(Xem: 869)
Nay tôi tố cáo những những hiện tượng, những việc làm mang nặng chủ nghĩa cá nhân, ích kỷ, hẹp hòi, định kiến trong công tác cán bộ của Ban lãnh đạo Tổng Công Ty Nông Nghiệp Sài Gòn (mà chủ yếu là ông Lê Tấn Hùng, Bí thư Đảng ủy, Tổng Giám Đốc Tổng Công Ty)
(Xem: 278)
Thế đấy, toàn gia tộc đều hoạt động, vào tù ra khám, con liệt sĩ, tòa bảo xóa án... nhưng bản thân vẫn bị Đảng CSVN dìm hàng, cho lơ lửng. Kêu oan cách mấy cũng thế... Bản tin năm 2016 nói ông cụ 101 tuổi, năm nay như thế là 103 tuổi rồi, vẫn bị Đảng CSVN làm ngơ chuyện kêu oan. Nội bộ còn trù dập như thế, làm sao tin được CSVN sẽ hòa hợp hòa giải với người bên kia chiến tuyến Sài Gòn?
(Xem: 1544)
Sau khi hết một năm kéo dài, hai anh Hồ Mẫu Ngoạt, Lê Trung Hưng đã hứa là sẽ bố trí cho anh Vĩnh làm trợ lý cho anh Tô Lâm, Bộ trưởng. Khi thấy có văn bản anh Tô Lâm đồng ý, đề xuất Ban Bí thư cho anh Vĩnh làm trợ lý, anh Vĩnh đã rất mừng, chúng em đã chuyển cho anh Ngoạt 2 triệu USD, anh Hưng 1 triệu USD. Nhưng cuối cùng việc không thành, anh Ngoạt, anh Hưng nói Tổng Bí thư đã đồng ý, rất muốn anh Vĩnh làm trợ lý Bộ trưởng, làm tai mắt của Tổng Bí thư ở Bộ, nhưng do nhiều lực cản nên không quyết định được, mong anh Vĩnh thông cảm. Dù việc không được, nhưng các anh cũng không trả lại tiền!
(Xem: 378)
"Dễ lắm. Nhậm chức giám đốc xong, tôi hẹn hết 500 thằng đấu gấu giang hồ lại, phát cho mỗi đứa một cái phong bì. Tôi bảo: "Anh lên giám đốc, an hay nguy đất này giờ là trách nhiệm của anh. Các chú cầm lấy ít tiền, qua bên kia phà Tân Đệ, về Thái Bình, Hải Phòng… hay đi đâu đó mà làm ăn, để đây cho anh yên tí. Lỡ có "móm" thì về, anh lại cho một ít". Chúng nó quý nên nghe tôi, kéo nhau bỏ đi hết. Vậy là Nam Định yên lành. Nào có bí quyết gì đâu," ông Vĩnh nói với tác giả Hồng Lam.
(Xem: 422)
Vào tháng 7/2017 trên mạng internet xuất hiện lá thư được cho là của nhiều người thân các nạn nhân của "Vụ án xét lại chống Đảng". Trong thư, có đọan: "Theo ông Nguyễn Trung Thành (vụ trưởng Vụ Bảo vệ đảng thuộc Ban tổ chức Trung ương) là người trực tiếp thi hành thì Bí thư Thứ nhất Lê Duẩn và ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Tổ chức Trung ương Đảng Lê Đức Thọ nhân danh Bộ Chính trị chỉ đạo việc bắt giữ và giam cầm."
(Xem: 580)
Ông Tư Sang phát biểu luôn tỏ vẻ ta đây là người liêm khiết, vậy xin hỏi chị em Đặng Thị Hoàng Yến- Đặng Thành Tâm là ai, có phải là doanh nghiệp sân sau, sân trước không? Sau khi Đặng Thành Tâm làm ăn thua lỗ, Đặng Thị Hoàng Yến trốn ra nước ngoài thì ông Tư Sang bỏ rơi, theo kiểu “vắt chanh bỏ vỏ”. Khi giá cao su cao vời vợi, Tập đoàn công nghiệp cao su Việt Nam làm ăn phát đạt, ông Tư Sang và Ba Thung, Tổng giám đốc, quyền chủ tịch Tập đoàn cao su Việt Nam đi đâu cũng như hình với bóng; Ba Thung lo tài chính, hậu cần cho gia đình để “anh Tư Sang yên tâm hoạt động chính trị”. Nay Ba Thung bị bắt giam, ông Tư Sang viết báo đề nghị xử lý nghiêm tham nhũng?!
(Xem: 841)
Sau này anh Trần Duy Nghĩa, con cố thị trưởng Thủ đô, bác sĩ Trần Duy Hưng - là bạn cực thân của gia đình bà Bô - từ Pháp trở về Việt Nam, có dịp đến thăm bà cụ Bô kể cho tôi chuyện cơ mật của gia đình. Đó là khi tự mình trở về nhà, bà Bô đã dự liệu sẽ liều mình nếu như bà bị đuổi khỏi ngôi nhà thân yêu của chính mình. Bà đã bảo con bà mang theo một can đầy xăng để liều sống chết với lẽ phải, sống chết với nhà cửa, với con cháu ruột thịt của mình. Thế nhưng thật là may mắn và hạnh phúc, can xăng đã không cần dùng đến.
(Xem: 853)
Nguyên nhân vì sao Nô làm thiệt hại hàng trăm tỷ và là người của Nguyễn Tấn Dũng mà chẳng bị cơn thanh trừng của Phúc nghẹo ? Vì khi Phúc còn làm chủ nhiệm văn phòng chính phủ, Phúc cũng muốn gây dựng ảnh hưởng quan hệ với mọi tay chân của Dũng. Trong lúc xây dựng quan hệ này, Phúc đã ngủ với Trần Tuyết Ánh, vợ Nô nhiều lần. Đó là lý do thứ nhất vì sao Đoàn Thanh Nô mang tiếng là tay chân của Dũng mà không bị Phúc xử.
(Xem: 665)
Với mức gia tăng lạm phát như trên, chỉ trong ba năm từ 1986 đến 1988, trước khi tôi đi du học Ba Lan, giá cả hàng hóa và dịch vụ ở Việt Nam đã tăng gần 100 lần. Tôi còn nhớ rõ, cái xe máy Simson S50 anh tôi dành dụm tiền mua được trong thời gian du học Đông Đức, đem về bán trước đổi tiền năm 1985, má tôi gửi vào tiết kiệm, đến năm 1990 rút ra số tiền không mua nổi một chiếc lốp xe đạp. Đổi tiền rồi phát hành tiền vô tội vạ khiến lạm phát gia tăng ở mức cao là đỉnh cao nghệ thuật nhà nước tước đoạt tiền của nhân dân.
(Xem: 722)
Vậy là những ngày ấy, Chúng tôi, lũ học sinh, Đã uổng công bỏ học Để tham gia biểu tình. Khóc cho cái không có. Căm thù cái hư vô. Uổng những giọt nước mắt. Uổng cổ họng rát khô. Mãi sau này mới biết: Cộng sản, cả Việt Nam, Vì mục đích của họ, Không gì không dám làm. Giờ thì thêm điều nữa, Thuộc về Tham Sân Si: Người cộng sản hiện đại Ăn không từ cái gì!
(Xem: 2362)
Nhà văn Nguyễn Trọng Tạo có bài "Tự dưng lại nghĩ đến tiền" để phản ánh tâm trạng lo âu, chán ngán của người dân trước vấn đề lạm phát tồi tệ nhất tại Việt Nam tính trong 3 năm qua. Từ đó ông hồi tưởng đến câu chuyện đổi tiền ngày xưa đã mang lại thảm ...
(Xem: 3439)
Tết nào tui cũng ngồi nhớ những cái tết thời bao cấp. Thời đó nghèo khổ lắm nhưng vui lắm. Cứ mỗi lần tết đến là háo hức vô cùng. Còn bé thì háo hức đến tết được mặc áo mới, được lì xì, được ăn thịt cá thoả thuê… Tuổi thanh niên thì háo hức được về quê ...
(Xem: 2787)
Thời bao cấp có rất nhiều loại tem phiếu, không thể nhớ hết được. Ví dụ Phiếu chứng nhận máy thu thanh chẳng hạn, tui quên khuấy đi mất. Còn các loại tem gạo, tem vải, tem đường thì nhiều vô kể. Trung ương phát hành rồi về tỉnh còn phát hành tem phiếu ...
(Xem: 2527)
Thời bao cấp trai gái thời thượng không ai gọi là hot boy, hot girl. Không biết miền Nam gọi là gì chứ ở miền Bắc trai gái thời thượng đều gọi là người yêu lý tưởng. Ngay cả cái từ hot hình như cũng chỉ được dùng hơn chục năm trở lại đây thôi, nó bắt ...
(Xem: 1898)
Đã có vài ba phim truyền hình kể về thời bao cấp rồi nhưng chưa có phim nào ghi lại thật đúng thời ấy cả. Mình rất muốn làm một phim về thời bao cấp, làm thật chuẩn để mọi người nhớ lại cái thời đã qua. Nhiều chuyện bây giờ kể lại cho trẻ con chúng nó ...
(Xem: 2194)
Một tuần sau khi tớ tung lên mạng “Phấn đấu kí số 27”, đã có khá nhiều người, đặc biệt là lớp trẻ (từ 50 tuổi trở xuống), comment, gửi message và gọi điện hỏi thăm tớ về những hiện tượng bao cấp mà tớ mới lướt qua vài dòng. Tớ mới chợt nghĩ ra: Ừ nhỉ, ...
PHÊ BÌNH MỚI
Tôi xin phép được nói rõ chân dung của hai người có cùng họ và tên là Phạm Đình Trọng, cả hai đều là sĩ quan quân đội Việt Nam. Thế nhưng đại tá Phạm Đình Trọng thật nguyên là phóng viên của báo Quân đội Nhân dân. Sau này là trưởng Chi nhánh báo Quân đội Nhân dân ở phía Nam. Thời gian đó ở địa chỉ 63 đường Lý Tự Trọng Q. 1, Tp. Hồ Chí Minh. Đại tá Phạm Đình Trọng là người hiền lành, khiêm tốn, thân ái với đồng đội, đồng nghiệp. Tuyệt đối trung thành với Quân đội và với Tổ quốc.
2. Thiếu tá Phạm Đình Trọng (nay là phản động) nguyên là đại úy ở Xưởng phim Quân đội ở phố Lý Nam Đế, Hà Nội. Hồi còn chiến tranh ông ta sơ tán ở nhà dân đã ăn cắp của dân, bất kể cơ quan quân đội nào ở phố Lý Nam Đế, Hà Nội cũng biết vụ này. Khi ông ta làm việc ở xưởng phim quân đội – theo một đại tá là đạo diễn ở xưởng phim kể - Phạm Đình Trọng là một kẻ nổi tiếng ganh ghét, đố kỵ, là một chuyên gia kiện tụng, chuyên gia vu khống, đặt điều bôi nhọ người khác. Vì xưởng phim muốn tống khứ ông ta đi nên đã buộc phải nâng hàm thiếu tá cho ông và xưởng phim cũng tự đi liên hệ cho ông ta có một chỗ làm tại báo Điện ảnh Kịch trường, nhưng ở đây chỉ cho ông ta làm phát hành báo. Để thoát khỏi công việc phát hành, ông ta xin chuyển vào miền Nam xin vào Chi nhánh phía Nam của báo Tài chính. Ông ta lập tức kiện lên tổng biên tập nói xấu những cán bộ cũ ở Chi nhánh này và đòi làm trưởng Chi nhánh, nhưng không được, ông liền kiện lên thứ trưởng Bộ tài chính đòi chấp nhận yêu cầu của ông ta cũng không được. Cuối cùng ông ta kiện tuốt cả 3 người là trưởng Chi nhánh báo Tài chính ở miền Nam, Tổng biên tập báo Tài chính và Thứ trưởng Bộ Tài chính. Đơn ông ta gởi đi các nơi là Hội nhà báo Việt nam, Văn phòng Quốc hội, Bộ Chính trị, Ban tư tưởng Văn hóa TƯ vv… Vẫn không được giải quyết theo âm mưu của ông ta. Vì không được Bộ tài chính đáp ứng tham vọng điên cuồng và ngu ngốc của ông ta. Ông ta bị Bộ Tài Chính khai trừ ra khỏi Đảng, nhưng hắn viện rất nhiều lý do trì hoãn và tìm cách xin về báo báo Gia đình và Xã hội. Làm việc tại đây không bao lâu, hắn tiếp tục dở nghề lưu manh kiện tụng làm rối tung nội bộ khiến lãnh đạo tờ báo này và cán bộ cấp trên phải đau đầu. Cuối cùng hắn ta cũng bị lãnh đạo tờ báo này đuổi khỏi Tòa soạn, từ đó đến nay hắn thất nghiệp vì không cơ quan nào dám nhận hắn ta làm việc.
3. Hầu hết đồng nghiệp của ông ta là các nhà văn và nhà báo quân đội đều tẩy chay không quan hệ với ông Trọng này. Sau một thời gian sống ở miền Nam làm ở đâu cũng gây sóng gió bằng thói lưu manh, xảo trá, vu khống, đặt điều cho những người giỏi hơn mình nên ở đâu cũng bị đồng nghiệp tẩy chay.
4. Nay Phạm đình Trọng thất nghiệp này không còn nơi nào để kiện tụng, nhưng thói quen bẻ cong ngòi bút trước kia chống phá đồng nghiệp, bạn bè thì giờ sử dụng bản chất lưu manh đã thấm vào máu thịt sẵn để quậy phá Nhà nước, dựa vào những phản hồi về các vấn đề kinh tế, xã hội nổi cộm là ông ta cố gắng làm sao để mình được nổi tiếng với nước ngoài nhằm mục đích trở thành đối tượng được các tổ chức dân chủ chú ý để bảo lãnh cho ông ta được định cư ở nước ngoài, vì con trai ông ta đang học ở Mỹ. Phạm Đình Trọng này có tâm địa cực kỳ đen tối, là phần tử nguy hiểm trong nước. Trong chiến tranh thì chửi Mỹ - ngụy. Sau chiến tranh vì tài hèn, đức kém nhưng lại có tham vọng đứng trên cao để đè đầu cưỡi cổ người khác nhưng không được, nay trở thành kẻ cuồng vọng lộng bút đả phá như kẻ bị “tẩu hỏa nhập ma” với thủ đoạn trở thành người bị vi phạm nhân quyền để được nước ngoài quan tâm bảo lãnh sang Mỹ. Nhưng hắn không biết rằng, một kẻ vô tài, thất đức, luôn có tâm phản trắc như hắn, ai dám làm bạn và dám bảo lãnh hắn để trở thành “rước rắn về cắn gà nhà” sao?
5. Những người cầm bút đều là những người có hiểu biết, không hiểu tại sao vẫn tin vào những giọng điệu của Phạm Đình Trọng người lùn, răng vẩu, lưng cong, viết dỏm này - một kẻ phản bội, lưu manh, tham vọng điên cuồng và đê tiện để bôi nhọ Nhà nước Việt Nam thì càng làm giảm đi uy tín của trang web đó mà thôi.
11 Tháng Chín 20189:14 CH
Nhung tac gia ma toi thich doc, ngoai ba toi,ke den la Phan nhat Nam, Le Thiep va......Le mong Long.Ong tra loi dum toi nhung thac mac trong cuoc chien Tay Nguyen.Xin cam on ong.Va cau chuc ong va nhung nguoi than luon gap may man trong cuoc song xu nguoi.
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0
18 Tháng Chín 2018
Nếu “tội ác” có một định nghĩa nào đó, thì sự tàn ác của cộng sản còn tệ hơn mọi tội ác trên quả đất. Các sự kiện ghi lại qua lịch sử nhân loại đã chứng minh rõ ràng là hàng trăm triệu người phải bỏ mạng dưới sự cầm quyền của cái gọi là các “chính quyền cộng sản vinh quang”: Thảm sát hàng loạt, bỏ đói cho chết dần trong các trại tù, trại học tập, trại tập trung, hay các vi phạm nhân quyền tàn bạo. Có tội ác nào tệ đến như vậy không?
17 Tháng Chín 2018
Buồn cười nhất một kẻ như Tư Sang cướp đất, bao che cho Năm Cam làm loạn xã hội, dựng bọn Hoa Kiều thành những thế lực tài phiệt thao túng đất nước, chuyên chơi gái người mẫu, á hâụ do bọn báo Thanh Niên cung cấp ở những cuộc thi, tư cách suy đồi, trác táng nhưng Tư Sang luộn miệng dạy đời, lên báo chém rằng phải cần trong sạch, cần giữ đạo đức cách mạng. Vụ Thủ Thiêm trót đã nổ ra, dập lại không được ngay, nhưng để không lần tới hai kẻ chủ mưu là Tư Sang và Hai Nhật, nhóm Tư Sang đã hướng dẫn cho dư luận xúm vào những thông tin ngoài lề, loạn cào cào như mê hồn trận để không ai nhắc đến tội của chúng. Nước cờ cũng khá cao.
14 Tháng Chín 2018
Hai con người trong hai thời điểm khác nhau, nhưng hoàn toàn giống ở chỗ, khi ngài Tuệ Sỹ tuyệt thực, ngài không tin rằng ai đó bên ngoài sẽ giúp được mình. Ngài chấp nhận cái chết đến trước mắt như lẽ đương nhiên vì không muốn quỳ gối trước cường quyền. Ông Trần Huỳnh Duy Thức thì biết mình được ủng hộ bởi nhiều người, nhưng ông sẵn sàng chấp nhận cái chết đến, vì biết khó mà thuyết phục một nhà cầm quyền như Việt Nam biết thượng tôn pháp luật một cách đơn giản theo lẽ nhân loại văn minh. Hình ảnh chung của cả hai con người ấy, là nụ cười. Đích đến là chân lý, luôn làm con người mạnh hơn cả ngục tù và súng đạn. Khi đích đến là chân lý, nụ cười luôn ở trên môi. Nụ cười đó, là khoan hồng vô lượng sẵn có trong tim, đủ thức tỉnh dân tộc giữa những đêm dài tăm tối.
14 Tháng Chín 2018
Nhưng tính cách Trần Huỳnh Duy Thức có lẽ không ai thay đổi được ngoại trừ thái độ của nhà cầm quyền Việt Nam. Anh không chờ đợi ở họ sự nhượng bộ vì dưới mắt họ anh chỉ là một công dân phản động, và phản động là một thuật ngữ đóng lại mọi cánh cửa văn minh nhất trong đó có dân chủ nhân quyền, điều mà anh bỏ cả mạng sống ra để tranh đấu. Cuộc cờ không thể xoay chuyển khiến nhiều người bi quan hơn, trong đó có gia đình anh, những người chung vai vác thập giá với anh trong gần mười năm nay. Rất đau lòng, nhưng anh nói với những người thân yêu của mình "Con yêu gia đình lắm nhưng con yêu đất nước Việt Nam hơn".

Chế độ VNCH ở Nam Việt Nam đã bị cưỡng tử như thế nào?

16 Tháng Tư 20186:51 SA(Xem: 170)
Chế độ VNCH ở Nam Việt Nam đã bị cưỡng tử như thế nào?
52Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
52
43 năm trước (1975-2018), vì không nắm được ý đồ chiến lược của Mỹ, Cộng sản (CS) Hà Nội đã hăm hở bước vào giai đọan cuối cùng của cuộc chiến tranh Quốc-Cộng tại Việt Nam. Trong giai đọan này, nếu chỉ nhìn qua hiện tượng, người ta thấy như có sự ăn ý giữa Hoa Kỳ và Cộng sản Bắc Việt (CSBV), kẻ tung, người hứng để cùng cưỡng tử chế độ VNCH một cách ngọan mục.

I.- KHỞI ĐI TỪ SỰ KIỆN PHƯỚC LONG BỊ CỘNG QUÂN ĐÁNH CHIẾM.

Ngày 7-1-1975, bộ đội CSBV đã mở cuộc tiến công và đã chiếm đóng được tỉnh lỵ Phước Long như một thử nghiệm đầu tiên ý chí của Hoa Kỳ, thăm dò xem phản ứng đến mức độ nào. Hoa Kỳ đã lập tức lên tiếng tố cáo mạnh mẽ hành động vi phạm trắng trợn Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh lập lại hòa bình tại Việt Nam ngày 27-1-1973 của CSBV, kèm theo lời đe dọa sẽ trừng phạt nghiêm khắc nếu CS không ngưng ngay những hành động lấn chiếm tương tự.

Sau sự lên án tố cáo có tính chiếu lệ với kẻ thù, Mỹ đã không có hành động nào khác hơn thể hiện ý chí và quyết tâm giúp “bạn” bảo vệ chế độ VNCH. Không những thế, dường như ai đó đã vô tình hay cố ý giúp thực hiện đúng ý định của Hoa Kỳ, khi khuyên Tổng thống Thiệu không nên đánh chiếm lại Phước Long làm gì cho hao binh tổn tướng, mà hãy dùng sự kiện Phước Long như là bằng chứng tố cáo trước công luận thế giới về hành động phá hoại Hiệp định Paris của CSBV. Bởi vì giải pháp cho Việt Nam bây giờ là giải pháp chính trị chứ không phải quân sự. Có lẽ vì nghe theo lời “cố vấn” này, nên Tổng thống Thiệu đã không tìm cách lấy lại Phước Long mà chỉ ra lệnh đẩy mạnh tuyên truyền, tố cáo CSBV vi phạm Hiệp Định, đẩy mạnh chiến dịch vẽ cờ, lấn đất giành dân, chuẩn bị chiếm ưu thế về lãnh thổ trong một giải pháp chính trị tương lai? Mặc dầu “đầu tháng 1 năm 1975, Tổng thống Thiệu đã ra lệnh tập trung lực lượng không quân gồm 116 oanh tạc cơ, 160 phi cơ trực thăng, dội bom và đánh phá trọn một tuần lễ xuống Phước Long, nhưng vẫn không đẩy lùi nổi 3 sư đòan chính quy Bắc Việt đang chiếm lấy thị trấn này…” (17)

Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu. (AP Photo)
Tổng thống VNCH Nguyễn Văn Thiệu. (AP Photo)

Trong khi đó, từ sự kiện Phước Long, dư luận lúc đó ở Sài gòn lan truyền khắp Miền Nam, nói nhiều đến một chính phủ liên hiệp ba thành phần, nói nhiều đến giải pháp trung lập. Dường như trong tâm lý quần chúng cũng như quân đội VNCH lúc ấy đều bị hoang mang giao động, tinh thần chủ hòa đang có chiều hướng lấn ép chủ chiến. Tình cảnh này đã có ảnh hưởng rất lớn vào tinh thần chiến đấu của binh sĩ quân lực VNCH. Quân dân Miền Nam như cùng hướng lòng về một giải pháp chính trị, với tâm trạng chờ đợi, mất cảnh giác chiến đấu và suy giảm nghiêm trọng ý chí chống cộng.

Trong khi đó, Mỹ đã không có hành động trừng phạt cương quyết nào với đối phương, mà lại gia tăng áp lực đối với chính phủ VNCH, thúc đẩy và nuôi dưỡng tình hình bất ổn, xáo trộn nội bộ, đẩy chế độ vào thế tam, tứ đầu thọ địch. Áp lực mạnh nhất đánh vào cân não quân đội và dân chúng VNCH là quyết định cắt giảm quan trọng viện trợ kinh tế, quân sự cho VNCH giữa lúc chế độ đang trong điều kiện thử thách sống còn. Như vậy là Mỹ đã không giữ lời cam kết khi “Việt Nam hóa chiến tranh” (Tăng cường viện trợ quân sự để trang bị đầy đủ cho QLVNCH đủ sức làm công việc tự bảo vệ); không giữ những lời hứa công khai cũng như riêng tư với Tổng thống Thiệu của Tổng thống Hoa Kỳ Nixon (viện trợ kinh tế, quân sự dồi dào cho VNCH để giúp thành tựu Hiệp định Paris theo ý muốn của Mỹ). Hậu quả tất nhiên của đòn cân não này là tinh thần chiến đấu của tướng sĩ Quân lực VNCH suy yếu và tiềm năng chống cộng của cả chế độ VNCH phải sút giảm nghiêm trọng. Chúng ta hãy nghe sau này ông Thiệu kể lại:

“… vào năm 1975, tiềm lực chiến đấu của chúng tôi giảm 60%, trong khi đó tiềm lực chiến tranh của Hà Nội gia tăng ghê gớm. Tôi có thể nói trong hai năm sau khi ký kết Hiệp định Paris, chiến tranh đã dữ dội hơn trước. Tuần nào tôi cũng cử phái viên tới Washington để giải thích. Tôi đã gửi thư cho tổng thống Mỹ, tôi phân bầy nỗi nguy hiểm với Đại sứ Mỹ ở Sàigòn, song không có chuyển biến gì cả...” (18)

Chuyển biến gì được nữa, khi ý định của Mỹ lúc này là đang muốn trói chặt VNCH về chính trị, kinh tế, quân sự, để chờ cho CSBV đến ban cho một phát súng ân huệ. Mỹ đã trói chặt VNCH về chính trị trong một giải pháp liên hiệp với CS, với chiêu bài “hòa giải, hòa hợp dân tộc” để ru ngủ và làm tê liệt ý chí chống cộng của quân dân miền Nam Việt Nam. Mỹ đã trói chặt về kinh tế khi cắt giảm tối đa về mọi mặt, là cắt nguồn máu nuôi sống chế độ. Mỹ đã chặt tay chặt chân về quân sự, khi không thực hiện trang bị, cung cấp vũ khí đạn dược đủ để cho trụ cột chủ yếu chống cộng đủ sức làm công việc tự bảo vệ. Việc Quốc hội Hoa Kỳ chỉ thông qua một ngân khoản viện trợ hàng trăm triệu (700 triệu) so với nhu cầu thực tế hàng tỉ, trong lúc tình hình chiến sự nguy ngập, thử hỏi Quân lực VNCH còn đâu tinh thần và sức mạnh chiến đấu để mà làm công việc tự bảo vệ?

Mặt khác, đúng lúc này, không biết ai xui khiến cho Tổng thống Thiệu ra lệnh giải giới các lực lượng bán quân sự như Nhân dân Tự vệ và các giáo phái có trang bị vũ khí, gọi là để tập trung lực lượng và sức mạnh chiến đấu của Quân lực VNCH. Điển hình là vụ giải giới lực lượng bán quân sự của Phật giáo Hòa Hảo khỏang 10.000 người, bắt giam ông Hai Tập, Tổng Chỉ huy Lực lượng Bảo an Hòa Hảo.

“. . . Cuối tháng 1/1975, ông Hai Tập, ông Lương Trọng Tường thành lập một sư đoàn Bảo an Hòa Hảo với mục đích tiếp tục chiến đấu kháng cộng, nếu VNCH sụp đổ. Ông Thiệu lập tức giải tán và bắt giam ông Hai Tập vì sợ lực lượng Hòa Hảo lật đổ ông...” (19)

Việc làm này của ông Thiệu như là hành động tự chặt tay mình về mặt quân sự. Ai đã cố vấn cho ông Thiệu làm việc này, hay do sáng kiến cá nhân, điều này chỉ có ông biết. Người bàng quang chỉ có thể suy đoán, có thể là sáng kiến cá nhân vì mối lo sợ riêng, song cũng có thể là sự gợi ý của các “cố vấn” người Mỹ, hoặc là người của Việt cộng “nằm vùng” bên cạnh ông. Vì rằng vào thời điểm này, tuy khác ý đồ, nhưng Mỹ và Việt cộng dường như đã gặp nhau ở mục tiêu chung: Triệt tiêu chế độ VNCH càng sớm càng tốt.

Thế nhưng cho đến lúc này dường như người lãnh đạo cao nhất của chế độ VNCH vẫn chưa nắm bắt được ý định thực sự của “người bạn đồng minh Hoa Kỳ”. Vẫn như còn cố tin vào những lời cam kết, hứa hẹn bí mật hay công khai trên giấy trắng mực đen của chính phủ cũng như cá nhân Tổng thống Hoa Kỳ R. Nixon. Như vậy, quả thực tập đoàn lãnh đạo chế độ công cụ ngoại bang ở Hà Nội đã tài giỏi hơn nhiều so với chế độ ở Sài Gòn. Tổng thống Thiệu vẫn ngây thơ tin rằng những hành động đích thân của ngài Đại sứ Martin bay từ Sài gòn về Washington như là để bênh vực cho lập trường của mình. Sau khi cộng quân chiếm Phước Long, ông Thiệu vẫn tin tưởng và chờ đợi Hoa Kỳ thực hiện những lời hứa và cam kết trong những bức thư trao đổi riêng tư với Tổng thống Nixon. Trong khi đó, các lãnh tụ cáo già CSBV thì tỏ ra hết sức chú tâm và nương theo ý đồ của Mỹ để đạt ý đồ của mình. Sau khi đánh chiếm được Phước Long, cộng quân như tạm ngưng các cuộc tiến công lớn để thăm dò phản ứng của Mỹ.

Nhớ lại phản ứng của Mỹ lúc ấy là ngoài những lời lên án, tố cáo, đe dọa “Sẽ trả đũa”, Mỹ chỉ tăng cường các chuyến bay do thám, mà theo nhận xét của ông Thiệu “Việc ấy chẳng khác gì dùng bồ câu thay thế B-52…”. Đồng thời, Tổng thống Gerald Ford, người kế vị Tổng thống Nixon bị mất chức giữa nhiệm kỳ vì vụ Watergate, cũng cố làm ra vẻ hết lòng xin Quốc hội Mỹ viện trợ bổ sung 300 triệu Mỹ kim cho VNCH.

Thế nhưng theo lời Đại sứ Martin “… Nam Việt Nam không nhận được viện trợ bổ sung mà còn không nhận được chút viện trợ nào trong năm tài chánh sắp tới, bắt đầu từ Tháng 6-75… Nói khác đi, nội trong 3 tháng nữa ông Thiệu sẽ đứng trước sự kiện bị cúp viện trợ…” (20). Ông Martin kết luận: “Cố gắng bơm thêm sức mạnh cho ai đó bằng những bảo đảm mà chính mình không tin thì sẽ chẳng đi đến đâu hết…” (21)

Đến đây, trước phản ứng yếu ớt của Mỹ với thù (CSBV), sự gia tăng áp lực chính trị, kinh tế của Mỹ với bạn (VNCH), các lãnh tụ CS ở Hà Nội càng tin tưởng chắc chắn Mỹ sẽ không can thiệp trực tiếp trở lại, dù họ có gia tăng áp lực quân sự đến đâu. Họ bắt đầu lên kế họach thôn tính miền Nam VN với dự liệu ít nhất 2 năm nữa mới “giải phóng” được miền Nam. Hà nội vẫn thực sự chưa biết ý đồ này của Mỹ: Không phải chỉ không can thiệp trở lại mà còn muốn khai tử chế độ VNCH càng sớm càng tốt. Nghĩa là Mỹ đã có ý định xóa bàn cờ cũ chơi bàn cờ mới. Trong khi đó ông Thiệu và tập đoàn lãnh đạo VNCH thì vẫn nghĩ Mỹ sẽ không bao giờ “dám” bỏ rơi miền Nam, mọi áp lực chẳng qua chỉ để buộc cá nhân ông Thiệu và phe cánh của ông phải từ bỏ quyền hành, trao lại cho ê-kíp khác, nên nội bộ đã rơi vào sự xâu xé tranh giành quyền lợi cá nhân, phe đảng, quên cả mục tiêu sống còn là ngăn chặn CSBV xâm lăng. Một cách vô tình “phe quốc gia” đã như tự đào hố chôn mình. Mặc dầu ai cũng đồng ý với nhận định của ông Thiệu lúc ấy “Chế độ VNCH còn là còn tất cả, nếu mất vào tay CS là mất tất cả”. Nhưng tất cả trên thực tế đã có những hành động góp phần làm tiêu vong chế độ.

Sau này chính ông Thiệu kể: “… Mỹ để lại 300.000 quân tại Châu Âu sau khi Thế Chiến II đã chấm dứt 30 năm; để lại 50.000 quân ở Nam Hàn sau khi chấm dứt 20 năm. Lúc chúng tôi để Mỹ rút quân, chúng tôi chỉ yêu cầu được giúp đỡ để tiếp tục chiến đấu, không còn phải duy trì nửa triệu quân ở Việt Nam, Mỹ chỉ phải chi tiêu 1 phần 20 so với trước kia. Vậy họ còn đòi hỏi gì hơn ở chúng tôi?...” (22)

Nhận định này của ông Thiệu chứng tỏ quan điểm lãnh đạo lỗi thời do không nhìn thấy đã có sự đổi thay chiến lược của Mỹ. Theo đó, Mỹ không phải chỉ muốn cá nhân ông Thiệu mà muốn cả cái chế độ mà ông cầm đầu bấy lâu nay phải biến đi càng nhanh càng tốt. Bởi vì đã qua rồi những cơ hội tốt để tồn tại vững vàng như Nam Hàn, để không bị hủy diệt vào những lúc Hoa Kỳ có nhu cầu phải thay đổi chiến lược như thế này.

II/- ĐẾN SỰ KIỆN BUÔN MÊ THUỘT THẤT THỦ – THỬ THÁCH CUỐI CÙNG CHO TRỤ CỘT CUỐI CÙNG CỦA CHẾ ĐỘ VNCH.

Đến đây các bước người ta chuẩn bị cho một chế độ sụp đổ như đã hoàn bị. Tình hình nội bộ chế độ VNCH hoàn toàn rối ren, tê liệt. Quân lực VNCH, cây trụ cột cuối cùng chống đỡ cho sự tồn tại thêm thời gian của chế độ thì ra sao?

Theo tài liệu đọc được sau này thì, sau Hiệp Định Paris năm 1973 về VN, Quân lực VNCH thực sự chỉ còn sáu đến bẩy trăm ngàn quân chiến đấu. Về trang bị đạn dược và các phương tiện chiến tranh hiện còn có thể giúp Quân lực VNCH tiếp tục chiến đấu ít nhất 2 năm. Tương quan lực lượng giữa quân lực VNCH và bộ đội CSBV theo tỉ lệ 4-1. Đến tháng 1-1975 tỉ lệ này chỉ còn 2-1. Bởi vì sau 2 năm ngưng ném bom, một phần đường mòn HCM đã được CSBV sửa chữa và đặt ống dẫn dầu dọc theo đường mòn này. Trong một thời gian ngắn, 150.000 quân CSBV đã xâm nhập thêm vào chiến trường miền Nam. Sau khi chiếm được Phước Long, Hà Nội đã có thể chuẩn bị cho một lực lượng 300.000 quân bám sát đường mòn HCM tiến vào miền Nam. Tất cả những họat động này, người Mỹ biết rất rõ, song đã không có hành động gì. Vì sao?

Chúng ta hãy nghe một chuyên viên phân tích tình báo Mỹ kể lại: “Khởi đầu cuộc tấn công cuối cùng của CS… lúc đó chúng tôi đã biết rằng CSBV đưa vào miền Nam VN một lực lượng to lớn hơn nhiều so với lực lượng chúng tôi biết đang có ở đây. Họ đã tập trung số quân này phía Tây Cao Nguyên. Bấy giờ Buôn Mê Thuột xét về mặt lịch sử, luôn luôn là điểm tựa phòng thủ của chính quyền trên cao nguyên. Buôn Mê Thuột mất thì sự phòng thủ có thể bị đánh ngang sườn. CSBV rất khôn ngoan, họ chuyển quân mà không sử dụng liên lạc vô tuyến điện. Họ đưa vào vùng Buôn Mê Thuột ba sư đòan mà chúng tôi không hề hay biết…” (23).

Có thực là người Mỹ không hay biết hay là họ biết mà đã cố tình không cho chính quyền VNCH biết, lại còn tìm cách đánh lạc hướng dùm cho đối phương? Vì chẳng lẽ tình báo Hoa Kỳ chỉ dựa trên sự theo dõi liên lạc vô tuyến của VC để nắm bắt tình hình? Vậy thì chỉ có thể do bị che mắt của “Bạn” và thế nghi binh của “Thù”, mà các nhà quân sự VNCH đã đoán sai ý đồ của VC. Đoán sai nên đã cho rằng cộng quân có thể lập lại cuộc tấn công Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972, vượt qua khu phi quân sự. Vì vậy họ đã tập trung quân ở phía Bắc Đà Nẵng để đối phó? Trong khi đó, Buôn Mê Thuột vốn là một vị trí chiến lược trọng yếu thì quân đội Sài Gòn đã không chuẩn bị phòng thủ tương xứng, chỉ triển khai 40.000 quân ở đó. Họ đâu ngờ rằng lúc ấy, 300.000 quân CSBV đã ẩn nấp bao vây, chờ giờ hành động. Để đánh lạc hướng, bộ đội CSBV đã cho truyền đi các bức điện giả làm như mục tiêu tiến công của họ là Pleiku, nơi đặt bản doanh của Quân Đoàn II quân lực VNCH.

Quân cộng sản đã thành công trong ý đồ này, vì các nhà quân sự VNCH bao lâu nay quen dựa vào chiến lược, chiến thuật đánh CS do người Mỹ họach định sẵn, nên đã có thói quen ỷ lại, lười “động não” để sáng tạo nên đã dễ dàng bị đánh lừa của cả bạn lẫn thù. Sự thể là đúng 2 giờ sáng ngày 10-3-1975, bộ đội CSBV đã mở cuộc tấn công Buôn Mê Thuột. Vì quá bất ngờ, không kịp tăng viện và không có quân yểm trợ nên sau 30 giờ bị vây hãm, phản công yếu ớt, Buôn Mê Thuột đã thất thủ. Rồi cũng như Phước Long, Buôn Mê Thuột thất thủ, Mỹ vẫn không có hành động gì để trừng phạt, ngăn chặn bước xâm lăng của CSBV.

Dư luận thắc mắc, phải chăng ai đó lại “Cố vấn” cho Tổng thống Thiệu với cùng luận điệu, rằng không nên đánh chiếm lại Buôn Mê Thuột làm gì cho hao binh tổn tướng, lại vẫn nên dùng sự kiện Buôn Mê Thuột để đẩy mạnh tuyên truyền tố cáo CSBV trắng trợn vi phạm Hiệp định Paris trước thế giới. Rằng lý do không cần đánh chiếm lại đất đai còn là vì giải pháp cho vấn đề Việt Nam bây giờ là giải pháp chính trị chứ không phải quân sự. Vậy thì chỉ nên “co cụm lại” để tập trung lực lượng bảo vệ các thành phố chiến lược quan trọng, để chờ giải pháp chính trị… Sau này tài liệu cho biết, một trong những cố vấn đã ảnh hưởng đến quyết định “rút lui chiến thuật” của Tổng thống Thiệu là Vũ Ngọc Nhạ, tình báo chiến lược của CSBV, như đã trích dẫn ở phần trên.

Nhưng tựu chung, có lẽ vì nghe theo mọi lời khuyên xem ra có vẻ hợp lý, mà ngày 15-3-1975, tức bốn ngày sau Buôn Mê Thuột thất thủ, Tổng thống Thiệu đã vội triệu tập các tướng lãnh cao cấp trong một phiên họp ở căn cứ Cam Ranh, để đi đến quyết định vô tiền khoáng hậu trong quân sử VNCH cũng như quân sử thế giới: Rằng cao nguyên và miền Trung phải bị bỏ rơi! Nghĩa là ông Thiệu đã quyết định bỏ luôn Quân đoàn I và Quân đoàn II. Quyết định này đã gây bàng hoàng, choáng váng cho nhiều người. Vì như thế là chỉ qua một đêm, ông Thiệu đã nhượng cho đối phương một nửa lãnh thổ VNCH!

Sau này ông Thiệu đã biện bạch rằng: “Chúng tôi phải rút quân về bảo vệ các vùng quan trọng, vì chúng tôi đánh giá là Mỹ sẽ không giúp nữa. Nếu họ giúp thì đã giúp rồi. Chúng tôi không thể chờ đợi đến khi quá chậm. Phải chấp nhận nỗi hiểm nghèo có tính tóan. Biết rằng rút lui mà không có khả năng cơ động và hỏa lực mạnh thì sẽ nguy hiểm. Nhưng chúng tôi vẫn phải làm.” (25)

Tại sao ông Thiệu dám chọn giải pháp này dù biết rằng nguy hiểm như vậy? Vì ông ta muốn tạo áp lực để phút chót thấy tình hình nguy ngập Mỹ có thể can thiệp chăng? Vì một lời khuyên trực tiếp hay chỉ là sự gợi ý gián tiếp song có hiệu quả của quan chức Mỹ ở Sài gòn? Có thể cả hai. Vì ngài Đại sứ Martin quả đã có sự gợi ý này: “Chỉ còn một con đường khôn ngoan duy nhất là cắt bớt các tuyến quân sự và chỉ giữ lại một phần đất mạnh về kinh tế là vùng châu thổ phía Nam”(26). Như vậy là sự gợi ý của ngài Đại sứ Mỹ cuối cùng ở Sàigòn cộng với lời khuyên của các “cố vấn” đã được ông Thiệu cảm nhận và thực hiện như một sáng kiến táo bạo. Có điều kết quả thu lượm được thuộc về phía Hoa Kỳ và Việt Cộng, còn hậu quả được dành cho nhân dân Miền Nam yêu chuộng tự do, những người đã nằm xuống trong cuộc chiến và những kẻ sống sót sau cuộc chiến!

Thực vậy, giải pháp trên đã được thực hiện bằng một cuộc “di tản chiến thuật” mà thực tế đã biến thành một cuộc “tháo chạy tán lọan” vô tiền khoáng hậu trong lịch sử các cuộc chiến tranh cục bộ. Các chiến lược gia đã phải gọi đó la “Một cuộc rút lui được vạch ra tồi nhất và thi hành tệ hại nhất trong lịch sử quân sự”. Một cuộc di tản chiến thuật gọi là co cụm lại để bảo toàn lực lượng và để đủ sức bảo vệ các vùng chiến thuật trọng yếu, rốt cuộc đã chẳng bảo vệ được gì khác hơn là góp phần làm cho quá trình sụp đổ của một chế độ nhanh chóng hơn. Vì cuộc rút quân tàn tệ này nó đã phá hủy mau chóng quân phong quân kỷ và tinh thần chiến đấu của quân sĩ Quân Lực VNCH. Một quân đội mà trước đó đã bị hoang mang giao động bởi những đòn cân não của cả bạn lẫn thù. Hậu quả tất nhiên là quân sĩ sẽ không còn muốn chiến đấu mà chỉ muốn tháo chạy sao cho an toàn bản thân và lo cho gia đình, để có cơ may tồn tại trong một giải pháp chính trị tương lai đã được định đoạt. Hầu như binh lính VNCH đều có tâm trạng không muốn là người phải hy sinh cuối cùng của cuộc chiến.

Thiện Ý
Nguồn VOA

*Ghi chú: Trích “Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Quốc Tế Mới” của Thiện Ý, ấn hành lần đầu Tháng 4 năm 1995 và tái bản Tháng 4 năm 2005 tại Houston, Texas, Hoa Kỳ.

- (17, (19), (24):Gián Điệp Nhị Trùng, Trần Trung Quân, nhà xuất bản Nam Á, Paris 1990 (trang 335, 337, 338)

- (18), (20) đến (23, (25)và (26): Theo “The Ten Thousand days War” của Michael Maclear, nhà báo Mỹ được giải thưởng Pulitzer nhờ những bài viết về chiến tranh Việt Nam.

- Xin vào: luatkhoavietnam.com , mục “Diễn Đàn”, tiểu mục “Tác giả & Tác phẩm” để đọc thêm trong tài liệu nghiên cứu lý luận “Việt Nam Trong Thế Chiến Lược Quốc Tế Mới”, tiểu mục “Phỏng vấn & Hội luận” để nghe Đài VOA phỏng vấn tác giả Thiện Ý năm 1995 về tác phẩm này.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn
DANH SÁCH TÁC GIẢ