BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 35590)
(Xem: 33236)
(Xem: 32285)
(Xem: 24653)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Cùng nói lời yêu thương

05 Tháng Ba 201212:00 SA(Xem: 1227)
Cùng nói lời yêu thương
54Vote
41Vote
30Vote
20Vote
10Vote
4.85
 Suốt cả ngày lang thang từ công viên này đến tiệm café nọ cho đến khoảng 6 giờ chiều thì Lê đình Quỳ rủ tôi lên phòng trà ca nhạc Bồng Lai, trên sân thượng của tòa nhà nằm ở góc đường Lê Lợi, và biết rằng giờ này còn quá sớm đối với các phòng trà nhưng cứ lên đó để nghỉ chân chứ biết đi đâu nữa, chỉ còn đủ tiền cho vài chai bia, ngả lưng trên ghế nylon nhìn trời hiu quạnh, ngó xuống thành phố dưới chân đang ồn ào vội vã cho sinh hoạt về đêm, hai thằng không nói với nhau câu nào, điếu thuốc vừa châm kéo vài hơi, búng nửa điếu còn lại bay vòng cầu lên khoảng không rồi châm điếu khác, tâm trạng bất an, khi tiếng cô ca sĩ đầu tiên cất lên thì tôi dục Quỳ:

 - Thôi về, tao chán quá rồi chẳng muốn nghe mấy bà già này hét nữa.



 Hai thằng dốc toàn túi mà vẫn không đủ tiền cho 6 chai bia, tôi móc bóp lấy thẻ quân nhân để lại trên bàn rồi xuống lầu, chẳng cần biết mấy anh "bồi bàn" có đồng ý hay không, và họ không đồng ý thật, khi xuống đến chân cầu thang thì chúng tôi bị anh cảnh sát mặc sắc phục chặn lại đòi lập biên bản, anh là nhân viên giữ trật tự và chắc chắn đã được nhà hàng báo cho biết chuyện chúng tôi... uống quịt!

 - Đ.m, tránh ra cho bố đi không ông đá bỏ mẹ bây giờ.

 Vừa nói Quỳ vừa xô anh cảnh sát sang một bên, anh ta lạng quạng muốn té nhưng cũng gượng dậy vòng tay sang bên hông có đeo súng, tôi kịp bẻ tay anh ta ra sau giằng lấy cây "ru-lo", tháo hết đạn và vất cả hai thứ xuống đường, không còn súng thì anh ta rút viết ghi số xe của chúng tôi, đúng là một nhân viên công lực làm tròn phận sự, nhưng đối với tôi thì ngày hôm nay là ngày gì mà xui quá!

 Đã khuya rồi mà bà con lối xóm còn đứng "xì-xào" trước cửa nhà tôi giống như cảnh mấy tuần trước đây trước cửa nhà bà Châu khi hậu cứ TĐ.1/TQLC đến báo cho bà biết con trai bà là thằng Mão tử trận. Tôi đang lo âu chuyện gì đã xẩy ra cho gia đình thì bất ngờ mẹ tôi nhào ra nắm tay tôi kéo vào nhà, vừa khóc vừa mếu máo:

 - Trời ơi, con đi đâu mà hồi chiều tiểu đoàn cho người về tìm con, mẹ lo quá.

 - Hay nhỉ, con đi công tác cho đại đội mà, mấy cha đó lộn xộn.

 Thực ra thì tôi có nói trăng cuội gì cụ cũng không cần nghe, cứ cầm tay tôi lắc lắc rồi lại sờ mặt bóp vai xem có đúng là tôi không, hỏi con có ăn cơm không mẹ dọn cho, chưa kịp trả lời thì cụ lại đưa ly nước cho tôi uống hình như để xem có chắc là người hay ma? Tôi ôm vai cụ xiết mạnh cho tới khi cụ kêu đau:

 - Con đây mà, thôi con đi ngủ để sáng mai còn về trình điện đơn vị sớm.

 Từ ngày tôi tình nguyện về đơn vị tác chiến, mỗi khi nghe tiếng pháo binh từ xa vọng về thành phố hoặc những đêm mưa sấm chớp, mẹ tôi thường thở dài than với ông anh tôi rằng không biết giờ này thằng Cấp nó ở đâu? Nhưng từ ngày bà Châu, người cùng làng cùng khu phố có con trai đi lính TQLC tử trận tại Bích-La thôn (Quảng Trị) thì mẹ tôi không than nữa mà trong tay lúc nào cũng cầm tràng hạt, miệng lâm râm đọc kinh cầu nguyện. Những bà Mẹ chỉ còn biết cầu nguyện Chúa Phật cho những thằng con đang ngủ bờ ngủ bụi và không biết lúc nào chúng trở về với cát bụi?

 Sau 30-4-1975, ba thằng con trai của cụ "xin được đi ở tù", vì hết nước mắt nên cụ không còn thấy đường và tôi cũng không được nhìn mặt mẹ khi cụ nhắm mắt lìa đời! Từ lâu rồi tôi muốn viết vài trang về MẸ nhưng thấy chưa đủ ngôn ngữ để diễn tả, lòng còn đầy "tham sân si" có thể làm ô-uế đến NGƯỜI. Chữ Người tôi viết hoa như khi tôi viết về Đức Phật, Đức Chúa, các NGƯỜI ở trên cao và tôi chưa bao giờ thấy. Mẹ tôi giờ này cũng ở trên cao nhưng tôi đã gặp đã thấy nên cụ thường chấp nhận lời cầu xin của những đứa con mà khi xưa mẹ còn sống chúng chỉ mải mê súng đạn, chẳng mấy khi rót cho mẹ được miếng nước, mua cho mẹ được quả cau tấm trầu!

 Mẹ là những bậc "Thầy" vĩ đại nên chỉ viết khi nào trong lòng cảm thấy thảnh thơi. Đề tài "những ông thầy" hôm nay chỉ dành riêng cho những người hơn tôi về bất cứ phương diện nào, thí dụ như tôi phục "ông thầy" Lê đình Quỳ trong chốn giang hồ. Cả đêm trằn trọc nghe tiếng thở dài của mẹ già mà ân hận, đành dậy sớm ra đầu đường Hiền Vương đón xe đò Sai-gòn Biên Hòa, từ ngã ba suối Lồ-Ồ tôi bước đi những bước mệt mỏi chán chường hướng về doanh trại TĐ.5/TQLC. Không tin được một chuyện kỳ cục lại có thể bất ngờ xảy ra như thế! Lòng thật buồn nhưng tôi đã dứt khoát là phải trực tiếp đối đầu với trung úy đại đội trưởng Dương bửu Long, hay hoặc dở cũng phải dứt khoát chứ không thể bỏ chạy, bỏ chạy từ hôm qua, nhất là việc tiểu đoàn cho người đến tận nhà tìm khiến mẹ tôi thêm lo..

 - Thiếu úy, thiếu úy, vào uống café cái đã, còn sớm mà.

 Thượng sĩ Nguyễn văn Lô kéo tay tôi vào quán café của lão thượng sĩ già Khiang-Si, thường vụ tiểu đoàn ngay cổng trại, ngồi cùng bàn còn có hạ sĩ 1 Nam, trung sĩ Đạo, tất cả đều là tiểu đội trưởng còn ông Lô là trung đội phó đầu đời nhà binh của tôi, ông lớn hơn tôi gần hai giáp, có con trai sắp làm linh mục, nếu Quỳ là ông thầy dậy tôi: "Đi với ma phải mặc áo giấy" thì ông thầy Lô hướng dẫn cho tôi những điều: "Đi với Bụt phải mặc áo cà-sa:. Bao nhiêu bí quyết nhà binh từ lúc đi lính đến khi lên thượng sĩ ông đều truyền cho tôi hết, sáng nay giọng ông buồn buồn:

 - Ông và trung úy Long thân với nhau lắm mà, tại sao hôm qua lại xẩy ra chuyện lạ vậy? Sau khi thiếu úy bỏ đi, thiếu úy Triết ban 2 tiểu đoàn gọi tôi lên trình diện và hỏi đầu đuôi, nhưng tôi có biết gì đâu? Hôm qua sau buổi họp, ông đuổi các hạ sĩ quan ra ngoài còn các trung đội trưởng ở lại, rồi tôi thấy ồn ào, ông bỏ đi, y tá xuống băng đầu cho ông Long, tôi chỉ biết có thế. Đến chiều thì đại úy TĐP bảo tôi đi tìm ông, biết tìm ở đâu nên đành bóp bụng tới nhà, ông biết đó là điều tối kỵ đối với những gia đình có con đi lính mà bất ngờ thấy có người lạ từ đơn vị bước đến cửa, giống như những tiếng kêu của con quạ đen trên mái nhà, toàn là điềm gở, cụ lo lắm, đưa tay quẹt nước mắt hỏi tôi liên tục: "Có chuyện gì? Thằng Cấp làm sao?"

 Đúng là con dại cái mang, nuôi ăn cho lớn tới tuổi trưởng thành lại càng mang thêm lo lắng cho mẹ cha, kể cả những chuyện vớ vẩn cũng làm phiền đến các cụ, chuyện thật là "ruồi bu" khiến hậu quả đời lính sau này của tôi toàn là "ruồi bu!".

 Sau cuộc hành quân Kon-Tum, Đức-Cơ, tiểu đoàn về nghỉ dưỡng quân tại hậu cứ suối Lồ-Ồ, bổ sung tái trang bị và huấn luyện, sĩ quan các đơn vị tự huấn luyện cho đại đội mình. Trung úy Dương bửu Long đđt/đđ 4 trao tất cả quyền hành khi về hậu cứ cho đđ phó lo liệu. Tôi giao cho thiếu úy Quỳ, thiếu úy Phạm thanh Quan, chuẩn úy Nguyễn văn Lộc và Trần tử Phương dẫn đại đội ra bãi huấn luyện địa hình, bãi tập sau này là nghĩa trang quân đội Biên Hòa. Tôi đang ký giấy phép trong văn phòng thì Long đi phép đêm về bước vào, tôi chưa kịp đứng dậy thì đại đội trưởng quăng cái mũ vành lên bàn, thời đó đa số sĩ quan đội nón vành thay vì nón lưỡi trai, rồi hậm hực:

 - Đ.M, SQ gì mà dẫn lính ra bãi ngồi chơi?

 Nói rồi Long bỏ đi mà không hề hỏi hay nói với tôi một câu nào. Không ai tránh khỏi bị nóng mặt trong trường hợp này dù chỉ là nghe một câu chửi thề theo thói quen của lính, nếu như mình có lỗi thì đành im thôi, nhưng lúc đó tôi như bị xúc phạm nặng, rất bực mình. Tôi bỏ không ký gì nữa, đi ra bãi tập coi thực hư ra sao. Chuẩn úy Lộc cho biết trong lúc đại đội nghỉ giải lao thì tr/uy Long chạy vespa ngang qua. Tiểu đoàn lúc đó chưa cấp xe jeep cho các đđ trưởng nên những "dân chơi" thường dùng vespa hoạêc lambretta, honda chưa thịnh hành. Tôi cho lệnh nghỉ học địa hình để lính về trại lau súng, còn các tiểu và trung đội trưởng lên văn phòng họp, mời cả đại đội trưởng.

 Sau khi bắt các trung đội trưởng giải thích lý do tại sao ngồi chơi, với tư cách là đđ phó, người chịu trách nhiệm chung việc huấn luyện, tôi rầy các sĩ quan và xin lỗi đại đội trưởng. Suốt buổi họp Long vẫn lầm lỳ im lặng, sau khi cho các trung đội phó và tiểu đội trưởng ra ngoài, chỉ còn sĩ quan trong văn phòng, tôi gằn giọng lên tiếng:

 - Hồi nãy trung úy chửi ai?

 - Không chửi ai cả...

 Ngừng một lúc, có lẽ nghĩ mình bị khiêu khích, nên Long đổ quạu:

 -Mà tôi chửi đó, anh làm gì tôi?

 Anh đem thùng săng hất vào đốm lửa thì nó phải bùng thôi, sự việc xẩy ra quá bất ngờ khiến các trung đội trưởng không kịp phản ứng để "I can You". Khi thấy mặt Long có nhiều máu, tôi bỏ chạy ra ngoài cửa văn phòng đứng dơ hai tay lên la to:

 - Xin đầu hàng.

 - Không hàng, vào đây chơi nữa. Long đứng trong đưa tay ngoắc.

 Bốn mươi năm sau khi nhớ lại cảnh này tôi thấy tức cười. Nay Dương bửu Long và Trần tử Phương không còn nữa nhưng những Phạm thanh Quang, Lê đình Quỳ, Nguyễn văn Lộc đang thảnh thơi trên đất Mỹ này nếu lúc nào đó chợt nghĩ lại kỷ niệm xưa chắc cũng phải buột miệng: 'ĐM tức cười'.

 "Chàng bảo chịu nhưng xếp rằng chẳng chịu, thua thì thua cứ đấu tiếp chơi". Đấu thế nào được nữa, bạo phát thì bạo tàn, không còn một chút hờn giận nhưng cảm thấy buồn như vừa đánh mất một vật quý. Tôi bỏ về Saigon, Quỳ quá giang theo, hai thằng lang thang, sáng nay trở lại đơn vị thấy cảnh vật xung quanh sao lạ và buồn thế!

 Lòng buồn thì dù có thêm bao nhiêu đường café vẫn đắng. Tôi đứng dậy để đi vào trại sớm, vì không muốn ai nhìn mặt mình, chẳng hiểu có đơn vị nào và khi nào xẩy ra trường hợp tương tự như vậy hay không, nhưng chắc chắn chuyện tôi và Long đã ồn lên rồi, nếu tránh được anh em họ nhìn mình thì đỡ "mắc cở" hơn. Khi đi ngang văn phòng đại đội, ngạc nhiên thấy Long đang ngồi làm việc, hí hoáy viết gì đó. Đầu Long quấn băng trắng, tự nhiên tôi xúc động mạnh, thay vì tránh mặt Long như dự tính thì tôi lại đi thẳng vào văn phòng, kéo gót giầy thật kêu, dõng dạc tự tin nói lớn:

 - Tôi thiếu úy...trình diện trung úy.

 Ngước lên thấy tôi vẫn đứng nghiêm chào tay, Long không chào lại theo đúng quân kỷ mà đi đến đưa tay bắt. Chúng tôi bắt tay nhau thật lâu, không gườm nhìn nhau như hôm qua nhưng hình như mắt hai thằng cùng ứa lệ, tôi nói nhỏ câu: "Xin lỗi" thì Long xua tay và kéo tôi lại bàn ngồi rồi đưa cho đọc tờ giấy anh viết .

 Tiểu đoàn bắt Long làm phúc trình về hành động vô kỷ luật và tự ý bỏ đơn vị của tôi, nhưng nội dung lại nghiêng về phần bào chữa cho "tội nhân". Anh viết những điều bênh vực cho tôi trong khi tôi lại bỏ đơn vị đi lang thang trong sự hối hận, anh không giận ghét và tôi đã tự động trở về đứng nghiêm chào anh. Chẳng phải dễ dàng có thể đạt được "trời sáng sau cơn mưa" mà do chúng tôi đã sống và làm việc với nhau trong tình huynh đệ chi binh từ lâu rồi.

 Tháng 12-1964, bảy "tân binh" thiếu úy được thuyên chuyển về TĐ 5/TQLC tân lập, đang trong giai đoạn huấn luyện và bổ sung quân số. Trần xuân Bàng và Loan về ĐĐ.1 của "ông già" Huệ. Lê quý Bình, Trần văn Chích và Huỳnh văn Phú về ĐĐ.2 của "Phán râu". Tô văn Cấp và Phạm thanh Quang về ĐĐ.4 của Dương bửu Long. Lúc đó anh mang còn cấp bậc thiếu úy và không có "ních-nêm" như các xếp khác. Giữa chốn ba quân, từ ông cao nhất đến chú binh bét, ai cũng thường bị mang một cái "ních-nêm", không biết từ đâu mà có, đa số mang tính chất hài, vô thưởng vô phạt, dù muốn hay không cũng đành phải chấp nhận. Có nhiều người mang kính cận, nhưng hễ nói đến "ông Mắt Kiếng" là biết ai rồi. Quân nhân các cấp trong sư đoàn biết đến danh của "ông Già-Hư" hơn là TLP Nguyễn thành Yên. Chiều 30 tết, bên dòng sông Cai Lậy, phái đoàn Trâu-Điên đến chúc tết "Saigòn" trước khi lên trực thăng về thánh phố Saigòn tham dự trận Mậu Thân, tôi nhớ mãi lời "ông xếp" cười vui với Saigòn rồi giả bộ gọi máy truyền tin: "Tango hô gọi Tango noa nghe không trả lời?".

 Ở cấp cao cũng có biệt danh đấy chứ, Nguyễn văn Phán có nhiều tài nhiều tật, nhưng phải là "Phán râu", mặc dầu anh là cao thủ của môn phái "Bến Củ" nên các hảo hán đề nghị tôn anh là "Ghe Củ" nhưng không thành, Phán phải là Phán-Râu, không có thuyền xưa "ghe củ" gì lôi thôi. Long và Phán thì kẻ tám lạng người nửa cân, trung đội trưởng Nguyễn văn Lộc tự là "Lộc-lùn" muốn gọi đại đội trưởng Long là "Long bù-lon" nhưng cái đẹp trai và hào hoa của anh đã nhận chìm cái đinh bù-lon. Anh đích thực là "ông thầy", là cấp chỉ huy trực tiếp đầu tiên trong đời lính đánh giặc của tôi. Anh không "dậy-dỗ" thuộc cấp như những ông thầy khác muốn lên làm chức Cha, mà chỉ hướng dẫn nên làm như thế nào cho đúng. Từ khi bắt đầu ở với anh cho tới lúc chia tay, tôi không bao giờ nghe anh chửi thề, cùng làm việc, cùng chơi, đi đâu thì đi nhưng khuya vẫn về trại ngủ. Nhớ mãi đêm giao thừa năm 1965 anh cùng tôi ra suối Lồ-Ồ đón giao thừa, đốt pháo chúc xuân, pháo nổ thì ít mà pháo xì thì nhiều, tốn tiền lì-xì lại vất vả vào thân!

 Tôi được lệnh trình diện tiểu đoàn trưởng thiếu tá Dương hạnh Phước, vì hành động làm vẩn đục tình bạn thân thiết với Long đẩy tôi vào tâm trạng thờ ơ mọi chuyện, chẳng có gì phải lo lắng sợ hãi, nhưng "ông thầy" Phước không la mắng như tôi tưởng, ông nhỏ nhẹ "dơ cao đánh khẽ", rầy la vài câu theo lệ rồi nói:

 - Hôm qua Long đã xin tôi bỏ qua chuyện này nhưng không hiểu sao BTL biết, bắt tôi phải có kỷ luật nặng với cậu để làm gương v. v..,

 Ông còn cho tôi biết Long đề nghị cho tôi đi học khóa "Basic" bên Hoa Kỳ và ông đã chấp thuận. Ông cho tôi coi danh sách có tên "anh đi hàng đầu" rồi mới tới Trần xuân Bàng. Đó là lần đầu tiên và duy nhất được đề nghị đi Đxuất ngoạiĐ hụt, đầu không xuôi thì đuôi không lọt. Lốc cốc tử Trần quang Duật có lần coi mặt tôi rồi phán:

 -Cái mặt anh nó đen quá nên không có số xuất ngoại.

 Cám ơn "ông thầy" Duật đã cho biết cái cung Thiên di của tôi nó chẳng đi đâu cả, dù đi tiểu hay Đại Hàn để khảo sát bệnh teo-chim, thậm chí sau này mất cả chuyến du ngoạn xứ Chùa Tháp và Hạ-Lào vì đúng vào lúc đại đơn vị chuẩn bị đi Miên thì tôi bị loại khỏi cuộc chiến ngày 19-6-1969 tại Chương Thiện.

 Việc Long đề nghị cho tôi đi học Hoa Kỳ không có gì ngạc nhiên lắm, vì hầu như 99% các sĩ quan trong sư đoàn (vào giai đoạn đó) trước sau cũng được đi, điều ngạc nhiên là trong khi tôi đánh lộn rồi bỏ đơn vị thì đại đội trưởng lại đề nghị với tiểu đoàn trưởng "xin tha mạng". Thật là cao thượng!

 Nhưng trễ rồi, chuyện đời giống như chuyện anh gà trống bị chị gà mái than phiền về sự nhanh-nhẩu đoảng của mình,. Anh gà trống đỏ mặt tía tai gân cổ gáy chữa thẹn: "sự đời chỉ có thế mà thôi"! Sự đời những chiến công thường được hãng Con-Rùa chuyển lên cấp cao nhưng những chuyện tào lao giấy phạt thì được đi bằng hỏa tiễn!

 Trước vòng móng ngựa, quan tòa và bồi thẩm đoàn là các đại đội trưởng, tôi đứng nghiêm im lặng nghe họ luận tội, quý vị ấy cầm c.. ân nẩy mực rất là chí lý khiến những lời bào chữa của luật sư kiêm nạn nhân Dương bửu Long không kết quả. Bản án 15 ngày gỡ lịch và tống cổ đi đơn vị khác để "làm gương" cảnh cáo những tên ba-gai coi như quá nhẹ đối với tôi, với tên "Hai Mực" này!

 Cũng để râu như ai, lại đen nữa, đúng lẽ nick-name phải là C.. râu hay C.. đen nhưng anh em lại gọi tôi là "Mực"! Đời lính đã bị chó má ngay từ đầu thì sao khá được? Ấy là chưa ai khám phá ra cái tật mèo-mả-gà-đồng của tôi, nếu không lại còn thêm cái tên "Hai Mun" nữa thì chuế quá!

 Nằm trong tù được hơn một tuần thì anh Long đến thăm, mang cho một cây thuốc Ruby-Queen, và cho biết tiểu đoàn chuẩn bị đi hành quân. Tôi nói với anh xin cho tôi về để đi cùng đại đội nhưng anh lắc đầu ám chỉ cho biết đã xin với thượng cấp rồi nhưng "No O.K". Cả anh và tôi đều không biết rằng sau cơn mưa trời lại tối, sau tù là tội. Cái tội "phạm thượng" không ai chấp nhận tha thứ dễ dàng được!

 Tôi nhớ đơn vị vô cùng, ngoài những thằng bạn trung đội trưởng bụi đời như Bình-cụt, Lộc-lùn, Quang-gù, Phú-phét, Cường tây lai, Hên-chột, Hữu-ngô v.v..,. Tôi nhớ đến cao-bồi binh nhất Đá nó lo cho tôi từ ly café đến cái bàn chải đánh răng, thượng sĩ Lô nhắc tôi đủ điều cần thiết khi chuẩn bị lên đường, cái gia đình vui vẻ hạnh phúc đó bỏ tôi nằm một mình trong góc phòng tối này sao? Có ở trong hoàn cảnh này tôi mới thông cảm cho thằng "bạn" của tôi bị anh thợ săn bắt nhốt, nhớ bạn bè, nhớ rừng, thằng "Cọp-bị-Bắt" hét lên: "Ta nuốt nỗi căm hờn trong cũi sắt".

 Ra khỏi cũi sắt về trình diện quan thái úy hậu cứ Trâu Điên rồi bị tống cổ về cho quan hai Phúc-Hô trừng trị, vừa gặp mặt. Ông đại đội trưởng ĐĐ.4 hỏi móc họng:

 - Cậu đánh lộn bên TĐ.5 rồi về đây kiếm tôi phải không?

 Sắp chết đuối gặp phao bọt biển! Theo lẽ thông thường "không gáo thì muôi" nhưng "lòng buồn còn muốn nói năng chi", im lặng đằng sau quay, ta buồn ta tìm nơi vắng vẻ, chẳng thèm trả lời trả vốn gì tên đại đội trưởng mới này dù biết anh ta là một niên trưởng trong cùng một quân trường.

 " Hai-Mực" tôi tìm một góc thật tối tăm giăng võng nằm. Lúc này TĐ.2/TQLC đang làm nhiệm vụ bình-định an ninh ngay trong thành phố Đà Nẵng nên không ai cần đến tôi cả khiến đầu óc lúc nào cũng nghĩ về đơn vị cũ. Nếu như biết họ ở đâu chắc tôi đã tìm đến với Long rồi. Oâi buồn làm sao! Đơn vị cũ đuổi, đơn vị mới không nhận!

 Tin TĐ.5/TQLC bị đụng nặng hiện đang đóng tại XYZ để tái trang bị, nghe tin như bị điện giật, tôi tìm đến chỗ anh ngay, tay anh còn quấn băng ôm tôi khóc:

 - Tan hết rồi Cấp ơi!

 Nói bao nhiêu đó thôi rồi anh nấc lên, chưa rõ đầu đuôi nhưng thấy anh khóc tôi cũng khóc theo, hỏi anh một câu không đầu đuôi:

 - Tụi nó đâu hết rồi?

 - Còn thằng nào đâu, Phương và Thảo chết rồi, Quỳ và Lộc mất tích!

 Không khí chết chóc kinh hoàng làm hai chúng tôi không ai nói với ai, nhìn nhau như những kẻ xa lạ, anh lại ôm đầu kêu: "Thằng Phương chết rồi! Thằng Thảo.!"

 Trận đánh tại Nghĩa Hành, Mộ Đức ngày 12-6-1966 đã gây tử thương cho vị tiểu đoàn trưởng đầu tiên và y sĩ trưởng của TĐ.5/TQLC và hai cố vấn. Riêng ĐĐ.4 cũ của tôi thiệt hại gần 40 người, không còn trung đội trưởng nào nữa, cao-bồi B.1 Đá của tôi đã chết, thượng sĩ Lô trung đội phó cũng cụt mất một chân!

 Chỉ mới hơn tháng trước đây thôi, hằng ngày chúng tôi còn cười đùa, nay thì không còn ai để cùng vui buồn ngoài anh ra. Trong một thời gian ngắn mà tai họa đến cho cá nhân tôi và đơn vị cũ! Tôi may mắn thoát nạn, còn bạn tôi, Phương và Thảo tử trận tại chỗ, Lộc mất tích ít bữa sau thoát về được, riêng Quỳ thì 6 năm sau mới được trả về trong đợt trao đổi tù binh 1972, nhưng lúc đó bị bắt còn đau hơn chết.

 Nhiều lúc ngồi ngẫm chuyện đời, tìm lý do tự bào chữa cho cái "tội" của mình tôi thấy 15 ngày trọng cấm đã cứu tôi tránh khỏi "tử và tù". Nếu không tôi chắc sẽ cùng số phận như đồng đội bạn bè, không chết cũng bị bắt. "Thiện tai, thiện tai", tại Thiên xúi tôi gây chuyện chớ đâu phải tại tôi tự ý, đúng không anh Long?

 Sau trận Nghĩa Hành, anh "bị" về trung tâm huấn luyện. Rồi cuối năm 1968 anh xuất khỏi mũ xanh để xin về với BĐQ tiếp tục "SAT" V.C. Năm 1969 chúng tôi gặp nhau trong dịp hành quân vùng Hỏa Lựu Chương thiện. Mừng ơi là mừng, chỉ kịp ôm nhau, mời nhau điếu thuốc. Tôi đứng nghiêm chào anh, chào cấp chỉ huy cũ rồi đường ai nấy đi, không bao giờ gặp lại nhau từ dạo ấy cho đến một ngày, rồi có một ngày..

 Năm 1997, đọc chiến sử TQLC, gặp lại anh Long trong bài "TĐ.5 với trận đánh Mộ-Đức", cuối bài anh chỉ ghi vắn tắt "Melbourne". Tôi liền nhờ BS Dũng, tác giả cuốn chiến sử và cũng ở bên Úc giúp chúng tôi bắt liên lạc, nhiều lần cho địa chỉ nhưng vẫn "sao không thấy hồi âm?".

 Năm năm sau, năm 2002, Cao Bằng nói cho biết có người tên Long bên Úc tìm tôi. Biết là anh, tôi lần mò mãi mới tìm ra số phone, gọi cho nhau mới biết anh cũng tìm tôi từ lâu rồi và biết thêm anh không còn liên lạc được với BS Dũng nữa nên không có địa chỉ của tôi. Cảm động thay, 5 năm chạy giáp vòng trái đất tìm nhau, gặp nhau rồi nhưng chỉ nghe mà chẳng thấy! Giọng vẫn quen thuộc như mấy chục năm về trước nhưng không biết Long có còn long không? Anh sống trong cô đơn và nhớ bạn bè trong binh chủng, tôi tiếp tục gởi sách báo cho anh, cả BĐQ lẫn TQLC, vì cách nhau 17 múi giờ nên điện thoại gặp nhiều trở ngại và thưa dần.

 Ngày 21-2-2003, anh gởi cho tôi 8 trang thơ viết tay kèm theo một số hình ảnh những ngày còn ở TĐ.5 (65-66). Anh nhắc lại kỷ niệm xưa, trận Mộ-Đức với nhiều khuyết điểm kèm theo những tên tuổi quen thuộc, anh đính chính lại là năm 66 chứ không phải 65 như trong chiến sử. Cuối cùng anh chào tạm biệt tất cả đồng đội để đi bệnh viện chạy ÚChemotherapyÚ. Trong đặc san ST 2004, nơi mục thư tín, tôi đã ghi số điện thoại của anh và kêu gọi bạn nào của anh ở TĐ.5 cũ (65-66) thì gọi điện thoại an ủi anh, không biết anh có được nhấc phôn lần nào không? Chạy ÚchemoÚ! Cái tiếng nghe dễ ghét bao nhiêu thì lại thương bạn bè bấy nhiêu nên tôi viết cho anh lá thư:

 "Sinh lão bệnh tử, đó là con đường phải đi, sống và chiến đấu trong binh chủng TQLC rồi tới binh chủng BĐQ mà còn sống là giỏi rồi, ngồi trong lao tù CS mà không chết là khá lắm rồi, ngày tháng còn lại đây chỉ là..bonus..".

 Anh nhanh chóng trả lời tôi:

 - ..đầu chẳng còn cộng tóc nào (hair loss). Tôi sẽ nghe lời khuyên của Cấp là phải vui lên, vứt bỏ cái buồn đi dù rằng có quá nhiều cái buồn phiền đã gậm nhấm đời tôi dài dài từ khi còn là TQLC... 

 Tôi đùa lại với anh cho vơi bớt nỗi sầu:

 - Đúng là Long mà không còn long (hair), ngày xưa thằng Lộc-lùn nó gọi anh là Dương-bù-Lon, vậy chớ cái đinh bù-lon còn Dương hay thủ..? Thư đi mà không thấy hồi âm, điện thoại cũng không trả lời, giận chăng? Giận đời hay giận cái bù-lon? Giận mà chi.. anh! Rồi cuối cùng cũng nhận được tin anh, nghe tin anh gục ngã... và tôi nói vói anh:

 - Sinh ký tử quy, đối với đời lính đánh giặc Anh về như thế là thọ rồi, thọ hơn nhiều so với những chàng trai tuổi trẻ Mũ Xanh, Mũ Nâu đã nằm lại đâu đó trên Đồi-Gió, Cồn-Tiên, Kontum kiêu hùng và Trị-Thiên vùng dậy... hết nổ.

 Cái an ủi cuối đời của Long là: "Một TQLC lo hậu sự cho một BĐQ và những BĐQ lo hậu sự cho một Cựu TQLC".

 TQLC nào lo hậu sự cho BĐQ Dương bửu Long?

 Nhân dịp đại hội 2004 tại Houston, tôi may mắn gặp Trần như Hùng TĐ.8 từ Úc qua tham dự. Chưa bao giờ gặp Hùng nhưng nghe danh qua Kim-Tiền và Lạt-Ma, càng nể qua bài viết sâu và sắc: "Nhớ anh LAN ruồi? nên khi vừa trông thấy Hùng tôi nghĩ thầm trong bụng: "chú này nhỏ con mà nhanh" nên giao việc liền tay:

 - Khi về Úc, Hùng nhớ tìm anh Long, một BĐQ và cũng là cựu TQLC?.

 Trần như Hùng đã nhiệt tình nhận lời hoàn thành nhiệm vụ của một đàn em trong Binh Chủng ,dù Hùng chưa bao giờ nghe và biết về Long.

 Ngày xưa cùng đơn vị, hằng ngày dựa lưng vào nhau để sống và chiến đấu cho uy danh của Binh Chủng, nói cao hơn tí nữa là "bảo vệ tự do" thì chuyện lo cho nhau khi hữu sự là nhiệm vụ, là bình thường. Còn ngày nay, đã xa lắm rồi của những lệnh và lạc, của những chỉ tay năm ngón, của cúi đầu nhắm mắt thi hành không còn nữa, nói theo ngôn ngữ bình dân: "cá đối bằng đầu" thì việc giữ cái lề cho những tờ giấy rách hơi khó, khó mà giữ được mới là quý. Đại đa số cựu quân nhân vẫn giữ được, mãi mãi mong ước "giấy rách phải giữ lấy lề". Trừ một số rất nhỏ muốn chứng tỏ ta còn đủ sức mạnh, đủ tài để xé nát những cuốn sách, và kể cả một vài cái "lề" tự tiêu hóa mình cho mất đi cái gốc, cái dấu tích Binh chủng!

 "Ông thầy" Long BĐQ của tôi mỉm cười nơi chín suối khi biết được có một TQLC không quen biết, chưa bao giờ gặp mặt, chỉ vì một chút tình binh chủng mờ ảo xa xưa còn sót lại mà sắn tay áo im lặng lo cho anh cái "áo quan" thì kể ra cũng an ủi cho anh lắm đấy chứ, cũng bù cho anh một chút thịêt thòi những ngày còn cầm súng.

 Ông thầy Dương bửu Long kính mến, người em không quen biết lo hậu sự cho anh không muốn đề cập đến công việc mà đương sự gọi là bổn phận, gọi là một việc làm khiêm nhường. Tôi cũng đồng ý thái độ "kẻ cả" của một thằng "em út", nhưng im lặng như thế thì ai biết bên giường anh trong những ngày giờ hấp hối vẫn còn những chồng sách báo của binh chủng TQLC và BĐQ. Ai biết được một cháu nhỏ đứng trước linh cữu của anh không khóc mà nói nhỏ:

 - Xin lỗi chú Long, khi chú còn sống cháu đã không biết nói lời thương yêu để cám ơn sự dạy dỗ của chú, bây giờ thì trễ, xin chú tha thứ.

 Nói rồi em cúi đầu đi ra, tự hỏi để riêng mình nghe:

 - Tại sao người ta không nói lởi yêu thương với nhau nhỉ?

 Tại sao những ngày xưa khi đầu còn "Xanh" còn "Nâu", đã từng sống chết với nhau trên mọi chiến tuyến, ngày nay đầu đã bạc, vật vờ trên đất tạm dung, sức chiến đấu không còn nhưng vẫn hung hăng "con bọ xít bắt bẻ nhau chống đối nhau chỉ vì một cái danh hão". Sao không nói những lời yêu thương.

Tô Văn Cấp
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn