BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 35635)
(Xem: 33244)
(Xem: 32342)
(Xem: 24665)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Suy nghĩ về một bài báo

16 Tháng Sáu 200812:00 SA(Xem: 399)
Suy nghĩ về một bài báo
51Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
51
Trên trang 1 của tờ báo An Ninh Thế Giới, số ra ngày 4/6/2008 có đăng bài với tựa đề: “Vì có khác biệt cho nên cần trao đổi để hiểu nhau hơn”. Bài báo lược thuật lại buổi làm việc vào chiều ngày 30/5/2008 tại Hà Nội, giữa 2 đoàn Việt Nam và Hoa Kỳ. Ông Nguyễn Văn Hưởng, thượng tướng, thứ trưởng Bộ công an Việt Nam là trưởng đoàn Việt Nam và ông David Kramer, trợ lý ngoại trưởng Hoa Kỳ là trưởng đoàn Hoa Kỳ. Đây là buổi làm việc nằm trong chương trình đối thoại hàng năm về nhân quyền giữa 2 nước Việt Nam và Hoa Kỳ vốn bị đình hoãn từ năm 2002 và đã được nối lại từ năm 2006 đến nay. Tác giả của bài báo, ông Nguyễn Như Phong, hiện nay là đại tá công an, phó tổng biên tập báo An Ninh Thế Giới cũng có mặt trong buổi làm việc.

Theo bài báo thì trong cuộc họp này, 2 bên đã nêu lên nhiều vấn đề mà cả 2 bên cùng quan tâm. Phía Hoa Kỳ nêu lên một số vấn đề như các quyền tự do kinh tế, tôn giáo, báo chí, tù nhân lương tâm, luật pháp,… ở Việt Nam. Phía Việt Nam nêu lên vấn đề chất độc màu da cam, về việc Hoa Kỳ cũng là nước vi phạm nhiều điểm mà luật pháp quốc tế hoặc nhiều quốc gia đã cấm,… Tuy nhiên, trong bài viết này tôi chỉ xin nêu ý kiến của mình về một đọan đối thoại sau, khi 2 bên bàn về việc đặc xá tù nhân ở Việt Nam. Ông David Kramer đề nghị: “…Về trường hợp hai luật sư đang bị giam giữ, đến nay họ đã có đủ tiêu chuẩn để đặc xá, đó là Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Đài. Tôi hy vọng là hai trường hợp này sớm được giải quyết và chúng tôi coi đó là tín hiệu tích cực của phía Việt Nam”.

Và ông Nguyễn Văn Hưởng đáp lại:

“…Còn mấy trường hợp kia thì Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân đang thụ án. Nhân bị 3 năm tù, nhưng mới tuyên án cuối năm 2007 như vậy chưa được một năm...

Ngài Trợ lý giơ tay:

- Thưa ngài Thứ trưởng, tôi tưởng là Lê Thị Công Nhân chỉ bị kết án 1 năm tù.

Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng ngạc nhiên:

- Ngài lấy ở đâu ra thông tin này... Lạ thật, ngài tin chúng tôi hay tin vào những thông tin từ đâu đó. Đây... ngài xem... Lê Thị Công Nhân bị tuyên án vào ngày 27/11/2007 với mức án 3 năm tù và 3 năm quản chế. Nguyễn Văn Lý thì bị án 10 năm. Như vậy việc ngài đặt ra là tha họ thì không thể. Ngay khi họ đủ tiêu chuẩn đặc xá, họ sẽ được tha, chẳng cần phải ai can thiệp. Còn nếu các ngài sẵn lòng nhận họ, chúng tôi xem xét ngay…”.

Cũng theo bài báo thì chính vì sự nhầm lẫn trên của ông David Kramer mà cuối buổi làm việc, ông Michael Michalak, đại sứ đương nhiệm của Hoa Kỳ tại Việt Nam, người cũng có mặt tại cuộc họp đó đã phải nói lời xin lỗi: “…Sau một thoáng im lặng, ngài Đại sứ nhã nhặn: Thưa ngài Thứ trưởng, tôi xin lỗi ngài vì đã đưa ra những thông tin không chính xác về Lê Thị Công Nhân. Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng cười:Lần sau, các ngài muốn có thông tin chính xác, cứ qua đây, chúng tôi cung cấp hết…”. 

(http://www.cand.com.vn/vi-VN/thoisu/2008/6/92519.cand).

Nhưng chỉ khoảng 5 ngày sau, tôi được đọc một bản tin đăng trên báo điện tử Đối Thoại, ghi lại nội dung cuộc phỏng vấn giữa ông David Kramer, trợ lý ngoại trưởng Hoa Kỳ với phóng viên của đài Á Châu Tự Do (RFA), sau khi ông trở lại Hoa Kỳ. Trong đó có đoạn đề cập đến chi tiết xin lỗi đoàn Việt Nam nói trên của ông đại sứ Michael Michalak:

- RFA: Báo Công an Nhân dân ở Việt Nam đăng tải rằng trong buổi đối thoại này, phái đoàn Hoa Kỳ đã xin lỗi Việt Nam vì một số thông tin không chính xác. Thực hư việc này ra sao, thưa ông?

- David Kramer: “… Việc này liên quan đến nội dung thảo luận về thời điểm nào trong thời hạn thụ án thì tù nhân tại Việt Nam có thể được hưởng ân xá. Theo thông tin chúng tôi ghi nhận được thì một người tù có thể được hưởng đặc xá sau khi đã thi hành 1/3 bản án. Tại buổi họp chúng tôi được họ cho biết là phải sau 2/3 thời gian thụ án mới được ân xá. Sau đó, chúng tôi có nghiên cứu lại thông tin dựa trên quyết định đặc xá của chủ tịch nước và dựa trên luật pháp của Việt Nam, thì quả đúng là sau 1/3 thời gian chấp hành án thì tù nhân có thể được ân xá.

Như vậy, thông tin chúng tôi đưa ra ngay từ đầu là đúng, nhưng chúng tôi đã tôn trọng phản biện của Hà Nội khi họ khẳng định là phải 2/3 thời gian thụ án.Sau cuộc đối thoại, chúng tôi đã gửi văn bản khẳng định rằng những thông tin chúng tôi ghi nhận qua các tài liệu của nhà nước Việt Nam cho thấy thời điểm có thể được đặc xá là sau 1/3 thời hạn thụ án. Tóm lại, cho dù trong buổi gặp gỡ chúng tôi có nói rằng nếu chúng tôi có nhầm lẫn trong vấn đề cụ thể này thì chúng tôi xin lỗi, nhưng hoá ra chúng tôi đã đúng. Chúng tôi đang chờ hồi âm của phía Hà Nội về việc này ra sao…”.

(http://www.spysurfing.com/index.php?q=aHR0cDovL3d3dy5kb2ktdGhvYWkuY29tL2JhaW1vaTA2MDhfMTA1Lmh0bWw%3D)

Từ những dữ kiện trên, tôi xin được nêu lên một số ý kiến sau đây:

1) Về phía đoàn Hoa Kỳ:

a) Nếu đúng như những gì mà tác giả Nguyễn Như Phong đã thuật lại thì hãy tạm gác qua một bên việc làm rõ xem những người mà ông David Kramer đề nghị phía Việt Nam cho đặc xá lần này, xem họ là những tù nhân chính trị hay hình sự. Điều đáng quan tâm ở đây là tinh thần trách nhiệm trong công việc của ông, khi ông được chính phủ Hoa Kỳ tin tưởng giao phó, xem ông đã làm tròn nó hay chưa? Nếu sự thật là như vậy thì rõ ràng là ông David Kramer đã thiếu tinh thần trách nhiệm trong công việc. Vì sao? Bởi vì ông là người lãnh đạo một phái đoàn ngoại giao, đại diện cho phía Hoa Kỳ để đối thoại về nhân quyền với phía Việt Nam. Chính ông cũng là người chủ động đưa ra ý kiến đề nghị phía Việt Nam hãy đặc xá cho một số tù nhân, trong đó có nữ luật sư Lê Thị Công Nhân. Thế mà ông lại không nhớ rõ cô ấy bị tuyên án mấy năm tù. Mà cô ấy lại là một tù nhân nổi tiếng, được ông nêu tên đầu tiên trong danh sách đề nghị phía Việt Nam đặc xá, chứ không phải là tù nhân bình thường.

b) Ông David Kramer cũng không hề có phản ứng nào khi ông Nguyễn Văn Hưởng, người vừa tỏ ra ngạc nhiên về sự nhầm lẫn của ông, thì chính ông Hưởng ngay sau đó cũng lại phạm phải nhầm lẫn, khi nói rằng: linh mục Nguyễn Văn Lý, cũng là một tù nhân nổi tiếng khác bị kết án 10 năm tù (thay vì chỉ có 8 năm như bản án đã tuyên ngày 30/3/2007, tại tòa án Huế). Vì vậy, nếu ai chỉ được đọc bài báo của ông Nguyễn Như Phong sẽ dễ đưa ra một nhận xét đầy cảm tính rằng: dường như ông trợ lý ngoại trưởng Hoa Kỳ nói riêng và đoàn Hoa Kỳ nói chung đã bị mất đi sự tự chủ cần thiết trong cuộc đối thoại ấy, trước một “chính khách thượng thặng” là ông thứ trưởng công an Việt Nam đầy chủ động, tự tin kia mất rồi!

c) Tuy nhiên, việc ông David Kramer trả lời phỏng vấn đài Á Châu Tự Do nhằm làm rõ lý do của chuyện xin lỗi ấy. Việc phía Hoa Kỳ sau buổi đối thoại đã nghiên cứu lại thông tin mà phía Việt Nam phản biện, sau đó khẳng định: thông tin ban đầu mà phía Hoa Kỳ đưa ra là hoàn toàn đúng, còn phần phản biện của phía Việt Nam là hoàn toàn sai. Và việc phía Hoa Kỳ đã gửi văn bản cho phía Việt Nam và đang chờ hồi âm,… tất cả đã chứng tỏ tinh thần làm việc có trách nhiệm, thể hiện tính công khai, minh bạch của họ. Nhưng sẽ là có trách nhiệm hơn nữa với chính phủ, nhân dân Hoa Kỳ và nhân dân Việt Nam nếu như ông David Kramer và đoàn Hoa Kỳ theo dõi cho đến cùng chuyện có hay không sự hồi âm từ phía Việt Nam. Đây cũng là một trong những nhân tố quan trọng góp phần vào việc nâng cao chất lượng đối thoại nhân quyền Việt – Mỹ ở những lần sau.

Ngược lại, nếu như phía Hoa Kỳ không làm đến nơi đến chốn được điều này thì những cuộc đối thoại tương tự về sau sẽ rất dễ gây phản ứng ngược. Thậm chí là có hại cho nhân dân Việt Nam, cho chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ và có hại cho uy tín của chính đoàn Hoa Kỳ vừa qua. Theo kinh nghiệm của những người dân Việt Nam thì trong những trường hợp “khó nuốt” như vậy, các vị “chính khách thượng thặng” ở Việt Nam thường có cách ứng xử là cứ phớt lờ đi. Hoặc xét thấy không thể trốn tránh, thoái thác được thì họ sẽ trả lời qua quýt, ngụy biện cho xong chuyện mà thôi. Tôi không biết là những người Mỹ có nắm được rõ tính “đặc thù Việt Nam” này không?

2) Về phía đoàn Việt Nam:

a) Theo như những gì ông David Kramer trả lời đài Á Châu Tự Do thì nguyên nhân xin lỗi của đoàn Hoa Kỳ rõ ràng là hoàn toàn khác với ông Nguyễn Như Phong đã viết. Một đằng là chuyện ông David Kramer “… tưởng là Lê Thị Công Nhân chỉ bị kết án 1 năm tù”, khi hỏi ông Nguyễn Văn Hưởng và được ông Hưởng trả lời là 3 năm (số tuyệt đối, áp dụng cho một tù nhân cụ thể là nữ luật sư Lê Thị Công Nhân). Còn một đằng là 2 đoàn đang trao đổi nhằm làm rõ quy định để được xét đặc xá tù nhân, theo luật pháp Việt Nam là 1/3 hay 2/3 thời hạn thụ án của họ (số tương đối, áp dụng cho mọi tù nhân Việt Nam).

Như vậy phải chăng lý do xin lỗi của phía Hoa Kỳ đã bị ông Nguyễn Như Phong ma mãnh đánh tráo để đánh lừa độc giả Việt Nam rằng: lại thêm một lần nữa “Ta thắng, Mỹ thua”? (việc luôn tìm cách để chích doping vào dân tộc một cách rất bất lương như thế này thì nhân dân Việt Nam cũng nào có xa lạ gì!). Và nếu như sự đánh tráo trên cũng được sự đồng tình của ông Nguyễn Văn Hưởng thì không nói. Nhưng nếu giữa 2 ông lại có sự khác biệt thì theo tôi, các ông rất cần và rất nên ngồi lại mà đối thoại với nhau, theo tinh thần: “Vì có khác biệt cho nên cần trao đổi để hiểu nhau hơn”!

b) Việc những người Mỹ nói về một quy định nào đó của luật pháp Việt Nam và bị một ông thứ trưởng Bộ công an Việt Nam phản biện lại, thì phản xạ tự nhiên của họ là sẽ dễ tin vào sự phản biện ấy. Đây là điều hoàn toàn có thể thông cảm và sự xin lỗi của họ theo phép lịch sự ngoại giao cũng là điều bình thường. Thế nhưng, điều chớ trêu sau đó là ở chỗ: dường như phần đúng trong trường hợp này lại thuộc về phía đoàn Mỹ. Vì vây mà họ đã gửi văn thư yêu cầu phía Việt Nam trả lời và đang chờ hồi âm. Họ đến từ phía bên kia bán cầu nhưng lại tỏ ra nắm luật pháp Việt Nam chắc hơn là ông thứ trưởng Bộ công an Việt Nam kia. Thật vậy, Điều 58, nói về việc “Giảm mức hình phạt đã tuyên” của Bộ Luật Hình Sự nước CHXHCN Việt Nam hiện hành nêu rõ: “… Thời gian đã chấp hành hình phạt để được xét giảm lần đầu là 1/3 thời hạn đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, hình phạt tù từ 30 năm trở xuống, 12 năm đối với tù chung thân,…”. Xét trường hợp cụ thể của Lê Thị Công Nhân thì:

- Bị công an Việt Nam bắt giam ngày 6/3/2007.

- Phiên tòa xử phúc thẩm ngày 27/11/2007 tuyên án cô là 3 năm tù (thuộc loại hình phạt tù từ 30 năm trở xuống, theo Điều 58 – BLHS nêu trên).

Do đó, tính đến ngày 30/5/2008 là ngày mà ông David Kramer đề nghị phía Việt Nam đặc xá thì cô ấy đã thụ án được gần 15 tháng (6/3/2007 – 30/5/2008). Thời gian đó so với bản án tuyên 3 năm là đã vượt tỷ lệ 1/3 thời hạn thụ án để được xét đặc xá. (15 tháng/36 tháng > 1/3). Trường hợp của luật sư Nguyễn Văn Đài bị bắt và bị tuyên án cùng ngày với Lê Thị Công Nhân, với thời hạn tù 4 năm thì cũng chỉ còn hơn 1 tháng nữa là đủ thời gian được xét đặc xá (16 tháng/48 tháng = 1/3).

Ngoài ra, ông Nguyễn Văn Hưởng lại còn thêm một lần nữa tỏ ra nắm không chắc luật pháp Việt Nam, khi ông cho rằng thời điểm để tính thời gian thụ án của một tù nhân bắt đầu từ ngày tòa án Việt Nam tuyên án: “…Còn mấy trường hợp kia thì Nguyễn Văn Đài, Lê Thị Công Nhân đang thụ án. Nhân bị 3 năm tù, nhưng mới tuyên án cuối năm 2007 như vậy chưa được một năm...”. Về điểm này, Điều 33 – BLHS quy định như sau: “… Thời gian tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt tù, cứ 1 ngày tạm giữ, tạm giam bằng 1 ngày tù,…”. Nếu không tin vào điều này, xin mời ông Nguyễn Văn Hưởng hãy đọc lại cả 2 bản án sơ thẩm và phúc thẩm mà tòa án Hà Nội đã tuyên vào các ngày 11/5/2007 và 27/11/2007. Trong đó quy định rõ thời điểm để tính thời gian chấp hành hình phạt tù của cả 2 luật sư Lê Thị Công Nhân và Nguyễn Văn Đài là kể từ ngày 6/3/2007.

c) Điều đáng kinh ngạc đối với những độc giả có được những thông tin đa chiều là ở chỗ: Tại sao ông Nguyễn Văn Hưởng lại có thể “chủ động, tự tin” trong cuộc đối thoại nhân quyền Việt – Mỹ kia, trên “nền tảng” của việc ông không hề nắm chắc về cả số liệu lẫn luật pháp Việt Nam đến vậy? Đoàn Hoa Kỳ, mặc dù đã được chuẩn bị kỹ càng trước đó, nhưng trước một thái độ quá ư “tự tin” của ông, để rồi trở nên bị lúng túng và rồi cuối cùng đã phải xin lỗi ông. Điều trớ trêu ở đây là: người đúng lại phải đi xin lỗi người sai! Vì vậy, một câu hỏi đặt ra nữa là: liệu rằng những người Mỹ kia cùng với những người yêu chuộng lẽ phải, sự thật trên cõi đời này có thể tin vào lời ông Hưởng: “…Lần sau, các ngài muốn có thông tin chính xác, cứ qua đây, chúng tôi cung cấp hết…” (?!) 

Đỗ Nam Hải (Phương Nam)

Thành phố Sài Gòn – Việt Nam, tháng 6/2008.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn