là trước thực tế hôm nay đáng lẽ quý vị phải nhận rõ hơn đâu là chân lý và khẳng định hơn về cái chính nghĩa hy sinh của họ. Chính nghĩa này được nhân dân miền Nam khẳng định ngay sau những ngày CSBV cưỡng chiếm miền Nam. Do đó mà hằng triệu người đánh đổi tất cả, kể cả mạng sống để ra đi. Và nhất là sau thế kỷ lưu vong, đại bộ phận cộng đồng người Việt ở khu phố Bolsa đủ tỉnh táo lại khẳng định một lần nữa hết sức hùng hồn qua biến cố Trần Trường Mùa Xuân 99.

Thưa không, những chiến binh của miền Nam đã hy sinh không bị lường gạt mà là bị phản bội. Vong linh họ không chút ân hận và oan ức gì, và đã siêu thoát từ lâu rồi không cần phải giải oan. Những ai giải oan cho họ sẽ gây uất hận cho họ, nhỡ họ chưa siêu thoát sẽ đội mồ lên, còn tạo thêm nghiệp cho mình. Có oan phải giải là cho những đảng viên bộ đội, vì chính họ mới chết oan vì bị lường gạt. Chính họ mới hy sinh cho cuộc chiến phi nghĩa, ủy nhiệm, huynh đệ tương tàn. Không có sự chọn lựa cho người lính miền Nam. Quý vị cũng từng lo ngại những thế hệ sau tỵ nạn quên đi cội nguồn, chưa chi chính quý vị đã quên và đã phản bội chính mình qua thay đổi danh nghĩa “Người Việt Tỵ Nạn CS.”

Quý vị có thể chuẩn bị cho sự “hòa giải, hòa hợp,” xin miễn ý kiến. Thế nhưng thay đổi “sự thật” về cuộc chiến cũng như “sự thật” về hận thù, không khác với “sự thật “ của Dương Thu Hương, cái giá khá đắt cho người trí thức đấy. Hơn nữa dù muốn dù không hiện tượng này rất là đau đớn cho phong trào dân chủ nổi lên trong nước.

Quý vị nghĩ thế nào cách nay không lâu, khi Tôn Nữ Thị Ninh, chủ tịch Đối Ngoại Quốc Hội CSVN mạnh dạn phát biểu, sau khi có NQ 36, đại khái: “Rồi đây với phương tiện dồi dào, NQ 36 sẽ mua đứt tất cả truyền thông báo giới hải ngoại và đánh gục những thằng chống Cộng hăng nhất!”

Hai hiện tượng trên rõ ràng là thành quả chiến lược không ai ngờ của NQ-36, một hiện tượng đáng buồn hơn là sự quay lưng của thế giới tự do vậy.

 Sinh lộ cho quê hương

 Tóm lại, hôm nay rõ ràng chúng ta có thể khẳng định: Sinh lộ cho các dân tộc dưới ách CNCS không thể có với sự tồn tại của ĐCS, có nghĩa là sinh lộ là con đường giải trừ ĐCS. Và “sự thật” là vũ khí đích thực để giải trừ nó, kết quả sớm muộn tùy theo văn hóa mỗi dân tộc và đặc thù sự hình thành của nó.

Trường hợp đặc thù ĐCSVN và VHTT “Sinh lộ khẳng định” này lại càng quyết liệt và khẩn thiết hơn. Đúng vậy, không có chế độ CS nào trên thế giới thành công như trường hợp CSVN. Nổi bật với những đặc điểm sau đây:

- Thứ nhất là thực chất sức mạnh của nó là sự lừa bịp trắng trợn bản chất yêu nước và truyền thống bất khuất của dân tộc trong môi trường một dân tộc bị nô lệ gần 100 năm . - Thứ hai là xã hội miền Nam mà nó lật đổ là một xã hội văn minh và đang đi lên cùng với xu thế thế giới tự do so với xã hội dưới chế độ CS miền Bắc, một cách biệt “như Trời với Đất” (DTH).

- Thứ ba là hôm nay, sau 32 năm dưới sự thống trị của CS, xã hội băng hoại xuống cấp trầm trọng, con người mất hết phẩm giá và đạo đức, càng kéo dài càng khó phục hồi.

- Thứ tư là lãnh đạo CSVN có vấn đề lý trí rất nặng nề.

Đúng như nhận xét của Thầy Lý Hồng Chí “những ngôn từ hành vi của những người lãnh đạo TQ khi ra nước ngoài khiến người phương tây cho là có vấn đề lý trí.” Chắc chắn là người phương Tây khó trao đổi tốt với lãnh đạo VN, vì nhiều lúc họ (thậm chí chúng ta) có cảm nghĩ lãnh đạo ĐCSVN không thật sự hiểu những gì họ nói (nhớ lại lời phát biểu của mỗi tân tổng Bí thư). Do đó khó có sự hòa nhập trọn vẹn được. Điển hình cuộc trao đổi giữa thủ tướng Đức và Nguyễn Minh Triết (giữa tháng 5).

- Thứ năm, nếu ĐCSVN còn kéo dài thì VN còn lệ thuộc TC. Cùng với sự phát triển của TC dân tộc VN sẽ sớm bị diệt chủng. Sự phát triển TC rất cao, hiện khí thải CO2 của TC đã đến mức ngang hàng với Hoa Kỳ. Thế giới đang kêu gọi giới hạn, nhưng TC cho rằng trung bình đầu người nó vẫn còn thua Hoa Kỳ. Vậy chúng ta cứ yên chí là khi nó ngang với Hoa Kỳ là lúc tận thế. Và nó càng phát triển thì VN là nơi hứng chịu phế thải độc hại nhiều nhất. Trước mắt, chỉ vài chục năm nữa thì thế giới sẽ đi vào tình trạng thiếu nước trầm trong, có chiến tranh vì nước. Trung Cộng đã xây vô số đập nước, nhà máy thủy điện trên sông Mekong, dân tộc VN sẽ bị họa tận thế trước mọi dân tộc. (Xin xem những bài viết về sông Mekong của BS Ngô Thế Vinh). Vậy “Giải Trừ ĐCSVN” lại càng khẩn trương.

Mới nghe nhiều người cho là không tưởng. Trước đây đúng nó là công cuộc “đội đá vá trời.” Nhưng thực tế hôm nay, mặc dầu còn khó khăn, “Hồn Thiêng Sông Núi” còn, thời kỳ đen tối nhất đã qua rồi, cái thuận lợi lớn lao có tính cách quyết định là toàn dân đã nhận diện ĐCS là kẻ thù của dân tộc. Dân tộc VN, với lịch sử và văn hóa mình có khả năng giải quyết vận mạng mình. Vấn đề là mỗi chúng ta, trong cũng như ngoài nước cần ý thức, mình, ít nhiều đã bị biến dị, vì VHĐ, mạnh dạn giải trừ nó trở về nguồn cội người VN đích thực với Văn Hóa Truyền Thống. Nhưng quan trọng trên hết là những đảng viên thật sự yêu nước qua thực tế hãy thức tỉnh can đảm điều chỉnh nhận thức mình, biết rằng không đơn giản cho những đảng viên kỳ cựu nhưng không có chọn lựa, để cùng nhận ra “một sự thật,” chỉ có một “sự thật” cốt lõi của sinh lộ.

Đúng vậy, “nhận thức lại” là vấn đề sống chết cho dân tộc, khá đơn giản cho tuổi trẻ. Hầu hết những người lính trẻ trong đoàn quân chiến thắng sau 30 tháng 4 đều ngỡ ngàng trước thực tế của xã hội miền Nam đều cảm thấy không ổn về nhận thức mình (tiêu biểu DTH phải ngồi khóc bên lề đường khi vào thành phố Sài Gòn vì tuổi xuân phí phạm; Kỹ sư Đỗ Nam Hải, du học sinh Úc Châu tự thú: “...Càng tìm hiểu sâu rộng, tôi lại càng phát hiện ra nhiều điều mân thuẫn giữa thực tiễn cuộc sống đang diễn ra xung quanh với những gì mà từ nhỏ tới lớn mình vẫn được tuyên truyền, giáo dục.”

“Đúng là phải nhận thức lại...,” Phương Nam. Bài phỏng vấn Lê Diễn Đức, du học sinh Ba Lan, chủ bút Đàn Chim Việt của Nguyễn Khanh, đài RFA nhân kỷ niệm 30 tháng 4, 2007 “Mặc dầu đã sống ở Âu Châu, nhưng khi vào Sàigòn tôi vẫn bị choáng ngợp, vì tôi thấy khác hẳn với miền Bắc,... người miền Nam trên đường đi có cái phong thái thoải mái, tự nhiên rất Âu Châu.”

Tất cả những ai đã là đảng viên CS tư duy đều ít nhiều bị biến dị, tuổi Đảng càng cao biến dị càng nhiều, cần phải “nhận thức lại,” thức tỉnh trở về nguồn cội VHTT và nhận diện 3 “sự thật” sau đây sẽ là sức mạnh cho “sinh lộ quê hương”:

-“Sự thật” cuộc chiến trước đây.

-“Sự thật” cuộc đấu tranh hiện nay.

-“Sự thật” của hận thù

Đâu là “sự thật” những ai chịu khó tìm hiểu thì đã thấy rõ, không phải dài dòng. Còn cái “sự thật” gọi là “hận thù” cũng quá rõ nhưng cố tình xuyên tạc để biện minh thái độ ngoan cố của mình vậy. Đây không phải là “hận thù” giữa những người ở hai chiến tuyến trước đây mà là sự không chấp nhận CNCS và ĐCSVN do bản chất và VHTT bất khuất. “Hận thù” đây là sản phẩm của tư duy CNCS của tập đoàn lãnh đạo CS, của Bộ Chính Trị CS. Cố tình không thấy, không giải quyết được, bằng chứng là đã 36 năm rồi, bao nhiêu chính sách rõ ràng không đi đến đâu. Đáng lý lãnh đạo phải thấy ngay vào những ngày sau “giải phóng” khi mà hằng trăm ngàn người đánh đổi tất cả liều mạng sống ra đi và rồi cứ triền miên tìm đường ra đi. Và thế rồi 25 năm sau, biến cố Trần Trường ở hải ngoại và những tiếng nói tranh đấu Dân Chủ ở trong nước, lại khẳng định hết sức hùng hồn sự ra đi này, mà vẫn không sáng được mắt ra. Còn ĐCSVN là không bao giờ hết hiện tượng gọi là “hận thù.” Sớm thức tỉnh cho dân tộc được nhờ!

 Kết luận

 “Sinh Lộ Cho Quê Hương” phải là con đường “giải thể ĐCS” và có 3 khả năng:

a) Phúc nhất cho dân tộc là tập đoàn lãnh đạo Đảng thức tỉnh, giải tán ĐCS. Nhưng rõ ràng đây là chuyện không tưởng, ngoại trừ là phép lạ.

b) Khả năng kế là “phong Trào Đốt Thẻ Đảng” (PT). Ngày 12 tháng 11, 2006, trên trang A2 báo Người Việt có đăng bản tin Linh Mục Nguyễn Văn Lý cho biết có 200 sĩ quan bộ đội đốt thẻ đảng. Hành động đốt thẻ đảng này đúng là hành động anh hùng, hành động của những đảng viên yêu nước thực sự. Những đảng viên thức tỉnh, chống Đảng nào, không tích cực tham gia phong trào này là “ngụy thức tỉnh,” không lý do gì chống Đảng lại cố tình ôm thẻ Đảng đến cuối đời. (không biết Bùi Tín có đốt thẻ Đảng chưa?)

Thưa quý vị đảng viên kỳ cựu thuộc Mặt Trận trước đây,

Hôm nay, tất cả quý vị đã ở vào tuổi xế chiều. Xin mạo muội chia sẻ với quý vị một “sự thật.” “Sự thật” này càng tìm hiểu càng khẳng định. “Sự thật” đó là với VHTT và lịch sử VN. “Không có MT, CSBV không thể nào chiến thắng.” Đây là “sự thật.” Chính MT đã tạo “Chính Nghĩa” cho CSBV. Do đó LS Nguyễn Hữu Thọ, thủ lãnh MT và thành phần lãnh đạo là công đầu cùng quý vị là những người đã đưa ĐCSVN lên đỉnh vinh quang chiến thắng ngày 30 tháng 4, 1975. Quý vị đã hy sinh gian khổ nhất không bút mực nào kể xiết trong cuộc chiến này. Do đó mà HCM lúc nào cũng “Miền Nam trong trái tim tôi.” Thế nhưng cái đau đớn bị phản bội của quý vi sau chiến thắng cũng kinh khủng không bút nào kể xiết nó thể hiện hết sức cay đắng, uất hận trong lời sám hối của LS Nguyễn Hữu Thọ qua đoạn trích thư ở trên.

Sau chiến thắng, hầu hết những thành viên lãnh đạo MT, nếu không là đảng viên thì biết thân mau chân trốn chạy (đọc hồi ký của Kỹ Sư Trương như Tảng), thành phần đảng viên (Nguyễn Hữu Thọ, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Thị Định,...) ở lại thì thân phận như BS Dương Quỳnh Hoa (DQH) (xem “Viết Về Một Người Lầm Lỡ Vừa Nằm Xuống,” TS Mai Thanh Truyết, mục Khảo Luận trong Vastvietnam.com). Vào khoảng cuối thập niên 70, bà DQH trao đổi cùng với LS Nguyễn Hữu Thọ “Anh và tôi chỉ đóng vai bù nhìn và chỉ là món đồ trang sức rẻ tiền cho chế độ. Chúng ta không thể phục vụ chế độ thiếu dân chủ và không luật lệ. Vì vậy tôi thông báo cho anh biết là tôi sẽ trả lại thẻ Đảng và không nhận bất cứ nhiệm vụ nào trong chính phủ cả.” Đến năm 79, Bà chính thức từ bỏ Đảng.

Thái độ và hành động của LS Nguyễn Hữu Thọ và BS Dương Quỳnh Hoa nói lên sự can đảm thay đổi nhận thức, nhận ra “sự thật” và sự trở về nguồn cội VHTT rất đáng khâm phục. Nó phần nào giúp cho linh hồn mình nhẹ nhàng và sự thông cảm của những nạn nhân, trong đó có các đồng chí và đồng bào miền Nam, vì không làm gì hơn.

Thiển nghĩ quý vị may mắn còn sinh thời có cái nợ lịch sử, cái nợ những đồng chí đã nằm xuống, một “sự thật,” một lẽ phải, một công lý cho con người phải nói lên. Thời gian không còn chờ được nữa. “Tiếng gọi non sông” hôm nay còn khẩn thiết hơn ngày xưa nhiều. Hãy mạnh dạn nói lên “sự thật.” Nếu không quí vị đi vào lịch sử muôn đời là “cõng rắn cắn gà nhà.”

Xin mạn phép vài dòng thưa với bà Nguyễn thị Bình, cựu chủ tịch nước. Có lẽ bà là một người trẻ trong nhóm người đầu đàn MT còn lại. Cái thời vàng son sáng chói “vinh quang” nhất của bà là hình ảnh bà, bới tóc mặc chiếc áo dài màu xanh, đúng tiêu biểu một phụ nữ miền Nam, và còn được nghe nói là con cháu gì đó của cụ Nguyễn An Ninh, một nhà cách mạng nổi tiếng miền Nam (thật là sự nghiên cứu hết mức), đại diện Chính Phủ Lâm Thời “lực lượng giải phóng” nhân dân miền Nam, ngồi sau lá cờ MT trong bàn HN Paris (Thế giới phải thán phục). Nguyễn Hữu Thọ nhiều lần đến Hoa Kỳ cũng dưới lá cờ này, được Phản Chiến Mỹ tôn vinh là Anh Hùng Thời Đại. Rõ ràng đây là công đầu đã đưa ĐCSVN lên đỉnh chiến thắng. Thế rồi những gì đã xảy ra cho nhân dân miền Nam và những đồng chí của bà, như một cơn Đại Hồng Thủy vậy. Giá mà hiệp định này được thi hành đúng đắn thì quê hương và dân tộc VN ra sao? Vì đâu nên nỗi, “sự thật” phản bội độc ác của CSBV ra sao, Bà có thể là người duy nhất còn sống sót có tư cách và khả năng nhất để nói lên “sự thật” cho đồng bào và thế giới biết.

Lịch sử dân tộc VN không thể thiếu “sự thật” này. “Sự thật” này có sức mạnh rất lớn lao. Trách nhiệm “sự thật” lịch sử này là của bà vô cùng quan trọng ở thời cơ ngàn vàng hôm nay. Ông NHT và bà DQH, không bao lâu sau ngày “giải phóng,” chưa chứng kiến vô số những tồi tệ tột cùng của ĐCS, sự băng hoại suy đồi tột cùng của xã hội VN ngày nay mà đã nhận ra “sự thật” rồi đã vô cùng hối hận và đã bỏ Đảng. Hôm nay không lý do gì quý vị tiếp tục ôm thẻ đảng đến cuối đời, để muôn đời vào lịch sử là một thành viên của đảng Việt gian và tội ác chống nhân loại. Vai trò MT không thể kết thúc như thế, quá tàn nhẫn, là một vết nhơ cho văn hóa và lịch sử VN.

Thưa bà, chìa khóa để đưa đưa quê hương và dân tộc ra khỏi thảm họa mà HCM gây nên, do sự du nhập CNCS là “sự thật” và “trở về nguồn cội VHTT,” mà bà có khả năng nhất vận dụng... Xin mạn phép gợi ý, màn kết thúc đẹp nhất cái vai của MT trong tuồng hát này là màn “Đốt Thẻ Đảng.” Không đốt âm thầm, không biết hình thức “đốt thẻ Đảng” của 200 vị trên xảy ra như thế nào. Thiết nghĩ nên tổ chức hình thức buổi Đốt Thẻ Đảng chính thức, công bố lý do, không cần phải đông, phổ biến rộng rãi trên các báo điện tử, công bố danh sách và cập nhật thường xuyên. Tiêu đề buổi lễ “giải oan.” Các đồng chí của bà thật sự chết oan, vong linh không làm sao siêu thoát. Qua đó cũng để “tạ lỗi với lỗi đồng bào,” đặc biệt là nhân dân miền Nam. Màn này cái được thật là vô cùng to lớn, vô giá. Thưa bà, biết đâu Hồn Thiêng Sông Núi hộ trì, nhiều đảng viên hưởng ứng, ĐCS tan rã, bà sẽ là anh hùng dân tộc tuyệt đẹp hơn Boris Yeltsin nhiều. Vì không phải dùng vũ lực và bà lại là một phụ nữ, đúng là dòng máu của Trưng Trắc và Trưng Nhị. “Biến cố” này cũng nói lên phần nào “vai trò lịch sử” của quý vị. Danh sách cần công bố và cập nhật, từ đây nó vẽ nên lằn ranh giữa những người yêu nước thực sự và đồng lõa với tội ác.

c) Nếu 2 khả năng trên không xảy ra thì chắc chắn sẽ phải đến ngày khả năng thứ 3 là toàn dân và Tòa Án Hình Sự Quốc Tế loại Nuremberg. Trước đây nạn nhân Phát Xít Đức chỉ có 2.5 triệu, mà đã có Tòa này xét xử trong vòng một năm, còn nạn nhân CS gấp 4 lần, không làm sao tránh khỏi. Sở dĩ Tòa Án này chưa thành lập vì chủ nghĩa Đô La quá mạnh vậy. Có điều là phải kéo dài nổi thống khổ của đồng bào.

Dù sao, nên nhớ trong nước, hoàn cảnh cai trị vô cùng lạc hậu, khắc nghiệt, đàn áp dã man, người dân khiếp sợ mềm nhũn mà tạo được phong trào như hiện nay nói lên tinh thần vô cùng can đảm, anh hùng rất đáng khâm phục của những vị tiền phong và đã làm hết sức mình. Từ đó trách nhiệm CĐ hải ngoại phải rất lớn lao vì tiềm năng còn rất nhiều. Chỉ cần mỗi người một chút quyết tâm hành sử bảo tồn nguồn cội “người VN Tỵ Nạn CS,” một danh nghĩa cao quý xuất phát từ VHTT. Nếu vì lý do gì thay đổi, muốn bỏ đi hai chữ tỵ nạn thì là “Người Mỹ gốc Việt” hãy trả danh nghĩa “Việt kiều“ cho “Việt kiều” chính danh... Quyết tâm này rất nhẹ nhàng, nhưng là một đóng góp vô cùng to lớn cho công cuộc đấu tranh của dân tộc.

Những tổ chức đấu tranh mà mục tiêu là “Bỏ Điều 4 HP” hoặc “Đa Nguyên Đa Đảng,” ĐCSVN vẫn tồn tại và là đảng hợp pháp tranh cử, đừng quên là cuộc bầu cử không thể nào công bằng và trung thực vì ĐCSVN là đảng tham nhũng tiền rừng bạc biển và các đảng viên cũng tiền rừng bạc biển. Bên cạnh đó người dân lại bị biến dị trầm trọng, không biết đâu là đúng là sai. Đảng lại là thành tích thủ đoạn, lưu manh, tráo trở không đảng nào có khả năng đối đầu. Không khéo nó sẽ trở thành hợp pháp thống trị không biết đến bao giờ!

Mùa Quốc Hận 2007
Nguyễn Diệp Phong
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn