(Xem: 273)
Khi Bác Hồ nói: “Miền Nam trong trái tim tôi” thì mọi người ở miền Nam đều có quyền nghĩ rằng mình đang có một vị trí tình cảm trong trái tim của Bác. Câu nói đó không loại trừ một ai ngoài những kẻ cố tình phản bội. Câu nói còn bao hàm tính chất địa lý nguyên vẹn của miền Nam là có cả núi non, sông biển, đồng bằng, ruộng làng và cả đô thị miền Nam nữa.
(Xem: 1974)
Trong băng ghi âm, ông Vũ Kỳ cũng cho biết hai vấn đề chính: Một là cả ba đảng cộng sản VN, Trung Quốc và Bắc Triều Tiên cùng tìm vợ cho ông Hồ. Hai là tiêu chí chọn vợ của ông Hồ là gái trẻ, đẹp, có học vấn, đạo đức tốt và ông muốn gặp trực tiếp, chứ không đồng ý xem qua ảnh. Vì vậy mới có ít nhất hai cô gái tuổi đôi mươi trong số nhiều cô gái được “tiến cung” đã để lại… dấu vết, trong đó có một cô “dính bầu” và sinh ra một đứa bé vô thừa nhận, về sau trở thành con nuôi của ông Vũ Kỳ. Vậy cô gái đó là ai?
(Xem: 1478)
Lê Duẩn người lãnh đạo cuộc chiến miền Nam từ đầu thập niên 60 tới đầu tập niên 70 đã chấp nhận hy sinh 10 hoặc 20 bộ đội để giết một tên lính Mỹ ngõ hầu đẩy mạnh phong trào phản chiến. Những người thanh niên lên đường vào Nam cầm chắc cái chết trong tay nhưng họ không còn con đường nào khác. Mười người bộ đội vào Nam chỉ có một người trở về, toàn là con cái xuất thân gia đình Tam đại bần cố. Chính CSBV đã nhìn nhận năm 1995 khi tổ chức lễ kỷ niệm 20 năm ngày 30/4: Đã có hàng triệu người hy sinh cho công cuộc giải phóng miền Nam. BV thắng là nhờ phong trào Phản chiến từ phía Mỹ, nếu không có phong trào này dù Lê Duẩn có hy sinh thêm một triệu quân cũng chỉ làm mồi cho B-52 một cách vô ích.
(Xem: 1344)
Ngày 30-10-1956 tại một phiên họp của Mặt trận Tổ quốc ở Hà Nội, LS Nguyễn Mạnh Tường, với tư cách thành viên của Mặt trận Tổ quốc, đã đọc một bài diễn văn phân tích sâu sắc những sai lầm trong cải cách ruộng đất và đề ra phương hướng để tránh mắc lại sai lầm. Vì phát biểu này, LS Nguyễn Mạnh Tường đã bị tước hết mọi chức vụ và danh vị nghề nghiệp và phải sống khó khăn thiếu thốn như một “kẻ bị khai trừ” (tên cuốn sách tự thuật của ông xuất bản năm 1992 tại Pháp). Ông mất năm 1997 tại Hà Nội, hưởng thọ 87 tuổi.
(Xem: 2466)
Năm 1967, đêm 18-10, lúc 21 giờ, chồng tôi là Đặng Kim Giang, hoạt động cách mạng từ năm 1928, cấp thiếu tướng, thứ trưởng Bộ Nông trường, bí thư đảng đoàn bộ, lúc đó đang nghỉ ốm tại xã Việt Đoàn, huyện Tiên Sơn, Hà Bắc, đã bị công an vũ trang cùng ba chiếc xe jeep ập vào còng tay đưa đi giữa khi nằm ôm đứa con gái út 5 tuổi ngủ. Sau đó họ khám nhà tôi 3 tiếng đồng hồ, đem đi các tài liệu về Điện Biên Phủ, các ảnh chụp với các lãnh tụ, 1 đài bán dẫn do chuyên gia Liên Xô tặng và 1 súng lục (không có đạn) do tướng Makonovski tặng khi chồng tôi đi với phái đoàn quân sự Việt Nam sang thăm Liên Xô năm 1960
(Xem: 2264)
Trong trận nhẩy dù xuống Bắc Kạn, Pháp đã bắt hụt Hồ Chí Minh (7). Theo Bernard Fall, tờ mờ sáng 7-10-1947, Liên đoàn không vận “S” gồm 1,137 người lính bất ngờ nhẩy dù xuống bộ chỉ huy Việt Minh tại Bắc Kạn, Chợ Mới và Chợ Đồn. Họ lấy được bức thư của Hồ Chí Minh mới viết xong chưa kịp ký, bắt được một ông bộ trưởng và các cố vấn Nhật, Đức quốc xã (những người Đức này hợp tác với Nhật trước đây nay trốn theo VM sợ đồng minh bắt xử tội). Hồ Chí Minh và các lãnh đạo đã trốn thoát. Các kho hàng rơi vào tay Pháp cùng với 200 con tin Pháp-Việt mà VM mang theo khi họ rút khỏi Hà Nội cuối năm 1946.
(Xem: 2980)
Kẻ thù giấu mặt ấy là ai? Chị biết, Bộ chính trị cũng biết nhưng không làm gì được. Và bà Tổng Cục Trưởng đã nghĩ đến cái chết. Nhiều người trong Bộ chính trị không tin những hồ sơ ngụy tạo ấy nhưng cũng không “dám” bác bỏ. Chị gần như đơn độc. Chỉ trừ một người bạn giấu mặt. Một ân nhân của chị mà cho đến giờ này, khi sóng gió đã yên, khi một số tay chân của kẻ thù đã bị Bộ công an bắt, bị tòa án xét xử và khi chị đã nghỉ hưu… chị cũng không hề biết người đó là ai? Trong những lúc lâm nguy nhất, người đó đã gọi điện cho chị, từ một trạm điện thoại công cộng, và báo cho chị hay rằng đang có một âm mưu như thế, như thế… rằng sự việc sẽ diễn ra như thế, như thế…
(Xem: 2883)
Thế mạnh của Tư Sang nằm ở chỗ có trong tay Trần Cẩm Tú trưởng ban kiểm tra trung ương đảng, có Trương Hoà Bình phó thủ tướng nắm tư pháp tức trực tiếp chỉ đạo luôn thanh tra chính phủ, có Nguyễn Thanh Bình phó ban tổ chức trung ương, có Võ Trọng Việt chủ nhiệm uỷ ban quốc phòng và an ninh Quốc Hội. Chỉ cần Tư Sang cầm hồ sơ gửi đi tố cáo bất kỳ ai, lệnh cho đám bồi bút cất tiếng trên mạng xã hội và báo chí, ngay lập tức các đàn em Tư Sang khởi động đưa đối tượng lên Ban 110, Bộ chính trị. Lúc ấy Bộ Chính Trị không muốn xử nặng thì cũng phải xử nhẹ, chẳng thế nào làm ngơ được.
(Xem: 3154)
Bức thư đã được bí mật chuyển ra ngoài nhân một lần tôi được gặp gia đình. Tôi bế con gái lớn lên, nhân lúc mấy người công an giám sát không để ý, tôi nhét nó vào túi áo của con. My Lan khi ấy mới lên bảy, nhưng sáng dạ, biết tôi vội vã nhét vào đấy một cái gì đó, nhưng không rút ra hỏi bố, mà tảng lờ như không có chuyện gì. Mẹ tôi đã tới gặp Nguyễn Lương Bằng, đưa bức thư ấy cho ông . Ông lẳng lặng đọc, rồi lảng sang chuyện khác. Nhìn thái độ nhớn nhác của ông, mẹ tôi hiểu: ông sợ những con “rệp” được gài trong phòng khách. Khi tiễn mẹ tôi ra cổng, ông mới dám ghé vào tai mẹ tôi thì thào: “Chị ơi, tập thể đã quyết định, tôi đau lòng lắm, nhưng không làm gì được”. Nguyễn Lương Bằng không làm gì được là phải.
(Xem: 5278)
Tổ chức gọi là “Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam” (MTDTGPMNVN) hay thường được gọi tắt là “Mặt trận Giải phóng Miền Nam” được thành lập ngày 20 tháng 12, 1960 với mục đích: “Đoàn kết toàn dân, kiên quyết đấu tranh chống đế quốc Mỹ xâm lược và gây chiến, đánh đổ tập đoàn thống trị Ngô Đình Diệm, tay sai đế quốc Mỹ; thành lập một chính quyền liên minh dân tộc dân chủ rộng rãi ở miền Nam, thực hiện độc lập dân tộc, tự do, dân chủ, cải thiện dân sinh, giữ vững hoà bình, thi hành chính sách trung lập, tiến tới hoà bình thống nhất Tổ quốc, tích cực góp phần bảo vệ hoà bình ở Đông Dương, Đông Nam Á và thế giới."
(Xem: 6678)
Nhà văn Nguyễn Trọng Tạo có bài "Tự dưng lại nghĩ đến tiền" để phản ánh tâm trạng lo âu, chán ngán của người dân trước vấn đề lạm phát tồi tệ nhất tại Việt Nam tính trong 3 năm qua. Từ đó ông hồi tưởng đến câu chuyện đổi tiền ngày xưa đã mang lại thảm ...
(Xem: 8154)
Tết nào tui cũng ngồi nhớ những cái tết thời bao cấp. Thời đó nghèo khổ lắm nhưng vui lắm. Cứ mỗi lần tết đến là háo hức vô cùng. Còn bé thì háo hức đến tết được mặc áo mới, được lì xì, được ăn thịt cá thoả thuê… Tuổi thanh niên thì háo hức được về quê ...
(Xem: 8999)
Thời bao cấp có rất nhiều loại tem phiếu, không thể nhớ hết được. Ví dụ Phiếu chứng nhận máy thu thanh chẳng hạn, tui quên khuấy đi mất. Còn các loại tem gạo, tem vải, tem đường thì nhiều vô kể. Trung ương phát hành rồi về tỉnh còn phát hành tem phiếu ...
(Xem: 6967)
Thời bao cấp trai gái thời thượng không ai gọi là hot boy, hot girl. Không biết miền Nam gọi là gì chứ ở miền Bắc trai gái thời thượng đều gọi là người yêu lý tưởng. Ngay cả cái từ hot hình như cũng chỉ được dùng hơn chục năm trở lại đây thôi, nó bắt ...
(Xem: 5359)
Đã có vài ba phim truyền hình kể về thời bao cấp rồi nhưng chưa có phim nào ghi lại thật đúng thời ấy cả. Mình rất muốn làm một phim về thời bao cấp, làm thật chuẩn để mọi người nhớ lại cái thời đã qua. Nhiều chuyện bây giờ kể lại cho trẻ con chúng nó ...
(Xem: 5966)
Một tuần sau khi tớ tung lên mạng “Phấn đấu kí số 27”, đã có khá nhiều người, đặc biệt là lớp trẻ (từ 50 tuổi trở xuống), comment, gửi message và gọi điện hỏi thăm tớ về những hiện tượng bao cấp mà tớ mới lướt qua vài dòng. Tớ mới chợt nghĩ ra: Ừ nhỉ, ...
PHÊ BÌNH MỚI
08 Tháng Tám 202210:21 CH
Trung Uy Tran Van Phuoc Co tinh Tinh Giong Nhu Loi Thieu Ta Long Mo Ta Trong Nhieu Bai Viet . Nay Khong Biet Tr Uy Phuoc O Dau ? Toi La Trung Uy Nguyen Kieu Quoc Hien O Cali Usa . Rieng Thieu Ta Long Hinh Nhu Toi Co Gap O Cu Xa Do Thanh Saigon Voi Bo Ria Mep , Dung Khong ? email nguyenkieuquoc@yahoo.com
Nhung tac Pham cua Nha van Phan Nhat nam toi doc tu luc 15-16 nhung khong the nho ting chi tiet nhu ong Tran Vu ....cam on Ong da co nhung buoi hoi dam cung nha van Phan Nhat Nam de nho lai thang ngay than yeu xa xua...
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0
28 Tháng Bảy 2022
Sự thành công trong Paris by Night của anh do lòng say mê nghệ thuật và âm nhạc mà chủ yếu anh đã chọn lựa được mảnh đất lành là đất Cali, nơi có đông cộng đồng người Viêt. Anh đã bắt mạch được thời đại. Anh đã đáp ứng nhu cầu của người nghe nhạc, vun trồng giới ca sĩ từ nhiều phía. Có lần anh đã lặn lội về Việt Nam mời nhạc sĩ Nguyễn Văn Đông như nhiều người đã biết . Nhưng anh còn nói với tôi là anh muốn dựng lại những nhạc sĩ “cổ thụ” như nhạc sĩ Hùng Lân, tiếp xúc với gia đình nhạc sĩ quá cố để vinh danh ông.
21 Tháng Bảy 2022
Vài khu phố vắng lặng, hàng hóa ế ẩm. Cả khu chợ chính ở đây vào giờ hoạt động nhất trong ngày cũng chỉ lác đác người. Quảng Trị sau ngày chia đôi đất nước là tỉnh cực bắc của miền Nam. Các vận chuyển thương mãi từ Nam ra đều ngừng lại ở Đà Nẵng trù phú. Quảng Trị cứ lẻ loi dần. Thật ra cả Huế cũng không hơn gì, nhưng dù sao vì nhiều lý do khác nhau, người ta vẫn còn đến Huế. Riêng Quảng Trị thì không còn gì để níu kéo ai. Họa hoằn đôi khi có một vài phái đoàn từ đâu chạy vùn vụt qua thị xã ra tận vùng phi quân sự nhìn chiếc cầu Hiền Lương, con sông Bến Hải, chụp ít phim kỷ niệm rồi lại vội vã quay trở về. Quảng Trị vốn đã nghèo từ mấy trăm năm trước, rồi vì hoàn cảnh đổi thay của đất nước mà cứ lẻ loi dần và nghèo thêm mãi.
20 Tháng Bảy 2022
Trung tá Nguyễn Đình Bảo hy sinh ngày 12 tháng 4 năm 1972 trên đỉnh Charlie. Thiếu Tá Lê Văn Mễ, Tiểu Đoàn Phó lên thay. Tiếp theo, trong trận đánh ngày 14 và 15 tháng Tư năm 1972, Thiếu Tá John Duffy đã bị thương, nhưng ông từ chối ưu tiên tản thương. Ông quyết ở lại chiến đấu với lính Nhảy Dù Việt Nam Cộng Hoà cho đến cùng. Cuối cùng vị trí quân Dù bị tràn ngập. Dưới sự chỉ huy cuả Thiếu Tá Lê Văn Mễ và sự hướng dẫn cuả Duffy, phần lính Dù còn lại đến một điểm để di tản bằng trực thăng. Song, cũng vô cùng khó khăn và đẫm máu. Tuy nhiên cuộc di tản cũng đã hoàn tất...!!
27 Tháng Sáu 2022
ào Duy Anh, sau 1975, một học giả ăn mòn bát đĩa cộng sản, hiểu cộng sản từ chân tơ kẽ tóc, hiểu những mánh khóe tiểu xảo. Vậy mà khi vào miền Nam gặp các trí thức trong Nam, ông theo thói quen quán tính vẫn gọi xách mé: thằng Diệm. Nhiều người lảng tránh ông. Đào Duy Anh là tác giả tập ký: Nhớ nghĩ chiều hôm. Cuốn tập ký lược thuật các công trình biên khảo của ông viết trong nhiều năm. Trần Huy Liệu khuyên ông: Muốn sống, muốn tồn tại thì liệu viết mà lách nữa. Ở đây, quả thực ông đã thuộc bài do Trần Huy Liệu chỉ dẫn.

Đọc truyện Hoàng Ngọc Biên, ‘Người Đạp Xe Vào Thành Phố Buổi Sáng’

04 Tháng Tám 20227:10 SA(Xem: 59)
Đọc truyện Hoàng Ngọc Biên, ‘Người Đạp Xe Vào Thành Phố Buổi Sáng’
50Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
00
 Đúng như tựa đề, “Người Đạp Xe Vào Thành Phố Buổi Sáng” (1) tuy khá dài với khoảng gần 4,200 chữ, nhưng nội dung lại vô cùng đơn giản: một người đàn ông đạp xe đi vào thành phố buổi sáng, ở đó cho đến buổi chiều, thì đạp xe về.

Chẳng hạn, một gia đình phải nuôi “đứa con còn lại trong tám lần sinh nở của vợ ông – đứa con mà ông không đành bỏ cho chết trận, như những đứa khác,” hay một người con độc nhất mà “vợ chồng ông còn có thể cố gắng cho đi học, đã bị xe cán chết ở gần khu phố này.” Nhưng vài chi tiết hiếm hoi như thế gần như bị vô số những hình ảnh vu vơ khác như đám đông, căn nhà, sương buổi sáng, mặt trời mọc hay cái ổ gà trên đường đi, lấn át khiến chúng trở nên lạc lõng. Dưới ngòi bút của Hoàng Ngọc Biên, thế giới chung quanh nhuốm vẻ vô tâm, lạnh lùng, dửng dưng.

Hãy thử đọc vài trích đoạn.

Trước hết, về nhân vật “người đàn ông.” Ông ta “mặc một chiếc áo xanh đã bạc màu, và người ta cũng không thấy được hết màu xanh cũ kia, vì bên ngoài ông còn khoác một chiếc áo len nhà binh có nhiều lỗ rách, rất ngắn. Vạt áo xanh bên trong thòng xuống hơn hai tấc, thỉnh thoảng bay dạt ra sau khi có cơn gió mạnh.”

Ông ta chỉ làm có mỗi một việc: đạp xe.

“Người đàn ông thỉnh thoảng đưa mắt nhìn hai bên đường, nhưng chân ông vẫn tiếp tục đạp thật đều, không nhanh lắm, bởi vì ông không đủ sức, có lẽ thế, và chắc chắn ông không có ý để cho xe chạy chậm hơn nhịp đang bình thường của mình một tí nào.” (…)

“Người đàn ông đạp thật đều, nét mặt bình thản cùng với toàn thân rung rung theo nhịp xe, nhưng trong bóng tối của rạng đông người ta không thể thấy được sự bình thản đó.” (…)

“Bây giờ ông đã bắt đầu tránh được những chỗ có mu rùa, hay ổ gà. Phía sau thành phố mà ánh đèn bắt đầu mờ dần, mặt trời đỏ như đã muốn báo hiệu ló dạng. Ông không còn đạp xe theo một đường thẳng nữa, thỉnh thoảng ông lái qua bên trái, hay bên phải, tay lái vừa lắc qua lại trả ngay về, động tác quen thuộc, thành thạo.” (…)

“Ông đạp xe trên cùng quãng đường, và những tiếng còi xe chát chúa nhiều lần đã làm ông chợt nhớ đến đứa con bất hạnh của mình.” (…)

“Người đàn ông vẫn đạp xe trên con đường đưa đến nhà máy, hai bên phố các quán ăn đã bắt đầu nhiều hơn, và đông hơn, những tiếng gọi nhau cũng bắt đầu ồn ào hơn, pha lẫn với những tiếng còi xe đang inh ỏi và nóng nảy hơn.”

Thỉnh thoảng, ông nghĩ về người vợ đang gánh hàng đi ra đầu ngõ hay đứa con trai út vẫn còn ngủ. Tất cả những điều đó hòa lẫn trong cái dụng cụ bất ly thân của người đàn ông là chiếc xe đạp:

“Chiếc xe đạp sơn màu lá cây xanh, nhưng vào giờ này của buổi sớm mai, không ai nhận ra được màu của nó.” (…)

“Tiếng cót két của chiếc xe đạp, rất đều đặn, dường như không làm ông quan tâm.” (…)

“Chiếc xe đạp cũ của ông đã dẫm qua những bóng cây xám đen đó không biết bao nhiêu lần, mỗi buổi sáng.” (…)

“Chiếc xe đạp cũ đã bắt đầu hiện rõ màu sắc. Đó là thứ sơn xanh lá cây rẻ tiền, sơn bằng cọ thường, và là lớp sơn lần thứ mấy mươi. Vành xe, cũng như tay lái và cản chắn bùn, được sơn cùng một thứ màu, tuy lớp sơn rõ ràng là có mỏng hơn.” (…)

“Chiếc xe đạp màu lá cây xanh bây giờ chen lấn giữa những thứ xe khác, di chuyển mỗi lúc một chậm hơn trên quãng đường sầm uất này. Tiếng cót két của chiếc xe, giữa những tiếng động mỗi lúc một hỗn độn và khó phân biệt hơn của buổi ban ngày trong thành phố, dường như cũng đã biến mất từ lúc nào.”

Trên đường đi, cảnh vật chung quanh hiện ra, thản nhiên, hờ hững, chẳng “nói lên” một ý nghĩa gì rõ rệt ngoài việc chúng vẫn cứ thế, ngày này qua ngày khác.

Sự kiện duy nhất gần cuối truyện là vụ đình công của công nhân tại nơi người đàn ông làm việc:

“Người đàn ông nhìn những đồng nghiệp đang lần lượt đứng dậy, chậm rãi đi về phía cổng nhà máy.” (…)

“Trước mặt ông là những hàng dài các công nhân, họ ngồi đối diện với những công nhân khác, nghĩa là đối diện với các bực thềm tòa nhà lớn nhất. Ông đến ngồi ở đó, cùng với họ, những người không chịu làm việc nữa, nhưng ông không như họ, ông biết vậy, bởi vì ông không làm sao giấu nổi sự lo âu của mình.” (…)

“Có người bảo với ông, hay chính ông nghe họ bảo với nhau, là cuộc đình công sẽ thất bại. Những người khác hy vọng sẽ có thay đổi, tuy cho đến bây giờ những cánh cửa kia vẫn chưa có ai mở ra.”

Sự kiện đình công, rốt cuộc, cũng chỉ là sự kiện. Không ồn ào, chen lấn, la hét, giành giật, xô xát. Không gì cả.

Tóm lại, suốt cả truyện, người đàn ông, chiếc xe đạp, con đường đi, cảnh vật…hay vụ đình công xuất hiện một cách vô tư, bình đẳng. Và rồi cuối cùng, người đàn ông ra về: “Khi người đàn ông đạp chiếc xe đạp cũ sơn màu lá cây xanh đến quãng đường trước các khu vườn bỏ hoang, thì cơn mưa chiều bắt đầu đổ xuống, nhưng ở đây mặt trời vẫn tiếp tục chiếu thẳng vào ông.”

Hết! Không than thở, không buồn phiền, không uất ức, không chán nản, không đau khổ. Không gì hết.

Khác với cách viết truyện ngắn thông thường, cảnh vật chung quanh chỉ làm nền cho con người, nhân vật trong truyện của Hoàng Ngọc Biên hiện diện như sự vật, như đồ vật. Đó là một thân phận bé mọn, hiền lành, thụ động, có vợ tám con, nhưng hết sáu đứa đi lính chết trận, một đứa con gái duy nhất được đi học thì lại bị chết vì tai nạn; cả hai vợ chồng vất vả kiếm ăn hằng ngày, không bon chen, tranh giành, chỉ muốn yên thân, mà thực tế là không thể yên thân: nơi duy nhất để kiếm sống thì bị xáo trộn vì cuộc đình công. Đó là một con người vô danh trong hàng triệu người vô danh, hoàn toàn bị lãng quên trong xã hội.

Thay vì sử dụng hình thức đao to búa lớn, bằng một giọng văn mạnh mẽ, thuyết phục để nói lên thái độ phản kháng đối với chiến tranh, với bất công xã hội, Hoàng Ngọc Biên sử dụng cách mô tả dửng dưng để nói về những con người nghèo khổ như thế. Họ cũng như chiếc xe đạp, như con đường, cái nhà, cái cây…

Thay vì bi thảm hóa, bi kịch hóa sự kiện như kiểu “Chí Phèo” và “Thị Nở” của Nam Cao để gây xúc động, Hoàng Ngọc Biên “vô tâm hóa,” “tầm thường hóa” chúng để gửi một thông điệp nhẹ nhàng đến người đọc: trong đời sống, đa phần con người cũng vô tâm như thế. Mấy ai lưu ý đến thân phận của một gia đình bình thường và tầm thường như người đàn ông và gia đình ông ta trong truyện. Ai cũng chăm chăm lo vun vén chỉ cho mình, còn thì “sống chết mặc bây, tiền thầy bỏ túi!”

“Người Đạp Xe Vào Thành Phố Buổi Sáng” là một truyện ngắn viết theo hình thức “tân tiểu thuyết,” một trào lưu văn chương xuất hiện ở Pháp vào thập niên 1950. Theo Alain Robbe-Grillet, một trong những nhà văn tiêu biểu cho trào lưu này, “khi diễn đạt sự vật, nhà văn không băn khoăn về nội dung của chúng, mà là diễn tiến của nó. Ta sẽ không có quá khứ, không dự phóng, không có đạo đức cá nhân, không siêu hình gì hết. Mọi kinh nghiệm nội tâm đều vô ích. Nhân vật hôm qua không chứa đựng thực tại hôm nay. Tiểu thuyết, vì thế không phải là kể chuyện đã qua theo thứ tự thời gian, mà làm cho độc giả sống với nhân vật, sống những hành động giấu ẩn đàng sau các cử chỉ khi chúng đang diễn tiến.”

Từ những nhận định trên, các nhà tân tiểu thuyết xây dựng nhân vật với những chi tiết lý lịch sơ sài, thậm chí không có lý lịch, không có cá tính, không tên tuổi. Thời gian và không gian thì cực kỳ mơ hồ. Thay vào đó là sự tường thuật một cách dửng dưng và khách quan những cảm nghĩ, những cử chỉ, những hành động của nhân vật và những sự vật bề bộn chung quanh. Nhân vật tiểu thuyết là một con người, thế thôi, không cần phải tra vấn gì thêm.” (3)

Hoàng Ngọc Biên là nhà văn đầu tiên và là nhà văn duy nhất giới thiệu trào lưu “tân tiểu thuyết” ở Việt Nam vào lúc nó vừa xuất hiện ở Pháp. “Người Đạp Xe Vào Thành Phố Buổi Sáng” là một trong những truyện ngắn thể nghiệm cách viết mới mẻ này.

Trần Doãn Nho/Người Việt

———–

Chú thích:

(1) Xem ở Tiền Vệ: www.tienve.org/home/literature/viewLiterature.do;jsessionid=1ECC6138AEC85AC12E5C10E66BB5139F?action=viewArtwork&artworkId=8940

(2) Trần Doãn Nho, “Cây chông, một hình ảnh chiến tranh trong ‘Đường Kiến’ của Kinh Dương Vương,” Người Việt: www.nguoi-viet.com/van-hoc-nghe-thuat/cay-chong-mot-hinh-anh-chien-tranh-trong-duong-kien-cua-kinh-duong-vuong/

(3) Dẫn theo Trần Hữu Thục, “Nhân vật tiểu thuyết,” Văn Học (California) số 147, Tháng Bảy, 1998.



Hoàng Ngọc Biên sinh năm 1938 tại Quảng Trị. Từ trước năm 1975 cho đến sau này khi định cư ở Hoa Kỳ, ông tham gia hoạt động văn học nghệ thuật trên nhiều lĩnh vực: viết văn, làm thơ, viết phê bình, tiểu luận, dịch thuật, vẽ. Đã xuất bản:

-Về văn xuôi: “Đêm Ngủ Ở Tỉnh,” “Người Đạp Xe Vào Thành Phố Buổi Sáng,” “Chuyến Xe,” “Quê Hương,” “Người Về.”

-Về thơ: “Uống Trà Sớm Mai,” “Đất Và Người Và Thần Thoại Việt Nam,” “Biển Ngày Đêm,” “Chân Mây Cuối Trời.”

-Về biên khảo: “Mười Nhà Văn Pháp Hiện Đại,” “Marcel Proust – Con Người Xã Hội.”

-Về dịch thuật: “Thơ Joseph Brodsky,” “Thơ Mới Ba Lan.”

Ông mất Tháng Năm, 2019, tại California, Hoa Kỳ.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
DANH SÁCH TÁC GIẢ