BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 27823)
(Xem: 26471)
(Xem: 25115)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Chuyện Kể Hành Trình Biển Đông

26 Tháng Bảy 201012:00 SA(Xem: 658)
Chuyện Kể Hành Trình Biển Đông
53Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
53
Biến cố 1975 đúng là một cơn hồng thủy. Nó cuốn trôi cả xã hội Việt Nam vào dòng nước xoáy xuống vực sâu thăm thẳm... Gia đình tôi cũng không thoát khỏi cơn hồng thủy đó, nên đã phải lênh đênh trôi dạt trên Biển Đông, để tìm đường sống trong cõi chết.

Chuyến hành trình Biển Đông bắt đầu vào tháng 6 năm 1980. Tôi cùng 3 con nhỏ, đứa lớn mới lên mười, bé nhất lên năm, xuống thuyền... Trước ngày khởi hành một tuần, tôi đã đưa các con, và thằng cháu con ông anh lớn xuống Rạch Giá ở nhà một người trong ban tổ chức vượt biên.

Đến ngày khởi hành, chúng tôi 5 người đi trên một chiếc ghe nhỏ, gọi là “ghe taxi” để ra thuyền lớn. Chủ tàu, đã dặn chúng tôi: mỗi người chỉ đựợc mang thêm một bộ quần áo, tuyệt đối không được mang đồ kềnh càng. Ăn uống chủ tàu lo.

Cẩn thận, tôi mang theo một ít cơm nắm thịt ruốc, sợ các con tôi đói dọc đường. Tôi cũng không quên khâu vào bộ quần áo mang theo của chúng mấy chỉ vàng, phòng hờ chẳng may bị thất lạc, chúng cũng có vật tùy thân.

Giờ đổ người lên thuyền bất ngờ vào giữa trưa, khác với những chuyến trước thường là ban đêm. Việc đổ người xẩy ra thật nhanh, thật gọn, khiến tôi choáng váng đến ngộp thở, không nhận biết được gì.

Phút chốc, tôi đã thấy mình bị đẩy lên thuyền vượt biên với 3 con. Cùng lúc, có tới 4 hay 5 ghe nhỏ khác đổ thêm người lên thuyền. Sau đó, chúng tôi bị đẩy xuống khoang thuyền, rồi mấy người tổ chức phủ lưới lên trên, ngụy trang thành tàu đánh cá.

Ngồi trong khoang thuyền, lúc đó tôi mới có dịp quan sát chung quanh. Chiếc thuyền này rất nhỏ, bề ngang chỉ độ hơn 1 mét, bề dài khoảng hơn 10 mét. Lòng khoang hẹp ghép lại bằng những miếng ván có các thanh gỗ đóng ngang cạnh thuyền, cách nhau nửa mét. Phía trên đầu chỉ có một lỗ thông hơi nhỏ. Về sau tôi mới hay máy tàu chỉ có 3/4 Mã lực.

Ấy thế mà có tới 30 người lớn nhỏ ngồi chen chúc “xếp cá mòi” trong khoang thuyền đó! Lúc này, mấy người lớn khỏe mạnh bắt đầu lấn áp mẹ con tôi, khiến chúng tôi ngộp thở vô cùng. Đứa con út còn quá nhỏ, cứ đòi ngồi trên lòng mẹ. Còn các đứa khác phải ngồi trên những thanh gỗ, than khóc không thôi. Tôi đành nuốt lệ tìm lời dỗ dành khuyên bảo chúng.

Sau một ngày vật lộn với sự chen chúc và sóng gió, lại bị ngộp thở, các con tôi đều mệt lả, thiếp đi. Còn tôi, phần vì lo lắng, phần sợ hãi nên mắt cứ trơ trơ ngồi canh chừng trong tư thế đau đớn, khó chịu vô cùng.

Đến tối, thuyền bỗng nhiên ngưng chạy. Hỏi ra mới biết vì máy yếu, thuyền chuyên chở quá nặng nên không chịu nổi. Ngặt một nỗi, thuyền chưa ra khỏi hải phận. Ai nấy đều lo sợ tàu Hải Quân Việt Cộng ra bắt lại thì chỉ có nước về ngồi tù cả đám. Trong lúc người lái tàu sửa máy, đám thanh niên leo hết lên trên boong thuyền tìm chỗ nghỉ ngơi sau một ngày mệt mỏi, thay vì ở dưới khoang lo phụ giúp tát nước. Họ để máy dùng tát nước chạy, khói phun mịt mù.

Vợ con chủ tàu đã an nhiên tọa hưởng trên cabin. Chỉ khổ cho những người mẹ như chúng tôi cùng lũ con nhỏ, phải chịu cảnh xông khói, cực hình. Chị bạn tôi nhìn cảnh con cái bị ngộp thở, ho sặc sụa, nên không ngớt lời van xin chủ tàu tắt máy. Van xin không được bèn nguyền rủa chửi bới um sùm về tính vô nhân đạo và việc làm tắc trách của chủ tàu.

Bọn chủ tàu và thợ máy không những không nghe, chúng còn sẵng giọng mắng vọng xuống: “Mấy bà im mồm đi! Trước tụi tui cần vàng, nên đưa mấy bà đi. Bây giờ tụi tui không cần nữa. Con mấy bà có chết, cứ việc liệng xuống biển, đừng có la lối!”

Tôi biết, nếu để tình trạng nầy kéo dài thêm vài giờ nữa, lũ trẻ sẽ bị chết ngôp hết vì hơi độc carbon tỏa ra. Bản năng tự vệ nổi lên, tôi gạt mọi người leo lên boong thuyền và dõng dạc nói: “Tôi xin lỗi tất cả các anh đi `học tập’ có mặt nơi đây, vì việc tôi làm có thể nguy hại đến các anh. Tôi đứng đây, chờ có tàu Hải Quân Việt Cộng đi qua, sẽ la to để họ đến bắt và giải cứu các con của chúng tôi khỏi chết ngộp. Việc tù đầy tính sau, tính mạng các con chúng tôi là trên hết!”

Do lời nói cứng cỏi và ý chí mãnh liệt của tôi, bọn chủ tàu và những thanh niên trai tráng trên tàu đành phải bàn tính lại. Sau đó, họ tắt máy, cho hết trẻ con lên boong, kéo theo các bà mẹ cùng lên, để các thanh niên thay phiên nhau xuống tát nước. Gần sáng, tàu chạy được, đi thoát khỏi hải phận., Thật hú hồn!

Song “Họa vô đơn chí, phúc bất trùng lai”. Thuyền đi được hơn một ngày, chúng tôi gặp ngay một tàu Hải tặc Thái Lan. Vừa thấy tàu cướp, chủ tàu vội ra lệnh đàn bà con nít xuống hết khoang thuyền. Bị bít bùng, chúng tôi không hay biết chuyện gì xẩy ra ở trên . Chỉ biết rằng chúng tôi sợ gần chết, vì đã từng nghe chuyện kể lại thế nào là Hải tặc Thái Lan: Cướp của, giết nguòi không gớm tay, hãm hiếp đàn bà con gái thật dã man... đều là nghề của bọn nầy!

Bỗng nhiên tôi nghe thấy tiếng gọi ra lệnh mọi người phải lên hết trên boong. Lên trên, tôi thấy 3, 4 tên cướp, súng dắt bên sườn, tay khoa mã tấu sáng loáng. Chúng xuống khoang tàu lục soát đồ đạc để kiếm vàng. Xong, chúng lên trên bắt mọi người bất kể đàn ông, đàn bà con nít đều phải cởi hết quần áo ra để chúng khám xét xem có giấu diếm vàng bạc đô la trong người không? Bao nhiêu nhẫn vàng và đồng hồ đeo tay đều bị chúng lột hết.

Lùng xục xong trong khoảng một tiếng đồng hồ, bọn cuớp bỗng ra lệnh chủ tàu bắt chúng tôi phải di chuyển sang tàu của chúng. Chân thấp, chân cao bước trên boong thuyền qua tàu cướp, tôi nhìn qua thấy tàu chúng cao lớn quá, chưa biết phải qua bằng cách nào? Nhưng rồi trong cơn giục dã xô đẩy hỗn loạn của bọn cướp, tôi cũng bị kéo qua tàu chúng. Các con tôi và trẻ nhỏ khác đều bị thẩy qua như những trái banh.

Nhìn lại, tôi thấy bị mất sạch hết hành lý, kể cả mấy chỉ vàng dấu trong đó, cũng mất luôn. Nhưng kiểm điểm thấy còn đủ 3 đứa con, tôi cũng mừng rỡ, chạy lại ôm chúng và khóc nức nở.

Tôi len lén nhìn những tên Hải tặc. Trởi ơi! Chúng dễ sợ quá: Đầu quấn khăn, mình để trần mồ hôi nhễ nhại, che thân dưới bằng chiếc sà rông, trông như những con quái vật, mặt người mình thú. Tay chúng lăm lăm mã tấu xỉa sói vào mặt chúng tôi như muốn ăn tươi nuốt sống mọi người. Tôi thầm nghĩ “Không biết chuyện gì sẽ xẩy ra đây? Thôi đành phó mặc cho số mệnh!”

Nhưng rồi chúng cũng cho chúng tôi ăn. Các con tôi sung sướng lắm, vì 2, 3 ngày nay, từ lúc lên tàu chúng đã bị đói khát. Những nắm cơm đi đường ít ỏi, chúng đã ngốn sạch. Chủ tàu hứa lo đồ ăn uống, nhưng đến lúc đó họ làm ngơ.

Tối đến, nằm trên boong tàu cướp, tôi ôm chặt đứa con út vào lòng, miệng không ngớt cầu nguyện ơn trên ban phước lành cho các con tôi. Chợt nhìn sang đứa con gái lớn 10 tuổi nằm ngủ ngon lành trong chiếc áo trắng, quần đen, bỗng dưng tôi sợ hãi và chợt nghĩ:”Sao không cho nó mặc giả trai nhỉ?” Chưa kịp nghĩ xa thêm, tôi đã thấy những ánh đèn pin loang loáng rọi đến chỗ chúng tôi nằm. Có một cô gái bị đánh thức và gọi lên phòng lái. Rồi cô gái thứ hai, thứ ba...Họ là những cô gái chưa chồng, tuổi xanh mơn mởn.

Tôi rùng mình, sợ ánh đèn pin chiếu đến đứa con gái nhỏ. Tôi thầm nguyện nếu có chuyện gì xẩy ra, xin cho tôi là vật tế thần, chớ để con tôi phải chịu cảnh đọa đầy. Cả đêm hồi hộp lo âu, tôi không tài nào chợp mắt. May mắn thay, tàu này chỉ bắt một số cô gái còn trẻ lên phòng hành lạc. Không như nhiều tàu hải tặc khác rất man rợ: hãm hiếp phụ nữ ngay trước mặt chồng con của họ, khiến sau khi lên được bờ, có nhiều bà vợ phát điên, ông chồng tự vận vì phải mục kích những cảnh kinh hoàng khủng khiếp đó!

Sáng ra, sau khi thỏa mãn thú tính, Hải tặc đuổi chúng tôi về thuyền cũ, không quên cướp sạch những gì có thể cướp được và phá nát máy tàu để tìm vàng.

Thế là tàu chúng tôi lênh đênh trên biển cả, không nước uống, không đồ ăn, không máy móc. Thuyền không thể chạy đi đâu được cả. Cứ sáng sáng, thuyền theo dòng nước trôi ra khơi. Rồi tối tối sóng lại đánh dạt nó về phía bờ để thấy hiện ra thấp thoáng đảo Côn Sơn ở xa xa... Trong tình huống tuyệt vọng nầy, ai cũng muốn được trôi dạt trở về, dù có phải tù tội cũng cam lòng!

Đau lòng nhất là khi thấy các con tôi, mới ngần ấy tuổi đã phải chịu cực hình ngồi bó gối trên những thanh gỗ nhỏ bé gồ ghề, phải nhịn đói nhịn khát ngày này sang ngày khác, và phải chịu cảnh đọa đầy chốn trần gian: Ban ngày trời nóng như thiêu đốt, tối đến lại lạnh cóng xương da.

Thỉnh thoảng có cơn mưa đến, các con tôi tranh nhau ra phía cửa khoang, ngửa miệng đón từng giọt nước rơi. Nhiều lúc chúng nức nở kể lể: “Sao mẹ bắt con phải đi khổ sở như thế nầy. Con thèm nước đá chanh quá! Con thèm bát cơm rang quá!” Rồi đứa này thay đứa kia kể ra những món chúng ưa thích: nào nước xá xị, nào chè, nào cháo, hủ tíu bánh bao...!

Nghe thấy bọn trẻ vừa than khóc, vừa kể lể, chủ tàu lại nạt lớn: “Im mồm chúng mầy đi! Chúng mầy kể lể làm tụi tao cũng bắt thèm luôn!” Tôi vừa buồn cười, vừa giận bọn chủ tàu, bèn cố gáng trấn an các con bằng viễn vọng huy hoàng ở ngày mai.

Nói làm sao hết nỗi đói khát cơ cực giữa lòng biển cả mênh mông! Nước biển tràn đầy, nhưng chúng tôi vẫn khát! Cá biển bơi lội ê hề, nhưng chúng tôi vẫn đói...Đứa con gái lớn, nói với tôi:”Con không chịu nổi nữa đâu. Thôi, con nhẩy xuống biển chết đi cho khỏe.” Tôi phải ôm con vào lòng, dỗ dành hết lời! Nhưng nó cứ làm tới. Tôi dọa lại:”Con thử nhẩy xuống xem nào.” Nó ấm ức nói: “Con phải được uống một ly nước đã thèm rồi con mới nhẩy xuống được!” Mỉm cười, tôi nói: “Nếu có một ly nước, mọi chuyện sẽ thay đổi. Con ráng đợi ly nước đó, nhe con.”

Niềm đau của tôi không phải là thấy mình đói khát, mà chính là nhìn thấy mấy đứa con lịm dần trong cơn mê vì đói khát lả người. Chúng hình như không còn cảm giác, và đang đi dần sang một thế giới nào khác, lúc tỉnh lúc mê.

Nhìn các con mà thắt ruột. Tôi bỗng thù hận tất cả. Hận Cộng Sản đã đẩy chúng tôi vào bước đường cùng, phải liều mình đi tìm Tự Do trên biển cả Hận đồng loại ích kỷ, vô tình, chèn ép mẹ con tôi. Tôi hận cả chính mình, vừa ngu muội, vừa bất lực không bảo vệ được các con tôi. Tôi hận, hận tất cả!

Sang đến ngày thứ 14, thì tình trạng các con tôi trở nên tồi tệ vô cùng. Người chúng lở lói, nhơ nhớp dính đầy phân và nước tiểu, thê thảm khôn cùng! Đứa con nhỏ nhất còn tệ hại hơn: Bị đói khát và bị bệnh kiết lị nên thân hình khô đét, nắm xương bọc da nhăn nhúm, nằm thoi thóp nửa tỉnh nửa mê...

Đúng lúc thất vọng nhất, bỗng nhiên có một tàu đánh cá Thái Lan xuất hiện. Cả thuyền lại xôn xao. Lần này thì mọi người không còn sợ hãi như lần trước nữa. Chúng tôi không còn gì để mất. Chúng tôi chỉ mong được nước uống và được ăn...rồi có chết cũng cam tâm. Để làm mủi lòng ngư phủ tàu Thái, mọi người vội vàng ôm đứa con gái út nhỏ bé của tôi dơ cao lên. Tội nghiệp con bé, thoi thóp thở trong chiếc hình hài chẳng ra người.

Tàu ngừng lại, nhìn qua và có lẽ thấy cảnh tượng thương tâm đó mà cứu vớt thuyền chúng tôi. Khác với tàu trước, tàu này rất tử tế. Họ thòng dây qua, giúp mọi người sang hết tàu họ, bỏ lại con thuyền ọp ẹp sắp bị chìm trong cơn sóng biển. Kiểm điểm thấy đầy đủ các con an toàn trên tàu đánh cá rộng lớn, tôi cảm thấy vui mừng như kẻ chết đi vừa sống lại. Mọi người được ăn uống no nê. Các con tôi được uống cả nước ngọt và sữa nữa. Tôi xin một ly sữa, nhỏ từng giọt vào miệng cháu bé. Nhưng cháu rất yếu, chỉ thều thào nuốt được vài ba giọt.

Hỏi thăm, tôi mới biết ông chủ tàu Thái này xưa đi đánh cá đã từng bị công an VC bắt, may được một bà mẹ Việt Nam cứu thoát, nên ngày nay muốn trả lại ơn xưa.

Sau khi đưa chúng tôi vào gần đất liền, ông chủ tàu Thái cố gắng tìm một làng đánh cá hẻo lánh, ngay đêm hôm đó chuyển lậu chúng tôi lên bờ, rồi vội vã ra khơi, để khỏi bị liên lụy vì chính phủ Thái và nhiều nước khác bấy giờ, không nhận cho ngườị tị nạn VN vào.

Chúng tôi nằm ngủ thiếp đi ở dưới những gốc dừa. Sáng dậy, dân điạ phương khám phá thấy chúng tôi, họ kéo nhau đến xem, thấy cảnh tượng thê thảm của đoàn người phiêu lạc thất thế sa cơ, ai cũng thương cảm sụt sùi. Họ thật tử tế, mang đến tiếp tế cho chúng tôi nào nải chuối, nào trái dừa, khoai bắp luộc...đượm thắm tình người.

Sau đó chúng tôi được di chuyển đến trại Cảnh Sát Thái. Ở đây, chúng tôi được cấp gạo và cá khô, ở tạm trong 1 khu chuồng bò để chờ Hồng thập tự Quốc tế đến.

Tất cả mọi người, kể cả hai đứa con lớn của tôi đều sung sướng, ăn uống no nê. Riêng đứa con út của tôi không ăn uống gì. Nó bị kiệt sức vì kiết lị và mất nước, nằm thoi thóp, rúm ró trong bọc vải. Chờ ba ngày Hồng Thập Tự tới, chắc nó không thể sống nổi. Tôi hỏi mượn đám chủ tàu ít tiền để ra ngoài mua sữa cho cháu, nhưng họ đều ngoảnh mặt làm ngơ, lén lút dúi tiền cho con cháu họ đi mua qùa bánh ăn.

Túng quá, tôi phải ôm con ra ngoài chợ mong kêu gọi lòng thương hại của người bản xứ, để xin một hộp sữa cứu sống cháu. Vừa ra đến cổng trại gặp ông Đại Úy cụt chân người Thái vẫy lại. Ông hỏi tôi đi đâu? Tôi nói muốn ra ngoài xin hộp sữa cho con. Mở bọc vải để lộ xác thân thoi thóp của con tôi, ông ứa nước mắt. Ông nói ông không có sữa, nhưng ông cho tôi 20 Bạt tiền Thái để ra ngoài mua. Với 20 Bạt, vừa đúng 1 Dolla Mỹ, tôi mua được 1 hôp sữa đặc, ít chanh, đường về cho cháu uống. Từ từ cháu hồi sinh, và ba ngày sau Hồng Thập Tự đến, con tôi đã thoát khỏi ách tử thần...

Chúng tôi được chuyển đến trại tị nạn Song Kha, và sau đó tôi được chồng cùng đứa con trai lớn đã vượt biên năm trước bảo lãnh sang Mỹ định cư.

Cơn Hồng thủy tràn qua nước tôi, đã dìm xuống Biển Đông biết bao nhiêu thuyền nhân? Hơn hai thập niên qua rồi mà chuyện kể về Biển Đông vẫn tưởng như mới vừa xẩy ra hôm qua, trong đó có đầy đủ tình tiết hỷ nộ ái ố, ô nhục và nước mắt. Phải sống trong cảnh vật lộn với đói khát khổ đau, tranh sống với thiên nhiên, mới thấy được sức chịu đựng bền bỉ của con người. Cũng may, trong nỗi kinh hoàng, tuyệt vọng, thường lại hiện ra những vị cứu tinh, tựa như những bông hoa nhân ái nở trong biển khổ trần gian, khiến tôi lại cảm thấy vững tin vào triết lý sống ở trên đời : “Ở hiền gặp lành”.

Ngọc Loan
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn