BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 35624)
(Xem: 33243)
(Xem: 32317)
(Xem: 24663)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Tản Mạn Chuyện Đà Nẵng Thời Mới Lớn

05 Tháng Ba 201212:00 SA(Xem: 713)
Tản Mạn Chuyện Đà Nẵng Thời Mới Lớn
50Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
00

Với đề tài này, bạn đọc muốn hiểu Đà Nẵng thời mới phát triển cũng được, hoặc Đà Nẵng khi người viết mới lớn lên cũng được, vì tôi có một hân hạnh là lớn lên cùng thành phố Đà Nẵng thân yêu.






Gia đình tôi sinh sống ở Đà Nẵng từ cuối năm 1945. Trong ký ức của tôi, lúc đó là một đứa trẻ 5 tuồi, chỉ còn nhớ lờ mờ hình ảnh khu chợ Hàn gần nhà tôi, người qua lại đông đúc, và bến sông tấp nập ghe thuyền buôn bán. Khi bể mặt trận, tức là lúc Việt Minh đánh Pháp cuối năm 1946, gia đình tôi tản cư về quê ở Duy Xuyên. Kỷ niệm duy nhất của tôi là đám tang bà nội tôi phải cử hành vào ban đêm. Tôi nghe giải thích rằng nếu cất đám vào ban ngày, chúng tôi sẽ bị máy bay Tây (Pháp) bắn đạn đum đum, nên phải làm đám vào ban đêm, không đèn đuốc để tránh bị bắn phá. Sau đó, chúng tôi chạy tản cư tiếp, vượt nhiều ghềng thác, núi rừng, qua nhiều địa danh như Trung Phước, Phù Gia, Tý, Sé…

Đầu năm 1948, gia đình tôi hồi cư về Hội An, rồi ra Đà Nẵng. Từ đây tôi còn nhớ nhiều chuyện. Đầu tiên tôi đi học ở trường tiểu học Việt. Trường nằm ở chỗ sau nầy là trường Nữ Tiểu học. Dãy phòng học ở phía đường Phan Đình Phùng (sau nầy) là các lớp nam sinh. Dãy phòng học phía bên đối diện sân chơi là các lớp nữ sinh. Sân chơi có nhiều cây bàng rợp bóng mát, với những con sâu gớm ghiếc, nhưng cũng có những trái bàng đập ra ăn ngon lành.

Tôi còn quá nhỏ để biết ai là Hiệu trưởng trường tôi học, nhưng tôi nhớ thầy giáo của tôi là thầy B. Thầy dữ có tiếng. Một hôm, con thầy, cũng học lớp tôi, không thuộc bài, thầy tát một bạt tai nẩy lửa làm bạn nầy rớt từ trên bục rớt xuống. Cả lớp kinh hồn. Vào lớp học của thầy là im phăng phắc, không ai dám hó hé. Lúc đó, vì mới hồi cư, nên có nhiều bạn học rất lớn tuổi. Người lớn tuổi nhất lớp tôi có lẽ là anh Công. Tôi nhớ anh Công vì sau nầy, anh Công là một cầu thủ đá banh nổi tiếng ở Đà Nẵng và là em của bà Đào, quán bún bò rất ngon ở đường Trần Bình Trọng, trên đường vào Mả Tây.

Chúng tôi ra vào trường nam Tiểu học bằng cửa trước, ở đường Yên Bái (sau nầy). Từ đây, tôi đi bộ đến ngã tư đường Yên Bái – Hùng Vương (sau nầy), chỗ Ty Thông Tin (sau nầy), rồi theo đường Hùng Vương, đến đường Phan Châu Trinh (sau nầy), và theo đường nầy về nhà. Nhà tôi lúc đó ở ngay góc đường Phan Châu Trinh và đường Lê Đình Dương (sau nầy). Đường Lê Đình Dương chỉ là đường mòn, chưa có tên, chưa tráng nhựa. Cha mẹ tôi thuê một góc nhỏ của ga-ra (garage) ông Đạt để ở. Tôi nghe nói các anh con ông Đạt hiện sống ở Mỹ.

Tôi kể tường tận đường đi học của tôi vì có vài kỷ niệm không thể quên. Nguyên vào thời nầy, khúc đường Hùng Vường từ đường Yên Bái (tức chỗ Ty Thông Tin sau nầy) đến đường Phan Châu Trinh (tức chỗ pharmacie Dupont, sau nầy là pharmacie Trung Nguyên), là khoảng đất trống, sau nầy là vườn hoa Diên Hồng. Xin tạm gọi khoảng đất rộng nầy là vườn hoa, dầu chẳng có trồng hoa, chỉ có nhiều cây cao lớn, tỏa bóng mát khắp sân. Tại vuờn hoa nầy, có một tượng đài Tử sĩ của Pháp. Hằng năm, vào ngày cách-to juy-lê (14.7), nhà cầm quyền Pháp đến đây làm lễ tưởng niệm, đặt vòng hoa rất long trọng.

Đài tử sĩ nầy được dân chúng gọi là đài tử sĩ Con Gà, vì trên đầu đài tử sĩ, có một cột thu lôi, trên cùng có một con gà trống bằng sắt, biểu tượng của nước Pháp. Nhà thờ chính tòa Đà Nẵng cũng được gọi là nhà thờ Con Gà vì trên nóc nhà thờ cũng có cột thu lôi như vậy.

Vì có đài Tử sĩ Con Gà, nên vườn hoa cũng được gọi là vườn hoa Con Gà. Đối diện với vườn hoa Con Gà, tức phía bên kia đường Avenue de France (sau nầy là đường Hùng Vương) là một trại giam tù, thường được gọi là bót tù Con Gà. Bót tù Con Gà giam đủ hạng tù, tù chính trị, tù hình sự. Bót tù ở trung tâm thành phố để dễ bảo vệ an ninh. Khi Pháp rút quân về nước, chính quyền Việt Nam chuyển bót tù nầy qua Kho đạn, một trại quân cụ, quân nhu và võ khí, nằm trên đường Khải Định, đối diện với Chợ Cồn (mới). Từ đó bót tù mới có tên là bót tù Kho Đạn. Còn bót tù Con Gà về sau được sửa sang lại làm trường Quốc Gia Nghĩa Tử.






Trên vuờn hoa Con Gà có hai nhóm người làm ăn sinh sống. Nhóm thứ nhất là các ông thợ hớt tóc. Những người nầy đặt bàn ghế dưới những cây lớn, rợp bóng mát suốt ngày. Khách hàng thường là những người qua lại, dân lao động, học sinh chúng tôi, hớt tóc rẻ tiền. Thỉnh thoảng có cả những người tù mới ra khỏi khám, hớt tóc sạch sẽ trước khi về nhà.

Nhóm thứ hai là các ông thầy bói. Các ông thầy bói bận áo dài đen, ngồi trên một cái chõng (giường) tre nhỏ, thấp, thường đeo kính đen (giả thầy bói mù cho có vẻ linh thiêng), bày các hộp đồ nghề trên giường tre, đựng các loại như xăm, hoặc chân gà, hoặc các bản mẫu tử vi, hoặc bộ bài… Các thầy bói cũng khá nhiều khách. Lúc đó, người ta rất tin bói toán, dị đoan, nhất là thân nhân của những người tù tội thường đến xem thử người thân của mình ra sao, khi nào được ra khỏi tù.

Mấy ông thầy bói thường ngồi chung với các bác thợ hớt tóc, vừa cho có bạn, vừa trông chừng giúp đỡ lẫn nhau, hàn huyên trong lúc ngồi đợi được khách. Hai nhóm nầy thân thiện với nhau, giúp đỡ nhau, nhất là đoàn kết với nhau để chống lại lũ học sinh chúng tôi.

Phải nói là lúc đó học sinh chúng tôi thật nghịch ngợm và dại dột. Cứ mỗI lần ngang qua chỗ mấy ông thầy bói, chúng tôi lấy guốc (hồi đó chúng tôi đi guốc), gõ cốc cốc với nhau, rồi hô lớn: “Thầy bói nói láo ăn tiền”. Thế là các thầy bói chửi rủa, các ông thợ hớt tóc rình bắt chúng tôi. Vì thế, hô xong là chúng tôi bỏ chạy. Mấy đứa chạy chậm bị mấy ông thợ hớt tóc túm được, dần cho vài tát tai.

Có một cặp thầy bói và hớt tóc rất thâm. Có lẽ các ông đã bàn mưu tính kế trước, nên khi đám học sinh chọc ghẹo các ông, các ông không giận dữ, mà chỉ khuyên lơn phải quấy nhẹ nhàng, rồi lơ đi. Có một điều lạ là khi thấy mấy ông thầy bói không giận dữ, đám học trò chúng tôi lại không thích chọc, mà chỉ chọc mấy ông dữ tợn.

Một hôm, một đứa trong chúng tôi ghé vào hớt tóc nơi bác hớt tóc hiền lành và ông thầy bói không chửi. Bác hớt tóc vui vẻ, đưa bạn tôi lên ghế ngồi, choàng khăn đàng hoàng. Xong xuôi đâu đó, bác lấy tông-đơ xởn cho một mảng lớn ở giữa đầu, từ trước trán ra tận sau ót, rồi kể tội vanh vách tên học trò đó đã chọc ai, ngày nào, nói gì. Sau đó ông đuổi khách hàng xuống ghế. Thế là có một màn khóc lóc bù lu bù loa và chửi rủa ầm ĩ. Từ đó, bọn học sinh chúng tôi lại bu nhau chọc phá cặp nầy tới bến. Rồi lại bày mưu tính kế trả thù. Kể cũng hay ra phết.

Bẵng đi vài tháng, vì phải đợi dịp anh của nó đi lính Tây về phép, một người bạn của tụi tôi đến hớt tóc. Trò cũ tái diễn. Tên học sinh khách hàng lần nầy không khóc, mà đòi bắt đền tiền hớt không đúng kiểu. Bác thợ hớt tóc chẳng những không trả tiền, mà còn kể tội và tính đánh chửi tên học trò. Bạn bè của tên nầy liền chạy đi kêu anh của bạn mình. Anh lính bạc-ti-dăng nghe em bị đe dọa, liền hùng hổ đến, đòi đập bể kính (gương), tịch thu đồ nghề, và bắt ông hớt tóc phải đền tiền. Thế là ông hớt tóc phải một màn năn nỉ, móc hết tiền túi, lại còn nhờ ông thầy bói thêm vào cho đủ, và cạo lại mái đầu cho bạn chúng tôi cho đàng hoàng, mới khỏI bị anh của nó “hỏi tội”. Thật là quá nghịch.

Sau nầy, khi lớn lên, mỗi lần đi ngang qua vườn hoa Con Gà, có tên mới là vườn hoa Diên Hồng, tôi thường nhớ lại chuyện cũ, buồn cười cho những trò nghịch ngợm trẻ con và tôi nghiệm thêm rằng trong số những ông thợ hớt tóc và thầy bói, có thể có những cán bộ Việt Minh hoặc mật thám của Tây trà trộn trước bót Con Gà để nghe ngóng tin tức, theo dõi tình hình. Biết đâu?

Khi thủ tướng Ngô Đình Diệm về cầm quyền năm 1954, nhiều cuộc mít-tinh tập trung đông đảo đồng bào được tổ chức tại vườn hoa Con Gà, vì đây có thể nói là công viên rộng nhất và nằm ở trung tâm thành phố, lại gần trụ sở Ty Thông Tin trên đường Yên Bái. Vì vậy tân chính quyền đặt tên chính thức là vườn hoa Diên Hồng. Vì vậy, từ đó dân chúng gọi vườn hoa Con Gà là vườn hoa Diên Hồng. Ở đây, thỉnh thoảng có những buổi chiếu phim tuyên truyền công cộng cho dân chúng đến xem.

Thành phố càng ngày càng phát triển. Do nhu cầu thương mãi, chính quyền xây dựng tại vườn hoa Diên Hồng hai dãy nhà dài chạy theo đường Hùng Vương. Dãy thứ nhất từ đường Yên Bái đến đài tử sĩ. Qua một khoảng đất rộng tại đài tử sĩ, là dãy nhà thứ hai, dài đến đường Nguyễn Tri Phương. Hai dãy nhà nầy dùng làm chợ vải và chợ bán đồ tạp hóa linh tinh. Dọc theo đường Hùng Vương là những kiosque cho tư nhân thuê. Từ đó có tên chợ vải Diên Hồng.

Từ bót Con Gà, qua khỏi đường Nguyễn Tri Phương (sau nầy) là một di tích lịch sử mà ít người để ý, và lớp trẻ không biết, đó là Công quán, nằm ở vị trí rạp hát Trưng Vương sau nầy. Công quán là cái nhà công cộng, dưới triều nhà Nguyễn làm nơi tiếp đãi những nhà ngoại giao nước ngoài, những thuyền trưởng tàu bè ghé thăm Đà Nẵng và cũng là nơi nghỉ ngơi, ngủ lại của quan lại đi công vụ, ghé qua Đà Nẵng. Công quán là ngôi nhà xây dựng theo kiểu xưa, thấp, có những cột bằng gỗ lớn, mái ngói âm dương, bề mặt khá rộng, nhìn ra đường Hùng Vương. Công quán tồn tại cho đến năm 1952, 1953. Tôi nghe nói các học sinh theo chương trình trung học Việt đầu tiên ở Đà nẵng, trước khi trường Phan Châu Trinh được thành lập, lứa tuổi của các anh như hai danh thủ bóng tròn Đà Nẵng là hai anh em Mai, Đáng, đã từng học ở đây. Về sau, Công quán đổ nát, người ta mới đập bỏ, xây trường hát, sửa đi sửa lại nhiều lần cho đến khi rạp Trưng Vương được dựng nên.

Sau khi học trường Nam Tiểu học được một niên khóa, cha mẹ tôi cho tôi qua học trường Tiểu học Pháp (École Primaire Francaise de Tourane). Từ đây, tôi biết thêm nhiều nơi hơn vì gia đình tôi dọn đến ở trên đường Avenue de France tức đường Hùng Vương, là con đường huyết mạch của thành phố, chạy từ bờ sông Hàn, qua chợ Hàn, qua vườn hoa Con Gà, chạy lên Chợ Cồn, tới ngã ba Cây Lan, ra ngã ba Huế, tức ra quốc lộ 1. Nhà tôi gần ngã tư Hùng Vương và đường Đông Kinh Nghĩa Thục sau nầy, dựa lưng với sân vận động thành phố. Nhà mới nầy có thể nói là nằm ở vùng trung tâm thành phố, trong xã Hải Châu, giữa Chợ Hàn và Chợ Cồn. Nhờ thế, tuy lúc đó nhỏ tuổi, tôi có thể đi bộ đến các vùng chung quanh trong thành phố Đà Nẵng.

Trường Tiểu học Pháp nhìn ra đường Nguyễn Tri Phương (sau nầy) và sau lưng là đường Lê Lợi (sau nầy, bên cạnh trường Phan Châu Trinh sau nầy). Trường nhỏ, chỉ có một dãy nhà ngang (theo đường Lê Lợi) bốn phòng học. Sân trường khá rộng toàn bằng cát. Trong sân trường, phía trước các phòng học, bên tay mặt là một bồn chứa nước cao lớn (chateau d’eau). Trường dạy theo chương trình Pháp, gồm học trò nhiều sắc tộc khác nhau: Pháp, Pháp lai, đen Phi châu (con các quân nhân Phi châu), Ấn Độ (con các thương gia Ấn, thường gọi là Chà Và), Việt. Kỷ niệm duy nhất của tôi ở trường nầy là phía trước sân trường có nhiều đụn cát. Giờ ra chơi, học sinh chúng tôi hay chia phe cõng nhau, rồi kéo vật. Thường thường học sinh Pháp và Pháp lai một phe, còn lại tụi tôi một phe, vì tụi tôi rất ghét mấy thằng Pháp ỷ thế làm taàng, nên các bạn đen (rất mạnh) liên kết với các bạn Việt vật với các bạn Tây. Thỉnh thoảng cũng xảy ra vài trận đập lộn.

Phía bên phải trường là một khoảng đất hoang, nhiều lùm cây nhỏ, nhất là cây dứa tây, làm chỗ trốn bắt của tụi nhóc chúng tôi. Giữa bãi đất nầy có một gò cao. Chúng tôi nghe nói rằng đây là mả Hời (gò cao nầy là địa điểm phòng Thí nghiệm trường Phan Châu rinh sau nầy). Ngăn cách giữa sân trường Tiểu học Pháp và khu vực sau nầy là trường Phan Châu Trinh là đường Nguyễn Hoàng với những cây kiền kiền cao vút.

Trường Tiểu học Pháp nằm bên cạnh trường Phan Châu Trinh sau nầy. Lúc tôi mới bắt đầu đi học trường Tiểu học Pháp, thì trường Phan Châu Trinh chưa có. Khu đất trường Phan Châu Trinh còn trống, toàn đất cát, có nhiều cây dứa tây, hình dạng giống như cây long tu, nhưng cao lớn hơn, không ăn được, bẹ dài cả thước, hai bên bẹ có nhiều gai nhọn, có cây cao cả thước. Vùng đất nầy có nhiều con nhông sinh sống, nên có người vào đây đặt bẫy bắt nhông.

Đén khoảng 1953, chính quyền bắt đầu xây dựng cơ sở đầu tiên của trường Phan Châu Trinh, là dãy nhà ngang nhìn ra đường Lê Lợi (sau nầy) và lưng về đường Nguyễn Tri Phương (sau nầy) , nghĩa là ngược với trường Tiểu học Pháp. Trường Phan Châu Trinh khai giảng khóa đầu tiên năm 1952, nhưng học tạm tại trường Tiểu học ở đường Yên Bái, đến niên khóa 1954-1955 mới dọn về cơ sở mới nầy.

Lúc còn đi học trường Tiểu học Pháp, thay vì đi theo đường cái, thỉnh thoảng tôi theo đường Pasteur, đến sau lưng nhà bác sĩ Trần Đình Nam, tôi đi vào con hẻm, đến nhà bạn tôi tên Ngọc. Trước nhà nầy có hai cây me, trái rất sai, nên chúng tôi hay leo hái. Khi đến trường, chúng tôi băng qua khu Mả Tây, ra ngã tư đường Lê Lợi, và đường Thống Nhất (saunầy) để đến trường. Mả Tây nầy khác với Mả Tây đường Trần Bình Trọng. Mả Tây nầy là nghĩa địa cũ, chôn quân lính và người Pháp khi mới xâm lăng Việt Nam. Nghĩa địa nầy về sau dời đi. Những người nằm ở đây được cải táng và đưa về Pháp. Chính phủ xây dựng tại khu vực nghĩa trang nầy trường Nữ Trung học Hồng Đức nằm chéo với trường Phan Châu Trinh qua hai đường vừa nói.

Qua thời Cộng Hòa, trường Tiểu học Pháp được bàn giao cho Ty Tiểu học Đà Nẵng. Năm 1957, theo đề nghị của ông Hiệu trưởng Phan Châu Trinh là giáo sư Nguyễn Đăng Ngọc, với sự đồng ý của chính quyền thành phố Đà Nẵng, ty Tiểu học chuyển cơ sở trường Tiểu học Pháp cho trường Phan Châu Trinh. Lúc đầu cơ sở nầy làm chỗ ở cho ban giám đốc trường Phan Châu Trinh, và các lớp nữ công, gia chánh và đánh máy chữ.

Ở đây cần thêm là phía trước trường Phan Châu Trinh, bên kia đường Lê Lợi là trường Nam Tiểu học Đà Nẵng. Cơ sở nầy vốn là bệnh viện Đà Nẵng, cho bệnh nhân Việt (Pháp có một bệnh viện khác ở thành Nguyễn Tri Phương sẽ viết sau). Khi Pháp rút về nước, cơ sở nầy được giao cho Ty Y tế Đà Nẵng, rồi do sự yêu cầu của Ty Tiểu học, Ty Y tế chuyển qua cho Ty Tiểu học và Ty Tiểu học dời trường Nam Tiểu học về đây.

Từ khi tôi còn học ở trường Tiểu học Pháp cho đến hết trung học, địa điểm thứ hai tôi hay lui tới là sân vận động thành phố, sau nầy gọi là sân vận động Chi Lăng (từ đây viết là sân Chi Lăng cho dễ). Cổng chính sân Chi Lăng nhìn ra đường Đông Kinh Nghĩa Thục sau nầy. Đường Pasteur thẳng góc với đường Đông Kinh Nghĩa Thục và đâm thẳng tới ngay cửa chính sân Chi Lăng.

Trước khi xử dụng sân Chi Lăng, ở Đà Nẵng, người ta đá banh ở sân bóng tròn nằm trong khu vực sau nầy gọi là Bảo Trợ Nhi Đồng và khu thương phế binh, góc đường Hùng Vương và Nguyễn Thị Giang. Tôi còn nhớ lúc đó đọc theo sân nầy, phía đường Hùng Vương, có một dãy tường cao khoảng 1 thước. Dân chúng đứng ở ngoài tường để xem đá banh, không tốn tiền. Lên trung học, thỉnh thoảng chúng tôi còn chia phe đá banh ở tại sân nầy. Khi còn nhỏ, tôi nghe truyền tụng cầu thủ nổi tiếng ở sân Bảo Trợ Nhi Đồng là ông Lân đen, nhưng tôi chưa hân hạnh thấy mặt.

TạI sân Chi Lăng, trước 1954, nổi tiếng là các đội banh Pháp như đội Génie, độI Compagnie de Base, và đội Sport Touranais vì toàn là cầu thủ Việt Nam. Những danh tài chúng tôi hâm mộ là anh Chương, anh Đẩu, anh Phong…

Ông bầu của đội nầy là Bernard, ty trưởng cảnh sát, nên cầu thủ đa số là cảnh sát hoặc được tuyển vào cảnh sát để đá banh. Cái khoái của người Việt xem đá banh lúc đó là thỉnh thoảng đội Sport Touranais đá banh là hay đập lộn với Tây. Anh Chương, anh Đẩu tuy nhỏ con hơn Tây nhưng có võ nghệ. Tụi Tây đá banh mà chơi xấu là các anh chơi lạI và uýnh họ luôn. Khi trọng tài can thiệp, hỏi tại sao lại đánh người ta, anh Chương thường trả lời là “tui không hiểu tiếng Pháp, tui tưởng nó chửi tui nên tui uýnh”.

Trước sân Chi Lăng, trên đường Đông Kinh Nghĩa Thục sau nầy là những cây phượng thấp. Dân chúng không có tiền mua vé, thường leo lên các cây phượng nầy để xem đá banh. Trong thời gian nầy, lính gác sân Chi Lăng thường là lính Bắc phi. Tôi leo lên tường sân vận động phía sau nhà tôi, nói chuyện với mấy họ bằng tiếng Pháp, xin vào xem. Thấy thằng con nít Việt nói tiếng Pháp ngồ ngộ, mấy anh lính Bắc phi cho vào xem khỏi tốn tiền, chứ lúc đó, tiền đâu mà mua vé. Nếu không xin đưọc vào xem, thì phải đợi hết hiệp nhất, người ta rút lính gác, mở cổng cho vào xem tự do, thì khi đó tôi mới vào được.

Một kỷ niệm về sân Chi Lăng tôi còn nhớ mãi là trước trận đấu ngườI ta rắc vôi những đường ngang dọc phân định trên sân đá banh, gọi là công việc kẽ chỉ. Kẽ chỉ vôi sân Chi Lăng lúc đó là một bác già, tên là Ngôn, nhưng ít ai kêu tên Ngôn, mà chỉ gọi là ông “Đít Vịt”. Ông nầy khi rắc vôi hoặc phụ giúp trọng tài làm các việc lặt vặt trên sân, thường hay làm trò hề cho vui bằng cách ngoáy qua ngoáy lại cái đít của ông, nên dân chúng gọi là ông “Đít Vịt”.

Thời trung học, chiều nào tôi cũng có mặt ở sân Chi Lăng để đá banh. Sân đóng cửa vào buổi tối. Vào những đêm rằm trăng sáng, trời tốt, chúng tôi sơn banh trắng và leo tường vào sân Chi Lăng đá chơi. Chúng tôi bị bác Đít Vịt đuổi chạy dài, nhưng càng chạy chúng tôi càng chọc bác Đít Vịt. Có khi bác Đít Vịt lấy được banh của chúng tôi. Chiều hôm sau ra sân Chi Lăng năn nỉ hứa hẹn, thì bác cũng trả lại, nhưng rồi chúng tôi vẫn tái phạm. Những lần chúng tôi đá banh vào buổi tối như thế, chẳng những làm phiền bác Đít Vịt mà làm phiền cả những cặp tình nhân hò hẹn trong sân Chi Lăng để tư tình. Bác Đít Vịt làm việc ở đây cũng khá lâu, cho đến thời tôi lên trung học. Khi tôi ra Huế học rồi trở về Đà Nẵng làm việc, thì không còn thấy bác Đít Vịt nữa. Có lẽ ông về hưu.



Đà Nẵng thời kỳ nầy có ba ngôi chợ: Chợ Hàn, Chợ Mới và Chợ Cồn. Chợ Hàn xây đã lâu, nghe nói đầu thế kỷ 20 (không chắc chắn), gần bờ sông Hàn nên gọi là chợ Hàn. Chợ Mới là chợ mới xây dựng sau Chợ Hàn, gần phi trường. Khi phi trường Đà Nẵng bắt đầu phát triển, binh sĩ và gia đình binh sĩ ở đây đông đúc, dân làng họp chợ buôn bán, rồi đông dần. Việc buôn bán ở đây càng ngày càng phát triển, phố xá sầm uất, nên hình thành Chợ Mới. Chợ Mới đón nhận nguồn hàng từ Hội An ra Đà Nẵng bằng đường Cẩm Lệ. Phía Chợ Mới đi lên hướng phi trường, đi vào vùng quê bên tay trái, có chùa Bà Quảng nổi tiếng. Thời trung học, chúng tôi đi xe đạp vào đây hái ổi, còn mấy anh chị lớn tuổi hẹn hò tình tự ở đây.

Chợ Cồn là ngôi chợ đông trên cái cồn. Nói là cái cồn, chứ thật sự đây là đống rác thải của thành phố Đà nẵng. Vào thời đó, khu vực Chợ Cồn được xem là ngoại ô thành phố. Người ta đổ rác ở khu vực “hầm bứa” , trên đó một chút. Có người không lên tới hầm bứa, mà đổ rác ở phường Vĩnh Trung ngày nay. Lâu ngày, rác chất cao, tạo thành một cái cồn, bên tay trái đường Hùng Vương sau nầy, từ ngã tư Chợ Cồn lên Ngã Ba Cây Lan. Dân chúng đông chợ trên cái cồn nầy, nên gọi là Chợ Cồn.

Tôi còn nhớ một câu chuyện về Chợ Cồn. Khoảng năm 1951, Việt Minh tấn công Đà Nẵng. Ngay cái bệnh viện nhỏ của Pháp sau là Ty Y tế), ngã tư Hùng Vương – Đông Kinh Nghĩa Thục (sau nầy) cũng bị Việt Minh tấn công. Tại Chợ Cồn có một anh bộ đội Việt Minh bị quân Pháp bắn chết. Sáng hôm sau, người ta thấy xác ngườI nầy, nhưng không ai dám chôn cất vì sợ liên hệ. Tuy nhiên có một nhân viên Bưu điện Đà Nẵng là ông Đặng Tr. đến cúng bái và đem chôn xác nầy. Công an Pháp không làm khó ông ta vì họ cho rằng ông ta điên.Thời tôi lên đại học, ông nầy điên điên, khùng khùng, ông nầy đi lang thang khắp thành phố Đà Nẵng và thỉnh thoảng tôi gặp ông ở Huế. Tôi không biết ông nầy điên thật hay giả điên.



Lúc đầu, Chợ Cồn nằm phía phường Vĩnh Trung. Nếu đi từ Chợ Hàn, theo Avenue de France (đường Hùng Vương) đi về hướng Ngã Ba Cây Lan, qua khỏi ngã tư Chợ Cồn (đường Hùng Vương và đường Khải Định), thì Chợ Cồn lúc đó nằm bên tay trái.

Qua thời Cộng Hòa, chính phủ mở rộng Chợ Cồn, mới xây dựng Chợ Cồn ở địa điểm ngày nay, chéo với chợ Vĩnh Trung, nằm về phía tay mặt của đường Hùng Vương nếu đi từ Chợ Hàn lên Ngã Ba Cây Lan, ở góc đường Hùng Vương và đường Khải Định. Khu vực Chợ Cồn vốn là một nghĩa địa, toàn cát. Về phía đường Khải Định, Chợ Cồn đối điện với bót tù Kho Đạn. Nếu theo đường Khải Định, Chợ Cồn chạy từ đường Hùng Vương đến chân đường cầu Vồng (tức đường Thống Nhất). Nếu theo đường Hùng Vương, Chợ Cồn chạy từ đường Khải Định vào đến đường rầy xe lửa. Trong Khu nghĩa địa nầy, có nhiều cây dứa tây và con nhông sinh sống. Vì đây là nghĩa địa, nên bên cạnh đường rầy xe lửa có một số nhà sống về nghề làm bia mộ bằng đá. Một vài nhà làm bia mộ tại đây tồn tại cho đến sau năm 1975.

Mới kể ngang đây mà quá dài. Chúng tôi xin tạm ngưng. Đà Nẵng thời tôi mới lớn còn nhiều chuyện tản mạn. Chúng tôi sẽ tiếp tục khi có cơ hội hoặc đợi số báo Xuân sang năm. Những chuyện nầy nằm trong ký ức của tôi nên có thể sai sót nhiều chi tiết. Xin vui lòng bỏ qua cho.

PHÙNG THƯỢNG

(Toronto, 30-11-2011)

(Nguồn: Đặc san Xuân Nhâm Thìn của Hội ĐH.QNĐN NAM CALI)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn