BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 34342)
(Xem: 32852)
(Xem: 31044)
(Xem: 24353)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Những kẻ khổ nhục (1)

27 Tháng Năm 201312:00 SA(Xem: 757)
Những kẻ khổ nhục (1)
52Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
52
– Unfortunate people

“This is the voice of victim.



I hope to complete this work before closing my days”



Một buổi tối thứ bảy, tôi đến thăm anh Thư – một người bạn tù, đồng thời là thày Anh Ngữ của tôi ở trại Vĩnh quang. Năm 1972, Cộng sản không coi Anh ngữ là tiếng nói đế quốc nữa, bắt đầu cho học ở một số trường phổ thông. Tuy vậy, trong trại giam vẫn bị cấm đoán. Anh Thư phát âm tiếng Anh rất chuẩn, anh coi là sự nghiệp. Cả đời anh kiên trì học để thành tài. Sau khi có bằng tú tài văn chương, anh vào lính. Vì thạo ngoại ngữ, anh được chọn vào bộ phận thông tin cơ mật. Năm 1953, anh mắc một sai lầm nghiêm trọng về mật mã, bị bắt giam. Sợ bị đưa ra toà án binh xét xử, anh bỏ trốn ra vùng Việt minh kiểm soát. Là một cậu ấm về chính trị, lại có người anh cả theo Cộng sản nên 1954, anh không đi Nam. Sau này chính phủ của ông Hồ tiếp quản Hà nội, anh được coi là một trí thức trẻ yêu nước và được vào trường đại học nhân dân – một trường dành cho tầng lớp trí thức lưu dung, anh học được mấy tháng thì bỏ. Anh nói, chính trường này làm tôi sớm bừng tỉnh cơn mê. Các giáo viên là Trường Chinh, Phạm văn Đồng, Tố hữu và các cán bộ cấp cao khác của đảng dạy những thủ đoạn làm cách mạng. Họ dạy rằng: “mọi thủ đoạn là nham hiểm và tàn bạo đến mấy, nếu có lợi cho cách mạng, các đồng chí cứ làm… ”.



Năm 1957, được tin Ngô đình Diệm ra lệnh đại xá ở miền Nam, anh chán đời đến cực độ, vì đã bỏ lỡ cơ hội ra đi. Anh viết thư cho uỷ ban giám sát quốc tế hiệp định Geneva nhưng không gửi, sau đó anh đã gửi thư cho ông Hồ, có đoạn: “… Kính thưa chủ tịch, sở dĩ tôi không đi Nam là vì tổ quốc và chân lý. Nhưng sau ba năm ăn đợi, nằm chờ tôi đã thấy sự tuyên truyền xảo trá đầy hoa gấm của guồng máy thông tin Việt nam dân chủ cộng hoà… ”.



Từ bức thư này, anh bị đưa ra toà xử bốn năm tù. Mãn hạn tù được về, anh bị mẹ đuổi đi, qua Tết mới được về. Đến năm 1964, anh lại vào trại tập trung thêm mười năm nữa. Có thể do nhiều năm tù tội, đoạ đầy, tính tình anh không mấy khi ổn định, thăng bằng, từ cực đoan này dễ dàng nhảy sang cực đoan khác. Khi yêu ai thì tâng bốc người đó lên tận mây xanh, giúp đỡ hết mình. Ghét ai, anh không từ một thủ đoạn nào, kể cả bịa đặt để bôi nhọ uy tín. Quan hệ với anh như dùng con dao hai lưỡi, có cay đắng, có ngọt bùi.




Dù sao đối với tôi, anh vẫn là một ân nhân.



Lời hứa hẹn, anh giữ như đinh đóng cột, kể chuyện về gia đình và cuộc đời mình, anh biến thành tiếng nói của dòng tư duy hư cấu với những giai thoại đầy kịch tính. Anh chỉ phục tùng tư tưởng võ đoán của mình, không muốn ai phân giải một điều gì để tìm ra lẽ phải. Anh đố kỵ với những kiến thức anh không có hoặc còn non nớt, tôn thờ chủ nghĩa “cái tôi”. Theo anh, triết học, văn thơ là thứ đồ chơi không cần thiết. Và tự nhận mình là bậc thầy khoa tâm lý học dựa trên cơ sở cảm tính. Anh nói, anh đọc sách chỉ thuần tuý là anh đọc và tra từ điển.



Hình như anh say mê chủ nghĩa khoái lạc, điều này dễ hiểu, một người càng bị đầy đoạ bao nhiêu, nếu không có kiến thức về xã hội, càng mơ ước hưởng lạc bấy nhiêu. Anh tự phong cho mình một kẻ chống Cộng kiên cường nhưng chỉ nói suông, không dám có một hành động nào cụ thể. Chẳng những thế, thứ văn hoá Cộng sản ít nhiều làm ô nhiễm khối óc anh.



Sau khi ngỏ lời thăm hỏi ân cần, thắm thiết, anh hỏi:



– Cậu làm mộc khá chưa?



– Cũng nhì nhằng thôi, anh ạ. Có thể làm được nhiều việc, nhưng do bàn tay vụng nên sản phẩm không được nuột nà, như ý.



– Ừ phải, cậu chỉ cần luyện tay nghề, còn mực thước là kiến thức hình học sơ đẳng đối với cậu. À này, cậu muốn đi làm chưa hay còn nghỉ ngơi đại tu lại cơ thể?



– Người khác có điều kiện phải nghỉ hàng năm để phục hồi sức khoẻ. Còn em, muốn hay không cũng phải đi làm ngay để kiếm ăn.



– Ừ nhỉ, bố mẹ không còn, tài sản không có, vợ con chưa, tình cảm anh chị em có nghĩa lý gì trong xã hội này? Nói thật là tôi muốn cậu đi làm trong hội của chúng tôi, còn e tay nghề cậu kém sẽ mang tiếng.



– Làm kém thì ăn công thấp có được không, anh? Tốp thợ nào chẳng có thợ cả, thợ hai, phó nhỏ.



– Tôi sẽ hỏi ông Minh về công việc của ông ấy. Nếu cậu làm cho công an để ngày mai tôi sẽ hỏi cụ Thắng xem sao? Năm ngoái tôi làm mộc cho bộ công an đến sáu tháng.



– “Thân lươn bao quản lấm đầu”, làm cho ai mà chẳng được, anh.



– Có điều là cậu phải giữ kín tung tích, đừng để lộ ra mình là tên tù phản cách mạng, họ mới để cho làm.



– Vâng, anh không nói thì em cũng biết.



Trên đường về, tôi hồi tưởng lại biến cố đã đưa tôi đến việc làm mộc trong tù.



Đầu năm 1972, tôi mới chuyển lại toán rau xanh của tên quản giáo Trần văn Phượng; Từ Hoả lò mới đến lão Trì, người đứng thứ hai trong vụ văn hoá đồi truỵ xử năm 1970 ở thư viện quốc gia. Lão bị phạt mười một năm tù. Con trai lão là Giao – một thanh niên du đãng. Công an đến bắt Giao và khám nhà thấy hàng trăm bức ảnh khoả thân của hai bố con lão đang làm tình với những cô gái trẻ. Qua những bức ảnh này chứng tỏ, lão là con quỷ về dâm dục, nhân thể lão cũng bị bắt. Theo lời cung khai của lão, phá trinh một cô gái ở tuổi vị thành niên, lão chi năm trăm đồng tương đương với một năm lương của một công nhân. Để có những bức ảnh làm kỷ niệm, hai bố con nhất trí với nhau: bố chơi, con chụp; con chơi, bố chụp. Giao tìm kiếm dẫn gái đẹp về nhà nhưng không có sức mạnh của đồng tiền nên chỉ được dùng cái xái. Nhiều lần hai bố con chửi bới, đấm đá nhau quyết liệt vì cách hưởng lạc này. Có lần lão nhượng bộ con nhưng thấy con chơi lâu, lão lồng lộn gào thét như người mắc bênh dại.



Vào tù, lão ra sức lập công, chuộc tội bằng cách biến thành con chó săn những ý kiến người khác về chế độ. Với tuổi sáu mươi nhăm, lão bị những người đồng cảnh mắng chửi như con vật. Một đêm chờ cho mọi người ngủ, lão viết một bản sớ dài, trong đó có tôi cũng bị lão tố cáo nhưng bản sớ của lão bị lộ. Lão được dành

cho những phần thưởng đích đáng: ném phân lên đỉnh màn, cho lão uống nước có mùi khai thối. Đồng cảnh xúm lại nguyền rủa lão là đồ súc sinh, giống chó má. Tôi cũng không tha lão:



– Thằng Trì, mày là tên vô lại ở ngoài, vào tù mày biến thành con vật bốn chân chăng?



Tôi nói to, bọn văn hoá trại nghe thấy, chúng báo cáo với cai ngục trực trại là trung uý Chức. Khi điểm danh vào phòng vào buổi tối, Chức đứng trước cửa phòng hăm doạ:



– Tôi báo cho một số anh biết, cánh cửa nhà kỷ luật đang mở rộng để đón các anh vào.



Sáng hôm sau, mở cửa phòng giam điểm danh, hắn lại nói:



– Tố cáo những sai phạm của đồng bọn là một trong bốn tiêu chuẩn cải tạo. Anh nào có hành động ngăn cản việc tốt ấy tức là có ý thức chống đối. Đêm qua, ban giám thị và chúng tôi thay nhau tuần hành. May cho một số anh chưa dám hành động gì.



Ngay buổi sáng hôm ấy, cai ngục chuyển tôi sang toán xây dựng và chuyển phòng giam, chuẩn uý Thắm làm quản giáo. Ông ta có khuôn mặt đầy đặn, phúc hậu, cặp mắt hiền lành đượm một vẻ buồn thầm kín.



– Anh có biết làm mộc không?



– Không, thưa ông! Tôi chẳng có nghề gì. Vả lại, tôi yếu sức, ông cho tôi vào tổ đan phên, chẻ lạt.



– Anh có tên trong sổ đen đấy nhé!



– Nhà tù mà vẫn có sổ đen, thưa ông?



– Quân đội cũng có sổ đen nữa là…



– Ông có thể cho tôi biết, có tên trong sổ đen có hại gì thêm?



– Bình thường thì không sao cả, không may trong trại có rắc rối gì, họ dễ quy kết cho mình tội thủ mưu, chịu kỷ luật nặng nề, dễ dàng bỏ mạng.



Ngừng trong giây lát, ông Thắm hỏi:



– Anh ở Hà nội à?



– Vâng, thưa ông!



– Tớ khuyên cậu nên học nghề thợ mộc. Có độc ác đến mấy, họ cũng không thể giam cậu mãi, có ngày họ cũng phải tha. Kiếm ăn bên ngoài không có gì hay hơn là nghề mộc với người đi tù về. Một túi đồ, làm nghề tự do, không lệ thuộc vào ai. Nếu không, cậu phải làm nghề khuân vác, xích lô, ba gác…



Tôi thoáng nghĩ, ông ta nói đúng. Tôi bắt đầu học nghề thợ mộc từ thời gian đó.



Buổi trưa, tù nghỉ ở lán sơ tán ngoài rừng, ông Thắm thường đến chỗ tôi nằm, ông hỏi:



– Cậu tù vì tội gì?



– Chuẩn bị vượt tuyến vào Nam chống Cộng.



– Đi làm sao được qua bức màn sắt. Tớ nói vụng với cậu là mục đích thì đúng nhưng hành động quá phiêu lưu.



– Xin lỗi nhìn mặt ông, tôi thấy ông không thích hợp với ngành công an.



– Sao vậy? – Ông nở một nụ cười đôn hậu.



– Mặt ông có vẻ nhân từ, ít nhiều thông cảm với chúng tôi, dễ mất lập trường cách mạng.



– Tớ ở nông thôn chỉ thích hợp với nghề cầm cuốc. Tuy nhiên, nông dân là người khổ nhục nhất, thời nào cũng vậy.



– Tại sao ông không thích mà làm nghề coi tù?



– Tớ có chọn đâu. Năm 1948, phong trào yêu nước của dân tộc dâng cao, tớ cũng như nhiều thanh niên khác lên đường nhập ngũ. Tưởng rằng đánh thắng thực dân Pháp, nhân dân được sống bình yên trong độc lập, tự do. Nào ngờ đâu đến thời kỳ cải cách, hàng vạn người lương thiện chỉ biết cần và kiệm bị đấu tố, bị cướp hết tài sản, nhiều người vô tội chết oan, trong số đó có những người sẵn sàng xả thân cho tổ quốc. Từ đó, tớ chán ghét, muốn xin phục viên nhưng lại sợ họ phát hiện ra tư tưởng mình thì khốn. Năm 1960, họ chuyển tớ sang ngành công an với quân hàm chuẩn uý, đến nay vẫn thế. Hơn một chục năm là cai ngục, tớ càng thấy rõ bộ mặt ghê tởm của chế độ này. Chưa kể đến cậu, ngay cả tớ cũng có tên trong sổ đen của ban giám thị. Từ cấp trung ương đến kẻ cùng đinh, đảng đều có những màng lưới mật vụ để theo dõi. Lúc nào tớ cũng nghĩ kế giải thoát cái nghề bất lương này nhưng khó quá.



– Chúng tôi muốn ra tù mới khó, còn các ông muốn bỏ nghề thì…



– Bỏ nghề để vào tù thì dễ thôi. Đấu tranh giai cấp về ý thức hệ trong quân đội và công an còn gay gắt hơn trong tù đấy.



Ông cai ngục nhân từ ấy coi toán xây dựng được ba bốn tháng, đến cuối năm 1972, tai hoạ đã dội xuống đầu ông. Nhận được điện báo vợ đang ốm nặng, ông vội vã về trông nom vợ, hai tháng sau mới đến trại giam. Thiếu tá chánh giám thị Nguyễn văn Chuân quát:



– Đồng chí vô kỷ luật nên cởi bỏ áo mũ giả bộ mà về.



– Tôi xin bỏ nghề từ hôm nay. Nói xong, ông Thắm mang toàn bộ quân trang trả lại và bỏ về quê. Chắc chắn ông ta không tránh khỏi bị hành hạ, đoạ đầy.



* *



*



Chiều hôm sau, anh Thư mang đến cho tôi những đồ thường dùng của nghề mộc: cưa rọc, cưa ngang, bào thẩm, bào khẩu, thước dài, thước vuông, dùi đục, đục mật, bạt tràng… và một bộ quần áo lao động. Anh nói:



– Ngay bây giờ cậu đi với tôi đến gặp cụ Thắng để ngày mai đi làm.



Anh đèo tôi đến nhà cụ Thắng ở phố Lương ngọc quyến.



– Tôi tìm cho cụ ông phó mộc tuyệt vời – Anh Thư nói.



– Xem ra ông phó này gầy yếu lắm – Cụ Thắng phàn nàn.



– Tôi nói thật là cậu ấy vất vả quá nên mảnh khảnh thế thôi, đảm bảo với cụ là làm rất tốt.



– Thôi được, ông sẽ làm ở C500. Chủ yếu là phần lý lịch các ông phải cam đoan với tôi là không bị khúc mắc gì.



– Cụ cứ yên tâm, tôi xin cam đoan – Anh Thư bắt tay cụ Thắng, nói.



Anh Thư lại đèo tôi về ô chợ dừa. Anh nói:



– Cứ thật thà như cậu là hỏng việc. Xã hội này muốn sống phải biết nói phét.



Chị Hoa và anh Hoàng rất cảm kích cử chỉ hào hiệp, nhiệt tình của anh Thư. Riêng tôi, cử chỉ của anh ấy là một công ơn. Nhờ hành động nghĩa hiệp ấy, tôi có việc làm ngay để kiếm sống, không lệ thuộc vào miếng ăn của gia đình chị. Sáng thứ hai, ngày mùng một tháng ba, tôi đi tàu điện vào Thanh xuân. Lúc 7h45 cụ Thắng ra đón và dẫn tôi vào nơi làm việc. Nhóm mộc có ba người, trong đó có hai người bốn nhăm, năm mươi tuổi và một cậu còn trẻ. Người đeo kính cận nói với cụ Thắng:



– Người gầy yếu như một tàu lá úa thế này làm được gì?



– Ông cứ phân công làm mọi việc, nếu ông ấy không làm được, tôi sẽ cho nghỉ.



Cụ Thắng về, ông đeo kính cận tự giới thiệu tên mình là Sang, nhóm trưởng. Ông ta phân công tôi sửa lại mái hắt để lợp ngói, tôi làm đến trưa thì hoàn chỉnh. Ông ta nói:



– Ông thợ này gầy yếu mà làm nhanh đáo để.



Đến chiều, ông nhóm trưởng bảo tôi bào rãnh cửa panô cùng với người thợ trẻ. Tôi nói:



– Tôi làm một mình cũng được

.



– Tôi sợ gió to là thổi ông bay – Ông ta nhìn tôi, cười nửa miệng mỉa mai, nói:



– Một mình ông sao mà đẩy nổi?



– Bác cứ yên tâm, tôi làm được.



– Được, tôi phân công cậu trẻ làm việc khác. Nếu không làm được, cậu đừng có kêu ca gì đấy nhé?



– Nhất trí – Tôi trả lời.



Thấy tôi làm không có vẻ gì nặng nhọc, ông nhóm trưởng khen:



– Giỏi đấy, tớ cứ tưởng là… Bọn tớ phải hai người làm.



– Có gì đâu, biết mình yếu nên phải nghĩ ra cách làm để giảm bớt lực.



Cái ấn tượng xấu về cơ thể tàn tạ của tôi trong ngày đầu đã được xua tan. Tôi cảm thấy yên tâm nhưng vô cùng mệt mỏi, đêm hôm ấy tôi ngủ say như chết. Vài ngày sau ông nhóm trưởng nói:



– Chúng tớ cứ đoán với nhau, có thể cậu đi cải tạo về phải không?



– Các bác đoán sai rồi – Tôi thản nhiên nói dối – Tôi bị suy nhược thần kinh.



– Tại sao cậu không chữa và bồi dưỡng?



– Do nhà nghèo thôi.



– Mới được vài ngày, bọn tớ đã có cảm tình với cậu. Chỉ sợ cậu đi tù mà bọn tớ quan hệ là phiền lắm đấy, mất việc làm ngay.



– Các ông này cứ nói dông dài mãi – ông thợ mộc kia phản đối – phần lý lịch của từng người, cụ Thắng phải chịu trách nhiệm với bộ rồi. Cậu ấy có đi tù về cũng chẳng ảnh hưởng gì đến bọn mình.



– Ông chẳng biết gì xã hội ngày nay cả. Ngày xưa có câu, một người làm quan cả họ được nhờ, còn ngày nay, một người mắc tội, cả họ bị liên quan. Tôi hỏi ông, nếu cậu Tâm đi tù vì tội phản cách mạng, chúng mình không biết cứ quan hệ, cơ quan an ninh có bỏ qua không, hay phải nghỉ việc mà lên đồn, xuống phủ?



– Ông lo xa quá đấy. Thằng cùng đinh đi làm thuê để kiếm miếng ăn khốn khó hằng ngày chứ quan chức gì mà sợ?



– Chẳng lo xa đâu ông ạ. Mình là dân lao động làm thuê để kiếm miếng ăn từng bữa là lo gần. Người ta lo cả sống lẫn chết mới là lo xa. Chẳng hạn hàng trăm ông cán bộ trung ương lo qua đời có được quốc tang không, có được nhập tịch ở nghĩa trang Mai dịch không? Còn mình lo chiều nay có gạo, mỳ cho vào niêu không?



– Cậu Tâm thông cảm nhé, ông nhóm trưởng đôi khi chập mạch, chính trị hoá bầu không khí nơi làm việc cho đỡ buồn thôi. Chúng tôi chẳng có bụng dạ nào đâu.



Một tuần sau, cả nhóm mộc đến làm ở 16 Trần bình Trọng. Người phụ trách xây dựng là đại uý Hải, đứng trước hơn hai chục người vừa thợ nề, vừa thợ mộc, hắn nói:



– Chúng tôi tin tưởng cụ Thắng chọn vào đây làm những người thuộc thành phần tốt, nếu sai cụ Thắng phải chịu trách nhiệm với chúng tôi. Chúng tôi chịu khuyết điểm với bộ – Cơ quan đầu não chuyên chính kẻ thù và trị an xã hội. Ngay cán bộ ở đây không phải đi đến cục nào cũng được nếu không có giấy liên hệ công tác. Trong khi đó, mấy bác thợ mộc đi mọi nơi, mọi chỗ không bị hạn chế gì. Không may lọt một tên phản cách mạng vào đây, cụ Thắng đã đành, chúng tôi cũng phải chịu tội với đảng…



Đang nghe đại uý Hải nói, tôi chợt nhìn sang hành lang phòng bên phải, một thiếu uý đang chăm chú nhìn tôi, làm tôi giật mình nhận ra, đó là thiếu uý Hà Xuân Chí. Năm 1966, Chí mới là hạ sĩ. Tháng sáu năm ấy, từ trại A tôi chuyển vào trại B An Thịnh. Chỉ có một cái quần dài mà phải trèo đèo, lội suối, len lách qua rừng cây, tay bị khoá nên tôi xin tên vũ trang dẫn giải, cởi chiếc quần dài vắt lên vai. Đến trại B, khi được tháo khoá tay, chưa kịp mặc quần dài thì hạ sĩ Hà Xuân Chí đến, hắn hỏi:



– Anh kia họ, tên gì?



– Nguyễn Tâm – Tôi trả lời, tư thế không được nghiêm trang.



– Gặp và trả lời cán bộ, thái độ phải nghiêm túc, nghe chưa? – Chí quát.



– Các ông muốn hỏi, tại sao không cho tôi thời gian chuẩn bị?



– Im! Còn ngoan cố à? – Chí quát to hơn.



Không nói gì thêm nhưng tôi trừng mắt nhìn thẳng vào mặt hắn tỏ vẻ khinh bỉ.



– Láo xược – Hắn nói nhỏ rồi bỏ đi.



Sau đó, hắn chuyển đi đâu không rõ. Đến nay tôi tình cờ lại gặp hắn. Như một phản xạ vô điều kiện, tôi liền quay chỗ khác để giấu mặt. Hắn thong thả bước đến chỗ tôi và hỏi nhỏ:



– Anh được về bao giờ?



– Cuối tháng trước, thưa ông!



– Anh này lạ nhỉ, sao lại gọi là ông, tôi ngang tuổi anh thôi mà?



– Xin lỗi, mười một năm qua, tôi đã trở thành một thói quen.



– Anh làm mộc à?



– Vâng!



Hắn mỉm cười rồi bỏ đi. Tôi cứ đinh ninh là hắn sẽ nói với đại uý Hải, tôi sẽ mất việc làm nhưng việc đó đã không xảy ra. Tôi cũng hiểu, Chí không nói không phải hắn bỏ rơi một nỗi niềm đồng cảm dành cho một tên tù phản cách mạng. Vì hắn biết rằng, tôi vào đây lao động để kiếm sống không một mảy may nguy hại cho cách mạng. Nếu hắn tố cáo tôi, chỉ chứng tỏ hắn nhỏ nhen, cố chấp. Tuy nhiên tính cách kẻ cả sẽ tạo cho hắn leo nhanh trên các bậc thang địa vị, trở thành một quan Cộng sản có chức, có quyền. Một tên tướng cướp uống máu người không tanh thường không ăn cắp vặt.



Một tuần sau đó, lại một sự kiện đến. Tôi đang sửa một mái hắt cho nhà riêng tên trung tá trên tầng ba trong cơ quan bộ, xuống sân vác cuộn giấy dầu, cách xa khoảng năm chục mét, tôi thoáng thấy Hồ sĩ Tưởng. Hắn mặc quân phục màu xanh của công an vũ trang, đeo lon thượng uý. Bốn năm rưỡi ở trại An Thịnh hắn theo sát tôi như cảnh sát trưởng Javert theo dõi ông Janvaljan. Tôi vội vã lên gác. Có lẽ phát hiện ra tôi nên hắn phăng phăng tiến lại chỗ tôi vừa đứng. Tưởng đưa mắt sắc như dao đảo mấy vòng trên cầu thang, không thấy tôi đâu, hắn lại bỏ đi chỗ khác. Nấp trên gác ba nhìn xuống, tôi thấy khuôn mặt và cặp mắt Tưởng vẫn hung tợn như xưa. Hắn không dám lên gác vì đây là nhà riêng của người cấp cao hơn mình. Vả lại, Tưởng cũng tin cơ quan tối cao của nền chuyên chính vô sản không thể có một tên tù phản cách mạng bước chân vào. Vì thế, có lẽ Tưởng cho rằng, hắn đã nhìn nhầm.



Ba giờ chiều hôm sau, ông chủ nhà – tên trung tá gọi:



– Các bác vào nhà nghỉ ngơi uống nước.



Chúng tôi nói nhỏ với nhau:



– Mấy ngày chỉ có nước lã đun sôi để ngoài sân. Hôm nay ông chủ tử tế đây!



Chúng tôi bước vào nhà, thoáng thấy mặt ông chủ buồn phiền, trên bàn không có cốc chén gì cả. Ông chủ bảo:



– Các bác ngồi tất cả vào ghế.



Chờ chúng tôi an toạ, ông chủ tiếp:



– Tôi đang làm việc trong văn phòng, có người nhà vừa báo, một khẩu AR1

5 và hơn một trăm viên đạn phơi trên sân thượng bị mất. Vậy bác nào có giấu đi nên mang trả lại ngay. Nếu không, buộc tôi phải báo cáo bảo vệ cơ quan khám xét.



Chúng tôi đều tái mặt hoảng sợ, ngơ ngác nhìn nhau. Tôi thoáng nghĩ, súng ở đây thì mất sao được, nhưng do sự nhầm lẫn nào đó, tôi là người đầu tiên chịu tai bay vạ gió. Tôi nói:



– Chúng tôi khi vào, khi ra cổng đều có người khám xét, chẳng ai mắc bệnh tâm thần mà lấy trộm súng ở chỗ này. Tôi yêu cầu bác cứ gọi bảo vệ lên khám xét ngay.



– Chúng tôi nhất trí – Cả tốp thợ hưởng ứng.



– Được, tôi sẽ làm theo yêu cầu của các bác – Nói xong, ông chủ vào nhà trong gọi điện thoại. Mười phút sau, hai công an đeo băng đỏ đến. Một tên nói:



– Thưa trung tá, chúng tôi thi hành nhiệm vụ ngay chứ ạ?



– Các đồng chí bắt đầu đi – Tên trung tá ra lệnh.



Hai tên tìm kiếm, lục soát mọi thứ ở ngoài, trên sân thượng. Sau đó đến những túi đồ của chúng tôi, cuối cùng chúng bắt từng người đứng lên để nắn quần áo. Chẳng thấy gì, một tên ra lệnh:



– Từ giờ phút này, các anh không được đi đâu, phải ngồi gọn vào một chỗ để chờ lệnh của chúng tôi.



– Đến 4h30, hết giờ làm việc thì sao? – Tôi hỏi.



– Cứ chờ ở đây.



Tôi biết, khi hết giờ nếu không thấy súng chúng sẽ bắt giam cả bọn và liên lạc bằng điện thoại về nơi ở của từng người. Dù có tìm thấy súng hay không, hậu quả tôi vẫn phải chịu là mất việc làm.



Cả tốp thợ ngồi trước cửa nhà tên trung tá im lặng chờ đợi, nét mặt ai cũng tỏ ra lo sợ. Thời gian cứ ì ạch giẫm chân tại chỗ. Tiếng tích tắc của chiếc quả lắc đồng hồ đều đều chậm chạp. 4h15 – 4h30 – 4h45, từng khoảng thời gian nặng nề dài dằng dặc. Đối với người đang chờ đợi, sự vận động của thời gian hình như cũng mắc sai lầm. Đến 4h50, tiếng chân bước mạnh từ cầu thang đi lên làm tim tôi đập mạnh. Một tên trung uý trẻ vai đeo xắc cốt, tay xách khẩu AR15 xuất hiện làm cả bon thợ thở phào nhẹ nhõm. Tên trung tá từ trong nhà lật đật chạy ra hỏi:



– Anh mang súng đi à?



– Vâng, con mang đi tập bắn.



– Sao anh không nói với ai?



– Thuộc gia đình mình quản lý, nếu không phải bố dùng thì là con. Nó chạy đi đâu mà cần phải báo?



– Mọi ngày khác, mấy hôm nay nhà ta có thợ đến làm, nếu bị thất thoát thì sao?



Tên trung tá ngoảnh lại nói với chúng tôi:



– Xin lỗi các bác, chúng tôi đã sơ suất, nhầm lẫn.



– Cứ vài lần nhầm lẫn của bác, chắc rằng có người phải mắc bệnh tâm thần hoặc tai vạ. – Tôi nói.



– Anh nói thế buộc tôi phải nói thật cho anh biết. Anh hoặc người khác có mắc bệnh tâm thần không quan trọng bằng vũ khí lọt vào tay bọn phản động – Tên trung tá nhìn thẳng vào mặt tôi nói – đảng luôn đề cao cảnh giác.



– Bác ạ, vừa giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước – Ông nhóm trưởng nói – Tôi thiển nghĩ, chẳng có tên phản động nào lại dại dột mà gây hấn với đảng lúc này.



– Các bác không biết đâu. Bọn phản động phải có cơ hội chúng mới chống phá chứ.



– Quá giờ rồi, chúng tôi về được chưa? – Ông nhóm trưởng hỏi.



– Anh đã nói với bảo vệ chưa? – Tên trung tá hỏi con.



– Tôi dẫn các bác ra ngoài – Tên trung uý nói.



Chúng tôi lần lượt theo tên thiếu uý ra bốt gác.



Trên đường về, tôi ngẫm nghĩ, phải tìm nơi khác kiếm sống. Nếu cứ làm ở chỗ này, tai vạ có ngày.



Chiều ngày 16 – 3, tôi được tạm ứng tiền nửa tháng đầu, mỗi công năm đồng, tổng cộng sáu mươi đồng. Chị Hoa lấy tiền ăn của tôi mỗi tháng ba mươi đồng, tôi trả tiền ăn ba ngày cuối tháng hai nhưng chị cho. Tối hôm đó tôi đưa ba cháu lớn ra quán gió, công viên Lénine uống cà phê và ăn bánh ngọt. Tôi tự hỏi, tại sao không đặt tên công viên là Lý thường Kiệt, Trần hưng Đạo, Nguyễn Trãi hay tên một vị anh hùng dân tộc khác? Và tự trả lời, Cộng sản làm gì có tổ quốc và dân tộc. Chúng đã rước thứ chủ nghĩa ngoại lai về giày xéo lên giang sơn, đất nước. Một tổ quốc đau thương thấm đầy máu sẽ lần lượt mang tên gọi của lũ vô thần.



Riêng cháu Sang còn nhỏ, tôi cho cháu hai đồng. Còn lại vài chục đồng, tôi sắm một bộ quần áo rẻ tiền để có đi chơi đâu thì mặc.



Một buổi tối, sau bữa cơm, anh Hoàng lấy trong túi ra ba gói kẹo và hai gói thuốc lá Tam đảo. Anh hỏi chị Hoa:



– Kẹo hai đồng một gói, nếu mình cho chúng nó ăn thì trả tiền đây?



– Anh mua căng tin có chín hào, anh ăn lãi gì nhiều thế? Tôi trả đồng rưỡi.



– Đúng giá hai đồng, nếu thấp hơn tôi mang ra hàng nước.



– Bố ơi, bố để vốn cho con gói Tam đảo nhé? – Thằng Biển nhìn thấy gói thuốc lá, năn nỉ.



– Không được, chín hào rưỡi cũng không bán – Anh Hoàng vừa nói, vừa xếp kẹo và thuốc lá vào túi.



– Mẹ ơi, mua kẹo của bố cho con ăn đi, mẹ. – Thằng Sang từ ngoài đường về, nũng nịu.



– Bố mày bán đắt lắm, mẹ không có tiền mua.



Anh Hoàng cũng không nói thêm gì, mang kẹo và thuốc lá ra ngoài hàng nước bán.



Chị Hoa, thằng Biển, thằng Sang lại nói chuyện với nhau vui vẻ. Thấy tôi có vẻ ngạc nhiên và tủm tỉm cười, chị Hoa phân bua:



– Chuyện như thế, nhà này thường xảy ra. Biết tính keo kiệt của anh ấy nên cũng chẳng ai chấp.



– Mẹ ơi, hôm nọ con bắt được gói kẹo ăn dở giắt trên mái nhà – Sang nói – nhưng kẹo đã chảy thành nước, mốc xanh lên, con ném vào sọt rác.



– Đấy cậu xem, tôi mua cho các cháu ăn, còn lại y như anh ấy giấu đi rồi lại quên.



Một hôm bà mẹ chồng chị Hoa ở ngõ Văn chương đến chơi. Bà hỏi Sang:



– Tối qua, bà gửi bố cháu cho cháu hai hào, cháu đã lấy chưa?



– Tại sao bà cho, bố không trả con?



– Tao cất đi rồi để lúc khác.



– Ứ, bố phải trả con ngay – Thằng Sang xông lại, giằng co với bố. Hai bố con to tiếng với nhau ầm cả xóm. Anh Hoàng gỡ tay con ra rồi vội vàng rảo bước ra ngoài. Thằng Sang nằm lăn ra đất, kêu la bắt vạ.



– Sang đứng dậy, bà cho hai hào khác.



Thằng Sang có tiền lại đi chơi.



– Cậu đừng để ý tính của anh Hoàng – Bà mẹ chồng chị Hoa nói – Khổ, tính bủn xỉn của anh ấy có từ ngày còn nhỏ. Khi anh ấy đến thăm tôi, tôi gửi cho cháu Sang hai hào, anh ấy không được tiền cũng xị mặt ra.



– Vâng, thưa bà! – Tôi trả lời và chìm đắm trong nỗi suy tư. Hôm tôi rủ các cháu ra công viên, về thấy mặt anh Hoàng cau có không vui. Có

lẽ vì tôi không chiều theo tính nhỏ nhen, keo bẩn của anh, nhưng biết làm thế nào trong khi tôi chưa có tiền ăn sáng, nhu cầu của cuộc sống còn trăm thứ bà giằn. Tuy nhiên, tôi biết anh Hoàng sẽ gây sự với tôi.



Một bữa có thịt lợn luộc, anh Hoàng mua rượu uống. Cứ mỗi hớp rượu, anh gắp hai ba miếng thịt để vào bát mình. Đĩa hết thịt thì bát của anh Hoàng có hàng chục miếng. Thằng Sang gắp từ bát bố ra ăn, đưa đũa gắp miếng thứ hai thì anh Hoàng lấy tay bịt miệng bát và quát:



– Không được ăn nữa.



– Ứ ự, sao bố ăn tham thế?



– Con nói thật là bố xấu tính lắm – Thằng Lập nói.



Nó là đứa con trai cả mười tám tuổi, đang học lớp mười. Anh Hoàng cúi mặt xuống ăn, không dám nói lại con một lời. Được thể, chị Hoa chì chiết:



– Không thấy người đàn ông nào tồi tàn như bố mày.



– Bà cũng im mồm đi – Lập trợn mắt quát mẹ và cầm bát thịt của bố đổ ra đĩa.



Cả nhà lặng lẽ ăn cho xong bữa trong bầu không gian ngột ngạt nặng nề. Lập nói năng vũ phu, lỗ mãng. Ngay bố mẹ, nó cũng sẵn sàng văng bậy và chửi tục, không chịu nhún nhường ai. Anh Hoàng và chị Hoa sợ con như sợ cọp. Chị Hoa nói bất cứ chuyện gì, dù đúng hay sai không vừa ý là Lập chặn họng. Xã hội thật lạ lùng, trong nhà bố mẹ sợ con, ngoài đường, người lớn sợ trẻ con, người ngay sợ kẻ gian. Tuy không phải là một quy luật nhưng câu nói: “rau nào sâu ấy”, sai số không nhiều lắm. Tôi không tán thành vài ba nhân vật trong tác phẩm Những người khốn khổ của Victo Hugo: Vợ chồng Ténardiet không thể có được những đứa con là Éponine và Gavoros. Ngược lại, hạt giống quý rất có thể nảy mầm và phát triển thành cây mang trái đắng khi thổ nghi bị đầu độc.



Gia đình chị Hoa là thực trạng chung của xã hội. Nhân cách còn phụ thuộc vào một bình diện quan trọng là văn hoá. Những đứa trẻ sinh ra và lớn lên trong một cánh đồng cỏ dại mênh mông về đạo đức. Hàng ngày chúng được học, được nghe những lời dối trá ở nhà trường, đài phát thanh, đài truyền hình và báo chí. Mặt khác, chúng lại nhìn thấy cảnh kẻ có quyền ức hiếp dân lành, những hiện tượng trôm cắp, đĩ điếm, lừa đảo giết người, cướp của, hiếp dâm… đang diễn ra mọi nơi, mọi chốn. Hơn nữa, khoa tâm lý học, đạo làm người bị tiêu diệt, những mỹ từ: lương tâm, nhân hậu, nhân ái, bác ái, từ bi, hào hiệp… đều thành tử ngữ. Những sinh ngữ được thịnh hành và phổ biến là đấu tranh, căm thù, lập trường giai cấp và cách mạng… thử hỏi những tâm hồn ngây thơ, trong trắng ấy sao không nhuốm màu hoen ố? Cụ Nguyễn Du có câu:



Tiếc thay trong giá trắng ngần,

Đến phong trần cũng phong trần như ai.



Tội ác của chế độ CS chẳng những kéo lùi lịch sử lại, đẩy dân tộc đến cảnh khốn cùng, đau thương, lạc hậu mà còn đập phá tan tành những nét tinh hoa của đạo đức và văn hiến.



Cộng sản đã thống nhất tổ quốc nhưng trong từng gia đình, lòng người càng bị phân chia, li tán. Chiến tranh là chết chóc, đau thương và tàn phá. Tuy vậy, hậu quả của nó không nặng nề bằng cuộc chiến về đạo đức và niềm tin do đảng tính – thú tính và sự kích thích hận thù – là thủ phạm. Hàn gắn vết thương chiến tranh có thể kéo dài một vài thập kỷ, còn hồi phục đạo đức và niềm tin của một dân tộc trong hoang tàn, đổ nát phải trải qua hàng trăm năm.



Lần tới, mời các bạn đón đọc: Những kẻ khổ nhục – Kỳ 2



NHỮNG KẺ KHỔ NHỤC – Unfortunate people



NHỮNG KẺ KHỔ NHỤC – Kỳ 2



Một đêm thứ bảy cuối tháng ba, tôi nằm trằn trọc. Quá khứ đói khổ, nhục nhã trong tù hành hạ tôi. Tôi cố quên đi tất cả để yên giấc nhưng…



“… Mày hãy nhớ và ghi lại… ” Lời nói của Khoa như văng vẳng bên tai. “Tao không quên đâu Khoa ạ, tao sẽ làm tròn trách nhiệm với ước mong của mày trước lúc đi xa – Tôi thầm nhủ – Phải đấy, ta viết đi còn chờ đến bao giờ nữa? Sẽ không có một cơ hội bình yên để ta viết.” Nhân thể tôi cũng ôn lại cuộc đời, gia đình mình và nhiều mảnh đời đã có thời tôi liên quan với họ.



Để đối phó với công an và những người khác, tôi giả vờ học tiếng Anh. Chép lại những từ và ngữ mà anh Thư đã dạy tôi ở trại Vĩnh quang lấy vài tờ giấy. Tôi sẽ viết từng tờ một, viết hết lại giấu đi, khi có động tôi lấy tờ tiếng Anh đặt lên trên và tập phát âm. Làm như thế, có thể sẽ an toàn.



Sự kiện của cuộc đời và xã hội nhiều lắm, tôi nên bắt đầu viết từ đâu và viết những gì? Không, tôi chỉ viết sơ lược những sự kiện liên quan đến cuộc đời mình và đôi nét về xã hội. Trong nhật ký của Khoa năm 1961, có đoạn: “… Nếu ông Balzac sống lại ở Việt nam, xã hội điên đảo gấp hàng nghìn lần, ông có dám mệnh danh là thư ký của Việt nam hay không? Sự nghiệp của hàng nghìn văn nghệ sĩ chân chính, tôi không thể ôm đồm vì hoàn cảnh vô cùng khắc nghiệt của khả năng có hạn, bàn tay không thế che kín ánh mặt trời.



Tiếng gà xao xác gần xa, có lẽ đã hai ba giờ sáng, tôi thiếp đi lại trải qua một cơn ác mộng: “Khoa ngồi bên tôi khóc và hỏi, họ đánh mày hay sao mà lại bị ngất? Không, tao có biết gì đâu? Mặt mày có hai chỗ tím lại là vì sao? Mày nói tao mới thấy đau, tao không biết vì sao?



Khoa nằm trên tấm phản, máu mê đầy người và quần áo. Khoa hét thất thanh: – Ông Oang ơi, tôi sắp chết rồi, ông hãy tiêm cho tôi chết ngay. Ối trời ơi, đau quá! – Im đi, anh có chết, chúng tôi cũng chẳng thiệt gì. Ngược lại, xã hội bớt một tên phản cách mạng… ”



Tiếng còi ô tô đi trên đường réo lên làm tôi bàng hoàng bừng tỉnh. Cảnh nhà tù thường xuyên xuất hiện trong giấc mộng, mãi sau này, nhiều đêm, mỗi khi yên giấc, những hình ảnh ghê rợn trong địa ngục trần gian lại uy hiếp hồn tôi.



Ngủ là nhu cầu thiết yếu, thế mà có thời gian tôi sợ ngủ vì hoảng sợ những cơn ác mộng. Trong tù, ông Hồ có mấy vần thơ:



Thân thể ở trong lao,

Tinh thần ở ngoài lao.



Nhưng cái nhà tù do ông ta sáng tạo ra giam được cả phần hồn lẫn phần xác của con người. Khi thân thể ra ngoài tù, tinh thần vẫn chịu án chung thân:



Thân thể rời địa ngục cõi trần,

Trở về với kiếp phó thường dân,

Trong mơ vẫn thấy bầy quỷ ngục,

Con nhe nanh, con múa vuốt, lên gân…



– Tâm, dậy mau! – Chị Hoa gọi to làm tôi giật mình.



– Nay em nghỉ mà.



– Chị biết rồi nhưng có việc hay lắm. Em dậy đi viếng lăng bác với ông cháu ngay.



– Em mệt không đi đâu chị ạ.



– Lăng bác mới khánh thành, được đi viếng lúc này là vinh dự lắm.



– Cảm ơn, mấy chục năm tôi không biết mộ bố tôi còn hay mất nữa là – Tôi trả lời, vì lời của chị như mũi kim đâm vào ruột gan tôi làm tôi không kiềm chế được.



– Cậu ấy không đi thì thôi – Ông bố chồng chị Hoa nói – Hàng chục năm cải tạo mà tư tưởng vẫn xấu thế à? – Ông ta gằn lên từng tiếng tỏ thái độ hằn học.



– Vâng thưa ông! Cháu xin ông thứ lỗi.



Nghe tôi trả lời, ông ta bỏ đi ngay.



Anh Hoàng và các cháu cũng dậy, chẳng ai nói gì thêm, đều nhìn tôi với ánh mắt lơ láo, lạ lùng. Tôi ra đầu ô tìm mua giấy trắng để bắt đầu viết hồi ký, khi về nhà thấy anh Hoàng, thằng Lập đang bàn tán gì đó.



– Cậu ngồi xuống ghế, cháu nói chuyện với cậu – Lập nói.



– Cháu muốn nói gì? – Tôi hỏi.



– Cậu về đến nay đã hơn một tháng, cháu chưa có dịp nói chuyện với cậu về xã hội.



– Cháu nói đi.



– Thứ nhất cậu phải xác định mình đã chết rồi, có thế còn hơn thế. Đối với đảng, cậu là kẻ thù của cách mạng. Đối với xã hội, cậu bị khinh bỉ, bị đầy ra ngoài lề cuộc sống. Đối với gia đình, cậu là một nỗi nhục, may ra người ta chỉ dành cho cậu một chút xíu tình thương máu mủ. Do vậy, muốn được tồn tại, cách tốt nhất với cậu là im lặng, cam chịu, ngoan ngoãn phục tùng theo thời thế. Hôm nay, ông cháu có tích kê, gọi cậu đi viếng lăng bác, điều đó cũng thể hiện một tình thương. Cậu biết không, ngay ở thủ đô, biết bao người có công với cách mạng muốn đến viếng lăng bác mới chỉ là một ước mơ? Thế mà cậu đã từ chối một cách nặng nề. Người Việt có thể chửi lại bố mẹ mình, có thể hỗn láo với ông bà mình nhưng trong giấc mơ người đó vẫn phải tôn kính bác. Chỉ một lần nghĩ không hay về bác, đảng và cách mạng đã là có tội. Nếu gia đình cháu không còn một chút xíu tình thương với cậu, đưa những lời của cậu sáng nay ra công lý, chắc chắn cậu lại lên đường vào trại, lần này sẽ không hẹn ngày về.



Thứ hai, cháu muốn đề cập tới, tại sao người nhà chỉ dành cho cậu một chút xíu tình thương. Bác có câu:



Quan san muô

n dặm một nhà



Bốn phương vô sản đều là anh em



Hai câu thơ của bác là thể hiện đạo đức của thời đại. Tình anh em là tình thương yêu giai cấp, dù người ở châu nào, dù da trắng, da vàng hay da đen, da đỏ nếu là vô sản đều là anh em một nhà. Ngược lại, người trong một nước, thậm chí người trong một gia đình nếu là kẻ thù của giai cấp nghĩa là kẻ thù của cách mạng phải đấu tranh không khoan nhượng. Như thế, gia đình cháu dành cho cậu một chút xíu tình thương đã là đặc biệt, đã là sai phạm với đạo đức cách mạng.



– Tôi cảm ơn những lời bộc trực của anh. Tôi biết mình đã chết từ hồi nhỏ tuổi, nay chưa về nơi yên nghỉ là còn tồn tại mà thôi. Nếu có chăng, lương tâm tôi còn sống – Nói xong tôi lấy giấy bút ghi lại những từ, ngữ tiếng Anh để chuẩn bị viết hồi ký. Vài phút sau, Lập đến xem và hỏi:



– Tiếng nước nào đây, cậu?



– Tiếng Anh.



– Nó có ích gì cho cậu?



– Tôi có học nữa đâu, ôn lại để giết thời gian thôi.



– À này, lương tâm là gì cậu nhỉ?



– Xin lỗi, từ đó nó bị khai tử từ lâu rồi, anh biết mà làm gì?



– Thế ra tâm hồn cậu chỉ còn cái mà xã hội chủ nghĩa đã khai tử?



– Đúng, thế thôi.



– Nếu thế thì tâm hồn cậu còn gì được coi là còn sống?



– Vâng, chết tất cả rồi, tôi xin anh tha lỗi.



– Không, không phải cậu đã chết tất cả. Nói một cách công bằng, cậu còn ăn, còn thở, còn làm việc như một người bị tước mất linh hồn.



– Nói như thế chưa hẳn đã công bằng. Một người không còn linh hồn, tồn tại theo bản năng thì như một con vật chứ.



– Đúng lắm! Cậu dũng cảm nhìn vào sự thật của cuộc đời mình – Lập khoái chí bật lên tiếng cười giòn rã rồi bỏ đi chơi.



Đến hai giờ chiều, tôi đã viết kín hai tờ giấy, muốn khai bút mấy dòng hồi ký nhưng anh Hoàng và các cháu ở nhà, nên thôi. Sáng thứ hai, tôi đến nơi làm việc, vật liệu không có, lại về nhà. Hôm ấy anh Hoàng đi làm, ba cháu lớn đi học. Chỉ có chị Hoa và cháu Sang ở nhà, một cơ hội để tôi khai bút. Nhân lúc chị Hoa đi chợ, Sang đi chơi, tôi khép cửa lại, trong nhà tối quá không viết được. Vả lại, đã sang mùa hè mà khéo kín cửa sẽ làm người khác nghi ngờ, tôi lại mở cửa ra, nhưng mở một nửa thôi.



Đặt một tờ giấy trắng lên hai tờ tiếng Anh, tôi viết: Cách đây sáu năm… tôi định viết tiếp: tại một địa ngục trần gian trong núi rừngtỉnh Vĩnh phú… Nhưng linh tính báo cho tôi biết có người đứng ở ngoài đang nhìn vào, tôi liền viết: tôi đã về quê thăm bác tôi.



– Anh Tâm viết gì đấy? – Công an hộ tịch hỏi và đẩy rộng cửa bước vào.



– À, chào anh. Hôm nay nhỡ việc, tôi ôn lại mấy từ tiếng Anh cho đỡ buồn.



– Sao lại buồn?



– Đi ở nhờ thì buồn chứ, vui sao được?



– Anh cho tôi xem nào? – Hắn vừa hỏi, vừa cầm giấy đọc. Có lẽ hắn chẳng biết gì tiếng Anh. Đọc câu tiếng Việt tôi vừa viết, hắn hỏi:



– Cách đây sáu năm anh ở trại chứ, tại sao lại viết về thăm bác?



– Tôi tập dịch câu ấy ra tiếng Anh ấy mà.



Đưa tờ giấy có câu tiếng Việt cho tôi, hắn nói:



– Dịch ra tiếng Anh thế nào, anh viết vào đây?



– Vâng! – Tôi trả lời và viết – Six years ago, I came back the native country to pay my uncle a visit.



– Anh đưa tôi xem, đến tối hoặc sáng mai tôi sẽ trả lại.



Hắn đặt ba tờ giấy vào cặp tài liệu rồi đi.



Tôi vừa mừng lại vừa hoảng sợ, suýt nữa một tai hoạ dội xuống đầu. Có lẽ thượng đế hay các vị thần linh đã cứu tôi thoát nạn. Tôi cất giấy bút và tự an ủi mình, vạn sự khởi đầu nan. Chờ vài ngày nữa ổn định, có cơ hội ta lại bắt đầu, hãy buông thả cuộc đời cho số phận.



Tối hôm sau, công an hô tịch mang giấy trả và nói:



– Hiện nay tiếng Anh học sinh và mọi người dân được học. Tuy nhiên, với anh lại khác, chúng tôi không ngăn cấm nhưng vẫn phải đặt vấn đề?



Tôi thoáng nghĩ, hắn nói đúng nhưng nếu không giả vờ học tiếng Anh để làm lạc hướng thì tôi viết gì được nữa?



– Nếu nghi ngờ, anh cứ thường xuyên kiểm tra, tôi không dại gì làm việc khuất tất phản dân, hại nước – Tôi bình tĩnh trả lời.



– Anh cam đoan chứ?



– Vâng, nhất định tôi không làm gì phản dân, hại nước – Tôi nói to, dõng dạc, đầy vẻ khẳng định.



– Được như thế thì tốt lắm, chúng tôi chỉ sợ… – Nói xong, hắn bỏ đi. Hắn làm sao mà hiểu được, chế độ CS không cùng đường với tổ quốc và dân tộc. Tôi chống chế độ nghĩa là biểu hiện lòng yêu nước, thương đồng bào.



Vài ngày sau tôi bắt đầu viết, tận dụng mọi thời cơ để làm việc: ngày nghỉ, chủ nhật, những buổi tối anh Hoàng và các cháu vắng nhà. Tên công an hộ tịch thường đến thăm dò, hỏi han vào những sáng chủ nhật. Thấy hắn, tôi vẫn giả vờ học tiếng Anh. Hắn chẳng biết gì nhưng cũng xem lấy lệ, doạ dẫ

m bâng quơ một vài câu. Hắn đã đứng tuổi, thái độ kiêu căng, hống hách. Tôi coi hắn như một con thú ngây thơ, có thể điều khiển hắn như con rối. Có lần hắn hỏi:



– Tại sao anh không học tiếng của Lénine?



– Tiếng Lénine là tiếng gì, anh? – Tôi giả vờ hỏi với vẻ ngơ ngác.



– Rõ cái anh này lạc hậu quá – Hắn mỉm cười đượm vẻ mỉa mai – Tiếng Lénine là tiếng Nga. Rồi đây tiếng Nga sẽ là thứ tiếng phổ biến để giao lưu quốc tế theo xu thế tất yếu của lịch sử nhân loại.



Ngừng một lát, nhìn thẳng vào mặt tôi, hắn tiếp:



– Tôi thấy anh gầy yếu, khuôn mặt lại đần độn, ngốc nghếch. Không biết anh có khả năng gì mà phản dân, hại nước nhỉ?



– Tôi phạm tội phản cách mạng chứ có phải phản dân, hại nước đâu.



– Anh này có mắc bệnh tâm thần không đấy? – Hắn cười thành tiếng, nét mặt hắn vừa tự đắc, vừa giễu cợt – Phản cách mạng là phản dân, hại nước chứ còn gì nữa.



– Thế à, vậy mà tôi không biết – Tôi trả lời, nét mặt làm ra vẻ ngây ngô.



– Anh nghe đây – Hắn lên mặt dạy đời – Chắc chắn anh chưa qua một lớp chính trị nên mới ấu trĩ đến tức cười. Marx dạy rằng, chủ nghĩa xã hội sẽ thay thế chủ nghĩa tư bản. Đó là một quy luật tiến hoá, một chân lý tuyệt đối…



– Học chính trị có khó không, anh? – Tôi hỏi.



– Khó với anh, dễ với tôi. Hay nói rộng ra là những kẻ thuộc giai cấp đối lập sẽ không có ý thức và trình độ để tiếp thu. Ngược lại, tầng lớp lao động, nhất là đảng viên nhận thức lý luận cách mạng dễ như uống cốc nước đường. Là học trò xuất sắc của Marx và Lénine, bác đã vận dụng lý thuyết CS vào cách mạng nước ta một cách sáng tạo và tài tình. Đảng, bác đã lãnh đạo nhân dân lao động làm cuộc cách mạng tháng tám, đánh thắng thực dân Pháp, đánh đổ chế độ phong kiến thối nát. Và đến nay đã đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, thống nhất tổ quốc. Dưới sự lãnh đạo của đảng, nhân dân ta đang vững bước tiến lên xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Bác đã dạy:



Còn non, còn nước, còn người



Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay.



Vì thế đảng, bác, cách mạng, chủ nghĩa xã hội ở thể đồng nhất, liên quan hữu cơ với tổ quốc và dân tộc. Anh phải bỏ ngay cái tư tưởng phản động và phải hiểu rằng, cách mạng, nhân dân và tổ quốc…



Hắn nói rất hăng say, hào hứng, không bỏ lỡ cơ hội tôi dành cho hắn để làm thày. Thời đại loạn thày như ông bố Linh (Linh là bạn học) đã nói với tôi cách đây mười tám năm. Chủ tịch hay tổng bí thư đảng là người thày vĩ đại nhất của dân tộc, cấp trên là thày của cấp dưới, cấp dưới là thày của cấp thấp hơn. Cứ thế đến lớp dân dưới đáy của xã hội là đám học trò có nhiều thày nhất. Thày nào dạy cũng phải nghe theo, nếu bài bác ý kiến của thày là phạm tội phản cách mạng. Muốn hại nhau, không có thứ vũ khí nào hiệu nghiệm bằng chụp lên đầu kẻ thù cái mũ “có tư tưởng chống đảng”. Giá trị của văn học, nghệ thuật cũng được xếp bậc theo địa vị thày. Thơ văn của ông Hồ là hay nhất, là khuôn vàng, thước ngọc của giới văn nghệ sỹ. Kế đó là thơ của Sóng Hồng, Lê đức Thọ. Thơ của Tố hữu, linh hồn thơ của chế độ không biết xếp thứ bao nhiêu?



Từ đó, tên công an hộ tịch coi thường tôi, ít khi đến nhà quấy nhiễu, tạo cho tôi một cơ hội thuận lợi để viết cho xong tập hồi ký. Thế ra giả ngây, giả ngọng trong thời buổi này có lợi biết bao!



Lần tới, mời các bạn đón đọc: Những kẻ khổ nhục – Kỳ 3



NHỮNG KẺ KHỔ NHỤC – Unfortunate people



NHỮNG KẺ KHỔ NHỤC – Kỳ 3



Đến tháng sáu, anh Thư đến nói với tôi:



– Làm thuê cho bộ nội vụ là đường cùng, hàng ngày phải giáp mặt, phải giao tiếp với những kẻ bất nhân. Chẳng những thế, tai vạ có ngày. Bây giờ tôi đưa cậu đi một chuyến công du để tìm miền đất mới và thoát khỏi cảnh cùng đường ấy.



– Đi đâu, anh?



– Đến nhà chủ nhiệm 307, xin việc làm ở hợp tác xã đó. Mỗi ngày họ trả công sáu đồng. Chẳng những thế, nhân phẩm của chúng ta được tôn trọng, không đến nỗi phải chui lủi giấu giếm tổng tích của mình như ở bộ nội vụ.



– Thôi, tôi đèo cậu đi ngay.



– Vâng, được làm chỗ khác thì tuyệt vời, em vẫn ước ao thế.



Nhà chủ nhiệm 307 ở ngõ Thổ quan, ông ấy tên là Lý – anh em kết nghĩa với Hoán – người có tấm lòng nhân ái, dũng cảm đã giúp đỡ Lê Cần. Tính tình ông Lý phóng khoáng, cởi mở. Xưa kia ông ấy đi bộ đội, cấp đại uý. Có lẽ tính tình của ông không thích hợp với sự gò bó trong quân đội nên ông xin phục viên và làm thợ nề. Từ đó, dần dà ông làm chủ nhiệm.



Thực ra, các hợp tác xã xây dựng sau này đều biến thành những tổ chức của cai đầu dài. Một ông cai với danh nghĩa là chủ nhiệm, phó chủ nhiệm, trưởng, phó ban kiểm soát, đội trưởng, đội phó… ký hợp đồng xây dựng với các cơ quan, xí nghiệp, nhà máy, cửa hàng… Muốn được thực thi công trình, tất yếu phải hối lộ cán bộ phụ trách xây dựng, tài vụ, ban giám đốc của cơ quan đó. Ngoài ra, phải hối lộ ngân hàng để rút tiền nhanh chóng từ các séc chuyển khoản, hối lộ phòng xây dựng khi duyệt giá. Đấy là chưa kể phải hối lộ các đối tác khác. Kinh phí của công trình cao hay thấp hoàn toàn phụ thuộc vào tiền hối lộ. Ông cai nào mạnh tay chi những khoản tiền “ngoại giao”, ông ấy có nhiều công trình xây dựng, chất lượng công trình không quan trọng. Chi công cho thợ theo cảm hứng của từng ông cai, không có một quy định nào của nhà nước; CS quan tâm, bệnh vực quyền lợi của người lao động như thế đấy! Do vậy hợp tác xã xây dựng là những tổ chức ô hợp được chính quyền công nhận và bảo vệ, xã viên ra vào dễ như đi chợ.



Ông Lý tuy làm chủ nhiệm nhưng do tính toán kém, không biết tổ chức và quản lý lao động nên ít khi dám nhận công trình. Chúng tôi đến nhà ông Lý, sau khi tự giới thiệu họ tên từng người, anh Thư nói:



– Như anh Cần, chúng tôi là những tên phản cách mạng ông có dám nhận không?



– Không sao, không sao! Các bác phản cách mạng chứ có phản chúng tôi đâu – Ông xiết chặt tay chúng tôi, nét mặt niềm nở, phảng phất một nụ cười đồng cảm – Tôi không vất vả bằng các bác nhưng cũng hiểu đôi điều về xã hội.



– Ông có sợ liên quan không? – Tôi hỏi.



– Nói chung thì mọi người đều sợ, riêng với tôi có khác. Ngày nay những sự vật được coi là thiêng liêng, tuyệt đối thì ngày mai có thể lại là sai lầm và tội ác…



– Bao giờ chúng tôi có thể di làm? – Anh Thư hỏi.



– Hiện tại tôi chưa có công trình. Tôi sẽ đưa các bác đến ông bạn thân ở gần đây. Ông ấy đang cần thợ.



– Ông ấy có thông cảm với chúng tôi không? – Anh Thư hỏi tiếp.



– Các bác khỏi lo. Ông ấy chẳng những thông cảm mà còn có tình chiến hữu. Hơn nữa, về mặt nhân cách của ông ấy, các bác càng yên tâm. Tôi gọi ông ấy là Lã tiên sinh, nhiều người gọi là Mạnh thường Quân tuy rất nghèo. Nói như thế có hơi phóng đại thì ông Lã cũng là một Bình nguyên Quân hay một Tín lăng Quân của thời nay.



Sau đó, ông Lý dẫn chúng tôi đến nhà ông Lã văn Đồng. Ông ấy dáng người bệ vệ, lực lượng, khuôn mặt chữ điền, lông mày rậm, cặp mắt sáng nhân hậu, chùm ria mép vểnh lên như bức tranh vẽ ria Quan công. Diện mạo của ông làm người ngay phải kính nể và kẻ gian phải sợ. Tính tình ông cương trực, không quỵ lụy, không xu nịnh một ai và giàu lòng nhân ái, vị tha, phù suy không phù thịnh. Trong thời kỳ kháng Pháp, ông nhập ngũ, chiến đấu dũng cảm, ngoan cường. Bị địch bắt, tra tấn nhiều lần, ông vẫn giữ được khí tiết của người yêu nước. Sau khi kí kết hiệp định Geneva, ông chuyển sang ngành công an. Là một người có trái tim rung cảm trước chân lý, dần dần ông nhận thức được rằng, đảng đã lợi dụng lòng yêu nước của toàn dân để thực hiện mưu đồ Cộng sản. Người dân vẫn lầm than, cơ cực dưới ách cai trị độc tài của đảng. Từ một kẻ cuồng tín ông đã rơi xuống vực thẳm của lòng tin. Ông không mấy khi tham gia ý kiến vào những câu chuyện chính trị, nghe người khác lên án chế độ, ông chỉ trả lời bằng một nụ cười đồng cảm. Cuộc đời ông có nhiều kỷ niệm đáng ghi nhớ. Năm 1959 ông làm đồn trưởng ở ngõ chợ Khâm thiên. Một tên công an cấp dưới bắt được một gã lưu manh. Thấy gã còn trẻ mới mười sáu tuổi, lại đẹp trai, ông thân hành hỏi cung gã:



– Quê mày ở đâu?



– Cháu ở Nam định – Gã trả lời.



– Tại sao mày đi ăn cắp?



– Thưa chú, vì cùng đường cháu phải làm.



– Tại sao lại cùng đường?



– Hồi cải cách, bố cháu bị bắn, mẹ cháu bị bức tử, nhà cửa, tài sản bị tịch thu toàn bộ. Cháu phải bỏ quê hương đi xin ăn. Dần dà cháu theo bon bụi đời và cùng ăn cắp.



– Mày không sợ phải vào tù à?



– Thưa chú, người ta thì sợ, còn cháu đã đế

n đường cùng thì chẳng biết sợ là gì?



– Mày muốn được tha không? – Ông hỏi, lòng ông cảm thương với số phận trẻ thơ bất hạnh này.



– Tuỳ chú, với cháu cũng chẳng quan trọng gì?



– Thằng này lạ nhỉ, mày muốn ở tù à?



– Thưa chú, vào tù thì không ai muốn, nhưng với cuộc sống khốn khổ của cháu thì tù hay không cũng thế thôi.



– Nhưng nếu ra tù mà có cuộc sống ổn định thì sao?



– Đấy là ngoài mơ ước, cháu không dám nghĩ đến.



– Tao sẽ giúp mày, không phải đi tù, lại có một cuộc sống ổn định.



– Cháu đội ơn chú nhưng quả thực cháu không dám tin điều đó.



– Tao nói thực đấy, miễn là mày sống lương thiện.



Nói xong, ông trung uý hủy hồ sơ của gã. Gửi gã tại một nhà quen thân trong ngõ, trích tiền lương để nuôi gã. Kế đó, ông xin nhập hộ tịch và xin việc làm cho gã. Khi mọi việc xong xuôi, gã mới nói với ông:



– Cháu coi chú là người bố thứ hai. Nếu cháu bất hiếu, bất nghĩa sẽ trời tru, đất diệt.



Nghe gã nói, ông chỉ mỉm cười đôn hậu.



Suốt mười bảy năm ròng rã, gã không một lần đến thăm ông, cũng không một lời thăm hỏi. Đến một buổi chiều hè, ông từ Bát tràng đi qua cầu phao, rẽ vào một quán nước. Ông thấy một gã trung niên có vẻ quen quen, ông liền hỏi:



– Xin lỗi, hình như trước đây tôi có biết anh?



– Bác nhầm rồi, tôi chẳng biết bác là ai cả. – Gã nói luống cuống, mặt gã tái đi. Nói xong, gã vội vã ra khỏi quán nước và lên Honda phóng hết ga. Ông trầm ngâm hồi tưởng lại. Chợt ông ta nhớ ra thằng bé mang ơn ông và nhận ông là bố thứ hai có vết sẹo trên trán gần mày trái thì gã vừa rồi cũng thế. Thôi đúng nó rồi! – Ông thầm kêu lên. Ông giúp đỡ người không mong được trả ơn, ông chỉ ước mơ ai cũng giữ được tình người. Tại sao lại có kẻ vong ân, vô lương tâm đến thế? Trong giây lát, ông lại mỉm cười, cặp mắt nhân hậu nháy vài lần liên tiếp. Ông tự an ủi mình, cái xã hội này nó thế mà làm sao tạo ra được những con người có nghĩa, có nhân? Ông chẳng oán trách ai và tự khuyên mình, không vì cơn điêu loạn của đạo lý mà bỏ rơi mất tình người. Ông tin có đức Phật, có đấng tối cao và các vị thần linh. Sau này ông lập miếu để thờ Phật. Hằng ngày, cả buổi sáng ông ngồi thiền, đọc kinh và tập Yoga.



Năm 1960, ông mới ba mươi tuổi. Chàng trai ấy yêu một cô gái con gia đình tư sản, có hai người anh cộng tác với đối phương. Biết chuyện, cơ quan công an tìm mọi cách ngăn cấm và kiểm điểm nhiều lần: lập trường giai cấp và cách mạng để đâu mà một đảng viên, một sĩ quan công an dám yêu một cô gái thuộc thành phần đối lập. Họ giải thích, mọi quan hệ xã hội phải dựa trên tính giai cấp và tính đảng. Tình yêu phi giai cấp của đồng chí là con đường li khai với đảng, trở thành kẻ thù của đảng. Anh lạnh lùng trả lời:



– Xưa kia, tôi tham gia cách mạng là xuất phát từ lòng yêu nước, thương đồng bào. Đối với tôi – riêng cá nhân tôi – quan hệ giữa con người với con người bằng trái tim không có một hàng rào vô hình nào cản trở. Ngày nay để có một tình yêu chân chính mà phải xa rời hàng ngũ đảng, tôi xin vui lòng chấp nhận.



– Đồng chí không nhớ cách mạng vô sản là triệt để nhất trong lịch sử loài người hay sao? Một đảng viên được đảng giáo dục và đào tạo, nhất cử nhất động phải phục tùng sự lãnh đạo của đảng. Phá bỏ mọi phong tục, tập quán cổ hủ, nhân sinh quan và luyến ái quan lạc hậu, đảng tạo ra một mẫu người mới, hoàn toàn mới – con người xã hội chủ nghĩa, yêu và ghét dựa trên lập trường giai cấp. Yêu, ghét không rõ ràng dẫn đến trắng đen lẫn lộn, làm sao đồng chí thực hiện được nhiệm vụ đảng giao. Nếu đồng chí cứ tiếp tục lao vào một tình yêu mù quáng buộc đảng phải khai trừ đồng chí ra khỏi đội ngũ quân tiên phong của cách mạng.



– Tôi xin đảng tha tội. Một lần nữa tôi xin chịu sự kỷ luật của đảng.



Từ đó, anh trở thành người dân thường nhưng cấp ủy không buông tha anh, mở một cuộc điều tra bới lông tìm vết. Rốt cuộc anh bị đi tù vì tội ăn hối lộ – cái tội mà mọi người có chức, có quyền đều phạm phải. Về phần mình, anh cũng lên án, xám hối hành vi thiếu đạo đức ấy – một vết đen duy nhất trong cuộc đời. Sau khi mãn hạn tù, anh cưới vợ và làm mọi việc nặng nhọc để xây tồ ấm, có thời anh đã đi thồ cua, ốc từ Hòa bình về Hà nội bán. Năm 1970, anh mua một chiếc máy ép mì sợi, đem lên Hoà bình kinh doanh, khách hàng mua hàng mỗi ngày một đồng. Anh quy định, người nghèo khổ không có tiền mua đến xin thì cho trước. Kế đó là những người mua chịu. Thứ ba đến người làm thuê và cuối cùng là cơ quan nhà nước. Sau khi trả công người làm thuê, chi tiêu, ăn uống, anh cho tiền lãi vào một ống bương to, chỉ có hai loại tiền năm đồng và mười đồng. Cứ thế, gần hai năm thấy ống tiền đã chặt, anh ngừng làm việc và về Hà nội. Hàng trăm khách nợ, anh hẹn đúng ngày tháng ấy năm sau sẽ lên đòi. Đến hẹn, anh đi ô tô đến nơi làm việc, mời khách nợ đến. Nhiều người kêu ca năm ấy mùa màng thất bát, anh chỉ mỉm cười. Nhờ người đi mua rượu và lạc rang về, anh nói:



– Như đã hẹn với bà con năm ngoái, hôm nay tôi đến đây xin thanh toán nợ, song nghe tin xã nhà mất mùa, tôi chỉ mang theo bốn mươi đồng, chi hai đồng vé ô tô khứ hồi, còn lại ba mươi tám đồng mua rượu, lạc rang mời bà con uống với nhau cho vui. Và tôi tuyên bố xoá nợ tất cả.



Ai cũng cảm động vì cử chỉ hào hiệp của anh. Có người mừng, có người áy náy, nói:



- Nợ mà không trả được là một nỗi nhục, nay bác có hảo tâm xoá nợ cho mọi người, chúng tôi vô cùng cảm ơn bác. Tuy nhiên, chúng tôi phải mang một món nợ đời, khi nào trả được mới yên.



Anh mỉm cười tỏ lòng thương cảm, trả lời:



– Bà con ạ, muốn xã hội tốt đẹp thì sự công bằng chưa đủ. Ai chẳng có lúc trái nắng, trở giời, khó khăn, hoạn nạn. Do vậy, phải tồn tại cái cao hơn sự công bằng, đó là tình thương yêu giúp đỡ lẫn nhau. Hôm nay tôi giúp bà con, ngày mai có thể bà con lại giúp đỡ tôi hoặc người khác. Theo kinh nhà Phật “sinh ký, tử quy”, cuộc đời con người là cái có hạn trên cõi thế, cái vô biên thuộc về cõi Phật. Chúng ta sống với nhau như thế nào cho có tình người, ai cũng có một món nợ, đó là món nợ tình người. Người có tâm huyết với cuộc đời phải trả đầy đủ món nợ này trước ngày quy Phật.



Nghe anh nói, ai cũng khen anh là một người chí lý, chí tình. Nếu có nhiều người như thế, thiên hạ ắt phải thái bình. Anh từ tốn trả lời:



– Bà con quá khen tôi đấy. Người nào cũng có cái xấu, cái tham, không tham tiền của thì tham danh, tham địa vị hoặc háo sắc. Tựu chung đều là tham lợi. Khổng tử nói: “Lợi là cái gốc của loạn”, bậc thánh hiền mới không tham lợi. Khi nào loài người không còn ai tham lợi mới thực sự thái bình, điều đó là hoang tưởng.



Từ giã những người khách nợ, về Hà nội anh dặn vợ:



– Số tiền ta kiếm được hãy chia ra ăn dần, khi nào gần hết thì báo cho anh biết.



Anh nằm đọc sách ròng rã. Tiêu những đồng tiền cuối cùng, anh lại đi kiếm sống và bắt đầu làm cai thầu xây dựng.



Một hôm, đứa con trai thứ hai bị hai gã côn đồ đánh mặt mày sưng húp, thân thể, chân tay nhiều chỗ tím bầm.



Hôm sau, thằng Dũng cùng ba thằng bạn đi đánh phục thù. Khi bắt được một hung thủ, thằng Dũng nói:



– Các bạn ạ, tôi đã đau rồi. Bây giờ mình đánh nó, nó cũng chịu đau. Là một trận hành hung thì chẳng hay gì, tôi xin các bạn tha cho nó.



Cả bọn kéo về kể lại cho ông Đồng nghe, ông vô cùng sung sướng, nở một nụ cười kiêu hãnh, gọi vợ:



– Em ơi, con chúng ta đã trưởng thành rồi, mình phải mở tiệc ăn mừng,



Bà Hà rất tâm đầu, ý hợp với chồng. Hành động cao thượng của con làm bà cảm động quá đến rơi nước mắt. Ông luôn nhủ các con:



– Bố cho phép các con được đánh nhau trong những trường hợp đặc biệt, nhưng chỉ được đối địch với những kẻ lớn hơn mình để giữ thể diện, không được phép lấn át những kẻ yếu. Gặp sự bất bình trên đường phố, hãy bênh vực lẽ phải, bênh vực kẻ yếu hơn, đừng bao giờ a dua, phù thịnh.



Làm ở hợp tác 307, ông có một người bạn gái nhiều tuổi hơn, giàu có. Khi bà này đi định cư ở Tân tây lan, nói với ông:



– Tôi giúp chú mười lăm nghìn để chú xây nhà mà ở cho đỡ khổ.



Ông ngẩng mặt lên mái nhà, cười và nói:



– Trong nhà nhìn thấy trời, mây, trăng sao là nhà của Đồng. Nhà lợp mái ngói hay đổ mái bằng là nhà bà Ngọc. Em xin cảm ơn chị, khổ thì em chịu, em không thích ở nhờ.



Ông là đứa con độc nhất. Trước năm 1945, cụ thân sinh ra ông từ Hải phòng vào Sài Gòn làm việc và có ý định mang theo cả vợ con. Cụ bà không có anh em trai nên nói với cụ ông rằng, anh vào trước, em ở lại chăm sóc bố mẹ cho tròn chữ hiếu, vài năm sau, em và con sẽ theo anh. Lúc đó, cụ bà mới ngoài ba mươi tuổi. Nhiều người theo đuổi nhưng bà đều chối từ, ở vậy nuôi con. Khi thân quen với gia đình, tôi hỏi cụ bà:



– Tại sao hồi còn trẻ, bà không sang sông lần nữa?



– Mỗi khi có người dạm hỏi, hình ảnh bố anh Đồng như đứng trước mặt tôi. Nghĩ đến ông ấy, một người mẫu mực, tôi không thể…



Có lẽ do hoàn cảnh éo le đó mà cụ bà rất khó tính, ông Đồng hết lòng trông nom, phụng dưỡng mẹ già.



Ông Đồng và bà Hà là một cặp vợ chồng hoà thuận đồng thời cũng là một đôi bạn tri tâm. Sau này ở độ tuổi trên dưới lục tuần, ông bà vẫn thường xuyên ngồi bên nhau rủ rỉ tâm tình như những buổi đầu của tình yêu nồng thắm. Cả hai đều ham đọc sách. Những buổi nói chuyện về văn chương, về đối nhân xử thế của cặp vợ chồng lý tưởng này hình như kéo dài vô tận. Cả hai đều đồng nhất về nhân sinh quan, xã hội quan. Bà tôn thờ, phục tùng, chăm sóc ông, ông hết lòng thương yêu bà.



Nhà ông Đồng ở bên đường Đê la thành. Hồi đó, đúng như ông Lý nói, ông ta nghèo, nhà xiêu, vách nát. Khi mưa rào trong nhà như ngoài sân. Mảnh đất nhà ông lại thấp cứ mưa to là bị ngập.



Sau khi ông Lý giới thiệu chúng tôi với ông, ông nói:



– Đúng là hiện nay tôi đang cần thợ nhưng điều tôi mong muốn hơn cả là những trái tim đến với nhau cùng nhịp đập. Chúng ta cùng quây quần bên nhau để tồn tại. Tôi tự giới thiệu mình là một cai đầu dài, vâng, tôi đích thực là như vậy. Tôi không dám khẳng định rằng trong số hàng trăm ông cai hám lợi, bất nhân lại dẫn đến một ông trọng nghĩa khinh tài. Tuy nhiên, trước khi chúng ta làm việc với nhau nên nhất trí một quan điểm: buôn đầy bán vơi là có tội, mua một bán mười không có lỗi gì. Đấy là lẽ công bằng. Còn một bình diện khác quý hơn, làm sao khu xử với nhau cho có tình người.



Theo sự điều động của ông Đồng, ngày hôm sau, anh Thư và tôi vào trại thương binh Mưu nha làm. 4h30 sáng tôi và cháu Biển phụ nề có mặt ở nhà anh Thư để đi ô tô vào đó. Khô

ng biết có chuyện xích mích gì giữa anh và mẹ, anh quát tháo bà cụ ầm cả phố. Trên đường đi, anh không nói với tôi một lời nào, có lẽ vì tức giận với bà mẹ mà tôi cũng bị vạ lây. Tôi bị say ô tô, đầu óc quay cuồng, nôn mửa. Đến chín giờ xuống xe, tôi phải nằm ở vệ đường một hồi lâu mới vào được trại.



Buổi chiều, sau một giờ làm việc, có một thanh niên khoẻ mạnh đi xe đạp Phượng hoàng đến đưa cho anh Hương, tổ trưởng một bức thư của anh Đồng. Nội dung như sau: “Tôi nhờ bác Thư làm cho hai vỉ kèo nhà dân ở bờ sông. Các cháu sẽ đèo bác và đồ dùng về chiều nay”. Anh Thư không nhận lời, vì anh không muốn chịu trách nhiệm một việc gì. Anh nói:



– Cậu Tâm làm thay tôi.



– Ông Đồng tin tưởng bác – Anh Hương nói – Tôi chỉ sợ anh Tâm…



– Không sao, tôi xin khẳng định.



– Cháu đèo anh Tâm về để ngày mai làm nhé – Anh Hương quay sang chỗ tôi, anh tiếp – Anh có thể đảm nhận được không?



– Vâng – Tôi trả lời và về ngay buổi chiều hôm ấy.



Đến buổi chiều hôm sau, ông Đồng đến công trình. Lúc đó, hai vỉ kèo đã dựng xong, cặp mắt ông Đồng nháy vài lần, ông mỉm cười nói:



– Kèo dựng ngay ngắn lắm. Thế mà tôi cứ tưởng…



– Bác tưởng cái gì ạ? – Tôi hỏi trong lòng nghi ngại.



– Xin lỗi chú, chẳng có gì quan trọng cả



Chiều thứ bảy, cháu Biển ở trại Mưu nha về, nói với tôi:



– Cháu cứ tưởng bác Thư quý cậu lắm.



– Có việc gì đã xảy ra?



– Tối hôm cậu về, bác ấy nói chuyện với chú Hương, thợ thuyền gì nó. Tôi thương nó không nhà cửa đưa nó đi làm và tâng bốc nó thế thôi.



– Bác nói thế thì chết tôi rồi – Chú Hương sửng sốt nói – Tôi tin bác là anh Tâm làm tốt nên mới dám thưa ông Đồng, điều anh ấy về.



– Tôi muốn cho nó một ví dụ là nếu không có tôi, nó chẳng làm được gì?



– Hỏng việc của ông Đồng là lỗi tại bác nhé.



– Bác cứ yên tâm, tôi sẽ dồn khuyết điểm lên đầu thằng Tâm là xong việc.



– Không được, bác ạ. Ở đây tôi là người chịu trách nhiệm cơ mà. Thôi được, ngày mai tôi về Hà nội sớm để điều người khác làm.



Sáng sớm hôm sau, chú Hương về không gặp được ông Đồng, lại không biết địa chỉ công trình ấy nên viết thư để lại. Chú Hương lo lắng hai ngày sau đó, khi biết tin công trình đã lợp ngói, chú ấy mới yên tâm.



Cháu không hiểu những người đồng cảnh như cậu đối xử với nhau ra sao nữa? Chiều nay, bác Cần đi xe đạp mini về Hà nội, ra đường thì bác ấy đâm xe xuống ruộng, người và quần áo đầy bùn. Bác Thư nhìn thấy, bác cười khanh khách và kêu to:



– Chúng mày ơi, ra xem thằng Cần đâm đầu xuống ruộng kìa!



Chúng cháu vội lội xuống giúp bác Cần đưa về trại tắm giặt. Bác Thư tiếp tục cười thích thú…



Nghe Biển kể, tôi im lặng, trong lòng não nề, buồn chán. Cùng ăn cơm cân một thời gian dài còn vô cớ gây cho nhau nỗi bực bội nữa là… Tôi biết tính đố kỵ của anh Thư, anh ghen ghét với những người hơn anh dù là ở lĩnh vực nào. Anh làm mất uy tín tôi cũng chỉ vì anh sợ nghề mộc tôi hơn anh. Cái nghề bất đắc dĩ này hơn hay kém, giỏi hay không, làm sao anh phải bận tâm! Mặt khác, do tính thất thường, anh nói bừa để vơi bớt khối mâu thuẫn đang chất chứa trong đầu. Anh gây ra nỗi buồn bực cho người để anh biến thành nguồn giải trí. Anh làm điều tốt không mấy ai sánh kịp nhưng anh ác khẩu cũng không mấy kẻ ngang tầm. Có lẽ chính xác hơn, nhiều người nói anh là một thằng điên.



Làm tại trại thương binh Mưu nha, có một cô gái tên là Thái thổ (thổ là ngõ Thổ quan cũng có nghĩa là nhà thổ)



Ả làm cấp dưỡng cho thợ. Mặc dù đã có vợ con ở Cầu diễn, anh Thư vẫn săn đuổi Thái thổ. Anh còn hứa cho ả chiếc mini vừa mua lại của anh Cần. Thái thổ không ưng, than thở với anh Hương:



– Chú Thư cứ tán tỉnh cháu.



Anh Thư biết chuyện, buổi tối anh đạp xe ra Hà nội, đến nhà Thái thổ. Anh nói với bố mẹ ả.



– Con gái ông bà xấu lắm, nay bờ bụi, mai bướm hoa với nhiều người. Tôi cũng đi lại với con gái ông bà năm lần. Bốn lần tôi đã thanh toán sòng phẳng, riêng lần đêm qua, tôi đến trả tiền cho ông bà. Nói xong, anh Thư ném năm đồng xuống bàn rồi đi ngay làm bố mẹ Thái thổ ngẩn người ra như chết đứng, chẳng kịp hỏi han gì.



Để trả đũa một người mà anh không vừa ý, anh có thể bịa đặt trắng trợn mọi chuyện, không ai lường được. Tất nhiên, nhất thời anh bôi nhọ được đối thủ của mình. Và sau khi sự thật được phơi bầy ra ánh sáng sẽ phản tác dụng là anh bôi nhọ chính mình. Anh hành động theo cảm tính không cần biết hậu quả ra sao, xấu hay tốt. Anh chỉ thích nghe lời ca ngợi mình, không tán thành một ai góp ý kiến dù sai hay đúng. Anh coi cái tôi là tuyệt đối, cái tôi bao trùm lên tất cả. Phê bình anh là sự xúc phạm, ngay tức khắc anh coi người đó là kẻ thù. Cuộc đời anh, thù nhiều hơn bạn, thù là mãi mãi, còn tình bạn chỉ là nhất thời, tạm bợ. Trong tâm hồn anh không có lòng bao dung và độ lượng nên không thể có thù hoá bạn, ngược lại bạn hoá thù đối với anh như một quy luật.



Mỗi lần nói chuyện với anh, tôi phải lựa lời, dò ý như người dò dẫm bước vào một bãi mìn. ấy thế mà t

ừ khi ra tù, anh là người tôi gần gũi nhất, anh giúp tôi nhiều nhất.



Phải chăng đây là một mối duyên nợ của hai tâm hồn đối nghịch nhau về nhân sinh quan?



Anh Thư được về trước tôi gần hai năm, ngoài vài bộ lao động, anh không sắm được một thứ gì có giá trị, bữa ăn của anh hằng ngày rất đạm bạc, một cạp lồng cơm và vài chục hạt lạc kho. Đại bộ phận số tiền anh kiếm được, anh mở những cuộc viễn du đến Nam định để tìm kiếm bạn đời mới. Anh là kẻ dại gái, hão huyền, rốt cuộc xôi hỏng, bỏng không.



Cuối tháng sáu, ông Đồng nhận thi công cho xí nghiệp Nam thái một nhà kho trên mảnh đất hình thang, một đầu hồi mười mét, đầu hồi kia sáu mét. Theo bản vẽ của bên A, làm hai vỉ kèo quá giang chồng. Xí nghiệp gần ô chợ dừa nên anh Thư bảo tôi về nhà chị Hoa để kiểm tra lại kích thước vỉ kèo trước khi làm. Lòng tôi ái ngại khi phải đưa anh Thư về nhà chị, dễ dàng xảy ra hiện tượng không hay. Anh Thư mang theo bảng số logaritte, anh nói:



– Tôi có cái này để tính toán, đồng thời để bọn xí nghiệp biết rằng đầu óc mình không đặc như dùi đục.



– Không cần đến bảng số đâu, anh ạ. Ngược lại, nếu họ biết rằng mình dùng cái này, họ sẽ cười cho.



– Thế à, tôi tưởng là phải cần đến…



Anh chỉ khoa trương thế thôi, thực sự anh chẳng biết tra bảng số.



Khi xem xét lại vỉ kèo, tôi thấy một vài chi tiết tính toán sai, tôi nói với anh Thư, phải đến xí nghiệp chỉ cho họ biết. Lúc đó đã gần trưa, anh Cần cũng đến chơi. Chị Hoa mời hai người ở lại ăn cơm. Anh Hoàng ở nhà làm tôi càng áy náy, không biết nói thế nào cho phải. Trong bữa, anh Thư, anh Cần và tôi vừa ăn, vừa nói chuyện. Anh Hoàng chau mày lại, nói:



– Ăn cho nhanh lên!



Anh Thư trừng mắt nhìn anh Hoàng. Tôi nín thở vì sợ, cũng may mà thời gian trôi qua trong im lặng. Sau bữa, anh không uống nước, vội rủ tôi, anh Cần đi khỏi nhà chị. Anh Thư trách tôi:



– Thế mà cậu không cho chúng tôi biết trước.



– Rất tiếc là đã không nói trước với các anh về tính keo bẩn của người anh rể. Còn hôm nay, em vô cùng khó xử.



– Tôi định ném bát vào mặt thằng Hoàng nhưng nghĩ cậu còn phải ở nhờ nhà hắn nên thôi.



– Cảm ơn anh đã kiên nhẫn được.



– Có lẽ cậu ở đấy nhục lắm?



– Vâng, số phận đã trói buộc em vào nơi nhục nhã này.



– Ừ, CS tha mình ra khỏi nhà tù và buộc mình phải ở một nơi chứ có được lựa chọn đâu? Muốn mua nhà riêng thì phải có tiền, đúng là từ một nhà tù hẹp ra nhà tù rộng.



Chiều hôm ấy, gặp tay trưởng phòng kỹ thuật, anh Thư nói:



– May mà chúng tôi kiểm tra lại bản vẽ trước khi làm, bản vẽ của các anh có chi tiết bị sai.



– Ông phó mộc nói gì khôi hài thế? Chả lẽ phòng chúng tôi toàn kỹ sư lại không bằng mấy ông phó mộc? – Giọng tay trưởng phòng đầy vẻ mỉa mai, chế giễu.



Mặt anh Thư tái lại, mặt đỏ lên vì tức giận. Anh nói to như quát lên:



– Đây các anh xem lại những chi tiết này. Các anh muốn áp đặt chân lý cho những con số chăng?



– Anh Thư để em nói với anh ấy – Vừa nói tôi vừa kéo anh Thư ra ngoài – Anh không phải bận tâm để em khu xử với họ.



Để anh Thư ở ngoài, tôi lại vào gặp tay trưởng phòng.



– Ông phó nhỏ thấy tôi nói có đúng không? Sống mỗi người một nghề, chết mỗi người một mồ, các ông cầm cưa, cầm đục, còn chúng tôi cầm bút. Tính toán là nghề của chúng tôi.



– Các anh được học hành, đỗ đạt cao hơn chúng tôi, việc đó không cần tranh luận. Tuy nhiên, anh nên hiểu rằng, thần thánh cũng có lúc nhầm. Ở đây chúng tôi chỉ đề nghị các anh xem lại mấy chi tiết thôi.



– Hài hước thật, mấy ông phó mộc lại kiểm tra sự tính toán của những kỹ sư. Thôi được…



– Không có gì là phức tạp, chúng ta chỉ đi đến một chân lý rất đơn giản…



Chợt thấy một nhân viên vào, tay trưởng phòng nói:



– Này đồng chí kỹ sư Quý. Thợ nói bản vẽ nhà kho đồng chí tính sai, đồng chí hãy coi lại để chiều mấy ông phó.



– Thợ bảo em tính sai à? – Quý hỏi lại, hắn mỉm cười đắc thắng – Thú vị nhỉ!



– Ừ, cứ coi lại rồi chỉ cho họ biết.



– Có sai chúng tôi cũng không chịu trách nhiệm về việc mất công, tốn vật liệu nếu cứ làm – Tôi nói.



– Ông thợ ngồi đây chờ tôi ít phút – Quý nói, rồi cầm bản vẽ, máy tính ra xem lại.



Khoảng nửa giờ sau, Quý nói:



– Em tính nhầm mấy chi tiết, anh Ban ạ.



– Đồng chí làm ăn thế à? Tôi không ngờ cái đúng lại thuộc về mấy ông phó mộc – Ban mặt đỏ, tía tai vì tức giận.



– Nhầm lẫn cũng là chuyện bình thường thôi ông trưởng phòng ạ. Ông nói khôi hài cũng đúng, khôi hài ở chỗ ông tự cho mình quyền độc đoán về chân lý – Tôi ra ngoài gặp anh Thư, tôi nói:



– Việc xong rồi, anh ạ.



– Cái đúng thuộc về ai?



– Về chúng ta. Chỉ tức cười là họ quá tự đắc, tự ái về cương vị.



– Bọn ngu! Cộng sản chỉ đào tạo lấy số lượng để tuyên truyền, lừa bịp.



– Cái chung, anh nói đúng nhưng trong trường hợp này, họ chỉ vô trách nhiệm và giàu lòng tự ái.



– Tại sao tính toán sai nếu không phải là trình độ?



– Không phải lập phương trình đường bay của con tàu vũ trụ, ở đây chỉ là những phép khai phương rất giản đơn, họ thừa khả năng. Như em đã nói, họ vô trách nhiệm. CS đào tạo ra một khối lượng khổng lồ trí thức hưởng lương theo địa vị, chẳng muốn làm gì động óc. Người nhiệt tình với công việc cũng giống như người ngồi chơi xơi nước về quyền lợi miễn là đủ ngày đến cơ quan. Do cơ chế kinh tế chỉ huy của chủ nghĩa xã hội đã tạo ra đội ngũ tri thức với bộ óc theo quán tính ì. Tính năng động có chăng là việc giành giật mua hàng căngtin, tham ô và ăn hối lộ.



– Cậu nói với ông Đồng cho một vài thợ phụ mà làm. Tôi vào trại Mưu nha đây.



– Sao anh không làm với em cho vui?



– Tôi rất thích làm với cậu nhưng hàng ngày phải giáp mặt với bọn kĩ thuật, tôi không chịu được, có khi xảy ra chuyện không hay.



Nói xong, anh Thư lại đạp xe vào trại Mưu nha. Ông Đồng điều đến cùng làm với tôi một thợ phụ.



Khẩu độ vỉ kèo lớn, phải làm ở nơi không có bóng mát, trời nóng như dội lửa, chúng tôi uống rất nhiều nước mà vẫn khát. Buổi tối về nhà chị, tôi vẫn uống nước nhiều, anh Hoàng nói:



– Cậu uống ít nước chứ!



Tưởng là lời thiện chí của anh, uống nước nhiều có hại, tôi trả lời:



– Làm dưới trời nắng nóng, khát nước không thể nào chịu nổi, anh ạ.



– Ở cơ quan, xí nghiệp sẵn nước, sẵn chất đốt cậu nên uống thật nhiều. Còn ở nhà, nước khó khăn, dầu củi ít, cậu nên uống ít thôi.



– Ra thế – Tôi thoáng nghĩ – Nếu hạn chế được mình thở, có lẽ anh ấy cũng không từ. Linh hồn của Moliere nếu biết được tính keo kiệt của anh Hoàng, chắc ông phải hối tiếc vì đã viết Appagon.



Mấy ngày sau, tôi bị sốt cao, cửa hàng thuốc chỉ có khung chỉ chữa bệnh cảm cúm. Buổi chiều, anh Hoàng về đến cửa nhà, anh vội chạy ra sân kêu to:



– Ốm hết, ốm hết!



Nửa tỉnh, nửa mê nghe anh Hoàng nói, tôi hỏi:



– Có việc gì đấy anh?



– Kể từ nay khi bị ốm, cậu ra sân mà uống thuốc.



– Vâng – Tôi trả lời và ngẫm nghĩ, nơi đây có thể còn khắc nghiệt hơn nhà tù.



Cũng may là bệnh sốt mau qua, mất hai ngày phải nghỉ, tôi lại đi làm. Một buổi tối, chị Hoa nói với tôi:



– Anh ấy và các cháu phàn nàn, cậu có mười một cân lương thực trong sổ không đủ cho cậu ăn. Do đó cậu phải đóng thêm tiền đong gạo ngoài.



Thực ra, tôi không muốn ăn ở nhà nữa. Anh Hoàng thấy miếng ăn là tối mắt lại. Anh tham lam, đối phó mất tư cách tối thiểu nhất của một con người. Nhưng tôi chỉ ngủ nhờ mà không ăn ở nhà chị sẽ là cái cớ để gia đình này gây sự với tôi nhiều hơn nữa. Do vậy tôi trả lời:



– Chị cho em ăn một bữa vào một buổi chiều.



– Còn bữa trưa, cậu ăn ở đâu?



– Em ăn ở ngoài.



– Chỉ có ở ga được bán cơm nhưng đắt lắm, em làm không đủ ăn đâu. Còn mậu dịch bán cơm thu tem phải xếp hàng chờ chực, nếu chậm cũng hết.



– Buổi trưa, mua được cái gì em ăn cái đó, không có cơm thì ăn cái khác. Dù sao em chịu khổ cũng quen rồi.



Chị Hoa gật đầu đồng ý. Chị làm ca ở xí nghiệp dệt bạt hàng Chuối. Chị làm ca sáng thì bữa ăn của tôi bình thường. Chị làm ca chiều, bữa ăn của tôi ở nhà chị là một nỗi bận tâm. Anh Hoàng trực tiếp lấy gạo theo đúng mức ăn của từng người ghi trong sổ để nấu cơm. Đến bữa cơm, anh xới hai bát to, ấn thật chặt, anh nói:



– Một bát để mẹ chúng mày về ăn thêm, còn một bát để chúng mày ăn sáng mà đi học.



Bữa nào cũng thế, tôi ăn được hai bát thì cơm trong nồi hết, tôi đứng dậy. Anh Hoàng và các cháu lại chia nhau ăn hai bát cơm kia, những thủ đoạn đối phó với miếng ăn thật vô cùng ghê tởm. Sau bữa tôi lại ra đầu ô ăn thêm một bát phở hoặc một cái bánh mì.



Nhà chị nóng như hun, điện thất thường, lúc có, lúc mất. Nhiều đêm tôi ngủ ngoài sân không buông màn cho đến sáng, muỗi nhiều tay vơ được, tôi vừa mê ngủ vừa đập muỗi. Những đêm mưa rào, trời mát, cả nhà phải thức để chống lụt bởi nền nhà thấp hơn ngoài sân, sân lại thấp hơn đường đi đến hơn một mét. Hễ mưa to là nước xối xả chảy vào nhà, chị Hoa, anh Hoàng gọi các con thức dậy, tất bật lấy đất đắp thành con đê nhỏ ngăn nước. Về mùa hè, nhất là ngày nắng nóng, các vòi nước ở ô chợ dừa đều không chảy, người ta dùng xe đạp thồ nước từ phố Quốc tử Giám, Ngô sĩ Liên. Nơi lấy nước cũng không dễ dàng gì, xếp hàng mấy chục đôi thùng, thành ra thức suốt đêm, lấy được một vài gánh nước là may mắn. Có bữa nhà chị không có nước để nấu cơm. Tôi không tắm giặt ở nhà chị, nếu chỗ làm không có điều kiện thì vào nhà tắm công cộng. Đối với người dân nghèo thành phố, nước lã cũng thành mặt hàng xa xỉ.



Lần tới, mời các bạn đón đọc: Những kẻ khổ nhục – Kỳ 4



NHỮNG KẺ KHỔ NHỤC – Unfortunate people



NHỮNG KẺ KHỔ NHỤC – Kỳ 4



Mùa thu chậm chạp đến xua vợi cái nắng nóng quái ác của mùa hè. Tôi đang tận dụng mọi cơ hội thời gian để viết cho xong tập hồi ký với những nét đại cương, sơ lược. Tôi muốn khai thác hết nỗi ưu tư về những biến cố của cuộc đời mình và xã hội, muốn sửa lại lời văn cho bớt phần thô thiển và lủng củng nhưng hoàn cảnh khắc nghiệt đâu có ủng hộ tôi. Khi tôi viết, tâm hồn tôi bị chia đôi, một nửa làm tên lính gác đề phòng tai hoạ đến, một nửa gửi về dĩ vãng xa xăm. Trước mặt tôi, ngoài những tờ giấy trắng và vài tờ giấy viết tiếng Anh, không có một tài liệu nào cần thiết cho công việc thì làm sao tôi tránh khỏi những sai lầm.



Một buổi sáng đầu tháng chín mây đen bao phủ, mưa nặng hạt. Trên một tờ giấy trắng, tôi viết: Tiếng hát ru thân quen ngọt ngào, âu yếm vẫn văng vẳng bên tai…



Bỗng tên công an hộ tịch đi thẳng vào chỗ tôi, mặt hắn nghiêm nghị khác thường, có lẽ cấp trên đã cho hắn biết rõ về tôi, hắn hỏi:



– Hôm nay, anh nghỉ à?



– Vâng, nhỡ việc tôi nghỉ mấy ngày rồi.



– Anh đang viết gì đấy?



– Tôi ôn lại tiếng Anh.



– Anh đưa tôi xem.



Tôi đưa cả mấy tờ giấy viết cho hắn. Đọc tờ giấy có câu tiếng Việt vừa viết, hắn hỏi tôi:



– Anh định viết gì mà có câu này?



– À, tôi tập dịch ra tiếng Anh ấy mà.



– Những tờ giấy tiếng Anh còn đâu nữa?



– Tôi viết để ôn lại cho nhớ rồi biến thành giấy loại.



– Nghe nói, ngày nào anh cũng viết, không biết để làm gì?



– Tôi chỉ ôn lại tiếng Anh thôi.



– Anh làm việc gì trước sau chúng tôi cũng biết. Anh chớ nên dùng vải thưa che mắt thánh – Hắn hù doạ, mắt hắn nhìn thẳng vào mặt tôi để uy hiếp tinh thần.



– Xin cam đoan với anh rằng, tôi không bao giờ làm việc gì có hại cho tổ quốc và dân tộc.



– Thôi được… Nói xong, hắn bỏ đi.



Ngày sau đó, tôi viết tiếp mấy chục dòng nữa để kết thúc tập hồi ký đến ngày tôi được ra tù.



Sáng hôm sau, tên công an hộ tịch lại đến, tôi đi làm, hắn hỏi chị Hoa:



– Anh Tâm đâu rồi?



– Em nó đi làm rồi.



– Anh ấy vẫn học hành chứ?



– Em nó học gì đâu. Nghe nó nói, chỉ ôn lại tiếng Anh cho đỡ buồn thôi.



Mấy ngày sau, một cô gái trẻ và đẹp ăn mặc lịch sự đến hỏi chị Hoa:



– Bác cho cháu hỏi thăm có phải anh Tâm ở đây không?



– Vâng! – Chị trả lời – Chị hỏi gì em nó?



– Cháu ở sở đến thăm anh ấy thôi. Nghe nói, gần đây anh Tâm say mê học lắm?



– Sở cho cháu biết, anh ấy thường xuyên viết lách gì đó?



– À, nó học mót được mấy tiếng Anh, đôi khi viết để ôn lại. Có thế thôi.



Chị Hoa kể lại và nói thêm:



– Cậu đừng làm gì đấy nhé! Nguy hiểm cho cậu đã đành, gia đình này cũng không tránh khỏi tai vạ, rắc rối.



– Từ nay em không viết nữa – Tôi trả lời chị và suy nghĩ có thể chúng đã nghi ngờ tôi, cũng có thể chúng răn đe mà thôi.



Tốt hơn cả, để đề phòng rủi ro, tôi quyết định ngay ngày hôm sau đi tàu đến Bắc giang gửi hồi ký bố Khoa, nhân thể thăm ông.



Ba giờ sáng tôi dậy, cho hồi ký và một bộ quần áo vào túi xách. Tôi đi bộ qua phố Khâm thiên, vừa đến đường tàu hoả đầu phố, một gã thanh niên phía sau chạy lại giật túi xách trên tay tôi và tiếp tục chạy về phía ga hàng Cỏ. Tôi toan kêu lên nhưng chợt nhớ ra, mình mang hàng quốc cấm nguy hiểm nên chỉ lẽo đẽo đuổi theo gã, van xin:



– Anh ơi, cho tôi xin lại, trong túi chẳng có gì đáng tiền đâu.



Tôi chạy đến đường Nam bộ nhìn theo nhưng tông tích gã đã mất hút trong màn đêm dưới ánh điện mờ. Lúc đó tôi hoảng hốt như cơn mê sảng. Theo đường Nam bộ, cứ thế tôi đi, không biết mình đi đâu nữa. “Chắc chắn phen này nhận bản án tử hình trong rừng thẳm, số phận ta sẽ giống như cái chết của nhiều người ở công trường 75A Hà nội. Ngoài bọn đao phủ, may ra có thượng đế và Phật tổ Như lai thấy cái chết thê thảm của ta. Không! Không! Ta chưa tuyệt vọng, tập hồi ký không đáng giá một xu với một tên cướp giật, sẽ trả lại ta hoặc đốt đi. CS đã, đang thú tính hoá cái xã hội này, chúng đã thành công lớn nhưng chúng không thể tiêu diệt được tấm lòng nhân ái và dũng cảm. Nếu ta chưa đến ngày tận số khi hồi ký của ta không lọt vào tay một kẻ bất lương… ”



Cái chết và hy vọng cứ thay phiên chen lấn nhau làm đầu óc tôi quay cuồng, đảo lộn.



Hết đường Nam bộ, theo quán tính tôi rẽ sang đường Trần phú. Kế đó, qua đường Phùng hưng, tôi đến ngồi trên ghế đá ở vườn hoa hàng Đậu.



Trời sáng rõ, một người mất cánh tay phải đi qua, anh ta chăm chắm nhìn tôi rồi mỉm cười, hỏi:



– Anh bạn ngồi làm gì ở đây mà buồn thế? Tôi thấy anh bạn có vẻ quen.



Tôi không trả lời, người thương tật đi ra đường nhìn lại. Đi thêm mấy bước nữa, người đó rẽ vào một cổng, lên cầu thang gác. Lúc đó, tôi mới sực nhớ ra người thương tật là Hưng, con bác Vũ thị Hiền. Quả thật tôi không còn lòng dạ nào để hỏi thăm Nga. Vâng, tâm hồn tôi như con thuyền nhỏ đang chòng chành nghiêng ngả trong cơn bão táp điên cuồng của biển cả. Con thuyền mất phương hướng để đi đến một bến bờ số phận và định mệnh. Dựa lưng vào thành ghế đá, tôi thiếp đi và ngủ chập chờn một giấc thật dài. Khi tỉnh dậy, mặt trời đã đứng bóng, tôi đến khách sạn Long biên ăn một bát phở và uống một cốc cà phê đá. Rồi từ đó, tôi đến dốc hàng Than, đứng tựa một thân cây cổ thụ, mông lung suy tưởng. Đàn chim xanh nhỏ xíu năm xưa vẫn ríu rít trên cành, hương thơm thoang thoảng của hoa ngọc lan từ trong chùa bay ra làm tôi nhớ lại những kỷ niệm thời trai trẻ. Bỗng trong cõi lòng tôi được xua tan nỗi lo âu, hoảng sợ để tâm hồn ngược dòng thời gian bay về với thế giới của thần Cupidon. Ngồi bên song cửa, cặp mắt xanh mơ màng nhìn hàng cây rợp bóng, em cất cao tiếng hát ngọt ngào, âu yếm tạo thành những làn sóng âm thanh huyền diệu dội vào trái tim tôi:






Biển rộng bát ngát xanh xanh



Trập trùng dưới ánh trăng thanh.






Về đây khi mái tóc còn xanh xanh,



Về đây với màu gió ngày lang thang,



Về đây với xác hiu hắt lạnh lùng



Ôi lãng du quay về điêu tàn.






Ngoài hiên giọt mưa thu thánh thót rơi



Trời lắng u buồn, mây hắt hiu ngừng trôi.






Thực tế cuộc đời là tàn nhẫn, phũ phàng, chỉ có trong mơ tôi mới tìm thấy niềm vui, li hận của khoảng trời tình ái âu cũng là nguồn cảm xúc. Trong lúc này, ước gì tôi được thả tâm hồn về cõi mộng đến khi nỗi lo âu, hoảng sợ kia tìm ra đáp số. Và ước gì tôi cũng có một giấc mơ như bên gốc liễu của Andersen.



– Chú Tâm làm gì đấy? – Anh Cương đi qua nhìn thấy gọi làm tôi giật mình tan giấc mộng vàng.



– Tại sao không vào nhà? – Anh Cương hỏi tiếp.



– Vâng! – Tôi theo anh Cương vào chùa. Thuở xưa nơi này thân quen, quyến rũ mà ngày nay sao xa cách lạnh lùng? Con chim sơn ca đã bay đi kết bạn đời, còn đâu nữa tiếng chim hót véo von? Ngày xưa em nói: “Anh coi em như bông hoa trong vườn ngự uyển… ”. Vâng, tôi cũng chỉ mong có thế! Ngày nay hoa xuân người đã hái để lại một khoảng trời hiu quạnh, cô đơn.



Anh Cương nói chuyện với tôi thời dĩ vãng: chuyện tổ hợp tác đóng thùng nước mắm, chuyện anh đi bán giang ở chợ Bắc qua. Tiếp đến chuyện anh bị gọi ra đồn, lên khu dạo tôi bị đi tù. Có lẽ thấy tôi lơ đãng, anh hỏi:



– Quái lạ, hôm nay chú làm sao thế?



– Em có sao đâu, vẫn bình thường thôi – Tôi nói dối. Sự thật nỗi lo âu đang nung nấu lòng tôi. Tôi chẳng để ý gì chuyện anh kể.



– Tôi thấy vẻ mặt chú buồn nên nói chuyện xưa cho vui. Hình như chú chẳng nghe.



– Anh nhầm rồi, em vẫn chú tâm đến chuyện của anh.



– Không đúng – Anh mỉm cười hóm hỉnh – Thôi được, ta nói sang chuyện khác. Ngày xưa chú thầm yêu con Nguyệt à?



– Vâng!



– Nó có biết không?



– Có thể Nguyệt còn biết trước em.



– Chú nói gì mà kì quặc thế?



– Nghe có vẻ vô lý nhưng là sự thật. Những ngày tháng em dạy Nguyệt học thêm, khi xa Nguyệt em thấy nhớ, khi vắng Nguyệt em thấy buồn. Chính em cũng chưa hiểu thứ tình cảm lạ lùng ấy thì Nguyệt đã đoán chắc rằng, trái tim em đang rung cảm với cô nàng.



– Nghe chú nói, tôi cho rằng hiện thời chú vẫn còn yêu.



– Vâng, và có thể còn kéo dài mãi mãi.



– Nó đã có chồng con, chú có điên không mà yêu vớ vẩn thế?



– Vị đắng của tình yêu cũng là nguồn cảm hứng cho những tâm hồn văn nghệ sĩ. Em không dám ước mơ là một nhà văn nhưng trái tim em hay đa cảm.



– Phải biết rõ số phận mình để tìm ra lối thoát, chú cứ viển vông mãi thế sao?



– Em biết cuộc đời mình hiện tại và tương lai vẫn chìm trong đau khổ và tủi nhục, trong mơ và suy tưởng em mới thấy vơi bớt phần cay đắng.



Tối hôm đó, tôi ăn cơm nhà anh Cương. Đến mười giờ, tôi định chào anh Cương để về nhà chị thì anh Cương từ bếp lên hỏi:



– Chú có thấy ai vừa vào chùa không?



– Em không thấy.



– Cố nhân của chú đấy. Nghe đâu nó sắp vào Sài gòn, có thể hôm nay nó đến chào những người thân. Chú muốn gặp nó không, tôi vào gọi?



– Không nên anh ạ. Em yêu Nguyệt đơn phương thầm lặng vậy hãy để cho thời gian thầm lặng trôi qua.



Nói thế nhưng lòng tôi vô cùng bồi hồi, rạo rực. Tôi muốn nhìn thấy em lần cuối để rồi mãi mãi cách xa nhau. Khi ấy, tôi đã quên mọi nỗi lo âu, hoảng sợ, quên tất cả sự đời để hình ảnh em rực sáng trong trái tim tôi. Tôi hồi hộp đợi chờ, gần mười một giờ em mới ra về. Nhìn lại người xưa, em già dặn hơn đôi chút, dáng em hơi gầy, thanh nhã vẫn như những tháng năm trăng tròn, cặp mắt em vẫn long lanh toả ánh màu xanh. Em đưa mắt nhìn tôi lạnh lùng, quên lãng. Tôi ra cổng và lên dốc nhìn theo, bóng dáng thướt tha của em chìm dần trong ánh điện lờ mờ.



Một người đàn ông dắt xe, tiến lại hỏi:



– Tôi muốn gặp anh Tâm trong chùa, nếu anh biết làm ơn chỉ giúp?



Tôi chột dạ và tự hỏi: “Hồi ký của ta đã lọt vào tay kẻ bất lương? Đây là cá ngầm chăng? ” Nhìn qua ánh đèn điện, tôi thấy người ấy khoảng bỗn chục tuổi, dáng phong nhã, nét mặt phúc hậu. Anh ta có vẻ bối rối làm tôi bình tâm lại và trả lời:



– Tôi là Tâm, anh gặp có việc gì?



Anh ta siết chặt tay tôi và nói:



– Thật may mắn, tôi rất hân hạnh được gặp anh. Xin lỗi, tôi vừa đọc hồi ký của anh và bây giờ xin trả lại



Tôi sung sướng quá, thân thể run lên khi nhận lại tập hồi ký từ tay anh ấy và nói:



– Cảm ơn anh, tôi lo sợ mất tập giấy này có thể gây cho tôi một tai hoạ khủng khiếp mới, nếu…



– Tôi mới là người phải chịu ơn anh. Anh đã làm sáng tỏ nỗi đau của cuộc đời tôi, và cho tôi thấy một bức tranh đen tối của xã hội.



– Tên anh là Nam?



– Vâng, tôi là người yêu của Bích Hằng, người cùng làm với anh trong tổ hợp tác xưa kia.



– Đây không phải tiếng nói của một nhà văn mà là tiếng kêu tuyệt vọng của một kẻ bị xiếng xích, bị áp bức và bị đoạ đầy. Tập hồi ký lộn xộn, đơn sơ này chỉ vẽ được vài nét thô thiển trong bức tranh rối rắm, phức tạp của toàn xã hội. Vì cả dân tộc là nạn nhân của thời đại. Và mỗi nạn nhân, nhà văn có thể viết thành một thiên tiểu thuyết.



Tôi và anh Nam nói chuyện với nhau về chị Bích Hằng, về tập hồi ký bị cướp giật. Cuối cùng chúng tôi nhận nhau là anh em kết nghĩa. Anh Nam đèo tôi đến cửa Nam. Tôi xuống xe đi bộ về nhà chị và hẹn chủ nhật tôi sẽ đến thăm anh. Sáng hôm sau, tôi lại mang tập hồi ký về Bắc giang gửi.



Buổi sáng hôm ấy, tôi đến bến xe Kim liên, vào ngõ và hỏi thăm nhiều người mới tìm thấy nhà anh Nam – một nửa gian nhà lá điêu tàn, xiêu vẹo, cửa khoá. Tôi đã hẹn hôm nay đến thăm anh, có lẽ anh quên hay vì một lý do nào đó mà đi vắng. Tôi hỏi một bà già nhà bên cạnh:



– Thưa bà làm ơn cho cháu biết chủ nhà này đi đâu?



– Anh quan hệ với anh Nam thế nào mà không biết anh ấy đã chết vì tai nạn ô tô mấy ngày nay? – Bà già nhìn trừng trừng vào mặt tôi tỏ vẻ oán trách.



Tôi hốt hoảng hỏi lại:



– Thưa bà anh Nam chết thật rồi sao?



– Anh ấy bị ô tô kẹp lúc quá nửa đêm trước cửa ga. Anh ở xa đến hay sao mà không biết?



– Thưa bà, cháu ở đây nhưng đi làm ở ngoại thành.



– Anh là bạn thân của anh Nam?



– Cháu mới quen thân anh ấy, có hẹn ước với nhau là anh em kết nghĩa. Không ngờ anh ấy đã vội đi xa…



Tôi không khóc nhưng trĩu nặng nỗi u buồn. Ngày xưa, tưởng như hạnh phúc đang vẫy chào đôi trai gái ấy – anh Nam và chị Bích Hằng, nhưng cái xã hội tàn bạo và thú tính này đã cướp đi tình yêu, hạnh phúc của họ. Họ không một ngày hạnh phúc bên nhau, cả hai đều đau thương, tủi nhục.



– Lần đầu anh đến nhà anh Nam?



– Vâng, thưa bà!



– Quái lạ! Chắc chắn anh phải hỏi nhiều người lắm mới tìm thấy nhà này?



– Vâng!



– Thiên hạ vô tình đến thế là cùng. Anh Nam ở đây đã hai mươi năm, ai mà chẳng biết anh ấy. Thế mà không có người nào nói anh ấy đã chết rồi sao?



– Thưa bà, có thể vì đạo đức bị băng hoại nên người ta đã quên mất nhân tình.



– Khổ, người ấy mẫu mực, hiền lành lắm, chẳng làm mất lòng ai nhưng rất nghèo khổ. Cũng có thể vì thế mà người đời ghẻ lạnh.



– Bà có biết nguyên nhân dẫn anh Nam đến tai nạn như thế nào không?



– Tôi nghe phong phanh được là anh Nam cứ đứng trơ trọi giữa đường trong lúc mưa to. Một chiếc xe ô tô

đi qua, đột ngột anh ấy lao vào bánh sau, chết ngay.



Chào bà già tốt bụng, tôi lặng lẽ cúi đầu ra đường để về nhà chị. Đến đầu phố Khâm Thiên, tôi chợt nghe tiếng gọi:



– Anh Tâm ơi!



Tôi nhìn lên, chợt thấy Nga – con gái bác Vũ thị Hiền.



– Anh còn nhớ em không? – Nga hỏi.



– Quên sao được. – Tôi trả lời và hỏi – Em được về bao giờ?



– Mới có mấy ngày nay. Còn anh?



– Anh về được gần bảy tháng.



– Nghe đâu thời gian trước, anh cùng ở với bố em cùng một toán?



– Sao em biết?



– Anh Hưng nói, khi còn sống bố em viết thư về có nhắc nhiều đến anh. Anh có biết bố em chết vì bệnh gì không?



– Bệnh đau thương, tan nát của gia đình, bệnh tù tội, thế thôi.



– Diễn biến thế nào anh?



Tôi kể tỉ mỉ những tháng bác Lê ngọc Văn ở trại An Thịnh và nguyên nhân dẫn đến cái chết thảm thương của bác. Nga sụt sùi khóc và nói:



– Anh Hưng nhận được giấy báo tử của trại, có đoạn với nội dung: bố em mắc bệnh hiểm nghèo, xuất phát từ chính sách nhân đạo của đảng và chính phủ, trại đã tận tâm chăm sóc, cứu chữa nhưng bệnh không qua khỏi… Em nói ngay với anh Hưng, tin sao được lời lẽ của bọn bịp bợm. Qua mười hai năm tù, em không lạ gì bọn khát máu ấy.



– Nga định đi đâu đấy?



– À, em định đi… – Nga nói ngập ngừng.



– Đi đâu – Tôi hỏi dồn.



– Sáng nay, em đến chỗ anh ở cũ hỏi, người ta bảo anh đã về với chị tại ô chợ dừa. Nhân thể đi dạo xem phố phường, em có ý định đến tìm anh.



– Có việc gì không hay chỉ đến thăm anh?



– Khó nói lắm, tuỳ anh nghĩ thế nào cũng được – Nga tỏ vẻ khó chịu, trả lời – À này, anh còn nhớ chị Bích Hằng không?



– Quên sao được người đàn bà thương tâm ấy. Chị Hằng cùng ở với em à? – Tôi sửng sốt hỏi.



– Cùng ở Hoả lò, cùng đi trại, một ngày, cùng được về một ngày. Dạo ấy, anh không nhìn thấy chị Hằng xếp hàng ở cổng Hoả lò à?



– Không, chị Hằng rồi ra sao nữa.



– Chị Hằng chết rồi. Chị ấy chết cùng với người yêu cũ ở ga hàng Cỏ đêm hôm nọ.



– Trời ơi, Nga nói thật đấy chứ, sự kiện đau thương ấy diễn ra thế nào? – Như sét đánh ngang tai, tôi hoảng hốt hỏi Nga.



– Anh bình tĩnh để em kể có đầu có cuối nhé.



– Em nói mau cho anh biết với?



– Không như em, chị Hằng bị tù oan uổng…



– Chuyện ấy anh biết rồi – Tôi cắt lời Nga – Em kể chị ấy sau này thôi.



– Tuổi ba mươi, khi đi trại chị Hằng vẫn là một phụ nữ quốc sắc, thiên hương. Sắc đẹp của chị ấy làm bọn quản giáo sinh lòng đố kị, ghét ghen. Chị Hằng lại cương nghị nên trở thành mục tiêu để chúng hành hạ nhiều phen khốn đốn. Đến trại mấy ngày, quản giáo gọi chị vào văn phòng hỏi:



– Người đẹp thế này mà làm gái đĩ à?



– Thưa bà, người ta vu oan cho tôi. Nếu có chăng, tôi đã chồng lại quyết liệt một hành động biến tôi thành một món hàng để họ làm tiền.



– Người ta là ai, họ là ai? – Mụ quản giáo quát trấn áp. – Chị bội nhọ người công an nhân dân?



– Thưa bà, đó là sự thật…



– Bằng chứng đâu?



– Thưa bà, bằng chứng trong đầu người có quyền, chân lý bao giờ cũng thuộc về kẻ mạnh. Những người khốn khổ như tôi trước pháp luật bao giờ cũng sai, cũng phạm tội…



– Câm! Chị này ngang nhiên nói xấu chế độ trước cơ quan an ninh.



– Thưa bà, hiện đang diễn ra hiện tượng lẽ phải thuộc về kẻ mạnh.



– Câm ngay! Bà cho mày biết thế nào là lễ độ, nghe chưa? – Nói xong, mụ đuổi chị Hằng ra ngoài, đến chiều chị bị đi cùm một tháng.



Cuối mùa hè, mụ quản giáo mới thay cao to, có tướng mạo rất ghê, da mặt sù sì đầy trứng cá, cặp mắt lươn. Ngay buổi đầu đến, mụ đã để ý và gọi chị Hằng vào nhà lô, hỏi:



– Mỗi lần bán dâm, chị được trả bao nhiêu tiền?



Chị Hằng nhìn thẳng vào mặt mụ, tỏ vẻ khinh bỉ rồi cúi xuống, không trả lời.



– Chị này láo xược? Tao là quản giáo hỏi mày, mày tỏ thái độ chống đối à? Đồ gái đĩ!



Chị Hằng đầu vẫn cúi xuống, im lặng.



– Mày nói mau, tại sao, tại sao? – Mụ lồng lộn

quát tháo.



– Thưa bà, bao giờ tôi cũng là người lương thiện – Chị Hằng dõng dạc trả lời.



– Mày ngoan cố không chịu nhận tội phải không? Không làm điếm, ai bắt oan mày



– Thưa bà, công an Hà nội bắt oan tôi.



– Chị này to gan thật, dám vu khống cơ quan an ninh – Nói xong, mụ nắm tóc chị Hằng giật mạnh, chị ngã xuống nền đất, mụ tiếp tục đấm đá chị túi bụi. Mụ được học nghiệp vụ nên đòn của mụ hiểm lắm. Đau quá, chị Hằng không đứng dậy được, tù phải thay phiên nhau cõng chị về trại. Lần này chị bị đau ốm đến gần hai tháng.



Mùa xuân năm 1967, tên đại uý chánh giám thị gọi chị lên phòng riêng. Khi về trại, nhiều người hỏi, ông giám thị gặp có việc gì, chị chỉ lắc đầu, vẻ buồn rười rượi. Nhiều đêm nằm bên cạnh, em thấy chị lặng lẽ khóc. Em hỏi, chị trả lời buồn thì khóc. Sức khoẻ của chị từ đó mỗi ngày một suy giảm, sắc đẹp cùng dần tàn héo, mắt thâm quầng vì mất ngủ, chân tay gầy như que củi, má hóp lại, cứ đến chiều tối chị ho và sốt nhẹ. Nhiều lần chị xin nghỉ và xin điều trị, đều bị mụ quản giáo bất nhân cưỡng bức đi làm.



Đến khi chị ho ra máu trước mặt mụ, mụ mới cho nằm ở bệnh xá trại giam. Tuy quen biết và thông cảm với nhau hơn người khác nhưng quá khứ gia đình và cuộc đời của từng người vẫn khép kín. Mãi đến năm 1969, em mới nói với chị Hằng những đau thương, tan nát của gia đình mình, trong đó có thời mẹ em làm ở tổ hợp tác đồ chơi phố hàng Buồm. Từ đó hai người mới thân nhau và giãi bầy bầu tâm sự. Chị Hằng nói, khi làm ở tổ hợp tác, chị rất mến mẹ em, anh và anh Khoa. Anh Khoa là bạn của anh à?



– Là bạn tri tâm. Anh ấy đã bỏ mạng ở trại tăng gia Phúc lập năm 1970.



– Trời ơi, thế là anh Khoa cũng đã chết rồi, đau thương chồng chất đau thương. Nghe chị Hằng nói, tâm hồn anh Khoa lãng mạn lắm phải không?



– Thật vậy!



– Còn anh?



– Anh ấy à? May ra có năng khiếu về khoa học tự nhiên nhưng học hành dang dở, tâm hồn anh cằn cỗi, đơn điệu như đồ thị phương trình bậc nhất. À này, chúng mình lạc đề rồi. Em nói tiếp chuyện chị Hằng đi.



– Vâng! Chị Hằng than thở, buổi gặp tên giám thị cũng diễn ra như sự kiện thằng đội trưởng đội cải cách cưỡng hiếp chị. Sau khi mãn nguyện về thú tính, hắn hăm doạ chị nếu để lộ chuyện, hắn sẽ thẳng tay trừng trị. Chị Hằng trả lời, tôi đang muốn chết, ông hãy giết tôi ngay, xin cảm ơn ông. Tôi không nói với ai về hành động thú vật của ông là do tôi sợ nhục chứ không sợ cường quyền, bạo lực. Tuy nhiên, sau này e ngại dồn chị đến bước đường cùng nên tên giám thị có phần nhượng bộ. Mụ quản giáo nhiều lần đề nghị đưa chị vào nhà kỷ luật nhưng hắn đều bỏ qua. Điều lạ lùng là cơ thể chị càng tàn héo, chị càng yêu và nhớ anh Nam. Em khuyên chị ấy cố quên đi mối tình đầu tan tác ấy, biết đâu người yêu mình hiện tại đang ôm ấp, hoan lạc với một bạn đời khác? Chị nhất mực cho rằng, anh Nam không thể yêu ai ngoài chị…



– Chị Hằng nói đúng, anh Nam vẫn sống cô đơn đến ngày tận số.



– Sao anh biết?



– Do một chuyện rủi ro, anh cũng quen thân với anh Nam mới cách đây mấy ngày.



– Tất nhiên đến nay cái chết của anh Nam đã khẳng định lời của chị Hằng. Sau này cứ gặp chuyện gì căng thẳng thần kinh là chị Hằng bị ngất. Chị nói: “Tôi không còn sống được bao lâu nữa, chỉ có ước mơ duy nhất được gặp lại anh Nam một lần rồi chết”. Chị Hằng cho rằng, nhan sắc của chị là một trong những nguyên nhân dẫn đến thảm hoạ cho gia đình và bản thân mình trong một xã hội không có công lý và đạo làm người. Kẻ có quyền thả sức tung hoành phè phỡn, thú tính được phát huy triệt để…



– Có khi nào chị Hằng nói về đứa con trai của mình không ? – Tôi hỏi.



– Chỉ một lần thôi. Đúng chỉ có một lần chị ấy nhắc đến đứa con trai khốn nạn – sản phẩm của một nỗi nhục. Chị Hằng bảo, giá mà không nghe bố mẹ nuôi, giết nó khi còn trong bụng thì tốt hơn, nhân đức hơn là để nó ra đời phải gánh chịu một số phận khốn nạn. À này, suýt nữa thì em quên mất – Mắt Nga long lanh như phát hiện ra một điều mới mẻ – Chị Hằng nói với em nhiều lần, phải tìm anh và anh Khoa, đề nghị các anh dù khó khăn, nguy hiểm cũng không nên quên viết hồi ký. Nay anh Khoa đã đi xa, trách nhiệm lương tâm ấy thuộc về anh.



– Anh không dám từ chối nhưng cũng chẳng khác gì không có trâu bò phải bắt chó kéo cày.



– Anh hạ mình quá đấy!



– Sự thật là như vậy. Anh cắp sách đến trường vẻn vẹn chưa được năm năm, nghĩa là ngang với thời gian đi học của một học sinh cấp một. Hơn nữa, cuộc đời triền miên bị khổ nhục, như thế cầm bút viết văn sao được, Tuy nhiên, bằng những dòng thô thiển, lộn xộn, anh cũng cố gắng khai sinh một đứa con tinh thần cục mịch, may ra có người rủ lòng thương nó.



– Nếu những người như anh không cầm bút thì còn là ai nữa? Chả lẽ tất cả mọi nỗi đau thương cơ nhục của một dân tộc đều theo dòng chảy của thời gian quên lãng? Ý nghĩ nông cạn của một người đàn bà bất hạnh, em cũng hiểu rằng cầm bút lúc này là đương đầu với tai họa, với tù tội, thậm chí với tính mạng của mình.



– Đúng như em nói, hành động đó là nguy hiểm nhưng anh không qu

an ngại như em. Anh là một trong số hàng nghìn người cầm bút có tâm huyết với tổ quốc và dân tộc, nếu thiếu anh cũng chẳng hệ trọng gì, giống như “cô đi lấy chồng thì chợ vẫn vui”. Dù có trăm phương nghìn kế thâm độc, CS cũng không thể che đậy được tội ác trời không dung, đất không tha của chúng. Ông Phan Khôi nói: “Văn học là nhân chứng của toà án lịch sử ngàn đời.” Văn học là cái vô hạn, chế độ là cái hữu hạn. Cái hữu hạn không thể và không bao giờ thắng nổi cái vô hạn. Dù có điên cuồng, hung bạo, dù có tinh vi xảo quyệt đến mấy, tội ác của mọi thể chế trước sau đều bị phơi bày ra ánh sáng của công lý và lịch sử…



– Em nói tiếp chuyện chị Hằng nhé. Khi đọc lệnh tha, những người có tên đều mừng rỡ, riêng chị Hằng lại buồn hơn. Chị nói: “Với thân tàn, không nhà cửa, không nơi nương tựa thà rằng bỏ xác nơi này còn hơn…”



Em an ủi, chị về Hà nội ở với em, trước hết chị đi chữa bệnh. Bệnh lao ngày nay không phải là bệnh nan y nữa. Sau đó, chị cùng em đi chạy chợ kiếm ăn. Việc cấm chợ ngăn sông, quản lý con người trong thế hệ Lê Duẩn có phần lỏng lẻo hơn thời đại Hồ chí minh dạo trước. Xem ra ngài tổng bí thư còn đam mê trăng gió nên bàn tay siết gọng kìm thống trị không chặt như ông Hồ. Nghe em nói, chị Hằng nhất trí và nhận xét thêm: còn may là tên bạo chúa qua đời trước ngày miền Nam rơi vào tay CS, đồng bào miền Nam bớt được một khối lượng khổng lồ máu và nước mắt, người Hà nội vợi bớt nỗi lo sợ vì câu “làm Hà nội trong sáng như pha lê”. Những “thái tổ” của chính quyền CS, tên nào cũng cực đoan và tàn bạo nhất, chẳng hạn Lénine, Staline, Mao trạch Đông, Fidel Castro… Cải cách ruộng đất là những ngày hội lớn của tên bạo chúa, hẳn linh hồn hắn phải nuối tiếc là không được kéo lê đôi dép lốp đẫm máu vào miền Nam để mở hội…



Gần mười hai giờ đêm, tàu mới về tới ga hàng Cỏ. Em dắt chị Hằng qua đám đông người đứng ở đường. Đột ngột chị Hằng nắm ghi đông xe của một người đang dắt bộ và kêu:



– Anh Nam!



Tức khắc chị Hằng ngất xỉu và ngã vật ra đường. Em ôm lấy chị và gọi hai ba lần, chị vẫn không tỉnh lại. Người đàn ông luống cuống hỏi trống không:



– Người này là Bích Hằng à?



Em trả lời và hỏi:



– Anh tên là Nam?



– Phải rồi!



– Anh cùng quê với chị Bích Hằng?



– Đúng!



Nghe chị Hằng nói, anh Nam tao nhã, ôn tồn, có lẽ gặp lại người yêu tàn héo, đau thương làm anh ấy quá xúc động, không tự chủ được mình. Em nói với anh ấy, anh ấy chỉ trả lời dóng một, dóng hai, gắt gỏng.



Thình lình mưa dội xuống như trút nước kèm theo gió lớn, sấm sét. Em vội bế chị Hằng vào hè phố tránh mưa, mọi người trên đường cũng tìm nơi trú ẩn. Anh Nam, tay dắt xe, vẫn đứng trơ trọi giữa đường. Một chiếc ô tô tải phóng chỗ anh đứng, anh buông tay cầm xe đạp và lao người vào bánh sau chiếc ô tô đó, chết ngay.



Người chờ tàu khoác áo đi mưa ùa ra xem, vây kín thi hài anh Nam, gần một giờ cảnh sát giao thông mới đến làm nhiệm vụ. Lúc đó mưa đã ngớt, chị Hằng tỉnh dậy, hỏi em:



– Ai bị tai nạn đấy?



– Em chưa biết. – Em giả vờ nói thế.



– Người tự sát là Lê Nam quê ở Hưng nhân, Thái bình. Công an vừa kiểm tra nạn nhân, trong túi có chứng minh thư. – Một người đàn bà nói.



– Anh Nam chết rồi à? – Chị Hằng khóc rống lên – Em cũng theo anh. Sau đó chị Hằng lên một cơn ho một hồi, chị thở ra hàng bát máu rồi tắt thở.



Em hoảng quá, khóc và kêu to:



– Các ông, các bà ơi cứu giúp người này với!



Người ta lại ùa đến vây kín chỗ em. Cảnh sát cũng tới, hỏi:



– Người đàn bà này ở đâu đến?



– Chị ấy đi cải tạo được về – Em trả lời.



– Người này với chị quan hệ thế nào?



– Tôi chỉ là người bạn tù. – Em trả lời và thoáng nghĩ, một mình từ trong tù ra làm sao đưa chị Hằng về nơi yên nghỉ? Mà phải, bọn chúng giết chị, bọn chúng phải chôn cất chị, mình trốn đi chịu mang tiếng bất nghĩa vậy.



Em lấy quần áo rách trong gói của chị Hằng giải ra hè cửa hàng ăn quốc doanh và đặt chị nằm trên đó. Móc túi áo chị lấy giấy tha trình công an, hắn đang soi đèn pin đọc thì em luồn qua đám đông trốn về nhà. Đi được hơn một trăm mét, em nghe tiếng tên cảnh sát gọi:



– Cái chị từ trại cải tạo về đâu rồi?



Họ chôn cất anh Nam và chị Hằng ra sao, em cũng không biết nữa. Tất nhiên, cả hai về nơi yên nghỉ đều không có hương hoa cúng viếng, không có tiếng khóc của những người cùng máu mủ. Anh thử nghĩ, đời làm gì có chân lý? Bọn bất lương vẫn ung dung sống trên mồ hôi, máu và nước mắt, còn những người lương thiện sống đau thương, khổ nhục, chết thảm thê.



Nghe Nga nói, tôi lặng người đi vì xúc động. Sau vài phút im lặng, sụt sùi, Nga hỏi:



– Hôm nọ anh ngồi ở vườn hoa hàng Đậu?



– Chắc anh Hưng nói với em?



– Thế ra anh còn nhớ anh Hưng?



– Nhớ láng máng thôi.



– Anh Hưng nói, buổi sáng hôm em được về, anh ấy đi qua vườn hoa thấy anh ngồi trên ghế đá, nét mặt buồn bã lo âu. Anh Hưng nhìn kỹ mới nhớ ra xưa kia anh làm với mẹ em. Anh ấy hỏi anh nhưng không biết vì sao anh im lặng?



– Hôm ấy đầu óc anh quay cuồng vì một tai hoạ có thể đến, khi anh Hưng hỏi, có lẽ anh đang mê mẩn. Anh ấy lên cầu thang vào nhà, anh mới chợt nhớ ra.



– Tai hoạ gì có thể đến với anh?



– Sau này anh sẽ nói với em.



Sau khoảng khắc im lặng, Nga đưa mắt long lanh nhìn thẳng vào mặt tôi, môi em nở một nụ cười duyên dáng, em tiếp:



– Em đã nói chuyện với chị Hằng, lần đầu em gặp anh trên đường Yên phụ. Anh còn nhớ không?



– Quên sao được.



– Chị Hằng bảo, anh và anh Khoa là những thanh niên mẫu mực, hiếm có trong thời đại ngày nay. Ngược lại, em có ý nghĩ anh là một Míchkin hiện đại, đúng không?



– Anh không phản đối. Anh, anh Khoa và cả anh Nam nữa là những người lạc lõng, bơ vơ giữa dòng đời.



– Dạo ấy, em mới mười bảy, ở độ tuổi trăng tròn, em không đến nỗi nào… Có bao giờ anh hối tiếc buổi gặp gỡ đó không?



– Về tâm lý thì có nhưng về luân lý thì không?



– Tại sao?



– Người đàn ông nào chẳng ước mong có một người bạn đời khi đến với mình còn phong nhị. Thế thì tại sao mình lại bẻ cành xuân để rồi chuyên tay cho người khác?



– Nhân sinh quan phong kiến đã bị chôn vùi, ước mong ấy là không tưởng.



– Em nói đúng nhưng anh quyết không trôi theo dòng chảy dù có bị thiệt thòi.



– Rất tiếc Dostoievsky đã qua đời, nếu còn sống, ông ta sẽ có một nhân vật bằng xương, bằng thịt – một thằng đại ngốc – Nga vỗ vào vai tôi, cười khúc khích. Nga hỏi tiếp:



– Hiện nay anh đã có bồ chưa?



– Một tên phản cách mạng ai dám yêu mà bồ với bịch?



– Có đấy! Chỉ ngại quan niệm của anh… Ánh mắt em long lanh như loé lên mọt tia hy vọng.



Còn tôi không thể chấp nhận một mối tình với người đàn bà có quá khứ đầy tội lỗi. Thấy tôi im lặng, Nga lại tiếp:



– Kim trọng dang cánh tay bao dung, độ lượng ra đón nàng Kiều. Em cứ tưởng…



– Anh với em ở một bình diện khác, chưa một lần chúng ta có lời hẹn ước.



– Từ buổi đầu gặp nhau và chỉ một lần ấy thôi, bao giờ em cũng nghĩ đến anh với một tấm lòng trìu mến, thiết tha, kể cả những tháng năm cơ cực, tủi nhục nhất của cuộc đời. Mỗi lần nói chuyện với chị Bích Hằng, em không thể không nhắc đến anh. Chị Hằng cũng cho rằng, hình ảnh anh đã khắc sâu trong trái tim em. Đến nay mới biết, tình em như nước từ nguồn xuôi dòng chảy về biển cả cô đơn.



– Đối với em, anh chỉ có một tình thương, mà tình thương không phải vị hoàng đế của con tim. Tình thương và con tim là đồng minh thân thiện cùng tồn tại trong một góc của tâm hồn. Một cuộc tình duyên đẹp bao giờ cũng bắt đầu từ con tim mới đến tình thương. Đảo ngược lại quy luật đó sẽ chẳng gặt hái được bao nhiêu hạnh phúc.



– Qua anh, em phát hiện ra một điều mới mẻ, đó là một tâm hồn rộng mở nhất cũng vẫn còn những phần khép kín.



– Em nói đúng, ai chẳng có phần ích kỷ? Người ích kỷ về tiền tài, người về công danh địa vị, người về tình ái… Anh không bao giờ chấp nhận một mối tình khi đã biết có thời hoặc một lần đối tượng của mình trao thân cho người khác dù bất cứ lý do nào.



– Ước mơ ấy chỉ thực hiện được trong chế độ phong kiến. Ngày nay khó lắm, nhất là đối với vị trí của anh.



– Anh biết mình chỉ là kẻ khốn cùng, không thể thay đổi được nhân tình thế thái cũng không thể thoát khỏi kiếp phong trần. Có thể bị lừa dối để anh cảm nhận được điều bất hảo của người yêu trong dĩ vãng, như thế còn dễ chấp nhận hơn.



– Hiểu như thế, tại sao anh không chấp nhận một sự thật phũ phàng, anh sống trong ảo tưởng, mình lừa dối chính mình?



– Mất tất cả trong đó có tính mạng, anh có đủ can đảm nhìn vào sự thật, còn tình yêu chắp vá thì không bao giờ… Nhỏ nhen, cố chấp là tính xấu nhưng trái tim anh luôn khép kín, không phục tùng những lời phán quyết hoặc răn dạy của lý trí về lòng bao dung, độ lượng.



– Em không ngờ trong lĩnh vực này, anh tôn thờ những mô hình đạo đức xơ cứng, những thần tượng một cách phi hiện thực, quên mất nỗi đắng cay, bất hạnh của đời thường. Em đã nhầm, hoàn toàn nhầm lẫn về anh. Chào từ biệt nhé! – Nói xong, Nga rảo bước về phía ga.



Sau khi bị dập tắt tia hy vọng, Nga mau lẹ xoay chiều tấn công tôi quyết liệt. Về phần mình, tôi biết đã tàn nhẫn với em. Vì lời tỏ tình của Nga như khoét sâu vào nỗi đau của đời tôi. Tôi muốn trốn chạy một tình yêu nham nhở, Nga lại cố sức săn đuổi, cùng đường buộc tôi phải phản công để tự vệ.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn