BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 55113)
(Xem: 51010)
(Xem: 34946)
(Xem: 26733)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Chuyện của một binh nhì VNCH từng giữ đảo Hoàng Sa

19 Tháng Sáu 201112:00 SA(Xem: 1009)
Chuyện của một binh nhì VNCH từng giữ đảo Hoàng Sa
51Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
51
QUẢNG NAM - Gặp ông trong một buổi chiều mùa Hè ở xã Bình Tú, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam, trong căn nhà cũ kỹ, mùi ẩm mốc và những tiếng dế ám gợi một thời xa xôi nào đó của chủ nhân, người đàn ông gần tuổi bát thập cùng những khoảnh khắc lúc nhớ, lúc quên đang đuổi nhau trên vầng trán đã ngả màu nắng úa...









Ông Nguyễn Đức, người lính VNCH cách đây 37 năm từng tham gia trận đánh giữ đảo Hoàng Sa. (Hình: Phi Khanh/Người Việt)

Ông là một cựu quân nhân VNCH, người lính Hoàng Sa, mang số 477, Tiểu Đoàn 123, Tiểu Khu Quảng Nam.

Câu chuyện của một đời người, của những tháng năm oanh liệt và tuổi già gian nan, cơ cực... Những tháng năm xa xưa như một lời ru an ủi thực tại.

Tên ông là Nguyễn Đức, năm nay 75 tuổi, có 5 người con gái, 5 người con rể và một người vợ cùng tuổi với ông. Một cuộc sống trầm trầm, chậm chậm cùng những bữa cơm đạm bạc, sáng sáng vác cuốc ra đồng, chiều chiều hun khói... nhớ chiến chinh!

Nói nghe cứ như thơ nhưng đó là sự thật, một sự thật đôi khi có chút phũ phàng và đau đớn ở một người đàn ông và một người đàn bà đã bước sang bên kia con dốc cuộc đời nhưng lại vất vả quanh năm suốt tháng làm lụng kiếm cơm, thậm chí giúp đỡ cho con gái, con rể vì họ cũng khó khăn, gian nan chẳng kém gì ông.

Thời chinh chiến...

Sau vài cốc trà, vài chung rượu, câu chuyện giữa chủ nhà và khách giảm dần khoảng cách, ông Đức trở nên nói cười sinh động, không còn ngần ngại như ban đầu.

Ông kể: “Đó là năm 1974, Tháng Giêng, tôi nhớ chính xác là vậy. Nhưng cũng là Tháng Chạp của năm Kỷ Sửu, năm đó tôi sinh đứa con gái thứ ba. Gia đình tôi nghĩ rằng tôi đã mất tích, nhưng không phải thế, tôi được chuyển sang Trung Quốc, ăn Tết ở đó hai ngày và chuyển thẳng sang Hồng Kông, ở đó, quả thật là quá giàu, mình không ngờ...”

Nhấp một ngụm rượu, nheo mắt trầm ngâm, ông kể tiếp câu chuyện đời lính đảo của mình.

“Năm đó, tụi Trung Quốc nó đánh chiến thuật ‘biển người,’ kinh thật, đúng là những con người dã man, chỉ có quân dã man mới đem nướng binh sĩ theo chiến thuật này, cứ hết lớp này đến lớp khác xông lên đảo theo một đường thẳng, lúc đó chúng tôi ở trên đồi, ngồi trong lô cốt, cơ số đạn chúng tôi có thể nướng số lượng quân gấp mười lần tụi Trung Quốc đang tiến lên... Nhưng rồi!”

Ông lắc đầu, thở dài,

“Mọi chuyện chỉ là bàn cờ thôi, lúc đó chúng tôi được nghe rõ mồn một lời của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu, bởi bên quân đội kết hợp với đài khí tượng, dùng sóng radio liên lạc với Tổng Thống Thiệu. Khi chỉ huy là sư đoàn trưởng báo cáo tình hình tụi lính Trung Quốc đang tiến lên đảo, tôi nghe đúng hai chữ của tổng thống là ‘chơi tới!’, vậy là chúng tôi nổ súng, tụi nó rụng như sung, đạn chúng tôi còn rất nhiều. Nhưng rồi ông cố vấn, ông này...”

“Ông cố vấn người Mỹ nói sao đó với chỉ huy trưởng, sau đó có lệnh đầu hàng, chúng tôi buộc phải cởi áo trắng cắm làm cờ và chạy lên phía rừng, thả súng chờ họ tới bắt. Cuối cùng bị bắt sang Trung Quốc, chuyện là vậy, ông cố vấn Mỹ khi sang Trung Quốc thì không thấy đâu nữa, chỉ có chúng tôi gồm 43 người, kể cả chỉ huy.”

“Họ cho chúng tôi ăn Tết bằng đậu phộng rang và kẹo bánh... Nói chung là cho đến bây giờ tôi cũng không hiểu vì sao lại có chuyện tự dưng đang thắng lại chuyển sang bại... Đang đánh lại đầu hàng và vì sao chúng tôi được đối xử không tệ trong nhà tù?!”

“Sau thời gian ở Hồng Kông, máy bay đưa chúng tôi về Sài Gòn, lúc này thì đảo Hoàng Sa đã hoàn toàn rơi vào tay Trung Quốc. Tự dưng nghĩ đến những đêm đi câu cá nhám, đi tìm trứng nhiếp (rùa biển), nhớ đến vẻ lãng mạn như thơ của Hoàng Sa, tôi thấy buồn! Thế rồi năm 1975...!”

Một cuộc đời khác, khắc nghiệt và đen đủi...

Ông Đức không nằm ở hàng ngũ sĩ quan, thời VNCH, ông ba lần thay đổi binh chủng, cuối cùng, làm lính đảo với cấp bậc Binh nhì, sau đó bị bắt sang Trung Quốc, đưa sang Hồng Kông rồi trở về Sài Gòn, được tiếp đón như một quân nhân thắng trận, sau đó thời cuộc thay đổi, miền Nam rơi vào tay Bắc Việt...

Ông về làm ruộng, tránh được cái nạn đi trại cải tạo. Nhưng với ai thì trại cải tạo là nơi cận kề cái chết, khắc nghiệt, man rợ... Với ông, ông lại thèm, lại tiếc nuối... giá như mình được đi cải tạo thì hay hơn, vì ít ra sau ba bốn năm đi cải tạo, còn có cơ hội sang sống ở một nước dân chủ như Mỹ, được tự do, không kéo dài sự đau khổ như ông.









Ông Nguyễn Đức và vợ tại nhà riêng ở Bình Tú, Thăng Bình, Quảng Nam. (Hình: Phi Khanh/Người Việt)

Ông nói: “Không có gì đau khổ hơn cảnh con mình học giỏi mà không được thi vào đại học vì cha của nó bị xếp vào dạng 'lính ngụy', 'quân bán nước', rồi cái thời mình đi vỡ hoang, ui cha, không có thời nào mà cận kề cái chết hơn những năm nhà nước đưa mình đi khai hoang, vỡ đất như những năm 1980 thế kỷ trước! Cứ thỉnh thoảng nghe ầm, bạn mình nằm phơi ruột! Cực và đau khổ không gì kể xiết!”

“Đó là chưa nói đến cho đến bây giờ, mình vẫn còn mang mặc cảm kẻ bại trận, mình chẳng biết chơi với ai cả, con mình thì học hành không tới đâu, đứa đầu tới lớp 12 không được thi vào đại học, mấy đứa sau thấy khổ quá, bảo rằng 'học cho lắm cũng mắm với dưa, học vừa vừa cũng dưa với mắm', tụi nó rủ nhau đi làm thuê, bây giờ đứa nào may mắn thì làm công nhân, lương tháng cao nhất cũng chừng ba triệu đồng, sống sao cho được một khi còn nuôi con, tiết kiệm phòng đau ốm, phải trái với xóm làng và những thứ khác...”

Câu chuyện của ông cứ kéo dài cho đến tận đêm khuya.

Chẳng biết nên kết thúc như thế nào.

Chút ‘lửa’ còn sót lại

Tuy phải mang căn bệnh hở van tim vì từng lao động quá nặng nhọc, suy kiệt và nghèo khổ bởi không có thu nhập nào khác ngoài đôi bàn tay còn làm thì còn ăn, hết làm nổi thì chỉ còn bám víu vào cuộc sống nghèo khổ của các con mình... Nhưng ông Đức vẫn có một cái nhìn khá tĩnh tại và can trường trước đời sống, ung dung, tự tại vượt qua bệnh tật và khốn khó với hy vọng đời ông, đời cha thất bại thì đời con cháu sẽ làm lại từ đầu, bằng mọi giá các cháu của ông phải học hành đến nơi đến chốn.

Ở độ tuổi gần 80, mỗi sáng lại vác cuốc ra đồng làm thuê kiếm tiền (ruộng của ông đã bị tịch thu, sung vào đất công ở những năm 1980, gia đình ông còn vỏn vẹn 420 mét vuông, chỉ đủ để có lúa cho hai vợ chồng già ăn mỗi ngày 2 bữa), nghe con cháu khó khăn thì mang tiền san sẻ học phí...

Lưng mỗi ngày một còng thêm, vẫn cứ làm, cứ vui cười và hy vọng... Nghe hơi hiếm, nhưng đó là chuyện có thật của một người lính già!

Trời đã khuya, lúc chia tay, ông Đức bùi ngùi đứng lên tạm biệt chúng tôi, và bỗng dưng nổi hứng, hát một bài thật hùng tráng.

Phóng sự của Phi Khanh/Người Việt
Ý kiến bạn đọc
21 Tháng Sáu 20117:00 SA
Khách
Truyện này không thể có trong quân sữ QLVNCH. Truyện này rất vô lý như sau: 1/ Không hề có trận đánh nào mà có lệnh trực tiếp của Tổng Thống NVT. Hoặc nghe được giọng nói rõ ràng của Tổng Thống Thiệu " tôi nghe đúng hai chữ của tổng thống là ‘chơi tới". 2/ Đơn vị của ông này có 43 người (khi tan trận đánh) là quân số hơn trung đội nhưng ít hơn một đại đội. Chỉ huy đon vị này chỉ có thể tối đa là Đại đội trưởng. Nếu bị thiệt hại gấp đôi thì có khoãng 100 người lính. Làm sao ông này có thể nói là "Khi chỉ huy là sư đoàn trưởng" (QLVNVH không gọi chỉ huy một Sư Đoàn là Sư Đoàn Trưởng, chỉ có CS gọi như vậy.) Cấp chỉ huy của đơn vị này chỉ có thề là Trung Úy hay Đại Úy liên lạc vô tuyến, nói máy với Tiểu Đoàn Trưởng. Không thể có ông "sư đoàn trưởng'có mặt lúc đó được để báo cáo trực tiếp với Tổng Thống. Làm gì có Tư Lệnh Sư Đoàn ở đó để báo cáo, xin lệnh từ Tổng Thống Thiệu. 3/ Nếu có cố vấn Mỹ trong trận đánh đó thì Hải quân Mỹ sẽ yểm trợ phi pháo. Đệ thất Hạm đội sẽ làm thịt đám Tàu Cộng trước khi chúng bò lên đảo. 4/ Quân đội Mỹ đã về nước sau khi ký hiệp định Paris 1973. Không còn cố vấn quân sự nào đi theo các đon vị QLVNCH. Tóm tắt lại ông này xạo và nổ.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn