BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 35705)
(Xem: 33262)
(Xem: 32421)
(Xem: 24683)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Nước mắt trông theo

07 Tháng Ba 201212:00 SA(Xem: 541)
Nước mắt trông theo
52Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
52
 Như cơn gió lốc, thằng Tùng mở bung cửa, chạy thẳng tới bàn thờ, quơ tay cầm lấy cái bọc nylon mở ra, lựa lấy chiếc áo thung màu olive của nó ôm vào ngực, và cũng lại như lúc vào, nó quay lưng chạy ra sân, phóng đi mất hút . Bà Thắng nãy giờ im lặng nhìn con trai, chưa kịp lên tiếng đã thấy nó bỏ đi. Bà hốt hoảng gọi với theo: "Tùng, Tùng ơi! Con vừa về sao lại đi Tùng ơi !" - Bà cũng vụt đuổi theo nó, vấp ngã ngay ngưỡng cửa.....

 Mở bừng mắt, ngồi bật dậy, thở dốc từng cơn, Bà Thắng nhìn ra tấm cửa bằng phên liếp, đã bị cơn gió núi thổi bung, nằm trơ trên nền đất ẩm . Trời đang mưa rả rích, cơn mưa rừng đến từ lúc nào bà Thắng đâu có biết - Bà bị bệnh đã hơn mười ngày nay, ho như xé phổi, từng cơn, từng cơn vật vã thể xác. Toàn thân chỗ nào cũng đau, các khớp xương, bắp thịt và đầu cũng vậy, bà cảm thấy hàng trăm con dòi, con bọ đang ăn trong óc bà . Nhức buốt vô cùng, bà quá khổ vì chứng bệnh đang hành hạ mình - Bà nhìn lên bàn thờ, cái bọc nylon, gói chiếc áo thung nhà binh của con trai vẫn còn nguyên chỗ cũ, bụi phủ. Bà nhận ra là sự trở về của thằng Tùng - đứa con trai độc nhất của bà - chỉ là giấc mơ - Giấc mơ đau đớn như thân xác bà đang chịu đựng lúc này.

 Mất thật rồi - Không còn cách nào và chẳng còn ai có quyền phép gì để mang trả cho bà đứa con ngàn, triệu lần yêu thương được nữa - Ba mươi năm rồi còn gì, bà bỏ Sàigòn lên khu kinh tế mới Cẩm Đường, để đợi mong con về với mẹ, mà vẫn biệt tăm. Ba chục năm còm cõi, lao khổ để nuôi cái hy vọng ngọt ngào, ôm đứa con vào lòng mà vò tóc nó, xoa tới tấp trên cái đầu, tóc hớt kiểu bàn chải của "thằng chó", như những lần nó về với bà trước đây - Ba mươi năm rồi con ơi! Tùng ơi! mẹ ngắt từng hơi thở cố dành lại, để chỉ mong được nhìn thấy con về với mẹ một phút, một giây thôi, đủ thỏa lòng mẹ rồi Tùng ơi! Vậy mà con vẫn biệt tăm - Con chết thật rồi phải không? Sao lại như thế được nhỉ - Sao lạo có chuyện con bỏ mẹ mà đi, đã ba chục năm không ghé về thăm được một giây? Tại sao thế? tại ai con tôi biệt tích?

 Bà cố gắng dằn cơn ho và chịu đựng cơn đau, để đứng dậy quơ chân tìm đôi dép Nhật, chỉ còn cái đế, quai đã đứt, thay bằng hai sợi dây dừa. Bà Thắng đưa tay với cây gậy dựng ở đầu giường, chậm chạp từng bước nặng nhọc, bà đi tới bàn thờ, ngước nhìn hai tấm hình chồng và con trai. Hình ông Thắng quá cũ, vàng mốc, góc trái đã tróc mất mảng màu đen trên cái áo vest của ông; kế bên là thằng Tùng, nó đâu có chụp hình bao giờ, bà phải lục trong cái hòm đựng quần áo của nó, tới tận đáy mới tìm thấy cái hình chụp lúc nó mới đăng lính, hình làm hồ sơ, nên có cái bảng ghi số quân để ngang ngực, hình nhỏ bằng ba ngón tay - Thật ra bà đâu có thờ thằng Tùng, nó chưa chết mà, nó chỉ bỏ đi đâu đó, sau lần cuối cùng nó về nhà trong sự hốt hoảng, để thăm bà mấy phút - Bà con nhớ nó vội vàng cởi cái áo thung màu ô liu đang mặc, để thay áo khác - Chiếc áo bẩn bà đã giặt sạch đợi con về lấy đã 30 năm, vẫn còn để trên góc trái của bàn thờ - Làm sao bà quên được, buổi chiều sầu thảm ấy - Tất cả mọi con đường đều ùn ùn dòng ngưòi, dòng xe ngược xuôi. Tiếng còi, tiếng súng từ xa, gần dội lên từng chặp - Khu Thị Nghè, nơi bà ở, mọi người cuồn cuộn chạy vào nội ô, hơn một lần nơi này đã bị giặc chiếm, nhà cháy, người chết, đánh nhau cả tuần lễ mới hết - Bây giờ đang đánh nhau bên kia cầu xa lộ. Bà Thắng cảm thấy như nghẹt thở, đứng lên ngồi xuống hàng chục lần, tâm trạng phân vân, muốn theo mọi người tạm xa nhà ít bữa, nhưng suy nghĩ mãi, bà cũng chưa quyết định được đi hay ở - Và bất chợt bà nghe tiếng xe ngừng ngoài đầu ngõ, Thằng Tùng chạy vội vào nhà, nó nói: V"C đã đến gần lắm rồi má ! Tụi con đang đánh với chúng ngoài xa lộ. Má liệu đi đâu đó đi - Không chừng nó sắp pháo kích vào khu nhà mình đó, ở nhà nguy hiểm lắm má!"

 - Ừ, từ từ chút nữa má sẽ tính. Mày ăn gì chưa, má lấy cơm cho con ăn nha?

 - Thôi má ơi! Lẽ ra con đâu có ghé nhà được, đang đánh mấy cái chốt của nó, hết đạn M.79, đợi mãi không có ai tiếp tế, gọi máy họ cũng chỉ nói chờ - Ông Đại úy kêu con và hai người nữa chạy về phía sau, chỗ mấy đơn vị phòng thủ nội ô xin đỡ ít trái - Con phải đi ngay, tụi nó đợi ở "ngoải" - Thằng Tùng chỉ kịp thay chiếc áo lót, uống vội ly nước rồi tất tả chạy đi - Nó cũng chẳng quay lại nhìn mẹ một lần - Lúc đó là 12 giờ 45 phút ngày 28 tháng 4 - Đến tận bây giờ, đã ba chục năm, bà héo hắt đợi con về, nỗi ước mơ được nhìn thấy đứa con trai vàng ngọc của bà, bước qua ngưỡng cửa căn nhà đã từng giây hiển hiện trong mọi ý nghĩ của bà.



 Ngày 30 - 4 - 1975 - Bà nhớ rất rõ, tiếng súng vẫn còn nổ nhịp nhàng, từng lúc - Tiếng lớn, tiếng nhỏ, rộ lên rồi lại im - Tuy đã gần nhưng vẫn còn ở phía bên kia cầu xa lộ - Chưa bắn nhau trên đường phố - Rồi, bỗng dưng bà nghe radio đọc lệnh buông súng, bàn giao - Sao lại thế nhỉ - Như vậy là QĐVNCH thua rồi, những người lính như con bà thất trận rồi chứ còn gì nữa. Bà Thắng đóng kín cửa, cố đẩy chiếc bàn học của thằng Tùng ở góc nhà, chẹn ngang cửa ra vào, đề phòng trong lúc hỗn quân, hỗn quan bọn mất dậy đi hôi của, mặc dù nhà bà chẳng phải nhà giàu. Khoảng chừng 1 giờ sau khi radio đọc lệnh đầu hàng, bà Thắng lắng nghe động tĩnh, không xảy ra sự gì, bà mở cửa nhìn ra phía đại lộ, thấy mọi người cũng đang rụt rè dời nhà đi ra ngoài, bà cũng đi theo - Đến lộ, bà thấy mọi sự đã sụp đổ thật rồi - Những chiếc xe tăng, những con người lạ hoắc, mũ tai bèo, quần áo coi dị hợm đối với bà - đang chĩa mũi súng từ từ tiến vào thủ đô. Bà tự hỏi: "Vậy là Việt cộng chiếm mất nước của mình rồi thật sao? Thế những người lính VNCH đi đâu hết? Thằng Tùng của bà nữa, đơn vị nó "bàn giao" xong chưa? mãi vẫn chưa thấy nó về" - Có tiếng chân bước vội vã sau lưng, quay lại, bà nhìn thấy lác đác mấy người lính VNCH, đã bỏ quân phục, có người ở trần, có người áo sơ mi chẽn, bó chặt lấy thân - áo đi xin - quần xà lỏn, họ đang lầm lũi buớc, có người khóc không thành tiếng. Họ dùng các đường hẻm ngang dọc để tìm về gia đình. Trời bỗng dưng tối xầm, mây xám dăng ngang, những giọt mưa rơi đây đó trên mặt đường - Không gian dường như đang khóc ở trên cao.

 Bà Thắng chợt nghe có tiếng nói nhỏ bên cạnh, hai người đàn bà vừa ghé tai nhau thì thào lúc vượt qua mặt bà . Họ đi như chạy về phía trước: "Tội nghiệp quá chị Năm ơi! hai người lính đó không biết "uýnh" ở đâu mà một bị thương, dìu nhau dìa tới đầu hẻm 295 - Hai người ngồi lại, họ lấy súng tự bắn nhau, tự vận chết hết trơn rồi!" - Bà Thắng chột dạ, bà nghĩ nhanh đến thằng Tùng, bà cố dằn cơn hồi hộp, bước vội về phía con hẻm 295 - Đây rồi! hai người lính nằm trên lề đường, họ mặc đồ rằn ri, bà Thắng càng hoảng hốt hơn, bước vội tới gần. Bà thở một hơi dài, nỗi âu lo vuột khỏi lồng ngực - một chút mừng lóe nhanh trong óc - Hai người BĐQ nằm chết bên nhau trong tư thế một nằm ngửa, một nằm nghiêng gối đầu lên bụng bạn - Họ chết nhưng mắt vẫn mở, trời cao, mây xám vẫn bay trong lòng con ngươi. Bà Thắng bỗng nhận ra mình tàn nhẫn, vô duyên - Ai chết không phải con bà là được - Bà tự sỉ vả mình thật nặng - Bà khấn thầm - Lạy Trời, lạy Phật, xin gia hộ, độ trì cho họ, hai người lính này chết thảm ở đây, làm sao bây giờ, ai lo cho họ đây? Gia đình họ ở nơi nào? - Hai người lính tuổi còn trẻ, nhỏ hơn cả thằng Tùng nữa. Tại sao họ lại tự bắn nhau để cùng chết trong lúc giặc đang vào thành phố như thế này? Bỗng một loạt đạn nổ ròn, chiếc xe Jeep VNCH cắm cờ VC thắng gấp, thêm một tràng liên thanh nữa, mọi người chạy dạt ra, có người co chân nhảy sát vào hiên nhà, người té lăn xuống mặt đường. Một toán VC con nhảy khỏi xe, tay cầm súng M.16, tay trái đeo băng đỏ - mấy thằng mất dạy, lũ cỏ đuôi chó, trộm cắp biến thành VC - Một thằng khoác khẩu M.16 lên vai phải, thêm cây súng lục của Cảnh sát nhét lưng quần trước bụng - Chắc nó chỉ huy nên cất giọng lấy oai:

 - "Đồng bào nghe đây giải phóng rồi,nhà nước độc lập rồi. Mừng cách mạng thành công - yêu cầu đồng bào giải tán, ai về nhà nấy sinh hoạt bình thường - Hai thằng lính ngụy ác ôn này chết là đáng lắm - Chúng nó nợ máu nhân dân thì phải trả" - Chẳng ai nói một lời, lặng lẽ trở về nhà - Bầu trời xám hơn, mây xuống thấp, luồng gió lạnh thổi áo bà Thắng bay lất phất, dường như tiết trời mùa thu bỗng có trong ngày hôm nay.

 Trên đường quay lại nhà, bà nghe tiếng một ông già:

 - Đm. Mấy thằng chó đẻ, mới hồi hôm tao thấy tụi khốn nạn này còn lạng quạng chỗ chợ Thị Nghè, rình móc túi, giựt dọc, bữa nay đã là cách mạng - Thiệt hết biết. Đm nó mà không có súng trên tay, tao dộng thấy con đĩ mẹ nó.

 Bà Thắng không dám ngoái nhìn lại coi ai đang nói, sợ có thể bị vạ lây, bà đi nhanh về nhà để chờ con trai - Bà nuôi hy vọng, thằng Tùng có thể được yên thân, vì nó chỉ là Trung sĩ, không phải quan.

* * *

 Chiến tranh mỗi ngày mỗi gần hơn với làng cô Ngân - Máy bay của Tây đảo qua, đảo lại trên vùng quê thường hơn. Dường như ngày nào cũng có con "bà già" bay vè vè trên trời dòm ngó xuống vùng ruộng chiêm trũng này, lần nào cũng vậy, hễ bà già vòng vòng từ 10 đến 15 phút là sau đó đại bác từ trên phố Phủ bắn về, từ đồn "cầu Họ" bắn qua. Ít nhất cũng khoảng vài chục tiếng nổ - Thôn xóm của Ngân chẳng ai dám ra đồng mà tụ tập đông nữa, đã có lần ở dưới xóm Thủy, đạn đại bác bắn trúng ngay mấy người đàn bà đang ngồi nghỉ trên bờ ruộng, chết cả sáu người. Gia đình Ngân thuộc loại khá giả trong làng, trong tổng, vì cha cô là Lý Trưởng và là một trong các nhân vật có vai vế trong làng. Ruộng vườn cung cấp thóc lúa cho gia đình cô mỗi vụ đủ dùng còn dư ra ít nhiều - Nhưng năm nay thì cả làng đang có cơ bị đói, gia đình Ngân cũng trong số ấy - Bố mẹ Ngân có hai người con. Anh Trọng của Ngân là con cả, đi kháng chiến ngay từ buổi đầu - Trọng học xong bằng Thành chung, đi làm tại Nam Định và cũng từ đó Trọng cùng đồng đội vào ATK (an toàn khu) luôn, chưa ghé thăm nhà lần nào, thỉnh thoảng ông bà Lý Thạc - bố mẹ Ngân - nhận được mẩu nhắn tin từ đâu đó, là tình hình chưa cho phép - bao giờ kháng chiến thành công, con trai ông bà sẽ về thăm nhà, ngoài ra còn có câu kèm theo: "Thày đẻ hãy sốt sắng ủng hộ quỹ kháng chiến, càng nhiều càng tốt, hãy hy sinh bây giờ, tiền bạc, lương thực có đầy đủ thì quỹ nuôi quân mới dễ dàng chăm lo cho bộ đội, có sức mà đánh đuổi giặc Pháp và tay sai" - Chỉ có thế thôi - Ông Lý Thạc có hỏi gì thêm cũng chỉ được người liên lạc cười tự đắc trả lời: "Cụ đừng lo gì cả, anh ấy đi kháng chiến là anh hùng chứ có phải đi làm nô lệ cho Tây như trước đâu. Cụ nên mừng hơn mới phải, ngoài việc nhân dân đóng góp lương thực - các đồng chí ấy còn được "đảng" chăm lo, giáo dục, soi đường cho mọi người tiến lên, dưới ánh sáng của cách mạng - Cụ phải tuyệt đối tin tưởng - chao đảo là hỏng đấy." Mỗi lần có tin của con trai nhắn về từ mặt trận cũng chỉ có bấy nhiêu, như một công thức định sẵn - Bà Lý Thạc có gặng hỏi cách nào cũng không bao giờ được biết con đang ở đâu, làm gì. - Lý do để bảo mật cho công cuộc kháng chiến - Ông bà Thạc và Ngân có xin liên lạc viên cho gửi thư cho Trọng cũng không được - Tuyệt đối không đem theo một chữ, một mẩu giấy - Chẳng may bị lọt vào tay giặc Pháp thì khốn - Nếu có gửi gì cho người nhà thì chỉ nên gửi tiền và ít thuốc Tây thôi, nhưng tốt nhất là gửi tiền, vừa dễ mang, lại không nguy hiểm gì, càng nhiều thì kháng chiến càng mau chóng thành công.

 Ngôi làng của Ngân có tên làng Tán, cách con đường HàNội - Nam Định gần 4 kilô mét, sâu mãi trong cánh đồng chiêm, lụt lội là chuyện thường xuyên. Chỗ nào cũng chỉ thấy mênh mông nước trắng - Cây lúa cứ phải ngoi lên mặt nước để trổ đòng, kết trái, mùa gặt mới đúng là cơ cực - Người ta kéo theo chiếc thuyền, khi cắt lúa, thợ gặt phải dìm mình xuống nước, dùng liềm cắt ngầm, rồi xếp lúa lên - thuyền đầy, kéo tới một gò cao hay con đường lớn. Những người có nhiệm vụ vận chuyển đã đón sẵn, bó thành từng bó, gánh về làng - Chịu lạnh, chịu cho đỉa đeo như thế cả tháng, ngày nào cũng sáng đến chiều. Mọi hoạt động của chính quyền dường như không có - Từ trên phố Phủ (huyện lỵ) thỉnh thoảng mới mở một cuộc hành quân ruồng xét - Mỗi lần như vậy, máy bay bà già quần quần trên trời, nghiêng qua, ngó lại, đại bác bắn dọn đường, rồi những tốp lính mới băng đồng tiến vào làn . Bắt đầu vào tới bìa làng là mấy ông Tây đã bắn như vãi đạn, bờ tre, gốc dứa cũng bắn, ao cá cũng bắn, vừa bắn vừa cười dường như đây là một trò vui. Đã không ít người bị đạn lạc, như bà Vệ Phèn, người cô góa, mù lòa của Ngân, nghe tiếng súng nổ phía chuồng heo, sợ heo chết hay bị bắt mất, bà Vệ Phèn lần mò ra sân, mới đi được vài bước, bà bị ngay một viên đạn từ đâu đó chui thẳng vào hốc mắt, phá toang hoác ra phía sau gáy, bà không kêu được một tiếng, ngã vật xuống chết tức khắc, óc, máu chảy đầy một vũng, mấy con chim trên cành xà xuống mổ ăn lia lịa. Vì vậy, mỗi khi súng nổ là mọi người tản mỏng để trốn. Đàn bà, con gái và đàn ông xồn xồn bỏ làng chạy ra cánh đồng, ngâm mình dưới nước trong ruộng lúa để lính Tây không thấy. Nếu bị bắt gặp thì chuyện chẳng lành sẽ đến ngay. Công việc giữ nhà do các cụ ông, cụ bà già rồi, không phải loại lính Tây chú ý. Sau này lập tề, trên Huyện cho dựng một đồn binh do lính Quốc gia trấn giữ, ngay ngã ba đường số 1 và con lộ đi vào chợ Huyện - Cũng chẳng hơn gì, tuy không phá phách bắn bừa như những anh lính Tây, nhưng có khi cả tháng họ mới vào làng, tập họp dân chúng, nói năm điều ba chuyện, giải thích chuyện này, việc kia chừng vài tiếng đồng hồ, họ rút trở về đồn - Chuyện cũ lại vẫn như cũ - Có nghĩa là ngôi làng Tán của gia đình Ngân, tuy ở vùng tề, nhưng thực tế nó chính là con mắt của ATK - Cán bộ, liên lạc từ chiến khu, liên khu luôn luôn có mặt, không kể ban đêm, ngay ban ngày họ cũng tổ chức những buổi học tập - Phát động phong trào tích cực góp quỹ kháng chiến, ngày càng nhiều hơn - Hũ gạo nuôi quân cứ tăng dần, mỗi gia đình phải tự giác tăng số lượng đóng góp - Thuế nông nghiệp cũng đã bắt đầu tăng gấp hai.

 Gia đình Ngân cuộc sống đã đến mức bần hàn - Trước kháng chiến, dù chỉ có 6 mẫu ruộng, ông bà Lý Thạc, cha mẹ Ngân canh tác bằng cách thuê người làm công, tất cả mọi việc từ gieo mạ, cấy gặt đều thuê người - Bây giờ an ninh không có, đạn bom ưng nổ là nổ - Thanh niên đi lên chiến khu, đi bộ đội - Cố gắng lắm ông bà Thạc cũng chỉ canh tác được một mẫu, còn lại bỏ hoang - Lúa thu được từ mẫu đất canh tác, đóng thuế gần hết, chỉ còn lại chút ít ăn cầm chừng - Bà Thạc và Ngân đã phải ra đồng mò cua bắt ốc, tát nước chỗ này, be bờ chỗ kia, để vớt mớ tép, mớ cá lẹp. Về, nếu nhiều thì bán bớt, để lại một íi kho - Cũng may, nhà ông Lý Thạc đất rộng, trong vườn trồng cây ăn trái cũng nhiều, để thay gạo, bà Thạc đã kho cá với mít non để ăn, hoặc kho thì mặn quá, bà đổi món, nấu canh chuối xanh - gọi là ốc nấu chuối cho sang - Vài ba con ốc, ít lá tía tô, nấu nguyên cả nải chuối xanh trái to- Ăn xong, có bữa ông Thạc nói đùa với vợ "Hình như bà bỏ đá tảng vào bụng tôi, sao thấy nặng quá"- Bà Thạc thở dài: "Cơ ngơi này chắc mình còn đói khổ nữa chứ chưa thôi đâu ông ơi! "Tháng sau nghe nói lại có thêm thuế thịt nữa đấy - Mỗi gia đình bổ đồng 60 cân thịt quy ra tiền - Cán bộ nông nghiệp sắp về làng dạy cách chăn nuôi gà, vịt v...v.. để nó mau lớn, nặng cân mà nốp thuế nuôi quân kháng chiến.

 Nếu thế chỉ còn nước chết thôi! Chết được đã là may !

* * *

 Đời sống của dân làng đã trầm xuống - Tất cả mọi thứ đều kiệt cạn. Mấy năm trước còn có rơm rạ để đun nấu, giờ đây cũng hết, thay vào đấy là thân cây chuối, quả thì nấu ăn, thân chẻ dọc thành sợi phơi khô, lúc đun nấu, chỉ có lửa, không có than để ủ, cháy xong là tàn luôn - Gặp nhau ngoài ngõ, ngoài đồng, chẳng ai muốn chào hỏi hay nói chuyện - Bởi vì đã xảy ra trường hợp cơ cực quá, thuế không đủ đóng, than thân trách phận, kháng chiến nghe được, cho người về dẫn đi, mấy tháng mới được thả về - Mặt xanh, nanh vàng, cậy răng cũng không dám thở dài nữa - Hai mẹ con Ngân từ sáng sớm đã ra ruộng để quơ quào tôm tép, bắt được không dám ăn, bà Thạc lựa những con tươi ngon, mập mạp, mang lên ngã ba chợ Huyện, bán kiếm chút đỉnh cho gia đình - Chẳng có gạo, bà mua khoai lang về ăn dặm thêm với mít non luộc - Khóc mãi đã cạn nước mắt, bà Thạc quắt queo như thân cây khô. Ông Lý Thạc đã thành tượng đá, sáng, trưa, chiều, tối, ông luẩn quẩn với mấy cây mít, cây hồng, cây cam, cây khế ngọt - Những thứ trái cây này trở nên vô duyên vì bán chẳng ai mua, ăn trừ bữa không được - Chỉ còn quả mít, nải chuối thì lại càng không dám bán - Quét chỗ này, nhặt lá chỗ kia chán rồi ông vào nhà nằm như vô hồn trên chiếc tràng kỷ, vắt tay lên trán lặng ngắt hàng giờ.

 Cuối thu 1952 - Những cơn gió xa từ phương Bắc đã thổi về heo hắt - Cây đã trụi lá - khom lưng để chịu đựng nỗi cô quạnh - Buổi sáng vừa thức dậy, Ngân đang chuẩn bị cái giỏ, sợi giây lạt quấn ngang lưng, ống vôi trộn mồ hóng trừ đỉa, để qua đồng làng Gai bên cạnh mò cua, vạt tép như mọi ngày.

 - Ngân ơi, lên thày bảo cái này - Ông Lý Thạc gọi con gái. Ngân từ nhà ngang bước lên đã thấy bố mẹ đang ngồi trên cái chõng tre vẫn dùng làm bàn ăn - Bà Thạc nói Vào đây con, ngồi xuống nghe thày con dặn.

 Ngân ngồi kế bên mẹ, ngạc nhiên và lo lắng không hiểu chuyện gì mà lại lạ như sáng nay thế này. Ông Lý Thạc cất tiếng, giọng trầm, rè, xúc động:

 - Thày đẻ quyết định hôm nay cho con lên ở nhà cô Cửu Phúc - Cô ở trên phố Phủ đang bán tạp hóa cũng đỡ, không đói con ạ. Thày đã liên lạc được, cô Cửu con nhắn về cho con lên ngay, phụ với cô buôn bán và lâu lâu lên tỉnh cất hàng với cô.

 - Thày đẻ! Con chả biết ra sao cả. Con đi lên cô Cửu thì thày đẻ ở nhà với ai - Thôi cho con ở nhà, khi nào quá lắm hẵng hay thày ạ!

 Ông Lý Thạc gằn từng tiếng quyết định:

 - Con phải đi ngay sáng nay. Đẻ con sẽ đi cùng, nhưng đến bìa quốc lộ thì đẻ về, con đi thẳng đến nhà cô Cửu - Đi ngay bây giờ, lấy áo quần nhét vào trong cái giỏ cua ấy, còn mặc thêm vào bên trong.

 Quay sang vợ, ông nói:

 - Bà đi với con, cứ xuôi về phía làng Gai, bắt vài con tôm cá gì đấy, rồi hai mẹ con đi sang đồng An Tập một khoảng xa xa hãy đổ ngược ra phía quốc lộ - Cẩn thận, chúng nó bắt gặp chặn lại là hỏng hết.

- Con đã nói, cho con ở nhà, đói khổ bao nhiêu con cũng chịu. Con đi, bỏ thày đẻ làm sao đành!

- Con nghe thày nói lời cuối cùng này. Nếu con cứ nhất định cãi, thày sẽ thắt cổ chết cho con xem, thà tao chết trước khi nhìn thấy cớ sự xảy đến cho mày.

 Ngân lau nước mắt, khóc rấm rứt - Bà Thạc nói giọng ướt đẫm và nghẹn: - Con ơi! mày không lên cô Cửu thì cả nhà mình cùng chết - Mấy hôm trước thằng mõ Xòe nó lẻn đến nói cho thày biết là cuối tháng này, làng mình phát động đợt dân công 6 tháng, những người đi dân công đợt đầu có tên con đấy. Xòe là mõ làng mình trước, bây giờ là trưởng ban thông tin, nó thương nể thày con nên cho hay để tính - Lộ ra thằng Xòe ốm đòn, có khi còn ở tù nữa, mà nhà mình cũng nguy con ạ!

 Ông Lý Thạc đã đứng sau lưng con gái từ bao giờ - Không khóc nhưng mắt ông đỏ lên, đưa tay xoa đầu con, ông nói như mất hơi:

 - Con lên ở với cô Cửu Phúc (cô Phúc là em gái ông, chồng được phong hàm cửu phẩm của nhà vua) - Cố mà giữ gìn, để xem tình hình thế nào đã, thày đẻ sẽ nhắn cho con. Thôi hai mẹ con đi đi - Ông Thạc quay lưng bước vội về phía trường kỷ, ngồi vật xuống.

 Ngân và mẹ cùng lau nước mắt, thu xếp đồ đạc, Ngân mặc thêm chiếc áo, nhét vào giỏ cái quần, mấy thứ vặt vãnh Ngân để lại hết cho mẹ - Có nhiều nhặn gì đâu, mấy năm rồi không may thêm được một cái áo.

 Mẹ con bà Thạc giữ vẻ bình thản như mọi ngày, đi về hướng xóm Thủy để sang cánh đồng làng Gai. Hai người lội xuống ruộng, như hai cái xác lầm lũi giữa đồng nước. Con lộ nhựa, đường xe lửa đã ở trước mặt. Bà Lý Thạc vịn tay con gái leo lên lề đường, bà và Ngân cùng dõi mắt nhìn quanh - cả hai chiều Nam-Bắc đều vắng bóng người - Con đường sắt chạy cặp bên quốc lộ hiện màu hoen rỉ lâu rồi, không một chuyến tàu xuôi Nam, ngược Bắc. Ngân nhìn theo hai thanh ray song song bên nhau, chặp lại ở nẻo xa hút mắt. Con chim cu gáy duy nhất đậu trên sợi giây thép, gật gù theo nhịp võng đưa của gió.

 - Này Ngân ! Mẹ phải về nhá, con cứ đi thẳng lên nhà cô Cửu. Em Long, con cô, đón con ở đầu phố Phủ - Mẹ về không thày mày lại mong. Cố mà giữ gìn sức khỏe, đừng để cô Cửu giận con ạ!

 - Mẹ đi với con một quãng nữa - Ngân cố níu kéo.

 - Đi mãi cũng vậy thôi, ngày một ngày hai thày đẻ sẽ gọi con về ấy mà.

 Nói xong bà Lý Thạc bước trở lại ruộng nước. Ngân chết lặng dõi theo thân hình còm cõi của mẹ đang ngâm mình sâu dần xuống nước, trên cánh đồng hoang vắng. Không kìm được nữa, Ngân vật mình nằm gục trên gờ đá, khóc thành tiếng, gọi trong nỗi đau xé lòng: "Ối thày ơi, đẻ ơi, trời ơi sao lại khổ thế nàyĐ - Lịm đi như vậy bao lâu không biết, lúc nhìn lên, Ngân không thấy bóng mẹ trên đồng chiêm trũng nữa, có lẽ bà đã về đến nhà,hay còn rán mò thêm vài con ốc nữa về nấu chuối - Từng mũi kim đâm vào lòng, Ngân mường tượng ra cảm giác lần giã biệt cha mẹ là muôn trùng, là miên viễn. Từng bước thấp cao, màn nước che mắt, Ngân đi về phía nhà cô Cửu Phúc trên phố Phủ. Như đã linh cảm lúc ra đi - Thày đẻ Ngân cũng không còn ở làng nữa - Ngân không về - không dám về - Nhưng được người làng nhắn với cô Cửu Phúc: Nửa năm sau ngày Ngân lên ở trên phố Phủ, có người từ "ATK" về nói với ông bà Lý Thạc, kháng chiến cho hắn ta về đem ông bà vào vùng tự do, an ninh hơn và đồng chí Long Vân (bí danh của Trọng) yên tâm phục vụ kháng chiến tốt hơn. Rồi biền biệt từ đó

 Ngày tháng dần dần qua đi trong nỗi cô quạnh của Ngân Nỗi nhớ về cha mẹ không sôi sục, vật vã trong tâm tưởng như buổi đầu, nhưng vẫn là những se sắt, cay sót lúc một mình - nửa khuya chợt thức vì vẳng nghe tiếng mẹ gọi, tiếng cha kêu đi hái cho ông ít lá chè xanh ngoài vườn - Dường như tất cả đã hóa vôi, kết khối ở linh hồn. Ngân sống đều đặn với công việc hàng ngày. Cô Cửu Phúc thương cháu, dưng không thành côi cút, cô lấy cớ giường rộng, ngủ một mình lạnh, kêu Ngân ngủ chung với cô. Hai cô cháu rù rì nói chuyện với mục đích cho Ngân nguôi ngoai nỗi cô tịch. Và, rồi Ngân lấy chồng - Thằng Long con cô Cửu rủ thày giáo Thắng về nhà chơi - Thày Thắng được bổ về dạy trường Tiểu học của Huyện - Ông dạy ba lớp Nhất, Nhì, Ba - Các lớp còn lại của ông giáo Quảng, người địa phương - Cách một hai ngày, Long lại rủ ông thày Thắng đến chơi. Có lần ở lại ăn cơm với gia đình - Long cố ý đẩy đưa cho cô Ngân và thày Thắng nói chuyện với nhau. Vài lần như vậy, cả nhà đều nhận ra Thắng và Ngân đã thân nhau - Đôi lúc họ nói chuyện có vẻ riêng tư - Ngân đã chịu nói nhiều hơn, dáng tư lự, trầm lặng đã vơi bớt phần nào khi có Thắng và Long, nhất là với Thắng. Cả huyện Bình Lục (người địa phương gọi huyện lỵ là phố Phủ) có ba người đàn ông xem chừng được nể trọng: - Ông Thiếu úy Bình, Trưởng đồn quân đội - trấn giữ phía Nam của phố Phủ - Ngã Bắc đã có một đồn Tây, do quan hai Pháp là xếp bốt, người thứ hai là Long, con bà Cửu Phúc, làm việc trên tỉnh và người thứ ba là thày giáo Thắng, người đã cố gắng đem chút chữ nghĩa cho đám trẻ con trong vùng. Hai, hoặc ba tuần họ gặp nhau một lần - Long từ tỉnh về, ba người về nhà Long ăn cơm.

 Ngân trở thành bà Thắng - bà giáo Thắng - không ở nhà cô Cửu Phúc nữa - về ở với chồng ở gần trường, nhưng mỗi ngày Ngân (bà Thắng) vẫn ra phụ bán hàng cho cô Cửu Phúc, theo ý của chồng - cô Phúc đã yếu nhiều vì tuổi tác.

 Một năm sau - đầu 1954 - Ông bà giáo Thắng có đứa con đầu lòng Ông đặt tên nó là Tùng, vì muốn nó có cuộc đời đẹp như cây tùng, cây bách - Rồi một ngày oan nghiệt lại phủ xuống đời Ngân. Đúng ngày đầy tháng của thằng Tùng - Bữa tiệc nhỏ bà Thắng chuẩn bị để mừng nó và cầu Trời cho thằng con mau lớn, khỏe mạnh. Tiệc đã bày sẵn trên bàn, Long, Thắng, Ngân và cô Cửu chờ mãi vẫn không thấy Thiếu úy Bình đến - Long đưa ý kiến hai người xuống đồn mời Bình, như vậy hắn mới chịu đi, không chừng cu cậu còn đang bài bạc hay có gì... trong đồn. Ra đến cửa,Thắng còn quay lại dặn vợ, lâu là 15 phút họ sẽ quay về tới nhà - Mười lăm phút, một giờ, rồi đến xế chiều, chẳng thấy chồng và Long về, bà Thắng sốt ruột và lo, nhờ cô Cửu trông dùm thằng Tùng để đi tìm Thắng và Long - Đi đến tận đồn binh của Thiếu úy Bình, bà Thắng cũng không biết gì về tin tức của chồng - Hỏi người lính gác cổng được biết, sáng sớm nay Thiếu úy Bình đã đi cùng 6 người lính về Tỉnh rồi, ông Thắng và Long không đến đây. Trưa hôm sau, cả phố Phủ nhốn nháo - Hai người đàn ông bị cắt cổ chết, treo ở cây đa đầu làng An Tập, ngay sát đồn cầu Họ - Lính Tây kéo xuống,Thiếu úy Bình dẫn theo một tiểu đội lính tới đầu làng An Tập, bà Thắng, cô Cửu Phúc cũng có mặt.

 Thày giáo Thắng và Long bị giết cắt đứt cổ, treo ngược trên cành đa - bản án viết tay ghim trên áo: "tội danh Việt gian, thì thụt với bọn lính tay sai để làm gián điệp - Nhân dân cần phải trừng trị những kẻ phản quốc như hai tên Việt gian này".

 Tang ma cho Long và thày giáo Thắng xong, một tháng sau, theo lời khuyên của Thiếu úy Bình, Ngân (bà Thắng) nên đưa con về Hà Nội - Bình sẽ gởi bà Thắng theo chuyến xe liên lạc sẽ đến vào cuối tuần, Bình cũng viết thư cho vợ dặn dò, tìm mọi cách giúp đỡ cho bà Thắng có việc làm nuôi con, và cần nhất là lo giấy tờ cho bà.

 Bà Thắng được nhận vào chân bán vé cho rạp ciné Hà Nội, trên phố Huế, đối diện với chợ Hôm - Công việc tương đối dễ dàng, có giờ chăm nom thằng Tùng - nó có khuôn mặt giống ông ngoại - Riêng cặp mắt là bản sao của cha nó -thày giáo Thắng.

 Đất nước chia hai - Quốc gia phía Nam - Việt Minh phía Bắc (cộng sản đã hiện nguyên hình) - Và lần thứ hai, bà Thắng nghe lời khuyên của vợ chồng Bình đi Hải Phòng rồi di cư - Đi là phiêu lưu vào nơi xa lạ, chẳng một người thân, nhưng suy cho cùng ở lại thì bà cũng chẳng còn ai nữa - trơ trọi hai mẹ con - Trong tận cùng của khốn khổ, của đau xót, còn bừng bừng nỗi thù hận, bà Thắng tự hỏi: Tại sao? tại sao tai ương, thảm nạn lại liên tiếp giáng xuống gia đình bà, úp cái bàn tay nhếch nháp, dơ bẩn xuống đời bà - Trời cao, đất dày đi vắng đâu cả rồi - Trời, Phật, Thần, Thánh, Thượng Đế hay gì gì nữa thuộc về linh thiêng ngủ ở đâu - Có liếc mắt nhìn về cõi trần để thấy bè lũ yêu tinh, quỷ dữ nó múa may, nhảy nhót - chúng muốn đâm chém, giết ai thì chỉ đưa dao cắt cổ là xong. Hận thù chất ngất - Bà Thắng trách cả chồng: "Tại sao anh lại thật thà, ngây ngô đến thế, những con chó hoang rình rập, cắn trộm, uống máu người ta - Anh ỷ y, vô tình, để bây giờ con không có cha - Mẹ con em biết làm gì để sống đây!" - Những câu tự hỏi, nhưng chữ tại sao ấy đã tích tụ, đã cô đặc lại thành một quyết định dứt khoát: Di cư vào Nam, rồi thì sao cũng được. Vào đến Sàigòn, nơi mà lúc nhỏ ở quê nhà, bà Thắng thường nghe người lớn nói là "Tân thế giới" - Với số tuổi 22 đã trở thành góa phụ, bế đứa con chưa đầy một năm tuổi - Bơ vơ, ngoái nhìn quê cũ chăûng thấy mà chỉ là mây xám cuối trời - Bà Thắng đã dằn tất cả mọi đau khổ, mọi ưu phiền, để đứng thăûng lưng, tính toán với thực trạng, cách nào để nuôi con. Bà hỏi ý kiến vợ chồng ông Bình. Ông bà quyết định:

 - Chị không thể đi đâu được hết - Nơi này tứ cố vô thân, hai mẹ con nhỏ dại chị làm gì để sống? Thằng Tùng lúc chị mới sanh cháu, tôi đã nhận lời bạn tôi đỡ đầu và lo cho nó - như một đứa con ruột, ít nhất cũng về phương diện tinh thần - Bây giờ cũng vẫn vậy, vợ chồng tôi mời chị về ở nhà tôi ở Thị Nghè - Rất may là tôi thuê được căn nhà một mà là hai - Một chính, một phụ thẳng góc với nhau - Chị đem cháu về ở chung với vợ chồng tôi - không phải lo gì chuyện nhà cửa, xin nhường chị ở căn phụ, nhỏ hơn một chút, vì tôi có 3 cháu nên ở căn lớn - Và chị không được nói đến chuyện tiền bạc - Tôi thuê giá rẻ lắm, hơn nữa cho tôi giữ tròn lời hứa với anh Thắng để bạn tôi an lòng nơi chín suối.

 Thằng Tùng lớn dần theo thời gian. Bà Thắng đành nương nhờ vào lòng hào hiệp của bạn chồng - lúc ban đầu thôi, sau rồi sẽ tính - Chẳng dè chữ "sau rồi sẽ tính", mấy chục năm sau vẫn chưa tính được. Từ lúc còn là góa phụ 22 tuổi, tóc xanh da mịn - Bà cương quyết tôn thờ hình ảnh ông giáo Thắng, con người từ tốn, say mê sách báo đến nhịn ăn để có giờ đọc cho xong - Hơn nữa ông Thắng đến với bà như một cái phao, được để vào tay người đang chới với giữa dòng nước Bà chỉ nung nấu một lòng, sao cho thằng Tùng có cuộc đời đáng để cha nó kiêu hãnh, từ cõi âm nhìn về con mình. Nhớ lại có lần bà thấy bất tiện, nếu cứ ở căn nhà này mãi, tuy có riêng biệt, nhưng vẫn là nhà của ông bà Bình, bà ngỏ ý muốn dọn đi nơi khác gần chỗ buôn bán - Ông bà Bình (ông Bình đã giải ngũ, chuyển ngành làm công chức Bộ Quốc gia giáo dục) nhất định không đồng ý - Cuối cùng ông Bình quyết định:

 - Chị Thắng, ý kiến của tôi thế này nhé - Muốn để chị và cháu Tùng ở đây lâu dài, tôi còn được dạy nó học thêm - Căn nhà chị đang ở đó, chúng tôi bán cho chị, không định giá, chỉ cần chị đưa cho chúng tôi chút ít thôi, một vài trăm là được - Nếu chị đồng ý thì dĩ nhiên căn nhà đó là của mẹ con chị, khỏi phải đắn đo suy nghĩ gì hết - Căn nhà trở thành tài sản của mẹ cin bà Thắng với giá 3 ngàn tiền VNCH thời đó.

 Khi Tùng được 18 tuổi, đã đậu bằng Trrung học phổ thông, và, đến lượt nó quyết định cho chính mình: - Mẹ mẹ cho phép con nói với mẹ chuyện quan trọng nhé - Bà Thắng chắc mẩm trong bụng, "có lẽ thằng con nhà này muốn lấy vợ đây - bực quá, mới nứt mắt ra mà đã tọt tẹt". Nhưng không phải vậy, Tùng nói chậm từng tiếng:

 - Mẹ! Cho con đi lính, nha mẹ?

 - Mày nói gì? Đi lính hả? Con ơi, tuổi con còn nhỏ, đang học dở dang không lo, lại tính chuyện lính tráng. Bà Thắng sửng sốt.

 - Con đủ tuổi rồi, mẹ cho con đi Hạ Sĩ quan, học ở Nha Trang có mấy tháng à! Nhanh lắm mẹ ạ!

 - Vẫn biết thế, nhưng mẹ muốn con học xong Tú tài đã - Mai mốt hết đánh nhau, có mảnh bằng cũng đỡ cực hơn con ạ - Mẹ không bao giờ có ý cản việc đi lính của con, nhưng có bằng cao hơn cũng đỡ cực hơn.

 - Con không học được nữa đâu, tại mẹ không đi học, không thấy đó. Trường học bây giờ chán lắm. Thày giáo cũng đi lính, bạn bè con cũng mặc đồ lính. Con học cũng hết muốn vô rồi. Đàng nào cũng phải đi, mẹ cho con nộp đơn nhé Hơn nữa con nghe bố Bình nói đi, nói lại rất nhiều lần:- Tùng! sau này nếu có thể, con hãy cố tìm xem thằng nào đã dùng dao cắt cổ cha con. Cha con chưa hề làm một việc gì gọi là tội ác, không dính một tí ti nào đến quân đội. Chỉ là một ông thày dạy học cho lũ trẻ con nghèo một huyện xơ xác, vậy mà chỉ vì cha con là bạn của bố, thỉnh thoảng xuống chỗ bố đóng đồn ngồi chơi, lấy báo về đọc, vì bố được tiếp tế báo hàng tuần - Chỉ có thế thôi mà chúng nó kết án là Việt gian, là gián điệp, cắt đứt cuống họng treo lên cây đa đầu làng - Mẹ cho con đi lính đi! Biết đâu con lại gặp ngay cái thằng đã giết cha con". Hình ảnh người chồng yêu quý hiện về trong tâm tưởng, nhìn ra con hẻm, bà mường tượng ông Thắng về đứng ở đó, nhìn con, cười với nét cười nhẹ và âu yếm.

 Chiến tranh ngày càng hung dữ - bom đạn vang vọng về từng giờ - nghe radio bà biết mặt trận mỗi ngày mỗi lớn, đánh nhau bằng đủ mọi thứ súng - Thằng Tùng nhập ngũ - ra trường - lên mặt trận đã được ba năm rồi - Nó xin đi Biệt Động Quân - Lần thứ nhất về phép, nó đưa cánh tay áo trái, với cái đầu beo đen may trên đó, nói với bà:

 - Mẹ thấy ngon không? Đi thứ lính này đánh mới "đã" ở binh chủng này mới hy vọng tìm ra thằng đã cắt cổ ba con. Dù có bắt được thằng đó hay đồng bọn của nó, thì cũng cùng một loài với nhau. Tất cả chúng nó đều là dã thú, không còn nhân tính, con cho rằng thằng nào trong bọn chúng cũng đều có tội đã giết cha con, và chúng nó đều bị xử như nhau. Có điều nhưng người lính Việt Nam Cộng Hòa chúng con, không đành lòng hành xử man dại như chúng nó mẹ ơi!

 - Mẹ cũng nghĩ vấy, chẳng lẽ mấy chục triệu con người đều biến thành thú vật hết hay sao. Cũng có người bị kềm kẹp, bắt buộc phải bất nhân. Thù là thù mấy thằng chỉ huy. Mấy thằng cha ông nhà chúng nó thôi. Nên ăn ở sao cho có đức con ạ!

 Cuối cùng thì tất cả những thằng phạm tội cắt cổ ông Thắng, treo ngược thây trên cành đa, đang lũ lượt kéo vô Sàigòn, mặt mũi vênh váo.

* * *

 Mưa đã dứt, khu kinh tế mới Cẩm Đường nằm kẹt giữa vùng rừng núi, cao su và một trại tù lao động dành cho những ông quan chế độ VNCH, bị đầy ải, hành hạ - Nắng mai đã dàn trải đều khắp không gian trong, đẹp. Đồi Thới Dao cũng đang thoải mái phơi mình để hong khô thân xác - Thật xa, nơi mạn Bắc, ngọn Chứa Chan vẫn ẩn trong mây, ngủ vùi, cô tịch. Và, cũng trong cái nắng mai rực rỡ, nồng ấm buổi sáng hôm ấy - Người hàng xóm đã phát giác bà Thắng nằm chết trong nhà, trượt dài trên nền đất. Tấm liếp cửa phủ kênh nửa trên xác bà.... Ba mươi năm khổ đau-thù hận.

Trần Phương Khanh
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn