"Hồi đó con suối trên đảo cũng tuôn nước rất mạnh, chứ không chảy rỉ rả như bây giờ."
Bà nhắc lại chuyện cũ: "Ngày đó, cả nhà tôi nộp vàng để đi, cứ một người là mười cây vàng. Trong nhà có nhiêu là nộp hết."
"Sau này nghe kể lại là chúng tôi đi vừa hôm trước hôm sau là ngôi nhà ở đường Hai Bà Trưng ở Sài Gòn bị người của chính quyền đến niêm phong liền."
"Lần đó nhà tôi đi rất gấp nên không kịp sang tên nhà."
Nếu có gì nhắc nhớ về nơi từng có cả vạn người Việt Nam trú ngụ ở đảo này thì đó là tấm bia tưởng niệm thuyền nhân hình chiếc tàu trên bãi.
Và những khu mộ thuyền nhân nằm rải rác trên đồi mà để đến viếng, người ta phải băng qua con suối hoặc trảng cỏ và những con dốc cheo leo.
Tuy gọi là khu mộ nhưng tại đó chỉ có một số ngôi mộ về sau này được thân nhân tìm đường quay trở lại xây cất.
Trước khi đi chúng tôi đã nghe rất nhiều thông tin: Tàu người ty nạn mà chống cự thì hầu như khó sống sót. Bởi vì tàu mình thì nhỏ, lại đơn chiếc, yếu đuối vì đói khát, mỏi mệt... Trong khi đó tàu đánh cá Thái vừa to, mà thủy thủ là những tên chuyên nghiệp sống trên biển, vừa khỏe mạnh lại được trang bị vũ khí đầy đủ... Nên đã quyết định không chống cự, chỉ xin cầu sự bình an và phó thác may rủi cho bề trên.
Thuyền trưởng François Herbelin, 29 tuổi, nói đó là những kỷ niệm sâu đậm nhất trên đời ông. “Tôi rất cảm phục những người Việt rất bình tĩnh, có tổ chức, có tư cách (digne), quyết tâm ra khỏi đại nạn. Khi mới tới, họ kiệt lực, nhưng hồi phục rất nhanh, nghĩ tới tương lai.”
Chín tháng sau, Ile de Lumière bắt đầu sứ mạng mới: ra khơi cứu vớt những thuyền nhân phấn đấu trên biển cả, giữa cái sống và cái chết, giữa mưa bão và hải tặc.
Hàng triệu người đã liều mạng vượt biển tìm tự do, với những phương tiện thô sơ gây kinh ngạc cho người Tây phương. Hàng trăm ngàn người bỏ mạng trên biển cả.
Má ôm cơ thể gầy gò và khô cằn của đứa em gái 1 tuổi rưỡi vào lòng, dưới ánh nắng nhiệt đới thiêu đốt. Bà nhìn nó chằm chặp một cách tuyệt vọng, làn da bị nứt nẻ của đứa bé do sức nóng, nước biển và khát.
Má lúc đó đã mất ba đứa con rồi, và tôi thấy bà vuốt ve em tôi nhè nhẹ, dường như mong rằng hơi ấm và sự săn sóc dịu dàng của bà có thể giữ em tôi sống thêm vài phút nữa.
Khi em tôi trút hơi thở cuối cùng, mặt của má tôi chuyển từ một người mẹ bám víu vào niềm hy vọng mong manh, đến một người phụ nữ không còn lý do để sống nữa.
Đó là chuyện 11 cô gái Việt, không một mảnh áo quần, bị trói cổ vào nhau, thả nổi trên biển. Xác các cô trôi tới bãi Tha Sala này, được người địa phương thương tình vớt vào chôn cất. Ai nghe cũng phải xót thương, rùng mình, uất hận.
Những nàng thiếu nữ như hoa đỏ
Một sớm theo nhau bước xuống thuyền
Hoa bỗng rơi ra từng cánh mỏng
Thả vào lòng biển máu oan khiên
“Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí”! Hết bọn hải tặc này, tới quân cướp biển khác, thay nhau cướp bóc và hãm hiếp những người trên con tầu nhỏ bé, mong manh của những người đi tìm tự do; tất cả là bẩy lần. Những người con gái tội nghiệp của chúng ta xơ ra như những trái mướp già, hầu như không một ai còn đủ vài giọt nước mắt để tuôn ra trên những gò má nhăn nhúm, khô ráp vì đau khổ, và vì gió biển!
Ai đã từng ở Galang 2 chắc đều có lần đi trên “Đại lộ Nguyễn Huệ” trên đảo, xin gọi tên như vậy vì hai bên là hàng quán cà phê, hủ tiếu, cháo gà... và các sạp bán hàng tạp phẩm sầm uất do các chủ sạp lấy từ đảo Pinang kế bên về. Các chủ sạp và chủ quán cà phê là những thuyền nhân có vốn bỏ ra mua bán kiếm lời để sống trong nhiều năm chờ đợi được đi định cư ở quốc gia thứ ba.
Sau nhiều lần vượt biển bị bắt, chúng tôi chỉ còn sức để lo cho một đứa con ra đi. Tôi âm thầm đi hỏi thăm những gia đình quen biết, họ đã gửi con đi vượt biên thành công từ mấy tháng trước. Qua người quen uy tín giới thiệu, tôi được trực tiếp nói chuyện với người trong tổ chức vượt biên, họ cho biết rõ phương cách đưa người đi như thế nào, dùng những phương tiện gì khi đi, những nơi dừng chân trên đường đi, đều có người của họ đưa, đón rất an toàn. Nhờ tổ chức chu đáo "khép kín" nên chuyến đi nào cũng trót lọt. Đến khi lên tàu vượt biển cũng không lo gặp giông tố, vì họ có thể dự đoán đưọc thời tiết ngoài khơi trên biển đông.
Mưa rắc hạt đột ngột. Tôi đi trong cơn mưa bất thường qua cầu Sài Gòn. Cô đơn dâng lên đến tận cùng. Cuối tháng tư với những lễ lạt bẩn thỉu vô nghĩa. Tôi chẳng còn khóc được nữa. Bạn thân yêu của tôi và những người đồng chí mới gặp vỏn vẹn chưa đầy một ngày! Tất cả đã tan vào bọt sóng! Tất cả đã chiến đấu và chết hào hùng trước một kẻ thù vô danh, bẩn thỉu và hoàn toàn bất xứng! Lưỡi kiếm samourai đã phải dùng để giết những con gà dịch và rồi bỏ thây hiệp sĩ trên biển cả lặng câm!..
Thế rồi ngày chờ đợi cũng đã đến. Sau bữa cơm, mọi người đang lim dim trong giấc ngủ trưa thì Hủ Tiếu khệ nệ vác cái bụng nước lèo, khệnh khạng đi vào nhà mặt hí hửng báo tin lịnh trung ương đã chánh thức cho phép các ghe của tỉnh Minh Hải khởi hành. ...
Trong lịch sử vượt biển của Thuyền Nhân Việt Nam tới trại tị nạn Palawan-Philippines, có lẽ tàu của tôi là lớn và chở đông người nhất bởi tàu của tôi dài tới mười chín mét chở hai trăm bốn mươi sáu người gồm đủ cả nam phụ lão ấu, tấp đảo El Nido vào ngày ...
Bước ra khỏi “barrack” lòng tôi cảm thấy nhẹ nhõm như ngày xưa được thả ra khỏi trại lao động dù chưa biết phải đi đâu. Hít một hơi thật dài, không khí trong lành vào đầy ắp buồng phổi. Chao ôi, cái mùi của gió biển nồng nàn thoáng qua mới thấy đã làm ...
Gởi tặng 84 thuyền nhân đã cùng tôi vượt biển năm 1982. Bây giờ các bạn đã tản mác khắp bốn phương trời không còn liên lạc được, chúc các anh, chị đều có một cuộc sống mới an bình và hạnh phúc. Khoảng tháng 7 năm 1982 tôi ra tù, về nhà thì vợ con tôi ...
Vừa dắt xe đạp vô nhà, mẹ tôi nghiêm nghị hỏi: - Mi đi mô từ chiều tới chừ? - Dạ con đi chơi với thằng Hải. - Rứa chừ mi có muốn ĐI nữa không? Mẹ tôi hỏi tiếp, nhấn mạnh chữ ĐI. - Dạ đi chứ. Giọng tôi sôi nổi. Có chỗ đi rồi hả mẹ? Từ hôm đi hụt ở Nha ...
Năm 1993, người tị nạn bị xua đuổi, bị đem về quê nhà từ những trại tạm cư Hồng Kông, Phi Luật Tân, Thái Lan. Thế giới ngoảnh mặt vì họ đã ký kết với nhau. Nhà cầm quyền Việt Nam nhận lại người vượt biển, thế giới gửi theo viện trợ để giải tỏa gánh nặng ...
Năm 1988 Trịnh Tùng cùng con trai nhỏ và hơn 100 người khác chen chúc trên chiếc thuyền gỗ lao ra biển, rời Việt Nam. Nay, khi nhớ lại, bà gọi đó là “chuyến đi kinh hoàng”. “Đến giờ nhiều khi tôi không nhớ gì về Việt Nam hết mà chỉ nhớ về chuyến đi,” ...
LỜI GIỚI THIỆU. Ngày 30 tháng 4 lại sắp đến. Trong khi cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản khắp nơi trên thế giới đang tưởng niệm biến cố lịch sử đau thương ấy bốn mươi năm xưa của Miền Nam Việt Nam (VNCH), ký ức về hiện tượng thuyền nhân trên Biển Đông ...
“Tam thập lục kế, đào vi thượng sách.” Câu nói cổ xưa ấy của người Trung Hoa vẫn thường trở về trong tâm trí những người Việt đang tuyệt vọng dưới chính quyền mới của người cộng sản sau khi Việt Nam Cộng Hòa (Miền Nam Việt Nam) thua trận vào tháng Tư ...
Chúng tôi sử dụng cookie để cung cấp cho bạn trải nghiệm tốt nhất trên trang web của chúng tôi. Nếu tiếp tục, chúng tôi cho rằng bạn đã chấp thuận cookie cho mục đích này.