BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 27840)
(Xem: 26491)
(Xem: 25131)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Có Một Trường Quân Y

01 Tháng Tư 201312:00 SA(Xem: 1108)
Có Một Trường Quân Y
51Vote
41Vote
30Vote
20Vote
10Vote
4.52
Nhân đọc trong TSYS số tháng 7 năm 2006, một bài viết của bác sĩ Nguyễn Hữu Nam, tôi thấy sống lại trong tôi những ngày tháng tuổi trẻ, nhất là thời gian sau khi đổ Tú tài 2. Tôi muốn ghi lại đây những kỷ niệm của thời chập chững trong quân ngũ QLVNCH.

Trước hết xin cám ơn hai bạn Bùi Quang Chương và Nguyễn Văn Quý đã nhắc nhở tôi tên những người bạn học thời đó mà tôi đã quên.

Bùi Quang Chương đã cùng tôi ráng moi trong trí nhớ (đã mai một rất nhiều!) những cái tên của 30 thí sinh trúng tuyển vào trường Quân Y năm 1960.

Nguyễn Văn Quý đã cho tên những bạn học năm Đệ Nhất A3 để chuẩn bị theo Y khoa sau này.

Đầu niên khoá 1957-1958, vì trường Hồ Ngọc Cẩn không có những lớp Trung học Đệ Nhị Cấp, nên tôi phải xin vào học trường Chu Văn An. Chả biết tại sao tôi lại lọt vào lớp Đệ Tam C, ban Văn Chương. Nhưng nhờ thế, tôi gặp được những người bạn tuyệt vời và các thầy giáo đáng kính. Đến cuối năm học, nghe theo những thằng bạn rủ rê, tôi xin đổi lớp. May thay cho Trần Khánh Long đang muốn từ ban Toán qua ban Văn Chương, thế là hoán chuyển với Long để vào lớp Đệ Nhị B, ban Toán. Đó là lớp của những nhân tài tứ xứ! Tôi phải khổ sở lắm để “bằng anh, bằng em”, đó là lời Mẹ dặn dò. Trong lớp nhỏ nhất là Trần Mộng Lâm, vì vừa quen trong gia đình vừa là bạn chơi chung, nhưng điều đáng ghi là nhờ theo Lâm, mà tôi ráng giải hết các bài toán trong cuốn lebossé! Cuối năm đỗ Tú tài kỳ đầu, đi chơi hè vung vít… Lúc đó một thoáng suy nghĩ trong đầu là nếu thi xong Tú tài 2 thì mình sẽ ra sao nhỉ? Môn Toán thì khô khan, làm gì với những con số, những ký hiệu vô hồn? Hay là qua ban A, ban Vạn Vật, còn có chút gì “sinh khí?”

Thế là lại xin đổi ban. Tựu trường vào lớp Đệ Nhất A3. Không hẹn mà gặp thêm 2 mạng nữa của Đệ Nhị B1 cũng đổi ban, đó là Nguyễn Đăng Khôi và Thành Quang Lân. Tụi bạn cứ nhạo rằng 3 thằng này muốn làm “đốc tưa”! Năm học qua đi nhẹ nhàng vì về Toán thì với kiến thức của năm ngoái cũng khá đủ để đi thi, chỉ cần tụng môn Vạn Vật thôi. Quả nhiên cuối năm cũng xong luôn Tú tài 2… Đó là năm 1960.

Học gì? Về sau sẽ định làm nghề gì?

Câu hỏi đó chắc chắn quanh quẩn trong đầu những anh Tú chúng tôi, hành trang vỏn vẹn là hai mảnh Tú Tài. Tôi mơ ước một phương trời xa, được ra ngoại quốc để phóng tầm nhìn bao quát hơn về mọi phương diện. Xin đi du học chăng? Tôi bàn với ba má tôi thì má tôi nhất định ngăn cản vì một lý do duy nhất là sợ tôi lấy “vợ đầm!!!”

Học ngành gì đây?

Tự dưng một hôm má tôi nói: “Sao con không theo nghề của Bác Đốc?” Rồi bà ngồi xuống cạnh tôi kể một câu chuyện xưa đã ảnh hưởng mạnh mẽ vào tâm trí bà. Má tôi là con gái út trong gia đình 5 người con. Người anh cả là Y sĩ cách má tôi 12 tuổi. Hồi nhỏ, có lần má tôi bị bệnh thương hàn khá nặng, ông anh thương em trị bệnh, chăm sóc cô em từng ly từng tí, bỏ cả ăn cả ngủ nên hình ảnh “lương y” đã in một dấu ấn rất mạnh mẽ trong tiềm thức của má tôi cho đến bây giờ. Nay có thằng con phân vân không biết học ngành gì thì hình ảnh người anh năm xưa lại hiện lên nên má tôi đề nghị như trên. Một phần thương mẹ, một phần cũng khoái cái nghề cao quý đó, tôi bèn ghi tên học chứng chỉ PCB (Physique, Chimie, Biologie) ở Đại học Khoa Học Saigon niên khoá 1960-1961.

Còn nguyên nhân nào vào Quân Y thì hoàn toàn không còn nhớ tại sao và do ai. Một cái “lỗ” lớn trong đầu như thế thì đáng trách thật. Chỉ biết rằng Nha Quân Y (chưa gọi là Cục Quân Y) đối diện với Tổng Y Viện Cộng Hoà. Tôi dắt xe gắn máy qua một cổng nhỏ có lính gác, rồi theo lời chỉ dẫn đến gặp một quân nhân đang ngồi giữ một cuốn sổ ghi tên các thí sinh kỳ thi tuyển vào lớp PCB, lấy hồ sơ…

Trường Quân Y QLVNCH


Địa điểm thi là Trung Tâm Huấn Luyện Quân Y số 4 đường Hùng Vương. Sau này ở đây mới đổi tên thành Trường Quân Y. Đây là một doanh trại rất cũ, hình như ngày xưa là chỗ nuôi ngựa của quân đội Nhật Bản. Cơ sở này chỉ có hai mặt là giáp đường cái thôi. Một mặt ngó ra đường Lý Thái Tổ, có một cổng sắt to đen hoen rỉ, cây cối bò leo phủ gần hết vì từ lâu đóng kín, không sử dụng được, chỉ còn mặt tiền kia làm cổng chinh, đâm thẳng ra đường Trần Bình Trọng. Cổng này cũng đơn sơ gồm một cửa lớn hai cánh rộng chừng 6 thước để xe ô tô ra vào. Bên cạnh là một cổng nhỏ bề ngang chừng 1 mét rưỡi để xe gắn máy xuất nhập doanh trại. Chính tại cổng nhỏ này về sau anh em Sinh Viên Quân Y chúng tôi có rất nhiều kỷ niệm. Sau chiếc cổng nhỏ là cái đồn canh, trong đó lúc nào cũng có một Hạ sĩ quan gác và thường hay kèm theo các khoá sinh y tá trực.

Con đường từ cổng chinh chạy thẳng chừng 300 mét là đụng cái cổng trổ ra đường Lý Thái Tổ đã khoá, bên phải là hàng rào giáp ranh với vườn tược của một biệt thự rộng mênh mông, trực thuộc Uỷ Hội Quốc Tế Kiểm Soát Đình Chiến, bên trái mới là cơ ngơi của Trung Tâm Huấn Luyện Quân Y.

Đó là hơn mười dãy nhà trệt nằm song song nhau, ngang chừng 6 mét, dài hơn 30 mét. Dãy đầu tiên là phòng trực Sĩ quan, kế đến là Văn phòng của Chỉ Huy Trưởng và các sĩ quan hành chánh điều hành.

Dãy này chúng tôi ít khi lui tới ngoại trừ tháng tháng đến lãnh lương.

Dãy kế tiếp là những văn phòng lo về hành chánh, thư viện, những lớp học, bệnh xá… Xa tít về phía đường Lý Thái Tổ là những dãy nhà dùng làm nơi ăn, ở của khoá sinh. Chính nơi đây sau này là chỗ nội trú cho những Sinh Viên Quân Y chúng tôi.

Tôi không nhớ bao nhiêu sinh viên dự kỳ thi tuyển này. Chỉ thấy các sĩ quan đến coi thi ra vào, trong đó, tôi còn nhớ đến bây giờ một ông Đại Uý rất bảnh trai và dễ thương, sau này mới biết đó là Y Sĩ Đại Uý Nguyễn Kiển Ngọc (giờ đã thất lộc).

Tôi được trúng tuyển kỳ thi này. Nhân ngày về dự đám táng của Hoàng Thiện Căn ở Maryland, tôi gặp lại Bùi Quang Chương, thì theo Chương, chúng tôi tất cả là 30 người. Chúng tôi phải mất một đêm nằm tâm sự bên nhau mới nhớ dần ra được những tên sau đây:

Lê Ánh; Bùi Quang Chương; Đoàn Văn Đạo; Vũ Văn Giảng; Nguyễn Thanh Hà; Lê Thanh Liêm; Châu Hoài Mạnh; Hà Khắc Nhân; Nguyễn Xuân Phô; Dương Mạnh Tài; Nguyễn Hùng Anh; Lê Văn Công; Phạm Hữu Gia; Đỗ Văn Hiếu; Nguyễn Đức Long; Nguyễn Tấn Nghiệm; Lê Hồng Pháp; Lê Hữu Phương; Lê Bá Thi; Lê Đình Thuấn; Nguyễn Kim Tính; Nguyễn Phước Trọng; Hà Mạnh Tuấn; Nguyễn Đình Văn; Phạm Gia Thuần; Trần Văn Tính; Nguyễn Thế Truyền; Nguyễn Văn Tựu; Trương Văn Xem.

Trong tất cả bạn bè cùng lớp Quân Y trên đây, tôi chỉ biết độc nhất một người, đó là Nguyễn Đình Văn, cùng học với tôi tại trường Chu Văn An, lớp Đệ Nhất A3.

Nguyễn Văn Quý mới đây còn nhớ được những bạn cùng lớp Đệ Nhất A3 theo học Y Khoa đó là:

Cai Văn Dung; Lê Văn Hiển; Thành Quang Lân; Bùi Xuân Nhựt; Hà Mạnh Tuấn; Nguyễn Vũ Vượng; Nguyễn Anh Dũng; Đặng Đức Kiệm; Nguyễn Văn Minh; Nguyễn Văn Quý; Nguyễn Đình Văn.

Thế là 3 đứa từ Đệ Nhị B1 đổi ban qua Đệ Nhất A3 thì còn lại 2 đi theo Quân Y. Riêng Nguyễn Đăng Khôi đi du học, sau về làm Thứ Trưởng Kinh Tế.

Ngày nhập ngũ được tính là ngày 1 tháng 9 năm 1960. Cấp bậc là Thượng Sĩ Hiện Dịch; lẽ dĩ nhiên được lãnh lương theo cấp bậc, như mọi người lính khác trong quân đội.

Cấp bậc cao nhất trong ngành Quân Y bấy giờ là Y Sĩ Trung Tá Vương Quang Trường, Giám Đốc Nha Quân Y.
Cấp trên trực tiếp của chúng tôi là Y Sĩ Trung Tá Hoàng Văn Đức, Chỉ Huy Trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Quân Y.
Chúng tôi cả bọn đi lĩnh quân trang, quân dụng. Lần đầu tiên sờ vào những thứ xa lạ, chỉ thấy bơ vơ, lạc lõng. Tôi và Lê Đình Thuấn còn được lĩnh bộ đồ lính của Tây thời xưa, loại có túi ở ống quần (để bắt gà!) và cả đôi giầy brodequin da sần sùi, đế sắt nặng hàng ký lô. Nói thế để biết vào năm 1960, quân đội ta vẫn chưa có qui củ gì hết, bắt đầu bằng ngành tiếp liệu…

Lúc đó quân phục của chúng tôi, cũng như các sĩ quan khác là quần dài, áo dài tay màu vàng, đi giầy đen, đội mũ cát-két (casquette) vàng. Trên nắp túi trái đeo bảng tên dài bằng ngón tay trỏ thường bằng kim loại khắc chìm tên họ. Bên cánh tay trái đeo huy hiệu Trung Tâm hình cái khiên màu đỏ gụ (đỏ Bordeau) trong có một con rắn quấn quanh cây gậy, nằm trong một hình chữ thập. Cấp bậc thì gắn trên cổ áo. Tụi tôi Thượng Sĩ là một cái nút trơn lu màu trắng bằng ngón tay trỏ. Nếu thi đậu lên năm thứ nhất Y Khoa thì tự động lên Chuẩn Uý, sẽ có cái nút màu vàng trên có con cá alpha nổi. Lên năm thứ hai sẽ đeo “lon” Thiếu Uý, 1 hoa mai vàng. Lên năm thứ tư sẽ đeo lon Trung Uý, 2 hoa mai vàng tới khi ra trường luôn. Lúc bấy giờ cấp tá sẽ đeo hoa mai bạc với đường kính lớn hơn để phân biệt với cấp uý. Sau này mới thêm cái gạch ngang để phân biệt rõ ràng hơn. Trên cầu vai thì đeo một huy hiệu bằng đồng dấu hiệu chữ thập đỏ, bên trong khắc nổi 2 mẫu tự:

YS là Y sĩ
DS là Dược sĩ
NS là Nha sĩ
HC là Hành chánh Quân Y và chúng tôi phải đeo
SV là Sinh viên.

“Như vậy là con đường của định mệnh đã đưa tôi đến với trường Quân Y Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà một cách rất tình cờ, không hề được tôi dự tính trong những năm cuối ở Chu Văn An. Con đường định mệnh này còn đưa tôi và các bạn tôi đi những bước rất xa, những năm tháng tràn đầy kỷ niệm mà ngày nay, ngồi tại nước Mỹ rộng lớn này, tôi vẫn không sao quên được. Một thời rất xa xưa, ở một nơi rất xa xưa. Tôi sẽ kể lại những kỷ niệm đáng nhớ trong những số báo sau để các bạn cùng lớp, hay trước và sau tôi vài lớp, có dịp cùng tôi nhớ lại khi chúng ta còn trẻ (one day when we were young…!) và các bạn sẽ hiểu tại sao bài viết này được đặt tên là Thượng Sĩ Da Trâu.”

Thế là ba mươi mấy chàng Sinh viên Quân-Y, mũ áo xênh xang, lon lá đàng hoàng, Thượng-sĩ Hiện dịch chứ bộ, lần lượt trình diện Bộ Chỉ huy.

Lúc chúng tôi mới nhập ngũ thì là lúc Y sĩ Trung Tá Nguyễn Hữu Thư vừa bàn giao chức vụ Chỉ huy trưởng Trung Tâm Huấn Luyện Quân-Y cho Y sĩ Trung Tá Hoàng Văn Đức. Tướng mập mạp, cao lớn, với đôi kính cận khá dầy, miệng có chiếc răng khểnh, ông đã từng là Sinh viên Quân Y ngoài Ha Nội, khóa 1, hồi còn Pháp thuộc. Mỗi sáng thứ hai, lúc chào cờ, ông di chuyển bằng xe ô tô hiệu Peugeot 203 mầu đen đến tận sân cờ, nơi tất cả quân cán chính của đơn vị đã đứng sẵn vào hàng, có Trung Úy Hành Chánh Đặng Văn Đại hướng dẫn để đi duyệt hàng quân. Nghe nói ông cũng là một nhà thơ, sau này mới biết bút hiệu của ông là Hoàng Vũ Đức Vân. Ông không gần gụi chúng tôi nhiều, cũng không nhắn nhủ gì cả cho những anh chàng “blanc bec” lớ ngớ như tôi vừa ra khỏi trường trung học. Ông chỉ nắm chức vụ Chỉ huy Trưởng Trường Quân Y đến cuối năm 1963, sau khi Tổng thống Ngô Đình Diệm bị lật đổ, sau đó thì ông (bị?) giải ngũ và hiện đang sống tại tiểu bang California, Hoa-Kỳ.

Ông có hoài bão cải tổ toàn bộ Trường Quân Y, nhất là thành phần Sinh viên Quân Y, để sau này sẽ là Trường Quân Y kiểu mẫu cho toàn thể Dông Nam Á. Ông đặt rất nhiều kỳ vọng vào khóa chúng tôi, nghĩa là những anh sinh viên còn trong trắng (!) để đào tạo từ đầu, lúc mới còn trứng nước...Ông cho may lễ phục của Sinh viên Quân Y : quần đen có nẹp, áo trắng , ngù vai đỏ, nút đồng, thắt lưng đen, to bản, tay mang đoản đao, huy hiệu trên mũ là TỔ QUỐC và NHÂN LOẠI. Lê Đình Thuấn được gọi lên cho mặc lễ phục mới để chụp 3 “pô” ảnh đăng trên Tập San Quân Y của Quân Đội Cộng Hòa. Ngoài ra trong những năm sau đó, chúng tôi được gửi đi thụ huấn quân sự hè tại Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt, dưới sự chỉ đạo của Đại Tá Trần Ngọc Huyến, một vị chỉ huy có lý tưởng quốc gia, rất được lòng các sinh viên Võ Bị kể từ khóa 16 trở đi, đó là các “CÙI” rất nổi danh sau này trong việc chiến đấu bảo vệ miền Nam. Ông chăm lo bổ túc đời sống văn hóa chúng tôi, tháng tháng diện lễ phục drill trắng đi ăn cơm tây ở Câu lạc bộ Sĩ quan An-Đông nghe diễn thuyết về đủ mọi đề tài. Thành phần diễn giả khá chọn lọc. Ông còn bắt chúng tôi phải học thêm vào buổi tối trong doanh trại, có mời các giảng sư, giáo sư Y, Nha, Dược ngoài dân sự vào dạy thêm...

Điều “cách mạng” nhất trong đời sống Sinh viên Quân Y là ông bắt chúng tôi phải vào nội trú trong doanh trại “chuồng ngựa”! Đây là lý do ông bị các lớp đàn anh của chúng tôi chống đối. Từ trước đến nay, tuy mang danh là lính, ăn lương sĩ quan đều đặn, mà chỉ mặc quần áo lính vào mỗi sáng thứ hai để vào doanh trại chào cờ. Chào cờ xong lại thay quần áo dân sự đi thực tập nhà thương, đi bát phố. Có anh năm thứ tư, cấp bậc trung úy đàng hoàng, mà hàng xóm còn nghi ngờ sĩquan giả , bị kêu Quân Cảnh xét giấy!!!!
Tụi tôi, một lũ “xây lô cố”, mặt búng ra sữa, ôm đồ đạc lỉnh kỉnh vào doanh trại....
Từ đó, trong tôi bừng lên một mầm sống mới...

Từ đó, chúng tôi mới có dịp nhận diện nhau...

Trước hết , xin nói đến các sĩ quan đàn anh , các xếp, trong trường.

Khi đã tập trung vào nội trú là phải nói đến ăn cơm nhà thầu trong trường. Cũng như mọi quân trường khác, việc ăn uống là do nhà thầu đảm trách. Cũng vẫn những bàn dài song song nhau trong phạn xá. Lũ chúng tôi đông nhất. Càng lên các lớp trên thì nhân số cứ giảm dần đi. Các anh ít chịu vào ăn và ngủ trong doanh trại vì đã quen ở ngoài từ bao nhiêu năm rồi, nhưng vì lệnh trên bắt buộc nên phải miễn cưỡng vào ăn cơm phạn xá, còn chuyện ngủ đêm trong trại thì rất ít các anh tuân theo vì “chân cao, thấp” từ lâu “ngoài vòng cương tỏa”, nên cũng sinh ra bất mãn...

Chúng tôi ngồi chờ nhà thầu dọn cơm, lẽ dĩ nhiên là rất chậm chạp, chẳng biết làm gì bèn quấy phá, nghịch ngợm. Lấy muỗng, nĩa, dao kéo gõ leng keng, ồn ào không thể tả được, nhất là giờ đông sinh viên. Ít lâu sau đó, khi ngồi chờ ăn thì một đợt âm thanh nhịp bốn chạy dài từ bàn đầu đền bàn cuối ,lặp đi lặp lại không dứt : “ TẬP, THÀNH, BÌNH, TÌCH” rồi “KHA, KHÔI, NHÂM, THIỆN”. Cứ nhịp 4 đó kéo dài, ngân nga, dồn dập, đến khi nhà thầu dọn xong mới thôi...

Thì ra đó là những tên của các y, dược sĩ dàn anh chúng tôi trên Bộ Chỉ huy.
“TẬP” là Dược Sĩ Đại Úy Nguyễn Phúc Bửu Tập, nhân vật thứ ba sau Chỉ huy trưởng Y sĩ Trung Tá Hoàng Văn Đức và Chỉ huy phó Y sĩ Đại Úy Lê Phước Thiện. Dược sĩ Bửu Tập, người Huế, hoàng phái, người nhỏ con, trán cao, thông minh, đi rất sát Chỉ huy trưởng, nhất là về mục Văn hóa. Chúng tôi , ngành Y, nên không quan tâm mấy đến nhân vật này. Ông hiện ở Nam Cali, viết nhiều bài nghiên cứu đăng trên các báo.

“THÀNH” là nói đến Y sĩ Trung Úy Nguyễn Phúc Thành, vị chỉ huy trực tiếp của các Sinh viên Quân Y chúng tôi. Ông người cao, gầy, lưng hơi gù, môi thâm đen vì hút thuốc lá liên tu bất tận. Bận liên tục vì lũ sinh viên chúng tôi quấy rầy không ít, lo đủ mọi việc, thượng vàng hạ cám...Ông bị kẹt lại sau 30-4-1975 lúc đó đã là Y sĩ Trung Tá và đã mất tại Saigon. Lúc còn trong Trường Quân Y, ông cũng có cảm tình với tôi. Thấy tôi hay phát ngôn bừa bãi, ông thường lôi tôi vào một góc vắng khuyên nhủ nên lựa lời mà nói kẻo vạ vào thân!

“BÌNH” là Y sĩ Trung Úy Lê Đình Bình, phụ tá Bác sĩ Nguyễn Phúc Thành, lo điều hành các Sinh viên. Ông người hơi thấp, ăn nói cũng khá “dùi đục chấm mắm cáy”, vả lại phụ trách kỷ luật sinh viên, nên ít được lòng đám sinh viên ba trợn. Những lần diễn hành Lễ Quốc Khánh 26-10 là ông dẫn đầu toán Sinh viên Quân Y, tay cầm kiếm, nên những khi tập dượt cùng chúng tôi thấy ông cũng cực khổ không kém đám sinh viên. Bạn Lê Văn Công, trong i-meo, có nhắc đến những tối trước ngày diễn hành, phải thức dậy từ 2-3 giờ sáng , mặc y phục đại lễ, ngù vai đỏ, găng tay trắng leo lên GMC đến đầu đường Thống Nhất ngủ gà ngủ gật bên hè đường chờ sáng!!!

“TÍCH” là Y sĩ Trung Úy Trần Văn Tích, người cao, gầy, nho nhã, dáng dấp thư sinh, người gốc Quảng Trị. Ông có tướng đi khá nhanh, khi thoắt khi hiện, ít tiếp xúc với Sinh viên trong trại. Lúc đó tôi chưa biết ông là một học giả, viết rất nhiều bài khảo cứu giá trị sau này. Ông ở Trường Quân Y không lâu , sau về làm việc ở Bộ Tổng Tham mưu. Ông hiện định cư ở Đức Quốc. Những lần ông sang sinh hoạt, hội thảo ở Paris tôi đều được gặp và trò chuyện cùng ông. Trước ông cộng tác thường xuyên với tờ Làng Văn ở Canada, xuất hiện nhiều lần trên Tập San Y Sĩ CANADA với luận điệu đanh thép, chống Cộng có bài bản.

“KHA” là Y sĩ Trung Úy Đinh Đại Kha, có mặt trong Bộ Chỉ huy Trường Quân Y, nhưng tôi không biết giữ chức vụ gì. Ông nói năng nhỏ nhẹ, lúc nào cũng giữ nụ cười trên môi. Hình như ông đang định cư ở vùng Vancouver, Canada.

“KHÔI” chỉ Y sĩ Đại Úy Hoàng Ngọc Khôi. Ông dáng dấp bảnh trai, cao lớn, đẹp trai, nói năng từ tốn, hay mỉm cười, nên dễ gây cảm tình với sinh viên. Ông phụ trách tờ Tập San Quân Y của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa nên sinh hoạt mật thiết với Dược Sĩ Đại Úy Bửu Tập. Hai người này lúc đó đang dịch đăng dần trên Tập San Quân Y cuốn truyện “Of Mice and Men” của John Steinbeck mà hai ông đề nhan tiếng Việt là “Của Chuột Và Người”. Tưởng cũng nên vinh danh Tập San Quân Y này vì trong đó có đăng nhiều bài về Y học, Khoa học và Văn chương, in đẹp, khổ nhỏ, trình bày typo chữ sắc và không có lỗi, do chính Trường Quân Y chủ biên dưới sự chỉ đạo của Bác sĩ Hoàng Văn Đức.

“NHÂM” là Y sĩ Đại Úy Ngô Văn Nhâm. Ông ít nói, không cười đùa, cũng không liên hệ trực tiếp gì với sinh viên. Tôi không nhớ ông giữ vai trò gì trong Trường Quân Y. Mươi năm trước đây, trong dịp Đai hội Y Nha Dược Thế Giới ở Montréal, tôi có dịp gặp lại ông ở Vancouver, Canada. Ông vẫn khỏe mạnh và xoa mà-chược còm 2 lần mỗi tuần.

“THIỆN” chính là Y sĩ Đại Úy Lê Phước Thiện, Chỉ huy phó Trường Quân Y. Ông to lớn, đeo kính cận thị nặng độ. Chúng tôi hầu như không bao giờ tiếp xúc với ông. Trong “Danh sách Y sĩ Việt nam trên Thế giới- năm 2002 thì ông đang định cư ở Montréal, Canada.

"Ơ kìa, Da Trâu là gì, chưa thấy nói đến?
Những nickname của các bạn sẽ được kể ở bài sau.
Xin liên lạc email : tuanhasj@yahoo.com"

Thực ra năm PCB (Lý Hóa Sinh) chúng tôi chưa hẳn là sinh viên Y khoa. PCB, cũng như chứng chỉ SPCN (Lý Hóa Nhiên) chỉ là một chứng chỉ bắt buộc để vào năm thứ nhất Trường Thuốc. Như đã kể ở bài 1, Trường Quân Y bấy giờ tọa lạc tại số 4 đường Hùng Vương. Từ đó chúng tôi đi học chứng chỉ PCB ở Trường Đại học Khoa học chỉ mất 10 phút đi bộ mà thôi, rất tiện lợi cho Sinh viên Quân Y nội trú.

Nhóm 30 mạng sinh viên đeo lon Thượng sĩ này rất đa dạng. Không những tuổi tác chênh lệch, mà còn tình trạng lý lịch, gia đình, cũng như trình độ, nhất là ngoại ngữ cũng khác nhau rất nhiều. Trong chúng tôi có các anh từng là hạ sĩ quan các binh chủng khác nhau, có anh là sĩ quan, có anh học chương trình trung học Pháp như Jean-Jacques Rousseau, Yersin (Đà Lạt)..., các trường do các sư huynh điều khiển như Taberd, Mossard (Thủ Đức), Pellerin (Huế), một số anh xuất thân từ Trường Thiếu Sinh Quân (Vũng Tầu), còn các anh học trung học Việt nam như Petrus Ký, Chu Văn An, Võ Tánh (Nha Trang), Nguyễn Đình Chiểu (Mỹ Tho), Phan Chu Trinh (Đà Nẵng) thì chiếm đa số...

Chúng tôi được phân phối trong bốn dãy nhà trệt cuối cùng của doanh trại, sát đường Lý Thái Tổ. Có phòng khá rộng thì 4 anh ở chung, hẹp thì 2 anh, hoặc vài phòng nhỏ chỉ ở được 1 anh mà thôi. Cuối mỗi dãy có 1 phòng tắm chung gồm nhà vệ sinh và 1 hồ nước rất lớn, lúc nào cũng đầy nước. Những dãy nhà cách nhau 1 sân cỏ rộng chừng 5 thước. Phòng nào cũng 1 cửa ra vào và vài cửa sổ nhưng trong phòng không được sáng mấy vì là nền xi-măng, trần thấp, nhất là đồ đạc trong phòng toàn bằng gỗ tạp, ọp ẹp sơn một mầu nâu đậm...Mỗi người được cấp phát 1 giường sắt lò xo, có nệm độn cỏ, 1 tủ đứng 1 cánh hoặc 2 cánh (tùy anh nào nhanh tay “xí” trước), 1 bàn học có ngăn kéo, 1 cái ghế tựa... Thật ra thế là quá đủ cho 1 sinh viên nội trú rồi. Sau này vào giữa năm học, căn buồng chung đã tối lại càng tối hơn. Lý do là các anh muốn riêng tư học hành đã tự động giăng những tấm drap trải giường trên dây thép từ trên trần xuống đến đất để ban đêm ánh sáng của những ngọn đèn học không “làm phiền anh em đang cần yên lặng nghỉ ngơi”. Những anh ở xa cửa ra vào nhiều khi phải vạch hai ba lớp màn mới tới được “phòng” của mình. Nếu so với các quân trường khác, chúng tôi sướng như tiên vì không có màn khám phòng như Trường Võ bị Thủ Đức hay Đà Lạt. Về quân phục, chúng tôi mặc kaki vàng , quần dài, áo dài tay, đội casquette vàng, giầy đen ngắn cổ. Chỉ những khi lên tiếp xúc với Bộ Chỉ huy, nhất khi mỗi sáng thứ Hai chào cờ mới phải thật tề chỉnh mà thôi.

Trước hết, xin nói đến các anh trước đã là quân nhân, nay vào Quân-Y để đi học tiếp. Phải công nhận rằng các anh lớn này rất có chí, vài anh sĩ quan cũng bỏ cấp bực cũ để mang lon Thượng sĩ như chúng tôi. Các anh này đều lớn tuổi hơn chúng tôi ít nhất 5 hay 6 tuổi, có anh hơn chúng tôi đến 10 tuổi đời!!! Nhóm này có các anh Bùi Văn Bá, Phạm Hữu Gia, Hà Khắc Nhân, Lê Hữu Phương, Châu Hoài Mạnh, Nguyễn Xuân Phô...

Anh Bùi Văn Bá, còn gọi là Bá Già, sống khép kín, ít nói, cũng ít chơi với tụi nhóc con chúng tôi, nên tôi không biết nhiều về anh. Hình như anh đã mất ở Việt nam.

Anh Lê Hữu Phương, cũng có biệt danh là Phuơng Già, người cao và gầy, tóc xoăn như phi-dê. Đầu năm 1970 anh về Viện Thí Nghiệm Trung Ương trong Tổng Y Viện Cộng Hòa học khóa Thí Nghiệm và Giải Phẫu Bệnh Lý. Tốt nghiệp xong anh làm việc tại Tổng Y Viện Duy Tân, Đà Nẵng. Anh kẹt lại, sau khi cải tạo về, anh mở tại gia một phòng mạch nhỏ trước Bệnh viện Nguyễn Văn Học, Gia Định và làm thử nghiệm lai rai cho bệnh nhân, an hưởng tuổi già.

Anh Phạm Hữu Gia, trước ở quân chủng Không Quân, đã từng đi học bên Pháp, có tên là Gia Mặt Đỏ vì mỗi lần anh nhức đầu, lên tension là mặt anh đỏ gay lên như người say rượu. Anh là người gần nhất với tụi nhỏ chúng tôi, rất chịu chơi, nên tuy là cựu quân nhân sang Quân-Y nhưng không bị mang biệt danh “Gia già”!!!. Đêm đêm là anh ngồi kể cho chúng tôi nghe những chuyện Paris, các hộp đêm, Folies Bergères, Lido...Chuyện các cô đầm tóc vàng, sợi nhỏ, chuyện những cặp đùi các nàng mỹ nữ...

Anh dạy chúng tôi nhẩy đầm, các bước valse, tango...Chúng tôi cứ há hốc mồm mà nghe anh kể trăm thứ chuyện đâu đâu. Trí óc non nớt 18-19 tuổi của chúng tôi được anh dẫn dắt phiêu lưu đến những miền đất lạ, những chân trời chưa hề biết tới. Anh khá chăm chỉ trong bài vở, cùng chúng tôi tranh đua học hành. Tôi được hân hạnh được anh dắt đi đến nhà người yêu của anh, một trang thiếu nữ sắc nước hương trời!!! Sau này khi ra trường, anh lao vào chính trị. Có lúc anh đụng độ nặng nề với dân biểu Ngô Công Đức. Lúc nào ở tỉnh lên anh cũng ghé nhà tôi, theo sau là 1 xe Jeep với những đàn em hộ vệ. Sau 1975, tôi không có tin tức gì của anh cả. Mãi sau này gặp lại chị mới hay anh đã mất trong khi giải phẫu gan ở Alexandria, tiểu bang Louisiana. Thương tiếc anh, một người bạn thân, một đàn anh đã cho chúng tôi những bài học đầu đời...

Anh Nguyễn Xuân Phô, cũng từ Không Quân, vào học với chúng tôi chỉ 1 năm PCB thôi, rồi không thấy anh ở đâu nữa. Anh luôn luôn cười giỡn, cái miệng nhỏ trên gương mặt to, tròn, hình như không lúc nào không thấy nụ cười, Anh kể chuyện rất có duyên. Rất tiếc từ năm 1961 tới nay tôi không có tin tức gì của anh cả.

Anh Hà Khắc Nhân là một “nhân vật” trong bọn chúng tôi. Anh cũng có biệt danh là “Nhân Già” như các anh đã ở trong quân đội từ trước. Đặc biệt anh có chiếc đầu khá to, mũ nồi bê-rê (béret) của anh đội số 58. Đầu chải tóc khá mượt, người tầm thước, cũng khá điển trai. Anh hơn hẳn chúng tôi và các bạn đồng khóa là anh đã có vợ và một bầy con. Anh ở hẳn nội trú với chúng tôi, có lẽ để chăm lo việc sách đèn cho dễ dàng. “Chim có bầy tiếng hót mới hay, ngựa có bạn nước đua mới mạnh” chăng? Anh có một đam mê rất mạnh, đó là “trò chơi may rủi”. Từ tài bàn, tổ tôm đến tứ sắc, bài cào, mạt chược, xì phé...Không món gì mà anh không biết. Anh là “chưởng môn” của tất cả chúng tôi về đường ăn chơi này. Khi không đủ tay để xoa thì anh ngồi bàn, úp các quân bài xuống rồi thì “mó” để dùng xúc giác đầu ngón tay cái để đoán quân bài. Chán rồi, anh rủ chúng tôi đánh cờ tướng...Khi cấm trại, anh tổ chức sòng bài cào, la hét om sòm, náo động cả một khu nhà.

Về sau, khi gác nội trú các bệnh viện, anh cũng làm rùm beng phòng trực các nhà thương cũng là mục này. Ai là sinh viên Y khoa trực gác những năm 1964-1966 cũng đều biết tiếng anh, ngay cả các sinh viên dân y. Anh ít khi về nhà riêng, mỗi khi anh về nhà lại kéo lũ chúng tôi gồm Bùi Quang Chương, Nguyễn Thanh Hà tức Hà Khmer (để phân biệt với Lê Thanh Hà tức Hà Gà), Lê Thành Hồ...để đánh phé!!! Chị Nhân rất chiều chuộng chồng, làm cơm nước linh đình cho chúng tôi ăn, dù chỉ ăn rồi lại đánh bài tiếp!!! Không những anh là bậc thầy về môn “cờ bịch” mà anh còn là người đã dắt chúng tôi đi ăn những món ngon Bắc kỳ như bún vịt xáo măng, chả cá, phở gà, tiết canh...Đâu đâu anh đến, chủ nhân hàng quà đều niềm nở tiếp đón, dọn ra những món đúng “gu” anh như phở bò thì phải nước trong, chả cá thì phải xối mỡ liên tục cho nóng...

Về sau, khi chúng tôi không còn bị bắt buộc phải ở nội trú nữa thì anh dọn ra Câu lạc bộ Sĩ quan An-Đông cùng những anh khác như Trần Văn Tính, Lê Văn Công, Lê Đình Thuấn, Nguyễn Hùng Anh, Trần Tiến Nam, Nguyễn Hữu Thường (người y sĩ nhẩy dù nhỏ con đã bị bức tử trong trại cải tạo, người họa sĩ tài hoa vẽ truyền thần tuyệt đẹp, nhất là vẽ hình tài tử Brigitte Bardot)... mướn phòng ở tiếp. Nhiều khi thấy vắng anh 2-3 hôm, chúng tôi đến nhà tìm anh, thì các con anh trả lời: “Bố cháu về nhà của Bố rồi”. Chúng tôi ngạc nhiên hỏi tiếp: “Nhà Bố con ở đâu?” thì nghe trả lời: “Nhà Bố con có lính gác đó!!!” À, thì ra tụi nhỏ muốn nói tới Câu lạc bộ Sĩ quan An Đông, quả nhiên có lính đứng gác ngoài cổng vào!!! Lâu lắm rồi, tôi có đọc được một bài viết của anh Nguyễn Đức An, một sinh viên cùng thời, nói đến quãng đời rất đặc biệt của anh Hà Khắc Nhân với lời văn dí dỏm, dễ thương, đầy tình ưu áivề một Sinh viên Quân-Y đặc biệt này. Sau khi tốt nghiệp ra trường, anh phục vụ tại binh chủng Thủy Quân Lục Chiến. Sau biến cố 30-4-1975, anh cũng bị kẹt lại và mất 5 năm sau vì bệnh ung thư gan.

Cuối cùng trong nhóm cựu quân nhân xin nhắc đến anh Châu Hoài Mạnh. Như lệ thường anh mang tục danh là “Mạnh Già”. Anh hơn chúng tôi từ 8 đến 10 tuổi. Anh đã là sĩ quan, lại là sĩ quan Quân-Y nữa. Trong nhóm chúng tôi có anh lúc nộp đơn thi vào Quân-Y ở Nha Quân-Y, Gò Vấp, đã nhận diện được anh Mạnh là viên Trung Úy đã nhận đơn thi của mình mà sao nay lại tháo lon Trung Úy để đeo cấp bậc Thượng Sĩ để đi học với mình!!! Anh Mạnh luôn luôn cắt tóc rất ngắn, người tầm thước, đôi môi hơi dầy nhưng kể chuyện rất lôi cuốn người nghe. Lúc anh đi học với chúng tôi, anh vẫn còn độc thân, sau này anh mới kết duyên với một dược sĩ, cũng người miền Nam như anh. Anh vô nội trú như mọi sinh viên khác mặc dù anh thừa sức xin miễn với những quen biết của anh trong giới Quân-Y thời đó. Anh lái chiếc scooter Lambretta 150 phân khối trong khi chúng tôi chỉ có xe đạp, hay khá hơn là những xe gắn máy hiệu Sachs, Puch, Capri hay Solex hoặc Velovap mà thôi. Anh cũng như mọi cựu quân nhân khác đều đặc biệt rất có chí, chăm học, luôn thi đua với tụi nhóc chúng tôi. Ra trường, anh phục vụ một thời gian ở Mộc Hóa, Kiến Tường, rồi về Saigon làm y sĩ riêng cho Thủ tướng Trần Thiện Khiêm. Lúc tôi phục vụ tại Viện Thí nghiệm Trung Ương trong Tổng Y Viện Cộng Hòa, thỉnh thoảng vẫn gặp anh trong chiếc xe Peugeot 403, mặc quần áo dân sự ra vào công tác.

Do một cơ duyên nào đó, sau này tôi lại gặp anh ở Paris lúc tôi vừa ngơ ngác đặt chân lên đất Pháp năm 1981. Anh rất mừng, chăm lo phần đời sống rất nhiều cho tôi. Lúc đó anh đã tốt nghiệp bằng Certificat d ‘Etude Spéciale (CES) de Stomatologie, Đại học Paris 6 chung với anh Trần Công Phát, cùng khóa với chúng tôi. Cái CES này trước đó chỉ có hai bác sĩ Việt Nam có mà thôi, đó là bác sĩ Hoàng Cơ Bình và giáo sư Trịnh Văn Tuất, khoa trưởng Nha khoa của Đại học Saigon. Giáo sư Tuất hiện đã nhiều tuổi, ngụ tại Sceaux, ngoại ô Paris. Cũng chính anh đã hỗ trợ tinh thần tôi để đi học lại và lấy bằng này...Trong lúc trà dư tửu hậu, anh Mạnh vui miệng kể chuyện thời gian anh ở Paris và Lyon để đi học khóa Hành chành Quân-Y những năm 1950. Anh thực tập và ở luôn trong bệnh viện Val-de-Grâce, Paris tương đương với Walter Reed ở Washington, D.C. của Mỹ. Trong khuôn viên nhà thương có nhà thờ, đó cũng là nơi anh được rửa tội bằng chính những ly chén...của vua Louis 14 của Pháp!!! Anh đã về hưu, hiện vẫn ở ngoại ô Paris, gần EuroDisney. Các con anh học rất giỏi: 2 con gái nối nghiệp cha làm bác sĩ bên Mỹ và cậu con trai tốt nghiệp X tức trường Bách Khoa Polytechnique của Pháp.

Hà Mạnh Tuấn

LTS: Kính các anh, tác giả Hà Mạnh Tuấn gửi bài và nhờ Tập San Y Sĩ viết đoạn cuối bài này câu :
Câu chuyện về trường Quân Y còn rất nhiều kỷ niệm cần được kể lại nhưng vì khuôn khổ của TSYS có giới hạn nên kỳ này tạm chấm dứt ở đây. Hẹn các bạn số sau và thân mến chúc các bạn một mùa hè thật vui vẻ. Riêng đối với các bạn được nêu tên trong bài viết của tôi, nếu có điều gì làm quý bạn phiền lòng, đó là điều ra ngoài ý muốn của tác giả và xin quý bạn vui lòng đại xá cho người bạn ngày xưa.

Đại giảng đường của Trường Đại học Khoa Học Saigon khá rộng đối với tôi so với dẫy nhà lầu 2 tầng của Trường Chu Văn An, nguyên là khu nội trú của học sinh trường Petrus Ký nhường lại. Hai bên hông Đại giảng đường là 2 lối vào chính, nhưng phía sau cũng có một lối vào khác nữa. Đó là lối vào của bọn chúng tôi, hay đúng hơn là của tôi, trong những ngày đầu tiên là sinh viên đại học!!! Lý do chính là nếu đi vào 2 lối cửa bên hông đằng trước sẽ gặp những hàng ghế đầu, sát bục giảng của các thầy cô giáo sư; mà than ôi, những hàng ghế này luôn luôn đưọc chiếm trước không biết từ lúc nào bởi những cuốn vở, những cặp da của ai ai không biết được… Vào học lối cửa sau, phải leo lên những bực thang vì Đại giảng đường xây dốc lên từ trước ra sau. Trước khi vào hẳn bên trong, chúng tôi có một ban-công nhìn ra đường Cộng Hòa và bên trái là nhà gửi xe của trường Đại học Khoa học. Từ đó, chúng tôi có thể thấy bao quát những sinh viên ra vào, ai đậu xe ở đâu, ai đến bằng cách nào v.v…Cũng chính ở đó, chúng tôi túm năm tụm ba đấu láo, bàn về những bài học đã qua hay sắp tới. Hình như năm đó số sinh viên ghi danh vào PCB lên đến gần 1000 người!!! Cũng xin nói thêm là năm 1960 , khi đã có bằng Tú Tài toàn phần, bất kể ban gì Vạn vật, Toán hay Văn chương , đều được ghi danh học mà không phải qua một kỳ thi tuyển nào. Vì thế, thông thường sinh viên ghi danh một lúc hai hay ba chứng chỉ ở các trường đại học khác nhau.

Tất cả bài giảng đều bằng tiếng Pháp dù đa số giáo sư là người Việt Nam. Khoa Trưởng là Giáo Sư Lê Văn Thới, người mà chúng tôi rất ít khi thấy mặt vì Thầy không có tên trong ban giảng huấn của chương trình PCB năm đó. Như tên gọi, học trình của chúng tôi gồm ba môn chính: Vật lý (Physique), Hóa học (Chimie) và Sinh học (Biologie). Viết đến đây cũng xin kể một chuyện vui, do đàn anh xa lắc xa lơ là Bác sĩ Phạm Ngọc Tỏa, cựu chủ tịch Hội Y Giới Pháp Quốc nhiều nhiệm kỳ, cũng là cựu Sinh Viên Quân Y từ hồi còn ở Hà Nội, cựu Giám Đốc Bệnh Viện Vì Dân Saigon v.v…kể lại trong một lần trà dư tửu hậu ở Paris rằng các anh lớn ngày xưa ở Hà Nội đã gọi ba chữ PCB là Phải Chơi Bời!!! Do đó, tới năm chúng tôi thì cũng theo gương các “niên trưởng” để “vỡ lòng học lấy những nghề nghiệp hay!"

Trở lại với Trường Khoa học. Giáo sư dạy về Sinh học Động Vật (Biologie Animale) là Bà Giáo sư Trần Nguơn Phiêu, phu nhân của vị cựu chủ tịch rất đánh kính của Hội Y sĩ Thế Giới của chúng ta. Bà Phiêu, người nhỏ nhắn, ăn nói chậm rãi, hiền hòa, trái lại Giáo sư Huỳnh Công Cẩn khi giảng dạy nói rất lớn và hùng hồn. Môn Sinh học Thực Vật thì không ai qua mặt được Giáo sư Phạm Hoàng Hộ, tác giả nhiều sách về Thực Vật học. Ông đẹp trai, điềm đạm, ghi một dấu ấn đẹp đẽ trong thời gian ngắn ngủi ở Trường Khoa học.

Môn Vật Lý do Giáo sư Nguyễn Đình Hưng, người miền Nam, có nước da hơi ngăm ngăm, dáng dấp rất trí thức.
Giáo sư Nguyễn văn Hoàng và Cổ Tấn Long phụ trách môn Hoá học.

Như đã nói ở trên, tất cả bài vở, lý thuyết cũng như thực hành đều bằng tiếng Pháp. Thời đó, còn Tổng Thống Ngô Đình Diệm, Pháp vẫn còn duy trì phái bộ Văn hóa cho mãi đến năm 1965, khi xảy ra khuynh hướng bài Pháp của chính phủ Nguyễn Cao Kỳ thì nước Pháp mới hoàn toàn rút hẳn các giáo sư về nước. Sau này khi qua đến Pháp, lúc xin phép hợp thức hóa bằng cấp Y khoa Việt Nam , tôi mới được cho biết là chính phủ Pháp chỉ công nhận những bằng cấp Việt Nam từ 1965 trở về trước mà thôi…

Phải nói thành thực rằng trong lớp chúng tôi, những anh Tú Tài Việt rất vất vả trong những tháng đầu tiên ở Đại học. Họ phải cố gắng gấp đôi so với những bạn bè học “trường Tây” lên. Họ vừa học vừa tra tự điển: Pháp-Việt của Đào Văn Tập, của Đào Duy Anh, của Thanh Nghị…, tự điển Danh từ Khoa Học của Hoàng Xuân Hãn, tự điển Y học của Bác sĩ Lê Khắc Quyến v.v… Ngoài ra, khi đối đáp với giáo sư, nhất là khi thực tập trong phòng thí nghiệm cũng phải cố gắng đàm thoại bằng Pháp ngữ với các giảng nghiệm viên. Chúng tôi nghe các bạn “trường Đầm” nói chuyện với nhau bằng tiếng Tây, mấy bạn Jean-Jacques Rousseau, Taberd đấu láo với nhau bằng tiếng lóng Tây (argot)…là chịu thua thôi. Nhưng sau này mọi việc đâu lại vào đấy, nhất là khi thấy các anh lớn dù có Tú Tài Việt cũng học Y khoa đông đảo, ra trường đàng hoàng. Đó chính là cái gương sáng cho lũ đàn em chúng tôi.

Chúng tôi bắt đầu làm quen với những buổi ghi cua (cours) về lý thuyết và những thực tập trong phòng thí nghiệm.
Về Vật Lý thì học nối các mạch điện, phép điện giải….Về Thực Vật, xem và vẽ hình các tế bào thực vật khác nhau… Về Động Vật thì mổ và vẽ các bộ phận trong cơ thể của những con vật như con sam (limule), cá lóc, con dế. Tôi hân hạnh được xếp chung một toán với chị Vũ Lan Anh và chị Đàm thị Minh Nguyệt, hai ngôi sao sáng của lớp!!! Chị Lan Anh coi tôi như một đứa em nhỏ như em ruột của chị là Vũ Thế Hùng cũng học chung lớp. Sau này Hùng là một quân y sĩ nổi tiếng trong trận chiến An Lộc.

Ngoài những sinh hoạt, học tập ở Đại học Khoa học, nhóm Sinh viên Quân Y chúng tôi còn phải sinh hoạt với Trường Quân Y nữa. Về ăn uống, chúng tôi được nhà thầu cung cấp tại nhà ăn. Thường thì bốn người ăn chung một mâm như mọi quân trường khác, nhưng giờ giấc của anh em rất là tùy tiện, nên cứ đến giờ ăn là mỗi anh cứ tà tà xuống , giao dịch riêng lẻ với các cô của nhà thầu để lĩnh phần ăn. Buổi tối thì tha hồ mở đèn “gạo” bài, không bị bó buộc gì về giờ giấc hết. Cho nên có anh đi chơi tối về muộn, rồi mới học bài thật khuya. Có anh chăm chỉ hơn, ăn cơm chiều xong là đã ngồi học đến khuya mới đi ngủ.

Do đó, như trong bài trước đã nói đến vụ nội trú, tuy trong một phòng lớn chung nhau mà anh thì ngủ, anh thì học bài, có anh lại đem ghi-ta ra dạo vài khúc nhạc tình, nên trong phòng lại chia năm xẻ bẩy thành từng “ổ” riêng biệt bằng những tấm chăn, hoặc drap trải giường kín mít như buồng tằm… để ánh đèn các bạn khác không phiền đến mình. Nội quy là không được ra vào cổng trại sau 10 giờ đêm. Nhưng làm sao ngăn cấm được những chàng trai “lãng tử” khi có chút men tình ái ngấm vào cơ thể mới lớn !!! Cổng trại có một toán canh vài ba người dưới sự giám sát của Trung sĩ Thông. Ông người cao lớn, da ngăm ngăm đen, là một chướng ngại vật cho những anh ra sớm về trễ. Ông bị chúng tôi oán nhiều nhất vì sự nghiêm chỉnh này. Những “ông thượng sĩ” trẻ măng đều “teo” khi gặp ông. Trung sĩ Thông ghi tên tuổi những anh phạm nội quy, thế rồi hai, ba hôm sau, cụ Khánh xuống khu sinh viên đưa giấy mời lên Ban Sinh viên để nhận biện pháp kỷ luật.

Xin mở một dấu ngoặc nói đến cụ Khánh, nhân vật dân sự duy nhất trong Trường Quân Y. Năm 1960 thì cụ đã già rồi. Cụ, hình như họ Hoàng, như chiếc bóng, lọm khọm di chuyển trong trường để đem công văn, hoặc liên lạc đâu đó trong doanh trại. Cụ làm việc cho Trường Quân Y từ ngoài Hà Nội!!! Cụ biết hầu hết các quân y sĩ từ khóa 1 với vị chỉ huy trưởng đương thời là Ysĩ trung tá Hoàng Văn Đức qua các khóa sau như giáo sư Trần Anh, bác sĩ Phạm Ngọc Tỏa, Y sĩ Đại úy Hoàng Ngọc Khôi… trở đi đến khóa chúng tôi!!! Thâm niên làm việc của cụ như thế, nên ai ai nể cụ, vả lại cụ lặng lẽ làm việc không gây phiền hà gì đến ai. Mỗi lần nhận giấy báo lên gặp Y sĩ Trung Úy Nguyễn Phúc Thành, chúng tôi đều nghe cụ “an ủi” vài câu nhẹ nhàng cũng đỡ phần nào sầu não. Hình phạt thường là cảnh cáo sau khi gãi đầu gãi tai viện mọi lý do bịa đặt, nhung cũng có hình phạt thật sự nếu tái phạm nhiều lần, hoặc nặng hơn nữa là còn dắt thêm thằng bạn cha căng chú kiết nào đó vô trại ngủ tạm một đêm. Đó là trường hợp của Lê Thành Hồ. Hồ phải khăn gói lên nằm tù trọng cấm vài ngày ở Bộ Tổng Tham Mưu, chung với các quân nhân khác…

Ngoài ra còn có các buổi ăn chung cả trường thường tổ chức ở Câu lạc bộ An Đông. Những buổi đó chúng tôi phải mặc lễ phục drill trắng, bên trong áo trắng cà-vạt đen, mũ cát-két trắng, huy hiệu trắng (hạ sĩ quan cao cấp mà!!!) với một vành đai mũ viền bằng da nâu, giầy da đen đánh bóng. Trường thường mời các nhân vật của thời cuộc đến nói chuyện cho đám Sinh viên Quân Y nghe, có lần có cả Cha Litchtenberger là một linh mục Dòng Tên (Jésuite), giáo sư môn Mô-học (Histologie) của Y khoa Đại học Saigon …Chúng tôi ngồi nghe diễn thuyết xong thì bắt đầu ăn cơm…Tây. Trong giờ nghỉ giải lao,chúng tôi ra hành lang Câu lạc bộ thụt bi-da 3 bi cho thư giãn, xa xa mặt nước hồ bơi ánh lên loang loáng những vệt sáng nhỏ…

Hà Mạnh Tuấn
Email: tuanhasj@yahoo.com
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn