BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 35702)
(Xem: 33261)
(Xem: 32417)
(Xem: 24682)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Những đứa trẻ Thái Bình – Cuối Thu Đường Đời (126 – 128)

06 Tháng Ba 201212:00 SA(Xem: 959)
Những đứa trẻ Thái Bình – Cuối Thu Đường Đời (126 – 128)
53Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
53

PHẦN SÁU


CUỐI THU ĐƯỜNG ĐỜI


126 

Mùa đông tàn. Mùa xuân tới. Mùa hạ sang. Mùa hạ 1954, mùa hạ rực rỡ của thị xã Thái Bình. Không ai nói tới cách mạng nữa. An ninh quốc lộ, huyện lộ bảo đảm 100 phần 100. Chiến sự im vắng. Tình hình ổn định tối đa. Người Pháp hài lòng nhìn thấy thành quả của mình. Dân thị xã bắt đầu tính chuyện làm giầu dài hạn. Cứ thế, tháng 4 rủ tháng 6 qua. 

Khoa viết thư cho biết hè năm nay nó về muộn. Thi cử xong, nó còn phải ghi danh lên đại học. Tháng 6 chẳng bắt dân chúng lo sợ. Dù thông cáo của Bộ tối cao chỉ huy quân đội liên hiệp Pháp đăng trên Tia Sáng, Giang Sơn, ngày nào cũng có một tỉnh di tản chiến thuật. Di tản chiến thuật rồi lại chiếm đóng. Người ta nghĩ vậy. Thoạt đầu, các tỉnh thượng du di tản chiến thuật. Sau đến, các tỉnh trung du di tản chiến thuật. Thái Bình vẫn yên ổn. Cuối tháng 6, nhiều tỉnh đồng bằng di tản chiến thuật. Thái Bình bình chân như vại. 

Đến ngày 29 tháng 6, l954, lúc 11 giờ sáng, thị xã hốt hoảng tin chạy loạn! Chạy giặc, về với giặc. Giặc bảo chạy loạn, loạn nào? Thiên tai giáng xuống thị xã liên tiếp. Nhà nào nhà nấy quýnh cả lên, thu dọn gấp đồ đạc. Để chạy loạn. Đồ đạc mang chẳng xuể, người ta chỉ đem mấy bộ quần áo và tiền bạc di tản về làng mạc lân cận. Hết tản cư, hồi cư, rồi di tản! 

Gia đình Vũ bối rối vô cùng. Vũ khuyên cha đưa dì, hai em chạy lẹ xuống Đoan Túc, tá túc người bà con ít ngày. Nó ở lại thị xã giữ nhà. Quân Pháp rút lui cố tình chơi chữ: Di tản chiến thuật. Pháp rút lui đây, không hiểu vì lý do gì, nhường đất cho cách mạng. Di tản chiến thuật ở đó. Vũ nhấn mạnh: Chẳng có giặc nào cả, cha nó cứ đưa gia đình tạm lánh vài hôm, rồi sẽ về thị xã. Cha Vũ tin lời Vũ, vội vàng dắt vợ con di tản. Vì giặc Pháp, thị xã tiêu thổ kháng chiến, dân chúng tản cư. Nhờ giặc Pháp, dân chúng vui vẻ hồi cư. Bởi giặc Pháp, dân chúng tán loạn di tản. 

Gia đình Vũ rời khỏi thị xã. Đến xế chiều, không còn bóng dáng ai trên phố chính. Thị xã trống vắng, Chỉ còn những người què cụt ở lại trông nhà mình. Lính Pháp, lính Lê dương, lính Pác ti dăng, lính Bảo chính đều cấm trại. Người Pháp muốn dân thị xã hốt hoảng chạy giặc để di tản chiến thuật được bình yên vô sự. Pháp đểu giả thật. Vũ tin chắc Luyến không đi đâu cả, cứ thị xã mà bấu víu. Nó tìm gặp Luyến. 

- Tao biết, mày ở lại thị xã. 

- Gia đình tao vọt xuống Đoan Túc rồi. 

- Bố mẹ tao di tản chiến thuật với Pháp, hiện đang tập trung tại Tòa tỉnh trưởng. Tao mà di tản ư? Con Ngọc cũng trốn nhà, từ chối di tản. Nó ở Thái Bình với tao, vừa về nhà lấy ít quần áo, sang đây ngay bây giờ. Công chức được di tản với Pháp. Ai khước từ, tùy ý. Bố tao đã ngán ngẩm tản cư, không thích khổ sở di tản về nông thôn nữa. 

- Bố mày có lập trường riêng. 

- Mày ở đây ăn cơm với tao. Ngọc đặc trách nấu nướng. Ở đây mà xem thời đại nó vần xoay. 

- Mở cửa à? 

- Không, lỗ cửa nhỏ thôi. 

- Đau đớn cho ai? 

- Bọn Pháp. Đang mạnh hóa yếu. Pháp thua trận Điện Biên Phủ tháng 5, đến nay mới rút khỏi Thái Bình. Điện Biên Phủ, ba tiếng não nề và nhục nhã cho quân đội viễn chính Pháp. Chính phủ Pháp tin Mỹ lắm. Và tin như nô lệ Việt Nam tin thực dân Pháp, nên Mỹ nó đá cho một phát lăn cu chiêng, không giẫy giụa. 

- Viện trợ chứ gì? 

- Mỹ cam kết viện trợ quân sự cho Pháp. Rồi, rất tự nhiên, Mỹ từ chối vài phi vụ B 26 trải bom xuống Điện Biên Phủ. Mỹ cúp viện trợ cho Pháp luôn. Pháp đành ngao ngán… di tản chiến thuật. 

- Pháp có đầu hàng toàn diện hay chỉ đầu hàng Điện Biên Phủ? 

- Tao không biết. Chờ thời đại xoay vần. 

- Mỹ bần tiện quá nhỉ? 

- Nó đã tiếp tế vũ khí cho Việt Minh giết phát xít Nhật. Nó lại trở mặt, viện trợ cho Pháp giết Việt Minh. Sau chót, nó cúp viện trợ quân sự cho Pháp để Việt Minh thắng Pháp. Còn gì nữa, tao không biết. Cái ngày Mỹ viện trợ sữa bột, phó mát, thuốc trừ muỗi, vải vóc cho dân thị xã Thái Bình, tao đã suy nghĩ nhiều, nhưng chẳng hiểu nổi. Liền đó, tao đi xem phi cơ Spitfire của Mỹ viện trợ cho Pháp bỏ bom, bắn phá, giết dân Việt Nam, tao cũng mù tịt ý định của Mỹ. 

- Tao có cảm tưởng Việt Nam như con đĩ tội nghiệp! Nhật đã chơi Việt Nam, giết ngót hai triệu người, rồi cút. Tầu đã chơi Việt Nam, quấy hôi bôi nhọ, ẵm tuần lễ vàng, rồi rút. Pháp đã chơi Việt Nam, gây tổn thương bao nhiêu xương máu, rồi sẽ rút. Còn khách làng chơi bần tiện và gian trá Mỹ. Nó sẽ giở trò gì? Cứ giầu là có quyền làm hại người nghèo. Trời ơi, còn Liên xô vĩ đại! Côn theo ai? Chắc là theo Mỹ. Vọng theo ai? Chắc là theo Liên xô. Tư bản sẽ choảng nhau với cộng sản, trên đất nước gồm toàn những thằng cụt chân, què tay, tàn phế. Phải thế không, mày? 

- Đợi thời đại xoay vần. 

- Hết đời mình chăng? 

- Có thể. 

- Chán quá. 

- Lát nữa, thời đại xoay vần ở thị xã chúng mình. 

- Thằng Pháp đau nhất chứ? 

- Thứ nhì, thằng Bảo Hoàng. 

- Thứ ba? 

- Chúng mình. 

Ngọc đã chạy vụt sang nhà Luyến. Nhà máy điện cho đèn phố xá cháy từ sáng sớm. Bây giờ, Vũ mới nhận thấy. Trời đã về chiều. Mới vào thu, mặt trời lặn sớm, khiến cảnh tượng thị xã càng tiêu điều, heo hút. Từ phía nhà thờ, đã nghe tiếng xe nổ. Chiếc phi cơ Bà Già lượn trên không trung liên miên, quanh vùng trời thị xã. Luyến mở cái lỗ nhỏ trên cánh cửa nhìn ngoài phố chính. Nó gọi Vũ tới gần. Lỗ nhỏ được chia đôi. Luyến nhòm mắt bên trái, Vũ mắt bên phải. Chung quanh thị xã và các làng gần gũi, dân chúng cũng đang hồi hộp hướng về thị xã. Những chuyện gì sẽ xẩy ra? 

Xe tăng bên kia sông Trà Lý, đã về đầy đủ cùng với lính ở các đồn bót, đậu trên cầu Bo. Được lệnh, bốn chiếc xe tăng nghiến đường phố chính, đi thẳng tới ngã tư Vũ Tiên-Thị Xã. Xe tăng dẫn đầu cho những xe căm nhông, xe jeep. 

- Mày trông rõ chứ, Vũ? 

- Rõ. 

- Xe tăng ở mặt trận bên kia sông đấy. 

- Ừ. 

Đến lượt xe căm nhông chở công chức, vợ con di tản. Họ sang Nam Định. Xe chạy ra ngã tư Vũ Tiên-Thị Xã, thế nào cũng chạy thẳng bến phà Tân Đệ. Trời tối rồi. Xe của lính Bảo chính xen kẽ với xe của Pác ti dăng. Di tản chiến thuật, chắc chắn không bị truy kích. Nhưng luôn luôn, cấp chỉ huy đề phòng những cuộc mai phục của dân quân, du kích, dù họ biết, từ một năm nay, quân sự của Việt Minh trên đà xuống dốc. 

Đoàn xe di tản khá dài. Khi bốn chiếc xe tăng bọc hậu qua cầu Bo, một tiếng nổ rung chuyển thị xã vang lên. Chưa biết đâu bị phá hoại. Tiếng nổ thì nghe ở mạn cầu Bo. Chiếc phi cơ Bà Già vẫn bay lượn. Nhà máy điện vẫn chạy. Không còn một xe di tản nào hết, thị xã chìm vào hoang vu. Lúc này, chỉ có tiếng máy điện ầm ỳ, nghe rõ mồn một. Và tiếng máy bay Bà già. Người Pháp chơi trò giả vờ vụng về. Họ còn chiếm đóng Thái bình đấy. Bằng chứng, Bà Già vẫn bay lượn, nhà máy điện vẫn cung cấp ánh sáng ban đêm. 

Nửa đêm, máy bay Bà Già im tiếng. Máy điện chưa im hơi. Nó chạy hết đêm nay, vì dầu hết và không người điều khiển. Đoàn xe di tản đã vượt sông Hồng vào Nam Định rồi. Gần năm năm, người Pháp tình tự với sông Trà Lý, tưởng mang được cái gì về. Không ngờ, di tản chiến thuật, tay họ trắng bóc. Có chút nhục nhã ghim vào trái tim họ. 

- Đêm nay, mình phải thức cả đêm không ngủ. 

- Còn thuốc lá không? 

- Mới mua một tút. 

- Cần phải hút hơn là ăn, đêm nay. 

- Ngọc đã thổi cơm. 

- Tối chưa đói, đêm no nhiều. 

- Mày đã nghĩ làm gì, sáng mai? 

- Làn chủ thị xã. 

- Hay. 

- Làm chủ mấy ngày ấy mà. Cách mạng sẽ hứng lấy. 

- Chúng mình làm chủ thị xã vô chính phủ. Thế mới hách. 

- Buồn cười ghê. Chúng nó như trẻ con, đánh lấy được rồi thua lấy được. 

- Tất cả, đều là trò chơi. Chiến đấu cho tự do, dân chủ là trò bịp. Chiến đấu cho tư bản là ngu. Chiến đấu cho vô sản là dốt. 

- Sao lại là ngu, là dốt? 

- Mày có tư bản không? 

- Không. 

- Ngu. Mày có vô sản không? 

- Không. 

- Dốt. Chừng nào tư bản và vô sản chết ngỏm, cuộc đời mới có ý nghĩa. 

Câu chuyện đêm không ngủ của Vũ và Luyến tới đó bị tắt điện. Máy điện đã ngưng chạy. Chẳng nghe tiếng ầm ỳ của nó nữa. Thị xã im lặng, tối mò. Hòa bình tới đó. Dân chúng không ra đường cho niềm vui tột độ của mình nó trào ra. Hòa bình tới đó. Dân chúng chạy ra bốn ngả, ruột quặn đau, tim ngừng đập, chỉ sợ gặp giặc. Người Pháp đúng là quân xỏ lá kềnh. Họ di tản chiến thuật. Dân thị xã chạy giặc lêu bêu. 

- Luyến này! 

- Gì? 

- Ngủ đi nhé! 

- Ngủ làm chi? 

- Để quên mọi ẩn ức. Sáng mai, tao làm chủ thị xã, phải đi quan sát đất nước này, xem vụ phá hoại xẩy ra tự đâu. Trái tim tao đau nhói, khi tao tưởng giặc Pháp giật sập cầu Bo. 

- A, cầu Bo, cầu Bo… Nó cứ giật sập đi, tiểu thuyết Cầu Bo trầm lặng của tao sẽ có đoạn kết bi hùng. 

- Nó giật sập cầu Bo, nó sẽ chết với tao. Bao nhiêu kỷ niệm ấu thơ của tao đã gửi trên cầu Bo. 

- Bao nhiêu lịch sử đã xẩy ra trên cầu Bo. Mày đừng giết những thằng thua trận nữa. Để tao hỏi tội dân tộc chúng nó. Mày nói đúng, chúng ta nên đi ngủ. Thôi, ngủ đi! 

Vũ vừa nằm vừa nghĩ tới cầu Bo. Tiêu thổ kháng chiến, không phá cầu Bo. Thế mà, hôm nay rút lui, Pháp đã phá cầu Bo… 

127 

Một nhịp cầu Bo bị quân Pháp gài mìn giật đổ nát. Pháp sợ rút lui khỏi các huyện lỵ bên kia sông Trà Lý, cách mạng biết, truy nã Pháp, kế hoạch di tản chiến lược sẽ gặp rắc rối, phải tiêu hủy một nhịp cầu Bo để đề phòng. Mới có một nhịp, một nhịp thôi, Vũ đã khóc rồi. Tháng này, nước lũ đã đẩy mạnh về xuôi. Nước lũ chưa lớn lắm. Khi chẩy qua cầu, nước lũ trôi theo nhịp cầu đổ, tiếng gầm không thét to dưới chân cầu. 

- Chẳng nước lớn nào thương nước nhỏ, Pháp cũng thế thôi, Luyến ạ! 

- Hồi chưa bị tàn phế, mày giết bao nhiêu thằng Pháp? 

- Ngoài trận địa, có khi nhiều, có khi chả có thằng nào, biết làm sao mà nói được. 

- Cứ kể mày giết được hai thằng di. 

- Thế thì sao? 

- Mày là anh hùng của cách mạng, là sát nhân của giặc Pháp. Nó thù mày, nó phá cầu Bo. 

- Suy nghĩ nhảm rồi. 

- Đế quốc có bao giờ thương yêu tiểu nhược quốc. Nước mình còn thù ghét nước mình, nữa là. Bảo Hoàng tiêu diệt cách mạng. Việt Minh giết BẢo Chính. Giai cấp vô sản đánh nát các giai cấp khác. Mình hỏi nước mình có thương yêu mình không, nước ngaoài thì miễn kể. Pháp nó sòng phẳng ra phết, đổi cái máy điện lấy nhịp cầu Bo. Thôi, ông chủ thị xã, đi xem có gì mới không? 

Không có gì mới. Chỉ là thị xã tiêu thổ kháng chiến hôm qua, thị xã có nhà bỏ hoang, trống rỗng hôm nay. Kiểm điểm thành tích của thị xã xem. 80 năm nô lệ thực dân Pháp. Một cuộc vùng lên ngoạn mục của làng Đông Cao, Tiền Hải. Bốn năm nô lệ phát xít Nhật. Không chiến Mỹ – Nhật ở Quỳnh Côi. Nhật đảo chính Pháp. Chết đói ở riêng Thái Bình non ba mươi vạn người. Tổng khởi nghĩa giành độc lập. Các đảng phái giết nhau. Sông Trà Lý bục vỡ đê, khiến 12 phủ huyện lầm than, trừ Tiền Hải, huyện lỵ nằm ven biển. Tầu sang tước khí giới Nhật. Đóng góp vàng hối lộ Tầu cho Tầu cút về nước. Hồ Chí Minh thăm thị xã Thái Bình. Hoàng Sĩ Tính chỉ huy quân sự thị xã bị xử tử, vì để giặc Pháp hành quân chớp nhoáng sang Thái Bình năm 1947. Tiêu thổ kháng chiến. Giặc Pháp chiếm Thái Bình. Tản cư về hậu phương nông thôn. Chiến tranh và kháng chiến. Giai cấp và giai cấp đấu tranh. Bảo Hoàng và Bảo Đại. Khố đỏ khố xanh, đổi dáng thay hình. Mỹ viện trợ sữa bột, phó mát cho dân thị xã. Pháp di tản chiến thuật khỏi thị xã. Hãy chụp ảnh Thái Bình, phóng to lên mà xem! Nó cũng giống hệt những thành phố, những tỉnh lỵ trên đất nước Việt Nam. Còn ngậm ngùi hơn là khác. Có tỉnh nào bị tiêu thổ kháng chiến như Thái Bình? Có tỉnh nào bỏ nhà xây dựng trong vùng tề trống không, chạy loạn di tản chiến thuật của Pháp? Ôi, Thái Bình của Vũ, của Luyến, của Côn, của Long, của Lộc, của Vọng sao mà cảm xúc thế! Vẻ buồn tỉnh lỵ nó giống hệt vẻ buồn dân tộc. 

- Luyến này, mày nghĩ gì về Thái Bình? 

- Hôm qua hay hôm nay? 

- Hôm nay. 

- Hôm nay, Trần Vũ, người bị tàn phế, làm chủ lâm thời thị xã vô chính phủ. 

- Đứng đắn tí, mày? 

- Đứng đắn chứ! Thị xã đã qua tay bao chính phủ. Triều đình Huế. Toàn quyền Pháp. Chủ soái Nhật. Chủ tịch cách mạng. Quốc trưởng Bảo Hoàng. Bây giờ vô chính phủ! Mày làm chủ lâm thời thị xã, là vẻ vang cho dân thị xã đấy. Vài hôm nữa, dân sẽ lục tục kéo nhau về. 

- Là hết vô chính phủ? 

- Còn. 

- Đến khi nào? 

- Cách mạng về tuyên bố chính phủ mới toanh. 

Dân chúng đã lác đác về thị xã. Một tuần lễ sau, dân chúng về hết. Mới đầu, không ai bảo ai, chợ họp ban đêm và ít ra đường phố. Người ta đề phòng giặc Pháp hồi cư chiến thuật, đem máy bay dội bom, bắn phá, trước khi hồi cư. Vừa mới thân giặc Pháp, lại sợ giặc Pháp. Nhìn cờ tam tài đã quen mắt, giờ thì ớn lạnh hãi hùng. Sau đó, không ai bảo ai, chợ họp ban ngày và ra đường phố tự do. 

Một hôm, hai chiếc máy bay Spitfire đen thùi lũi, trở lại vùng trời thị xã. Ai nấy sợ chết, chạy tán loạn. Ở hậu phương, máy bay giặc Pháp lượn một vòng, chắc chắn dân chúng ăn bom napalm, ăn đạn đum đum. Về vùng Pháp tạm chiến đóng, dân chúng không ngán máy bay nữa. Pháp di tản chiến thuật rồi, lại cho máy bay sang, dân chúng coi Pháp như kẻ thù, như thực dân áp chế, bóc lột. Tất cả ẩn núp, trốn tránh bom đạn. Dân chúng tự trách mình chạy loạn có mấy ngày đã ùn ùn kéo nhau hồi cư, đâu biết giặc Pháp nó hại mình. May mắn làm sao, hai chiếc Spitfire chỉ lượn hai vòng, rồi bay đi mất. Hai phi công nhớ Thái Bình, lần cuối cùng nhìn Thái Bình, không bao giờ trở lại nữa. Nỗi nhớ nhung của hai phi công Pháp làm tim bao nhiêu dân thị xã muốn long ra ngoài. 

Dân chúng Thái Bình lạ lắm. Sống cảnh vô chính phủ như sống với chính phủ. Không ai gây sự, đánh nhau. Không ai ăn cướp, ăn trộm, ăn cắp của nhau. Ban đêm, giặc Pháp và lũ bù nhìn Bảo Hoàng đi khòi, thị xã chẳng còn đèn điện, nhà nhà thắp đèn dầu hỏa, phố xá tối um. Người ta sống trong thảm cảnh vô chính phủ như thế, chỉ mong ngày sớm có chính phủ, dù chính phủ đè lên đầu người ta mà hạch sách đủ điều. Ai cũng biết rằng, chính phủ cách mạng sẽ tiếp thu những cơ cấu thống trị của chính phủ bù nhìn Bảo Hoàng. Có lẽ, chiến tranh vẫn còn, chính phủ cách mạng phải đối phó, chưa kịp về tái lập an ninh cho thị xã để nhân dân yên ổn làm ăn. 

- Tại sao cách mạng không cho người về thị xã, làm dân chúng lại lo sợ? 

- Thị xã của mình rồi, về làm chi vội! 

- Thế là ích kỷ. 

- ích kỷ với mày, chứ không ích kỷ với cách mạng. 

- ích kỷ với tao, dễ thôi, ích kỷ vớ1 nhân dân, thì đáng tội. 

- Nhân dân của mày hay nhân dân của cách mạng hả, Vũ? 

- Tao làm gì có nhân dân! 

- Thì mày đừng nói về trước hay về sau. Nhân dân là cái gì? Giai cấp vô sản là cái gì? Mày còn nhớ anh Huy, ngày tổng khởi nghĩa, ở sân vận động không? 

- Còn. 

- Mày phục anh Huy lăn ra, khi mày hỏi Anh không đeo súng à, anh Huy chỉ tay vào ngực, trả lời Trái tim mạnh hơn súng. Dạo ấy, chúng mình còn ngu dại, chưa hiểu nổi anh Huy, thầy Đàn. Bây giờ, mình biết nhiều, không ngu dại nữa. Như người đi hia bẩy dặm. Từ 1945 đến 1954 cũng dài lắm, con đường lịch sử ấy tao nhìn vào và biết nhiều quá. 

Anh Huy tranh đấu với Nhật trước cách mạng để kéo cờ Việt Nam mầu vàng lên tung bay phất phới. Anh ta bị nhiều người cách mạng dằng lấy cờ vàng, ghì tay anh lại, treo cờ đỏ lên. Anh ta yếu thế đành chịu lép vế. Cách mạng treo cờ đỏ và hô hoán ầm ỹ. Dân chúng hô hoán theo. Cả chúng mình cũng hô hoán theo, lăn xả vào cách mạng. Không ai để ý đến anh Huy. Không ai biết anh Huy, ở đâu. Chúng mình quên anh Huy rồi. 

Đó, nhân dân đó! Nhân dân làm cách mạng thành công đó. Nhân dân chỉ a dua theo kẻ mạnh. Nhân dân đã tới tấp vào thị xã tề. Nhân dân là cái gì? Mà bảo cách mạng ích kỷ. Cách mạng coi nhân dân là đồ sai vặt. Cách mạng cũng là phường thống trị. Thống trị coi nhân dân trọng quý bao giờ? Cách mạng chưa thèm vào thị xã. Để trả thù nhân dân. Tao thì thích thị xã vô chính phủ mãi. Dân thị xã mong chính phủ cách mạng à? Rồi sẽ biết. 

- Thầy Đàn bây giờ ra soa? 

- Thằng Côn nói thầy Đàn đã bị thủ tiêu rồi. Như nhà văn Khái Hưng, nhà văn Lan Khai. Anh Huy bị nhốt trong cái rọ, đeo đầy đá, dìm dưới gầm cầu Bo, chất sặc sụa. Mày biết mà quên rồi. 

- Anh Huy Vencuzenđơ? 

- Phải. Thằng Côn kể chuyện anh Huy cho mày nghe. Nó không biết cụ Hào Diển là Vencuzenđơ. 

- Thầy mình, Vencuzenđơ rồi! 

- Có lẽ thầy Đàn Giun dế. 

- Tao ngu dốt, vì say mê cách mạng; mày thông minh, vì không theo cách mạng. Tại sao mình ở lại đây? 

- Từ ngày bị cụt chân, tao có ý định ở Thái Bình, theo thời đại xoay vần mà nhìn rõ lịch sử bước. Còn mày sao? 

- Tao tàn phế, học hành dang dở, chả đi đâu được nữa. Đành ở lại với mối thù những kẻ giết thầy Đàn phẫn nộ trong lòng tao. 

- Không thù hận, không chống đối người nào, mày nhé! Còn có mày và tao, hãy nghe tao khuyên! 

Vũ nhớ lại, luôn luôn nó thắc mắc, đảo chính thầy Đàn không về, cách mạng thành công, thầy Đàn cũng không về. Thầy Đàn là người yêu Vũ nhất trường Monguillot. Thầy đã khuyến khích Vũ can đảm mà sống. Luyến, Côn, Long, Lộc rất trìu mến thầy. Long đã bỏ mình nơi chiến địa. Lộc không hiểu, bây giờ, còn kính thương thầy không. Chẳng biết nó chiến đấu nơi nào và có sắp trở về thị xã? Luyến thù đứa hại thầy, giấu kín trong bụng. Côn thù cộng sản ra mặt, vì cộng sản đã thủ tiêu thầy Đàn của nó. Như Côn, Vũ hận thù kẻ đã sát hại thầy mình. Trong mối thù, hai đứa chia phe rửa hận. Côn dứt khoát hẳn. Nó theo phe quốc gia. Quốc gia và cộng sản không đội trời chung. Bạn hay thù, Côn không thể ngó lơ được. Những đứa theo kháng chiến làm lợi cho cộng sản. Là thù. Những đứa bạn thân năm xưa, nay theo cách mạng giả hình cộng sản. Là thù. Kể ra, Côn quá khích. Biết làm sao? Vũ đang bạn hóa thành thù của Côn. Vũ và Côn chung nhau một mối thù. Đứa nào sẽ tuyết hận cho thầy Đàn? 

- Vũ ạ, để cho thằng Côn trả hận ngay. 

- Tại sao không phải tao? 

- Mày hàng chục năm chưa muộn. Không có gì vội vã cho thằng tàn phế trong cảnh đời hôm nay. Muốn làm thanh củi ném vào bão lửa, rất dễ. Muốn làm một ngọn gió thổi tắt ngóm bão lửa, rất khó. Mày chọn đường nào? 

Vũ chưa kịp trả lời, Luyến đã nói: 

- Trường Monguillot là cuộc đời nhỏ. Từ nhà mình ra cuộc đời nhỏ, gần gũi lắm. Thế mà, mày đánh hộc máu mồm thằng Dương, con lão phó cẩm để bênh thằng Vọng, cũng bị lão phó cẩm bắt xin lỗi. Mày không xin lỗi, lão phó cẩm tát mày sưng đỏ mặt, làm áp lực với ông Đốc đuổi mày đi Hà Nội học. Cuộc đời nhỏ, có thống trị len chân vào đã lăm phiền muộn. Cuộc đời lớn rộng, cuộc đời hôm nay của chúng mình, mày tìm giết những thằng đã giết thầy Đàn, mày vừa rút súng đã hàng vạn thằng rút súng rồi. Mày chỉ có tan xác. Mối thù đem xuống huyệt mộ. 

Vũ rút điếu thuốc lá, châm lửa hút. Khi điếu thuốc cháy quá nửa, Vũ xúc động: 

- Tao chọn con đường thứ hai. 

Luyến vui vẻ muốn phát khóc: 

- Khó lắm, nhưng con người đã làm đưọc. Mày là con người, sẽ làm thành một ngụm gió. 

Vũ đưa tay phải khoác lên vai Luyến. Hai đứa trở lại nhà. Tiếng nạng gỗ vang lên những nốt nhạc buồn thảm hứa hẹn ngày mai… 

128 

Người từ Hà Nội về mang theo những tờ Giang Sơn, Tia Sáng xuất bản ngày 21-7, thị xã mới biết tin tức khắp nơi. Từ hôm Pháp đi tản chiến thuật, xe Con Voi không chạy, điện tắt ngóm, thị xã mù tịt chuyện bên ngoài. Thành phố Nam Định đã di tản chiến thuật cùng ngày với Thái Bình. Một bài báo vàng mười loan tin: 20 tháng 7 năm 1954, Hiệp Định Genève đã ký kết xong. Chiến tranh chấm dứt trên toàn quốc. Pháp và Việt Nam trao đổi tù binh. Đất nước chia đôi. Sông Bến Hải làm ranh giới. Pháp từ sông Bến Hải trở vào tới Cà Mau. Việt Nam từ sông Bến Hải trở ra, lên tận ải Nam Quan. Dân chúng hai miền Nam, Bắc được tự do chọn chỗ định cư, không bên nào được cấm đoán, cản trở. 

Hai hôm sau, chờ làm xong cầu treo thay cho nhịp cầu Bo bị Pháp giật sập, Quân đội nhân dân vào thị xã từ huyện lỵ bên kia sông Trà Lý. Quân đội mặc quần áo đại quân, mầu xanh lá cây đậm sắc. Đầu đội mũ vành, phía trước gắn anh xi quân đội nhân dân, trên nền cờ đỏ sao vàng. Chân đi xăng đan Bình-Trị-Thiên. Quân đội mang AK, trung liên và đại liên Trung quốc. Vì qua sông bằng cầu treo, chưa thể kéo đại bác thị uy, mà chỉ những súng bắn ô buy lăn đi nhẹ nhàng. Quân đội nghiêm trang thẳng bước, không ngó ngang ngó dọc. Không hề kiếm nổi một nụ cười nhạt trên môi họ. Quân đội đi tự cầu Bo qua phố Lê Lợi. Khí thế vô cùng anh dũng. Chẳng ai đeo quân hàm. Ai cũng giống ai. Khó mà hiểu ai là cấp chỉ huy, đại úy, trung tá hay thiếu úy. Những người đeo xặc cột bước ngoài hàng ngũ là chính ủy. Những người đeo Colt là sĩ quan. Cứ biết vậy. 

Thị xã được tin quân đội về, mừng khôn tả. Dân chúng phố chính mở tung cửa đón chào quân đội. Bàn ghế kê tận vỉa hè. Nước ngọt, bánh trái bầy xếp trên đó. Để đãi quân đội. Những chiếc quạt nan có giá mùa hè nóng nực được chất đống. Để biếu bộ đội. Em gái đang xuân nồng đến độ, tuổi đời phơi phới, trưng diện thật đẹp, đợi vẫy tay biết ơn quân đội. Cậu trai sống tủi ở vùng giặc tạm chiếm cũng hân hoan ra góp giọng hoan hô. Ông già, bà cả, nhi đồng, phụ lão, buôn bán, làm công, trí thức, công nhân, nét vui vẻ trên má, háo hức mừng quân đội. Quân đội nhân dân ngang qua. 

- Hoan nghênh bộ đội giải phóng thị xã! 

- Hoan nghênh… 

- Hoan nghênh bộ đội Thái Bình đánh tan giặc Pháp! 

- Hoan nghênh… 

- Hồ chủ tịch muôn năm! 

- Muôn năm… 

- Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc muôn năm! 

- Muôn năm… 

Tiếng vỗ tay vùng vẫy, các khẩu hiệu hô vang. Quân đội vẫn đi, không thèm nhìn hai bên đường phố. Người người mang nước ngọt, bánh trái, thuốc lá đưa tận tay quân đội. Lớp lớp đem quạt nan giúi vào tay quân đội. Quân đội cứ đi. Tay không rảnh rỗi nhận quà. Mắt bận bịu nhìn đàng trước. Quà bánh của nhân dân thị xã tủi thân rơi đầy đường. Và quân đội nhân dân dẵm lên. Nát bấy tình nghĩa. 

Quân đội đi khỏi rồi, nhân dân thị xã buồn thiu. Người ta nhục nhã quét dọn đường phố bầy nhầy bánh trái. Người ta im lặng dọn nước ngọt, thuốc lá, bàn ghế về nhà. Người ta đã mừng rỡ hòa bình thế đó. Tưởng niềm vui nó làm đất lệch trời nghiêng, ai dè, nó ươn ươn tôm cá. Hay là hòa bình cắt đất nước làm hai, Quân đội nhân dân chưa vui, thị xã vui sao nổi! Phải rồi, du kích Thái Bình đã nói từ lâu: 

Bao giờ du kích Thái Bình 

Đánh tan giặc Pháp thì mình lấy ta 

Bao giờ yên nưóc yên nhà 

Ba Kỳ thống nhất thì ta lấy mình 

Mình lấy ta dễ dàng quá. Giặc Pháp tan hàng rồi. Lấy nhau lúc nào chả được. Ta lấy mình, khó khăn vô cùng. Phải ba Kỳ thống nhất cơ! Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ là một. Một chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa. Một chủ tịch Hồ Chí Minh. Một Đảng lao động. Bấy giờ, ta mới lấy được mình. Quân đội nhân dân còn đau khổ, vì đất nước chưa thống nhất. Thì nhân dân thị xã vui thế nào được! 

Vũ vỗ vai Luyến: 

- Vào nhà đi, mày! 

Luyến quay nạng trở lại: 

- Kể từ hôm nay, thị xã có chính phủ rồi đấy. Mày thấy chưa, cách mạng ích kỷ đến nơi đến chốn. Quân đội nhân dân thị uy quyền lực, đầu tiên. 

- Lính nông dân làm bộ quá! 

- Không phải lính nông dân đâu. Cách mạng ban chỉ thị cho họ. Họ nhất nhất tuân theo lệnh lạc. 

- Mày nghĩ gì về Hiệp Định Genève? 

- Mỗi một mục: Dân chúng hai miền Nam, Bắc được tự do chọn chỗ định cư, không bên nào được cấm đoán, cản trở. 

- Dân Thái Bình có vào miền Nam không? 

- Có. Bố mẹ tao, vợ chồng anh Lưu, vợ chồng chị Nhi, gia đình nhà Ngọc, chẳng hạn. 

- Tội nghiệp thị xã mình quá. Hết tản cư, hồi cư, di tản, rồi di cư… 

- Di cư xa lắm: Sàigòn. Có khi nào, tình hoài hương nổi dậy, người di cư sẽ bắt chước thi sĩ Nguyễn Bính, ngâm nga đến chẩy nước mắt: Chiều chiều, ra đứng trông về Bắc, Chỉ thấy mây thôi, chả thấy gì! 

Đang khi ấy, có tiếng Chú ý, Chú ý của thanh niên thị xã cầm loa đi các phố phóng thanh. Chú ý, chú ý… yêu cầu nhân dân đến ngay sân vận động thị xã để nghe Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình nói chuyện cần thiết. Chú ý, chú ý… 

- Đi không, Luyến? 

- Đi chứ! 

Vũ và Luyến tới sân vận động. Ở đây đã đầy người. Họ đứng, không ai ngồi cả. Khuôn mặt mỗi người đều tỏ ít nhiều lo lắng. Quân đội nhân dân đã làm họ chóng mặt. Quân đội đi qua, quân đội không lưu lại. Ủy ban nhân dân thì ở mãi với nhân dân. Xưa, cách mạng đã xử tử Việt gian Ban tại Vọng Cung. Nay, cách mạng có xử tử người nào tay sai của Pháp và Bảo Hoàng tại sân vận động không? 

Bảo Hoàng rút lui, để lại chiếc xe của Ty thông tin. Xe đậu ở giữa sân vận động. Ông chủ tịch Ủy ban nhân dân tình Thái Bình trèo lên nóc xe, cầm mi cô nói chuyện. Nhân dân thị xã đang hồi hộp chờ đợi. 

- Thưa toàn thể nhân dân thị xã kính mến! 

Ông chủ tịch vỗ tay. Mọi người vỗ tay theo. 

- Từ khi giặc Pháp chiếm đóng thị xã mến yêu của chúng ta, nhân dân trải qua những tháng năm đau khổ, ăn không ngon, ngủ kh6ng yên, chỉ mong ngày cách mạng giải phóng Thái Bình. Bác Hồ biết tất cả, bác Hồ thương nhân dân thị xã muôn vàn… 

Ông chủ tịch giơ tay, hô khẩu hiệu: 

- Hồ chủ tịch muôn năm! 

Nhân dân thị xã hét vang: 

- Muôn năm. muôn năm… 

- Bác Hồ vĩ đại, sống mãi trong sự nghiệp chúng ta! 

- Vĩ đại. Sống mãi… 

- Đảng lao động muôn năm! 

- Muôn năm. Muôn năm… 

Ông chủ tịch tiếp tục: 

- Hẳn nhân dân còn nhớ, năm 1946, bác Hồ đã về tỉnh chúng ta. Một vị bô lão hỏi: Thưa Hồ chủ tịch, theo Hồ chủ tịch, bao giờ nước ta được thái bình? Bác Hồ đáp: Bao giờ Pháp chiếm Thái Bình là có thái bình. Pháp đã chiếm Thái Bình, năm l950. Pháp đã bại trận Điện Biên Phủ, năm 1954. Thái Bình là tỉnh sau cùng bị Pháp chiếm. Chiếm rồi thua, khắp đất nước ta. Pháp run sợ phải ký kết hòa bình với ta. Nhân dân thấy bác Hồ nói đúng chưa? 

Nhân dân thị xã suy tôn bác Hồ: 

- Hoan nghênh bác Hồ vĩ đại! 

- Hoan nghênh… 

Và hát: 

- Đuốc gươm thiêng vung cho nước nhà 

khiến dân Việt Nam hết sót sa 

Hồ Chí Minh 

anh hùng bao nhiêu năm tranh đấu 

Thắng gian nguy, tranh công đầu 

Giải phóng cho dân Việt Nam danh tiếng ngàn thu 

Ngàn đời sau 

Lưu quý danh 

Dân Việt Nam hô lớn đồng thanh 

Hồ Chí Minh muôn năm 

Hố Chí Minh 

Người soi đuốc sáng khắp nước Nam 

Hồ Chí Minh muôn năm 

Hồ Chí Minh 

Làm cho nước Việt Nam quang vinh 

Để nhân dân thị xã say sưa ca ngợi bác Hồ, như rượu sắp ngấm vào tim, ông chủ tịch mới nói: 

- Bác Hồ nói đúng. Cái gì bác Hồ nói cũng đúng. Giặc Pháp thua: Đúng. Đảng lao động duy nhất: Đúng. Giai câp vô sản đánh nát các giai cấp khác: Đúng. Bần cố nông lột xác địa chủ ác ôn: Đúng. Bác Hồ, Cha của chúng ta, ai dám bảo bác Hồ không đúng? 

Nhân dân thị xã thét lên: 

- Đứa nào dám bảo bác Hồ sai là Việt gian! 

- Đả đảo Việt gian… 

- Đứa nào dám bảo Cha già dân tộc sai là phản động! 

- Đả đảo phản động… 

Ông chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Thái Bình cứ xoay tròn chung quanh bác Hồ. Nhân dân thị xã cứ hoan hô, đả đảo không biết mệt. Quân đội nhân dân vừa đá một cú nhức nhối nhân dân thị xã. Ông chủ tịch xoa mềm mại, dịu dàng nhân dân thị xã ngay. Buổi nói chuyện bế mạc. Thị xã hớn hở ra về. Từ sáng mai, ông chủ tịch bảo làm gì, thị xã làm cái đó. Không giận hờn, chẳng bất mãn. 

- Vũ ơi, mày sợ cách mạng chưa? 

- Sợ lắm. 

- Ông chủ tịch tỉnh lỵ đã nắm hết nhân dân thị xã. Cách mạng còn vô số người giỏi hơn nữa, gấp nghìn lần. 

- Cộng sản? 

- Phải, cộng sản đấy. Mày sẽ ở với cộng sản, có chống đối cộng sản không? 

- Không, khi tao chưa làm thành một ngụm gió. 

Năm hôm sau, ngày 28, tháng 7, năm 1954, người ở bên kia sông Trà Lý và người ở Kiến Xương, Tiền Hải, đa số là Thiên Chúa giáo, đã ùn ùn kéo nhau lên Hà Nội, ra Hải Phòng, để chờ Pháp cho di cư vào Nam. Cách mạng không làm khó dễ họ. Ngày 30-7, Khoa nhờ người quen thuộc gửi về một bức thư và nguyên vẹn một bản văn Hiệp Định Genève. Trong thư, Khoa nằng nặc bắt bố mẹ, Vũ và hai đứa em gái phải lên Hà Nội ngay để vào Nam cho sớm. Nó chưa thi tú tàì. Người ta hoãn lại, thi ở Sàigòn. Đọc thư Khoa xong, cha hỏi Vũ: 

- Con nghĩ thế nào? 

Vũ điềm nhiên trả lời: 

- Con cũng có ý định khuyên bố di cư vào Nam, từ mấy hôm nay. Nghề buôn bán của bố không sống được nơi này. Em Tú, em Mai cần có tương lai. Bố và dì nên nghe em Khoa. 

Cha nó buồn rầu: 

- Còn con? 

Vũ thở dài: 

- Con đã cãi lời bố, trốn nhà đi kháng chiến. Con trở về, thành người tàn phế, học hành dang dở. Vào Nam, không tích sự gì, chỉ gây buồn phiền cho bố và dì. Con quyết định ở lại Thái Bình. Bố cứ đi, không cần lo chi cho con. Em Khoa thông minh thế, em sẽ làm cho bố và dì vui lòng. 

Cha Vũ rơm rớm nước mắt: 

- Con có biết chia ly bao lâu không? 

Vũ nói: 

- Con biết. Chừng 10 năm hay hơn thế. Con mới đọc Tam quốc chí, câu mở đầu: Phàm thế cuộc trong thiên hạ, chia rồi lại hợp, hợp rồi lại chia. Bố con mình hợp rồi lại chia, chia rồi lại hợp, tùy theo thời cuộc trên thế giới. Con không dám nói gì nữa. Bố chuẩn bị hành lý, sáng sớm ngày mai lên đường. 

Dì nó ngồi tấm tức khóc. Tú và Mai ôm chặt chân anh nức nở. Vũ cố giữ bình thản. Nước mắt nó vẫn ứa ra. Vũ ôm đầu. Chưa bao giờ Vũ nghĩ đến chia ly tê tái. Chia ly ở nhà. Chia ly ở thị xã. Chia ly ở cả nước. Người đi mà không biết có về. Như cu ly đồn điền cao su, từ Bắc vào Nam, mà tưởng rằng sang bên kia khí giới (1). 

Việt Nam chia cắt thành hai nước. Khi nào nước này thăm nước kia, trong thù hận rõ rệt? Khó lắm. Thời đại nó xoay vần thê thảm. Luyến bảo nỗi đau thứ nhất, Pháp gánh chịu; nỗi đau thứ hai, Bảo Hoàng vạ lây; nỗi đau thứ ba, chúng ta oan uổng. Nỗi đau thứ nhất phải là chúng ta. Vì chúng ta mới biết đau đớn ê chề, dằng dặc, triền miên. Ngày lại ngày. tháng sang tháng. Năm qua năm. Sống cùng chia ly buồn thảm. 

Vũ thức suốt đêm nay, để ngày mai, gia đình di cư xuống phía Nam, Vũ thực sự bước vào cuộc sống mới. 

(1) Tân thế giới, cu ly đồn điền cao su Pháp đọc sai.

(Còn tiếp)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn