BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 74717)
(Xem: 62527)
(Xem: 39858)
(Xem: 31445)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Duyên Anh và Tôi (Tựa-1-2-3-4-5-6)

24 Tháng Bảy 200912:00 SA(Xem: 11883)
Duyên Anh và Tôi (Tựa-1-2-3-4-5-6)
515Vote
40Vote
30Vote
22Vote
10Vote
4.617


CHƯƠNG 1


Bấy giờ khoảng tháng 11, 1965. Một buổi chiều tại tòa soạn Nhật Báo Sống. Tầng lầu thứ nhất của căn phố gần góc đường Gia Long-Thủ Khoa Huân chật ních độc giả ái mộ Duyên Anh, đa số là những người trên dưới hai mươi. Đây là lần đầu tiên, tòa soạn tổ chức một buổi họp mặt đặc biệt để Duyên Anh gặp gỡ độc giả của anh. Hôm đó, Duyên Anh mặc sơ mi tay dài màu rượu chát, khoác áo veste xanh đậm. Anh cười nói luôn miệng, bàn tay thoăn thoắt ký tên trên hàng trăm tấm thiệp đủ màu, in hình hoa và phong cảnh, báo Sống tặng cho tất cả những người tham dự. Bấy giờ, tên tuổi Duyên Anh bắt đầu được nhiều người biết đến với những truyện dài đăng trên các nhật báo Xây Dựng, Sống, và một số phóng sự thời đại như Tiền Mẽo, Sến Việt , Đầm Giao Chỉ , ...ký bút hiệu Thương Sinh, Thập Nguyên, viết về những đổi thay xã hội, chính trị, văn hóa...trong sinh hoạt miền Nam, sau cuộc đảo chánh lật đổ chế độ của Tổng Thống Ngô Đình Diệm. Tôi đọc Duyên Anh lần đầu tiên khoảng 1961 hay 1962, trên Chỉ Đạo, một tạp chí chính trị, văn hóa có hạng thời ấy, do nhà văn Nguyễn Mạnh Côn làm chủ bút. Chính Nguyễn Mạnh Côn là người đầu tiên khám phá tài năng Duyên Anh, và đưa anh ra làm quen với độc giả. Truyện ngắn Hoa Thiên Lý của anh, và sau đó, Con Sáo Của Em Tôi, đăng trên Chỉ Đạo, với lối hành văn giản dị, trong sáng, đầy ắp rung động, đã chinh phục tôi ngay.

Từ buổi gặp gỡ lần đầu ở toà soạn Sống, chúng tôi mỗi ngày một thân thiết hơn. Duyên Anh mời tôi đến chơi nhà anh ở ngõ cư xá Chu Mạnh Trinh, tòa soạn Con Ong, Tuổi Ngọc, Công Luận, và căn biệt thự xinh xắn 225 B Công Lý.

Tết Mậu Thân, Việt Cộng chiếm đóng Huế. Họ đã bắt đi và giết tập thể khoảng năm ngàn quân nhân, công chức và thường dân. Khi quân lực VNCH phản công và đuổi quân Việt Cộng khỏi thành phố, có tin Thượng Toạ Thích Đôn Hậu cũng đi lên núi theo họ. Về sau, nhiều người bảo ông chỉ bị họ ép đi theo thôi; sự thực thế nào, tôi chẳng xác nhận được. Nhưng vào thời điểm 1968, một số dư luận cho là ông vào bưng gia nhập hàng ngũ cộng sản. Với óc trào lộng sẵn có, dưới cột phóng sự của anh, Duyên Anh ra câu xuất " Thích Đôn Hậu Thích Cộng Sản ", mời độc giả gửi câu đối về, và hứa tặng bốn tiểu thuyết của anh cho câu đối nào nghe được nhất.

Khoảng ba bốn hôm sau, tôi gọi điện thoại đến toà soạn cho Duyên Anh, hỏi anh nhận được câu nào ưng ý chưa. Duyên Anh bảo:

- Anh nhận được khá nhiều, nhưng chưa câu nào hoàn toàn cả.

Tôi nói:

- Anh nghe thử câu này nhé: "Thân Trọng Kỳ Thân Kiều Chinh."

Có tiếng cười sảng khoái ở đầu giây bên kia:

- Được lắm ! "Thân" đối với "Thích", "Trọng Kỳ" trắc bằng đối với "Đôn Hậu" bằng trắc, "Kiều Chinh" bằng bằng đối lại với "Cộng Sản" trắc trắc. "Thân" và "Thích" vừa là họ, vừa là động từ. Được lắm !

Thực ra, cho đến bây giờ, ba muơi năm sau, tôi cũng chẳng biết ông đạo diễn Thân Trọng Kỳ có quen biết hay thân thiết với nữ tài tử Kiều Chinh không. Tôi chỉ biết hai người cùng ở trong giới điện ảnh nên chợt nhớ đến tên họ và ghép lại thành câu đối cho vui vậy thôi. Nhưng sau đó, Duyên Anh cho đăng câu đối này vào cuối mục phóng sự, và cũng kể từ dạo ấy, mỗi lần in cuốn tiểu thuyết nào mới, anh đều để dành một bản đặc biệt cho tôi.

Những năm cuối thập niên 60, đầu 70, Duyên Anh tung hoành trên Con Ong, tờ báo trào phúng độc nhất vô nhị trong lịch sử báo chí Việt Nam. Chủ nhiệm tờ này, ký giả Minh Vồ, một người có thể giỏi về giao tế, nhưng viết lách cũng tầm thường thôi. Thành phần chủ lực của Con Ong vẫn chỉ là Duyên Anh, xuất hiện dưới các bút hiệu Thập Nguyên , Thương Sinh, Nã Cẩu, Bếp Lớn, Bếp Nhỏ, và Lệnh Hồ Xung. Thường xuyên cộng tác với Con Ong là những tên tuổi Dương Hùng Cường (ký tên Dê Húc Càn), Thợ Đấu Hoàng Anh Tuấn, họa sĩ Lữ Hồ vẽ tranh hài hước (ký tên Lữ Bố), và Công tử Hà Đông, tức Gã Thâm, hai bút hiệu viết phóng sự của nhà văn Hoàng Hải Thủy.

Về sau, khi đã nghỉ viết Con Ong, Duyên Anh kể câu chuyện này cho tôi nghe, có lẽ cũng vài lần, nên tôi còn nhớ. Anh nói:

- Hồi ấy, Đinh Trịnh Chính được làm Ủy Viên Thông Tin, và đẻ ra cái "Sở Phối Hợp Nghệ Thuật", thực chất chỉ là chỗ để kiểm duyệt báo chí thôi. Dĩ nhiên, Con Ong được chúng nó chiếu cố nhiều lần; có bận , anh phải cho để trắng nguyên một trang, mà mình còn phải in mấy chữ " Tòa Soạn Tự Ý Đục Bỏ" mới khôi hài chứ! Thằng Minh Vồ sợ báo bị đóng cửa, dặn anh phải viết cho cẩn thận. Nó còn bắt anh đưa bài cho nó xem trước, coi có gì phạm húy không, rồi mới giao cho thợ xếp chữ. Một hôm, anh viết bài tán dương chủ trương trồng mía làm đường của Âu Ngọc Hồ, trong đó có câu " Ở vùng quê, người ta dùng trâu kéo để ép mía. Sức kéo của trâu khỏe lắm, có thể làm căng mật ra đường.....", để thử xem Minh Vồ, và mấy bọn ở Sở Phối Hợp Nghệ Thuật có hiểu không. Kết quả, đúng như anh đoán, chúng nó ngu quá, không hiểu mình muốn nói cái gì hết !

Cũng trên Con Ong, Duyên Anh hay đặt lời lại cho những bản nhạc phổ thông, phần lớn là các bản thời tiền chiến, để lố bịch hóa những nhân vật trong các phóng sự của anh. Trong phóng sự Trảm Tu Lệ Sử, kể lại cuộc chiến giữa hai phe Ấn Quang và Việt Nam Quốc Tự, anh tạo ra một nhân vật thầy chùa chuyên tẩm bổ bằng cam, lê, nho, táo, bồ câu chưng yến, và có tài mê hoặc các nữ Phật tử sồn sồn. Đây là đoạn mô tả lúc ông sư hổ mang đang ra sức truyền tâm ấn cho một nữ đệ tử ở phòng riêng, và lời đệ tử nói với thầy, nhái theo điệu Con Thuyền Xa Bến của Lưu Bách Thụ, sửa lời đi:
 Đang hứng thầy ơi, cớ sao lại thôi?
Cái dùi dẹp rồi, đau đớn lòng con...

Thuở ấy, cũng là lúc các mệnh phụ có cái mốt đi vào bệnh viện Cộng Hòa "ủy lạo" chiến sĩ bị thương nằm trong đó. Một bữa kia, bà thủ tướng đi thăm thương bệnh binh; chuyến đi thăm này đã được Duyên Anh tường thuật và ca tụng trên báo. Bài báo kết thúc bằng câu hát nhái theo bài hát trẻ con Frères Jacques, thường được các cô mẫu giáo dạy các em hát thành Giờ Chơi Đến Rồi.
 Bà thiếu tướng ..., bà thiếu tướng...
Giầu tình thương, giầu tình thương
Công đức kia, ai hơn bà, công đức kia ai hơn bà
Công bà to, Ơn bà to !

Sau hôm báo ra chừng một tuần, Duyên Anh cười khà khà, bảo tôi:

- Anh nghe tụi nó nói, vợ chồng K. khoái lắm, tưởng anh khen thật. Chúng nó đâu có biết là anh xỏ lá!

Tôi nói:

- Anh muốn chơi chữ công đức, như ngày xưa cụ Nguyễn Khuyến dùng để ca tụng một bà Me Tây ở Hà nội, nhân dịp bà này được vua ban bốn chữ Tiết Hạnh Khả Phong, và bà tổ chức khao vọng tưng bừng phải không ?

Duyên Anh gật gù, vừa nói vừa cười:

- Phải rồi, mẹ chúng nó, ngàn năm công đức của bà to. Nó to như vậy đó!

Mùa hè 1970, Duyên Anh thụ huấn quân sự mấy tuần ở Trung Tâm Huấn Luyện Quang Trung, sau đó, được trở về Saigon tiếp tục viết báo. Trong thời gian ở Quang Trung, Duyên Anh làm bài thơ Em 16, theo trường phái Hồ Xuân Hương, để vừa nói tới khẩu súng cá nhân ngày đêm gần gũi bên mình, vừa mô tả rất gợi cảm những hành động âu yếm với người yêu. Rất tiếc, tôi đọc qua một lần, không còn nhớ được câu nào trong bài thơ ấy. Thời gian này, anh cũng kết thân với nhạc sĩ Thục Vũ, tác giả những ca khúc Tình Mùa Chinh Chiến, Đàn Thu Tay Ngọc,...người đã phổ nhạc một số bài thơ cuả Lệ Khánh, tác giả thi tập Em Là Gái Trời Bắt Xấu. Thực ra, người nữ thi sĩ này không xấu như chị đã khiêm tốn nói về mình đâu. Tôi đã được gặp Lệ Khánh hai lần: lần đầu, trên Đà Lạt, trước 75, khi cùng đi với Vũ Đức Nghiêm; lần thứ nhì, khoảng 77, 78, khi chị ghé nhà tôi với cháu Vũ Khánh Thục. Một trong những bài thơ Lệ Khánh, Thục Vũ phổ nhạc, khá thành công trên thị trường âm nhạc lúc ấy, vì dễ hát, và được nữ ca sĩ Thanh Tuyền hát nhiều lần trên đài phát thanh. Bản nhạc này mở đầu và kết thúc bằng mấy câu thơ năm chữ giản dị
Hôm nay trời vào thu
Đà lạt lắm sương mù
Cây khô buồn trút lá
Gió ven hồ bay xa
Mây thu lờ lững trôi
Nhè nhẹ gió lưng đồi.
Xin anh đừng giận dỗi
Viết thư về thăm em
Viết thư về thăm em
...
Mai đây tàn chinh chiến
Áo em mầu mô-sa
Đón anh về hoan ca

Bấy giờ, Thục Vũ đang làm Trưởng Khối Chiến Tranh Chính Trị tại TTHL Quang Trung. Sau Tết 1971, đến phiên tôi thụ huấn giai đoạn một, khóa 1/1971 SQTB Thủ Đức, đại đội 1, tiểu đoàn Đinh Tiên Hoàng, cũng tại Quang Trung. Duyên Anh viết mấy chữ giới thiệu tôi với Thục Vũ, đại khái "Người cầm giấy này, Vũ Trung Hiền, là em Vũ Đức Nghiêm, và cũng là em của moi nữa. Thục Vũ có thể giúp gì cho Hiền thì giúp nhé. Cám ơn bạn. Thân. Duyên Anh."

Một buổi chiều, tôi mang giấy này đi tìm Thiếu Tá Vũ Văn Sâm, tên thật của Thục Vũ. Nhà anh ở rất gần cổng trại. Thục Vũ tiếp tôi khá niềm nở, và có cảm tình ngay, khi tôi hát cho anh nghe mấy bài nhạc anh làm, tôi đã thuộc từ trước. Thục Vũ bảo, khi nào rảnh, ghé chơi với anh. Nhưng tôi chỉ ghé thăm anh có một lần, buổi sáng, tuần lễ không ai được về phép. Căn nhà anh ở, khu dành cho sĩ quan, bày biện giản dị. Phòng khách kê bốn ghế bành, chiếc bàn gỗ tròn đặt ở giữa. Đặc biệt, ở chỗ dựa mỗi ghế, phủ tấm vải vuông trắng, viền đăng ten, trên các tấm vải này, thêu những hàng chữ mầu, tên các sáng tác ưng ý của anh. Thục Vũ pha cà phê sữa nóng, đãi tôi. Tôi mượn anh chiếc guitar, hát cho anh ca khúc Đàn Thu Tay Ngọc, anh phổ thơ Đinh Hùng.
Trong vắt lời ca phảng phất nhung
Lòng như mưa lạnh, nhớ lưng chừng
Lưng chừng nỗi nhớ thu đi lạc
Bước nhỏ trăng soi gót rụng hồng
Ôi phím đàn hoa rộn ngón tay
Làn môi mê dại tóc buông dài
Em cười thoảng gió lên cung bậc
Tiếng thở dài vương thương nhớ ai
Tay ngọc tà thu ngón tuyết sa
Gió mưa tình ý lệ chan hòa
Bốn giây tuyệt vọng đau hàng phím
Hoa dịu làn môi nghẹn khúc ca
Anh nắm bàn tay nhịp xuống em
Bàn tay dạ nhạc mướt tơ mềm
Tơ mềm lùa gió lên cung ngọc
Cánh nhạc hồn anh nhập bóng em
Xin em đưa nhạc lên trời xanh
Ý đẹp tay thơm kết mộng lành
Anh gục đầu lên trang sách ước
Chờ nghe máu chuyển một dư thanh

Tôi xin phép Thục Vũ cho tôi để nhờ chiếc xe Honda 50 ở nhà anh, trong lần trả phép tuần kế tiếp. Anh bằng lòng. Nhờ đó, trong ba tháng tập tành ở Quang Trung, thay vì phải đi bộ vài ba cây số mới đón được xe đò về Saigon, tôi chỉ mất năm mười phút, là đã ngồi lên xe của mình, tiết kiệm được vài ba tiếng đồng hồ quý báu của 24 giờ phép.

Sau 1975, Thục Vũ đi tù cải tạo. Vì sức yếu, anh qua đời tại trại tù Sơn La, miền Bắc, tháng 11, 1976.

Bản nhạc sau cùng, Thục Vũ để lại cho đời, Anh Ở Đây, lời 2 Vũ Đức Nghiêm viết, mô tả cuộc sống ngục tù buồn chán, khốn nạn, ở các trại Tân Hiệp, Suối Máu, và Sơn La. Bài này đã được nhóm Hưng Ca phổ biến rộng rãi ở hải ngoại.
Anh ở đây, bạn bè anh cũng ở đây,
áo rách xác xơ vai gầy, cùng chung kiếp sống lưu đầy
Anh ở đây, ngày ngày cơm chia vài chén
Chiều chiều ra trông đàn én kiếm mồi thấp thoáng bay nhanh
Toa liền toa, tầu đi trong bóng hoàng hôn, tiếp nối những dư âm buồn....
thành thơ day dứt tâm hồn....
Anh đẩy xe, bạn bè anh cũng đẩy xe
dưới nắng gắt gay trưa hè, lòng đau viễn xứ ê chề
Mưa chiều đông nhạt nhòa, mưa rơi lạnh giá
ngậm ngùi trông nhau lặng lẽ, chân buồn đếm bước lê thê...


***


Tháng 4, 1972, tại trường Trung Học Tổng Hợp Thoại Ngọc Hầu, Long Xuyên, Nguyễn Thiện Cơ và tôi tổ chức một buổi cho Duyên Anh nói chuyện với các độc giả trẻ tuổi của anh. Hội trường chật ních người tham dự. Hiệu Trưởng và các giáo sư Thoại Ngọc Hầu ngồi hàng ghế đầu; học sinh đứng cả lên dãy bàn cuối hội trường, một số em đến sau phải đứng ngoài cửa, hoặc trèo lên cửa sổ mắt cáo bên hành lang, nhìn vào. Hôm ấy, Duyên Anh khuyên những độc giả trẻ tuổi của anh, nếu yêu thích văn chương và muốn bước vào con đường viết lách, hãy có cam đảm đi ngược chiều: phải tạo cho mình một lối viết, một cách suy nghĩ riêng biệt, đừng rập khuôn theo một ai, ngay cả bắt chước cách hành văn của nhà văn mình ái mộ, cũng không nên.

Duyên Anh nêu ra những cuốn Luận Đề về Nguyễn Công Trứ, Luận Đề về Trần Tế Xương, v.v., do các giáo sư Việt Văn viết, và học sinh phải học thuộc, để khi đi thi, gặp đề tài tương tự, sẽ dựa vào những gì đã học trong mấy cuốn luận đề ấy mà viết lại. Anh đọc thuộc lòng bài thơ tả cảnh mùa hè của Nguyễn Khuyến, " cái nóng nung người, nóng nóng ghê", trích dẫn phần bình luận trong cuốn Luận Đề về Nguyễn Khuyến, rằng Nguyễn Khuyến có tư tưởng cách mạng, mong có cuộc nổi dậy đuổi giặc Pháp, để toàn dân được sống trong cảnh thanh bình.

Duyên Anh cho đây chỉ là một lời bàn nhảm, đem ý riêng của kẻ hậu sinh gán ghép vào tư tưởng bậc tiền bối. Duyên Anh cũng không đồng ý với những người ca tụng Trần Tế Xương. Theo anh, nhà thơ trào phúng đất Nam Định, với thành tích cao lâu thường ăn quịt, thổ đĩ lại chơi lường, chỉ là một "kẻ sĩ bệ rạc trong thời buổi đất nước bị đô hộ", không có gì đáng ca ngợi cả.

Buổi nói chuyện cũng là dịp ra mắt tác phẩm Phượng Vĩ của Duyên Anh. Mấy chồng sách anh mang theo, chỉ trong chốc lát, những độc giả trẻ tuổi ấy mua hết sạch.

Những ngày cuối tháng tư, 1975, tôi hay đến thăm Duyên Anh ở tòa soạn đường Bùi Thị Xuân. Có lần, anh chở tôi trên chiếc xe Ford Pinto đời 74 gắn máy lạnh, màu xanh cánh chả, đi một vòng Saigon xem thiên hạ chộn rộn bán đồ, chuẩn bị cho việc ra đi. Anh cho tôi biết tình hình lúc ấy rất bi đát, nhưng vẫn trông chờ một cuộc chiến đấu bảo vệ Sài gòn, mà anh ước ao được tham dự, để có thể viết một tác phẩm lớn về cuộc chiến đấu đó. Anh bàn với tôi, nếu tình hình nguy ngập, không còn hy vọng gì nữa, và bất đắc dĩ phải ra đi, chúng tôi nên để lại gia đình, mới dễ tìm cách thoát thân được.

Anh vẽ ra những cảnh sống rất nghệ sĩ ở Paris, nơi anh dự tính sống với tôi và vài người tuổi trẻ cùng chí hướng khác.

Dự tính ấy bất thành. Chúng tôi đều bịn rịn vợ con, không dứt áo ra đi một mình được.

30 tháng 4, 1975, miền Nam thua trận. Duyên Anh đến thăm tôi một sáng giữa tháng 5. Anh nói:

- Có lẽ, anh sẽ vào chiến khu. Người ta vừa liên lạc với anh.

Tôi ngạc nhiên:

- Thế còn chị và các cháu ?

- Anh có hỏi. Tổ chức sẽ đưa chị và mấy đứa nhỏ ra ngoại quốc. Đàn ông ở lại, dễ làm việc hơn.

Tôi tò mò, hỏi thêm. Duyên Anh không giấu gì tôi, kể lại đầu đuôi việc chính phủ của thủ tướng Đinh Xuân Cầu mời anh tham gia với chức vụ bộ trưởng thông tin tuyên truyền. Ông Đinh Xuân Cầu là anh ruột giáo sư ĐXT dạy Anh văn ở Đại Học Văn Khoa Saigon, cuối thập niên 1960, đầu 1970. Duyên Anh cả tin, nghe họ nói mọi thứ đã chuẩn bị xong, chỉ chờ ngày đưa gia đình anh đi xong, là anh sẽ vào bưng với tổ chức ngay. Anh có vẻ phấn khởi, vì sẽ có dịp thi thố sở trường của mình.

Nhưng chỉ một thời gian ngắn sau, Duyên Anh tâm sự với tôi: "Ông Đinh Xuân Cầu và tổ chức của ông chỉ là những người mắc chứng hoang tưởng, không có thực lực gì hết."

Hơn mười năm sau, khi viết Hồn Say Phấn Lạ, có lẽ Duyên Anh đã xây dựng nhân vật Phan Thức, một phần nào dựa trên kinh nghiệm cá nhân của anh đối với nhân vật Đinh Xuân Cầu có thực ở ngoài đời. Duyên Anh cho tôi biết, anh cũng liên lạc với nhóm chống cộng của bác sĩ Nguyễn Đan Quế. Bs Quế, lúc ấy vẫn còn làm việc ở bệnh viện Chợ Rẫy. Dĩ nhiên, những điều anh thổ lộ với tôi, trong hơn hai mươi năm qua, tôi chưa hề kể lại với một người nào khác.

Những ngày sau 30 tháng 4, 1975, Duyên Anh ở nhà thường xuyên. Thỉnh thoảng, tôi ghé 225B Công Lý thăm anh. Có bữa, tôi đến nhằm lúc anh đang ngồi rửa chén bát ở dưới mái hiên bên phải, cạnh chỗ trước đây, anh hay đậu chiếc xe Pinto. Bên cạnh anh, một người phụ nữ trẻ, rất trẻ, đang rửa phụ với anh. Duyên Anh giới thiệu:

- Chú Hiền, em của cậu. Còn đây là T., cháu gái anh.

Người phụ nữ chào tôi bằng "chú", giọng nói miền Bắc rặt. Tôi hỏi:

- Cháu từ Hà nội vào, phải không?

- Vâng, cháu mới vào thăm cậu cháu đây.

Tôi nhìn Duyên Anh vừa nói chuyện với tôi, vừa chậm rãi dùng búi xà phòng rửa thật kỹ từng chiếc bát ăn cơm. Anh nói:

- Làm việc gì cũng thế, mình cứ thích làm cho kỹ, cho sạch và đẹp mới được.

Cô cháu gái Duyên Anh có nước da trắng, nụ cười và hàm răng rất giống anh. Cô ta làm cán bộ ngân hàng nhà nước, vừa vào Nam công tác, tiện thể đến thăm cậu ruột mình.

Mấy hôm sau, Duyên Anh đến nhà tôi chơi. Anh bảo:

- Cái con cháu hôm nọ, thật ra, là con gái anh đấy. Anh dặn nó gọi anh bằng "cậu". Chị ấy với mấy đứa nhỏ không biết đâu.

Tôi nói:

- Gọi bằng "cậu" thì cũng đâu có khác gì? Ở nhà em, mọi người đều gọi bố em bằng "cậu". Hôm nọ, lúc anh giới thiệu, chính em cũng hơi ngờ ngợ. Bởi vì T. giống anh quá.

Duyên Anh nói:

- Tội nghiệp con bé! Hai mươi hai năm rồi mới gặp lại bố. Hồi anh rời miền Bắc, nó chưa được một tuổi. Anh đang cố gắng bù đắp lại cho nó, nhưng không dám làm gì lộ liễu, sợ chị ấy biết.

Tôi hỏi:

- Như vậy, mẹ của T. là thế nào?

- Thì là vợ trước của anh. Em biết, anh là con cả trong nhà. Ông cụ anh muốn có cháu nội sớm, nên dàn xếp với gia đình bên kia để làm đám cưới. Hồi ấy, mình mới có mười mấy tuổi, có biết gì đâu.

- Lúc anh bỏ đi rồi, chắc mẹ con vất vả lắm nhỉ?

- Dĩ nhiên rồi. Mẹ con cháu phải về sống với ông bà ngoại một thời gian, rồi sau đó, bà ấy lấy chồng khác. Cháu kể lại với anh, nghe thương lắm! Có lần cháu sốt, lúc ấy nó chỉ chừng ba bốn tuổi, mẹ đang ôm dỗ cháu ngủ thì phải để nó nằm một mình, để quay sang "chiều" ông bố ghẻ đến cơn đòi hỏi.

(Khi tôi viết những dòng này, con gái Duyên Anh, VTMT, đã là một thiếu phụ bốn mươi sáu tuổi. MT hiện đang sống với chồng con ở Hà nội.)

Bất chợt, Duyên Anh quay sang chuyện khác:

- Thôi, không nói chuyện cũ nữa. Đem guitar ra đây, anh hát cho nghe mấy bài này, vui lắm.

Rồi vừa đệm đàn, anh vừa hát nho nhỏ cho tôi nghe bài Như Có Bác Hồ Trong Ngày Vui Đại Thắng, mà anh đã sửa lời thành
Như có ông già trong nhà thương Chợ Quán
Vừa bước ra bị con nít đánh lên đầu...

Bài Thành Phố Mang Tên Người, Duyên Anh hát
Từ thành phố này Người đã ăn khoai, ăn xong hết khoai ăn đến củ mì,
ăn hết mì rồi, đến tối Người về húp cháo trừ cơm...;

và ...
Bác đã đến từng nhà , bắt các cụ già, cầm tay chúng con, Bác dắt vào nhà lao Chí Hòa..

Hai bản nhạc này, tôi đem xuống Trường Phổ Thông Cấp 3 Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai, hát cho mấy đồng nghiệp trẻ tuổi nghe trong những đêm mưa chúng tôi tạm trú tại cư xá giáo viên của trường, một lớp học trống, với hai mặt bàn kê sát làm giường ngủ; chiếc bếp dầu hôi kê gần cửa sổ là chỗ nấu ăn của bốn năm nhà giáo thiếu nhiệt tình với chế độ mới. Dĩ nhiên, với tâm trạng và suy nghĩ bơi ngược chiều như thế, tôi không thể tồn tại lâu dài trong môi trường giáo dục xã hội chủ nghĩa được. Chưa xong một niên khóa, tôi nhận giấy của Tỉnh Ủy Đồng Nai tuyên dương "toàn thể gia đình làm tay sai cho Ngụy, bản thân không tán thành chế độ mới, sa thải vĩnh viễn khỏi ngành giáo dục, đề nghị địa phương quản lý đương sự".

***


Duyên Anh và tôi, kẻ trước người sau, đều đi tù. Ngẫu nhiên, chúng tôi cùng được thả đầu tháng 9, 1981. Lại gặp nhau, thân thiết như xưa. Hôm đầu tiên đến thăm Duyên Anh sau ngày ra tù, tôi thấy anh đang tiếp Tạ Tỵ, Doãn Quốc Sỹ, và ông Nguyễn Hùng Trương, giám đốc nhà sách Khai Trí. Sau khi giới thiệu tôi với các vị này, Duyên Anh đọc cho tất cả nghe mấy bài thơ anh vừa làm. Tạ Tỵ cao giọng ngâm bài thơ Tiếng Hát Trong Tù của anh. Sau đó, tôi hát cho tất cả nghe Mưa Long Giao và Mai Em, Anh Về, thơ Hà Thượng Nhân, Vũ Đức Nghiêm phổ nhạc, vừa lén gửi về cho tôi.

Những tuần lễ kế tiếp, chúng tôi gặp nhau thường xuyên. Có hôm, tôi chở Duyên Anh bằng xe đạp đi Xóm Mới, Gò Vấp thăm gia đình một vài người bạn tù Xuyên Mộc của anh, những người đã giúp đỡ anh trong thời gian ở đó. Duyên Anh biếu tiền vợ con bạn tù của anh, và mời họ đến nhà anh ở 225B Công Lý, để nhận những vật dụng có thể dùng được, vì chị Duyên Anh với mấy cháu sắp sửa đi Pháp. Có bữa, Duyên Anh nhờ tôi đưa anh đến một biệt thự trên đường Phan Thanh Giản. Anh dặn tôi đúng hai tiếng sau, trở lại đón anh .

Trên đường về, chúng tôi ghé lại một quán cà phê vỉa hè gần góc Công Lý-Yên Đổ. Quán vắng, chỉ có hai chúng tôi ngồi riêng biệt sát bờ tường. Duyên Anh mở lời, như đoán biết thắc mắc của tôi:

- Mỗi tuần, anh phải đến đó hai lần để "làm việc".

Tôi ngạc nhiên:

- Làm việc? Anh làm việc với cơ quan nào?

Duyên Anh bật cười:

- Làm việc chó gì đâu. Anh dùng chữ của chúng nó. Đây là một cách để chúng kiểm soát anh thôi.

Tôi hỏi:

- Vậy thì mỗi lần vào đó, anh làm những gì?

- Cũng nhẹ nhàng thôi. Kiểu mạn đàm thân mật, có cà phê, thuốc lá, hoặc trà nóng. Những thằng công an văn hoá này, đa số từ miền Bắc vào, đều thuộc loại có trình độ đại học, tương đối lịch sự. Chúng nó đọc các tác phẩm trước 75 của anh kỹ lắm, nhất là cuốn Mây Mùa Thu. Đại khái, chúng muốn biết anh làm những gì, đi lại những đâu, giao du với ai...Nhưng cái điều chính chúng nhắm là muốn thuyết phục anh hợp tác với chúng nó.

- Hợp tác như thế nào?

- Chúng nó muốn anh viết lại. Viết toàn truyện cho tuổi thơ thôi. Chúng nó bảo ở ngoài Bắc lẫn trong Nam không có thằng nào viết về tuổi thơ cự phách như anh đâu. Chúng nó bảo, việc bắt giam những nhà văn miền Nam hồi 1976 là một sai lầm lớn.

Tôi nói:

- Họ bốc anh như vậy, chắc là có dụng ý gì rồi. Đời nào có chuyện anh hợp tác với họ, phải không?

Duyên Anh gật gù:

- Hợp tác thế nào được với chúng nó? Ở cái đất này thêm ngày nào, mình chết dần chết mòn ngày ấy thôi. Anh chỉ đang chờ cơ hội để dzọt đây.

Tôi hỏi:

- Nhưng anh sẽ không nói gì để cho họ nghi ngờ anh có ý định ấy chứ?

Duyên Anh cười trấn an tôi:

- Dĩ nhiên rồi. Anh nói chuyện đó riêng với em thôi. Trước mặt chúng nó, anh bảo, chỉ ước ao được về lại quê nhà Thái Bình, sống với ông bố anh, chứ chẳng còn tham vọng gì nữa cả.

Những tuần lễ kế tiếp, Duyên Anh chạy xe đạp mini, rủ tôi đi uống cà phê ở mấy biệt thự biến thành quán giải khát dọc đường Trương Minh Giảng. Chúng tôi nhậu thịt chó với nhau mấy lần, khu Ngã Ba Ông Tạ, Ngã Tư Bảy Hiền. Có sáng, Duyên Anh đến nhà lúc tôi đang kèm trẻ, rủ tôi đi ăn điểm tâm. Tôi cho học trò về sớm, sang bên kia đường, ăn phở gà Nam Xuyên với anh.

Thời gian ở tù về, Duyên Anh nằm nhà nhiều hơn ra đường. Trong lúc rỗI rảnh, anh làm nhiều thơ bảy chữ và tám chữ, mỗi lần tôi ghé chơi, anh đều lấy ra khoe, và đọc cho tôi nghe. Có dạo, tôi vui bạn bè, đi buôn than củi chơi. Một tối mưa, tôi theo chuyến xe than từ Long Khánh về, ghé nhà Duyên Anh, nhờ anh cho để nhờ khoảng bảy tám bao than ở dưới mái hiên bên phải, hôm sau tôi sẽ đến lấy, đem giao cho người mua. Duyên Anh kéo tôi vào phòng khách, đọc cho tôi bài thơ Saigon Ra Đường anh mới làm, và đưa luôn tờ giấy cho tôi:

- Em giữ đi. Anh tặng em đấy.

Bài thơ khiến tôi xúc động, và trong một sáng ảm đạm của Saigon xơ xác, tháng 10, 1981, trong lúc đứng núp mưa trên đường Trương Minh Giảng, chờ chuyến xe than đi Long Khánh, những nốt nhạc đầu tiên của Saigon Ra Đường cũng thánh thót rơi, vang vọng trong lòng tôi
Saigon ra đường không áo dài
Em sợ đang mùa gió chướng bay
Gió bay cuốn hút mùi hương cũ
Chỉ để riêng mình ta ngất ngây
Saigon ra đường không phấn son
Em sợ rừng sâu gỗ giận hờn
Chinh phu gió cát nghìn phương lạnh
Chinh phụ nào ham chuyện lược gương
Saigon ra đường không thích cười
Em sợ đèo cao lệ đá rơi
Nên mãi mùa Đông về tạm trú
Đã về sương tuyết phủ niềm vui
Saigon ra đường không giống ai
Tóc mây lớp lớp khói u hoài
Mắt chim khuyên đã diều hâu hết
Cúi xuống nhìn lên vẫn ngậm ngùi

Suốt trên đường đi, tôi cứ lẩm nhẩm mãi những câu nhạc của bài hát này, cho đến lúc thuộc lòng. Mất cả buổi với cây guitar, tôi mày mò ghi lại bản nhạc trên khung nốt, đem tới nhà Duyên Anh, hát cho anh nghe. Trí nhớ Duyên Anh quả thật phi thường! Anh nghe tôi hát có vài lần thôi. Vậy mà hai năm sau, sang Paris, anh ghi lại thật chính xác bài Saigon Ra Đường, nhờ Bạch Yến hát, thu vào băng Ru Đời Phù Ảo.

Tháng 6, 1982, sau nhiều lần thất bại trong toan tính đi bằng đường thủy, tôi vượt biên đường bộ đến biên giới Thái Miên, và một năm sau, có mặt ở Hoa Kỳ. Thời gian đầu, bận rộn học hành, làm việc, và cố gắng thích nghi với cuộc sống mới, tôi không còn thì giờ tìm hiểu, nên chẳng biết chuyện gì đã xảy đến cho Duyên Anh. Những gì tôi thỉnh thoảng nghe nói về anh, thì cũng chỉ là tin đồn. Có người bảo Duyên Anh vẫn còn ở Việt Nam, kẻ thì nói có gặp anh ở trại tị nạn. Có người còn nói Duyên Anh vượt biên, và đã mất tích rồi.

Mãi hai năm sau, một người quen từ Pháp qua cho tôi biết Duyên Anh trở thành thuyền nhân tị nạn ở Mã Lai, và đang sống tại Paris. Tôi viết thư nhờ anh tôi, Vũ Đức Anh, hỏi thăm địa chỉ Duyên Anh để tôi liên lạc, nhưng anh tôi không thuộc giới văn nghệ, nên không biết ai mà hỏi cho được. Mấy tháng sau, một hôm ghé thăm phố Bolsa, tình cờ đọc tạp chí Đời do Nguyên Sa chủ trương, tôi mừng vô kể khi thấy chương mở đầu hồi ký Cõi Không Tưởng của Duyên Anh. Tôi viết thư ngay về tòa soạn, nhờ chuyển cho tác giả. Ba tuần sau, tôi nhận thư Duyên Anh.
Paris ngày 25 tháng 8 năm 1986

Em Hiền ,

Vừa nhận thư em, anh vui mừng quá, viết ngay cho em khỏi mong. Tháng 6, 1982, ghé thăm em, gặp cô Cúc bảo em đi sang Miên rồi, chưa có tin, anh lo và nhớ thương em thật nhiều. Tuần sau trở lại hỏi thăm, biết em đã tới biên giới, anh mừng chảy nước mắt, nhưng vẫn lo chẳng biết chỗ em tạm trú có yên ổn không. Về phần anh, sau một thời gian trốn tránh, sống lây lất, anh vượt biển qua Mã Lai, ở đó bảy tháng, và trở thành dân tị nạn tại Pháp từ tháng 10, 83.

Cuộc sống anh tương đối tạm yên, hơi chật vật một chút, nhưng cũng chẳng sao. Mình vẫn còn sướng hơn hàng vạn đồng bào và bè bạn đang nằm trong tù ngục bên nhà. Gia đình anh vẫn thường. Các cháu của chú lớn hết rồi. Sơn Đốm đã 21. Cháu Ki sắp lập gia đình. Hôn phu của cháu dân xứ Tô Cách Lan, biết nói tiếng Việt, và rất yêu mến quê hương Việt Nam.
Rất mong nhận thư em. Khi nào rảnh, nhớ viết cho anh.


Thương yêu,

Anh

Duyên Anh

Dĩ nhiên, tôi viết thư sang cho anh ngay. Vài tuần sau, tôi nhận thư thứ nhì của Duyên Anh.
Paris 11 tháng 9, 1986

Em Hiền ,

Anh vừa về đến nhà, khoái quá, không thể không viết ngay để báo cho em biết tin vui: Un Russe à Saigon đã ra đời, sau chín tháng chờ đợi. Tuần trước, Ghislain Ripault, thằng agent littéraire của anh, đưa anh dến thăm nhà xuất bản Belfond, một trong ba nhà xuất bản lớn nhất Âu Châu, để xem mặt thằng con mới sinh. Trước khi ra về, họ trao cho anh tấm jaquette bọc Un Russe à Saigon và bảo anh trong suốt năm 86 này, chỉ cuốn sách của anh là có jaquette thôi. Như vậy, anh của em cũng hách đấy chứ!
Hôm nay, trong căn phòng trải thảm đỏ, anh ngồi ký tặng sách cho khoảng ba trăm người trong giới văn học Pháp và Âu Châu. Ký mỏi tay luôn. Nhưng mà khoái lắm, em ạ! Không ngờ thằng bé thất học thuở nào của làng Tường An lại có ngày ngồi ở chỗ ngồi của các nhà văn tài danh hiện đại, ký sách tặng thiên hạ. Như vậy, anh đã là quốc tế rồi đấy. Em có mừng không?


Hẹn gặp em, sẽ nói chuyện nhiều.

Anh của em,

Duyên Anh

 

***


Từ đó, cứ tháng tháng, tôi lại nhận thư Duyên Anh. Có tháng nhận được hai lá. Duyên Anh cho biết anh cư ngụ ở ngoại ô Paris, trong một chung cư dành cho giới thợ thuyền và những người có lợi tức thấp. Khu vực Ivry sur Seine, nơi anh ở, là vùng đất của Georges Marchais, Tổng Bí Thư Đảng Cộng Sản Pháp.

Đầu năm 1987, Duyên Anh gửi sang tôi mấy chục tình khúc anh vừa viết, nhờ tôi liên lạc với nữ danh ca Mai Hương để xin chị hát cho mười bài trong số đó. Phải công nhận, nhạc Duyên Anh làm, thật không giống ai cả. Và nhất là, nhiều bản không dễ hát chút nào. Muốn trình bày thành công ca khúc Duyên Anh, người hát phải có giọng khoẻ, giỏi xướng âm, và thật vững nhịp mới được. Theo tôi, về các giọng nữ, ngoài Mai Hương, chỉ những tiếng hát Bạch Yến, Châu Hà, Quỳnh Giao, Kim Tước, và Julie, mới thích hợp và đủ khả năng phô diễn nét tài hoa trong nhạc Duyên Anh. Nhạc Duyên Anh là thứ nhạc kỳ lạ, nghe một vài lần chưa thể cảm thấy hết cái hay của nó. Phải nghe đi nghe lại, nghe cho tới khi thuộc lòng, những lời nhạc trau chuốt, đẫm ướt chất thơ ấy mới thấm đượm hồn ta, như một thứ men nhẹ làm ta ngây ngất. Nhạc Duyên Anh không phải là loại nhạc để cho ca sĩ trình diễn trên sân khấu đại nhạc hội ồn ào. Càng không phải là thứ nhạc, ca sĩ vừa hát vừa uốn éo, vừa cười tình, nhìn ngang liếc dọc để câu khán giả. Muốn nghe nhạc Duyên Anh cho tới, lý tưởng nhất là nghe một mình, hoặc cùng lắm là với một hai người bạn tâm đầu ý hợp, để hồn chùng xuống, yên lặng mà nghe. Không bàn tán, không cả nhận xét nữa. Chỗ nào tuyệt vời nhất, chỉ một cái gật đầu, một cái chớp mắt, là bạn mình đủ hiểu. Bạn ơi, nếu có một phút nào đó nhớ đến Duyên Anh, bạn hãy rót một ly rượu vang đỏ, mở băng nhạc, vừa nhấp từng ngụm nhỏ, vừa nghe anh tâm sự :
Ta xin gần đời, đời chẳng dung ta
Ta xin gần người, người đuổi xua ta
Ta đi tìm em, hoàng hôn bóng gẫy, mịt mù chân mây, hiu hắt đường gầy...
Ta xin vì đời, chìm nổi phong ba
Ta xin vì người, mòn mỏi phôi pha
Ta xin vì em, quạnh hiu thánh giá, mời gọi thương yêu khắp cõi người ta.

Tâm sự ấy càng não nùng hơn, khi Duyên Anh giàn trải nỗi cô đơn khôn cùng của mình:
Rồi tôi đi đâu, đầm đời đầy cá sấu?
Rồi tôi về đâu, ác thú vẫn theo sau?
Nọc rắn xâm lăng từng mạch máu, quỉ sứ đâm thêm nhầu đường dao,
tôi nghe mình đã hư hao...

Trở lại việc Duyên Anh nhờ tôi mời Mai Hương hát, anh nói trước là không được dư giả, nên chỉ có thể trả thù lao tượng trưng, theo tôi, rất tượng trưng, cho Mai Hương thôi. Mai Hương quả là một người đầy ắp tâm hồn nghệ sĩ. Không coi thù lao là chuyện quan trọng, chị bằng lòng hát mười bản chọn lọc của Duyên Anh. Theo dự tính, Mai Hương sẽ thu giọng hát của mình, với phần nhạc đệm keyboard riêng rẽ. Gửi sang Paris, Duyên Anh sẽ nhờ Bernard Gerard tách phần keyboard ra, cho piano, violon và cello vào. Tôi có dịp tham dự mấy buổi tập dượt với Mai Hương và Đặng Ngọc Quốc. Mười bài hát của Duyên Anh, tôi đã đệm guitar và hát trước ở nhà, nên trong lúc nghe Mai Hương hát thử, đôi khi, tôi có góp ý với chị về cao độ của vài nốt nhạc. Một danh ca như Mai Hương, nghe một thứ tay mơ về âm nhạc nhận xét, góp ý, có khó chịu không? Làm việc với Mai Hương, tôi khâm phục đức khiêm tốn của chị. Nghe tôi trình bày, chị vui vẻ xem lại bản nhạc và hát cho đúng với cao độ của mấy nốt nhạc đó.

Sau một vài buổi hát thử, chúng tôi đến thu băng tại studio Lê Đức Cường. Thời gian này, Lê Đức Cường còn làm việc ở nhà; trung tâm Người Đẹp Bình Dương của anh chưa ra đời. Theo tôi nhớ, phải thu liên tiếp hai buổi tối, mới xong mười tình khúc Duyên Anh. Tôi nhờ Cường in từ Master ra ba copy, một cho Mai Hương, một cho tôi. Copy thứ ba gửi chung với Master Mai Hương đem sang Pháp cho Duyên Anh. Nhận Master, Duyên Anh giữ mãi cho đến ngày sang Mỹ lần cuối, vì không đủ tiền thuê hòa âm và ban nhạc chơi phụ họa theo tiếng hát Mai Hương.

Suốt mấy tuần lễ tháng 3, 1987, Duyên Anh chuẩn bị tổ chức một đêm nhạc để Mai Hương trình bày những sáng tác của anh. Vào tuần lễ chót, việc chuẩn bị gặp trở ngại, vì cũng trong dịp này, Hội Y Sĩ VN tại Pháp phối hợp với Hội Y Sĩ Thế Giới tổ chức đêm hát tại rạp Maubert lấy tiền giúp con tàu Rose Schiaffino cứu người vượt biển. Ngoài ra, cả hai trung tâm băng nhạc Thúy Nga và Phượng Hoàng, trong mấy tuần lễ đó, liên tiếp mời Khánh Ly, Thanh Tuyền, Giao Linh, Duy Quang, Linda Trang Đài... sang hát đại nhạc hội.

Một số thân hữu ở Paris khuyên Duyên Anh nên dời ngày tổ chức đêm nhạc lại một vài tuần, vì sợ làm cùng ngày với các đại nhạc hội kể trên, khán giả sẽ phân tán. Riêng Duyên Anh, anh rất sợ Mai Hương sẽ buồn nếu thấy khán giả thưa thớt. Anh viết cho tôi: "Mình không thể để một danh ca buồn được". Duyên Anh nhờ tôi hỏi Mai Hương có thể sang Paris hát ngày 9 tháng 5, 1987 được không. Trong trường hợp không được, anh dự tính mời Mai Hương hát nhạc của anh ở San Francisco, nhân dịp anh qua Mỹ. Duyên Anh đã rất ngây thơ và chủ quan khi tin tưởng vài người "bạn" anh ở vùng San José, San Francisco thực lòng giúp đỡ trong việc đưa nhạc Duyên Anh ra mắt thính giả Bắc Cali. Rốt cuộc, đã không có một buổi nào để Mai Hương hát nhạc Duyên Anh ở Paris. Tháng 5 năm ấy, Mai Hương có đi lưu diễn Âu Châu, cùng với một phái đoàn nghệ sĩ do Lê Văn của VOA làm trưởng đoàn. Nhưng chị không lưu lại thủ đô Pháp quốc lâu, kịp cho Duyên Anh kịp tổ chức đêm hát nhạc của anh. Mai Hương chỉ có đủ thì giờ trao lại cho Duyên Anh cuốn master ghi mười bản nhạc chị đã thu vài tháng trước. Cuốn master ấy, Duyên Anh giữ mãi, cho đến ngày sang Los Angeles lần cuối cùng, đưa cho tôi cất. Ước mơ của Duyên Anh, là thực hiện được một băng nhạc Mai Hương hát mười tình khúc của anh. Kèm theo cuốn băng, là tập nhạc in mười bản ấy thật đẹp, với bài viết trang trọng của Duyên Anh về Mai Hương. Đã hơn một lần, Duyên Anh tâm sự với tôi:"Nghe Mai Hương phải đi hát phòng trà, anh thương Mai Hương quá! Giọng ca ấy không thể đứng trên bục hát, trong lúc thực khách ăn uống ồn ào bên dưới được." Tháng 2, 1987, Duyên Anh đã viết Mai Hương, Thiên Đường Tìm Lại, đăng trên tạp chí Ngày Nay của Lê Hồng Long, để ca tụng giọng hát Mai Hương:

"...Giọng hát của Mai Hương đôn hậu, thuần khiết. Không hề có làm dáng trong cách truyền đạt ca khúc của nàng. Chất lãng mạn ở giọng hát Mai Hương bảng lảng lãng mạn dân tộc. Ngay cả lối tỏ tình qua lời ca cũng là tình tự dân tộc. Đừng mất công tìm kiếm sự rã rượi ở Mai Hương. Quê hương Việt nam đau khổ thì có, nhưng rã rượi thì không...Giọng hát Mai Hương là giọng hát nguyên chất dân tộc. Bởi vì, nghe nàng hát là thấy vùng đời cũ hiện ra. Nghe nàng hát là nhớ từng miếng nắng, từng hàng cây, từng viên gạch, từng khúc sông, từng ngọn suối... Như thế, Mai Hương, con chim họa mi ngậm hồi tưởng, đậu trên ngọn cao lưu vong, mỗi ngày mỗi hót "Giấc Mơ Hồi Hương". Có lần, giọng hát truyền cảm tột độ của nàng đã làm tôi xao xuyến khôn cùng. Cơ hồ tôi trở về quê hương tuổi nhỏ và cổ tích của tôi vào một đêm xuân. Tôi đứng ngoài vườn giữa đêm trăng. Ngẩn ngơ..."

Nữ danh ca Châu Hà cũng là người diễn tả ca khúc Duyên Anh thật tuyệt vời! Duyên Anh cho tôi nghe cassette thu mấy bản nhạc của anh, Châu Hà hát. Tôi hỏi anh đã từng gặp Châu Hà bao giờ chưa. Duyên Anh nói: "Sự đồng cảm của nghệ sĩ, nó lạ lắm, em ạ. Anh chưa gặp Châu Hà lần nào cả."

Những bản nhạc Châu Hà hát trong băng, Yêu Em, Hôn Em Kỷ Niệm, Tình Sử, có lẽ, chưa từng ai hát. Và theo tôi, cho dù sau này, ca sĩ nào hát, khó có giọng ca nào diễn tả mấy ca khúc đó tha thiết, và đẫm ướt cảm xúc, như tiếng hát Châu Hà. Duyên Anh đã cho tôi nghe tiếng hát tuyệt vời của Châu Hà trình bày bản nhạc Yêu Em, một ca khúc mà lời hát từng câu, từng chữ bàng bạc chất thơ; ý nhạc lạ lùng, độc đáo, không giống bất cứ bản nhạc nào
Yêu em thuở còn hư vô
Yêu em thuở còn thô sơ
Yêu em thuở trăng mới ló,
thuở sao mới rõ,
thuở chưa đất vỡ,
thuở trời thiếu nhớ,
thuở người bỡ ngỡ,
tháng ngày vu vơ
Yêu em địa đàng xôn xang
Yêu em rộn ràng nhân gian
Yêu em vàng ngon trái cấm,
bùi tai lưỡi rắn,
ngọt thơm chất đắng,
lòng bừng nắng ấm,
hồn ngời ánh sáng,
thắp đẹp ái ân
Yêu em nồng nàn núi sông
Yêu em đường vui khôn cùng
Yêu em mây dệt thương mong,
biển đợi gió trăng,
xao xuyến thời gian,
cỏ lá hân hoan,
bờ hoang bãi vắng,
náo nức mùa sang
Yêu em gọi về chiêm bao
Yêu em gọi về trăng sao
Yêu em gọi về quá khứ,
thời xưa đất vỡ,
trời xưa bão nhớ,
người buồn héo úa,
tình buồn trót lỡ,
tháng ngày hư hao
Yêu em dù hồn lao đao
Yêu em dù hồn xanh xao
Yêu em dù tim móng cấu,
dù môi ứa máu,
dù đêm bão tố,
dù ngày sóng gió,
dù đầy khốn khó,
nỗi người bơ vơ
Yêu em chập chùng thiên tai
Yêu em sầu dài chân mây
Yêu em quạnh hiu cuốn xoáy,
dạt trôi cuối bãi,
mộng phơi nắng cháy,
ngậm ngùi đếm mãi từng cành tóc gẫy,
xuống tình đắng cay
Yêu em lạnh ngời nghĩa trang
Yêu em mộ bia điêu tàn
Yêu em nhạc đầu non reo
Yêu em ngọn dòng cô liêu
Yêu em lạc theo lối khói,
bình minh khuất lối,
hoàng hôn chói vói,
cuộc trần mắc lưới,
cuộc tình bối rối,
xế đời em ơi.

Trong thời gian sống ở Paris, Duyên Anh gặp nhạc sĩ Lương Ngọc Châu, và đã cùng Lương Ngọc Châu sáng tác Hồn Muôn Năm Cũ, nhạc Lương Ngọc Châu, lời Duyên Anh. Nhạc sĩ Lương Ngọc Châu sáng tác cùng thời với Văn Cao và Phạm Duy. Ông viết rất nhiều ca khúc, cuối thập niên 40, trong đó có bài Lô Giang rất hùng tráng, mô tả chiến thắng của quân đội Việt Minh trong trận đánh với quân Pháp trên giòng sông này.

Tôi hỏi Duyên Anh về ngôn ngữ lạ lùng của Hồn Muôn Năm Cũ. Duyên Anh bảo, anh hy vọng ca khúc này sẽ trở thành một bài hát chiêu hồn, ở các buổi lễ tưởng niệm, trong môät nước Việt Nam mới, thời hậu Cộng Sản. Cho đến nay, Châu Hà vẫn là giọng hát duy nhất trình bày tuyệt diệu Hồn Muôn Năm Cũ.
Hồn muôn năm cũ, tâm hồn biển dâu
Người muôn năm cũ, vẫn thương đời sau
Đi về một lối có nhau, cùng chia sầu đau
Hồn muôn năm cũ, đã buồn chiều nay
Người muôn năm cũ, ngất ngư cuộc say
Thôi rồi trần thế ngất ngây, ngày tháng hao gầy
Ôi, non nước xưa đó, nghe xót xa tim già
Ôi, non nước xưa đó, bao hồi kinh qua
Ôi, non nước xưa đó, ai đã thêu gấm hoa
Ai phơi xác cho khải hoàn ca
Nghe gương tốt đã vỡ, nghe máu xương mênh mông
Nghe vang tiếng ca huy hoàng, trời Đông bùng gió
Bằng nước mắt sông dài, bằng cay đắng muôn đời
Và sông núi còn lại đây
Người xưa vẫn sống trong lòng người nay
Hồn xưa lay bóng phất phơ cờ bay
Hương trầm tỏa khói ngất ngây, nhạc ấp u hoài

Trong Ngược Giòng Chữ Nghĩa, Duyên Anh đã viết những lời như sau, ca tụng tiếng hát Châu Hà:
"....Nàng là nghệ sĩ đúng nghĩa, sống như hát, ta pi hồn mình lên mặt cuộc đời, chung thủy và đôn hậu. Điều làm người ta yêu quý Châu Hà là nàng biết giữ giá trị tài năng của mình....Chưa hề nghe Châu Hà hát một ca khúc thấp kém cả âm điệu lẫn lời ca....Ở một hoàng hôn luân lạc, sỏi đá học đòi khen chê ngọc ngà, cỏ rác nhởn nhơ lênh đênh trên dòng thơ, Châu Hà cứ nhún vai, cứ mỉm cười, cứ làm thinh...Khi Châu Hà hát nhạc tình, suối đắng bỗng ngọt ngào, rừng khô mọc đầy chồi ao ước, sông núi đổi mầu sắc, hoa bướm dạt dào, cỏ cây thầm thĩ, trời đất gần nhau..."

Ngoài ra, Duyên Anh còn soạn riêng mười ca khúc, ghi rõ ràng "Những bài dành cho danh ca Kim Tước". Chẳng biết có lần nào, Duyên Anh gặp Kim Tước, để nhờ giọng ca vàng này hát mấy bản đó chưa?

Cũng trong thư viết cho tôi, tháng 3, 1987, Duyên Anh dự tính làm chuyến Mỹ du trong mấy tháng tới. Anh viết:
" Anh đi Mỹ chỉ với mục đích đẩy cuốn An American Prisoner in Vietnam vào một nhà xuất bản lớn ở New York. Khi em gặp đại diện cựu chiến binh Mỹ, đừng quên giới thiệu anh là tác giả A Russian in Saigon (đã và đang bị Cộng Sản Việt Nam đưa lên télé, radio, báo chí...mổ xẻ, tơi bời, khiến dân chúng hả hê lắm), và cho họ biết An American Prisoner in Vietnam là cuốn sách phục hồi danh dự cho lính Mỹ. Thực ra, anh chỉ viết về một người Mỹ đích thực, dũng cảm và biết chịu đựng, a real American".

Trong thư kế tiếp, Duyên Anh nhờ tôi liên lạc với Hồ Văn Xuân Nhi để việc giấy tờ đi Mỹ của anh được dễ dàng hơn . Việc xin nhập cảnh từ Pháp đến Hoa Kỳ gặp khó khăn. Tòa Đại Sứ Mỹ ở Paris đòi hỏi người muốn vào Mỹ phải có thân nhân bảo lãnh chuyện đi lại, ăn ở...v.v, vì sợ dân tị nạn Việt Nam ở Pháp đến Mỹ, sẽ ở lại luôn. Theo tôi hiểu, Hồ Văn Xuân Nhi sẽ nói với dân biểu Robert Dornan gửi một thư mời Duyên Anh, với tư cách một nhà văn Việt Nam tị nạn tại Pháp, sang thăm Hoa Kỳ. Trong thư này, dân biểu Dornan hứa sẽ đài thọ vé máy bay khứ hồi, ăn ở, và di chuyển trong suốt thời gian Duyên Anh ở Mỹ. Một bản sao của thư này sẽ được gửi cho Tòa Đại Sứ Mỹ ở Paris. Dĩ nhiên, đây chỉ là hình thức thôi. Duyên Anh và bạn bè anh sẽ lo liệu những chi phí kể trên.

Tháng 6, 1987, Duyên Anh gửi bản thảo Một Tù Binh Mỹ Ở Việt Nam sang cho Phạm Kim Vinh xem, và nhờ anh Vinh góp ý về một số chi tiết viết về quân đội Mỹ, chẳng hạn chế độ quân dịch, tình nguyện như thế nào, nên cho nhân vật chính mang cấp bậc gì... Duyên Anh nhờ tôi, sau khi xem bản thảo tiểu thuyết này, xúc tiến việc tìm người dịch sang Anh Ngữ. Anh nói, cần dịch xong trước tháng 9, để khi anh sang đến nơi, có sẵn để thương lượng với nhà xuất bản Mỹ.

Tôi viết cho Duyên Anh, nói qua tình hình xuất bản ở Mỹ, rằng hàng năm, có tới cả chục ngàn bản thảo gửi đến cho các nhà xuất bản Mỹ, và tác giả các bản thảo này không hề nhận được một dòng chữ cám ơn chiếu lệ của mấy ông chủ nhà xuất bản nào hết. Hầu hết, bị quăng vào sọt rác. Tôi cho anh biết, muốn cho sách mình được lọt vào một nhà xuất bản Mỹ, cần phải tìm được một người đại diện văn chương thích tác phẩm của mình đã. Người đại diện này phải có uy tín đối với nhà xuất bản, mới giới thiệu thành công tác phẩm của mình được. Tôi muốn Duyên Anh hiểu, nhờ người dịch qua tiếng Anh mà không đưa tiền trước cho họ, chẳng ai chịu làm hộ mình đâu, dù cho mình có hứa khi nào nhà xuất bản nhận in tác phẩm của mình, mình sẽ trả 50 phần trăm cho họ, họ cũng không dám phiêu lưu với mình.

Duyên Anh bảo tôi, như vậy, anh sẽ nhờ một người bạn ở miền Đông Hoa Kỳ dịch Một Tù Binh Mỹ Ở Việt Nam sang Anh Ngữ. Ông bạn này, theo anh, rất giỏi tiếng Anh, đã hứa sẽ dịch cho anh. Cho tới ngày Duyên Anh sang Mỹ, nửa năm sau đó, vẫn chẳng thấy ông bạn quý của anh nhúc nhích gì hết. Tôi hỏi Duyên Anh chuyện này, anh bảo "có lẽ nó bận". Mấy tháng sau, tôi hỏi, lần thứ nhì, chừng nào ông bạn anh dịch xong, Duyên Anh có vẻ bực bội, bảo tôi: "Quên nó đi. Em đừng nhắc tới thằng ấy nữa!"

Lúc Duyên Anh ở nhà tôi, một hôm có ông khách đến chơi. Ông này vốn là sĩ quan bên nhà, theo Nguyễn Khánh rời VN từ 1965. Qua Mỹ, ông ta đậu Ph.D, và đang là giáo sư môn khoa học chính trị ở một đại học tại tiểu bang Colorado. Chuyện trò một hồi, ông khách phấn khởi lắm. Ông bảo Duyên Anh, ông sẽ dịch Môt Tù Binh Mỹ Ở Việt Nam, "có lẽ chừng ba bốn tháng là xong ngay."

Ba tháng sau, ông giáo sư tiến sĩ chính trị đại học Mỹ gửi trả lại bản thảo, cho biết không ông đủ khả năng phô diễn văn chương Duyên Anh trong tác phẩm này bằng Anh Ngữ. Ít nhất, theo tôi, ông giáo sư cũng đáng khen ở chỗ ông dám thành thật xác nhận khả năng giới hạn của mình.

Cũng trong thư tháng 6, Duyên Anh viết:
"....Trong khi viết cho em, anh vừa nhận từ Belfond cái contrat mới cho The Fanta Hill. Có lẽ, tháng giêng 1988 sẽ xuất bản. Năm nay hơi bận, vì thằng Ghislain Ripault sửa bản dịch chậm quá. The Fanta Hill hay lắm, nên Belfond ký luôn giao kèo gọi là Contrat de cession des droits d'adaptation audiovisuelle. Anh đầy đủ tư cách nhà văn quốc tế rồi hả ?..."

Quả nhiên, mấy năm sau, tiểu thuyết Đồi Fanta, viết về một trại tập trung các trẻ em bụi đời ở Phước Long, được một hãng phim Pháp , phối hợp với hãng phim Algérie, đạo diễn Youcef Sahraoui, thực hiện dưới tên Poussières de Vie . Phim dài 87 phút, nói tiếng Pháp và Việt, phụ đề Anh ngữ, quay tại Mã Lai, hầu hết tài tử là người Pháp, Mã Lai và Algérie. Phim đã được chiếu ở Paris và nhiều thành phố bên Pháp. Ở Hoa Kỳ, Poussières de Vie ra mắt khán giả trong một đại hội phim ảnh tại thành phố New York, khoảng tháng 6, 1997. Duyên Anh, trước khi trở về Paris lần cuối, có cho tôi xem video cuốn phim này. Thật sự, Duyên Anh không được hài lòng cho lắm về việc các nhà làm phim phóng tác tiểu thuyết Đồi Fanta của anh. Duyên Anh nói với tôi:

- Đ.m, mấy anh đạo diễn này, chúng nó hiếp dâm tác phẩm của anh kỹ quá. Chúng nó thêm vào những chi tiết không hề có trong nguyên bản. Ví dụ, cảnh nhân vật của anh giết thằng tù bắt nạt nó, cảnh bọn trẻ con trốn trại, đóng bè xuôi về thành phố, cảnh thằng cai tù tốt bụng tặng giấy viết nhật ký cho thằng bé... Tuy nhiên, xem phim này, nhiều bà đầm cảm động khóc sướt mướt. Ít ra, Đồi Fanta và cuốn phim cũng thành công ở chỗ cho người ta thấy được sự tàn ác của cái gọi là Cộng Hòa Xã Hôäi Chủ Nghĩa Việt Nam đối với đám trẻ bụi đời.

Duyên Anh viết tiếp, trong lá thư tháng 6, 1987:
Sẽ photocopie cho em 14 bài thơ Độc Ngữ (Duyên Anh mới), đọc xong em sẽ nghẹn ngào rồi bốc lửa. Anh của em lúc nào cũng tỏ ra xứng đáng với gia đình, bằng hữu, quê hương.

Hôm nay, gửi em đọc chơi bài thơ 100 câu 1 vần của anh.

Về nhạc Vũ Đức Nghiêm, em lựa cho anh vài bài viết về Chúa thật hay. Đó cũng là một khía cạnh của tù nhân: Đức Tin . Mỗi bài anh sẽ giải thích, em ạ. Anh hỏi thăm Hồ Văn Xuân Nhi. Chúc em mạnh giỏi.

Anh của em,
Duyên Anh


TB: Hãy quan tâm về translator cho A Just American. Anh em mình sẽ trúng mối nhờ cuốn này đấy. Và ta sẽ có nhiều phương tiện làm việc cho quê hương.

Bài thơ 100 câu, Bài Lưu Đầy, Duyên Anh làm tặng Kiều Vĩnh Phúc, bạn anh, là tâm sự lưu vong não nề của Duyên Anh. Anh mở đầu bằng một lời than thở
Ta đến đây đành ở lại đây
Cuối đời thấm thía kiếp lưu dầy
Nghẹn ngào sách vở từng trang mục
Chữ nghĩa vèo bay như lá bay

Thơ Độc Ngữ là loại thơ viết bằng máu hừng hực cảm xúc bốc lên từ trái tim của một con người chưa bao giờ chịu cam đành ngậm miệng trước những nhố nhăng, áp bức, bất công trên cõi đời này. Duyên Anh là thế đó. Bằng thứ ngôn ngữ riêng của anh, có đoạn thật tha thiết, tình cảm; đoạn khác thật độc địa, tàn nhẫn, Duyên Anh đã viết bài thơ Nhân Danh Những Điều Tôi Biết, mô tả cảnh sống khốn nạn của người vợ một chiến sĩ miền Nam tử trận, tiền tử tuất không đủ nuôi bốn con dại, đã phải làm nghề bán thân xác mình. Trong khi ấy, một vài cấp chỉ huy quân đội ở trung ương, không phải xông pha trận mạc, lại sống xa hoa "sáu bảy vi la, ba bốn vợ", với tiền tham nhũng, bằng cách
"... mở lò bánh mì đồ sộ
Tiền điện tính vào kinh phí Bộ Quốc Phòng
tính vào
máu lính tiền đồn bảo vệ biên cương
tính vào
xương chiến sĩ xông pha trận mạc
tính vào
quả phụ đêm dài nước mắt
tính vào
cô nhi ngày muộn thèm cơm.."

Cũng trong Nhân Danh Những Điều Tôi Biết, Duyên Anh kể lại trường hợp một người lính đi phép, bịn rịn vợ con, trở lại đơn vị trễ mất mấy ngày, bị khép tội đào ngũ, đưa đi lao công đào binh, và chết ở mặt trận. Anh phẫn uất, tự hỏi ai sẽ xử tội những ông tướng rời đơn vị trước 30 tháng 4, 1975, bỏ thuộc cấp ở lại?

Nhớ lại những ngày tháng tư 1975, Duyên Anh đã ngậm ngùi. Rồi phẫn nộ
"...Chúng nó trốn
khi kẻ thù
còn xa lắm
còn Khánh Dương
nhảy dù
đánh thật hăng
còn Thị Nghè
lính văn nghệ
diệt xe tăng
Trước giờ ban lệnh
đầu hàng
tướng hèn đã
đào ngũ..."

Duyên Anh nhắc lại chuyện một ông tướng đứng ở xứ đạo Tân Sa Châu tuyên bố
"Không đi. Đứa nào đi
sang Mỹ làm cu li
còn vợ nó thì xoay nghề đĩ.
Vài hôm sau, nó âm thầm sang Mỹ..."

Bài thơ vừa kể, đăng trên tờ Quan Điểm của Phạm Kim Vinh năm 1987, đã khiến một số tướng lãnh Việt Nam Cộng Hòa thâm thù Duyên Anh. Họ thù hận đến độ, tháng 12, 1999, gần ba năm sau ngày anh qua đời, khi biết một nhà báo ở miền Đông Hoa Kỳ sắp phổ biến một bài viết ghi lại kỷ niệm với Duyên Anh, mấy ông cựu tướng trong vùng đã áp lực, bằng nhiều cách, để nhà báo phải bỏ ý định cho đăng tải bài viết này!

Tôi muốn xác nhận ở đây, Duyên Anh có thể đã chỉ trích, và coi thường một số cấp chỉ huy trong quân đội Việt Nam Cộng Hòa, nhất là những người đã, vì nhiều lý do khác nhau, rời khỏi đất nước trước ngày cộng sản chiếm trọn miền Nam. Nhưng Duyên Anh chưa bao giờ dám viết lên, hay nói ra một điều gì bất kính đối với những vị tướng miền Nam đã ở lại chiến đấu tới giờ phút cuối cùng, và sau đó, đã tự kết liễu đời mình để giữ tròn khí tiết, hay những vị tướng đã trải qua hàng mười mấy năm ê chề trong tù ngục. Duyên Anh không bao giờ dám nhục mạ tập thể quân đội miền Nam. Xin đừng ai hiểu lầm, hoặc gán cho Duyên Anh cái tội đó. Bởi vì gán ghép như vậy, là việc làm thiếu công bằng, nếu không muốn nói là gian trá.

Chiều 30 tháng 4, 1975, chứng kiến cảnh thua trận đau đớn của miền Nam, Duyên Anh đã kể lại
"...Em ơi, chiều ba mươi tháng tư
Tâm hồn tôi chít mảnh khăn sô
Tôi đứng giữa hoàng hôn nào đó
Như ngày xửa ngày xưa bé nhỏ
Đếm xác người chết đói ngổn ngang
Ôi xác ngày xưa
Hôm nay
súng ngắn súng dài mũ sắt quân trang
Nằm rên rỉ dưới giép râu cộng sản..."

Duyên Anh mô tả cảnh sống cơ cực, nhục nhã của dân chúng miền Nam sau ngày cộng sản miền Bắc chiếm đóng
"...Tôi đã thấy con người và con chó
cùng mưu sinh trên đống rác Sài gòn
chó và người đòi đoạn nguồn cơn
Bởi xã hội chủ nghĩa chỉ giầu khẩu hiệu
Tôi đã thấy đồng bào ta xếp hàng bán máu
máu đỏ tươi đổi gạo trắng chợ đen
Bán máu nhanh, phải hối lộ chút tiền
phải giữ chỗ từ đêm hôm trước...
...Tôi đã thấy sản phụ mất sữa nuôi con
ra phường, xuống quận, lên thành
ba lần bị cởi trần nhay vú
khi hội đủ chỉ tiêu dã thú
mới được mua sữa rẻ quốc doanh..."

Cuối cùng, Duyên Anh xác nhận đường hướng sáng tác mới của anh
Em hiểu không, tôi độc hành đơn kiếm
Chẳng báo nào chứa nổi thơ tôi
Nhưng vẫn làm thơ dán khắp tường đời
Dẫu kẻ thù vằm băm nát ngực
Dẫu lưới thép bủa lên tôi oan khiên ngộ nhận
Vẫn làm thơ can đảm Trần Dần
Vẫn phóng ra những chiêu thức tuyệt luân
Vẫn nhảy múa trên đầu Cộng Sản
Tôi vẫn làm thơ cho đêm đen bừng sáng
Tôi vẫn làm thơ đánh thức mặt trời
Tôi vẫn làm thơ ca ngợi Con Người
Dẫu rắn độc chụp đầu trăm kiểu mũ
Dẫu bạo lực gài mìn bức tử
Vẫn làm thơ, còn hơi thở vẫn làm thơ
Tôi làm thơ không gióng trống phất cờ
Không thủ bút triện son và không dự thi ăn giảI
Tôi làm thơ vì Công Bằng Lẽ PhảI
Thơ nâng niu nỗi khổ mủ sưng.

Thời gian ấy là lúc Duyên Anh bị kẻ thù xông hãm tứ phía. Một vài người trong giới văn nghệ, vì đố kỵ tài năng, rơi vào bẫy Cộng Sản, viết bài trên báo, vu cáo Duyên Anh làm ăng ten trong tù, làm tay sai cho cộng sản, bán xác anh em..

Cộng Sản Việt Nam thâm hiểm biết rất rõ, không một nhà văn Việt Nam nào, trong nước cũng như hải ngoại, trước và sau 1975, chống cộng mãnh liệt và có hiệu quả như Duyên Anh. Cho nên, trước khi, vì một số vận động và trao đổi quốc tế, phải trả tự do cho anh, họ đã bày trò dựng nên những tin bẩn thỉu, rỉ tai, mớm lời cho một số người ghen ghét Duyên Anh, trong tù cũng như ở bên ngoài. Mục đích của cộng sản là triệt hạ uy tín chống cộng của Duyên Anh, để khi thả anh ra, chữ nghĩa của anh không còn hiệu lực nữa. Cộng Sản Hà nội quỷ quyệt ở chỗ họ dùng bọn nằm vùng miệng lưỡi xảo trá, rỉ tai bôi lọ Duyên Anh. Họ mượn tay chính những người ở trong hàng ngũ quốc gia tấn công Duyên Anh. Và điều đáng buồn là một số người trong chúng ta đã mắc mưu cộng sản. Kẻ thù chính của chúng ta là cộng sản Hà nội, chúng ta không đánh; lại nhè anh em trong nhà mà đánh dập đánh vùi.

Một số người, tài năng không bằng Duyên Anh, mừng rỡ chụp lấy cơ hội bằng vàng, viết những bài báo vu cáo anh. Bất đắc dĩ, Duyên Anh phải phản công. Vì mất tâm sức và thì giờ phản công những bài báo vu khống đó, sức công phá của Duyên Anh vào thành trì Cộng Sản Hà nội bị suy giảm ít nhiều.

Trong Bài Lưu Đầy, Duyên Anh dàn trải nỗi đau đớn của người biệt kích văn nghệ cô đơn bằng hai câu
...Đường người, chó sói nhe răng nhọn
Nghe buốt đau thương cả đế giầy...

Cuối tháng 6, 1987, Duyên Anh gửi cho tôi bản thảo Trại Tập Trung, nhờ tôi đọc lại, sửa những lỗi chính tả do người đánh máy bản thảo đánh lầm. Anh cũng cho tôi địa chỉ nhà xuất bản Xuân Thu, nhờ tôi giao bản thảo cho Phạm Công Danh. Trong thư, ngoài những việc nhờ tôi làm cho anh, Duyên Anh tâm sự
"...Cuộc sống của anh rất đỗi chật vật. Luôn luôn anh bị gây bực mình.... Cảm hứng sáng tác cũng mất mát nhiều. Đã nhiều lần, anh định dứt khoát sống cho riêng anh cuối đời, nhưng tình nghĩa làm anh không thể, không nỡ. Anh sẽ khó mà lên ngọn đỉnh.... Đôi khi, anh muốn tự tử, hoặc xin về Việt Nam vào tù. Đó là tâm sự, và tâm trạng buồn bã của anh. Rốt cuộc, vẫn phải sống, vẫn phải ngoi lên..."

Cuộc sống gia đình của Duyên Anh, tôi đã biết từ những lần đến thăm anh ở Saigon, dĩ nhiên, đã có những ngày tháng hạnh phúc; nhưng cuộc sống hôn nhân êm đềm này không được dài lắm. Tôi cũng phải nói ngay, tình trạng này, một phần, do anh gây ra. Duyên Anh không phải là một người chồng tốt, nếu dựa trên những tiêu chuẩn bất cứ người vợ nào cũng mong muốn nơi chồng mình: cơm nhà quà vợ, không bê tha rượu chè, bài bạc, trai gái...

Duyên Anh đã, ít nhiều, vướng vào mấy thứ này, gây buồn phiền cho vợ con anh. Những lúc gây buồn khổ cho gia đình, đôi khi Duyên Anh cũng biết ăn năn, dùng văn thơ, và cả âm nhạc nữa, để xin lỗi vợ con. Điển hình là ca khúc Về Với Em, anh nhờ Mai Hương hát để bày tỏ lòng yêu thương và ân hận của mình đối với chị Duyên Anh, sau một lần bỏ nhà đi hoang
...Bước phiêu du trầy máu, bước phiêu du quặn đau
Yêu em gọi dĩ vãng ngọc châu
Về với em, về với em kỷ niệm êm
Về với em, về với em quên buồn phiền
Theo cuộc chơi, hạt tim rơi, hoàng hôn úa sân đời,
rồi sẽ ai với ta chiều côi?
Mãi vì em, Ngọc Phương, anh về. Nhớ lòng tê, nhớ hồn mê,
nhớ hao gầy giọt lệ em nỗi khuya.
Hãy vì anh đóa hôn nồng nàn. Môi kề gần trong mật nắng,
nghe trời đất xôn xang chuyện trần gian...

Tôi biết, chị Duyên Anh rất thương yêu anh, và có lẽ, cũng là người oán ghét anh nhất đời. Tôi đã chứng kiến sự tận tụy, lo lắng của chị đối với anh thời gian anh vừa bị bắt, sự chu đáo của chị những lần chuẩn bị đi thăm anh ở các trại tù, và cũng được nghe chị kể nỗi đau khổ, cả tinh thần lẫn thể xác, chị đã chịu đựng, trong đời sống hôn nhân với anh. Nhưng đó là cái giá một số bà vợ lấy chồng nghệ sĩ phải trả. Nhất là, một nghệ sĩ có quá nhiều tài năng như Duyên Anh. Nguời ta đã chẳng từng nói lắm tài lắm tật hay sao?

Đầu tháng bảy, tôi nhận tiếp một thư nữa của Duyên Anh
Em Hiền

Không nhớ thư trước anh đã báo tin mừng Belfond vừa ký thêm với anh một contrat về La Colline de Fanta chưa? Trí nhớ của anh suy sụp lắm rồi... Đàn bà họ không nhớ những điều tốt đẹp mình làm cho họ, mà chỉ nhớ đến những sai lầm của mình thôi.
Anh đang nghĩ xem đã đến lúc mình buông trôi, sống một mình cho yên lặng để dễ làm việc chưa. Anh sợ hãi đàn bà quá rồi. Tháng 9 này không kịp ra La Colline de Fanta. Phải đợi tháng 1-1988.


Belfond ngửi thấy Fanta dễ làm phim hay, nó ký thêm "Hợp đồng nhượng bộ quyền phóng tác thính thị". Anh lại lo cuốn thứ 3. Anh hy vọng, vài năm nữa thôi, anh sẽ thực sự nổi tiếng thế giới.

Em nghĩ xem, sau khi Robert Dornan viết thư mời anh, anh có nên tặng ông ta cuốn Un Russe à Saigon? Anh đã gửi Nhà Tù, hồi ký, cuốn 1 gồm 3 phần viết về Sở công an, đề lao Gia Định, khám Chí Hòa, 600 trang, cho Xuân Thu, gần chỗ em ở. Nó trả anh khoản tiền nhỏ về sách cũ rồi, và sách mới cũng ứng trước 2000 đôn). Nếu em rảnh, ghé sửa bản cuối cùng trước khi chạy máy giùm anh nhé! Cuốn 2 gồm 2 phần, viết về Sa Ác và Rừng Lá, mang tên Trại Tập Trung, 600 trang. Em có loan tin The Fanta Hill, nhớ nói anh ký giao kèo ngày 23-6-1987. Anh có contrat 5 cuốn, mỗi cuốn lại một contrat riêng. Độ rày anh ốm đau hoài, ăn ít. Rượu đã giới hạn tối đa. Đổi sang hút pipe, mà vẫn hút Gauloises khi ngồi viết. Đôi khi, anh rối tinh như hẹ, cái gì cũng muốn viết, và cái gì cũng chán viết. Anh mong xa nhà 6 tháng. Và chỉ có dịp qua Mỹ là anh thảnh thơi. Ít ra cũng... Bây giờ anh mới thấy chân lý: Ở tù là hạnh phúc.

Vài hàng thăm em.

Anh,
Duyên Anh

Đầu tháng 8, tôi nhận thêm một thư nữa
Em Hiền,

Anh đã nhận thư của Robert Dornan, Hồ Văn Xuân Nhi. Họ cũng gửi cho Tòa Đại Sứ Mỹ ở Paris. Thư nồng nhiệt lắm. Tuy nhiên, anh vẫn chưa thích thú lắm sang Mỹ dịp này. Bị xếp hàng xin visa, anh càng nản. Vậy Mỹ du, có thể là không. Anh trả lời em những điểm em nêu trong thư:
* David McAree không dịch Fanta Hill. Mới chỉ có bản dịch La Colline de Fanta thôi, và sẽ xuất bản Janvrier 1988. David dịch được 5 chương A Russian in Saigon. Nó không thích A Just American. Theo nó, truyện sẽ thành công, nhưng nó sợ cộng sản kết tội anh nói láo! Vả nữa, nó phải đánh vật với tự điển vài năm. Nó lại bận đi cứu đói thế giới.
* Em đừng vì A Just American mà nghỉ việc. Đừng, anh xin em.
* Đồng ý. Diều hâu sẽ đổi thành kên kên.
* Em tóm tắt lại A Just American cho anh, thật trung thực.
* Em bỏ Télévision là đúng.
* Rất cảm động về sự tự nguyện của em, vì anh, cho anh. Nay mai Thúy Nga sẽ qua California. Anh gửi hắn cầm bản thảo:

- Nhà Tù: 200 trang viết tay của anh, đã đưa Xuân Thu xuất bản. Bản thảo này, em giữ lấy. Cần thì photocopy cho PKV xem trước.
- Trại Tập Trung: 150 trang viết tay của anh. Em photocopy cho em một bản, có vài trang anh quạt bọn NQL và tụi báo L. Còn bản anh gửi, khi Xuân Thu đến lấy, thì em đưa cho nó.
- Hồn Say Phấn Lạ: 300 trang viết tay của anh. Em photocopy cho em một bản. Bản anh gửi, em giữ cho anh. Khi nào anh bảo đưa cho ai hãy đưa.


Thúy Nga sẽ gặp em nói chuyện thực hiện băng nhạc Vũ Đức Nghiêm. Em chép sẵn:
1. Mưa Long Giao
2. Xin Làm Cỏ Biếc Vương Chân Em Đi
3. Giả Sử Mai Ta Về
4. Khóc Đi Em Giọt Lệ Tủi Mừng
5. Khúc Thần Ca Năm Xưa
6. Nước Mắt Chảy Xuôi
7. Gọi Người Yêu Dấu
8. Em Có Hay Chăng
9. Người Xa, Người Xa Mãi
10. Trong Ngục Tù Bao La

Thân nhiều,
Duyên Anh
4-8-87

16 tháng 8, 1987, tôi viết thiệp sang, mừng sinh nhật thứ 52 của anh, kèm theo mấy tờ giấy ghi những lỗi chính tả trong bản thảo Trại Tập Trung, và mấy chỗ tôi đề nghị anh sửa. Gần cuối tháng, tôi nhận bức thư đề ngày 24 tháng 8 của anh
Em Hiền,

Sáng nay, Sơn lấy thư lên đưa cho anh.

Nếu anh đi Mỹ, có lẽ, anh sẽ không trở lại Paris nữa. Tụi nhóc lớn cả rồi. Anh cần sống cho anh vài năm để hoàn tất vài tác phẩm lớn.
Em tóm tắt kỹ lưỡng Một Tù Binh Mỹ ở Việt Nam thì đỡ bị hiểu lầm là anh pro-Américain như Ghislain Ripault đọc xong bản tóm tắt quá sơ lược của anh V. Anh rất hy vọng cuốn này. Ít ra, nó cũng giải quyết cơm áo cho anh, để yên tâm viết bộ truyện vinh tôn tổ quốc, dân tộc: Người Việt Nam. Nếu tháng 9 anh không đi Mỹ, chắc chắn, anh phải rời Paris lên vùng Bretagne ẩn thân. Ở đó, anh có nhà ở, có việc làm tại trang trại. Đây là nhà của một trong những thành viên Amnesty International đã bảo trợ anh...


Anh vẫn giữ ý định in chung tập nhạc của hai anh em mình. Nhạc thì anh có sẵn. Nhưng ai chịu in có 10 bài thôi? Họ in 36 bài. Nếu Xuân Thu chịu in 58 bài của anh, em tuyển chọn 10 bài của em đi, anh nhờ Võ Đức Tuyết kẻ và in chung. Âm nhạc đối với anh là trò chơi mới, và cũng là hệ lụy mới. Rồi có dịp, anh sẽ kể " hệ lụy". Nó dính vào đàn bà, và tiền của đàn bà. Không bao nhiêu, 6 ngàn đôn thôi, mà cũng mang tiếng. Tưởng vớ được bà bá tước yêu nghệ thuật, ai dè đồ bỏ!

10 giờ đêm qua, 23 tháng 8, Vĩnh Phúc (BBC) gọi cho anh. Anh ta bảo BBC tiếc em lắm. Em viết hay, đọc hay, kể như thí sinh trúng tuyển thượng ngoại hạng. Anh Phúc nói, nếu em làm cho BBC, em sẽ làm suốt đời. BBC mới là tương lai rực rỡ của em, là nơi em thường xuyên về Việt Nam, là nơi em có thể đưa vợ con em qua dễ dàng. Judy Stowe không đẹp lắm, nhưng trí thức, sang trọng, duyên dáng, lịch sự. ĐV bình dị, hiền hòa. Chưa có con, và sẽ không có con. Vợ chồng già cả rồi, sắp về hưu.

Cuốn băng Ru Tình Ngất Ngây sẽ nhờ Võ Đức Tuyết viết hòa âm và chơi nhạc. Trục trặc kỹ thuật là nhạc đệm cũ...lệch nhịp hết. Ngày mai, anh đến studio hỏi xem có thể cắt giọng Mai Hương ra, chơi nhạc trước, rồi thu lời sau? Chứ đánh nhạc để xóa nhạc cũ, e gặp trở ngại.

Thư hoài cho anh nhé! Và đừng đề cập chuyện buồn của anh.

TB: Anh phone cho Vĩnh Phúc lúc 10 giờ tối 24, sau khi viết thư cho em xong. Vĩnh Phúc và Đỗ Văn chấm bài của em. Anh ta bảo, giá em làm cho BBC, sau contrat 4 năm 2 tháng, em sẽ trở thành chính ngạch. Anh Phúc rất tiếc, rất tiếc...

Đầu tháng 9, 1987, Thiên Hương, con gái duy nhất của Duyên Anh, lập gia đình. Chú rể David McAree, dân Tô Cách Lan, rất giỏi tiếng Việt, là thành viên Amnesty International, chạy tới chạy lui, lo thủ tục giấy tờ bảo lãnh của cơ quan này cho Duyên Anh, nên quen biết Thiên Hương. Trong ba người con của Duyên Anh, Thiên Hương thừa hưởng nhiều tài năng của bố nhất. Cô bé thông thạo Anh văn, Pháp văn, chơi piano hay; và viết văn tiếng Việt cũng giỏi nữa.

Trong thư 9 tháng 9, 1987, Duyên Anh viết
Anh vừa nhận thư mới của em. Đám cưới Thiên Hương, David đã xong. Kết quả tốt đẹp, về tổ chức. Anh Vũ Đức Anh đến dự, cùng chị Anh và cháu gái, từ nhà thờ tới chỗ làm hôn lễ theo phong tục cổ truyền Việt Nam. Tân khách quốc tế: Tô Cách Lan, Anh, Pháp, Ý, Mỹ, Nam Tư, Việt Nam...

Kể như anh đã nhẹ nhàng.

Trả lời thư em:

* Khi anh sang, anh em mình sẽ có nhiều đêm tâm sự.
* Vụ nhà xuất bản và nhà sách, chờ anh sang sẽ thảo luận.
* Cám ơn em đã lo vụ Mai Hương giúp anh. Đi Mỹ về, có tiền, anh sẽ thuê Bernard Gérard ( 17,000 F ), không có, thì nhờ Võ Đức Tuyết chơi đàn điện hết, trừ piano ( violon, violoncelle...), mất 5,000 F thôi. Và đợi mùa thu 1988, mời Mai Hương qua hát, ra mắt băng nhạc. Và chỉ cần bán ở Paris là hòa sở hội: tiền ca sĩ + nhạc sĩ + studio...
* Những trang ở Nhà Tù do anh sửa bỏ, không phải Xuân Thu. Đoạn V.P., anh bỏ, vì đ. cần nó ca tụng. Đúng, anh đã gửi qua những trang bỏ vợi chỗ chửi TT. Nó đề nghị hay. Tác phẩm không nên "trả thù" nhiều.
* Em đúng. Nền đỏ chữ vàng, vậy sửa lại.
* Thằng đó là bác sĩ N.N.T, chủ tịch đảng Dân chủ, Trưởng ty y tế P.Y..
* Anh không thua thằng nào cả, nếu thua là chỉ vì mình là dân tộc nhỏ bé, và trót sống với bọn hèn mạt (không dùng chữ hèn mọn nữa).
* Anh sẽ viết tóm tắt lại A Just American.
* Hy vọng anh em mình sẽ gặp nhau trong tháng 9. Vậy không viết nhiều nữa.


Thương yêu

Anh

TB: Em đưa Hồn Say Phấn Lạ cho Xuân Thu dùm anh. Nhớ photocopy lại 1 bản để dành thủ bút của anh.

Duyên Anh

Cuối tháng 9, tôi lại nhận thêm một thư nữa của anh
Em Hiền,

Trước hết, về những chữ anh sai ở Trại Tập Trung và Hồn Say Phấn Lạ, hoàn toàn em đúng. Anh có thói xấu, viết xong không bao giờ chịu đọc lại. Vậy em sửa giùm:

Phạm văn Phú thay vì Nguyễn văn Phú
kho đạn Long Bình thay vì Long Thành
Đỗ Hữu Cảnh thay vì (vài chỗ) Nguyễn Hữu Cảnh
đã ở đề lao 17 tháng thay vì 18 tháng
co quắp thay vì co coắp
gươm giáo thay vì gươm dáo
hủ hóa thay vì hủ quá
Trần Hữu Thanh thay vì Nguyễn Hữu Thanh
Souvana Phouma thay vì Soupha Phuma


Chỗ này thận trọng, nếu là chủ tịch nhà nước Lào thì Souvana Nouvong (?) trang bao nhiêu ? Sách nào ? ( Duyên Anh nhớ gần đúng. Thực ra, tên ông chủ tịch nhà nước Lào thời ấy là Souphanouvong.)

vô tuốt thay vì vô tút
Trần Ngọc Châu thay vì Nguyễn Ngọc Châu
Đặng Võ vì ngại động chạm Đặng Vũ. Nữ chúa tên thật là Đặng Vũ thị Thanh Lan (xì ke ở Trại Long Thành) mà anh đã viết ở Sỏi Đá Ngậm Ngùi.
........


Còn gì em thấy sai nữa thì cứ tự ý sửa. Ở Trại Tập Trung, phần thứ 1, anh có sửa và bỏ đi nhiều lắm. Em thấy những chỗ anh đóng khung mầu là anh sửa bỏ hết (mới gửi sang) và phần thứ 2 anh thêm (từ dứt chương 13) 3 chương mới về suy tư của anh về tuổi trẻ. Anh đã giao hẹn với Xuân Thu, cấm nó tự ý sửa. Anh thấy bỏ vợi phần chửi cu TT và đồng bọn, Trại Tập Trung giá trị hơn. Mình hơn chúng nó, chả cần thèm chửi nữa. Ô kê. Thế nào cũng gặp em trong tháng mười.

Anh

Vũ Mộng Long

Duyên Anh đề nghị tôi dựng lại Nhà Xuất Bản Tuổi Ngọc, do tôi và Hồ Văn Xuân Nhi trông coi. Duyên Anh nghĩ Hồ Văn Xuân Nhi là người có lòng, nhiệt tình, và đông anh em. Duyên Anh dự tính viết mỗi tháng một cuốn truyện thiếu nhi, loại Dzũng Đakao; thoạt đầu có thể cứ hai tháng phát hành một cuốn, dần dần sẽ mỗi tháng một cuốn. Duyên Anh bảo, cứ mỗi trang viết tay của anh là 4 trang in, như vậy viết đều đặn 30 trang sẽ được một cuốn truyện thiếu nhi loại này. Duyên Anh nói, sẽ gửi một cuốn truyện thiếu nhi của nhà xuất bản Poléo cho tôi làm mẫu. Tôi sẽ phải tìm họa sĩ giỏi, nhờ họa sĩ vẽ khoảng năm sáu bức tranh cho mỗi cuốn truyện. Chúng tôi sẽ in ở Mỹ 1000 cuốn, và ở Pháp 500 cuốn. Trong dự tính của Duyên Anh, việc tiêu thụ sẽ rất dễ dàng: Xuân Thu 200 cuốn, Ngày Nay 100 cuốn, nhóm bạn bè của Hồ Văn Xuân Nhi bán qua bưu điện 200 cuốn, các tiệm sách khắp tiểu bang 500 cuốn...Rồi thì Làng Văn Canada và các nơi khác nữa.

Duyên Anh gợi ý tôi về Bolsa mở một hiệu sách. Nam Á sẽ cung cấp sách cho tôi bán, điều kiện rất dễ dàng, bán sách trước rồi cuối năm trả tiền cũng được. Theo Duyên Anh nghĩ,
"...Nếu em có tiệm sách, bán sách do mình xuất bản, làm từ A đến Z; được 500 cuốn là đủ sở hụi và tác quyền . Nghề xuất bản mau giầu lắm. Chúng ta cần nhiều tiền để làm việc lớn. Đi làm công chức không thể phục quốc kiểu Do Thái được. Anh nghĩ một mình em cũng đủ dựng bảng hiệu Tuôåi Ngọc. Nhóm bạn Hồ Văn Xuân Nhi sẽ giúp em việc phát hành, cổ động.

Nhà Xuất Bản TUỔI NGỌC
Giám Đốc: Vũ Trung Hiền
Chuyên Xuất Bản Truyện Tuổi Thơ
Tác giả cột trụ: DUYÊN ANH


Sau 5 cuốn mới, sẽ xen kẽ 1 cuốn cũ của anh. Rồi em sẽ khám phá những tài năng mới mà khuyến khích, nâng đỡ. Một việc làm có ý nghĩa cho cuộc đời mà ra nhiều tiền, tại sao không thực hiện nhỉ? Chả lẽ anh đi viết truyện tuổi thơ cho bọn lái sách? Em và Anh là lý tưởng. Cho anh biết ngay. Cuốn thứ nhất sẽ tuyệt diệu và anh sẽ... Không làm việc ngay cho thiếu niên và thanh niên thì nguy lắm.
Có anh viết, em không lo tác quyền, anh sẽ viết cả 100 cuốn, đến già.


Anh,

Duyên Anh

***



Cuối 1987, Duyên Anh đến Los Angeles lần đầu tiên. Ra đón anh ở phi trường có khá đông bạn hữu. Cả Phạm Duy cũng ra đón Duyên Anh. Trong lúc ngồi chờ máy bay đáp xuống, tôi gợi ý với Phạm Duy đứng ra hòa giải trận đánh đấm tàn khốc trên báo giữa Duyên Anh và Tạ Tỵ. Tôi nhớ tháng 10, 1981, khi đến thăm Duyên Anh ở 225 B Công Lý, tôi gặp ông Khai Trí, Tạ Tỵ và Doãn Quốc Sỹ đang trò chuyện thân mật với Duyên Anh . Không hiểu sau đó, sang Mỹ rồi, nghe ai mớm lời, Tạ Tỵ viết bài trên tạp chí VĂN của Mai Thảo, tố cáo Duyên Anh " đầu hàng cộng sản, bán xác anh em." Duyên Anh phản công dữ dội. Ngoài một số bài trên các báo, Duyên Anh còn nhắc tới Tạ Tỵ khá kỹ ở trong hồi ký Nhà Tù và Trại Tập Trung về " thành tích vẽ ảnh Hồ Chí Minh, ăn vụng thịt, ăn tranh phần cơm cháy của heo..."

Theo Duyên Anh kể cho tôi nghe, sau lần tôi gặp Tạ Tỵ và Doãn Quốc Sỹ, Tạ Tỵ trở lại một lần nữa, dắt theo Lê Ngộ Châu, chủ nhiệm tạp chí Bách Khoa. Vì Duyên Anh biết Lê Ngộ Châu chơi thân với Huy Khánh, bí danh Hai Khuynh, một cán bộ Việt Cộng; nên khi Tạ Tỵ yêu cầu Duyên Anh đọc thơ tù cho Lê Ngộ Châu nghe, Duyên Anh từ chối, và tiếp đãi nhạt nhẽo. Cũng theo Duyên Anh, có thể Tạ Tỵ mất mặt với Lê Ngộ Châu, nên để bụng thù hận Duyên Anh từ đó...

Phạm Duy nghe tôi đề nghị, tỏ vẻ lạnh nhạt:

- Hơi đâu mà làm chuyện đó. Hai người ấy, họ lớn cả rồi...

Duyên Anh từ hành lang phía trong đi ra, bạn bè bao lấy. Anh hớt tóc cao, và không chải đầu gì cả. Duyên Anh cười lớn khi có người nhận xét về tóc tai của anh:

- Để tóc kiểu này là kiểu chiến đấu. Bây giờ là lúc phải cho lửa vào thơ văn của mình mới được.

Phạm Duy hỏi:

- Tôi nghe chúng nó bảo lúc này cậu cũng làm nhạc nữa phải không?

Duyên Anh cười ha hả:

- Có chứ. Đứa nào thắc mắc, ông bảo chúng nó là tôi còn sắp sửa VẼ nữa, cho chúng nó sợ.

Tôi xách hộ Duyên Anh chiếc xắc tay, đinh ninh anh sẽ về nhà tôi, như anh đã hứa trong điện thoại mấy hôm trước. Mẹ tôi biết anh sang, đã làm cơm sẵn chờ tôi đưa anh về cùng ăn.

Ra khỏi khu lấy hành lý, Duyên Anh bảo tôi, anh sẽ về khu Bolsa, có một đám bạn đang chờ anh dưới đó, và rủ tôi đi cùng. Tôi từ chối, không muốn la cà trong lúc mẹ đợi cơm ở nhà.

Tôi hơi giận Duyên Anh, nên mấy hôm sau, khi anh gọi, rủ tôi đi với anh đến ăn cơm tối ở nhà Mai Hương, tôi lấy cớ đang phải học thi, không đi được. Tôi cũng không hỏi anh đang ở đâu.

Nhưng tôi không giận Duyên Anh lâu được. Vài tuần sau, Duyên Anh gọi tôi xuống Orange County chơi với anh. Tôi hỏi anh đang ở đâu. Duyên Anh nói, anh đang ở nhà CTB. Tôi hỏi địa chỉ, và tìm đến thăm anh. Tới nơi, tôi thấy anh đang nói chuyện với TMC, cựu đại tá cảnh sát. Biết Duyên Anh sắp đi chơi với tôi, TMC ngồi lại thêm mấy phút nữa, rồi cáo từ. Duyên Anh rủ tôi đi gặp Hồ Văn Xuân Nhi, Nguyễn Ý Thuần, Nguyễn Đức An, Trần Nghi Hoàng tại một quán Bò 7 Món khu Bolsa. Duyên Anh uống khá nhiều, càng uống nói càng hay. Anh kể chuyện viết văn, làm báo, và tỏ ý muốn cho sống lại tờ Con Ong. Trong gần ba tiếng đồng hồ, Duyên Anh chia xẻ với những người viết trẻ này kinh nghiệm văn chương của mình.

Trên đường tôi đưa Duyên Anh về, anh cho tôi biết, sang Mỹ chuyến này dễ dàng nhờ thư mời của dân biểu Robert Dornan. Lúc ấy, Hồ Văn Xuân Nhi đang làm phụ tá cho dân biểu Dornan, nên Nhi đã sắp đặt tất cả chuyện giấy tờ, để việc nhập cảnh Mỹ của Duyên Anh được nhanh chóng.

***


Ngày 2 tháng giêng, 1988, Duyên Anh ra mắt Nhà Tù tại Embassy Room, khách sạn Disneyland, thành phố Anaheim, phía Bắc Westminster. Đây là lần đầu tiên, và có lẽ cũng là lần duy nhất, nhà xuất bản Xuân Thu tổ chức ra mắt sách cho tác giả ở một địa điểm sang trọng như thế. Duyên Anh rủ tôi xuống tham dự. Anh nói, sẽ có Mai Hương hát nhạc của anh; và Kiều Chinh sẽ lên phát biểu về cuốn hồi ký độc đáo này. Phòng họp bề thế, trải thảm, trang hoàng rực rỡ. Khách tham dự khoảng gần hai trăm người, nhưng đặc biệt, không có mấy nhà văn. Chẳng biết vì thiệp mời không gửi, hay có gửi, mà vì những lý do nào đó, các vị ấy không đến. Hồ Văn Xuân Nhi giới thiệu chương trình. Anh nói về tác phẩm của Duyên Anh với một sự trang trọng đặc biệt. Hồ Văn Xuân Nhi cho biết, chỉ trong vòng bốn năm, từ ngày tị nạn tại Pháp, Duyên Anh đã hoàn thành hai mươi tác phẩm. Tiếp theo, Phạm Công Danh trình bày đường hướng xuất bản mới của anh, và nói sơ qua về mấy tác phẩm sắp xuất bản. Duyên Anh được giới thiêu liền sau đó. Anh nói, Nhà Tù là phần đầu trong bộ hồi ký hai tập, ghi lại những đau thương, hệ lụy anh đã trải qua trong hơn năm năm ở tù cộng sản. Theo Duyên Anh, Nhà Tù tượng trưng cho cái tĩnh của đời sống tù ngục, khác với cái động của trại tập trung lao cải.

Sau khi một bé gái bước lên, tặng hoa cho tác giả, nhạc sĩ Lê Văn Khoa ngồi vào piano, đệm cho Mai Hương hát hai bản nhạc tiêu biểu của Duyên Anh. Tôi chờ, nhưng không thấy Kiều Chinh lên nói. Cũng không thấy có mặt chị trong buổi ra mắt này. Trong lúc Duyên Anh ngồi ký sách cho độc giả và thân hữu, khách tham dự thưởng thức vài món ăn nhẹ và giải khát ở một góc khác của phòng họp.

Như mọi lần, Duyên Anh dành một bản đặc biệt, đề tặng tôi.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn