BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 35667)
(Xem: 33254)
(Xem: 32370)
(Xem: 24674)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Tại sao các cấp tòa án sợ không dám xét xử một quyết định hành chính của bộ công an?

21 Tháng Ba 201212:00 SA(Xem: 516)
Tại sao các cấp tòa án sợ không dám xét xử một quyết định hành chính của bộ công an?
51Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
51
Ngày 09/01/2006, lãnh đạo Công an huyện Bắc Trà My-Công an tỉnh Quảng Nam kêu tôi lên phòng làm việc và thông báo cho tôi biết tôi có đơn tố cáo của cô Nguyễn Thị Lệ gởi Công an tỉnh Quảng Nam với hai nội dung liên quan:

 -Vấn đề quan hệ tình cảm, yêu đương.

 -Vấn đề liên quan đến kinh tế với cô Nguyễn Thị Lệ.

 Lãnh đạo Công an huyện Bắc Trà My không cho tôi xem đơn và yêu cầu tôi viết báo cáo, tiếp đó tổ chức kiểm điểm tôi tại đơn vị và chuyển kết quả về Công an tỉnh Quảng Nam.

 Đến ngày 03/03/2006, tôi lại được lãnh đạo Công an huyện Bắc Trà My mời lên thông báo: Kết quả kiểm điểm của Công an huyện Bắc Trà My đối với tôi không được Công an tỉnh Quảng Nam chấp nhận và Lãnh đạo Công an huyện giao cho tôi một công văn không số có tên : THÔNG BÁO ĐỀ NGHỊ viết báo cáo và kiểm điểm , ngày 01/03/2006 do Trưởng Công an huyện HỒ VĂN LONG ký , nội dung : Ngày 28/06/2006 Công an huyện Bắc Trà My nhận được Công văn số 258/PX13 của Phòng Tổ chức cán bộ - Công an tỉnh Quảng Nam : Về việc xác minh bổ sung hồ sơ của đồng chí HẢI theo đơn khiếu nại của cô Nguyễn Thị Lệ theo hai nội dung liên quan:

- Vấn đề quan hệ tình cảm yêu đương.

- Vấn đề liên quan đến kinh tế với cô NGUYỄN THỊ LỆ

Đề nghị đồng chí HẢI viết báo cáo trình bày và kiểm điểm các nội dung trên .Cùng với thông báo đề nghị ,Lãnh đạo Công an huyện Bắc Trà My còn đưa cho tôi một tập giấy có nét chữ màu đen nghệch ngoạc , nội dung không rõ ràng , nét chữ mờ , Lãnh đạo Công an huyện Bắc Trà My không cho tôi xem đơn cô Lệ và công văn số 258/PX13 Công an tỉnh Quảng nam , lãnh đạo Công an huyện yêu cầu tôi thực hiện viết báo cáo và kiểm điểm.Buổi làm việc có lập biên bản, có sự tham gia của Ban Kiểm tra Đảng ủy Công an huyện Bắc Trà My,Lãnh đạo Công an huyện yêu cầu tôi ký xác nhận vào biên bản và các giấy có chữ màu đen kể trên (họ gọi là thư).

Sau đó cơ quan lại tiếp tục họp, tại cuộc họp này có công bố kết quả giám định của Công an tỉnh Quảng Nam xác định tập giấy có chữ màu đen kể trên là của tôi.Toàn bộ kết quả cuộc họp sau đó chuyển về Công an tỉnh Quảng Nam.Việc trưng cầu giám định chuyên môn trên(cụ thể là trưng cầu

giám định tập giấy có nét chữ màu đen) đã vi phạm nghiêm trọng pháp luật vì lẽ:

 - Vấn đề quan hệ tình cảm yêu đương.

 -Vấn đề quan hệ kinh tế, 

 giữa tôi( ĐẶNG XUÂN HẢI) và cô NGUYỄN THỊ LỆ theo BỘ LUẬT DÂN SỰ năm 2005, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2006 là quan hệ dân sự, được quy định tại điều 43-Quyền nhận, không nhận cha ,mẹ,con (Mục 2-Chương II-PHẦN THỨ NHẤT) và Mục 1,Chương XVIII-PHẦN THỨ BA:Hợp đồng dân sự thông dụng và hợp đồng mua bán tài sản.Do vậy, khi phát sinh vụ việc dân sự, những vấn đề này được điều chỉnh bởi BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ năm 2004 có hiệu lực ngày 01/01/2005(Quy định tại Điều 21, Điều 25, Điều 27, Điều 44, Điều 45-BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰnăm 2004):Vì vậy việc thu thập chứng cứ chứng minh làm rõ vấn đề(trong đó có Trưng cầu giám định chuyên môn) đều thuộc thẩm quyền của cơ quan TÒA ÁN DÂN SỰ(qui định tại Điều 90:Trưng cầu giám định chuyên môn-BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ năm 2004)VIỆN KIỂM SÁT(qui định tại Điều 21:Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự).Việc Cơ quan Công an thu thập tài liệu chứng cứ chứng minh( trong đó có Trưng cầu giám định chuyên môn) nhằm làm rõ vụ việc dân sự là hành vi trái quy định của pháp luật ,vi phạm nghiêm trọng BỘ LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ năm 2004, vi phạm Điều 14-Nhiệm vụ, quyền hạn của Công an nhân dân, Điều 15-Nhiệm vụ, quyền hạn của lực lượng An ninh nhân dân, Điều 16-Nhiệm vụ quyền hạn của lực lượng Cảnh sát nhân dân- LUẬT CÔNG AN NHÂN DÂN năm 2005.Mặt khác, vụ việc tranh chấp xảy ra giữa tôi(ĐẶNG XUÂN HẢI) và cô NGUYỄN THỊ LỆ vụ việc dân sự .Tôi (ĐẶNG XUÂN HẢI) là một chủ thể của cơ quan Công an,việc Cơ quan Công an vừa thực hiện tiếp nhận đơn khiếu nại của cô NGUYỄN THỊ LỆ , vừa chỉ đạo việc thu thập tài liệu chứng cứ chứng minh(trong đó có việc chỉ đạo Trưng cầu giám định chuyên môn),vừa Trưng cầu giám định chuyên môn, vừa thực hiện Giám định chuyên môn,vừa tham gia xử lý kỷ luật tôi(ĐẶNG XUÂN HẢI), là không đảm bảo tính khách quan trong việc thực hiện Trưng cầu giám định chuyên môn: vi phạm nghiêm trọng vào Điều 3:Nguyên tắc thực hiện giám định tư pháp(khoản 2-Trung thực, chính xác, khách quan) Điều 37:Những trường hợp không thực hiện giám định tư pháp(Khoản 4-Có căn cứ rõ ràng khác để cho rằng người đó có thể không vô tư trong khi thực hiện giám định)-PHÁP LỆNH GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP năm 2004.

 Thấy không đủ cơ sở xử lý kỷ luật tôi-Bởi lẽ , về mặt tình cảm tôi thanh niên chưa có vợ ,cô Nguyễn Thị Lệ là phụ nữ chưa có chồng hoàn toàn có quyền tìm hiểu nhau, nếu cảm thấy chưa phù hợp thì có quyền không tìm hiểu nữa .Còn về vấn đề kinh tế tôi khẳng định rằng giữa tôi và cô Nguyễn Thị Lệ không có liên quan gì cả ( mà giả sử nếu có thì vấn đề kinh tế này theo quy định của pháp luật hoàn toàn không phải việc của cơ quan Công an)- Cơ quan Công an tỉnh Quảng Nam chuyển sang “vận dụng”nguyên tắc “Râu ông nọ cắm cằm bà kia” tức là Gíam đốc Công an tỉnh Quảng Nam có văn bản chỉ đạo Huyện ủy Bắc Trà My khai trừ ĐẢNG đối với tôi (hành vi đó vi phạm Điều 59, Điều 60 –LUẬT KHIẾU NẠI , TỐ CÁO được Quốc Hội khóa X, kỳ họp thứ 4 thông qua ngày 02/12/1998 , đã sữa đổi bổ sung năm 2004 và 2005, vì chưa có kết luận của cơ quan có thẩm quyền) .Sau đó ,Gíam đốc Công an tỉnh Quảng Nam lấy kết quả từ Huyện ủy Bắc Trà My chuyển toàn bộ hồ sơ về Bộ Công an kiến nghị tước danh hiệu Công an nhân dân của tôi.

Ngày 26/7/2006,Quyền Tổng cục trưởng Tổng cục xây dựng lực lượng Công an nhân dân –Bộ Công an ,Trần Quang Trọng có Quyết định về việc kỷ luật cán bộ số 3318/QĐ-X11(X13) tước danh hiệu Công an nhân dân đối anh ĐẶNG XUÂN HẢI(tức tôi), thực chất Quyết định 3318/QĐ-X11(X13) là quyết định sa thải cán bộ .Ngày 10/8/2006 ,Đại diện Công an tỉnh Quảng Nam –trực tiếp Trung tá DOÃN BÁ HỒNG , Phó trưởng Phòng Tổ chức Cán bộ- Công an tỉnh Quảng Nam (PX13) lên công bố quyết định 3318/QĐ-X11(X13) ,tước danh hiệu Công an nhân dân đối với tôi, chấm dứt quyền được làm việc của tôi sau 18 năm công tác trong ngành Công an ,sau khi công bố Quyết định 3318/QĐ-X11(X13), Trung tá DOÃN BÁ HỒNG yêu cầu tôi có đơn: “XIN HƯỞNG CHẾ ĐỘ CHÍNH SÁCH” trong đó trình bày lại toàn bộ nội dung sự việc ,thừa nhận sai phạm của bản thân và tự nhận xét mình không đủ điều kiện phục vụ trong ngành Công an và gởi Công an tỉnh Quảng Nam ,Công an tỉnh Quảng Nam sẽ giải quyết chế độ chính sách. Không đồng ý theo yêu cầu của Trung tá DOÃN BÁ HỒNG vì vậy, từ năm 2006 đến nay tôi trở thành người ngoài vòng pháp luật theo đúng nghĩa đen và nghĩa bóng của nó.

LUẬT CÔNG AN NHÂN DÂN được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29-11-2005.Có hiệu lực từ ngày 01-07-2006 và Chỉ thị số 20/2006/CT-TTg Ngày 15-6-2006 của THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ:Về việc tổ chức triển khai thi hành Luật Công an nhân dân:Đều quy định Luật Công an nhân dân có hiệu lực thi hành từ ngày 01-07-2006.

Theo Điều 25-Luật Công an nhân dân việc phong, thăng, giáng, tước đối với cấp bậc hàm từ Đại úy trở xuống thuộc thẩm quyền của Giám đốc, Phó Giám đốc tỉnh ,thành phố trực thuộc trung ương.Vì vậy việc ra Quyết định số 3318/QĐ-X11(X13):Kỷ luật Đại úy ĐẶNG XUÂN HẢI bằng hình thức tước danh hiệu Công an nhân dân của TỔNG CỤC XÂY DỰNG LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN –BỘ CÔNG AN do Quyền Tổng cục trưởng TRẦN QUANG TRỌNG ký là trái LUẬT CÔNG AN NHÂN DÂN.

 Việc vận dụng : tiết 11, mục 3, Phần 2,Quy định phân công trách nhiệm giữa Công an các cấp về một số vấn đề trong công tác tổ chức cán bộ của lực lượng Công an nhân dân(Ban hành theo Quyết định số 596/2003/QĐ-BCA(X13) ngày 29 tháng 8 năm 2003 của Bộ Trưởng Bộ Công an)-Văn bản này không phải văn bản MẬT và không đăng CÔNG BÁO- để ra quyết định kỷ luật số 3318/QĐ-X11(X13):kỷ luật Đại úy ĐẶNG XUÂN HẢI bằng hình thức tước danh hiệu Công an nhân dân là hành vi vi phạm điều 25, Điều 42 LUẬT CÔNG AN NHÂN DÂN và LUẬT BAN HÀNH CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT năm 1996 được Quốc Hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa IX, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 12-11-1996. Có hiệu lực thi hành từ ngày 01-01-1997.Được sữa đổi bổ sung năm 2002(Luật cũ).

Không đồng ý với nội dung quyết định tôi có đơn gởi đến Bộ trưởng Bộ Công an và Tổng cục xây dựng lực lượng Công an nhân dân –Bộ Công an khiếu nại Quyết định số 3318/QĐ-X11(X13)và ngày 23/10/2006 tôi nhận được văn bản số 4015/X13 do Vụ phó Vụ Tổ chức Cán bộ-Bộ Công an Hoàng Tiến Đỉnh ký nội dung trả lời đơn khiếu nại của tôi.

Xét thấy văn bản số 4015/X13 là văn bản trái luật , vi phạm Luật Khiếu nại ,Tố cáo được Quốc hội nước Công hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 2/12/1998 và bổ sung năm 2004 và 2005 vi phạm về thẩm quyền giải quyết, về trình tự giải quyết, thể thức giải quyết vụ việc , thời gian giải quyết, nội dung cần giải quyết….và dĩ nhiên vi phạm Luật Công an nhân dân được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 29/11/2005 có hiệu lực ngày 01/07/2006.

 Ngày 01/12/ 2006 tôi tiếp tục có đơn khiếu nại gởi đến Bộ trưởng Bộ Công an và Tổng cục trưởng Tổng cục Xây dựng lực lượng Công an nhân dân –Bộ Công an nhưng không nhận được hồi âm.Thực tế trong quá trình giải quyết vụ việc của tôi họ tìm mọi cách đẩy tôi vào “thế triệt buộc”,“râu ông nọ cắm cằm bà kia”. Nếu giải quyết các quyết định của ngành Công an thì phải đụng chạm quyết định của mặt ĐẢNG và ngược lại.

Đến ngày 29/03/ 2007, tôi có đơn khởi kiện đến Tòa Hành chính-Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam và nhận được Phiếu trả lại đơn cho người khởi kiện số 04/2007/PTĐ-TA ngày 2/4/2007, nội dung :Căn cứ vào các quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính thì quyết định do Tổng cục trưởng Tổng cục xây dựng lực lượng Công an nhân dân ban hành bên trên không thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; do Chánh Tòa hành chính- Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam Trương Trọng Tiến ký.Không thõa mãn với trả lời của Chánh Tòa hành chính Trương Trọng Tiến: vì tại khoản 1-Điều 19-Quy chế xử lý kỷ luật Sĩ quan, Hạ sĩ quan, Chiến sỹ, Công nhân viên Công an nhân dân (Ban hành theo Quyết định số :3316/2005/QĐ-BCA(X13) ngày 15 tháng 09 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Công an ( gọi tắt là QUY CHẾ XỬ LÝ- xin nói thêm QUY CHẾ XỬ LÝ nói trên không phải là văn bản MẬT và không đăng CÔNG BÁO-việc này vi phạmđiều ,LUẬT BAN HÀNH CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT năm 1996) quy định:Cán bộ,chiến sỹ vi phạm kỷ luật có quyền khiếu nại lên cấp có thẩm quyền theo quy định của Luật khiếu nại ,tố cáo về quyết định kỷ luật của mình, và khoản 2-Điều 19-Thẩm quyền , trách nhiệm xem xét, giải quyết khiếu nại của Cán bộ, Chiến sỹ thực hiện theo quy định của Luật khiếu nại ,tố cáo….,mà theo Luật Khiếu nại, tố cáo:Điều 55 quy định :Cán bộ ,Công chức khiếu nại quyết định buộc thôi việc , kể từ ngày nhận được quyết định giải quyết lần đầu, nếu không đồng ý với quyết định đó thì trong thời hạn quy định tại Điều 39- Luật này, có quyền khiếu nại đến người có thẩm quyền giải quyết tiếp theo hoặc khởi kiện vụ án hành chính tại Tòa án theo quy định của Pháp luật về Cán bộ, Công chức và pháp luật về Tố tụng hành chính.Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính 1996, có bổ sung năm 1998 và 2006, Khoản 19-Điều 11,có quy định:Các khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án :Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc Cán bộ ,Công chức giữ chức vụ từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống.Trên cơ sở của luật pháp quy định , tôi tiếp tục có đơn khiếu nại về thẩm quyền xét xử gởi đến Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam , tôi nhận được văn bản số 17/TA do Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam Trần Ngọc Triều ký ngày 17/04/2007 nội dung khẳng định việc trả lại đơn khiếu kiện cho người khởi kiện tại Công văn số 04/2007/PTĐ-TA ngày 02/04/2007 củaTòa Hành chính Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam là đúng Pháp luật.

Không đồng ý với việc trả lời của Chánh án Trần Ngọc Triều , ngày 23/04/2007 tôi tiếp tục có đơn Khiếu nại gởi Tòa án nhân dân Tối cao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhưng không thấy trả lời, chờ mãi đến ngày 09/08/2007 tôi lại có đơn Khiếu nại gởi Tòa án nhân dân tối cao nước Công hòa xã hôi chủ nghĩa Việt Nam nhưng không thấy phúc đáp. Từ đó tới nay( 2009), cứ trung bình ba (03) tháng /một(01) lần định kỳ tôi thường xuyên gởi đơn đến Tòa án nhân dân Tối cao nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nhưng đều gặp tình trạng không được Tòa án nhân dân Tố cao trả lời.

 Qua năm năm,nhờ ơn CHÚA:Bất ngờ ngày 12/02/2012, tôi nhận được Văn bản số 29/TANDTC-HC,ngày 20tháng 01năm 2012 “V/v trả lời khiếu nại”của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO-TÒA HÀNH CHÍNH,do PHÓ CHÁNH TÒA PHỤ TRÁCH :Nguyễn Thị Hoàng Bạch Yến ký,nội dung:Sau khi nghiên cứu nội dung đơn khiếu nại của Ông( tức tôi- ĐẶNG XUÂN HẢI) và các tài liệu gởi kèm theo, Tòa Hành chính Tòa án nhân dân tối cao trả lời Ông như sau:

- Khoản 19 Điều 11 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính(sửa đổi bổ sung năm 2006) quy định khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là:”Khiếu kiện quết định kỷ luật buộc thôi việc cán bộ, công chức giữ chức vụ từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống”.

- Khoản 3 Điều 28 Luật Tố tụng hành chính(có hiệu lực từ ngày 01/7/2011)cũng quy định khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là:”Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ Tổng cục trưởng và tương đương trở xuống”.

- Theo điểm e khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh cán bộ, công chức(sửa đổi ,bổ sung năm 2003) có hiệu lực tại thời điểm Ông khiếu kiện, thì:Công chức là những người được tuyển dụng, bổ nhiệm hoặc giao nhiệm vụ thường xuyên làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; làm việc trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp.

Ông nguyên là Đại úy,Đội trưởng Đội An ninh thuộc Công an huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam, là sỹ quan trong lực lượng Công an nhân dân, nên Ông không phải là cán bộ ,công chức .

- Quyết đinh 3318/QĐ-X11 ngày 26/7/2006 của Tổng cục trưởng Tổng cục xây dựng lực lượng Công an nhân dân về việc kỷ luật Ông với hình thức tước danh hiệu Công an nhân dân, không phải là quyết định kỷ luật buộc thôi việc.

Do đó , khi Ông khởi kiện Quyết định số 3318/QĐ-X11 ngày 26/7/20006 của Tổng cục trưởng Tổng cục xây dựng lực lượng Công an nhân dân tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam đã có Phiếu trả lại đơn khởi kiện số 04/2007/PTD-TA và Công văn số 17/TA ngày 17/4/2007 không chấp nhận khiếu nại của Ông đối với việc trả lại đơn khởi kiện là có căn cứ đúng pháp luật.

 Sau khi nhận được Văn bản số 29/TANDTC-HC với nội dung trên , tôi đã xem xét và nhận thấy:

 Việc tôi khởi kiện Quyết định số 3318/QĐ-X11 ngày 26/7/2006 của Tổng cục trưởng Tổng cục xây dựng lực lượng Công an nhân dân tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam và việc khiếu nại Công văn số 17/TA ngày 17/4/2007của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam đều với tư cách cán bộ :cụ thể là cán bộ Công an nhân dân,từ ngữ quy định tại: CHỈ THỊ SỐ 20/2006/CT-TTg ngày 15/6/2006 CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ”Về việc tổ chức triển khai thi hành Luật Công an nhân dân”do THỦ TƯỚNG PHAN VĂN KHẢI ký; NGHỊ ĐỊNH SỐ 43/2007/NĐ-CP NGÀY 26/3/2007 CỦA CHÍNH PHỦ”Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Công an nhân dân” do THỦ TƯỚNG NGUYỄN TẤN DŨNG ký và nhiều văn bản khác.Việc cho rằng sỹ quan trong lực lượng Công an nhân dân không phải là cán bộ (cụ thể là cán bộ Công an nhân dân) là không đúng.

 Và cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia, từ ngữ quy định tại Khoản 6, Điều3 Luật an ninh quốc gia(có hiệu lực ngày từ ngày 01/7/2005):Cán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia là sĩ quan, hạ sĩ quan của cơ quan chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia được giao nhiệm vụ chuyên trách làm tham mưu, tổ chức, trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ an ninh quốc gia.

 Tôi không khởi kiện Quyết định số 3318/QĐ-X11 ngày 26/7/2006 của Tổng cục trưởng Tổng cục xây dựng lực lượng Công an nhân dân tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam và việc khiếu nại Công văn số 17/TA ngày 17/4/2007của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam với tư cách công chức.Việc văn bản số 29/TANDTC-HC viện dẫn khái niệm công chức theo điểm e khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh cán bộ, công chức(sửa đổi ,bổ sung năm 2003)để trả lời đơn khiếu nại của tôi là không đúng.Căn cứ theo Khoản 19 Điều 11 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính(sửa đổi bổ sung năm 2006) quy định khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là:”Khiếu kiện quết định kỷ luật buộc thôi việc cán bộ, công chức giữ chức vụ từ Vụ trưởng và tương đương trở xuống”tôi đã khởi kiện Quyết định số 3318/QĐ-X11 ngày 26/7/2006 của Tổng cục trưởng Tổng cục xây dựng lực lượng Công an nhân dân tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam với tư cách cán bộ(cụ thể là cán bộ Công an nhân dâncán bộ chuyên trách bảo vệ an ninh quốc gia ).

 Tôi khởi kiện Quyết định số 3318/QĐ-X11 ngày 26/7/2006 của Tổng cục trưởng Tổng cục xây dựng lực lượng Công an nhân dân tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam ngày 29/3/2007.Khiếu nại Công văn số 17/TA ngày 17/4/2007của Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam tại Tòa án nhân dân tối cao ngày 23/4/2007 và đến ngày 09/11/2011 là 20 lần đơn.Sự việc khởi kiện và khiếu nại xảy ra trong năm 2007 do vậy Văn bản số 29/TANDTC-HC vận dụng Luật Tố tụng hành chính ( có hiệu lực từ ngày 01/7/2011) để trả lời khiếu nại của tôi là không đúng, vì khởi kiện và khiếu nại của tôi không thuộc phạm vi điều chỉnh của NGHỊ QUYẾT SỐ 56/2010/QH12; NGHỊ QUYẾT VỀ VIỆC THI HÀNH LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH và Luật Tố tụng hành chính có hiệu lực thay thế Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính(sửa đổi bổ sung năm 2006) kể từ ngày 01/7/2011,Điều 263 Luật Tố tụng hành chính.

 Quyết đinh 3318/QĐ-X11 ngày 26/7/2006 của Tổng cục trưởng Tổng cục xây dựng lực lượng Công an nhân dân –Bộ Công an là một quyết đinh ban hành bởi cơ quan hành chính cấp bộ(Bộ Công an) thuộc Chính phủ ,ban hành theo Luật Công an nhân dân (có hiệu lực ngày 01/7/2006),không thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo danh mục do Chính phủ quy định và các quyết định hành chính,hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan tổ chức.Quyết đinh 3318/QĐ-X11 ngày 26/7/2006 của Tổng cục trưởng Tổng cục xây dựng lực lượng Công an nhân dân đơn thuần chỉ là quyết định buộc thôi việc cán bộ Công an nhân dân, không có lý do gì không được thụ lý xét xử bởi Tòa án các cấp.Thực tiễn, đến nay nhiều Quyết định hành chính do cơ quan Công an ban hành đã được xét xử bởi Tòa án các cấp, vậy việc không xét xử Quyết định 3318/QĐ-X11ngày 26/7/2006 của Tổng cục trưởng Tổng cục xây dựng lực lượng Công an nhân dân –Bộ Công an là vì lý do gì?

 Thực tế tôi đã hoàn toàn mất việc làm tại cơ quan Công an bởi Quyết đinh 3318/QĐ-X11 ngày 26/7/2006 của Tổng cục trưởng Tổng cục xây dựng lực lượng Công an nhân dân.Vậy lý giải như thế nào“Quyết đinh 3318/QĐ-X11 ngày 26/7/2006 của Tổng cục trưởng Tổng cục xây dựng lực lượng Công an nhân dân về việc kỷ luật Ông (tức tôi-ĐẶNG XUÂN HẢI)với hình thức tước danh hiệu Công an nhân dân, không phải là quyết định kỷ luật buộc thôi việc”, theo thiển nghĩ của tôi: danh hiệu Công an nhân dân cũng như danh hiệu Nhà giáo nhân dân, danh hiệu Thầy thuốc nhân dân, danh hiệu Nghệ sỹ nhân dân…đều là danh hiệu vinh dự nhà nước do Chủ tịch nước phong tặng theo Khoản 9 Điều 103 HIẾN PHÁP NĂM 1992. Vì vậy việc thụ lý , xét xử đối với việc tước danh hiệu Công an nhân dân do Chủ tịch nước thực hiện.

 Ngày 11/04/2007, tôi có đơn khiếu nại đến Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam,khiếu nại về vụ việc của tôi, đáng lý ra Chánh án Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam phải trả lời tôi bằng QUYẾT ĐỊNH GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI quy định tại Khoản 3 Điều 31Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính(sửa đổi bổ sung năm 2006) nhưng chỉ trả lời bằng Công văn số 17/TA ngày 17/4/2007,việc này không đúng, song không thấy văn bản số 29/TANDTC-HC nhắc đến.

 Do đó,việc kết luận :”Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam có Phiếu trả lại đơn khởi kiện số 04/2007/PTĐ-TA và Công văn số 17/TA ngày 17/4/2007không chấp nhận khiếu nại của Ông (tức tôi-ĐẶNG XUÂN HẢI) đối với việc trả lại đơn khởi kiện là có căn cứ đúng pháp luật”của Văn bản số 29/TANDTC-HC là không chính xác.

 Trãi qua 5 năm, với 20 lần gởi đơn khiếu nại đến TÒA ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO nước CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM tôi mới nhận được câu trả lời” nhăng nhăng, cuội cuội” như vậy.Việt Nam là nước có “DÂN CHỦ NHÂN QUYỀN”tại sao lại làm việc quá tắc trách như vậy?Tại sao TÒA ÁN các cấp từ Trung ương đến Địa phương lại sợ không giám xét xử một Quyết định hành chính cấp BỘ(cụ thể là BỘ CÔNG AN)?, TÒA ÁN sợ cái gì? Quyền được xét xử là một trong những quyền cơ bản của Công dân( dù rằng đó là xét xử hành chính), vậy hà cớ gì:Quyết đinh 3318/QĐ-X11 ngày 26/7/2006 của Tổng cục trưởng Tổng cục xây dựng lực lượng Công an nhân dân –BỘ CÔNG AN không được xét xử tại TÒA ÁN? Vì sao TÒA ÁN các cấp phải né tránh xét xử một quyết đinh buộc thôi việc thông thường?”DÂN CHỦ, NHÂN QUYỀN”nằm ở chổ nào?.Những câu hỏi này chỉ có CHÚA mới trả lời đươc.Đặc biệt giành cho ĐẤNG TỐI THƯỢNG khi nó xảy ra ở VIỆT NAM.Bản thân tôi là một CỬ NHÂN LUẬT , SĨ QUAN CÔNG AN , gần 20 năm công tác trong một ngành bảo vệ pháp luật,mà được pháp luật đối đãi như vậy thì những người nông dân như gia đình anh ĐOÀN VĂN VƯƠN ở HẢI PHÒNG phải cầm súng, dùng thuốc nổ để đòi lại công lý cũng là điều hiển nhiên.

Đặng Xuân Hải

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn