(Xem: 869)
Nay tôi tố cáo những những hiện tượng, những việc làm mang nặng chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, hẹp hòi, định kiến trong công tác cán bộ của Ban lãnh đạo Tổng Công Ty Nông Nghiệp Sài Gòn (mà chủ yếu là ông Lê Tấn Hùng, Bí thư Đảng ủy, Tổng Giám Đốc Tổng Công Ty)
(Xem: 278)
Thế đấy, toàn gia tộc đều hoạt động, vào tù ra khám, con liệt sĩ, tòa bảo xóa án... nhưng bản thân vẫn bị Đảng CSVN dìm hàng, cho lơ lửng. Kêu oan cách mấy cũng thế... Bản tin năm 2016 nói ông cụ 101 tuổi, năm nay như thế là 103 tuổi rồi, vẫn bị Đảng CSVN làm ngơ chuyện kêu oan. Nội bộ còn trù dập như thế, làm sao tin được CSVN sẽ hòa hợp hòa giải với người bên kia chiến tuyến Sài Gòn?
(Xem: 1544)
Sau khi hết một năm kéo dài, hai anh Hồ Mẫu Ngoạt, Lê Trung Hưng đã hứa là sẽ bố trí cho anh Vĩnh làm trợ lý cho anh Tô Lâm, Bộ trưởng. Khi thấy có văn bản anh Tô Lâm đồng ý, đề xuất Ban Bí thư cho anh Vĩnh làm trợ lý, anh Vĩnh đã rất mừng, chúng em đã chuyển cho anh Ngoạt 2 triệu USD, anh Hưng 1 triệu USD. Nhưng cuối cùng việc không thành, anh Ngoạt, anh Hưng nói Tổng Bí thư đã đồng ý, rất muốn anh Vĩnh làm trợ lý Bộ trưởng, làm tai mắt của Tổng Bí thư ở Bộ, nhưng do nhiều lực cản nên không quyết định được, mong anh Vĩnh thông cảm. Dù việc không được, nhưng các anh cũng không trả lại tiền!
(Xem: 378)
"Dễ lắm. Nhậm chức giám đốc xong, tôi hẹn hết 500 thằng đấu gấu giang hồ lại, phát cho mỗi đứa một cái phong bì. Tôi bảo: "Anh lên giám đốc, an hay nguy đất này giờ là trách nhiệm của anh. Các chú cầm lấy ít tiền, qua bên kia phà Tân Đệ, về Thái Bình, Hải Phòng… hay đi đâu đó mà làm ăn, để đây cho anh yên tí. Lỡ có "móm" thì về, anh lại cho một ít". Chúng nó quý nên nghe tôi, kéo nhau bỏ đi hết. Vậy là Nam Định yên lành. Nào có bí quyết gì đâu," ông Vĩnh nói với tác giả Hồng Lam.
(Xem: 422)
Vào tháng 7/2017 trên mạng internet xuất hiện lá thư được cho là của nhiều người thân các nạn nhân của "Vụ án xét lại chống Đảng". Trong thư, có đọan: "Theo ông Nguyễn Trung Thành (vụ trưởng Vụ Bảo vệ đảng thuộc Ban tổ chức Trung ương) là người trực tiếp thi hành thì Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn và ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng Lê Đức Thọ nhân danh Bộ Chính trị chỉ đạo việc bắt giữ và giam cầm."
(Xem: 580)
Ông Tư Sang phát biểu luôn tỏ vẻ ta đây là người liêm khiết, vậy xin hỏi chị em Đặng Thị Hoàng Yến- Đặng Thành Tâm là ai, có phải là doanh nghiệp sân sau, sân trước không? Sau khi Đặng Thành Tâm làm ăn thua lỗ, Đặng Thị Hoàng Yến trốn ra nước ngoài thì ông Tư Sang bỏ rơi, theo kiểu “vắt chanh bỏ vỏ”. Khi giá cao su cao vời vợi, Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam làm ăn phát đạt, ông Tư Sang và Ba Thung, Tổng giám đốc, quyền chủ tịch Tập đoàn cao su Việt Nam đi đâu cũng như hình với bóng; Ba Thung lo tài chính, hậu cần cho gia đình để “anh Tư Sang yên tâm hoạt động chính trị”. Nay Ba Thung bị bắt giam, ông Tư Sang viết báo đề nghị xử lý nghiêm tham nhũng?!
(Xem: 841)
Sau này anh Trần Duy Nghĩa, con cố thị trưởng Thủ đô, bác sĩ Trần Duy Hưng - là bạn cực thân của gia đình bà Bô - từ Pháp trở về Việt Nam, có dịp đến thăm bà cụ Bô kể cho tôi chuyện cơ mật của gia đình. Đó là khi tự mình trở về nhà, bà Bô đã dự liệu sẽ liều mình nếu như bà bị đuổi khỏi ngôi nhà thân yêu của chính mình. Bà đã bảo con bà mang theo một can đầy xăng để liều sống chết với lẽ phải, sống chết với nhà cửa, với con cháu ruột thịt của mình. Thế nhưng thật là may mắn và hạnh phúc, can xăng đã không cần dùng đến.
(Xem: 853)
Nguyên nhân vì sao Nô làm thiệt hại hàng trăm tỷ và là người của Nguyễn Tấn Dũng mà chẳng bị cơn thanh trừng của Phúc nghẹo ? Vì khi Phúc còn làm chủ nhiệm văn phòng chính phủ, Phúc cũng muốn gây dựng ảnh hưởng quan hệ với mọi tay chân của Dũng. Trong lúc xây dựng quan hệ này, Phúc đã ngủ với Trần Tuyết Ánh, vợ Nô nhiều lần. Đó là lý do thứ nhất vì sao Đoàn Thanh Nô mang tiếng là tay chân của Dũng mà không bị Phúc xử.
(Xem: 665)
Với mức gia tăng lạm phát như trên, chỉ trong ba năm từ 1986 đến 1988, trước khi tôi đi du học Ba Lan, giá cả hàng hóa và dịch vụ ở Việt Nam đã tăng gần 100 lần. Tôi còn nhớ rõ, cái xe máy Simson S50 anh tôi dành dụm tiền mua được trong thời gian du học Đông Đức, đem về bán trước đổi tiền năm 1985, má tôi gửi vào tiết kiệm, đến năm 1990 rút ra số tiền không mua nổi một chiếc lốp xe đạp. Đổi tiền rồi phát hành tiền vô tội vạ khiến lạm phát gia tăng ở mức cao là đỉnh cao nghệ thuật nhà nước tước đoạt tiền của nhân dân.
(Xem: 722)
Vậy là những ngày ấy, Chúng tôi, lũ học sinh, Đã uổng công bỏ học Để tham gia biểu tình. Khóc cho cái không có. Căm thù cái hư vô. Uổng những giọt nước mắt. Uổng cổ họng rát khô. Mãi sau này mới biết: Cộng sản, cả Việt Nam, Vì mục đích của họ, Không gì không dám làm. Giờ thì thêm điều nữa, Thuộc về Tham Sân Si: Người cộng sản hiện đại Ăn không từ cái gì!
(Xem: 2362)
Nhà văn Nguyễn Trọng Tạo có bài "Tự dưng lại nghĩ đến tiền" để phản ánh tâm trạng lo âu, chán ngán của người dân trước vấn đề lạm phát tồi tệ nhất tại Việt Nam tính trong 3 năm qua. Từ đó ông hồi tưởng đến câu chuyện đổi tiền ngày xưa đã mang lại thảm ...
(Xem: 3439)
Tết nào tui cũng ngồi nhớ những cái tết thời bao cấp. Thời đó nghèo khổ lắm nhưng vui lắm. Cứ mỗi lần tết đến là háo hức vô cùng. Còn bé thì háo hức đến tết được mặc áo mới, được lì xì, được ăn thịt cá thoả thuê… Tuổi thanh niên thì háo hức được về quê ...
(Xem: 2787)
Thời bao cấp có rất nhiều loại tem phiếu, không thể nhớ hết được. Ví dụ Phiếu chứng nhận máy thu thanh chẳng hạn, tui quên khuấy đi mất. Còn các loại tem gạo, tem vải, tem đường thì nhiều vô kể. Trung ương phát hành rồi về tỉnh còn phát hành tem phiếu ...
(Xem: 2527)
Thời bao cấp trai gái thời thượng không ai gọi là hot boy, hot girl. Không biết miền Nam gọi là gì chứ ở miền Bắc trai gái thời thượng đều gọi là người yêu lý tưởng. Ngay cả cái từ hot hình như cũng chỉ được dùng hơn chục năm trở lại đây thôi, nó bắt ...
(Xem: 1898)
Đã có vài ba phim truyền hình kể về thời bao cấp rồi nhưng chưa có phim nào ghi lại thật đúng thời ấy cả. Mình rất muốn làm một phim về thời bao cấp, làm thật chuẩn để mọi người nhớ lại cái thời đã qua. Nhiều chuyện bây giờ kể lại cho trẻ con chúng nó ...
(Xem: 2194)
Một tuần sau khi tớ tung lên mạng “Phấn đấu kí số 27”, đã có khá nhiều người, đặc biệt là lớp trẻ (từ 50 tuổi trở xuống), comment, gửi message và gọi điện hỏi thăm tớ về những hiện tượng bao cấp mà tớ mới lướt qua vài dòng. Tớ mới chợt nghĩ ra: Ừ nhỉ, ...
PHÊ BÌNH MỚI
Tôi xin phép được nói rõ chân dung của hai người có cùng họ và tên là Phạm Đình Trọng, cả hai đều là sĩ quan quân đội Việt Nam. Thế nhưng đại tá Phạm Đình Trọng thật nguyên là phóng viên của báo Quân đội Nhân dân. Sau này là trưởng Chi nhánh báo Quân đội Nhân dân ở phía Nam. Thời gian đó ở địa chỉ 63 đường Lý Tự Trọng Q. 1, Tp. Hồ Chí Minh. Đại tá Phạm Đình Trọng là người hiền lành, khiêm tốn, thân ái với đồng đội, đồng nghiệp. Tuyệt đối trung thành với Quân đội và với Tổ quốc.
2. Thiếu tá Phạm Đình Trọng (nay là phản động) nguyên là đại úy ở Xưởng phim Quân đội ở phố Lý Nam Đế, Hà Nội. Hồi còn chiến tranh ông ta sơ tán ở nhà dân đã ăn cắp của dân, bất kể cơ quan quân đội nào ở phố Lý Nam Đế, Hà Nội cũng biết vụ này. Khi ông ta làm việc ở xưởng phim quân đội – theo một đại tá là đạo diễn ở xưởng phim kể - Phạm Đình Trọng là một kẻ nổi tiếng ganh ghét, đố kỵ, là một chuyên gia kiện tụng, chuyên gia vu khống, đặt điều bôi nhọ người khác. Vì xưởng phim muốn tống khứ ông ta đi nên đã buộc phải nâng hàm thiếu tá cho ông và xưởng phim cũng tự đi liên hệ cho ông ta có một chỗ làm tại báo Điện ảnh Kịch trường, nhưng ở đây chỉ cho ông ta làm phát hành báo. Để thoát khỏi công việc phát hành, ông ta xin chuyển vào miền Nam xin vào Chi nhánh phía Nam của báo Tài chính. Ông ta lập tức kiện lên tổng biên tập nói xấu những cán bộ cũ ở Chi nhánh này và đòi làm trưởng Chi nhánh, nhưng không được, ông liền kiện lên thứ trưởng Bộ tài chính đòi chấp nhận yêu cầu của ông ta cũng không được. Cuối cùng ông ta kiện tuốt cả 3 người là trưởng Chi nhánh báo Tài chính ở miền Nam, Tổng biên tập báo Tài chính và Thứ trưởng Bộ Tài chính. Đơn ông ta gởi đi các nơi là Hội nhà báo Việt nam, Văn phòng Quốc hội, Bộ Chính trị, Ban tư tưởng Văn hóa TƯ vv… Vẫn không được giải quyết theo âm mưu của ông ta. Vì không được Bộ tài chính đáp ứng tham vọng điên cuồng và ngu ngốc của ông ta. Ông ta bị Bộ Tài Chính khai trừ ra khỏi Đảng, nhưng hắn viện rất nhiều lý do trì hoãn và tìm cách xin về báo báo Gia đình và Xã hội. Làm việc tại đây không bao lâu, hắn tiếp tục dở nghề lưu manh kiện tụng làm rối tung nội bộ khiến lãnh đạo tờ báo này và cán bộ cấp trên phải đau đầu. Cuối cùng hắn ta cũng bị lãnh đạo tờ báo này đuổi khỏi Tòa soạn, từ đó đến nay hắn thất nghiệp vì không cơ quan nào dám nhận hắn ta làm việc.
3. Hầu hết đồng nghiệp của ông ta là các nhà văn và nhà báo quân đội đều tẩy chay không quan hệ với ông Trọng này. Sau một thời gian sống ở miền Nam làm ở đâu cũng gây sóng gió bằng thói lưu manh, xảo trá, vu khống, đặt điều cho những người giỏi hơn mình nên ở đâu cũng bị đồng nghiệp tẩy chay.
4. Nay Phạm đình Trọng thất nghiệp này không còn nơi nào để kiện tụng, nhưng thói quen bẻ cong ngòi bút trước kia chống phá đồng nghiệp, bạn bè thì giờ sử dụng bản chất lưu manh đã thấm vào máu thịt sẵn để quậy phá Nhà nước, dựa vào những phản hồi về các vấn đề kinh tế, xã hội nổi cộm là ông ta cố gắng làm sao để mình được nổi tiếng với nước ngoài nhằm mục đích trở thành đối tượng được các tổ chức dân chủ chú ý để bảo lãnh cho ông ta được định cư ở nước ngoài, vì con trai ông ta đang học ở Mỹ. Phạm Đình Trọng này có tâm địa cực kỳ đen tối, là phần tử nguy hiểm trong nước. Trong chiến tranh thì chửi Mỹ - ngụy. Sau chiến tranh vì tài hèn, đức kém nhưng lại có tham vọng đứng trên cao để đè đầu cưỡi cổ người khác nhưng không được, nay trở thành kẻ cuồng vọng lộng bút đả phá như kẻ bị “tẩu hỏa nhập ma” với thủ đoạn trở thành người bị vi phạm nhân quyền để được nước ngoài quan tâm bảo lãnh sang Mỹ. Nhưng hắn không biết rằng, một kẻ vô tài, thất đức, luôn có tâm phản trắc như hắn, ai dám làm bạn và dám bảo lãnh hắn để trở thành “rước rắn về cắn gà nhà” sao?
5. Những người cầm bút đều là những người có hiểu biết, không hiểu tại sao vẫn tin vào những giọng điệu của Phạm Đình Trọng người lùn, răng vẩu, lưng cong, viết dỏm này - một kẻ phản bội, lưu manh, tham vọng điên cuồng và đê tiện để bôi nhọ Nhà nước Việt Nam thì càng làm giảm đi uy tín của trang web đó mà thôi.
11 Tháng Chín 20189:14 CH
Nhung tac gia ma toi thich doc, ngoai ba toi,ke den la Phan nhat Nam, Le Thiep va......Le mong Long.Ong tra loi dum toi nhung thac mac trong cuoc chien Tay Nguyen.Xin cam on ong.Va cau chuc ong va nhung nguoi than luon gap may man trong cuoc song xu nguoi.
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0
18 Tháng Chín 2018
Nếu “tội ác” có một định nghĩa nào đó, thì sự tàn ác của cộng sản còn tệ hơn mọi tội ác trên quả đất. Các sự kiện ghi lại qua lịch sử nhân loại đã chứng minh rõ ràng là hàng trăm triệu người phải bỏ mạng dưới sự cầm quyền của cái gọi là các “chính quyền cộng sản vinh quang”: Thảm sát hàng loạt, bỏ đói cho chết dần trong các trại tù, trại học tập, trại tập trung, hay các vi phạm nhân quyền tàn bạo. Có tội ác nào tệ đến như vậy không?
17 Tháng Chín 2018
Buồn cười nhất một kẻ như Tư Sang cướp đất, bao che cho Năm Cam làm loạn xã hội, dựng bọn Hoa Kiều thành những thế lực tài phiệt thao túng đất nước, chuyên chơi gái người mẫu, á hâụ do bọn báo Thanh Niên cung cấp ở những cuộc thi, tư cách suy đồi, trác táng nhưng Tư Sang luộn miệng dạy đời, lên báo chém rằng phải cần trong sạch, cần giữ đạo đức cách mạng. Vụ Thủ Thiêm trót đã nổ ra, dập lại không được ngay, nhưng để không lần tới hai kẻ chủ mưu là Tư Sang và Hai Nhật, nhóm Tư Sang đã hướng dẫn cho dư luận xúm vào những thông tin ngoài lề, loạn cào cào như mê hồn trận để không ai nhắc đến tội của chúng. Nước cờ cũng khá cao.
14 Tháng Chín 2018
Hai con người trong hai thời điểm khác nhau, nhưng hoàn toàn giống ở chỗ, khi ngài Tuệ Sỹ tuyệt thực, ngài không tin rằng ai đó bên ngoài sẽ giúp được mình. Ngài chấp nhận cái chết đến trước mắt như lẽ đương nhiên vì không muốn quỳ gối trước cường quyền. Ông Trần Huỳnh Duy Thức thì biết mình được ủng hộ bởi nhiều người, nhưng ông sẵn sàng chấp nhận cái chết đến, vì biết khó mà thuyết phục một nhà cầm quyền như Việt Nam biết thượng tôn pháp luật một cách đơn giản theo lẽ nhân loại văn minh. Hình ảnh chung của cả hai con người ấy, là nụ cười. Đích đến là chân lý, luôn làm con người mạnh hơn cả ngục tù và súng đạn. Khi đích đến là chân lý, nụ cười luôn ở trên môi. Nụ cười đó, là khoan hồng vô lượng sẵn có trong tim, đủ thức tỉnh dân tộc giữa những đêm dài tăm tối.
14 Tháng Chín 2018
Nhưng tính cách Trần Huỳnh Duy Thức có lẽ không ai thay đổi được ngoại trừ thái độ của nhà cầm quyền Việt Nam. Anh không chờ đợi ở họ sự nhượng bộ vì dưới mắt họ anh chỉ là một công dân phản động, và phản động là một thuật ngữ đóng lại mọi cánh cửa văn minh nhất trong đó có dân chủ nhân quyền, điều mà anh bỏ cả mạng sống ra để tranh đấu. Cuộc cờ không thể xoay chuyển khiến nhiều người bi quan hơn, trong đó có gia đình anh, những người chung vai vác thập giá với anh trong gần mười năm nay. Rất đau lòng, nhưng anh nói với những người thân yêu của mình "Con yêu gia đình lắm nhưng con yêu đất nước Việt Nam hơn".

43 năm nhìn lại: Thảm cảnh cuối cùng kết thúc một quá trình, một cuộc chiến

16 Tháng Tư 20186:59 SA(Xem: 462)
43 năm nhìn lại: Thảm cảnh cuối cùng kết thúc một quá trình, một cuộc chiến
53Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
53

Thảm cảnh bắt đầu từ vụ Buôn Mê Thuột thất thủ, tiếp đến là quyết định của Tổng thống Thiệu bỏ ngỏ Cao nguyên cho cộng quân, di tản chiến thuật. Thế là quân dân các vùng di tản bị rơi vào tình cảnh tán lọan. Nhiều quân nhân bỏ ngũ chạy về lo cho gia đình di tản. Những người dân thường cũng rời bỏ cửa nhà, ruộng vườn, tài sản tháo chạy về phía tự do như dòng thác đổ.

quandoivnch-banmethuot-31975-300x174Người ta ghi nhận “có đến nửa triệu quân dân Cao nguyên di tản về Nha Trang, một tỉnh ven biển Miền Trung của Việt Nam Cộng Hòa, phòng tuyến cuối cùng của Quân Đòan II, Quân Khu II, mà sau quyết định của ông Thiệu, Quân Đòan II tan vỡ nhanh như một giấc chiêm bao, mới đầu hôm sớm mai mà Quân Đòan đã bị tiêu hủy trong nháy mắt. Hành lang phía tây Sài Gòn bị đe dọa trầm trọng…”(27).

Trong khi đó ở Huế, quân dân rút về Đà Nẵng, rồi tranh nhau tìm đường ra biển. Một số khác theo đường bộ tháo chạy về phía nam như một “Đại lộ kinh hoàng”. Vì trên đại lộ ấy, nhiều cảnh đau lòng đã diễn ra. Người ta đã phải chứng kiến cảnh tranh sống, sát hại nhau, nạn thổ phỉ cướp bóc, hãm hiếp công khai giữa thanh thiên bạch nhật. Mọi giá trị nhân bản, đạo đức bị chà đạp; tình huynh đệ chi binh, nghĩa đồng bào trở thành xa lạ trong cuộc “rút lui chiến thuật” đầy hỗn lọan này. Thảm cảnh này cũng diễn ra tương tự ở nhiều tuyến “Rút lui chiến thuật” khác trên các nẻo đường đất nước. Mọi người tháo chạy về phía tự do, vì lúc ấy có lời đồn đãi rằng “Đã có thương lượng cho Cộng Sản Bắc Việt một nửa lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa mà không chống cự…

Quả thực đến đầu Tháng 4 năm 1975, một nửa lãnh thổ Việt Nam Cộng Hòa đã bỏ ngỏ cho Cộng quân đến tiếp quản. Tốc độ rút quân quá nhanh đến độ đối phương không kịp tiếp thu, không đủ người và thực ra cũng không cần đủ người để giữ đất. Trong vòng vài tuần, 150.000 binh sĩ VNCH đã tự hủy và mất khả năng chiến đấu. Thế quân bình chiến lược hoàn toàn bị đảo ngược. Chế độ VNCH ở miền Nam Việt Nam lâm nguy! Mặc dầu thực tế diễn ra đúng với ý muốn của Hoa Kỳ, nhưng Tổng thống Gerald Ford lúc đó vẫn làm ra vẻ quan tâm đến việc cứu vớt số phận đã được an bài của VNCH. Ông Ford đã đề nghị ngân khoản viện trợ quân sự bổ sung 700 triệu Mỹ kim trang bị và lập cầu không vận khẩn cấp chuyển đồ tiếp tế cho Quân Lực VNCH. Hành động này của Tổng thống Ford chẳng khác chi hành động của một nhà đạo đức giả, một bác sĩ vô lương tâm, biết rằng con bệnh sắp chết và cái chết ấy có một phần trách nhiệm do mình gây ra, nhưng bề ngoài vẫn tỏ ra hết lòng muốn cứu sống con bệnh. Dẫu sao, đó cũng chỉ là những lời tuyên bố để che đậy một ý đồ cũng chẳng thay đổi được thực tế.

Thực tế lúc đó là, ông Bùi Diễm, Đại sứ VNCH tại Mỹ, đã từ Washington trở về tuyên bố một cách tuyệt vọng, rằng “Không còn hy vọng gì về phía Mỹ nữa, chúng ta phải tính đến các điều kiện thực tế…”. Thực tế là một nửa nước đã mất, người ta chỉ còn trông chờ vào một cứu tinh. Nhưng nào còn ai dám làm cứu tinh, khi người Mỹ đã bỏ cuộc. Vậy chỉ còn trông chờ một phép lạ, mà phép lạ thì siêu hình khó xẩy ra. Vậy chỉ còn cách chấp nhận thực tế mà tờ New York Time số ra ngày 1-4-1975 đã phản ánh tổng quát “Quân Bắc Việt đã tràn lên khắp đất nước và chỉ gặp vài kháng cự lẻ tẻ, lãnh thổ bị chiếm là do bỏ cuộc thực sự…”.

Theo sự đánh giá của một nhân viên cao cấp CIA có mặt vào những giờ phút hấp hối của chế độ VNCH thì “Lúc này, để bảo vệ Sài gòn, quân Nam Việt đang tơi tả, chỉ còn tương đương sáu sư đòan, đương đầu với 18 sư đòan quân Bắc Việt, một đa số áp đảo. Điều mà Nam Việt Nam hy vọng thực hiện là lập một phòng tuyến án ngự cuối cùng chạy từ một phần đất Cao nguyên xuống tới bờ biển miền Trung, xuyên ngang thị trấn Xuân Lộc…” (28).

Thế nhưng tình hình thực tế ngày càng nguy kịch. Trong lúc lâm nguy người ta lại nói nhiều đến giải pháp được Mỹ khuyến khích từ lâu, là thương lượng với CS để thành lập một chính phủ liên hiệp ba thành phần. Đây cũng là giải pháp tương tự từng được qui định trong Hiệp Định Genève 1954, nhưng đã không được các bên thực hiện. Đó cũng là giải pháp bị bác bỏ năm 1965 vì đường lối chiến tranh đã được lựa chọn. Nay một lần nữa giải pháp được chọn lựa trong Hiệp Định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình cho Việt Nam năm 1973. Thực ra, đây là một giải pháp chỉ có giá trị pháp lý trên văn bản có tính nguyên tắc, thực tế thâm tâm người Mỹ không muốn nó được thực hiện, vì họ không còn muốn dính líu thêm nữa mà chỉ muốn cắt bỏ chế độ VNCH càng sớm càng tốt. Vì rằng, để cho chế độ này tồn tại dưới bất cứ hình thức nào đều làm cản trở tiến trình đi vào thế chiến lược quốc tế mới của Mỹ. Điều này cũng phù hợp với tham vọng của CSBV, không muốn thương lượng trong điều kiện hiện lại quá thuận lợi, mà chỉ cần ông Thiệu bị lật đổ bằng chính người của ông ta. Họ muốn chế độ VNCH sụp đổ trước khi họ đến tiếp quản mà không phải tàn phá giết chóc nhiều. Họ muốn một sự sụp đổ từ từ để còn cho họ nguyên vẹn những chiến lợi phẩm, đúng ra là mọi tài sản của chế độ bị sụp đổ không do sức mạnh chiến đấu của họ.

Đúng như lòng mong muốn của CS Hà Nội, ông Thiệu đã phải từ chức trước áp lực quần chúng và các phe phái tranh giành quyền lực dưới sự đạo diễn cùa CIA. Ngày 21-4-1975, bằng một bài diễn văn gay gắt ông Thiệu đã tố cáo sự phản bội của Mỹ, được truyền đi trên các phương tiện truyền thông đại chúng, phương tiện mà truớc đó người Mỹ đã thiết lập cho chế độ VNCH làm công việc tuyên truyền lôi kéo những con tim, khối óc và cả mạng sống của nhân dân Miền Nam Việt Nam đi vào chiến lược chống cộng bảo vệ chế độ và phần đất tự do miền Nam VN như một “ tiền đồn thế giới tự do” ngăn chặn sự bành trướng của cộng sản quốc tế của Mỹ! Đây là những lời tố cáo muộn màng của ông Thiệu:

“Họ bỏ rơi chúng tôi. Họ bán rẻ chúng tôi. Họ đâm sau lưng chúng tôi. Một nước đồng minh lớn đã không làm tròn lời hứa với với một nước đồng minh nhỏ…” (29). Đây lại một lầm lẫn lớn, cho đến lúc này ông Thiệu vẫn chưa nhận ra thực trạng này: Chưa bao giờ VNCH được Mỹ đối xử như một đồng minh. Rồi ông Thiệu hằn học oán trách người Mỹ: “Các ông bỏ chạy để mặc chúng tôi làm cái việc mà các ông làm không xong. Chúng tôi không có gì hết mà các ông lại muốn chúng tôi hoàn thành điều mà các ông không làm nổi... Khi ký Hiệp định hòa bình, Mỹ đã thỏa thuận sẽ thay thế vũ khí trên căn bản một đổi một. Nhưng Mỹ không giữ lời. Ngày nay còn ai có thể tin vào lời hứa hẹn của Mỹ nữa hay không?...” (30)

Ngày 26 tháng 4 năm 1975, nghĩa là năm ngày sau khi Tổng thống Thiệu từ chức, Quốc Hội Sài Gòn đã khởi đầu bằng một thông báo, theo đó người được Tổng thống Thiệu chỉ định nắm quyền tổng thống VNCH (theo Hiến Pháp) là Phó Tổng thống Trần Văn Hương, nay được Quốc hội ủy nhiệm quyền tuyển chọn một người thay thế ông trong chức vụ Tổng thống VNCH. Trên căn bản thông báo này, quyền Tổng thống Trần Văn Hương đã chỉ định Đại tướng Dương Văn Minh làm Tổng thống VNCH (ngoài dự liệu của Hiến Pháp). Ngày 28-4-1975, Tướng Minh nhậm chức, cử giáo sư Vũ Văn Mẫu vào chức vụ thủ tướng chính phủ, đứng ra thành lập nội các hòa giải, thay thế chính phủ chống cộng cuối cùng của ông Nguyễn Bá Cẩn mới được thành lập trước đó một tuần.

Như vậy là Tướng Dương Văn Minh, người hùng của cuộc đảo chánh năm 1963, đưa đến sự cáo chung nền Đệ nhất VNCH, nay lại được Mỹ tuyển chọn đúng ý Việt cộng làm nhiệm vụ khai tử nền Đệ nhị VNCH mà chính ông đã góp phần tạo dựng.

Mặc dầu hai ông Tổng thống Dương Văn Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu đã cố gắng đơn phương giương cao ngọn cờ “Hoà giải và hòa hợp dân tộc”, với một số động tác mời chào giả tạo, như ra thông cáo giả vờ đuổi hết người Mỹ, rằng trong vòng 48 giờ đồng hồ, người Mỹ cuối cùng phải rời khỏi Việt Nam; ra quyết định thả hết các tù chính trị (tức tù Việt cộng)… Nhưng tất cả đã muộn rồi, CSBV đã cảm thấy đang ở thế thượng phong, chẳng cần “hòa giải hòa hợp” với ai nữa. Vì “hòa giải hòa hợp dân tộc” vốn chỉ là chiến thuật thường được CS sử dụng khi chưa đủ sức thanh toán đối phương, giành thắng lợi tối hậu mà thôi.

Sau đây là một đọan tường thuật của một nhà văn Việt Cộng về những giây phút cuối cùng của cái “Chính phủ hòa giải hòa hợp” vào giờ thứ 25 của cuộc chiến:

“… 11 giờ 30 ngày 30 tháng 4 năm 1975

Chiếc xe tăng tiến vào xô đổ cánh cửa sắt của Dinh Độc Lập. Từ trên xe nhẩy xuống, một tổ chiến sĩ Quân Giải phóng trẻ măng mặc đồng phục lá cây, cầm lá cờ mầu đỏ xanh có ngôi sao vàng, lao nhanh về phía dinh.

Những thành viên của chính phủ Dương Văn Minh mới nhận chức ngày hôm trước về tề tựu tại phòng chính của dinh Độc Lập, đứng dậy khi những người cán bộ của Quân đòan II, mặt sạm khói súng và bụi đường xa bước vào. Họ đã tiến quân qua nhiều thành phố suốt dọc bờ biển miền Trung tới đây.

Dương Văn Minh nói:

Toàn thể chính phủ VNCH đều có mặt đợi các ngài đến để bàn giao chính quyền.

Một cán bộ nói:

Các ông còn gì nữa để bàn giao! Các ông phải đầu hàng vô điều kiện!” (31).

Khi đọc những lời tường thuật trên đây, người bàng quan không khỏi cảm thấy tội nghiệp cho Tướng Dương Văn Minh, khi thấy lịch sử dường như đã luôn chọn ông làm công việc “Khai sơn phá thạch”, nôm na là làm công việc lót đường để cho kẻ khác gặt hái thành quả.

Trong khi đó một phóng viên của hãng thông tấn AP ở lại Sà igòn đến phút chót đã kể lại:

Không có một tiếng súng nào, hàng trăm người Sài gòn cũng như tôi đứng há miệng nhìn đoàn xe tăng ngày càng nhiều của cộng sản tiến vào thành phố. Đến trưa, mọi chuyện đều xong. Trong suốt 13 năm viết về chiến tranh Việt Nam, tôi không bao giờ tưởng đến chuyện nó kết thúc theo lối này. Tôi hình dung phải có một cuộc mặc cả về chính trị tương tự như đã xẩy ra ở Lào mười năm về trước. Hoặc là một trận đánh theo kiểu Armageddon ở Châu Âu trong Thế Chiến Hai, mà kết cuộc là thành phố bị tan nát. Chuyện đầu hàng là điều hoàn toàn tôi không ngờ tới...” (32)

Một viên chức CIA đã rời Việt Nam trong toán CIA cuối cùng vào ngày 30-4-1975, thì đã ghi lại những hình ảnh cuối cùng của cuộc chiến như sau:

Chiếc máy bay trực thăng đã bắt đầu rời khỏi Tòa Đại Sứ. Người xạ thủ ở đuôi máy bay đang cúi rạp người trên súng của mình. Máy bay vòng trên thành phố. Trong khỏanh khắc tôi có thể nhìn thấy bóng dáng của một trong những cửa sổ tiệm rượu Mini Bar, một tiệm nổi tiếng vào bậc nhất ở Sàigòn, nơi biết bao chàng lính Mỹ đã mất sạch cả cơ nghiệp cùng với sự ngây thơ của mình. Và rồi chiếc máy bay ngoặt lại, hướng về phía Nam, bay qua Biên Hòa, thấy toán xe Bắc Việt đèn sáng trưng đang uốn mình trên con đường vào Biên Hòa… Trong phút chốc, kiến trúc khổng lồ mầu xám của một hàng không mẫu hạm Hoa Kỳ đã bao lấy chúng tôi như một cái kén khổng lồ bằng kim khí…” (33)

Một ngày trước khi Sài gòn rơi vào tay Hà Nội (29-4-1975), Đại sứ Mỹ cuối cùng Martin đã bình tĩnh ngồi ở bàn làm việc trong tòa Đại sứ Hoa Kỳ tại Sài gòn đợi lệnh từ Hoa Thịnh Đốn trả lời yêu cầu của ông xin gia hạn di tản. Nhưng từ Tòa Bạch Ốc đã ban ra lệnh cuối cùng:“ Tổng thống Hoa Kỳ lệnh cho Đại sứ Martin phải rời đi bằng chiếc máy bay này”. Đó là chiếc máy bay CH-46 được gởi đến đón Martin mang tên “Lady Ace 09” (32 bis).

Như vậy là cuộc chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt với thái độ phủi tay không thương tiếc của Hoa Kỳ, người khởi đầu và cũng là người kết thúc sinh mạng một chế độ công cụ của mình. Micheal Maclear, một nhà báo Mỹ trong cuốn “Việt Nam, cuộc chiến tranh mười nghìn ngày” đã ghi lại cảm tưởng của Martin đối với cuộc chiến kết thúc là “thấy nhẹ cả người”. Đó là cuộc chiến tranh chưa bao giờ được chính thức gọi là chiến tranh, dù nó là cuộc chiến tranh dài nhất của Mỹ đã chấm dứt. Nó là “một cuộc xung đột”, “một sự dính líu”, “một kinh nghiệm” và thất bại của nó sẽ được các sử gia có thể phán xét, không còn là mối bận tâm của nhân dân Hoa Kỳ. Rất đơn giản, họ nghĩ là họ đã chiến đấu, hoặc người của họ đã chiến đấu, thế là đủ. Từ hai năm về trước (1973-1975), họ đã thực hiện được một nền hòa bình cho họ tại Việt Nam. Hầu hết người Mỹ đã cảm thấy “một nền hòa bình trong danh dự” đã đạt được như người ta bảo. Giờ đây, họ đang nhìn với vẻ bàng quan chán ngắt, có đôi chút sửng sốt, song sự thật không phải hoàn toàn bị bất ngờ. Tám năm chiến đấu của Mỹ, chỉ trong nhiều tuần đã trở thành vô nghĩa. . .

Vô nghĩa ư? - Thực ra, cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc như thế đã chỉ có thể là vô nghĩa và vô ích với nhân dân Mỹ, khi mà họ đã phải gánh chịu mọi chi phí cho cuộc chiến, với cái giá máu xương của 58.000 binh sĩ con em của họ phải bỏ mạng tại Việt Nam, mà vẫn không thực hiện được mục đích cao cả là giúp nhân dân Việt Nam bảo vệ được chế độ dân chủ và phần đất tự do ở Miền Nam Việt Nam. Nhưng nó vẫn có ý nghĩa và lợi ích đối với chính quyền Mỹ, khi sự kết thúc chiến tranh đến vào lúc mà các mục tiêu chiến lược của họ đã đạt được qua cuộc chiến tranh này, mở ra một thời kỳ đầy triển vọng sau chiến tranh cho công cuộc làm ăn mới của giới tư bản Mỹ ở vùng này, trong khung cảnh một thế chiến lược toàn cầu mới.

Riêng đối với nhân dân Việt Nam, cuộc chiến tranh kéo dài trên 20 năm (1954-1975) kết thúc như thế thì quả là vô nghĩa và tàn hại. Và sự chấm dứt cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn này, vừa là nỗi đau, vừa là niềm vui chung cho cả dân tộc Việt Nam. Là nỗi đau cho nhân dân Miền Bắc vì đã từng phải sống khổ cực, hy sinh chiến đấu cho một chiêu bài giả hiệu “Độc lập dân tộc, chống đế quốc, giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước trong hòa bình, ấm no, hạnh phúc…”. Cũng là nỗi đau của nhân dân yêu chuộng tự do dân chủ ở Miền Nam Việt Nam, vì đã ngay tình và nhiệt thành lao vào một cuộc chiến “bảo vệ chế độ tự do dân chủ”. Từ nỗi đau chung này, nhân dân hai miền Bắc-Nam Việt Nam cùng có chung một mối hận đối với những kẻ cầm quyền trên cả hai miền Nam-Bắc, từng là công cụ đắc lực một thời cho ngọai bang, đã xô đẩy nhân dân hai miền vào một cuộc chiến tàn hại và vô nghĩa. Người dân tự hỏi: Tại sao cũng trong gọng kềm của của cuộc chiến tranh ý thức hệ toàn cầu, Bắc Hàn và Nam Hàn đã có thể cùng tồn tại để chờ cơ may thống nhất một cách hòa bình. Trong khi Việt Nam thì đi đến thống nhất bằng một cuộc chiến cốt nhục tương tàn, anh em một nhà tàn sát lẫn nhau và tàn phá tan hoang đất nuớc?

Công tội của các tập đoàn lãnh đạo công cụ tay sai ngoại bang trong quá khứ cũng như hiện tại, mai này sẽ được lịch sử phán xét công minh. Dẫu sao, cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn chấm dứt cũng nên coi là một niềm vui chung của cả dân tộc. Vì đây là cơ may mới cho đất nước vươn lên trong thời kỳ các nước giầu tỏ ra thực tâm muốn giúp các nước nghèo đi vào thế ổn định để phát triển, trong nỗ lực thiết lập một nền trật tự thế giới mới hay là một hệ thống kinh tế quốc tế mới. Đó là chiến lược “Toàn cầu hóa của các cường quốc”: Toàn cầu hóa về chính trị bằng một chế độ dân chủ và toàn cầu hóa về kinh tế với một nền kinh tế thị trường. Trong khung cảnh ấy, các quốc gia lớn nhỏ cạnh tranh, cùng tồn tại hòa bình và các bên đều cùng có lợi (ít hay nhiều).

Thiện Ý

Houston, tháng 4 năm 2018
Nguồn VOA

*Ghi chú: Trích từ “Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Quốc Tế Mới” của Thiện Ý.

- Từ (27) đến (33 bis): Theo “The Ten Thousand Days War” của Michael Maclear, nhà báo Mỹ được giải thưởng Pulitzer nhờ những bài viết về chiến tranh Việt Nam.

- Xin vào: luatkhoavietnam.com , mục “Diễn Đàn”, tiểu mục “Tác giả & Tác phẩm” để đọc thêm trong tài liệu nghiên cứu lý luận “Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Quốc Tế Mới”, tiểu mục “Phỏng vấn & Hội luận” để nghe Đài VOA phỏng vấn tác giả Thiện Ý năm 1995 về tác phẩm này.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
DANH SÁCH TÁC GIẢ