BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 34485)
(Xem: 32877)
(Xem: 31182)
(Xem: 24397)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Điều tra đời sống nông thôn Bắc Việt Nam giai đoạn 1954-1975

28 Tháng Năm 199912:00 SA(Xem: 980)
Điều tra đời sống nông thôn Bắc Việt Nam giai đoạn 1954-1975
52Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
52

Phần I



Lời nói đầu

Hai nhóm cư dân nông thôn và thành thị vốn cùng là đối tượng điều tra, nghiên cứu trong đề tài “Lịch sử 50 năm kinh tế Việt Nam” mà phần việc mô tả đời sống nhân dân miền Bắc Việt Nam giai đoạn 1954-1975 do tôi thực hiện. Vì vậy trong bản thảo gốc, hai đối tượng này được đề cập đan xen, đôi lúc xoắn vào nhau không dễ tách ra. Trong Bài 1 - Điều tra đời sống cư dân đô thị Bắc Việt Nam giai đoạn 1954-1975 (gọi tắt là Bài 1)- tôi đã có đôi lần nhắc đến số liệu, sự kiện ở nông thôn và những vấn đề về y tế, giáo dục, văn học nghệ thuật, vốn là đặc điểm chung cho cả hai đối tượng. Bài này – Điều tra đời sống nông thôn Bắc Việt Nam giai đoạn 1954-1975 (gọi tắt là Bài 2) - chỉ coi như phần tham khảo, bổ sung cho Bài 1, do đó có thể sẽ không thật hoàn chỉnh.

So với bản thảo gốc, trong Bài 2, tên các tiểu đề mục được đặt lại, tư liệu được bổ sung từ những ghi chép điều tra, phỏng vấn hàng trăm nhân chứng được thực hiện năm 1998-1999 trước đây chưa công bố hết và một số ghi chép mới.

Kèm theo Bài 1, Bài 2, là phần phụ lục chung cho cả 2 đối tượng cư dân nông thôn và thành thị. Những số liệu thống kê trong bộ Niên giám thống kê nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (xuất bản năm 1975), vốn rất tản mạn trong nhiều mục tin, được tác giả lựa chọn, tổng hợp để minh họa cho những điều luận giải, đa phần đã được phân tích bằng lời trong Bài 1, Bài 2; còn trong Phụ lục được thể hiện ở dạng bảng và biểu đồ. (Bạn đọc có nhu cầu đọc Phụ lục xin liên hệ với Ban biên tập talawas, sẽ được cung cấp theo ủy quyền của tác giả.)

Nhân đây tác giả cũng xin có vài đính chính cho Bài 1:

Phần II, mục 2:

  • Nói về thu nhập bình quân đầu người năm 1961-1965, câu “Như vậy thu nhập của họ còn thấp hơn giai đoạn 1954-1960...” Xin sửa là: “Ta thấy thu nhập bình quân tuy cao hơn giai đoạn 1954-1960 chút ít, nhưng thu nhập thực tế lại thấp hơn, do gạo và nhu yếu phẩm cung cấp không đủ dùng, phải mua giá cao ở thị trường tự do.”

  • Nói về số lượng cán bộ y tế: “Năm 1960 toàn miền Bắc có 600 bác sĩ, 2.446 y sĩ, 231 dược sĩ cao cấp, 293 dược sĩ trung cấp. Năm 1961 những con số tương ứng là 1.525 - 8.043 - 428 và 703.” Xin sửa lại là năm 1961 và năm 1965.

  • Nói về giáo dục: “Số lượng học sinh phổ thông niên học 1960-1961 là 1.794.700 người”; xin sửa là: 1.899.600 người.


Phần III, mục 1: “Ngày 5/8/1954, khi chiếc tuần dương hạm Cơ Đốc…” Xin sửa là: “Ngày 5/8/1964, khi chiếc tuần dương hạm Maddox…”

Phần III, mục 5, vụ án Nguyễn Trí Tuyển năm 1974, xin sửa là năm 1970.

và một số sơ suất nhỏ về số liệu, xin xem lại ở Phụ lục.

Tác giả xin chân thành cám ơn sự quan tâm của talawas và bạn đọc.

Hà Nội 7/2005

Mục lục

I. Giai đoạn 1954-1960: Người cày có ruộng

  1. Nông thôn Bắc Việt Nam sau ngày giải phóng

  2. Cuộc cách mạng ruộng đất

  3. Mức sống và chất lượng sống


II. Giai đoạn 1961-1965: Tiếng gà thay bằng tiếng kẻng

  1. Khí thế nông dân

  2. Mức sống và chất lượng sống


III. Giai đoạn 1966-1975: Nguồn lực vô tận của chiến tranh

  1. Nông dân là quân chủ lực

  2. Đời sống thời chiến qua số liệu thống kê

  3. Đời sống thời chiến qua điều tra, phỏng vấn

  4. Phân hóa giàu nghèo sau lũy tre làng


Thay lời kết

I. Giai đoạn 1954-1960: Người cày có ruộng

1. Nông thôn Bắc Việt Nam sau ngày giải phóng

Chiến tranh chống Pháp kết thúc, có lẽ nông dân mới là lớp người hân hoan, sung sướng nhất. Thật vậy. Suốt 9 năm chống Pháp, người thành thị chỉ phải tản cư lâu nhất là 3 năm, trừ một số gia đình trí thức đi theo chính phủ kháng chiến lên Việt Bắc, vào Thanh Hóa và những thanh niên tòng quân, còn lại đa số đã hồi cư, sống trong sự an toàn của các đô thị do người Pháp kiểm soát. Đóng góp sức người, sức của cho chiến tranh khốc liệt chủ yếu là nông dân. Ở những vùng giáp ranh, nông dân còn phải chịu đựng các trận càn của lính lê dương (lính ở các nước thuộc địa) do sĩ quan Pháp chỉ huy. Làng mạc bị đốt, người và gia súc bị giết hại vô kể, phụ nữ còn bị hãm hiếp rất man rợ. Ở vùng Thị Cầu – Bắc Ninh, sau chiến tranh có đến hàng trăm đứa trẻ lai đen vì mẹ bị hãm hiếp trong các trận càn…

Ông NĐT, sinh năm 1930, ở thôn Đình Tổ, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, kể:

“Dọc bờ đê sông Đuống từ Thuận Thành đến Lương Tài có đến gần 70 đồn bốt của địch, chúng thường xuyên xua lính đi càn quét, tìm diệt du kích. Người và gia súc chết la liệt, thê thảm. Có nơi như bốt Á Lữ, ta phá xong thì địch tái chiếm, giằng co hàng chục lần, mỗi lần vài chục nông dân chết oan.”

Ở vùng đập Phùng (Đan Phượng – Hà Tây) có một đồn bốt khét tiếng về sự man rợ.

Ông TĐM, sinh năm 1928, ở xã Tân Lập, Đan Phượng – Hà Tây, kể:

“Hầu như tháng nào trên cọc rào dây thép gai ở bốt Phùng cũng có vài đầu lâu người bị bêu nắng. Người chết có khi là du kích, nhưng cũng có khi là nông dân hiền lành bị tình nghi mà chết oan khốc”.

Vì phải chịu bao nỗi thống khổ của chiến tranh nên người nông dân hơn ai hết cảm nhận được đầy đủ cái giá của hòa bình, độc lập, tự do, dân chủ. Họ đặt trọn niềm tin và hy vọng ở chế độ mới. Quan niệm về hạnh phúc của họ đơn giản chỉ là được sống yên ổn trên thửa ruộng của mình. Ngay cả trong hôn nhân, những người phụ nữ ở thôn quê cũng thật dễ tính và giàu lòng vị tha. Họ sẵn lòng vô tư nghe theo sự vận động của đoàn thể, tình nguyện tham gia những lễ cưới tập thể, nhận thương binh không hề quen biết làm chồng để ăn đời ở kiếp với nhau.

Bà ĐTH, sinh năm 1933, ở xã Nghĩa Dũng, huyện Yên Dũng – Bắc Giang, kể:

“Hồi ấy tôi và gần chục cô gái khỏe mạnh, ưa nhìn trong xã hăng hái đăng ký tự nguyện lấy chồng thương binh cụt tay hay cụt chân về chăm sóc. Người ta tổ chức một đám cưới tập thể cho tôi và những cô gái ấy với các anh thương binh tại đình làng, chỉ có ít bánh kẹo, rổ khoai sọ luộc chấm với mật, vài tiết mục văn nghệ ‘cây nhà lá vườn’…”

Truyền thống này có từ năm 1949 ở chiến khu Việt Bắc.

Ông V, dược sĩ cao cấp đã nghỉ hưu, hiện sống ở quận Phú Nhuận, TP. Hồ Chí Minh, kể:

“Trước Cách mạng tháng Tám, tôi là học sinh Hà Nội đã có bằng tú tài toàn phần. Chiến tranh nổ ra, tôi tham gia Trung đoàn cảm tử bảo vệ Thủ đô, chiến đấu suốt 60 ngày đêm trong nội thành, thuộc mặt trận Liên khu I. Khi rút lui ra ngoài tôi bị thương, dập nát một chân phải cắt cụt. Xuất viện, tôi là thương binh nặng, được điều về công tác tại Bộ Thương binh của bác sĩ Vũ Đình Tụng, một nhân sĩ yêu nước nổi tiếng. Năm 1949, cơ quan Bộ đóng ở xã Tân Thành, huyện Đồng Hỷ - Thái Nguyên. Tôi được một bà mẹ phúc hậu người làng Kim Liên – Hà Nội tản cư gần đó nhận làm con nuôi, chăm sóc như con đẻ. Khi địa phương có phong trào phụ nữ lấy chồng thương binh, tôi cũng phải theo anh em ra đình làng cho họ xem mặt, xấu hổ muốn chết. Đến lúc nhìn thấy các cô thôn nữ xếp hàng ra chỉ vào người nọ người kia nhận rằng sẽ lấy anh A, anh B thì tôi chỉ muốn độn thổ, giục mẹ nuôi dắt nhanh về nhà… Nhờ thế, sau này tôi lấy được bà vợ đúng theo nghĩa của tình yêu!...”

Nhìn chung, nông thôn miền Bắc những ngày đầu giải phóng thật tưng bừng náo nhiệt. Lòng người phơi phới, mong được sẻ chia. Nhịp sống yên bình, ngập tràn niềm vui và hạnh phúc như lời ca trong nhạc phẩm “Đêm thôn trang” của nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý: “…Không gian ngát hương – Lúa ngập cánh đồng – Nhìn bông lúa chín vàng dưới ánh trăng sáng soi … - Cười vang xóm thôn – Tiếng ai đập lúa nhanh nhanh – Thuyền xuôi bến sông – Chày ai giã gạo nhịp nhàng…” Giai điệu và ca từ của nhạc phẩm thật tuyệt đẹp!

2. Cuộc cách mạng ruộng đất

Cuộc cách mạng ruộng đất, còn gọi là cải cách ruộng đất (CCRĐ), trên thực tế đã được tiến hành từ năm 1953 ở những vùng tự do Thanh – Nghệ - Tĩnh và chiến khu Việt Bắc. Đến năm 1955-1956, nó được diễn ra đều khắp ở các vùng nông thôn Bắc Việt Nam. Cái chết tức tưởi, oan khuất của bà Nguyễn Thị Năm (1953), một địa chủ kháng chiến nổi tiếng ở Đại Từ - Thái Nguyên, tiếp đến những sai lầm trầm trọng và cung cách đối xử tàn bạo, phi nhân của các “ông Đội” ở nhiều địa phương (1955-1956) đã khiến nhiều người nhìn nhận sự kiện này chỉ thấy một màu đen tối. Ở góc nhìn kinh tế học và xã hội học, ta cần xem xét, đánh giá công bằng cả hai mặt được – mất, xấu – tốt của sự kiện này.

Trước hết nói về cái được về phương diện kinh tế. Qua CCRĐ đã có 81 vạn ha ruộng và hàng triệu trâu, bò, ngựa được đem chia cho 222 vạn hộ nông dân nghèo khổ vốn có rất ít ruộng, thậm chí tay trắng không tấc đất cắm dùi. Tính riêng các tỉnh vùng hạ lưu tả ngạn sông Hồng, mỗi nhân khẩu trong gia đình cố nông sau CCRĐ có 4 sào (sào Bắc Bộ), bần nông có 4 sào 2 thước, trung nông có 4 sào 12 thước [1 thước = 24 m2, 1 sào Bắc Bộ = 15 thước = 360 m2; 1 mẫu = 10 sào = 3.600 m2]. Nếu trung bình mỗi hộ có 5 nhân khẩu thì ruộng đất bình quân trong các hộ nông dân ở đây là 2 mẫu canh tác trở lên. (nguồn: Minh Tranh – Một số ý kiến về nông dân Việt Nam – Nxb Sự thật, 1961). Sự phân chia lại ruộng đất này, về mặt lý thuyết, có tác dụng giải phóng sức lao động, đảm bảo công bằng xã hội, kích thích năng lực sáng tạo để làm giàu của nông dân. Khẩu hiệu đầu tiên được nêu ra trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc là “Người cày có ruộng” nên đương nhiên sau ngày giải phóng miền Bắc, những người cộng sản phải thực hiện ngay khẩu hiệu đó. Lịch sử thế giới cũng đã chứng minh cuộc giải phóng nông nô vào thế kỷ 18 ở các nước châu Âu là một bước đi tiến bộ, hợp quy luật. Tréo ngoe ở chỗ, ngay trong vấn đề chia lại ruộng đất đã có sự không công bằng, thiếu tính nhân đạo rồi. Tài liệu thống kê cho thấy sở hữu ruộng đất tính theo đầu người trước và sau CCRĐ như sau:

  • Năm 1945: Địa chủ có 10.980 m2, phú nông có 4.200m2, trung nông có 1.450 m2, bần nông có 472m2 và cố nông có 112 m2.

  • Năm 1956: Địa chủ còn 730 m2, phú nông còn 1.730 m2, trung nông tăng lên 1.710 m2 và bần nông có 1.390m2, cố nông có 1.370m2.


(Nguồn: Nguyễn Quang Ngọc và những người khác – 1990.)

Như vậy, trước CCRĐ, địa chủ giàu hơn cố nông 98 lần (về mặt sở hữu ruộng đất), thì sau CCRĐ họ bỗng trở thành nghèo khổ nhất (730 m2 so với 1.370m2 của cố nông). Chỉ nhìn vào con số biết nói trên, ta đã thấy sự bất công, vô lý, xa rời với tính chất nhân đạo của cách mạng ruộng đất do chính những người khởi xướng đề ra. Ngoài ra, về vị thế xã hội, họ (địa chủ) bị rơi xuống đáy của xã hội ở nông thôn, bị xa lánh, ngược đãi và khinh rẻ. Sự lộng hành của các “ông Đội”, cộng với tâm lý đố kỵ của lớp người nghèo đã dẫn đến nhiều thảm cảnh kinh hoàng ở khắp các làng quê. Ta có thể tìm thấy những thảm cảnh ấy trong các tác phẩm văn học như Chuyện làng Cuội của Lê Lựu (Nxb Hội Nhà văn, 1993), Người đàn bà buồn của Nguyễn Phan Hách (Nxb Hội Nhà văn, 1994).

Nhưng đây mới chỉ đề cập đến sự đối xử bất công với một đối tượng thật sự giàu có, nhiều ruộng ở nông thôn, được tạm coi là thành phần địa chủ đích thực. Sai lầm của CCRĐ không chỉ dừng lại ở đó, mà còn đi xa hơn, dẫn đến nhiều nỗi oan sai, gây khiếp đảm lòng người suốt nhiều thập niên sau. Để hiểu rõ vấn đề này, có lẽ cần điểm qua vài nét về cấu trúc xã hội và sự phân tầng ở nông thôn Bắc Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ 20.

Làng quê Việt Nam nói chung và đồng bằng châu thổ sông Hồng nói riêng được nhiều nhà nghiên cứu xã hội học, nhân loại học, sử học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Có thể kể ra một vài tác giả quan trọng mà tôi thấy hứng thú: P.Gourou, Yves Henry (Pháp), In Sun Yo (Hàn Quốc), Trần Tự, Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn, Tô Duy Hợp, Nguyễn Quang Ngọc (Việt Nam). Từ xa xưa trong lịch sử, vào thời Lý-Trần, làng đã thật sự trở thành đơn vị hành chính, một mặt thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ sưu thuế, lao dịch, quân dịch…, mặt khác nó hình thành cơ chế tự quản cả về kinh tế, văn hóa theo quan hệ họ tộc thân thiết. Vậy nên quan hệ giữa chủ ruộng (địa chủ, phú nông) với người nhận ruộng cấy rẽ, nộp tô nói chung không quá tàn tệ, hà khắc như ở Trung Quốc. Thiết chế văn hoá làng xã với những đặc thù mang tính chất dân chủ sơ khai kiểu cộng hòa La Mã cổ đại ở phương Tây là nét độc đáo của nông thôn Bắc Việt Nam. Theo thiết chế này, Hội đồng kỳ biểu giống như “chính phủ” của làng, đại diện là lý trưởng, còn Hội đồng tộc biểu giống như “quốc hội” của làng, gồm đại diện các họ tộc, giám sát hoạt động của Hội đồng kỳ biểu. Do đó, thiết chế này cũng góp phần ngăn chặn những điều tàn tệ trong cách đối xử với bần cố nông nghèo khổ của các hào lý và địa chủ trong làng, trong tổng. Ở đồng bằng sông Hồng, theo kết quả nghiên cứu của P.Gourou, đến nửa đầu thế kỷ 20, có 7.000 làng, diện tích cỡ 200 ha, làng lớn nhất 500 ha, nhỏ nhất 50 ha. Dân số mỗi làng cỡ 1.000 người, làng lớn có thể tới 5.000, thậm chí 10.000 người. Với những đặc điểm như vậy, theo các học giả trong và ngoài nước đã nói ở trên, sự tích tụ ruộng đất vào tay các nhà giàu là không lớn, có thể nói là rất nhỏ so với ở Trung Quốc hoặc đồng bằng sông Cửu Long ở miền Nam. Sai lầm tệ hại nhất của CCRĐ, cũng là nguồn gốc sâu xa của nhiều sự kiện bi thảm, nghịch cảnh trớ trêu, xảy ra ở nông thôn miền Bắc trong giai đoạn này, là sự giáo điều áp đặt một cách ấu trĩ tỉ lệ 5% (hộ dân) là địa chủ ở mỗi làng theo kinh nghiệm của Trung Quốc. Cùng với việc quy chuẩn thành phần địa chủ là có tài sản 3 mẫu ruộng/đầu người thì 5% địa chủ lại càng vô lý. Vào thời đó, mỗi gia đình giàu có ở nông thôn miền Bắc thường có từ 5-7 con, cộng với cha mẹ là 7-9 người/1 hộ. Như vậy, muốn xếp họ vào thành phần địa chủ, sở hữu ruộng đất của mỗi hộ phải có 20-30 mẫu. Cần lưu ý, mức tích tụ ruộng đất 20-30 mẫu/1 hộ cũng vẫn là nhỏ so với Nam Bộ, chưa đáng quy kết vào giai cấp địa chủ, nhưng ở nông thôn miền Bắc vào thời điểm 1955-1956, không dễ gì tìm cho đủ 5% hộ dân của mỗi làng đạt được con số đó. Các “ông Đội” đa số vô học, lại được giao quyền lực vô biên, muốn có thành tích với cấp trên, nên đã tìm mọi cách xúi giục bần cố nông tố điêu, ăn không nói có, đổi ơn thành oán… và thậm chí ép buộc ngay con dâu tố bố chồng, con rể vu oan cho nhạc phụ…, kết cục là tiếng oan dậy đất, tội ác ngất trời.

Xét từ nguồn vốn tích tụ ruộng đất, theo điều tra, phỏng vấn của chúng tôi, có mấy loại đối tượng oan khuất trong CCRĐ như sau:

a) Những người đã từng làm việc trong hệ thống chính quyền cấp cơ sở ở nông thôn thời thuộc Pháp, có của ăn của để. Ở đồng bằng và trung du Bắc Bộ là quan huyện, chánh tổng, lý trưởng…; ở vùng thượng du là các quan châu, quan lang, phìa, tạo… Xét theo quan điểm đấu tranh giai cấp của những người cộng sản, và trong thiết chế xã hội lấy chuyên chính vô sản làm nền tảng, thì nhóm đối tượng này cần phải thẳng tay chuyên chính. Tuy nhiên, trong số đó vẫn có người làm việc cho Pháp chỉ vì bị ép buộc, hoặc có nhiều người do chính tổ chức cách mạng ở địa phương bố trí ra làm việc để che chở cho cán bộ Việt Minh và du kích. Những người này vẫn bị quy là địa chủ cường hào ác bá chỉ vì họ giàu hơn người khác, bị đem ra đấu tố, đánh đập có khi đến chết, hoặc bị xử bắn, treo cổ như trường hợp ông nội của nhân chứng NĐT (đã dẫn ở Bài 1, phần I, mục 1). Trong nhóm này còn có những địa chủ kháng chiến, hết lòng ủng hộ Việt Minh, nuôi giấu cán bộ hoạt động bí mật thời kỳ tiền khởi nghĩa cũng bị đấu tố, đánh đập, thậm chí xử bắn như bà Nguyễn Thị Năm đã nói ở trên. Liên quan đến mẫu đối tượng địa chủ như bà Năm lại có cả hàng ngàn con cái họ đi theo cách mạng, lập nhiều thành tích, đã bị đối xử bất công, phi nhân tính. Kết quả là vào thời đó có khoảng 800 đảng viên trung kiên, có trình độ học vấn, bị sát hại và các “ông Đội” tùy tiện kết nạp thêm 2 vạn đảng viên bần cố nông, trong đó có không ít đảng viên cố nông thuộc dạng vô sản lưu manh ở nông thôn, đúng theo nghĩa của từ này theo chính định nghĩa của học thuyết Mác. Sau CCRĐ, số này nắm quyền lực, lộng hành còn hơn hào lý ngày xưa. Con cái họ được học lên cao, mang nhãn trí thức, nhưng cái chất lưu manh, “chất hủi” thì có sẵn trong máu. [Đó cũng là nội dung tư tưởng truyện ngắn “Thằng Hủi” của tôi công bố năm 1998, trong thời gian tôi tiến hành điều tra về nông thôn.]

Ông NVL, sinh năm 1934, ở thôn Chúc Động, thị trấn Chúc Sơn, huyện Chương Mỹ - Hà Tây, kể:

“Cha tôi là người có uy tín không chỉ trong làng mà khắp cả vùng, từ bến đò Mai Lĩnh đến chợ Cống dọc đường quốc lộ 6 dài hơn 10 km đều biết tiếng, vì cụ học vấn uyên thâm, ăn ở đức độ. Năm 1947, cụ được Cách mạng vận động ra làm lý trưởng để che mắt địch, giúp đỡ rất nhiều cho kháng chiến. Ruộng đất nhà tôi chỉ có 5 mẫu, 3 sào, sân vườn và ngôi nhà mái ngói hiên Tây chừng 2 sào nữa. Năm 1955 cụ bị đấu tố, tra tấn dã man đến chết trong nhà giam ở hậu cung đình làng. Tài sản bị tịch thu hết từ cái nồi đồng trở đi. Anh tôi đang làm cán bộ cấp huyện cũng bị mất chức, trói tay dẫn giải về làng chịu đấu tố. Hai chị gái tôi phải đi mò cua bắt ốc kiếm ăn rất cơ cực và phải ở vậy đến già.”

b) Những người từng đi lính thuộc địa cho Pháp, sang châu Âu tham gia thế chiến thứ nhất (1914-1918). Khi hồi hương về nước họ được lĩnh một số tiền khá lớn nên tậu ruộng đất ở quê, nhà cửa xây theo lối kiến trúc ảnh hưởng của miền Nam nước Pháp khá đẹp. Họ được chánh tổng, lý trưởng ở quê vị nể, lại biết nói tiếng Tây (tuy giọng bồi) nên lính Pháp cũng không dám gây sự. Vì có thời gian ở bên Pháp, chịu ảnh hưởng tư tưởng tự do dân chủ của châu Âu, nên họ đối xử khá thân thiện, bình đẳng với người nghèo đến làm thuê, hay người nhận ruộng cấy rẽ, nộp tô. Nói chung họ chỉ giàu có trên mức bình thường ở làng, không gây tội ác, nhiều người còn đóng góp cho làng xóm, cho kháng chiến, nhưng họ hoặc con cái vẫn bị quy là địa chủ, có nhiều liên quan đến đế quốc, phong kiến.

Ông VHT, sinh năm 1944, giảng viên đại học, quê ở làng Ngọc Thành, xã Vĩnh Thành, huyện Yên Thành – Nghệ An, hiện sống ở Mai Dịch – Hà Nội, kể:

“Quê tôi ở miền Tây Nghệ An có sông Dinh, rú Gấm, đất đai phì nhiêu, lâm sản phong phú, nhưng dân lại rất đói nghèo. Ông nội tôi (sinh năm 1886) cùng hai em trai bị bắt lính sang đánh thuê cho nước Pháp trong thế chiến thứ nhất, sau đó ở lại nước Pháp, đến năm 1922 cả 3 cụ mới hồi hương. Về quê, các cụ bỏ tiền ra khai hoang làm giàu cho cả họ Võ ở làng Ngọc Thành. Người họ Võ ai cũng được học hành đỗ đạt cao, được dân làng kính trọng. Hàng năm, vào kỳ giáp hạt (tháng 3, tháng 8 âm lịch) ông tôi thường tổ chức phát chẩn, cứu đói cho cả làng. Kẻ ăn, người ở vào làm thuê cho nhà họ Võ vài năm là có quần áo đẹp, tiền vàng tích cóp để về quê xây dựng cuộc sống mới. Năm diễn ra CCRĐ, làng tôi có 200 hộ, không tìm đâu ra người có chút máu mặt để quy thành phần địa chủ, ngoài các gia đình họ Võ. Nhưng cả làng ai cũng chịu ơn họ Võ nhà chúng tôi, không ai muốn đấu tố trong cuộc họp phát động đấu tranh của các “ông Đội”. Ban chỉ huy đội cải cách liền tỏa đi vào các nhà dân vừa xúi giục, kích động vừa ép buộc một số người dựng đứng lên các tội tày đình, đến con nít trong làng cũng không thể tin được, gán cho các gia đình họ Võ. Nực cười nhất là ông bác tôi bị mắc bệnh liệt dương từ năm 1936 mà có chị cố nông năm ấy mới 17 tuổi lại vu cáo ông hãm hiếp mẹ mình, đẻ ra chị ta rồi độc ác cho bà ấy ăn bả chuột để phi tang, để chị ta chịu cảnh mồ côi, tứ cố vô thân. Cuối cùng họ cũng tìm đủ mọi cách đưa 10 hộ họ Võ vào diện địa chủ, tay sai đế quốc cho đủ 5%, 3 trong số 10 người bị xử bắn, số còn lại bị đánh đập dã man, có hai người chịu đựng không nổi và vì uất quá mà đập đầu tự tử.”

c) Đối tượng thứ ba có khả năng tích tụ ruộng đất là các thầy lang hoặc giáo chức trường làng, trưởng tổng. Họ là những người làm nghề lương thiện, chỉ có một tội duy nhất là giàu hơn người khác, ăn mặc đẹp, nhà cửa khang trang, có ruộng đất nhưng không nhiều, thường là 5-7 mẫu ruộng/1 hộ. Để đạt hoăc vượt chỉ tiêu 5%, các “ông Đội” thường xúi giục quần chúng quy họ là Việt gian, chỉ điểm cho Tây, tham gia quốc dân Đảng… Oan nghiệt ở chỗ vì không quy vào tội địa chủ cho họ được nên đánh tráo sự thật, vu họ là Việt gian, thì họ lại càng dễ chết một cách thê thảm.

Ông NVV, sinh năm 1947, hiện sống ở làng Đông Thái, nay thuộc phường Bưởi, quận Tây Hồ - Hà Nội, kể:

“Làng Đông Thái xưa thuộc tổng Bưởi, năm CCRĐ thuộc xã Thái Đô, ngoại thành Hà Nội, nên tôi được chứng kiến mọi sự khiếp đảm của CCRĐ ở nông thôn. Hồi ấy tôi còn ở tuổi thiếu nhi, đi đánh trống ếch khắp làng, cổ động mọi người ngồi xếp hàng nghe đấu tố và xét xử tại chỗ các đối tượng. Xã Thái Đô ruộng ít, chủ yếu sống bằng nghề thủ công: An Phú có nghề làm kẹo mạch nha; các làng Nghĩa Đô, Bái Ân, Trích Sài, Võng Thị có nghề dệt; các làng Yên Thái, Đông Thái, Hồ Khẩu có nghề làm giấy. Vì ít ruộng nên chẳng có hộ nào là địa chủ cả. Đối tượng bị đấu tố ngoài cụ Chánh Khiêm là các ông lang Bách, lang Dương, giáo Bảy, giáo Ngọ… Nơi đấu tố và xét xử là bãi chợ Bưởi và bãi nhãn ở Nghĩa Đô. Ai họ cũng kết tội Việt gian chỉ vì người ta giàu có, ở nhà 2 tầng mà thôi. Phiên tòa xét xử cũng có đủ chánh tòa, công tố viên, thẩm phán, hội thẩm nhân dân, nhưng chánh tòa và công tố viên là các “ông Đội”, còn lại các vị khác đều là phụ nữ, chữ nghĩa bẻ đôi không biết, giỏi ăn điêu, nói hớt như các bà Lợi môi thâm, bà Tư Đối mắt trắng dã, bà Hai Bình móc cống… Những người lên tố khổ, kể tội đa phần là loại người có tiếng lưu manh trộm cắp hay kẻ nát rượu, quen ăn vạ giữa làng. Một số đang còn tuổi thiếu nhi, hỷ mũi chưa sạch mà sao chúng nó biết lắm chuyện của người lớn thế. Tệ nhất là thằng H, chỉ hơn tôi 2 tuổi, mà có lẽ do các “ông Đội” mớm lời, cứ xưng xưng kể tội ông lang Bách, cụ Chánh Khiêm (là ông ngoại của H) và ông giáo Bảy (chú họ xa của H). Cuối phiên tòa, bà Lợi môi thâm cầm giấy do ai viết sẵn hóa thành đọc ngược, sao vẫn đọc trôi chảy mới lạ. Sau đó một “ông Đội” dõng dạc tuyên án tử hình cụ Chánh Khiêm và ông lang Bách. Thương nhất là ông lang Bách 60 tuổi, đứa trẻ ranh lên kể tội gì cũng đáp: “Bẩm ông, con trót dại ạ! Con xin nhận hết tội”. Ngỡ là nhận thì được khoan hồng, đến khi tòa tuyên bố tử hình, mặt ông xám ngắt, chân cứng lại, du kích phải xách nách lôi ra cuối bãi nhãn bắn đòm mấy phát. Ngôi nhà ông lang Bách ở ngay bến xe điện nơi cổng làng Hồ bây giờ vẫn còn. Nghe nói đêm nào ma cũng hiện về ngôi nhà ấy khóc lóc, đòi mạng…”

d) Truyền thống bám ruộng, nhớ làng của những người nông dân rời quê ra thành phố làm ăn cũng dẫn đến tích tụ ruộng đất ở nông thôn. Những người khá giả về làng tậu ruộng (thường là 5-10 mẫu), xây nhà thờ tổ to đẹp rồi chọn người ruột thịt, thật thà, hiền lành ở quê giao cho quản lý tài sản. Khi giải phóng miền Bắc, họ di cư vào Nam thì người thân trực tiếp quản lý nhà thờ và ruộng đất bị quy thành phần địa chủ hay Việt gian, phản động.

Ông PHT, quê ở huyện Ninh Giang-Hải Dương, hiện sống ở Hà Nội, kể:

“Quê tôi gần nhà thờ Sặt, là đất công giáo, dân khá giàu vì có nghề kim hoàn và phụ nữ còn rất giỏi buôn bán. Người làng ra Hà Nội làm ăn khá giả rất đông, đa số ở phố Hàng Bạc và nhà nào cũng có 5-10 mẫu ruộng ở quê. Trong họ nhà tôi có cụ PVL thật thà như đếm, nhút nhát đến mức không dám cầm dao cắt tiết gà bao giờ. Cụ L được em trai ở phố Hàng Bạc giao cho việc quản lý 12 mẫu ruộng, nên cụ bị quy là địa chủ cường hào ác bá giết nhiều Việt Minh, du kích và bị xử bắn.”

*

Trên đây là những khảo sát của chúng tôi về 4 nhóm đối tượng tích tụ ruộng đất điển hình bị kết tội oan sai trong CCRĐ. Ở thời điểm cuối thế kỷ 20, nông thôn Việt Nam lại đang diễn ra quá trình tích tụ ruộng đất, nhất là ở đồng bằng sông Cửu Long và vùng trung du Bắc Bộ. Nó thật giống như trường hợp của ông nội nhân chứng VHT (Yên Thành – Nghệ An) bị đánh cho đến chết (1955), hay trường hợp bà Nguyễn Thị Năm (Đại Từ-Thái Nguyên) bị xử bắn (1953). Nhưng giờ đây, những ông chủ tích tụ ruộng đất như thế lại được coi là điểm sáng của mô hình kinh tế trang trại, có người được tuyên dương là anh hùng lao động, chiến sĩ thi đua thời kỳ đổi mới. Điều đó càng chứng tỏ sai lầm tệ hại trong CCRĐ dưới góc nhìn thuần túy kinh tế học, xã hội học là trái với quy luật và đạo lý dân tộc. [Có một điều khó hiểu là trong tác phẩm Cát bụi chân ai, nhà văn Tô Hoài kể lại là vào thời đó ông và khá nhiều nhà văn được cử đi tham gia các đội CCRĐ, sao không thấy ai bằng sứ mạng của văn chương lên tiếng trước thực trạng bi thảm này?]

3. Mức sống và chất lượng sống

Như đã phân tích, cuộc cách mạng ruộng đất ở nông thôn Bắc Việt Nam với khẩu hiệu “Người cày có ruộng” mặc dù có nhiều sai lầm nghiêm trọng, nhưng xét toàn cục về mặt kinh tế vẫn là một sự kiện tiến bộ. Việc đem 81 vạn ha ruộng và hàng triệu trâu bò chia cho 222 vạn hộ (cỡ hơn chục triệu nông dân), tiếp theo đó là phong trào đổi công, vần công và mô hình hợp tác xã giản đơn cấp xóm, cấp thôn, đã có tác dụng kích thích sản xuất nông nghiệp rõ rệt, nâng cao mức sống cho các hộ nông dân nghèo khổ. Trong các tài liệu, sách báo còn lưu giữ được ở Thư viện Quốc gia, tôi thấy hứng thú và tin tưởng một tài liệu điều tra, khảo sát của tác giả Lê Nghiêm, Cuộc sống mới của nông dân sau CCRĐ (Nxb Sự thật, 1955). Vùng Thái Nguyên là địa bàn thuộc khu căn cứ kháng chiến nên CCRĐ diễn ra sớm hơn các nơi khác. Tác giả Lê Nghiêm đã khảo sát vụ mùa đầu tiên sau CCRĐ (10/1955). 53 xã thuộc các huyện Đồng Hỷ, Đại Từ, Phú Bình đều đạt năng suất cao hơn vụ mùa năm 1954 (đạt khoảng 70-75 kg thóc/sào). Những nông dân trước đây không một tấc đất cắm dùi, nay được chia mỗi khẩu 5 sào ruộng, lại có trâu cày, nhà ở. Tính chung cả huyện Đại Từ, sản lượng vụ mùa năm 1955 tăng 10-20% so với năm 1954. Anh Khoan ở xã Hùng Sơn năm 1954 cấy 2 mẫu 7 sào chỉ thu được 47 nồi, năm 1955 tăng lên 67 nồi (một nồi là 10 ca hay 15 kg thóc).

Những đoạn văn dưới đây của tác giả Lê Nghiêm đã mô tả khá sinh động và chi tiết mức sống của cư dân nông thôn trong 53 xã thuộc vùng ông khảo sát:

“Chiều hôm đó, tôi ăn cơm ở nhà bà cụ Đám, xã Hoàng Sơn, bữa ăn có thịt lợn, có cá mắm, có hoa chuối nấu. Một nồi đồng cơm trắng tinh, thơm phức mùi lúa mới. Chẳng bù cho ngày xưa, bà chỉ muốn mua mấy đấu muối làm dưa mà không bao giờ có đủ tiền mua một đấu muối đầy. Năm nay thóc lúa gặt về không phải nộp tô cho địa chủ, bà cụ Đám lại có đủ tiền mua hẳn một nồi (10 đấu) muối…

Tôi đến nhà bà Thủ, một bần nông, rồi bác Lan, một trung nông, đều theo công giáo. Mọi người đều vui vẻ, phấn khởi vì đủ cơm ăn, áo mặc, ruộng cày. Bà Thủ từ ngày cải cách đến giờ cũng sắm được 2 cái màn, 1 cái cuốc, 1 cái cày, 1 con dao quắm, 1 nồi đồng và 3 bộ quần áo mới bằng vải trúc bâu, 1 đôi chiếu, 1 chăn bông bọc vải hoa, 1 con lợn giống Móng Cái. Bà lại được chia thêm con nghé, có tiền cưới vợ cho thằng con trai lớn… Bác Lan là trung nông nhưng vẫn cấy rẽ nộp tô cho địa chủ, trong cải cách bác được chia thêm một mẫu ruộng và 70 nồi thóc.”

Quan sát mức sống và nhịp sống ở nông thôn sau CCRĐ có lẽ rõ nét nhất là qua các chợ quê. Nhà bác học Nguyễn Bỉnh Khiêm (thế kỷ 17) từng nói rất chí lý: “Cứ xem nét mặt đàn bà, con gái ở quê đi chợ sẽ biết lẽ thịnh suy của nước”. Trong sách đã dẫn của tác giả Lê Nghiêm, có đoạn về chợ quê thời đó khá chân thực và lý thú:

“Phiên chợ Mụ họp giữa ban ngày [thời chiến tranh phải họp đêm – VNT chú giải], người đông ngàn ngạt, chen vai thích cánh nhau như phiên chợ cuối năm. Bà con nông dân từ xã Độc Lập, xã Tân Thái đổ về, xã Hùng Sơn kéo ra. Hàng hóa bày la liệt cầu chợ. Từng dãy hàng tạp hóa, hàng nồi đồng, hàng chiếu, hàng bát đĩa, gà vịt, cá tôm, mắm muối… Các bà lão, các chị nông dân, các em nhỏ gọn gàng trong bộ quần áo mới, tấp nập gánh gạo, nồi cám, buồng cau, nải chuối ra chợ bán. Tiếng cười nói ồn ào, huyên náo. Họ kháo nhau:

  • Gạo vẫn vững giá, lại có phần hạ đi rồi đấy.

  • Nông dân sau cải cách được mùa có khác.

  • Thật các bà buôn bán ở thị trấn giờ ăn đong cũng sướng.

  • Cứ đà này chẳng mấy chốc dân ta giàu, nước ta mạnh.”


Thật ra, mức sống của nông dân miền Bắc thời ấy, qua những điều mô tả trong cuộc điều tra của Lê Nghiêm, vẫn còn rất thấp, chỉ đủ ăn no và mua sắm vài dụng cụ lao động, phương tiện sinh hoạt tối thiểu. Song cũng không thể phủ nhận, vào thời điểm 1955, đó là sự tiến bộ không nhỏ. Từ năm 1959-1960, các số liệu của ngành thống kê tuy còn rất sơ lược, kém chính xác, nhưng đã cung cấp cho ta một vài chỉ báo khá lý thú về mức sống, chất lượng sống của nông dân miền Bắc. Năm 1960, thu nhập bình quân thực tế theo đầu người của các hộ nông dân đạt 10,9 đồng/tháng. Mức thu nhập này mới chỉ bằng 51,7% so với các hộ viên chức ở thành phố. Tuy nhiên, do được làm chủ ruộng đất canh tác, tự do chăn nuôi và buôn bán ngoài chợ nên cơ cấu khẩu phần ăn từng người nông dân trong một tháng đã có sự cải thiện: lương thực quy gạo 16,03 kg, thịt các loại 0,44 kg, cá 0,38 kg, trứng 0.4 quả, nước chấm 0,15 lít.

Về điều kiện ở, trước năm 1954 có đến 90% nông dân sống trong các nhà gianh vách đất, nơi ngủ là các chõng tre hay ổ rơm, đặc biệt khổ là nông dân ở Nghệ Tĩnh, Quảng Bình. Đến năm 1960, ở đồng bằng sông Hồng đã có 20-25% số hộ có nhà lợp ngói, 30% nhà gianh vách đất đã có sân gạch, bể nước.

Ông NĐT (Bắc Ninh, đã dẫn) nói:

“Từ những năm 1958-1960, dân Đình Tổ nói riêng và cả huyện Thuận Thành-Bắc Ninh nói chung đã bắt đầu mơ đến nhà ngói, sân gạch, bể nước, điều mà suốt 50 năm đầu thế kỷ ít ai dám nghĩ đến”.

Lời ông NĐT thay cho kết luận về đời sống nông thôn miền Bắc vào giai đoạn nhạy cảm sau cuộc sửa sai CCRĐ.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn