(Xem: 170)
Xin anh Thi bình tĩnh, tôi xin nói thẳng, anh Thi và chúng tôi ngồi đây, xét cho cùng đều là bồi bút của đảng. Thân phận chúng ta lầm than lắm, nhục nhã lắm. Anh viết bao tác phẩm nịnh đảng, có bao giờ anh dám mang gương mặt thật của anh ra viết đâu. Anh là kịch sĩ vĩ đại của đảng, đã đóng bao nhiêu vai kịch kẻ khác trừ bản thân mình. Anh không có gương mặt thật trong văn chương, anh là một tên hề cho kẻ cầm quyền mà thôi! Lập tức một chiến sĩ trung thành vô hạn với đảng ngồi sát bên cạnh tôi đứng lên bẻ tay và bẻ cổ tôi là ông Chu Lai, không cho tôi nói…
(Xem: 830)
Nguyễn Tấn Dũng đã phạm một điều tối kỵ trong cuộc chơi của những người cộng sản cao cấp, đó là đánh người tình của đồng chí mình. Chuyện đánh sân sau còn có thể chấp nhận, nhưng chuyện đánh người tình là điều tối kị vì nó gây vết thương lòng rất đau đớn cho người đàn ông đầy quyền lực như Tư Sang. Không có gì đau đớn hơn khi nhìn người yêu bị đoạ đầy mà không cứu được. Nỗi đau ấy âm thầm, dai dẳng trong lòng người anh hào xứ Long An mãi bao nhiêu năm. Vì lẽ đó, khi tấn công Nguyễn Tấn Dũng, Trương Tấn Sang đã không nề hà lôi con cái, anh em nhà Nguyễn Tấn Dũng vào cuộc.
(Xem: 607)
Ngay sau khi bị can Trần Bắc Hà tuyên bố và bắt đầu thực hiện tuyệt thực từ ngày 12/7/2019, Thiếu tướng Nguyễn Duy Ngọc – Cục trưởng Cục C03 đã nhận được văn bản của Trại 771 thông báo về tình trạng tuyệt thực của bị can và yêu cầu đưa đi bị can này đi chữa bệnh hoặc chuyển trại; đồng thời cũng nhận được báo cáo bằng văn bản về việc bị can vẫn tiếp tục tuyệt thực của hai điều tra viên Cục C03 được cử đến trại 771 để nắm tình hình và động viên bị can. Tuy nhiên Thiếu tướng Nguyễn Duy Ngọc đã không có ý kiến chỉ đạo gì để xử lý tình trạng tuyệt thực của bị can này.
(Xem: 621)
Sau khi bị bắt tháng 11/2018 và tạm giam tại trại T16 Bộ Công an, ông Trần Bắc Hà hoàn toàn minh mẫn, tỉnh táo, sức khoẻ tốt, không có bệnh tật gì. Mỗi lần đi lấy cung, ông ấy đều yêu cầu có luật sư theo luật nhưng không được Thiếu tướng Nguyễn Duy Ngọc, Cục trưởng C03 chỉ đạo đáp ứng, còn các lời khai của ông này chủ yếu là phản bác lại các cáo buộc phạm tội trong hầu hết các vụ việc, các câu trả đều lô gích, sắc sảo, kín kẽ, thông tuệ, không có tình tiết nào sơ hở để bị buộc tội, ông ấy chỉ đuối lý trong vụ án BIDV cho công ty Bình Hà vay vốn thực hiện dự án trại bò tại Hà Tĩnh.
(Xem: 1410)
Tư Sang nham hiểm định chơi trò gạo đã thành cơm, cho quân tung tin ông Trọng chết, có nghĩa muốn phế truất ông, đẩy ông Trọng vào thế khó, nếu đang đi không nổi vậy mà xuất hiện công chúng thì khác nào tự hại mình vì mạch máu chưa ổn. Còn xuất hiện trong tình cảnh như thế hay không xuất hiện đều bất lợi, có thể dẫn dến việc đòi hỏi thay thế ông vì bằng chứng sức khoẻ ông đã quá yếu. Người thay thế sẽ là đàn em của Tư Sang là Xuân Phúc và phó Xuân Phúc.
(Xem: 2223)
Trương Duy Nhất là đối tượng chống đối chính trị cực đoan, hoạt động rất mạnh từ khi ra tù đến nay. Thường xuyên liên kết, móc nối với các đối tượng chính trị trong và ngoài nước, các nhen nhóm nhận là "XHDS" để triển khai các hoạt động chống phá Đảng, Nhà Nước và chế độ.
(Xem: 2538)
Một lần đến Thành phố Pleiku dự một buổi liên hoan, Trần Bắc Hà đã chỉ tay chửi mắng, dọa đánh mấy diễn viên của đoàn nghệ thuật tỉnh Gia Lai – Kon Tum khiến đoàn trưởng Ymoan vốn chẳng sợ ai phải cự lại, và thách thức. Bổ sung thêm: Ông trùm có tật mê múa lửa, mê chân dài, bất cứ lễ động thổ, khởi công… nào có mặt là phải có màn múa lửa, về rượu thì mê Balantine chứ không phải Macallan ! Vừa là doanh nhân vừa là quan chức, ông trùm Bắc Hà luôn được xem là “con sói” trong giới ngân hàng, là nhân vật số hai dưới triều đại cũ, “dưới một người trên vạn người”. Quyền năng có thể coi là hô phong hoán vũ, sự ngạo mạn đã thành giai thoại. Hôm nay, ông trùm chính thức vào lò.
(Xem: 2764)
Nay tôi tố cáo những những hiện tượng, những việc làm mang nặng chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, hẹp hòi, định kiến trong công tác cán bộ của Ban lãnh đạo Tổng Công Ty Nông Nghiệp Sài Gòn (mà chủ yếu là ông Lê Tấn Hùng, Bí thư Đảng ủy, Tổng Giám Đốc Tổng Công Ty)
(Xem: 1290)
Thế đấy, toàn gia tộc đều hoạt động, vào tù ra khám, con liệt sĩ, tòa bảo xóa án... nhưng bản thân vẫn bị Đảng CSVN dìm hàng, cho lơ lửng. Kêu oan cách mấy cũng thế... Bản tin năm 2016 nói ông cụ 101 tuổi, năm nay như thế là 103 tuổi rồi, vẫn bị Đảng CSVN làm ngơ chuyện kêu oan. Nội bộ còn trù dập như thế, làm sao tin được CSVN sẽ hòa hợp hòa giải với người bên kia chiến tuyến Sài Gòn?
(Xem: 3085)
Sau khi hết một năm kéo dài, hai anh Hồ Mẫu Ngoạt, Lê Trung Hưng đã hứa là sẽ bố trí cho anh Vĩnh làm trợ lý cho anh Tô Lâm, Bộ trưởng. Khi thấy có văn bản anh Tô Lâm đồng ý, đề xuất Ban Bí thư cho anh Vĩnh làm trợ lý, anh Vĩnh đã rất mừng, chúng em đã chuyển cho anh Ngoạt 2 triệu USD, anh Hưng 1 triệu USD. Nhưng cuối cùng việc không thành, anh Ngoạt, anh Hưng nói Tổng Bí thư đã đồng ý, rất muốn anh Vĩnh làm trợ lý Bộ trưởng, làm tai mắt của Tổng Bí thư ở Bộ, nhưng do nhiều lực cản nên không quyết định được, mong anh Vĩnh thông cảm. Dù việc không được, nhưng các anh cũng không trả lại tiền!
(Xem: 3628)
Nhà văn Nguyễn Trọng Tạo có bài "Tự dưng lại nghĩ đến tiền" để phản ánh tâm trạng lo âu, chán ngán của người dân trước vấn đề lạm phát tồi tệ nhất tại Việt Nam tính trong 3 năm qua. Từ đó ông hồi tưởng đến câu chuyện đổi tiền ngày xưa đã mang lại thảm ...
(Xem: 4766)
Tết nào tui cũng ngồi nhớ những cái tết thời bao cấp. Thời đó nghèo khổ lắm nhưng vui lắm. Cứ mỗi lần tết đến là háo hức vô cùng. Còn bé thì háo hức đến tết được mặc áo mới, được lì xì, được ăn thịt cá thoả thuê… Tuổi thanh niên thì háo hức được về quê ...
(Xem: 4733)
Thời bao cấp có rất nhiều loại tem phiếu, không thể nhớ hết được. Ví dụ Phiếu chứng nhận máy thu thanh chẳng hạn, tui quên khuấy đi mất. Còn các loại tem gạo, tem vải, tem đường thì nhiều vô kể. Trung ương phát hành rồi về tỉnh còn phát hành tem phiếu ...
(Xem: 3889)
Thời bao cấp trai gái thời thượng không ai gọi là hot boy, hot girl. Không biết miền Nam gọi là gì chứ ở miền Bắc trai gái thời thượng đều gọi là người yêu lý tưởng. Ngay cả cái từ hot hình như cũng chỉ được dùng hơn chục năm trở lại đây thôi, nó bắt ...
(Xem: 2766)
Đã có vài ba phim truyền hình kể về thời bao cấp rồi nhưng chưa có phim nào ghi lại thật đúng thời ấy cả. Mình rất muốn làm một phim về thời bao cấp, làm thật chuẩn để mọi người nhớ lại cái thời đã qua. Nhiều chuyện bây giờ kể lại cho trẻ con chúng nó ...
(Xem: 3308)
Một tuần sau khi tớ tung lên mạng “Phấn đấu kí số 27”, đã có khá nhiều người, đặc biệt là lớp trẻ (từ 50 tuổi trở xuống), comment, gửi message và gọi điện hỏi thăm tớ về những hiện tượng bao cấp mà tớ mới lướt qua vài dòng. Tớ mới chợt nghĩ ra: Ừ nhỉ, ...
PHÊ BÌNH MỚI
bởi 
26 Tháng Hai 20209:34 SA
Bài thơ buồn quá có nghe không,
Thương nhà nhớ nước lắm Huy Long,
Chẳng biết bao giờ quay trở lại!
Để thấy sơn hà được như mong.
14 Tháng Hai 20204:19 SA
Vuong Mong Long anh qua la van vo toan tai,la mot chien si oai hung ma con co mot tam hon nghe si,nhung bai viet cua anh doc hoai khong chan, anh Long xin anh cho toi dung chao anh voi long day nguong mo.
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0
25 Tháng Hai 2020
“Có một thứ thực vật cũng như sen Nhật Bản ở xứ ta, trước kia không có mà bây giờ có rất nhiều. Đâu thì tôi chưa thấy, ở Bắc Việt không chỗ nào là không có… Không mấy lâu rồi nó mọc đầy cả đồn điền, trừ khử không hết được, nó lan ra ngoài đồn điền. Cái tình trạng ấy bắt đầu có trong những năm 1930-1931, đồng thời với Đông Dương Cộng Sản Đảng hoạt động, phong trào cộng sản cũng lan tràn nhanh chóng như thứ cây ấy, cũng không trừ khử được như thứ cây ấy, cho nên bọn Tây đồn điền đặt tên nó là “herbe communiste”, đáng lẽ dịch là cỏ cộng sản, nhưng nhiều người gọi là cây cộng sản… Thứ cỏ nầy trước kia ở đây không có, từ ngày cụ Hồ về đây lãnh đạo cách mạng, thì thứ cỏ ấy mọc lên…”
18 Tháng Hai 2020
Xin anh Thi bình tĩnh, tôi xin nói thẳng, anh Thi và chúng tôi ngồi đây, xét cho cùng đều là bồi bút của đảng. Thân phận chúng ta lầm than lắm, nhục nhã lắm. Anh viết bao tác phẩm nịnh đảng, có bao giờ anh dám mang gương mặt thật của anh ra viết đâu. Anh là kịch sĩ vĩ đại của đảng, đã đóng bao nhiêu vai kịch kẻ khác trừ bản thân mình. Anh không có gương mặt thật trong văn chương, anh là một tên hề cho kẻ cầm quyền mà thôi! Lập tức một chiến sĩ trung thành vô hạn với đảng ngồi sát bên cạnh tôi đứng lên bẻ tay và bẻ cổ tôi là ông Chu Lai, không cho tôi nói…
07 Tháng Hai 2020
Khi có dịp gặp nhau, ở bất cứ nơi đâu, những người Việt tị nạn Cộng Sản vẫn thường hay sa đà vào những câu chuyện có liên quan đến vấn đề thời sự hay chính trị ở quê nhà. Bữa rồi, trong tiệc cưới, có ông mượn một thành ngữ thường nghe ở Hoa Kỳ (“The only good Indian is a dead Indian”) để lên tiếng giễu cợt: “Thằng cộng sản chỉ tốt khi nó không còn thở nữa.” Câu nói được nhiều người ngồi chung bàn người bật cười tán thưởng. Sự thực (e) không giản dị thế đâu. Khối thằng đã chết từ lâu nhưng di hại vẫn kéo dài mãi mãi:
05 Tháng Hai 2020
“Nhìn các em, các cháu còn trẻ mà đường quang không đi đâm quàng bụi rậm, vào cái nơi bị khinh ghét, nguyền rủa, thấy thật là đáng tiếc.” May mắn là những trường hợp “đáng tiếc” như thế không nhiều. Dù hết sức nỗ lực từ nhiều năm qua, Ủy Ban Nhà Nước Về Người Việt Ở Nước Ngoài (NVNONN) cũng chỉ thu dụng được chừng năm bẩy tên vô loại, loanh quanh ở phố Bolsa, thôi: Nguyễn Phương Hùng, Hoàng Duy Hùng, Vũ Hoàng Lân, Nguyễn Ngọc Lập, Nguyễn Trường …!

Trận chiến đấu cô đơn cuối cùng của Đại Úy Lê Phi Ô

12 Tháng Hai 20207:22 SA(Xem: 172)
Trận chiến đấu cô đơn cuối cùng của Đại Úy Lê Phi Ô
51Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
51

SAN JOSE, California (NV) – Không chỉ xúc động khôn cùng khi nhớ về đồng đội đã bỏ mình trong trận đánh cuối cùng đêm 23 Tháng Tư, 1975, tại tỉnh lỵ Bình Tuy, người chiến sĩ Tiểu Đoàn 344 Địa Phương Quân Lê Phi Ô cũng không quên nhắc đến những người lính “không có số quân,” đó là những người vợ lính!

Người chiến sĩ Tiểu Đoàn 344 Địa Phương Quân Lê Phi Ô năm xưa nay ở San Jose, California. (Hình Lê Phi Ô cung cấp)
Người chiến sĩ Tiểu Đoàn 344 Địa Phương Quân Lê Phi Ô năm xưa nay ở San Jose, California. (Hình: Lê Phi Ô cung cấp)


Tháng Ba, 1975, Việt Cộng mở chiến dịch đợt 2, quyết dứt điểm Chi Khu Hoài Đức. Tiểu Đoàn 344 Địa Phương Quân được trực thăng vận từ Gia Ray, Long Khánh, đưa vào Chi Khu Hoài Đức.

Tại đây ban đêm có thể quan sát rất rõ từng đoàn xe chuyển quân và vũ khí của Việt Cộng từ hướng quận Tánh Linh chạy về Võ Xu thuộc Hoài Đức, báo hiệu một trận đánh lớn sắp xảy ra.

“Chúng tôi xin đánh bom nhiều lần nhưng Quân Đoàn trả lời ‘Không có máy bay’ và Chi Khu Hoài Đức chỉ có hai khẩu đại bác 105 ly với đạn dược thiếu hụt chỉ tạm đủ để phòng thủ, nhưng dù có bắn cũng không tới trong khoảng cách trên 12 cây số đường chim bay,” cựu Đại Úy Lê Phi Ô nhớ lại.

Ông cho hay, Phan Thiết mất ngày 19 Tháng Tư, 1975, ngày 21 Long Khánh lui binh, Thiếu Tướng Lê Minh Đảo gọi cho ông Trần Bá Thành, tỉnh trưởng Bình Tuy, báo cho biết Sư Đoàn 18 Bộ Binh đã rút khỏi Long Khánh.

“Như vậy Bình Tuy nằm giữa từ Phan Thiết trở ra ngoài Trung coi như mất, Bình Tuy ở giữa cũng chới với khi trong tình trạng chiến đấu trong đơn độc. Ngày 21 Tháng Tư chúng tôi vẫn còn ở Bình Tuy, vì không có lệnh nên vẫn nằm lại, không rút đi,” ông Ô kể.

Bình Tuy lúc đó có bốn tiểu đoàn Địa Phương Quân, mỗi tiểu đoàn chỉ còn nửa quân số, tình hình rất xáo trộn. Đêm 23 Tháng Tư, 1975, hai tiểu đoàn được lệnh bảo vệ đường rút lui, còn hai tiểu đoàn gồm Tiểu Đoàn Địa Phương Quân 341 do Tiểu Đoàn Trưởng Lê Hùng chỉ huy, và 344 do Tiểu Đoàn Trưởng Lê Phi Ô chỉ huy phải nằm chịu trận, chống cự lại 24 chiếc xe tăng T54 địch ào ạt tấn công, cùng với hơn sư đoàn Bắc Việt trên 10 ngàn quân, và một trung đoàn pháo với hơn 40 khẩu đại bác địch pháo kích như biển lửa ở trận An Lộc.

“Đêm ấy chúng tôi phải nằm cản đường tấn công của địch để bộ chỉ huy kịp thời di tản từ chiều cho tới 2 giờ sáng, coi như hai tiểu đoàn Địa Phương Quân tan nát, mỗi tiểu đoàn chỉ còn khoảng 300 người. Dù quân số ít nhưng tinh thần chiến đấu của người lính Địa Phương Quân vẫn rất kiên cường, nếu còn đủ vũ khí vẫn tiếp tục chiến đấu được,” ông nói.

Chuẩn Úy Lê Phi Ô hồi Tháng Mười Hai, 1963
Chuẩn Úy Lê Phi Ô hồi Tháng Mười Hai, 1963. (Hình: Lê Phi Ô cung cấp)

Ông Lê Phi Ô xúc động khôn cùng khi kể lại, với nỗi nhớ về đồng đội đã bỏ mình trong trận đánh cuối cùng đêm 23 Tháng Tư, 1975, tại tỉnh lỵ Bình Tuy: “Chiều 23 rạng 24 Tháng Tư, 1975, Bình Tuy ngập trời trong đạn pháo kích Việt Cộng như trận pháo An Lộc, Phước Long. Bọn tôi chống cự được khoảng hai tiếng đồng hồ thì bọn chúng tràn ngập. Tôi nằm dưới rãnh nước mưa chịu cho từng lượt bánh xích xe tăng cán qua nhưng chúng tôi vẫn không rút lui vì chưa có lệnh. Sau đó đến khi phải rút vô rừng, cả tiểu đoàn chỉ còn lại ba người là hai anh sĩ quan truyền tin và tôi, bốn đại đội kia cũng mất liên lạc, coi như tiểu đoàn đã tan hàng! Chúng tôi băng rừng đi đường bộ từ Bình Tuy qua Xuyên Mộc, Bình Châu về tới Long Hải.”

Nhắm đường bộ đi trong đêm, nghe tiếng nói xôn xao chung quanh, khi chận lại hỏi thì được biết lính mình di tản, sau khi mượn máy truyền tin liên lạc thì được Phó Đề Đốc Hoàng Cơ Minh, Tư Lệnh Vùng 2 Duyên Hải, đem hai chiếc tàu vô cứu tất cả khoảng 200 người lính Địa Phương Quân cùng những người di tản đưa về Vũng Tàu.

“Mờ sáng ngày 27 Tháng Tư về tới Vũng Tàu, nằm ở đó tới sáng ngày 30 Tháng Tư, cả Vũng Tàu cũng tràn ngập Việt Cộng. Tôi dặn tất cả anh em đều khai là lính chỉ để tôi nhận là sĩ quan, liền bị bắt ngay tại chỗ, chở lên Long Khánh giam tại hậu cứ 43 thuộc Sư Đoàn 18 Bộ Binh. Sau đó bọn chúng nhốt trong trại tù ‘cải tạo,’ nhưng lại xảy ra vụ trốn trại nên bọn chúng lại đưa hết chúng tôi về trại Suối Máu khét tiếng, giam khoảng 10 ngàn người ở các trại tù từ K1 cho đến K5,” ông kể.

“Vì có tham gia vào những vụ trốn trại, tôi bị chuyển trại nhiều lần, từ K4 qua K3 rồi tới K5. Cuối năm 1978 trại Suối Máu được bàn giao từ quân đội qua công an quản lý. Lúc đó bọn tôi bị coi là tù, đêm Noel năm đó bọn tôi làm loạn, cả trại cùng hát nhạc Giáng Sinh, hát nhạc chính huấn, và truy lùng những tay ‘ăng-ten’ chuyên nghe ngóng tình hình trong tù để ‘hỏi tội.’ Tôi có đánh một tên ‘ăng-ten’ nên bị nhốt riêng trong thùng sắt conex, khoảng tháng sau chúng thanh lọc những người đã chống đối trong đêm Noel, đưa đi giam tại Chí Hòa,” ông Lê Phi Ô kể thêm.

Ông Lê Phi Ô bị nhốt trong xà lim Chí Hòa và “mỗi lần điều tra, bọn chúng trùm kín mặt dẫn đi trong đêm. Trong một lần cãi nhau với cai tù tôi bị chúng đánh te tua, hộc máu miệng. Ở đó khoảng hai tháng sau, nửa đêm chúng chở thẳng tôi vô trại giam A20 Phú Yên.”

Trại Trừng Giới A20 và số phận người tù không biết ngày về 

Trại giam Phú Yên nổi tiếng với bí số “Trại A20,” hay còn gọi là “Trại Trừng Giới” hoặc “Trại Kiên Giam,” tức là người tù vào đây sẽ bị giam giữ lâu dài mà không biết ngày ra. Đây không phải trại tù, mà là trại giam nhốt những thành phần chống đối, từ những người tù phục quốc cho đến những người tù hình sự nguy hiểm.

Trại A20 không thể nào vượt ngục được vì núi cao đụng mây, rừng rậm bao quanh, những gia đình ở chung quanh toàn là người của công an từ ngoài Bắc đưa vô, ai không biết đến xin nước uống hoặc thức ăn đều bị bắt lại hết.

Cựu Đại Úy Lê Phi Ô.
Cựu Đại Úy Lê Phi Ô. (Hình: Lê Phi Ô cung cấp)

“Trại A20 là trại ít khi thấy vượt ngục, chỉ có một lần anh Lê Thái Chân cùng bảy người vượt ngục. Riêng anh Chân không hiểu vì sao lại đi về hướng Quy Nhơn nên thoát được, còn lại bị bắn chết hết sau mấy ngày bỏ trốn. Dù vậy anh Chân vẫn bị bắt lại, bị xử thêm 15 năm tù nữa, và anh là người tù cuối cùng đi Mỹ theo diện H.O. Bọn chúng thường xuyên hăm dọa chúng tôi là sẽ không có ngày ra. Nhưng sau khi qua Mỹ tôi có nghe đâu mỗi người tù ‘cải tạo’ chúng tôi được ‘mua’ với giá $2,000 mỗi người để được thả về, chuẩn bị cứu xét đi Mỹ theo chương trình H.O.,” ông Lê Phi Ô cho biết.

Trại tù A20 dùng kỷ luật là để tù luôn bị đói khát, mỗi bữa ăn chỉ được vài lát khoai mì mốc, heo cũng chê không ăn. Tới mùa bắp thì cho ăn mỗi lần hai trái nhỏ xíu, lẩy hột ra thì chẳng còn được bao nhiêu.

Riêng những người tù phục quốc thì bị hành hạ bằng cách đến bữa ăn, mỗi người được phát chén cơm chan nước muối đậm đặc, cho nên ai cũng bị vừa đói lại vừa khát. Nếu chống đối bị đưa vô cùm trong xà lim giam từ ba tới sáu tháng. Nặng thì bị nhốt xà lim từ ba tới năm năm, trong đó có Linh Mục Vàng Dòng Chúa Cứu Thế, và một vị linh mục nữa sau khi cùm ba năm thả ra sau hai ngày chết trong tù.

“Khi mới đến trại A20, bọn tù chúng tôi đi phát rẫy ngọn đồi để trồng khoai mì, nhưng thực tế là để chôn xác chết, ba năm sau tôi ra đó, nguyên ngọn đồi đã đầy kín những ngôi mộ chôn tù, tuần nào cũng có người chết vì đói, riêng tôi vì hay cãi lại nên bị đánh thường xuyên may mà chưa chết,” ông Lê Phi Ô nhớ lại.

Người tù bị bắt ngồi đồng từ chiều cho tới đêm, ngồi nghe đấu tố hoặc bắt đọc sách nuôi heo, sáng ra thì lao động ở ngoài đồng tới chiều mới được về, đó là những giây phút tạm yên ngoài trời tự do khi tìm được những trái bắp khô, hái ăn cái lõi bên trong để có chất, đôi khi ăn nhiều quá bị say nằm tại chỗ, nhưng phải ăn để sống tìm cách đào thoát.

“Bẫy chuột để ăn cũng là cách có thêm chất tươi khi cơ thể thiếu chất trầm trọng, nhiều khi luộc thịt chuột còn sống, hoặc bắt được ổ chim sẻ, lấy con non nuốt sống để có chất đạm, ăn luôn cả cây đu đủ bỏ cả ngọn và gốc, chỉ lấy thân cây ngâm nước muối, vài ngày sau ăn được. Nói chung là bất cứ cái gì ăn được để sống là cứ ăn,” ông Ô kể.

“Ở tù từ năm 1976 khi mẹ tôi ở nhà chết vì đói, vợ con không ai thăm nuôi. Đến bảy năm sau khi ra tù, tôi mất hết nhà cửa, không ai dám chứa chấp vì sợ liên lụy với người tù nguy hiểm, đã từng bị Việt Cộng rao giá cao cho ai lấy được đầu của tôi, người đã từng làm bọn Việt Cộng tổn thất quá nhiều nhân mạng,” ông kể tiếp.

Ông Lê Phi Ô ở tù đến khoảng đầu năm 1983 được thả ra. Ông về Bà Rịa tìm cách vượt biên năm 1988, làm hoa tiêu trên ghe vượt biên qua tới Singapore và ở đây được hai tháng thì ông chuyển qua Phi Luật Tân ở sáu tháng thì được qua Mỹ. Ông định cư tại San Jose, California, ngày 16 Tháng Ba, 1989, cho đến nay.

Qua Mỹ lúc đầu người lính trận năm xưa cũng làm đủ thứ nghề để kiếm sống. Đó là quãng đời tuy cực nhưng so với cuộc sống người tù ở Việt Nam, ông vẫn cảm thấy hạnh phúc hơn rất nhiều. Hiện ông Lê Phi Ô đang yên ổn với cuộc sống, vui với những sinh hoạt cộng đồng tại địa phương.

“Hồi tưởng lại chuyện đã qua, những người lính VNCH chúng tôi vẫn chưa bao giờ thấy được mùa Xuân trên quê hương khi đất nước còn chìm đắm trong chủ thuyết ru ngủ của Cộng Sản. Chỉ khi nào người Việt triệt tiêu được chế độ mê muội ấy, ngày ấy mới có hòa bình dân chủ phú cường trên nước Việt mến yêu. Xin cầu nguyện anh linh các tử sĩ đã bỏ mình cho lý tưởng tự do và hồn thiêng sông núi, hộ trì cho mọi người dân Việt được sớm đoàn tụ trong ngày về quang vinh,” ông Lê Phi Ô bồi hồi nói.

Chiến công thầm lặng của người chiến sĩ “không có số quân”

Nhớ về chiến trường từ 47 năm về trước, người chiến sĩ Tiểu Đoàn 344 Địa Phương Quân Lê Phi Ô cũng không quên nhắc đến những người lính “không có số quân.”

Trong cuộc chiến đấu bảo vệ miền Nam trước sự xâm lăng của Cộng Sản, Quân Lực VNCH đã có biết bao Anh Hùng Liệt Nữ vị quốc vong thân, bên cạnh đó là những sự hy sinh hào hùng nhưng ít được nhắc tới, và cũng không ít người đã anh dũng hy sinh, đó là những người lính vợ lính.

Trong bão lửa chiến trường, cả nguời vợ và con lính cũng được cấp phát súng đạn, đó là những chiến sĩ gan dạ cùng cầm súng lao vào trận địa, những người phụ nữ dũng cảm xông vào chiến trường khi chồng đã tử trận, hoặc những người em gái nhỏ đã thay anh trai tải đạn trong chiến hào, khi người anh vừa đền xong nợ nước.

“Vợ Trung Sĩ Hào là bà mụ nông thôn trở thành y tá của tiểu đoàn, với hai tay đầy máu chị luôn cứu giúp các thương binh. Hoặc con bé Hạ, đầu quấn băng trắng để tang cho anh trai là lính của Tiểu Đoàn 344 Địa Phương Quân đã tử trận, thoăn thoắt tiếp đạn cho anh em chiến sĩ. Nhìn cô bé mặc áo trận, vai mang súng M16, trông cứng cỏi như người lính thực thụ, tuy mới 16 tuổi mà trông như đã hơn 30. Lúc đó một tiểu đội nữ binh vừa thành lập thêm, dưới quyền chỉ huy của Thượng Sĩ Hường, mà tiểu đội trưởng là vợ của Trung Sĩ Nhất Man Ngui người Thượng,” ông Lê Phi Ô cho biết.

“Trong trận chiến khốc liệt để bảo vệ tự do hạnh phúc cho miền Nam, cũng như cho đồng bào Hoài Đức, Bình Tuy, sự hy sinh của các chị sẽ được ghi vào sử sách của những người lính không có số quân, và không có luôn cả 12 tháng lương tử tuất. Các chị đã nối bước tiền nhân, không hổ danh con cháu Bà Trưng Bà Triệu! Những chuyện kể này như một nén hương kính dâng lên anh linh đồng đội của tôi, những người đã chết để người khác được sống,” người lính trận Lê Phi Ô năm xưa bồi hồi thổn thức.

Văn Lan/Người Việt

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
DANH SÁCH TÁC GIẢ