BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 35750)
(Xem: 33270)
(Xem: 32461)
(Xem: 24690)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Những Người Tù Cuối Cùng (6)

26 Tháng Tám 201312:00 SA(Xem: 1304)
Những Người Tù Cuối Cùng (6)
51Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
51
Phần XXI: Ngày Trở Về (1)


Chúng tôi lục tục xuống xe, lích kích khiêng các ba lô túi xách cá nhân vào bên trong cái cổng có tên "Hàm Tân Z-30D" và được chỉ định tập trung vào một khu vực sâu phía bên trong trại .


Chín mươi người chiếm hẳn một góc sân trong tư thế nghỉ ngơi kẻ đứng người ngồi dưới tàn cây rợp bóng mát.


Trên khuôn mặt những người tù cuối cùng này có một điểm giống nhau là sự bình thản và nhẫn nại.


Sự bình thản là kinh nghiệm nhiều năm ở tù đã tạo cho họ có được một đức tính biết âm thầm chịu đựng, biết chờ đợi và biết bình tĩnh trước mọi tình huống.


Chính sự bình tâm trước mọi thử thách gian nguy và thái độ can trường chịu đựng một cách bền bỉ mọi hình phạt tàn khốc của kẻ thù phủ lên người họ, đã dần dần biến đổi môi trường sống của người tù thành thuận lợi hơn.

Hoặc giả vì cái nghiệp lực to lớn phủ chụp xuống toàn dân miền Nam khi nước đã mất vừa lui đi? Hoặc kẻ thù sau bao nhiêu năm trả thù đã hả hê và bây giờ họ chợt nhận thấy rằng mình đã xuống tay quá mạnh trên lưng kẻ thất trận cùng một mầu da nên dừng bớt lại?


Cộng thêm vào đó là lòng nhân đạo của người tù đã lấy ân báo oán, "lấy trí nhân mà thay cường bạo" khi cứu giúp thuốc men cho các khu gia binh và dân chúng quanh vùng, khi chia sẻ điếu thuốc, ấm trà, ly cà phê với các cán bộ, cán binh của trại giam đã làm cho họ phải suy nghĩ về tình người?


Tất cả những sự việc bề ngoài tuy trông rất bình thường đó lại là những yếu tố quan trọng cảm hóa kẻ thù, lấy được lòng dân, và xoay chiều cơn sóng dữ đã bao lần muốn nuốt sống mạng người tù; để đạt được điều ấy, hàng ngàn tù nhân đã ngã gục và nằm sâu trong lòng đất Mẹ.


Sau một thời gian dài suốt chín năm vừa qua, được gia đình đến thăm nom và tiếp tế đủ thứ từ ăn uống đến thuốc men, quần áo vật dụng, thì chúng tôi đã có một "tài sản" khá nhiều, khá bề bộn, dù là đã bỏ lại tại trại cũ Nam Hà nhiều thứ lỉnh kỉnh, nên chưa đến nỗi như đồ đạc trong truyện "Hoàng Trừu" ngày xưa.


Đó là chưa kể đến những thứ mà các bạn về trước đã để lại như cây đàn ghi ta, bình ấm pha trà, các sách truyện quý kể cả các cuốn kinh về tôn giáo mà chúng tôi buộc phải mang theo vào Nam vì đó là những kỷ niệm của người đã rời trại giao cho người ở lại.


Thêm vào đó, những người tù trước khi ra khỏi cổng trại tù vẫn còn phải chịu một lần kiểm soát gắt gao nữa và các sách báo kinh điển như vậy sẽ bị tịch thu ngay. Bởi thế kinh nghiệm của những người được về trước để lại cho người sau là càng gọn nhẹ càng tốt để tránh bị đám trực trại làm khó dễ hay hạnh họe trong lúc kiểm tra.


Trong những năm tháng tù đầy, có nhiều sự việc bất ngờ xẩy ra làm cho đời sống tù nhân thêm vất vả khốn đốn mà chuyển trại là một. Chuyển trại luôn là điều đáng e ngại nhất vì ngoài sự cực nhọc lao đao của thân xác là sự bất định của một tương lai không biết sẽ đi về đâu. Dầu sao đi nữa thì việc chuyển trại lần này coi như tạm xong.

Đây không phải lần đầu tiên chúng tôi chuyển trại và có thể cũng chưa chắc đã là lần cuối, cho nên cách tốt nhất là chấp nhận hiện tại rồi từ từ tính sau, bởi vậy chúng tôi mỗi người sẵn sàng bên cạnh hành trang của mình chờ đợi thủ tục nhập trại.


Thủ tục này như mọi lần thì bao gồm điểm danh từng người để bàn giao quân số cho trại mới, nhắc nhở về tuân thủ nội quy và kế nữa là mỗi người tù tự mở ba lô của mình ra cho trực trại khám xét từng vật dụng một trong đó; thứ nào được cho qua thì mới được đem vào, còn lại là tịch thu hết.


Điều lạ lùng là lần đầu tiên thủ tục khám xét để nhập trại tại Hàm Tân đã được thông qua chứ họ không lục tung lên tất cả mọi thứ trong tư trang mỗi người như những lần nhập trại tại miền Bắc.


Có thể đây là một dấu hiệu tốt hay chăng? Cái gì thì cũng phải đợi một thời gian nữa xem sao vì họ đã lường gạt người tù quá nhiều lần rồi nên bây giờ chúng tôi thẩy đều thận trọng.


Trong khi chúng tôi vẫn đang đứng bên cạnh tư trang của mình thì cánh cổng trại chợt được đẩy rộng ra hơn vì có mấy tay cán bộ, cán binh đem các xâu chìa khóa vào và lần lượt mở còng hết cho các tù nhân.


Thái độ của họ tỏ ra thân thiện mà tôi tin rằng đó là do cấp trên đã ra lệnh cho họ đối xử như vậy, chứ không đầy hận thù như tại trại giam Long Thành mười hai năm trước khi còng tay chúng tôi để chuyển đến trại Thủ Đức trên đường ra Bắc lưu đầy .


Tôi lấy bàn tay trái xoa bóp cổ cánh tay phải một chút vì có chỗ hơi bị sưng lên vì cái còng số tám.


Ba ngày trời rồi cổ tay phải của tôi mới được thong dong rời khỏi cổ tay trái của anh Hai Hầu.


Ba ngày rồi trên tầu hỏa hay khi xuống xe lửa về trại Hàm Tân, anh Hai Hầu đi đâu thì tôi phải đi theo, ngược lại cũng vậy và cả tôi lẫn anh Hai Hầu đều không than phiền gì dù là cái còng có hơi nhỏ một chút.


Sau đó thì có vài tay có lẽ là cấp chỉ huy mà họ gọi là "Ban" đến để nói chuyện với nội dung tóm tắt là anh em chúng tôi được chuyển vào Nam để "tiếp tục cải tạo chờ ngày về đoàn tụ gia đình".


"Ban" đề cập một số những giáo điều mà chúng tôi chẳng ai buồn nghe vì sau ba ngày di chuyển trên xe lửa thật mệt mỏi, ai cũng chỉ muốn cho xong mọi thủ tục để tìm chỗ nghỉ ngơi mà thôi.


Mười lăm phút nói chuyện để chào đón chín mươi người từ miền Bắc vào Nam, và không thấy ai có ý kiến gì nên mấy tay cán bộ này bảo nhóm trật tự hướng dẫn chúng tôi về buồng giam trong một khu vực riêng, biệt lập nằm bên trái sân trại.


Bấy giờ là buổi chiều, từ lúc mới vào trại, tôi vẫn nhìn ra phía ngoài cổng, nắng đang nhuộm vàng trên những ngọn lá Buông từ xa rồi tắt xuống dần thân cây và hắt những sợi vàng yếu ớt của một ngày sắp hết thành những vệt dài loang vào trong sân.


Lúc đó tuy là mùa Hạ nhưng khi ánh nắng dịu đi thì dưới đất không còn bốc lên cái nóng hừng hực của ngày Hè nữa, mà hơi mát từ trong không khí tỏa xuống thật dễ chịu. Sau này tôi mới biết nơi này mát một phần là nhờ trại nằm gần bên một nhánh sông được tách ra thành các dòng suối nhỏ nước chảy róc rách ngày đêm xuyên qua khu rừng và chạy vòng quanh trại.


Trước kia, nơi đây là mật khu rừng Lá của VC mà họ vẫn thường chận các xe đò liên tỉnh để hăm dọa hành khách, bắt hành khách vào trong khu rừng này để tuyên truyền về "giải phóng" về "cách mạng" mất cả nửa ngày mới thả cho ra về. Nếu là quân nhân hay công chức thì bị bắt dẫn đi luôn.


Tôi có hai người cháu trai lúc còn bé đi theo chuyến xe đò liên tỉnh này, hai cháu cũng bị bắt vô đây nghe thuyết giảng mấy tiếng đồng hồ rồi mới được thả cho về lại Sàigòn vì các cháu chỉ là học sinh.


Lúc về tới nhà mấy ngày sau mà hai cháu vẫn còn hãi sợ. Hình ảnh những súng AK chĩa về phía hành khách đang ngồi bệt xuống đất trong rừng, và những chiếc khăn rằn quấn quanh cổ với những bộ mặt dữ tợn. Các cháu nói không quên được dù sau này đã trưởng thành.


Sau khi chiếm miền Nam thì cái mật khu này được biến thành trại tập trung "cải tạo" để giam giữ cả tù hình sự lẫn tù chính trị chế độ cũ. Thời gian những năm trước, trại này cũng nổi tiếng là khắc nghiệt, ngược đãi tù nhân với bàn tay sắt.


Số lượng tù nhân chết vì kiệt sức, vì vượt trại và bị bệnh tật không phải là ít.


Dòng đời vẫn trôi nhanh và tôi cũng không tưởng tượng ra được một ngày nào đó như hôm nay tôi lại có mặt trong khu rừng Lá này, không phải để nghe như các hành khách xe đò ngày xưa những tuyên truyền của VC - giống như những giáo điều bài bản rập khuôn và rỗng tuyếch mà tôi đã phải nghe mười mấy năm nay - mà chính tôi và những người tù đồng cảnh ngộ đang sống ngay bên trong trại giam của họ dựng lên tại nơi này.


Dầu sao thì tôi cũng đã vào đến trong Nam và điều thực tế là gần gia đình hơn và khí hậu miền Nam cũng ôn hòa hai mùa mưa nắng sẽ tốt và thích hợp cho sức khỏe chúng tôi nhiều hơn.


Một điều đáng mừng là gia đình cũng bớt vất vả ngược xuôi từ Nam ra Bắc trong những chuyến thăm nuôi đã như là huyền thoại vào tận rừng sâu núi thẳm để tiếp tế cho chúng tôi.


Một điểm nữa, không hiểu sao khi vào đến đây thì trong tôi niềm hy vọng lại chợt loé lên hình ảnh một ngày trở về sẽ không còn xa nữa- nghĩa là tôi sẽ có một ngày nào đó được trở lại thành phố Sàigòn, cái thành phố mà tôi đã phải u buồn trong câm nín, đau buồn trong tang tóc mà lặng lẽ bỏ nó ra đi cái ngày mà miền Nam vừa mất vào tay kẻ thù phương Bắc.


Miền Nam, hai tiếng đó như một cái gì thật là gần gũi và yêu thương mà sau mười hai năm lưu đầy xa vắng, nay tôi mới có dịp quay về để hít thở lại bầu không khí ấm áp này.


Tôi đang miên man suy nghĩ thì đã bước đến cửa buồng và quay về thực tại vì các tiếng động ồn ào, tiếng nói lao xao của các bạn. Chúng tôi thẩy các ba lô vật dụng cá nhân lên chỗ nằm rồi đi tìm nước tắm một cái đã, mọi việc khác tính sau.


Buồng giam này cũng giống như hàng mấy chục cái buồng giam mà tôi đã trải qua, mỗi buồng cũng chứa đến sáu chục người. Tụi tôi ở làm ba buồng, hai buồng lớn và một căn nhỏ trên mấy bực tam cấp là dành cho các ông tướng.


Đây là lần đầu tiên từ mười ba năm qua mà chúng tôi, các dân sự hay cấp úy cấp tá, được ở chung cùng một khu, cùng chung một sân, không có bờ tường hay hàng rào kẽm gai ngăn cách với các ông tướng.


Tất cả tụi tôi, những người tù cuối cùng đều tập trung trong khu này trừ một số trong các anh đã ở Hàm Tân trước thì được phái ra ngoài như là tự giác để canh giữ các lán trại hay chăn nuôi gia súc và heo bò tăng gia cho trại.


Phía trước mặt khu vực chúng tôi ở là bờ tường, còn phía bên hông trái là hàng rào dây kẽm gai, chừa ra một cái cổng ra vào, thông ra sân lớn; và phía bên kia sân chạy dọc vào sâu bên trong là các khu dành cho tù hình sự.


Đặc điểm của trại này là có hai khu giam giữ một dành cho tù hình sự nữ và một cho nam.


Trong ba căn buồng giam dành cho chúng tôi, hai căn lớn là sàn xi măng bên dưới và có một tầng trên là sạp gỗ.


Buồng giam ở đây tương đối thoáng mát hơn các buồng giam ngoài Bắc vì có nhiều cửa sổ và trông sạch sẽ hơn nhiều.


Chỉ có căn dành cho các ông tướng thì ngăn ra làm mấy phòng nhỏ và mỗi anh đều có một chiếc giường cá nhân thoải mái để nằm chứ không phải nằm trên sàn.

Nơi dành cho các anh ở là một căn nhà nhỏ trông rất tươm tất, không có hình dáng một buồng giam như chúng tôi đang ở dưới này.


Mấy ông tướng vào những năm sau cùng thì rất là thân, có dịp liên lạc nói chuyện thường xuyên với chúng tôi, và tâm sự nhiều với nhau chứ không còn ngăn cách và biệt lập như những năm đầu khi mới ra Bắc.


Chúng tôi thường gọi mấy ông tướng bằng "anh" chứ không có còn gọi theo cấp bậc chức vụ cũ nữa.


Trong các ông tướng thì chúng tôi quen biết hết vì gập nhau hàng ngày, và thường có dịp thì cùng tham gia văn nghệ chung với anh Lê Minh Đảo, anh Lê Văn Thân.

Tình thân mỗi người mỗi khác nhau nhưng tôi lại thân và kính mến nhiều hơn với các anh Mạch Văn Trường, Trần Bá Di, và anh Tất, mà tôi coi như những người anh lớn và học hỏi được nhiều về cách sống của các anh.


Anh Đảo thì rất văn nghệ, mau mắn và có giọng cười thật là phóng khoáng dễ mến.


Anh vừa đàn vừa hát nhiều bản do anh sáng tác nhưng hay nhất và cảm động nhất vẫn là bài "Mẹ" mà anh làm ra để tặng người Mẹ hiền.


Anh Di thì dáng người cao lớn như anh Trường nhưng gầy hơn, miệng lúc nào cũng nở nụ cười thật tươi khi gập hay trò truyện với anh em chúng tôi. Điểm đặc biệt ở anh Di mà tôi nhận thấy nổi bật là anh lúc nào cũng giữ được tinh thần lạc quan và tinh thần chiến hữu bền chặt với anh em cấp dưới trong tù.


Anh Giai thì dáng hơi gù gù giống như vai hùm của võ tướng thời xưa và nhiều lúc tôi thấy anh hay cười mỉm chi như vừa tìm ra được một điều gì đắc ý vậy khi đang nói chuyện với các đàn em.


Anh Thân thì học được thuật châm cứu của ông thầy người Tầu khi còn ở trại Hà Tây ngoài Bắc.


Ông người Tầu này bị bắt khi đi hái thuốc tại biên giới Việt-Trung và bị khép vào tội gián điệp, và là một ông thầy đã từng cứu giúp nhiều anh em chúng tôi bằng phương pháp châm cứu thật độc đáo.


Những người dân sống tại vùng biên giới Việt-Trung, nếu thiếu thận trọng như ông thầy Tầu này khi mải mê đi hái lá rừng làm thuốc thì rất dễ bị lạc qua địa phận bên kia, và sẽ bị bắt ngay về tội xâm nhập lãnh thổ, dò la hay gián điệp.


Ông là một người có tài châm cứu như thần mà tôi khâm phục vì chính mắt tôi đã mục kích những lần ông chữa đủ thứ bệnh cho các anh em tù nhân chính trị với hai cây kim bạc dài đến gần hai tấc đâm lút vào bụng hay vào sống lưng.


Ông luôn đem theo một họa đồ mà tôi rất thích ngắm nghía nhưng chẳng hiểu gì cả vì đầy những huyệt đạo trên cơ thể con người để chỉ dẫn thêm cho anh Thân.

Ngoài tài về châm cứu ra, anh Thân còn có biệt tài về thổi ống sáo.


Buổi chiều khi đi lao động về, sau bữa cơm đạm bạc, tôi thường ngồi trên chiếc ghế đá trong sân trước buồng để hưởng một chút thanh tịnh của một ngày sắp tàn.


Những khoảng thời gian đó là lúc anh Thân bắt đầu lấy ống sáo ra và tiếng sáo của anh bay từ căn nhà trên bực tam cấp đó vi vu thoảng trong gió chiều xuống buồng chúng tôi làm tôi thấy tâm hồn mình lâng lâng một cảm giác mênh mang khó tả trong ánh chiều tà.


Tiếng sáo ấy chắc không thể đem ra so sánh với tiếng sáo của Trương Lương ngày xưa vì hai hoàn cảnh khác nhau nhưng để lại trong tôi những cảm xúc buồn vui lẫn lộn.


Lúc anh thổi, đầu anh hơi cúi xuống như đang để hết những tâm sự của mình vào trong tiếng sáo nên khi nghe dù là tôi nhìn thấy anh hay không nhìn thấy anh chăng nữa, trước mắt tôi vẫn hiện rõ một khuôn mặt hiền hậu xương xương nuớc da sạm nắng với nụ cười mím luôn trên môi và đôi mắt hiền lành nhưng luôn vương vấn một nỗi niềm u uẩn khó tả.


Có lúc tôi nghe tiếng sáo mà thấy lòng mình vui theo, nhưng nhiều khi tiếng sáo ấy thật buồn da diết như lời trần tình của một vị tướng, một chiến sĩ đã không làm tròn được bổn phận giữ nước của mình và đã sa vào trong tay giặc.


Đôi khi tôi chạy lên phòng để nói với anh rằng anh thổi sáo thật tuyệt vời dù là anh học chưa bao lâu, những lúc đó anh chỉ cười, nụ cười hiền hậu cám ơn, nụ cười mà không bao giờ xóa nhòa trong trí nhớ của tôi.


Có khi tôi lại không có can đảm nghe thêm nữa và bỏ vào trong buồng lên chỗ nằm tìm cuốn sách để đọc bởi vì tiếng sáo ấy lướt đi như làn gió nhẹ bay bay trong không trung của mấy buồng giam chúng tôi như đã khơi dậy trong tôi niềm đau sâu kín trong lòng về thân phận tù đầy của mình, về sự tan vỡ của gia đình, về niềm nhớ không nguôi thành phố mang tên Sàigòn, về tương lai có nhiều hứa hẹn hơn nhưng vẫn còn xa vời.


Anh Trường thì thân với tôi như anh em khi còn ngoài Bắc vì chúng tôi đều chung một thầy học đạo. Thầy Tâm đã nhận anh Trường và tôi làm đệ tử. Thỉnh thoảng tôi lại có dịp ăn bữa cơm chay với thầy, anh Trường và cả ông Xoàn nữa do thầy nấu nướng và chế biến; trong khi ăn thầy thường kể những câu chuyện về đạo Phật trong đời sống dân gian ngày trước rất là hay và thật lạ lùng.


Tôi cũng có một kỷ niệm đáng nhớ với anh Trường khi ngoài Bắc họ loan báo đổi tiền. Anh từ bên buồng giam của mấy ông tướng đưa cho tôi hai trăm đồng qua bờ tường để nhờ tôi đổi dùm. Lúc đó dù là ở Nam Hà cũng đã thoải mái hơn, nhưng các anh vẫn bị hạn chế nhiều trong bốn bức tường ít tiếp xúc với bên ngoài bằng tụi tôi, cho nên tiền bên các anh đều phải tuồn qua bên chúng tôi để tìm cách đổi cho kịp.


Chúng tôi trong buồng bèn gom tiền lại nhờ anh H. là tự giác đi ra ngoài trại qua đám cán bộ nhờ đổi dùm - nhưng không may hôm đó họ khám tất cả mọi người ra vào trại kể cả tự giác và trật tự nên anh H. bị tịch thu hết số tiền mang ra.


Tối hôm đó tôi nằm mơ thấy mình mặc một bộ quần áo rất sạch sẽ, áo sơ mi và quần tây mầu trắng thì đột nhiên có một con gà từ buồng bên cạnh chạy qua và nhẩy vào người tôi rồi loang đầy máu đỏ lên chiếc quần trắng đó. Tôi vội hất con gà ra nhìn cái quần bị vấy máu thì giật mình tỉnh dậy. Có thể là một điềm xấu.


Sáng dậy, tôi bèn đem giấc mơ ra hỏi thầy Tâm thì thầy không nói gì chỉ bảo tôi ráng niệm Phật và thầy cũng sẽ cầu nguyện cho.


Chiều hôm đó trực trại kêu mười mấy người trong đó có tôi qua khu bên Văn Hóa "làm việc". Chúng tôi được biết là phải viết kiểm điểm vì lưu trữ tiền "ngân" vi phạm nội quy của trại. Lúc đó tôi mới hiểu là giấc mơ đã báo cho điềm không hay. Tôi viết và nhận số tiền hai trăm đồng là của tôi vì không muốn họ làm khó dễ anh Trường vì sao anh cũng là cấp tướng còn tôi dầu sao chỉ là phó thường dân.


Họ thu hết các bài kiểm điểm đem ra khỏi trại, tịch thu hết tất cả số tiền lần đó nhưng rất may là sau đó vụ này từ từ êm đi. Tiền đi thay cho các tai ương khác như ông bà thường nói chăng.


Tôi nhắn với anh Trường là số tiền đã bị tịch thu rồi và tôi nhận số tiền hai trăm ấy là của tôi và xin lỗi anh đã không làm tròn lời hứa nhưng anh rất vui vẻ và không trách cứ gì tôi cả.


Anh Trường cũng như anh Hai Hầu đều lớn tuổi hơn tôi nhiều và coi tôi như người em trai. Anh Trường được thả ra sau hơn mười sáu năm tù, khi anh ra về tôi có ra gập anh nói chuyện chốc lát và anh siết chặt tay tôi cũng vẫn với nụ cười tươi và tiếng nói rổn rảng. Anh vẫy tay chào mọi người còn lại và nói mong sẽ sớm gập lại hết các anh em ở Sàigòn một ngày không xa.


Tình chiến hữu ngày xưa quyện vào tình những người tù đồng cảnh ngộ hôm nay nhất là cùng ở tù với nhau trong giai đoạn cuối này đã trở thành một thứ tình cảm gắn bó không khác gì anh em một nhà.


Trong những lần trại có đợt thả như vậy, và mỗi khi nhìn thấy các người tù được ra về thì tôi lại mừng cho các bạn mình . Tôi mường tượng ra cảnh họ tối nay sẽ đoàn tụ quây quần bên bữa cơm gia đình với nụ cười trong nước mắt, nghĩ về mình còn ở lại thì tôi không khỏi buồn và thấy thật nhiều trống vắng trong tâm hồn vì mất một số bạn hữu không biết bao giờ gập lại? Buồng giam càng ngày lại càng buồn tẻ hơn người càng lúc càng thưa dần.


Dầu sao mười mấy năm trong tù cũng tôi luyện cho tôi quen dần đi với những đợt thả không có tên mình.

Lúc đầu khi họ kêu ra sân ngồi tập hợp lại để nghe đọc tên, tôi rất hăng hái đi ra với hy vọng có tên mình trong danh sách được thả, nhưng bao lần tên tôi như bị lãng quên, nên riết rồi tôi cũng chán và mỗi lần như vậy lại cáo ốm nằm trong buồng vì biết chẳng bao giờ có tên mình.

Vả lại nghe thấy tên các bạn thân thì bên cạnh niềm vui cho bạn là nỗi chán chường của người còn ở lại.


Nỗi chán chường này bắt nguồn từ tình bạn như thường ăn cơm chung, cùng chia sẻ những nỗi mệt nhọc trong các giờ lao động ngoài nắng mưa hay những buổi chiều dạo bước trên sân tâm sự với nhau, thì đột nhiên họ có tên ra về để lại tôi ngồi ăn một mình, không ai tâm sự, là một trống vắng một nỗi buồn da diết trong tâm hồn khó bù lấp ngay được.


Thời gian vẫn lặng lẽ trôi qua, thấm thoát mà chúng tôi đã vào Nam được một năm. Khi vào đây tôi mới biết là trong Nam cũng còn giam giữ chưa thả hết tù chính trị chế độ cũ.


Chín mươi người chúng tôi từ trại Ba Sao Nam Hà là những người tù cuối cùng trên toàn đất Bắc chuyển trại vào Nam tháng Năm năm một chín tám tám.


Trong Nam lúc ấy, trại Hàm Tân còn khoảng hơn sáu mươi người nữa là những người tù cuối cùng còn lại ở miền Nam hợp lại với nhau thành khoảng một trăm năm mươi tư người tù chính trị là những người tù cuối cùng trên toàn quốc đang bước qua năm thứ mười bốn.


Một trăm năm mươi tư người tù đó là số sau cùng còn lại của hàng triệu người đã bước chân vô các trại giam tập trung kể từ sau khi miền Nam rơi vào tay Cộng Sản phương Bắc.


Khi toán tù từ Bắc nhập vào toán trong Nam, có những người bạn cùng đơn vị ngày xưa lưu lạc giang hồ bao nhiêu năm trời và qua bao nhiêu là trại giam từ Nam ra Bắc rồi từ Bắc vào Nam, bỗng chốc hội ngộ nhau tại Hàm Tân Z-30D mới biết là bạn mình vẫn còn ở lại đây, giống như bài hát:


-"Anh ở đây bạn bè anh cũng ở đây, áo rách xác xơ thân gầy cùng nhau chung kiếp lưu đầy...chiều chiều ra trông đàn én kiếm mồi thấp thoáng bay qua. Toa liền toa tầu đi trong bóng hoàng hôn, tiếp nối những dư âm buồn thành thơ ray rứt tâm hồn..."


Chúng tôi gập lại nhau mừng rỡ một phần vì những giai đoạn cam go nhất trong cuộc đời tù tội hầu như đã qua và trong cái không gian dù còn nhiều tù túng và hạn chế này nhưng niềm hy vọng đã lóe sáng lên cho một ngày trở về.


Tuy nhiên, không ai biết rằng và chúng tôi cũng không ai ngờ rằng phải chờ đến bốn năm sau nữa thì họ mới thả hết hơn một trăm năm mươi người tù này làm nhiều đợt nhỏ lớn khác nhau.


Mặt khác ở bên ngoài xã hội, năm một chín tám chín thì Mẹ và hai em út của tôi được ra đi đoàn tụ qua Mỹ theo chương trình ODP mà anh thứ Ba tôi đã bảo lãnh từ 11 năm trước. Chắc chỉ có trong các nước Cộng Sản thì việc xin ra đi nước ngoài cho người dân mới bị làm khó dễ và thủ tục lâu la đến 11 năm như vậy. Năm sau, một chín chín mươi thì vợ chồng Tuyết em gái kế tôi là cô Năm ra đi cũng theo chương trình này qua California.


Năm một chín chín mốt thì đến lượt gia đình Khánh, em gái tôi là cô Sáu rời khỏi VN qua Mỹ là chuyến chót.

Kể cả vợ chồng Thu, em gái tôi cô Bẩy đi vượt biên mười mấy năm trước nữa thì gia đình anh thứ Hai tôi là độc nhất còn ở lại Sàigòn.


Những người trụ cột cho việc thăm nuôi tôi trong tù bao nhiêu năm qua đã lần lượt rời quê hương qua Thái Lan trên đường qua Mỹ định cư. Lúc đó chỉ còn hai con tôi đảm nhận vai trò đi thăm nuôi tôi trên những chuyến xe đò của ông Tô mà thôi.


Cùng lúc đó thì bên ngoài kể từ đầu của thập niên chín mươi niềm hy vọng, nỗi mong đợi bấy lâu là chương trình H.O đã bùng lên thành sự thật một cách rạng rỡ (là chương trình Nhân Đạo: Humanitarina Operation của chính phủ Hoa Kỳ dành cho các gia đình có thân nhân đã ở trong trại giam tập trung từ ba năm trở lên được đi định cư tại Hoa Kỳ.)


Một mặt thì trại vẫn thả nhỏ giọt những người tù, một mặt thì bên ngoài các chương trình H.O 1, H.O 2, H.O 3... vẫn tiến hành đều đặn, cứ vài tháng lại có một đợt H.O ra đi.

Trong khi đó thì chúng tôi những người tù cuối cùng vẫn còn bị giam giữ trong bốn bức tường của Z-30D Hàm Tân, tỉnh Thuận Hải.


Tâm trạng vui buồn lẫn lộn của những người còn lại ít ỏi đó thật là khó mà diễn tả được. Thỉnh thoảng, chúng tôi lại nhận được tin từ thăm nuôi vào cho biết những gia đình H.O nào đã lên máy bay qua Thái Lan, gia đình nào đang chờ đợi chuyến bay.


Một trong những niềm vui và an ủi là một số các bạn tù được ra về những năm trước nghe chúng tôi đã về Nam nên vào thăm mua quà và cả két bia nữa, nhân dịp cũng để từ giã chúng tôi luôn vì các anh đã có tên trong danh sách H.O sắp lên máy bay qua Mỹ định cư cùng gia đình.

Khi ra khu thăm nuôi gập lại nhau thì không nén được niềm xúc động.


Cuộc đời nhiều lúc cũng khó mà lý giải được vì các người bạn đứng đây lúc trước đều là tù nhân như nhau nhưng bây giờ chúng tôi còn trong trại giam mà các bạn đó lại sắp bước vào cuộc đời tươi sáng trên phần đất Tự Do.


Chỉ có thể tin rằng con người ta mỗi người đều có số mạng khác nhau, hay khi mà nghiệp lực đã hết thì thong dong ra về, người nghiệp lực chưa hết thì còn ở lại mà thôi.


Trong hơn ba năm kể từ một chín tám tám, trại chỉ thả số lẻ là năm mươi tư người làm nhiều lần khác nhau, trong đó có nhà văn quân đội PNN ra trại năm chín mươi, cho nên đến đầu năm một chín chín hai thì tổng số còn lại là một trăm người.


Số một trăm người này lần lượt ra khỏi trại làm ba đợt: tháng Giêng, tháng Hai và cuối tháng Tư đầu tháng Năm.

Đợt thứ nhất gồm 42 người trong đó có các anh Lãm, Tỷ, Diễm, Chương "Tây Ninh", Tống, Điền, Nghi, v.v.


Nhắc đến anh Tỷ thuộc Phủ Đặc Ủy thì mới thấy con người ta sống chết quả là có số mạng, cái chết nhiều khi đến thật dễ dàng nhưng có lúc gập bao tai nạn bệnh tật mà vẫn thoát lưỡi hái của Thần Chết thật kỳ diệu.


Khi còn ngoài Bắc, tôi nằm cùng sàn trên với anh Tỷ, một buổi sáng thức dậy, anh đứng lên để tháo cái dây cột mùng ra khỏi sợi dây kẽm thì có lẽ chóng mặt hay sao đó anh mất thăng bằng nên té từ trên độ cao hơn hai thước, đầu cắm xuống đất.


Bên dưới là các thùng gánh nước bằng sắt, đầu anh đập vào đúng một thùng sắt tây đầy nước, nhưng rất may là tối hôm trước không hiểu anh nào đã đậy thùng nước với cái chậu thau nhôm chia cơm; nhờ có chậu thau đó mà anh đã không bị bể đầu. Cái chậu thau đó như một cái đệm đã cứu mạng anh.


Mọi người đều hỏi anh cần đi bệnh xá không thì anh nói là không sao chỉ choáng váng thôi và một hai ngày sau thì thấy anh bình thường trở lại không có biến chứng gì nguy hiểm.


Khi mới vào Hàm Tân khoảng hai năm thì một buổi tối anh Tỷ đau lăn lộn tại chỗ nằm, chúng tôi đứng chung quanh cũng bối rối chưa biết làm sao và không hiểu nguyên nhân gì mà anh đau dữ dội như vậy, may có anh Nhơn nhanh trí chạy qua bên bệnh xá mời một bác sĩ (anh là BS cũ tại bệnh viện Sàigòn ngày trước và bị bắt sau này vì vụ án "âm mưu lật đổ chính quyền"). Qua chẩn đoán vị BS này nghi là sưng ruột dư nên kêu cấp cứu.


Vì thiếu phương tiện hay người tù không được ưu tiên hay sao nên anh Tỷ chỉ được một tay cán bộ chở bằng xe gắn máy từ đó trên con đường sỏi rất là xóc cả cây số mới ra tới ngoài lộ trên đường đến bệnh viện.


Dù ngồi đằng sau xe gắn máy xóc cả tiếng đồng hồ như vậy nhưng rất may là vẫn còn đến bệnh viện kịp, vì nếu để lâu cái ruột dư mà bị bể ra thì theo anh BS - có thể gây tử vong.


Khi mổ thì phòng mổ mở cửa sổ và bụi bậm tha hồ bay vào phòng chẳng có phương thức khử trùng gì cả. Sau khi ca mổ xong thì nhà thương họ bôi đầy mật ong lên vết mổ nói là để sát trùng vì không có thuốc. Vậy mà anh vẫn sống ngon lành.


Đợt thả lớn thứ nhì là sau Tết vào ngày 20 tháng Hai với 38 người trong đó có PKNiệm, TQ Lựu, Tấn "bầu", HĐ Sung hay "Sung Bụi", đại tá PV Phô, LM Sơn, LT Lạt, BQ Nghĩa (cũng là bạn cờ tướng của tôi đã từng đấu với nhau bất phân thắng bại trong mấy năm ở trại này).

Số tám chục người ra khỏi trại vào hai đợt đầu năm một chín chín hai này là những người tù đã bước sang năm thứ mười bẩy.


Vào cuối tháng Hai sau hai đợt thả ấy thì tổng số những người tù trong trại giam Z-30D còn lại đúng hai mươi người, trong đó có tôi.


Danh sách hai mươi người cuối cùng còn sót lại bao gồm bốn ông tướng là Lê Minh Đảo, Lê Văn Thân, Đỗ Kế Giai và Trần Bá Di, mười lăm anh em nữa là hai anh Bửu Uy và trung úy Thắng trong Phủ Đặc ủy; ba cảnh sát là hai trung tá NH Hải, TV Xoàn, thiếu tá PT Ngưu; người về từ Việt Nam Thương Tín Hoàng Hiểu; thiếu úy PRU trinh sát tỉnh Hòa "điếc"; anh Miên "hồi chánh viên"; ANQĐ là đại tá Sảo, Hãn, trung tá Hiếu, Kiên, thiếu tá Mẫn; lực lượng đặc biệt là thiếu tá LH Minh, nhà văn Thảo Trường TD Hinh và tôi thuộc tòa đại sứ HK.


Hai mươi người cuối này được "biên chế" vào hết đội 23 còn đội 20 trước kia được "giải thể".


Từ đó thì tôi đi lao động chung với các vị tướng và đại tá đàn anh trong lúc sinh hoạt của đội 23 hoàn toàn khác hẳn vì ra lao động chỉ còn lấy lệ mà thôi. Chúng tôi đi ra ngoài để tăng gia về rau xanh, trồng bí mướp, khổ qua cho bữa ăn có thêm dinh dưỡng chứ không còn phải lao động nữa.


Có nhiều anh thì đi câu cá hay nấu nướng, viết thư cho gia đình. Tóm lại là chế độ cưỡng bách lao động từ mười mấy năm qua dành cho chúng tôi nay đã cáo chung và hầu như họ thả lỏng cho những người còn sót lại của đội 23 này được thoải mái như thể chỉ còn sống trong trại để chờ ngày về mà thôi.


Thời gian này quả thật so với quãng đời lưu đầy ngày trước thì khác nhau thật xa, tôi không còn cảm thấy không khí tù tội chung quanh mình, không còn cảm thấy những cảm giác nghẹt thở của trại giam, tuy nhiên tôi không khỏi băn khoăn vì chúng tôi còn lại quá ít, hai mươi người sống bên cạnh hàng ngàn tù hình sự đủ loại tội trạng.


Hàng rào kẽm gai được đẩy lùi thêm vào trong và khu vực của chúng tôi thu hẹp lại vào một góc nhỏ gồm căn nhà dành cho bốn ông tướng và mười mấy anh em chúng tôi sống trong nhà kho sửa laị thành phòng ngủ; và lần đầu tiên trong cuộc đời tù tội, chúng tôi mỗi người có một chiếc giường cá nhân đàng hoàng giống như bốn đàn anh trên căn nhà kia.


Nghĩ lại tôi mới thấy các giấc chiêm bao khi xưa còn lưu đầy ngoài Bắc thật linh ứng. Như giấc mộng chiêm bao của thầy tôi ngoài Bắc khi còn ở trại Nam Hà, thầy đã thấy tôi là một trong những con cá cuối cùng còn quẫy đuôi nằm thoi thóp trên lòng sông mà nước đã trơ cạn đến đáy.


Và hệt như giấc mộng, cánh cửa tù đã đóng lại sau lưng chúng tôi hai mươi người tù cuối cùng vào cuối tháng Tư và đầu tháng Năm năm một chín chín hai. Như giấc mộng rất linh hiển tôi đã nằm mơ khi mới ra Bắc - thấy một vị Thánh Mẫu hiền hậu và uy nghiêm ngồi trên ngai và Ngài đã phán cho tôi ngay từ lúc đầu rằng: "Cộng Sản nó không bao giờ muốn thả anh đâu, nhưng rồi cuối cùng họ cũng phải thả".


Điều mà Ngài phán đã ứng nghiệm với những người tù cuối cùng - dù đã phải trải qua bao gian truân, cay đắng và tủi nhục suốt mười bẩy năm trời dài đằng đẵng đó nhưng họ vẫn luôn luôn nuôi dưỡng một niềm hy vọng hòa lẫn niềm vui tự hào rằng mình đã sống sót và có mặt trong ngày trở về.



Phần XXII: Ngày Trở Về (2)



Cuộc sống của chúng tôi trong bốn năm tại Hàm Tân Z-30D có nhiều cái mới lạ và cũng nhiều cái khó hiểu.

Mới lạ vì trước đó chưa hề xẩy ra bao giờ trong mười mấy năm lưu đầy thí dụ như chúng tôi được ưu đãi trong vài phương diện hơn hẳn tù hình sự. Khó hiểu vì sau hai đợt thả lớn vào tháng Chín một chín tám bẩy và Tết đầu năm một chín tám tám tại trại Ba Sao Nam Hà thì việc thả tù đột nhiên ngưng lại, rồi việc chuyển hết chín mươi người tù cuối cùng ngoài Bắc bằng xe lửa vào miền Nam. Tại sao không thả hết ở ngoài Bắc đi vì số lượng chỉ còn chín mười người tù mà phải chuyển trại họ vào Nam rồi thả rải rác đến bốn năm nữa mới xong? Chúng tôi chỉ có thể nghĩ rằng Cộng Sản - những người từ trong hang núi ra chiếm lấy thành phố - họ có cách suy nghĩ tính toán riêng của họ mà thôi.


Khi vào đến Hàm Tân tỉnh Thuận Hải, tổng số lên tới hơn một trăm năm mươi người tù chính trị cuối cùng còn lại trên toàn quốc đã hội tụ ở đây, nếu Hà Nội muốn thả thì quá dễ, cao lắm chỉ vài tháng là xong.


Thế nhưng chúng tôi đã lầm, vấn đề thả tù vẫn nhỏ giọt như thể phía Bộ Nội Vụ đang chờ đợi một cái gì từ phía Tây Phương hay nói rõ hơn là từ phía Hoa Kỳ thì mới mở cổng ra để thả hết tù .


Bởi vậy có sống với Cộng Sản thì mới hiểu Cộng Sản, và khi nào bước chân ra khỏi nhà tù thì mới biết là ra khỏi trại giam, hoặc khi bước chân về ngưỡng cửa nhà mình thì mới biết là đã về đến nhà - vì trại giam họ có thể dễ dàng nại ra bất cứ lý do nào đó để giữ người tù ở lại.

Cho nên người tù còn trong tay họ thì không có một cái gì là chắc chắn cả.


Một cái khó hiểu nữa là tình hình lao động nặng nề mà trại giao cho chúng tôi ngay từ khi mới chân ướt chân ráo vào Hàm Tân, nếu so với điều kiện sinh hoạt rất cởi mở dành cho chúng tôi là tù chính trị thì hai trạng thái này hoàn toàn trái ngược nghịch lý với nhau.


Việc lao động căng thẳng mà trại áp dụng từ phía hình sự qua cho chúng tôi đã làm chúng tôi hao hụt nhiều sức khỏe. Một điểm khác nữa về lao động là tù nhân ở miền Bắc một ngày xuất trại hai lần sáng và chiều ra khu lao động và trưa thì về trại nghỉ ngơi, còn ở Hàm Tân thì đi lao động nguyên ngày, xuất trại buổi sáng, trưa nghỉ tại lán để lao động cho đến chiều xong rồi đi tắm suối.


Bên hình sự thì đa số còn trẻ trong lứa tuổi hai ba mươi, nhưng chúng tôi người trẻ nhất cũng đã ngoài tứ tuần và cao niên là trên lục tuần cả rồi nên bắt lao động như thế trong giai đoạn này là một sự cưỡng bức không thể chấp nhận được. Trong lúc đó thì trại lớn tiếng tuyên bố là các anh về đây để chờ được thả và trại "tạo điều kiện" cho các anh được mau về với gia đình là điều vô lý.


Chính vì thế mà đã bùng nổ ra một cuộc biểu tình của đội 20 chống lại cái lao động khổ sai đó. Toàn thể anh em trong đội đã phản đối bằng cách không di chuyển nữa ngay trên đường ra khu lao động mới xa tới vài cây số đi bộ, nơi mà anh em phải trồng các loại hoa mầu và cây công nghiệp cùng với các đội tù hình sự.


Mọi người đều đồng lòng ngồi nghỉ trên cái cán cuốc của mình, hút điếu thuốc hay nói chuyện với nhau một cách bình tĩnh, trước con mắt vừa tức tối vừa ngạc nhiên của tay quản giáo là Hợp "chuột", anh em trong đội đặt cho anh ta bí danh này vì khuôn mặt giống chuột nhắt, dáng hay loắt choắt, và luôn rình rập chúng tôi tại các khu vực lao động.


Cuối cùng thì phải tạ Ơn Trên vì phía trại họ đã nhượng bộ cho chúng tôi được về lại khu lao động cũ gần hơn, và áp dụng chế độ lao động mới nhẹ nhàng hơn. Đội 23 là đội dành cho các anh trên 55 tuổi cũng lao động trong khả năng của mình chứ không còn thúc bách như trước nữa. Chúng tôi đều thở ra một cách nhẹ nhõm vì không ngờ mình đánh một nước cờ liều thí xe mà thắng được ván cờ đang vào chỗ bí.


Sự kiện này là một biến cố lớn trong lịch sử của trại tù Hàm Tân vì họ chưa bao giờ nhượng bộ tù hình sự hay chính trị lần nào. Điều đó cho chúng tôi một bài học là nếu biết tranh đấu đúng thời điểm thì chúng ta sẽ thành công.


Đúng vào thời điểm bấy giờ ở bên ngoài, tù chính trị đang chuẩn bị ra đi theo chương trình H.O., và có lẽ trại biết rằng chúng tôi cũng sẽ lần lượt ra về chứ không phải ở mãi trong tù để làm công cụ sản xuất lao động cho họ hoài được. Chính vì thế mà họ xả luôn cả về mặt lao động.


Bên cạnh cái chông gai lao động mà chúng tôi vừa tranh đấu thắng lợi là những nét mới lạ độc nhất vô nhị của trại Hàm Tân.


Trước hết, là sự thoải mái trong nếp sống và cách thức sinh hoạt của trại giam này dành cho chúng tôi.

Ngoài việc được ăn mặc thường phục ở trong trại hay khi ra ngoài lao động là sự sử dụng tiền mặt một cách tự nhiên mà họ gọi là tiền "ngân", như khi ra mua thức ăn gì tại "căng tin" thì móc túi trả tiền mặt một cách công khai chứ không phải nhìn trước nhìn sau. Tôi cũng bắt đầu làm quen với loại tiền giấy của họ trong lúc mua bán.

Nhớ lại lần đi lưu diễn đến trại giam hình sự tại Cây Số 60 ở Hà Sơn Bình gần mười năm trước, lúc lấy tiền ra để trả cho cô chủ quán ấm trà và gói thuốc lào thì tôi lúng túng mãi không biết đồng nào là một hào hay mười hào, năm chục hào và đành chìa ra hết để cô chủ quán lựa lấy cho đủ số tiền.


Trong bốn năm này, dù vẫn phải xuất trại hàng ngày ra lao động với cuộc sống đều đặn và nhàm chán như tiếng tíc tắc của kim đồng hồ, nhưng riêng tôi có một cảm giác rất lạ lùng rằng thân mình tuy còn trong tù nhưng Tâm của mình đã vượt được ra khỏi vòng rào của tù tội, và như thể bốn bức tường chung quanh không còn khả năng vây hãm, không còn khả năng gây khốn đốn cho chúng tôi nữa.


Như thể những nặng nề u ám, những lớp mây mù dầy đặc phủ chụp lên chúng tôi bao nhiêu năm qua đã dần tan biến đi để lộ ra một ngày mai tươi sáng trong ánh nắng hanh vàng.


Có thể rằng khi cái Nghiệp lực đã lùi ra xa thì mọi việc đều hanh thông chăng. Ngay cả những tay tự giác hay trật tự của trại thường liên lạc với chúng tôi cũng là những anh thuộc viên chức hay sĩ quan chế độ cũ trong nhóm tù cuối cùng hay bị bắt những năm sau ngày Sàigòn sụp đổ cho nên mấy anh trật tự cũng dần dần thành thân quen, và không khí trở nên dễ chịu nhiều.

Các cụ thường nói quan xa bản nha gần quả là đúng vì lấy được cảm tình của các anh trật tự này -giống như tấm đệm giữa chúng tôi và cán bộ trại- thì mọi việc trong sinh hoạt cũng thuận lợi hơn.


Bên cạnh đó, tại khu thăm nuôi, những tay cán bộ phụ trách thường tỏ ra thông cảm và dễ dãi chứ không tìm cách làm khó dễ, hạch sách người tù khi cho họ ra thăm thân nhân như ở các trại giam ngoài Bắc.


Tôi thấy các chị khi nói chuyện với những cán bộ này thì rất là tự nhiên hoặc xã giao, cho họ bao thuốc lá "ngoại" hay gói thuốc lào ba số tám một cách công khai và có thể nhìn thấy sự vui mừng của những cán bộ hay các anh trật tự khi được các chị cho quà.


Tôi tin là phía cán bộ phụ trách đã được chỉ thị từ cấp trên của họ để mở cửa cho việc gia đình đến thăm chúng tôi tại Hàm Tân, bỏ đi những thủ tục rườm rà hay quy định hạn chế ba tháng mới được thăm một lần.


Khi cần các chị có thể vào thăm các anh hầu như bất cứ lúc nào và càng về sau thì khu thăm nuôi càng tiếp đón các người vợ tù này và gia đình một cách thân thiện hơn, thêm vào đó chính những người vợ tù đã khiến cho khuôn mặt của khu thăm nuôi trở thành náo nhiệt và vui tươi.


Một đặc biệt trong sinh hoạt của người tù trong ba năm đầu tại Hàm Tân là buổi tối thì mãi đến chín giờ mới đóng cửa buồng giam để cho chúng tôi có thì giờ nhiều hơn, đi ra sân, ngồi uống trà với nhau hay đi bách bộ hít thở không khí trong lành, trong khi phía hình sự thì vẫn sáu giờ là đóng cửa buồng.


Sự cởi mở này còn được nới ra hơn nữa khi họ thả gần hết và chỉ còn lại hai mươi người, số tù chính trị ít ỏi cuối cùng . Trại đã lấy lại hai buồng giam lớn để giam tù hình sự và cho chúng tôi qua bên nhà kho làm buồng ngủ với giường cá nhân cho mỗi người và chỉ có hai cánh cửa ra vào nhưng không có khoá.


Mỗi tối, chúng tôi đều nhớ khoảng chín giờ thì mười mấy người trong căn phòng nhà kho bảo nhau rút vào trong rồi khép hai cánh cửa lại trước khi lên giường. Nếu quên thì có vài cán binh đi tuần ngoài hàng rào bên khu hình sự lại nhắc chúng tôi vào buồng bằng cách ra dấu một cách nhẹ nhàng.


Năm một chín chín mươi, cả trại giam giống như một xã hội nhỏ cũng lên cơn sốt về giải Túc Cầu Thế Giới và lần đầu tiên nửa đêm trại cho mở cửa hai buồng giam cho anh em chúng tôi ra xem các trận tranh tài này trên truyền hình.


Tôi nhớ anh Dậu Trung Tá Mũ Xanh ngày xưa, cũng thích Túc Cầu, và tôi cùng vài người bạn ngồi uống trà với nhau chờ nữa đêm ra xem chứ không ngủ. Điều này nói lên phía bên họ không còn lo sợ việc trốn trại và phía chúng tôi cũng thấy được là vào đến Hàm Tân thì ngày về không còn xa nữa.


Điều làm cho tôi có lẽ vui và tự hào về tù chính trị là các buổi chiếu phim tại hội trường lớn.


Thiếu Tá Nhu là trưởng trại và ông ta đã cho khai thác "căng tin" mua bán với tù nhân và gia đình họ khi đến thăm, và cho bán vé mỗi tối để thâu thêm tiền.


Bên hình sự, cả nam lẫn nữ đều nô nức rủ nhau ra mua vé mỗi chiều khi vừa vào trại để đi xem phim "chưởng" hàng đêm, đa số là phim Tầu kiếm hiệp của Hồng Kông hay Đài Loan. Mỗi tuần, các cán bộ trại lại về Saìgòn để mướn các phim "chưởng" loại này đem về Hàm Tân chiếu thu tiền. Chúng tôi muốn xem tối chiếu phim gì và phim hay dở cứ hỏi các cô cậu bên hình sự là biết hết. Những phim ảnh của phe xã hội chủ nghiã sau này đều bị "dẹp tiệm" chả ai buồn đi coi vì phim đã dở, đóng không hay, mà cốt truyện toàn tuyên truyền khô khan không hấp dẫn được khán giả, trại đã thử chiếu vài lần thất bại đành chuyển hướng kinh doanh qua phim "chưởng" thì đúng là hốt bạc.


Phía chúng tôi thì anh trật tự, cũng là một Thiếu Úy QLVNCH ngày trước thông báo chính thức là "Ban" Nhu mời các bác các anh lên hội Trường xem không phải mua vé. Ban đầu có vài anh còn nghi ngờ nhưng lên hội trường xem thì đúng là không cần vé.


Hầu như mỗi tối ngày thường là có chiếu phim, một nhóm anh em chúng tôi trong đó có tôi và anh Dậu luôn đi cùng nhau, tay phe phẩy cái quạt nan thả bộ về phía Hội Trường. Khi đến cửa, các anh trật tự đang soát vé các đội bên hình sự, nhìn thấy chúng tôi đến thì đều chào hỏi rất lịch sự và bước sang một bên nhường chỗ cho chúng tôi vào hai dẫy ghế đầu dành riêng bên trên, và chỉ một lát sau là cả ngàn hình sự nam nữ ngồi đầy nghẹt hết chung quanh nói chuyện ồn ào như một cái chợ.


Có hôm tụi tôi vào trễ nhưng vẫn thấy hai hàng ghế bên trên còn trống để dành cho chúng tôi chứ tù hình sự vẫn ngồi từ hàng thứ ba trở xuống. Một cử chỉ nhỏ đó cũng đủ cho tôi thấy được là ít nhiều thì trại hay "Ban" Nhu đã tỏ ra nể vì và ưu đãi một chút những người tù cuối cùng này.


Có những lúc vô tình chạm trán tay Thiếu Tá trưởng trại, chúng tôi đều chào ông ta, ông ta chào lại và không tỏ thái độ gì là còn thù hận sự kiện đội 20 đã dám biểu tình chống đối lao động tức là chống lại ông ta - bởi trong trại kể cả tù hình sự lẫn cán bộ dưới quyền, họ sợ ông ta như sợ cọp.


Những kỷ niệm ấy tôi chẳng bao giờ quên được bởi lẽ nó là những gì một thoáng tự hào của người tù chính trị so với tù hình sự, một cái gì cô đọng lại nhất sau mười hai năm lưu đầy phương Bắc.


Giống như Mẹ tôi vẫn thường nói một cách hãnh diện với mọi bà con họ hàng thân quen cũng như nói thẳng với Phường Khóm rằng các con trai của Mẹ đi tù là tù Ông tù Cha chứ không phải tù bình thường; tại địa phương Phường Khóm Trương Minh Giảng ở Sàigòn chúng nó tức lắm nhưng cũng không làm gì được.


Vì có đầu óc kinh doanh và thực tế nên khi về làm trưởng trại Hàm Tân, Thiếu Tá Nhu đã đặt vấn đề kiếm tiền lên hàng đầu, nguồn lợi to lớn đó từ nhiều phía đem lại như các toán khai thác lâm sản, những dịch vụ "căng tin", dịch vụ thăm nuôi và chiếu phim "chưởng" hợp với thị hiếu của đám trẻ tù hình sự nam nữ.


Đó là chưa kể chủ trương của tất cả trại giam trong các nhà tù của Cộng Sản là sử dụng tối đa năng lực của tù nhân nam cũng như nữ, là vắt hết sức lực còn sót lại của họ nhằm mục đích làm tiền thật nhiều cho trại qua những từ ngữ lừa bịp và khuôn sáo như "tạo ra của cải vật chất" cho trại hay "lao động là vinh quang".


Nhưng vì hai chữ "vinh quang" ấy mà hàng ngàn hàng vạn tù nhân đã phơi xác ngoài cánh đồng hay trong trại tập trung vì kiệt sức, vì bệnh tật không thuốc men, vì khẩu phần ăn quá thiếu thốn sau bao nhiêu năm tháng lao động cật lực vì sức khoẻ họ đã bị vắt kiệt.


Nhiều trại đã trở thành giầu có và đám cán bộ chỉ huy tham lam đã có túi đầy tiền, trong đó có trại Hàm Tân Z-30D, nhờ giam giữ thường xuyên một nguồn lao động dồi dào hàng ngàn tù nhân.


Các nữ tù có sắc đẹp ở trại này thì được tuyển chọn để phục vụ ở "căng-tin" và được đi lại khá tự do như những tự giác; mấy cán binh còn tiết lộ là các nữ tù này, đặc biệt một cô đẹp nhất tên M. còn phải phục vụ riêng cho "Ban" Nhu mỗi khi có yêu cầu tại nhà riêng của ông ấy gần đó nữa.


Hàng ngàn tù hình sự nam nữ, đa số là trẻ tuổi đều thích được ra sân sau giờ điểm danh để ăn diện quần áo và nhiều cô có dịp dồi phấn thoa son. Họ thường cặp với nhau thành từng đôi tíu tít nói cười, họ kéo nhau đi mua vé, trò truyện rất là vui mắt. Tôi có hỏi thăm thì được biết đa số nữ vào tù là tội mãi dâm, biển thủ, lường gạt, chỉ rất ít là tội sát nhân; một số nói là họ vô tội nhưng bị dùng làm con vật thí thân đưa vào tù để ém nhẹm việc cấp trên của họ đã biển thủ cả tiền triệu của công ty.


Nhiều tù nữ có bạn trai là tù nam, mỗi buổi chiều ra gập nhau truyện trò với nhau hai mái đầu sát vào nhau trên ghế đá công viên rất là tình tứ và lãng mạn. Nhìn họ vui cười bên nhau một cách vô tư tôi tự hỏi không biết khi vào buồng giam rồi xa cách nhau họ có buồn không? Họ có nghĩ rằng họ là nạn nhân của cái chế độ phi nhân bản này không?


Nếu miền Nam không sụp đổ, nếu chế độ Cộng Hoà còn tồn tại thì những người trẻ ở đây đã là các cô Tú cậu Tú hay sinh viên đại học hay những công nhân viên chức sĩ quan của chính phủ VNCH, những tương lai của đất nước chứ đâu có phải mang thân tù tội oan uổng như vậy.


Cộng Sản quả thật đi đến đâu thì tàn phá và đem hoang tàn đổ nát đến đó. Chúng tôi là những viên chức sĩ quan chế độ cũ đã thất trận nên phải chịu sự trả thù đầy thủ đoạn tàn nhẫn và hèn hạ của kẻ mang danh là chiến thắng chứ các người trẻ tuổi này họ đâu có tội tình gì mà cũng vướng vào vòng lao lý? Chính cái xã hội do chế độ Cộng Sản tạo ra đã đẩy những người trẻ tuổi này vướng vào vòng "pháp luật", đẩy họ xuống hố.


Lòng tôi không khỏi bùi ngùi và thương xót cho những thiếu nữ còn quá trẻ, nét mặt còn thơ ngây mà đã bị rơi vào vòng tù tội. Và bên ngoài trại tù còn có bao nhiêu ngàn thiếu nữ khác cũng đang rơi vào những thảm cảnh tăm tối cùng đường trong một cái xã hội mà nền tảng gia đình đang bị phá hoại, trong một xã hội mà đạo đức đang bị lung lay tới tận gốc rễ bởi Cộng Sản cai trị miền Nam gây ra hàng chục năm nay.


Tôi không thể quên được hình ảnh các em bé vị thành niên khoảng mười đến mười bẩy tuổi trong trung tâm Thanh Xuân ở Hà Sơn Bình ngoài Bắc, là nơi giam giữ các trẻ phạm pháp. Đa số bị bắt vì tội ăn cắp, đánh nhau gây thương tích, một ít vì mãi dâm mà chịu những án tù rất nặng tới ba năm, năm hay bẩy năm, nhưng tựu trung lại thì các em cũng chính là nạn nhân của xã hội chủ nghĩa nghèo đói, bần cùng đã dậy cho con người biết lường gạt, biết ăn gian nói dối để sống còn . Và với chủ nghiã vô thần, các em đã bị nhôì sọ chỉ biết đến Đảng mà thôi, không cần cha mẹ hay nhà thờ và chùa chiền.


Nhiều lần tôi đã gập các em xúm nhau vào ì ạch đẩy chiếc xe "cải tiến" nặng nề chất đầy củi hay hoa mầu trên đường về trại. Xe "cải tiến" là loại xe mà trước kia do bò kéo nay được cải tiến lại để cho người kéo - (vậy mà họ lúc nào cũng hãnh diện là ta nay có xe "cải tiến".) Nhìn các em đi chân đất với thân hình gầy gò ốm yếu, xanh xao mà các em còn cực khổ hơn trâu bò, các em phải nai lưng ra lao động mỗi ngày để làm ra của cải cho trại, lòng tôi không khỏi quặn đau.


Trong thời gian ở Hàm Tân, trong ký ức tôi còn nhớ một trường hợp khá lạ lùng về một cô bé bên đội hình sự bị ma dấu.


Khi đó vào một buổi chiều trong lúc nhập trại thì thấy phía cổng bỗng xôn xao và nhiều người chạy lung tung, hoá ra là một đội nữ thiếu mất một người.


Các cán bộ và cán binh túa ra đi lùng sục tìm kiếm khắp nơi chung quanh khu vực lao động và xa hơn nữa ở ngoài trại và phải mất hàng giờ sau mới lôi được về một nữ hình sự rất nhỏ người và nhỏ tuổi, miệng cô ta đầy đất bùn - nghe nói cô ta bị ma nhát và dấu dưới một gốc cây Buông.


Tôi thì chưa thấy trường hợp ma ám nào nhưng phải công nhận là Thổ Thần rất linh thiêng y như lời thầy của tôi đã chỉ dậy lúc trước là núi có chủ và đất sông ngòi cũng có chủ.


Một hôm trên đường về trại cùng đội 20, lúc đi ngang qua một lùm cây, chiếc đồng hồ đeo tay của tôi bị rơi mất từ lúc nào. Tôi cố tìm chung quanh sân cỏ và trong bụi cây vì biết rằng nó chỉ rơi đâu gần đây thôi nhưng không thấy đâu cả, chợt tôi nhớ lời thầy dậy bảo, tôi cầu xin Thổ Thần, xin cho tôi laị chiếc đồng hồ vì tôi rất cần nó.

Vừa cầu xong thì tôi nhìn thấy cái đồng hồ đang treo tòng teng trên một nhánh cây nhỏ ngay trước mắt tôi, chỗ này tôi đã tìm hai ba lần mà có thấy nó đâu, sao bây giờ nó lại hiện ra lạ kỳ như vậy?


Đây là điều chỉ có thể lý giải bằng tâm linh chứ không bằng khoa học được, cũng giống như nhiều lần vị Thổ thần đã báo mộng trong khu buồng giam hay tại khu thăm nuôi cho một số anh có tên thả về và các anh đều tả vị Thần này như là một cụ già thấp nhỏ người, râu tóc bạc phơ và chống cây gậy trúc.


Nói đến thăm nuôi thì phải công nhận rằng không trại nào qua được Hàm Tân Z-30D bốn năm cuối chúng tôi ở đó.

Việc mở cửa cho thăm nuôi, nhất là cho tù chính trị đã đem lại nguồn lợi mới cho trại. Khu này đã được "thiết kế" với những căn nhà tranh xinh xắn, xa khu trại giam và dành cho các gia đình ở lại. Dọc theo đó là con suối và hai hàng cây tỏa bóng mát rất yên tĩnh. Dãy nhà này được xây dựng lên khi chúng tôi vừa vào đến miền Nam.

Nếu chúng ta tạm thời quên đi thực tế là các căn nhà tranh đơn sơ này tuy ở ngoài bốn bức tường trại giam nhưng vẫn còn nằm trên phần đất của Hàm Tân Z-30D., thì chúng giống như là một khu nghỉ mát với vẻ đẹp thật nên thơ và gần với thiên nhiên.


Nhờ có các người vợ tù vào thăm chồng thường xuyên nên chúng tôi biết được nhiều về tình hình bên ngoài, những kiến thức này rất cần thiết và có thể xem như một sự chuẩn bị cho những người tù trở lại xã hội và gia đình. Đặc biệt tin tức liên quan đến chương trình mà chúng tôi đều đang mong đợi là H.O. - một chương trình nhân đạo có thật của chính phủ Mỹ chứ không là tin đồn đãi như khi chúng tôi còn ở miền Bắc.


Việc thăm nuôi đã diễn ra cả chục năm nay rồi nhưng chưa bao giờ lại nhộn nhịp, chưa bao giờ thực sự đem lại nhiều niềm vui và phấn khởi cho người tù như bốn năm này tại Hàm Tân, có lẽ vì ở gần hơn, phương tiện xe đò thuận tiện hơn cho gia đình đến thăm, và vì chế độ thăm nuôi đã mở ngỏ cho tù chính trị chế độ cũ.


Bởi vậy chúng tôi được thăm nom liên tục, các công sức của người vợ tù như con thoi đi thăm chồng nơi chốn lao tù đã không hề uổng phí vì đem lại cho người tù thêm sức khoẻ cả về thể chất lẫn tinh thần và nhìn những người tù cuối cùng này, tôi thấy ai cũng lấy lại phong độ nhanh chóng và sự tinh anh như trở lại trên khuôn mặt của mỗi người.


Về tướng mạo mà nói thì có lẽ nhờ ý chí phấn đấu không mệt mỏi của họ và nhờ vào lòng thương yêu vô bờ bến của những người vợ trung trinh, của các thân nhân trong gia đình, mà đã giúp những người tù này tẩy xóa dần đi được các nét u ám tù tội đã bám vào người mình từ bao nhiêu năm nay, hay vì họ đã trả xong cái nợ của người dân khi mất nước hay họ đã can trường chiến thắng được bao nhiêu là sự trả thù tàn độc của kẻ thù vừa là kẻ chiến thắng tựa như những ngọn roi sắt quất trên thân hình tiêu tụy của họ?


Điều này làm tôi liên tưởng lúc mới mất miền Nam vào đầu tháng Năm năm một chín bẩy lăm, trong lúc chờ đi tù tập trung "cải tạo" tôi đến thăm gia đình một đồng nghiệp tại Sàigòn thì bà Mẹ của cô là người Hoa biết về tướng số nói rằng sắc diện của tôi lúc đó rất là xấu và ám đen trên khuôn mặt.


Điều bà nói ám chỉ việc tôi sẽ vào tù, điều này cũng dễ hiểu thôi vì tôi và hàng mấy trăm ngàn viên chức sĩ quan chế độ cũ đều đang chờ đợi cái viễn ảnh đen tối không tương lai đó, nhưng chính tôi cũng không ngờ là thời gian đã kéo dài lê thê đến hãi hùng như vậy.


Lúc sa chân vào vòng tù tội và khi đích thực hiểu được thế nào là Cộng Sản, thế nào là chủ nghĩa xã hội thì quá trễ rồi và tôi chỉ còn biết nhìn lên Trời cầu xin Ơn Trên cho mình và các bạn tù còn sống sót để có ngày ra khỏi trại giam mà thôi.


Có ra đến khu thăm nuôi của Hàm Tân, có gập mặt các người vợ tù, nói chuyện tâm sự với các chị thì mới nhận chân được phần nào cái cao quí, sự quả cảm và lòng hy sinh đến tột cùng của người vợ dành cho chồng.


Nếu phải tuyên dương các người vợ tù như chúng ta thường tuyên dương các chiến sĩ QLVNCH anh hùng chiến thắng Cộng Sản từ chiến trường trở về thành phố Sàigòn thì tôi nghĩ rằng chúng ta chưa có một huy chương nào xứng đáng và có đủ ý nghĩa để tặng cho những người vợ tù đáng quí này.


Có lẽ trong lịch sử bốn ngàn năm của dân tộc Việt Nam, chưa có bao giờ mà vai trò người vợ, người phụ nữ Việt lại phải đối phó hầu như đơn độc trước những thử thách to lớn của cuộc sống như dưới ách cai trị vô nhân tính của chế độ Cộng Sản tại Việt Nam sau tháng Tư năm một chín bẩy lăm tại miền Nam.


Nhìn các bạn tù đã trải qua mười mấy năm trong trại giam tôi cũng phải nể sợ sức bền bỉ chịu đựng của họ, nhưng khi gặp các người vợ tù yếu đuối ở khu thăm nuôi và hiểu được các hoàn cảnh gay go cam khổ và bơ vơ trong một xã hội đầy thù nghịch và kỳ thị mà các chị đã phải sống qua bao nhiêu năm khi người chồng đã vào tù, thì tôi không khỏi thốt lên những lời cảm phục đối với các chị.


Quả thật các người vợ tù đã tạo nên một huyền thoại có một không hai trong lịch sử hiện đại, các chị đã viết lên một trang sử đầy những kỳ tích về sức người, về tình nghiã vợ chồng đã giúp các chị vượt lên trên được mọi gian khổ trầm luân và ngăn cách để đi đến được tới hạnh phúc và đoàn tụ ở tận cuối con đường đầy chông gai đó.

Không phải tất cả tù nhân đều có gia đình mà nhiều người vì còn trẻ hay còn mải mê với những công trận của đời lính mà còn độc thân khi Sàigòn thất thủ. Một điểm nữa có lẽ nhìn thấy ngày về không còn xa cho nên thân nhân của các người tù này đã tìm cách cho họ lập gia đình.


Một câu chuyện tình thật đẹp là của một bạn tù rất thân với tôi dù là anh lớn hơn tôi một con giáp.


Gia đình đã đưa một cô giáo ở Sàigòn quen với các em gái của anh lên trại để thăm anh. Cô giáo vốn đã có nhiều cảm tình với anh trai bạn mình, một người hùng của BĐQ ngày trước, một đại tá hiếm hoi của QLVNCH vẫn còn đơn lẻ, nên tuy trong lòng nhiều e thẹn nhưng cô đã quyết định đi theo gia đình đến Hàm Tân thăm anh.


Cả hai như bị tiếng sét aí tình ngay phút đầu gập gỡ giữa trai anh hùng gái thuyền quyên nên sau đó thì cô giáo thay mặt gia đình lên thăm anh luôn và mồi tình đã có một kết thúc hạnh phúc. Một đám cưới đơn sơ và trang trọng có một không hai đã được tổ chức tại nhà của anh tại Sàigòn. Cô dâu trong áo voan cưới mầu trắng bên cạnh họ hàng hai bên nhưng không có chú rể bởi lẽ lúc đó chú rể còn trong trại giam.


Khi được xem tấm ảnh cưới với một mình cô dâu đứng lễ trước bàn thờ gia tiên trong ngày cưới mà không có chú rể, tôi thật là xúc động nhìn anh vừa vui và vừa buồn cho niềm vui chưa được trọn vẹn của anh.


Khoảng một năm sau thì anh được thả về và đoàn tụ trong hạnh phúc bên cạnh người vợ hiền đã kiên tâm chờ đợi anh sau ngày cưới.


Khu thăm nuôi, các mái nhà tranh, các con đường đất sỏi đá rợp bóng mát bao quanh, con suối lững lờ trôi từ phía trước và chẩy siết ở phía sau khu nhà tranh, chiếc cầu bắc ngang qua khu "căng-tin", những chuyến xe đò Sàigòn-Hàm Tân, đã là chứng nhân cho bao nhiêu câu chuyện về tình nghĩa vợ chồng tuyệt đẹp về những cuộc tình thật nên thơ và đẹp như trong mộng của những người tù cuối cùng.


Đẹp như trong mộng vì lẽ chúng tôi ở tù chẳng bao giờ biết được có một ngày nào đó có một người đẹp thương mến mình mà cất công vào tận khu rừng lá Buông để thăm những người chiến sĩ VNCH năm xưa, những tù nhân cuối cùng - những người đã ở tù mười lăm mười bẩy năm sau khi chiến tranh đã chấm dứt. Sự kiện có một người đẹp từ thành phố đến thăm mình sau mười mấy năm là một hạnh ngộ hoàn toàn bất ngờ và lý thú bởi vì chính các tù nhân này tưởng lầm rằng xã hội bên ngoài đã lãng quên mình.


Những người đẹp ấy là các người vợ tù đi thăm chồng, là những phụ nữ với tấm lòng cao cả như cô giáo, là người con gái một thời để yêu và một thời để nhớ có tên là Phượng đã ghé thăm tôi ngày nào bên dòng suối mơ.



Phần XXIII: Ngày Trở Về (3)



Buổi sáng hôm ấy là một buổi sáng mà tôi khó có thể quên được trong cuộc đời của mình.


Một buổi sáng cũng bình thường như mọi buổi sáng trong trại Hàm Tân, nhưng nó đã trở nên khác thường, sáng ngời, đầy ánh bình minh và tràn đầy niềm vui khi chúng tôi từ trong hội trường bước ra và trên tay mỗi người cầm một tờ "Giấy Ra Trại".


Đó là ngày 29 tháng Tư năm một chín chín hai, đánh dấu chấm dứt mười bẩy năm trong trại giam tập trung và những người tù cuối cùng đang chuẩn bị rời trại, rời cuộc sống tăm tối không có ngày mai để trở về với xã hội bên ngoài.


Tôi nhìn tờ giấy ra trại, một miếng giấy chỉ to hơn hai lòng bàn tay một chút hay hai phần ba tờ giấy đánh máy, mầu xám đậm trông mất cảm tình vì còn thua tờ giấy báo gói hàng hoá ngoài chợ. Nếu không phải là tờ giấy trả lại tự do cho chúng tôi thì chắc là tôi ném nó vào thùng rác.

Chúng tôi rảo bước vội về buồng để gom các đồ đạc và vật dụng cá nhân. Còn một hai anh vẫn cứ đứng ngay cửa hội trường, tay cầm tờ giấy nhìn xuống đất như suy nghĩ điều gì hay vì còn đang xúc động và bàng hoàng?

Trong lòng tôi thật nhiều cảm xúc lẫn lộn. Tôi vừa vui vì cái ngày mà mình chờ đợi bấy lâu nay đã tới, đã thành sự thật và vừa suy nghĩ, vừa lo lắng về cuộc sống mới bên ngoài của mình sẽ ra sao. Tôi nhìn qua các bạn mình thì thấy họ như vẫn giữ được sự bình tĩnh, nhưng tôi biết rằng trong tâm trí họ cũng giống như tôi đang có những đợt sóng trào dâng.


Tôi đã từng đứng nhìn có lẽ hàng trăm lần các bạn tù cùng trại được thả về với tờ giấy này trên tay, nhưng tên mình chẳng bao giờ có; tôi đã âm thầm tuyệt vọng với nỗi buồn ray rứt trong tâm hồn khi trở vào buồng giam để tiếp tục nữa kiếp tù đày trên con đường đi mãi không đến đó.


Có ngờ đâu khi mà chúng tôi chờ đợi đã quá lâu rồi, khi mà chúng tôi đã quá chán chường để nghĩ tới niềm hy vọng được thả, khi mà chẳng ai còn thiết tha nghĩ tới...ngày về nữa thì đùng một cái được thả ra như ngày hôm nay, chúng tôi tựa như trên trời rơi xuống.


Từ hội trường về căn phòng tôi đang ở chỉ khoảng hơn trăm mét mà sao tôi thấy nó có vẻ dài hơn mọi ngày.  Có lẽ khi cầm tờ giấy ra trại trên tay thì ý nghĩ đầu tiên loé trong đầu tôi là : phải thu dọn thật nhanh đồ đạc của mình để ra khỏi chỗ này sớm giây phút nào tốt giây phút ấy vì chẳng còn cái gì mà lưu luyến thêm . Bên cạnh đó, chúng tôi tuy không nói nhưng ai cũng sợ lần chần mãi lỡ mà họ đổi ý thâu tờ giấy này lại thì khổ.


Bởi có sống dưới chế độ Cộng Sản và có nằm nhiều năm trong trại tù của Cộng Sản thì mới thấy được tận đáy những đau thương gây ra do sự lừa bịp và xảo trá ẩn bên trong những từ ngữ mị dân được đánh bóng của họ.

Nắng đã bắt đầu lên cao chiếu rọi vào căn phòng, chúng tôi vội vã gom các thứ cần thiết cho nhanh để bước ra khỏi căn phòng nơi chúng tôi mới dọn vào ở mấy tháng nay. Có anh còn bỏ quên vài đồ đạc ngoài khu lao động nên không hiểu có xin chạy ra đó hay không. Chắc là hơi mất bình tĩnh chứ vài cái soong nồi lặt vặt thì xá gì mà cất công chạy ra nữa vì nếu trễ giờ họ bỏ lại thì khóc hận.


Riêng tôi khi ra đi mang theo duy nhất một cái ba lô của lính thì nay trở về cũng chỉ đem về cái ba lô thân thương đó mà thôi, nó trông vẫn y hệt như ngày nào tôi xách vào trường Chu Văn An, Chợ Lớn, gối đầu lên nó nằm chờ xe cam nhông chở đi "cải tạo", chỉ có cái khác là ba lô bị thủng một vài chỗ do bị chuột đục và tôi đã vá lại rồi.


Tất cả các đồ hộp và thức ăn dự trữ tôi nhét hết vào một cái thùng sắt tây có nắp, tôi chỉ bỏ phòng hờ vài thức ăn trong ba lô đem theo bên mình thôi, vì kinh nghiệm sống trong trại giam là chỉ khi nào bước chân về đến ngưỡng cửa nhà mình thì mới yên tâm là đã về nhà. Tôi bê thùng sắt tây này lên phòng bốn ông tướng để lại cho các anh, vì hôm đó chỉ mười sáu anh em chúng tôi được thả. Bốn anh tướng còn ở lại , sau đó khoảng năm ngày thì bốn anh mới có giấy ra trại. Lòng dạ của Cộng Sản thật là khó hiểu và tính toán như vậy đó, chỉ còn có hai mươi người cuối cùng trong tù mà họ cũng tách ra làm hai lần, thả cách nhau mấy ngày.


Căn phòng nhỏ hẹp của chúng tôi bỗng huyên náo và nhộn nhịp hẳn lên với mọi người tại giường cá nhân của mình, người thì đang cuốn mùng mền, người thì lo đóng gói các vật dụng lại cho gọn ghẽ để ra về gấp rút giống như cuộc hành quân vậy.


Mấy tay trật tự của trại cũng vào và chia vui với chúng tôi, tôi bước ra bắt tay họ và chúc họ ở lại mạnh khoẻ sớm về với gia đình. Bốn ông tướng từ căn phòng trên tam cấp cũng bước xuống hỏi han chúng tôi tíu tít và chúc ra về vui vẻ. Tôi bỗng dưng thật xúc động nghĩ đến các anh còn ở lại, tôi bắt tay các anh thật lâu và chúc các anh sẽ ra về nay mai.


Anh Di vẫn nụ cười tươi siết chặt tay tôi, anh Giai vẫn dáng gật gù ra chiều đắc ý khi thấy chúng tôi chuẩn bị ra khỏi trại, anh Thân cười hiền hậu vẫy tay chào và anh Đảo đến bắt tay từng người. Dù bốn anh bề ngoài trông bình tĩnh nhưng vẫn có một thoáng buồn trên nét mặt . Chúng tôi càng ở tù lâu với nhau thì càng hiểu nhau và có tình thương gắn bó hơn. Nay chúng tôi ra về mà bốn anh còn ở lại thì tránh sao không khỏi bùi ngùi.


Bên ngoài thì trại đang thúc dục chúng tôi ra đón xe đò về Sàigòn. Tôi vẫy tay chào bốn anh lần chót rồi vác ba lô lên vai cùng với các bạn ra tập trung phía cổng trại. Tôi nhìn lại căn phòng lần nữa để kiểm soát xem có còn bỏ sót lại gì không nhưng căn phòng đã trống trơn và chỉ còn bao bì giấy má vứt lung tung trên đất.


Nhìn chung quanh thật không ngờ là tôi đã sống bốn năm ở đây từ năm một chín tám tám, lúc còn hơn một trăm năm mươi người đến hai mươi người và bây giờ tụi tôi đang rời trại chỉ còn bốn ông tướng trên căn phòng tam cấp.


Thời gian trong tù nhiều lúc thật là chậm y như trái đất không còn quay nữa nhưng bây giờ thì thật nhanh và cái cổng trại đang ở trước mặt chúng tôi.


Mới ngày nào mười sáu năm trước đang ngủ trong buồng giam của trại Cải Huấn Thủ Đức, chúng tôi bị đánh thức dậy khi trời chưa sáng để gấp rút rời trại di chuyển ra Bắc bắt đầu cuộc sống lưu đầy; bây giờ mười sáu năm sau, chúng tôi cũng mau chóng quải hành lý để rời trại nhưng với trạng thái hân hoan thơ thới của những người vừa được trả tự do.


Vĩnh biệt những cuốc với xẻng, vĩnh biệt những năm tháng tù tội lao động khổ sai, vĩnh biệt luôn cái địa ngục trần gian kinh hoàng đã giam hãm và đầy ải những người tù suốt mười bẩy năm qua.


Chúng tôi vừa tập họp xong thì được lệnh xuất trại vì thủ tục khám xét rất nhanh chóng và chỉ làm cho có lệ.


Một lúc sau thì chúng tôi đã leo lên xe đò và cái cổng trại bằng sắt của Hàm Tân Z-30D đã nặng nề khép lại đàng sau lưng. Tôi muốn nhìn nó lần cuối nhưng người tù có một cái tin dị đoan là ngày có giấy thả về và bước chân ra khỏi cổng trại giam rồi thì không bao giờ nên ngoái lại.

Cánh cửa tù đã đóng, đóng lại cả một quãng đời đen tối trong đó hàng ngàn người tù đã lần lượt ngã xuống: bị xử bắn, bị tra tấn, bị kiên giam, bị bỏ đói, bị bệnh tật hành hạ thân xác cho đến chết; và những người còn lại thì vẫn tiến về phiá trước như những bóng ma bên cạnh cuộc đời.


Hôm nay là một ngày đặc biệt trong đời, tôi có cái cảm giác lâng lâng như thể mình đang sống trong mơ chứ đây không phải là thực tế nếu không có những cái sóc của xe lăn bánh trên con đường toàn đá sỏi đôi lúc làm nẩy người tôi lên. Cũng con đường này bốn năm trước chúng tôi đi ngược chiều từ ngoài lộ vào đây và bước vào trại với bao ưu tư trong đầu về cái trại giam mới này.


Tôi nhớ lời thầy tôi nói trước khi hai thầy trò chia tay nhau để thầy trở về ngôi chùa thân yêu Thới Hòa ở Sàigòn và tôi thì ở lại, lúc mà tất cả các vị Tuyên Úy của các tôn giáo đều được thả về vào tháng Chín một chín tám bẩy tại trại Ba Sao Nam Hà tỉnh Hà Nam Ninh: "Sau này mỗi khi nghĩ lại, con sẽ thấy như là một cơn ác mộng".


Quả thực mười bẩy năm là một cơn ác mộng dài đầy hãi hùng và chúng tôi cũng không ai nghĩ rằng mình còn sống sót được sau bao nhiêu năm thiên nan vạn nan ấy.

Bây giờ tôi đây đang là những người cuối cùng ra khỏi trại giam và đó là sự thật.


Tôi ngồi gần cửa sổ, cái ba lô dưới chân, nhìn những hàng cây hai bên đường từ từ lui về sau. Tôi sờ khung cửa sổ và cái thành ghế ngồi rồi nhìn các hành khách khác trên xe để biết chắc rằng đây không phải là giấc mơ.


Chúng tôi đang rời xa dần trại giam Hàm Tân, xa dần khu rừng lá Buông nhiều kỷ niệm, hướng ra Quốc Lộ để xuôi nam về thành phố. Nhiều hành khách trong đó có các cụ già, các chị buôn thúng bán bưng, các em nhỏ, cứ tròn xoe mắt nhìn chúng tôi vì họ không tin là mười bẩy năm sau khi hết chiến tranh mà tù chính trị chế độ cũ vẫn còn bị giam giữ trong trại tù.


Những hành khách trên xe đều tỏ thiện cảm với những người tù vừa được trả tự do, mỗi người hỏi một câu tạo thành một không khí thật là ấm cúng như trong đại gia đình vậy, có các cô bác còn cho chúng tôi trái cam trái quít hay chiếc bánh lá. Nhìn chiếc bánh lá lòng tôi lại chợt nhớ đến cô bé tại ga Diêu Trì ngày nào trên chuyến tầu chúng tôi xuôi về Nam đã biếu không cho chúng tôi nguyên thúng bánh lá của cô rồi quầy quả chạy xuống toa tầu mất hút vào đám đông.


Làm sao tìm gập lại được người con gái bé nhỏ có tấm lòng vàng ấy để cám ơn?


Các chị buôn bán ngồi trên xe đò nghe nói chúng tôi là người chế độ cũ thì tin tưởng hơn và kể ra nhiều câu chuyện khó khăn và đau thương ngoài xã hội lúc đó cũng muôn vàn gian truân sau khi chúng tôi vừa vào tù:


- "Các anh biết không lúc đó khổ lắm, dân cũng không có cơm mà ăn, toàn là bo bo không à, riết rồi chịu hổng nổi mới kéo nhau ra biển vượt biên đó."


- "Nào là nó đổi tiền rồi nó đánh tư sản, đi kinh tế mới, ôi thôi người dân nào cũng mất hết tài sản. Cái mạng mình còn sống là may phước lắm rồi."


Có chị còn rành về thời sự:


- "Nhưng thôi nói chi nhiều, mấy ổng về Sàigòn rồi thì cũng chuẩn bị đi nước ngoài với gia đình chứ còn ở đây nữa đâu."


Tôi chỉ nhìn các chị cười thông cảm tuy không nói gì nhưng trong lòng vui vui vì đây là lần đầu tiên sau mười bẩy năm tôi có dịp ngồi nói chuyện trực tiếp với người dân và nhận thấy rằng họ vẫn còn mang trong lòng một ấn tượng đẹp đẽ về chế độ cũ VNCH và sau nhiều năm sống dưới sự kìm kẹp áp bức và bần cùng hoá của chế độ mới người dân đã quá lầm than nên nhận chân được bộ mặt thực bịp bợm của cái gọi là chế độ xã hội chủ nghĩa.


Khi người dân đã nhận ra được sự thực thì không còn ai tin nữa và chế độ Cộng Sản này coi như đã bị cứa đứt ngay tại gốc rễ rồi.


Ngồi trên xe đò mà hồn tôi như để tận đâu đâu trong khi xe đang lăn bánh trên quốc lộ. Tôi cũng chẳng hiểu vì sao mình ốm yếu như thế mà còn sống sót được? Nhìn hàng cây bên đường, những ngôi nhà, những vườn tược đang chạy lùi lại phía sau, mắt tôi mờ dần trở về với ký ức không bao giờ quên được cái cảm giác lạnh trong xương sống lúc một giờ sáng một ngày tại trại cô nhi Long Thành mười sáu năm trước. Những khuôn mặt lạnh lùng chĩa các họng súng AK, CKC vào chúng tôi khi gạn lọc ra những thành phần "nguy hiểm cho chế độ" phải tức khắc di chuyển một cách âm thầm trong đêm tối ra Bắc.


Rồi ba ngày sau đó, cái cảm giác hãi hùng bơ vơ và tuyệt vọng khi biết mình đã bước chân xuống phi trường Gia Lâm, Hà Nội của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, khi biết mình đã bị tách khỏi miền Nam thân yêu bắt đâu cuộc sống lưu đầy nơi rừng thiêng nước độc. Lúc đó, chúng tôi không khác gì những con cá đang nằm trên thớt chờ đợi cơn thịnh nộ của tên đao phủ.


Một tay cán bộ của Bộ Nội Vụ ra đón chúng tôi tại sân bay và nói huyênh hoang rằng các anh sẽ được ở nhà ngói có điện và có "điều kiện để cải tạo tốt" mau sum họp với gia đình. Họ đang đưa chúng tôi vào cõi chết trong những nhà giam tồi tàn nhất thế giới của một nước cũng nghèo nàn và lạc hậu nhất trên thế giới mà vẫn nói được những lời giáo điều dối trá như vậy.


Thực tế là chúng tôi được chở về giam ở những buồng không có điện. Ban đêm tối như hũ nút ngửa bàn tay ra cũng không thấy vì tuy có điện nhưng họ cúp các buồng giam tù chính trị, và họ cũng không cấp cho một ngọn đèn dầu nào.


Họ tạo điều kiện cho chúng tôi "cải tạo" tốt bằng cách cho ăn cầm hơi nhưng lao động quá sức người để từ từ mà kiệt lực.


Người tù phải khiêng những tảng đá to nhỏ đủ cỡ, do bên hình sự bắn ra từ trong núi, trên đôi vai gầy mòn mỏi dần đi theo tháng ngày, để tiến hành việc xây dựng và mở rộng trại giam đón thêm nhiều tù mới.


Người tù áo rách tả tơi vì mồ hôi và khiêng đất đá, còn hai tay và hai chân thì rã rời sau mỗi ngày lao động, cho nên sau vài năm khổ sai như vậy với tình trạng thiếu ăn thiếu mặc, bệnh dịch lây lan không có thuốc men, sức khoẻ thì suy nhược, chúng tôi cũng không biết lúc nào Thần Chết sẽ đến rước mình đi.


Mùa Đông thì rất lạnh và rét mướt, phải nói là quá lạnh đối với những người tù thiếu ăn uống, không quần áo ấm, mỗi người chỉ được cấp một cái mền đỏ của Tầu. Có anh quấn trong người từ trong ra ngoài là mười tám lớp toàn là giấy báo mà đêm đến lạnh quá không nằm xuống được nên ngủ ngồi dựa vào tường trong thế co ro mà vẫn run bần bật.


Bởi thế bi thuốc lào hay điếu thuốc lá là thứ không thể thiếu được trong đời sống người tù nhất là trong thời tiết băng giá. Tôi chẳng biết điếu cầy là cái gì mà cũng phải tập hút để chống lạnh, riết rồi quen, quen rồi khó bỏ nó đúng như các cụ nói: "đã chôn điếu xuống lại đào điếu lên".


Nhưng cái khó khăn là lấy đâu ra lửa để mà hút thuốc? Cho nên cái khó nẩy ra cái khôn và không biết ai là người nghĩ cách chẻ một que diêm ra làm bốn với một lưỡi lam mài thật sắc.


Người tù phải hết sức tập trung khi một tay cầm lưỡi lam, tay kia cầm que diêm thật vững thì mới chẻ được nó ra làm hai rồi từ hai thành bốn mà que diêm không bị gẫy và diêm sinh chẻ ra làm bốn vẫn ngay ngắn, không bị vỡ vụn ra.


Nhờ đó mà kéo dài được mấy hộp diêm quẹt đem từ trong Nam ra. Mỗi lần sắp sửa đánh một que diêm thì hô cho cả buồng chuẩn bị "nạp đạn"- nghĩa là sẵn sàng nạp bi thuốc lào vào các điếu cầy để cả buồng châm lửa cùng hút một lúc.


Bữa ăn mà trại phát cho thì chỉ tạm dằn cơn đói xuống chứ lưng bát cơm hay cái bánh bột hấp, lưng chén bo bo vào bao tử chẳng thấy nó đâu, bởi vậy bi thuốc lào hay điếu thuốc lá là người bạn an ủi nhất cho người tù sau mỗi bữa ăn.


Mỗi tháng trại cấp cho ba đồng tiêu vặt thì ngoài kem đánh răng ra là để dành mua thuốc lá thuốc lào loại sản xuất nội địa như "Sa-Pa" hay "Tam Đảo" vì căng-tin trại cũng chẳng có gì để mua nữa.


Những mặt hàng nhu yếu phẩm đều khan hiếm và lẽ dĩ nhiên không bao giờ đến tay người tù.


Chỉ khi nào có phái đoàn ngoại quốc đến thăm thì trại mới dàn cảnh rất khôi hài là đặt trên mỗi gối của tù nhân một hộp sữa đặc trong lúc họ đang đi lao động bên ngoài xa trại và sau khi phái đoàn ra khỏi cổng thì trại họ thu các hộp sữa đó lại.


Trong các sự thiếu thốn lúc ban đầu phải kể đến hạt muối. Vì trại cấm lưu trữ muối sợ tù dùng muối để bẻ song sắt buồng giam trốn trại, nên ngoài bát lưng cơm hay khoai sắn ngày hai bữa là một ít nước muối loãng rưới lên cơm để ăn vậy thôi. Sau này họ cũng bỏ luôn không cho nước muối loãng nữa.


Có anh nói với tôi rằng khi nào ở tù ăn hạt muối mà ngọt như hạt đường thì mới là đã ở tù.


Quả là như vậy, từ trong Nam ra Bắc tôi còn trữ được muối vào hai ống Aspirine nhỏ xíu và không ngờ sau đó nó quí như vàng. Mỗi khi ăn cơm tôi gọi vài bạn thân đến và rắc cho mỗi người tí ti muối trên cơm là hạnh phúc rồi.

Lúc ấy, nhấm hạt muối không còn thấy nó mặn nữa mà lạ lùng một điều là nó lại trở nên đậm đà và hơi ngòn ngọt.

Một kỷ niệm khó quên nữa trong tôi là : đội lao động của tù chính trị tên là đội 20.


Đội 20 khi tôi chuyển trại về Nam Hà năm một chín tám ba và đội cũng tên 20 khi chúng tôi vào Hàm Tân năm năm sau đó.


Khi về Nam Hà, tỉnh Hà Nam Ninh, chúng tôi được biết rằng đội 20, gồm nhiều anh em trẻ thuộc thành phần Phục Quốc bị bắt sau tháng Tư 1975, đã anh dũng đứng lên biểu tình chống lại chế độ hà khắc của trại giam và sau đó các anh em này đã bị trả thù tàn bạo trong khu kiên giam.


Cũng đội 20 mà tôi đã sống qua hơn ba năm trời tại Hàm Tân, miền Nam, chúng tôi đã đồng loạt biểu tình dưới hình thức bất bạo động chống lại lao động khổ sai, nhưng may mắn nhờ Ơn Trên chúng tôi đã thắng.


Tên đội 20 như đã đi vào lịch sử và mang theo nhiều kỷ niệm đau thương lẫn tự hào với hình ảnh các người tù chính trị đã hiên ngang và công khai, tay không đứng lên chống lại cái chế độ bạo quyền của hệ thống trại giam Cộng Sản.


Tôi đang miên man theo dòng tư tưởng lùi về dĩ vãng, một dĩ vãng đầy thương đau và tủi nhục, thì tiếng động lao xao trên xe đò đưa tôi về thực tại.


Tôi rùng mình một cái ra khỏi cơn ác mộng, hoá ra mình vừa hồi tưởng lại những năm trước còn trong tù, bây giờ tôi ngồi đây và chỉ hơn tiếng đồng hồ nữa là về đến thành phố, tôi như con chim đã xổ lồng đang tập vỗ đôi cánh để sắp bay đi thật xa đến chân trời mơ ước.


Tiếng người nói lao xao vì xe đò bỗng chết máy phải dừng lại với tiếng vừa càu nhàu vừa diễu của tài xế:


-"Tại các ông ấy ở tù lâu quá nên làm cho xe đò của tui bị "pan" chứ xe nầy ngon lắm có bao giờ ngừng ẩu như vậy đâu. Chắc tại học bài không thuộc chứ gì nên mới đi học tập lâu dữ dzậy."


Bình thường thì tôi rất không ưa ai dùng chữ "học tập" hay "cải tạo" để chỉ cái lao động khổ sai trong tù tập trung của Cộng Sản nhưng tôi chỉ cười không nói gì vì biết sau mười mấy năm người dân đã quen với các từ ngữ tuyên truyền của Cộng Sản rồi, nay bảo họ sửa lại cũng không phải là dễ.


Riêng chúng tôi thì tuyệt đối không dùng các từ ngữ lừa bịp đó của họ.


Sau khi khoảng mười lăm phút kiểm soát lại máy lóc dầu nhớt, máy xe nổ trở lại và bác tài xế cười rất tươi nhe ra mấy cái răng vàng, ông ta ngoái đầu lại nhìn chúng tôi nheo mắt một cái rồi lái xe trực chỉ Sàigòn.


Đúng là tuýp người miền Nam chân thật và hiền hoà.

Hai tiếng Sàigòn làm tim tôi đập nhanh hơn bởi vì trong suốt mười bẩy năm xa Sàigòn, xa miền Nam, trong lòng tôi lúc nào cũng nhớ không bao giờ quên được những kỷ niệm thật êm đềm và những năm tháng tôi lớn lên và trưởng thành ở thành phố thân yêu này. Vì mất miền Nam mà tôi phải xa thành phố ấy mười bẩy năm qua nhưng giờ đây tôi đang trên chuyến xe đò này xuôi về thành phố và cái gì tôi cũng thấy lạ, từ phong cảnh dọc theo Quốc Lộ, đến nhà cửa, phố xá bên đường. Chắc là về đến Sàigòn thì tôi sẽ lạc đường vì đường xá đều đã đổi tên và ngay cả tên thành phố "Sàigòn" cũng không còn nữa.


Nói đến hai chữ Sàigòn thì khi chúng tôi lần đầu tiên ở ngoài Bắc khoảng đầu năm một chín bẩy chín được viết thư về gia đình để xin tiếp tế, nhiều anh đã suýt nữa không được gửi thư vì anh nhất định đề tên thành phố nơi đến là Sàigòn, không chịu viết là thành phố HCM. Sau cùng anh em bảo nhau là "chấp kinh thì phải tòng quyền" và sức khoẻ của mình là trên hết, không nên chấp những tiểu tiết, nhất là việc liên lạc với gia đình sau bốn năm biệt tin là điều quan trọng, thì anh mới chịu viết tên thành phố HCM vào mà trên gương mặt còn đỏ lên vì tức giận.


Về đến Sàigòn thì tôi sẽ làm gì trước? Chắc là tôi phải nhờ người chạy xuống Phú Lâm báo cho hai con tôi biết.

Hai con tôi chắc mừng lắm nghe tin Bố nó đã về, dầu sao tôi cũng còn may mắn vì cả hai cháu đều hiếu thảo và đều thương tôi và hơn một năm gần đây khi toàn bộ Mẹ và các em tôi đã qua Mỹ thì hai cháu vẫn thường cắp giỏ vào thăm tôi trong tù. Ngoài ra cả hai cháu đều được nhiều bạn tôi rất là thương mến. Có nhiều anh còn muốn làm thông gia với tôi vì con gái tôi vừa đẹp người vừa đẹp nết và cậu con trai cũng bảnh nữa.


Một kỷ niệm khó quên là lúc con gái tôi tên Trâm mới lên mười ba ra Bắc thăm tôi cùng mẹ cháu, tôi đã ngầm liên lạc được với hai mẹ con và dặn cháu ngày mai qua bên đội đem các thư "chui" về dùm cho các bác. Hôm sau cháu mặc một váy đầm xoè rất đẹp dài gần đến cổ chân, mau mắn chạy qua chỗ lao động của đội gạch và thâu hết các thư từ mà bạn bè trong đội muốn gửi về gia đình. Lúc cháu nhét thư vào đầy hai túi quần rồi cột một mớ nữa vào hai chân xong vội chạy về khu thăm nuôi thì đã có vài cậu trước kia là Thiếu Úy còn độc thân đã nửa đùa nửa thật gọi tôi bằng Bố làm bỗng dưng tôi thấy mình già.


Việc thứ hai là tôi sẽ đánh điện thư ngay qua Mỹ cho Mẹ và các em tôi mừng. Tất cả công lao của toàn thể gia đình bao gồm cả vợ chồng anh ba và vợ chồng cô bẩy ở bên Mỹ đã gửi tiền cùng quà về VN và nhất là Mẹ tôi luôn nắm giữ cán cân suốt mười bốn năm qua trong việc thăm nuôi tôi đã đơm hoa kết trái với ngày tôi trở về còn tương đối mạnh khoẻ.


Nói đến ngày trở về làm tôi liên tưởng tới tác phẩm :"Khi Người Tù Trở Về" của đại văn hào Pháp Andre Malreau.

Câu chuyện về một nhóm tù binh Pháp được trả tự do sau Thế Chiến, khi quân Đức bại trận.


Trên chuyến xe lửa trở về quê hương, một viên sĩ quan trẻ khoe với các bạn anh về người vợ tuyệt vời của mình và anh ta sẽ làm gì trong giây phút đầu tiên được đoàn tụ trong niềm mơ ước, anh phác thảo một viễn ảnh sum họp thật hạnh phúc của vợ chồng anh dưới mái ấm gia đình như ngày xưa. Tuy nói vậy nhưng trong lòng anh lại tương phản với ý nghĩ rằng không biết vợ mình có còn chờ đợi mình hay không?


Khi anh về đến ngôi nhà cũ, anh không vào thẳng nhà mà đi vòng chung quanh để quan sát bữa cơm chiều xem vợ mình có sống với ai không. Núp sau bụi cây sau nhà, anh thấy người vợ gầy ốm hơn xưa nhưng đang rất tươi vui lăng xăng bầy biện hai phần ăn, hai chiếc muỗng, hai chiếc nĩa thì anh lầm tưởng rằng vợ mình đang sống với người khác nên hai giòng nước mắt anh tuôn ra và anh lủi thủi đi mất.


Trong khi ấy người vợ được tin chồng mình sẽ trở về nên đã nấu ngay món súp đặc biệt cho chồng nhưng chờ mãi mà không bao giờ thấy người chồng trở về nữa.


Hoàn cảnh của tôi thì khác nên tôi không thể trở về mái nhà xưa trong Phú Lâm, Quận Sáu mà tôi sẽ về tạm thời ở chung với gia đình anh Minh là ông anh thứ hai của tôi trên đường Trương Minh Ký, bây giờ chả biết là tên đường gì nữa, nhưng tôi cũng chẳng quan tâm vì mục tiêu trước mắt của tôi là tiến hành thật nhanh thủ tục nộp đơn ra đi theo chương trình H.O. vì an ninh cho bản thân mình và vì tương lai cho hai đứa con.


Tôi tự biết rằng những người tù cuối cùng như chúng tôi sở dĩ có được ngày trở về là do sự can thiệp mạnh mẽ của các cá nhân, các hội đoàn Việt-Mỹ, của chính phủ Mỹ và trên thế giới nữa đã tranh đấu liên tục không mỏi mệt cho tù chính trị bao nhiêu năm trời, tranh đấu cho đến khi Hà Nội phải lui bước và phải thả hết các tù nhân ở ngoài Bắc sau đó là thả hết các tù trong Nam.


Sự bền gan tranh đấu ấy là một nghĩa cử thật cao quí mà suốt đời tôi không bao giờ quên.


Điều này một lần nữa khẳng định rằng nếu chúng ta tích cực và bền bỉ tranh đấu chống Cộng Sản đúng lúc thì Cộng Sản sẽ buộc phải lui.


Biểu tượng của các hội đoàn tranh đấu mạnh nhất là hội gia đình các tù nhân chính trị của bà Khúc Minh Thơ.

Một ân nhân mà tôi luôn ghi nhớ trong lòng là Tổng Thống Hoa Kỳ Ronald Reagan, vị Tổng Thống anh hùng không những đã cứu chúng tôi ra khỏi tù mà còn đẩy lùi sự bành trướng của Cộng Sản trên thế giới, đưa nó đến chỗ diệt vong ở Nga va các nước Đông Âu.


Tôi nhìn qua các bạn ngồi trên xe đò, thấy những nét vui mừng hân hoan xen lẫn chút tư lự hiện trên những khuôn mặt của những người đang hít thở bầu không khí tự do lần đầu tiên sau bao nhiêu năm bị cầm tù. Tối nay sẽ là một ngày trọng đại của vợ con họ - ngày trở về của người tù cuối cùng - ngày gia đình thực sự đoàn tụ với một tương lai đầy hứa hẹn.


Một anh bạn ngồi bên tôi hỏi tôi còn thuốc lá hay không, tôi lục trong ba lô còn nguyên gói Kent bèn đưa hết cho anh vì sau một trận ốm nặng tưởng không gượng dậy nổi ở ngoài Bắc, tôi đã quyết định không bao giờ sờ đến điếu thuốc nữa.


Gia đình biết tôi đã bỏ hút thuốc nhưng vẫn gửi vào vài gói cho tôi để xã giao.


Chiếc xe đò vẫn lăn bánh bon bon trên đường nhựa mà sao tôi thấy như nó chạy quá chậm có lẽ vì tôi quá nôn nóng chăng, nhưng rốt cuộc thì chúng tôi cũng vào đến thành phố.


Quang cảnh thật nhiều thay đổi nhất là nhìn đâu cũng chỉ thấy xe đạp, xe gắn máy thì ít thôi và tuy tiềm năng giầu có của miền Nam đã giúp cho cuộc sống người dân đỡ phần cơ cực nhưng tựu trung vẫn còn nghèo rất nhiều so với miền Nam trước năm một chín bẩy lăm.


Phố xá quán hàng, cửa hiệu, chợ búa dần hiện ra trước mắt, tôi như một người từ cõi chết trở về, nhìn cái gì cũng lạ lùng và có cảm giác lạc lõng tựa như mình không phải là người thuộc về cái xã hội này.


Chiếc xe đò phải ngừng tại bến, không thể chở chúng tôi về từng căn nhà được. Tôi xách ba lô xuống xe, các bạn tôi cũng xuống tụ tập một chỗ bên đường. Chúng tôi nhìn nhau lần cuối, siết tay nhau xong rồi mỗi đứa đi một ngả vội vã tìm đường trở về với gia đình.


Suốt mười mấy năm sống bên nhau, no đói có nhau, bệnh hoạn có nhau, mồ hôi cùng đổ xuống lên bao cánh đồng, bao khu rừng, bao nương rẫy suốt chiều dài của đất nước, từng chia sẻ vui buồn cùng nhau, cùng vượt qua bao gian nguy của đời người tù khổ sai trên bước đường lưu đầy, tất cả đã hình thành trong chúng tôi một thứ tình cảm gắn bó mật thiết mang tính thiêng liêng và nhân bản của những người đồng cảnh ngộ.


Thế rồi, ngày hôm nay chúng tôi như những con chim được xổ lồng bay đi khắp nơi và không còn bên nhau nữa đã cho tôi cảm giác mất mát một cái gì thật quý giá về tinh thần về tình bạn.Tôi nghe mắt mình cay cay khi nhìn các bạn mình dần khuất trên các ngả đường, thôi đành chia tay các bạn nhé rồi hy vọng chúng ta sẽ gập lại nhau nơi phương trời xa xăm kia trong bầu không khí Tự Do.


Tôi vội xua đi nhiều ý tưởng hiện lên trong đầu vì việc cần lúc này là tìm phương tiện về nhà trước đã.


Tôi vẫy một chiếc xe Honda ôm, giở trang giấy viết tay trong cuốn sổ nhỏ ghi địa chỉ của ông anh hai tôi rồi đưa cho anh lái xe xem, xong leo lên ngồi đàng sau, ba lô khoác trên vai.


Tôi bỏ cuốn sổ vào túi quần, đó là một cuốn sổ nhỏ ghi lại địa chỉ của một số bạn thân trong tù mà tôi hứa là sẽ đến thăm gia đình họ khi có thì giờ thuận tiện. Trong cuốn sổ ấy cũng có ghi địa chỉ của một người con gái ở tận bên Quận Tám đã một thời làm trái tim tôi rung động và nhung nhớ.


Từ sáng đến giờ bao nhiêu là biến chuyển đã làm thay đổi cuộc đời tôi từ một người tù "không có bản án" trở thành một người tự do đang trở về với xã hội bên ngoài nên tôi không nghĩ đến Phượng. Nhưng khi tìm điạ chỉ nhà người anh thì mắt tôi vô tình lướt qua đường nhà Phượng và hình ảnh của Phượng bỗng hiện lên rõ nét trong trí nhớ của tôi, hình bóng ấy như thật gần mà lung linh như hư ảo.


Đã hai năm rồi cuộc tình ấy tưởng đã chìm vào quên lãng, hai năm rồi tôi không nhận được một hồi âm nào của Phượng và tôi vẫn sống như một chiếc bóng suốt thời gian đó, ôm ấp một chuyện tình dang dở.


Tôi biết nàng buồn lắm và tự ái nữa nhưng tôi nào có vui gì.


Bây giờ Phượng còn ở nơi đó nữa không, nàng còn chờ tôi hay đã bước thêm bước nữa?


Nếu nàng đã đi lấy chồng thì tôi không hề phiền trách gì vì đã hai năm trường chúng tôi không còn liên lạc với nhau và nàng cũng cần một nơi nương tựa. Chỉ cầu xin cho nàng một bến đỗ bình an và hạnh phúc.


Tôi để tay lên đùi chỗ cuốn sổ nằm trong túi quần và tự nhủ rằng thế nào tôi cũng phải đến thăm nàng.


Phượng ơi! Hôm nay anh đã là người tự do không còn trong bốn bức tường của trại giam.


Tiếc rằng không có mặt em ngay bây giờ để chia sẻ niềm vui với anh.


Phượng thương yêu của anh,


Thế nào anh cũng đến thăm em để nói cho em biết rằng anh chân thành cám ơn tấm lòng tốt của em: Em đã vào tận trong tù thăm anh.


Em biết không em,


Em đã đem đến cho anh những yêu thương ngọt ngào để con tim anh bừng sống lại khi nó đang khô héo trong sầu úa.


Em đã mang tình em vỗ về đời anh khi anh bị đầy ải nơi suối rừng cô liêu hoang dã không có tình người.


Em đã cho anh những giây phút thật êm đềm, thật hạnh phúc khi anh đang ở nơi chỉ có đau thương và khổ nhục.

Và anh cũng muốn nói với em rằng... anh vẫn còn nhớ em, anh vẫn rất nhớ em như ngày nào mình còn bên nhau, trong khu rừng lá Buông,


trên chiếc ghế đá công viên trước mái nhà tranh, ngồi bên nhau em nép vào vai anh và nói những lời an ủi làm ấm áp tâm hồn băng giá của anh, mình tay trong tay không rời.


Anh vẫn còn nhớ tiếng nói và giọng cười hồn nhiên của em, và mỗi khi ra căng-tin đón xe đò về em thường ngoái đầu lại nhìn anh nói thật dịu dàng và âu yếm:


- ”Em sẽ lên thăm anh nhưng chưa biết ngày nào, anh đừng mong tội nghiệp”.


Anh muốn nói với em rằng anh còn thương yêu em, thương em rất nhiều dù cho kỷ niệm của chúng mình đã phần nào phai nhòa theo năm tháng.


Phạm Gia Đại




Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn