BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 36397)
(Xem: 33510)
(Xem: 33092)
(Xem: 24832)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Trại Tập-Trung (Phần II – 19)

09 Tháng Hai 201212:00 SA(Xem: 671)
Trại Tập-Trung (Phần II – 19)
50Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
00

Phần II – 19


Tổ vệ sinh lo chở cơm, nước uống và nước xối cầu tiêu cho hai đội kỷ luật Hà Nam Ninh. Nguyễn văn Hải và tôi được trật tự giao công tác này. Trung úy Thọ thoát lưới đợt đầu. Tôi nói thoát lưới đợt đầu vì sự tầm tù chưa chấm dứt. Mỗi ngày một tù nhân bị gọi ra. Tù nhân này lên ban giám thị làm tự khai và « làm việc ». Rồi tù nhân này trở về, chuẩn bị hành lý khẩn trương rời phòng. Anh ta qua khu B. Liền đó, hai ba tù nhân Hà Nam Ninh khu B sang khu A, vô nhà kỷ luật. Sự ngờ vực lẫn nhau khởi sự cùng với sự sợ hãi. Hôm nay, một tù nhân bị gọi ra. Anh ta về, nhà không ai bị gọi, cũng không ai đến. Hôm sau, vài người khu B qua. Tù nhân bị gọi ra hôm qua hoảng hốt. Rồi Lâm Quyền vào nhà kỷ luật. Lâm Quyền ra « làm việc ». Mười hai người tù Z30 D cũ khuân hành lý vào nhà kỷ luật. Lâm Quyền bị chuyển trại. Ra vô, vô ra liên tiếp một tháng, Z30 D đã lọc đủ tù nhân « tích cực » trong vụ nổi loạn đêm 27 tháng Chạp. Nhiều tù nhân tình nguyện ra « làm việc ». Để chứng minh mình oan, chỉ có cách tố cáo những người « tích cực » chống đối. Sau thời gian « tầm thù » và phân loại mức độ « nguy hiểm », Hà Nam Ninh còn 40 người chịu hình phạt kỷ luật vô thời hạn, vì không đọc quyết định, Z30 D cũ có 20 người. Các đội Hà Nam Ninh đã có số riêng từng đội và đã đi lao động sản xuất. Họ lao động tích cực hơn tù nhân Thanh Nghệ Tĩnh và Z30 D cũ. Khu nhà kỷ luật coi như ổn định. Bây giờ Cung củ đậu có thể tác yêu tác quái.

Đền ơn Cung củ đậu chế ngự Hà Nam Ninh, trại cho anh ta ngủ với vợ hai ngày hai đêm. Vợ Cung củ đậu là cô vũ nữ xếch-xi. Tội nghiệp cho cô ta, Cung củ đậu hành lạc tả tơi, về trại khoe cùng khắp. Khu A, tù nhân già thì nể, tù nhân trẻ thì sợ Cung củ đậu. Anh ta được khám xét hành lý tù nhân nên biết hết tù nhân có những món gì. Ở Z30 D K1 không có hoạt cảnh … tổng vệ sinh. Tù nhân đi lao động, trực trại dẫn trật tự vào nhà, lục tung hành lý của tù nhân mà kiểm tra, loại bỏ và tịch thu. Tổ vệ sinh làm công việc kéo xe cải tiến đậu trước nhà. Hễ lục soát xong, vệ sinh quét dọn nhà và chở đồ loại bỏ đem đốt. Tù nhân đi lao động về phải cất xếp đồ đạc của mình bị lục bừa bãi. Những tù nhân lưu cữu, đồ đạc còn gì loại bỏ ? Những bó đũa mài vót bằng gỗ mun công phu, trực trại tịch thu, sợ tù nhân dùng đũa chọc mắt, chọc tai nhau ! Những cái plaques làm bằng inox tỉ mỉ, trực trại tịch thu gởi về cho em, cho tình nhân, sợ tù nhân « mua bán đổi chác »! Những tượng Phật, tượng Chúa khắc nghệ thuật, trực trại cho trật tự tịch thu. Những kinh sách tôn giáo bị loại bỏ. Những bản nhạc không có lời bị xé nát. Những thư từ viết khó hiểu bị giữ lại « nghiên cứu ». Vệ sinh thường lén giữ kinh sách tôn giáo, không đốt, đem về tìm đúng « đương sự » mà hoàn trả. Cung củ đậu « nắm vững » tù nhân và những món hàng quý. Và anh ta bắt địa kiểu xin xỏ khá nhiều kem đánh răng Close Up, xà phòng thơm Camay, quần xà lỏn, áo thun, xì líp Mỹ … Tôi cũng bị Cung củ đậu bắt địa cái kính lão đắt tiền. Thiên thần mũ đỏ Cung củ đậu nhảy các « xô » hủ tíu, mì, tôm khô, mỡ, lạp xường … Ngày nào cũng có người nhận quà thăm nuôi và ngày nào Cung củ đậu cũng enjoy với … anh em. Cung củ đậu bắt địa thuốc lá State Express 555 để cống cán bộ trực trại, chấp pháp. Anh ta không nghiện thuốc lá thuốc lào. Tôi đã nghe Cung củ đậu bô bô kể chuyện lính nhảy dù ăn gan Việt Cộng cho tù nhân và cả cai tù nghe. Anh ta tự thú anh ta cũng đã ăn gan người xào hành tây ! Đến đây thì không còn gì đáng nói về thiên thần ghẻ Cung củ đậu. Anh ta đã làm ô uế hai tiếng nhảy dù mà tôi hằng ngưỡng mộ yêu mến. Bây giờ, tôi viết về thằng vô lại Cung củ đậu. Nó dọa đánh hết người này đến người khác. Nó hung hăng, phách lối. Nạn nhân khốn khổ của Cung củ đậu là chú bé tên Cường, can tội vượt biên, mẹ đã là « tài pán » của Maxim Sài gòn. Cung củ đậu còn sắm vai công an chấp pháp, gọi tù nhân nó ghét lên phòng trật tự « làm việc » và viết tự kiểm. Khi Hà Nam Ninh bị dẹp, Cung củ đậu trở thành hung thần. Nó chửi bới trật tự Phú già, đòi đánh trung úy Nhẫn nấu bếp phục vụ bệnh nhân, đì trung úy Hanh nhảy dù đến nỗi trung úy Hanh, hỗn danh Hanh thịt chó, hiền lành, ít nói, phải sang nhà kỷ luật. Chỉ vì trung úy Hanh khinh bỉ thiếu tá Phạm Đình Cung, chỉ vì trung úy Hanh xấu hổ thấy thiếu tá Cung củ đậu vênh váo cầm xâu chìa khóa, khoanh tay đứng sau tên trung sĩ công an trực trại.

Bằng thủ đoạn lọc người, Z30 D đã gây kinh hoàng cho tù nhân Hà Nam Ninh. Tù nhân nào cũng nơm nớp sợ hãi, hôm nào đó, mình sang nhà kỷ luật. Do đó, khi Z30 D thành lập ban văn nghệ phối hợp giữa nghệ sĩ tù nhân và nghệ sĩ cai tù, những tay vĩ cầm, lục huyền cầm Y pha nho, ca sĩ và múa sĩ và viết hòa âm của Hà Nam Ninh « đăng ký » hăng hái nhất và được tuyển chọn sớm nhất. Có một hải quân trung úy đã theo con tàu Việt Nam Thương Tín từ đảo Guam về … trình diện học tập cải tạo. Vị trung úy này trở thành vũ sư dạy các cai tù công an trai và gái nhảy múa. Z30 D, những kẻ ca ngợi Hà Nam Ninh hết lời, những kẻ đốc xúi Hà Nam Ninh « nổ », những kẻ hoan hô Hà Nam Ninh đánh tù nhân trật tự, sau khi viết tự kiểm lên án « bọn chủ mưu vô danh » lại đã là những kẻ chửi bới Hà Nam Ninh « chọc cứt không thành lỗ », Hà Nam Ninh khiếp nhược lao động tích cực, Hà Nam Ninh tầm thường xin vào ban văn nghệ, Hà Nam Ninh hèn mọn, « ăng ten », tố cáo lẫn nhau để chạy tội, để thoát vào nhà kỷ luật. Chẳng còn ai nhắc nhở Vũ Xuân Thông và 4 người Hà Nam Ninh về Chí Hòa địa ngục. Chẳng còn ai biết đến, ở nhà kỷ luật, 40 tù nhân Hà Nam Ninh bị trừng phạt ra sao. Người ta vẫn hoan hỉ gặp vợ con, nhận quà thăm nuôi và enjoy vui vẻ. Cuộc đời nó thế, bên ngoài và trong tù. Cái thành ngữ Bạc như dân, bất nhân như lính đã là chân lý.

Đầu tháng 4-1981, một người trong nhà kỷ luật được gọi ra thăm gặp gia đình. Tù nhân này không ra. Anh ta không dám ra vì sợ trở vào nhà cũ. Trực trại đến tận nhà dẫn anh ra gặp gia đình. Lãnh quà cáp về, anh ta yêu cầu được ngồi tại phòng trật tự và xin « làm việc » với cán bộ. Anh ta nói thẳng, nếu anh bước vào nhà kỷ luật, anh sẽ bị đánh chết. Tại sao ? Anh ta đã phản bội « anh em ». Chỉ những kẻ phản bội mới được « ân huệ » thăm gặp gia đình. Anh ta giải thích một cách tội nghiệp thế. Để bảo đảm an ninh cho tù nhân này, ban giám thị cho anh chuyển K. Trực trại vào tận nhà kỷ luật đem hành lý của anh ra cho anh. Z30 D ban ân huệ hãi hùng chưa ? Người tù khốn khổ này không tố cáo ai cả nhưng cả nhà kỷ luật đã lên án anh ta. Tù nhân ở nhà kỷ luật hết sợ kỷ luật, họ bắt đầu sợ ân huệ … thăm gặp gia đình ! Và họ đề phòng nhau ráo riết. Điều sợ hãi nhất là bị gọi ra « làm việc » rồi trở lại nhà.

Nguyễn văn Hải và tôi, ngày tám lần, 14 chuyến chở cơm, nước sôi, nước xối cầu vào hai nhà kỷ luật. Hai nhà cách biệt, không được đứng sát rào kẽm gai biên giới nói chuyện và nhìn nhau, mỗi nhà một cái cổng ở hàng rào tre. Cửa nhà, ban ngày mở, ban đêm khóa. Cổng thì chỉ mở khi xe cơm nước ra vào, ra. Lịch trình vệ sinh phục vụ hai nhà kỷ luật :

  • Sáng : Cơm điểm tâm, nước sôi. Một chuyến. Lấy thùng đựng cơm và nước sôi đem trả nhà bếp. Một chuyến. Chở một xe hai phuy nước xối cầu tiêu. Một chuyến.

  • Trưa : Cơm, thức ăn trưa. Một chuyến. Lấy thùng đựng cơm và thức ăn đem trả nhà bếp. Một chuyến.

  • Chiều : Cơm, thức ăn chiều. Một chuyến. Lấy thùng đựng cơm và thức ăn đem trả nhà bếp. Một chuyến.


Bẩy chuyến một ngày cho một nhà. Hai nhà là 14 chuyến. Sau nửa tháng, vòi nước lớn không ròng đến nhà kỷ luật nữa, chúng tôi còn phải chở 10 phuy nước cho mỗi nhà, thứ tư và 10 phuy, thứ bảy để tù nhân kỷ luật tắm giặt. Thoạt đầu, trật tự mở cổng và khóa cổng và kiểm soát sự liên hệ giữa vệ sinh và tù kỷ luật. Được một tháng, ông già Phú giữ chìa khóa và phụ trách cổng hai nhà kỷ luật. Ông ta giao cho tôi khóa, mở. Xong thì trả lại ông ta. Ông già Phú không theo dõi như Cung củ đậu. Chúng tôi thủ kỹ, chờ anh em khiêng cơm nước xuống là kéo xe ra ngay. Chở nước tắm, nước xối cầu vô, chúng tôi ra ngoài cổng đợi anh em múc hết đổ vào hồ trong nhà mới vô kéo xe đi. Thủ quá kỹ khiến trật tự tin chúng tôi. Và chúng tôi có thể giúp anh em vài việc lặt vặt.

Có một con chào mào miền Bắc, đít đỏ, hót rất hay. Nó cũng bị kỷ luật theo chủ. Chủ nó, một tù nhân Hà Nam Ninh. Anh ta nuôi nó từ khi nó chưa vỡ bọng cứt. Nó từ cái cóng bơ ra cái lồng tre nhỏ do chủ nó đan. Cửa lồng mở. Con chào mào tự do bay xa rồi lại nhớ lối trở về. Nó không biết mưu sinh. Nên nó đói. Tôi thương con chào mào, đi xin chuối, bóc vỏ liệng đi rồi lén chở theo cơm, vất vào lồng của nó. Mỗi trái chuối, nó sống được vài ngày. Để hót cho tù nhân kỷ luật đỡ buồn. Chủ nó muốn tặng tôi cả chào mào lẫn lồng, tôi thích lắm mà không dám nhận. Sau này, trật tự Trần Trọng Khánh gửi vợ đem về Sài gòn. Nó bị chuyển … trại. Cái lồng bị tịch thu ! Người tù Hà Nam Ninh mất nguồn an ủi. Anh ta thương con chào mào, khóc nửa buổi, anh em nói nhỏ với tôi thế.

Từ khi một tù nhân Hà Nam Ninh được gia đình thăm gặp và xin chuyển trại, không có gì mới xảy ra cho hai nhà kỷ luật. Ở tù Cộng Sản, không bị ăn đòn cai tù mà thường bị ăn đòn của tù nhân, ăn đòn oan uổng. Trung úy Thọ kể với tôi rằng, hai năm đầu ở trại lao cải miền Bắc không có thăm gặp, chỉ nhận quà theo đường Bưu điện. Tin tức miền Nam mù tịt. Nhưng tất cả nuôi hy vọng « Phục Quốc » lớn lắm. Bất ngờ, một hôm có vị trung tá được vợ ở Sài gòn ra thăm gặp. Anh em kỳ vọng tin tức miền Nam, thứ vitamine T (tức là tin rỉ tai) cần thiết để sống đời tù. Vitamine T của các trại lao cải miền Nam là tin tức của đài BBC Luân Đôn. Tù nhân gặp vợ con, câu đầu tiên là hỏi « BBC có nói gì về Việt Nam » không. Vợ con nói những tin tức vẩn vơ, tù nhân vào trại « sáng tạo » thành tin tức thê thảm cho Cộng Sản. Ở những nơi chốn đau khổ, con người thường dối gạt chính mình để an ủi người khác. Tôi nhớ hồi chiến tranh biên giới Hoa – Việt, một tù nhân ra gặp vợ con, khi về, anh em hỏi Trung quốc tiến quân đến đâu rồi, tù nhân nọ đáp : « Chúng nó rút hết, rút hết », đã khiến anh em hy vọng Trung quốc « giải phóng » buồn thiu. Tin tức đài BBC Luân Đôn thường bị suy diễn rất ly kỳ. Đài BBC tiên đoán thời tiết cho người đi biển ngầm ý khuyên thuyền nhân không nên vượt biển vào thời gian sóng gió bất trắc, được thân nhân hiểu sai và được tù nhân tiếp thu vội. Nên Vitamine T bổ … tai và bổ tim như vầy : đài BBC bảo không cần vượt biên nữa, sắp thay đổi ở Việt Nam ! Vị trung tá ở Hà Nam Ninh quá thật thà. Anh em nóng lòng muốn biết « phục quốc » hoạt động ra sao, ông ta đã trả lời : « Vợ tôi bảo không có phục quốc gì cả »! Thế là ông trung tá ăn đòn hội chợ. Vì làm vỡ … niềm tin. Đây là tội « ăng tin », đau hơn tội « ăng ten »! Người tù nhân ngay thẳng ở nhà kỷ luật, được gặp vợ con, không dám trở về. Bởi đã có kinh nghiệm « ăng tin » ở Hà Nam Ninh. Bạn đã hiểu nhà tù Cộng Sản chưa ?

Tôi nói tiếp hai căn nhà kỷ luật của Z30 D, K1. Tù nhân sống mòn mỏi ở đó mà đếm từng giọt thời gian. Đô mi nô, cờ tướng, kinh sách, thư từ, giấy bút, diêm thuốc, ống điếu, đàn sáo, ca coóng, muỗng nhôm, giây thép … bị tịch thu đốt bỏ hết. Tinh thần họ căng thẳng. Thỉnh thoảng, Z30 D còn kéo căng thần kinh của họ bằng cách đem thư gia đình của họ vào đọc tên người gửi, người nhận rồi tuyên bố : « Thư của các anh bị xé bỏ, vì các anh bị kỷ luật. Chúng tôi đã duyệt thư, nội dung là vợ con các anh đang gặp nhiều khó khăn ». Tù nhân muốn điên lên. Chưa đủ, Z30 D đọc tên những người vợ con đến thăm nuôi, rồi tuyên bố : « Các anh bị kỷ luật, trại đã mời vợ con các anh về. Các anh đã làm tốn nước mắt của vợ con các anh vô ích ! ». Sự nhân đạo và khoan hồng của Cộng Sản đó. Nhưng cậu Đoàn văn Toại đã biểu dương sự khoan hồng và nhân đạo này bằng cách bịa đặt tù nhân lập kiến nghị và ký kiến nghị trong đề lao Gia Định còn khe khắt hơn trong nhà kỷ luật tập thể Z30 D và các trại trừng giới. Tù nhân ở hai nhà kỷ luật K1 và Z30 D thèm nước … tắm hơn thèm cơm. Hễ trời có vẻ muốn mưa, cửa nhà khóa chặt ngay. Không sợ tù nhân trốn trại, mà không thích tù nhân tắm mưa thoải mái. Các ca, xô nhựa hứng nước mái nhà cũng bị dẹp.

Để cho kỷ luật thấm thía mùa nắng, Z30 D thêm mục tưới cây, tưới cỏ chung quanh hai nhà kỷ luật. Tưới tối đa nước. Chúng tôi lại phải kéo nước còng lưng tưới cây, tưới cỏ trước mắt tù nhân kỷ luật. Tôi biết có nhiều hũ, nhiều bình, nhiều ca nhựa dấu kỹ ở các gốc cây, bụi cỏ, xó hè … Chúng tôi đã tháo hoa sen, rót nước vào hũ, bình, ca. Tôi không quên mình đã bị Tư Long cúp nước khốn khổ ở khu FG, Chí Hòa.

o O o


Sau vụ Hà Nam Ninh, có thêm hai đợt tù nhân trúng xổ số nữa. Bấy giờ là tháng 7-1981. Sáu mươi tù nhân đã trải qua 5 tháng kỷ luật vì những « đầu óc lớn » họ còn tin tưởng người Mỹ. Nước Mỹ đã có 3 tổng thống từ 30-4-1975. Gerald Ford tuyên bố bán cái « Lịch sử đã sang trang ». Jimmy Carter hò hét, phất lia ngọn cờ Nhân quyền. Ronald Reagan, tay chống Cộng chuyên nghiệp số 3 sau Goldwater và Nixon. “Au Vietnam, rien de nouveau”! Các nhà tù, các trại tập trung khổ sai lao động mà đa số tù nhân là sĩ quan quân lực VNCH, là sĩ quan cảnh sát, là sĩ quan tình báo, là các viên chức, nghị sĩ, dân biểu trong các cơ cấu quốc gia, là “đồng minh” của Mỹ; phần còn lại là tù nhân Việt Nam cùng lý tưởng với Mỹ, chiến đấu cho dân chủ, tự do sau 30-4-1975, không có gì mới cả. Tuyệt nhiên không có gì mới cả. Ngọn cờ nhân quyền của Jimmy Carter chỉ là ngọn cờ giấy. Chỉ là cái mỏ con ó. Và tù nhân đã chán chường con ó.

Con ó bảo mỏ mình thôi nhọn quắt
Và con gấu khoe chân mình cùn nanh vuốt
Nhưng loài người vẫn bị mổ mắt, vẫn bị cấu cào
Ta thì vẫn nằm dài trong những đề lao


Khi Jimmy Carter phất cờ Human Rights, Sài gòn có nhiều người Việt Nam phất theo. Những người này bị Cộng Sản còng tay bằng Iron made in USA viện trợ cho Việt Nam Cộng Hòa bởi chính phủ và nhân dân Hoa Kỳ. Tôi không tin người Mỹ từ ngày tôi cầm bút, tôi không mảy may hy vọng người Mỹ cứu dân tộc tôi sau khi đã dâng hiến dân tộc tôi, như miếng mồi, tận miệng Cộng Sản. Tôi muốn quên người Mỹ như quên con quái vật trong chiêm bao. Nhưng tôi vẫn phải nhớ người Mỹ qua hình ảnh chiếc còng made in USA đã còng tay, còng chân tôi từ nhà tôi đến các nhà tù, các trại tập trung. Còng made in USA ám ảnh tôi. Tôi đã nghĩ một bài diễn văn không bao giờ được đọc trước Quốc hội Hoa Kỳ, những ngày tôi nằm ở FG Chí Hòa. Bài diễn văn này tôi viết ở trại tị nạn Pulau Bidong.

“Thưa quý vị nghị sĩ và dân biểu Mỹ, đại diện cho lương tâm của hai trăm mười sáu triệu nhân dân Hiệp chủng quốc,

Thật là một hân hạnh lớn lao cho tôi, được vào tòa nhà thiêng liêng này và được thưa chuyện với những con người cao cả của nước Mỹ, những con người sắp trở thành, sẽ trở thành những vĩ nhân không những của riêng nước Mỹ mà còn của cả thế giới, những con người mà tay dơ cao biểu quyết hay buông thấp khước từ là một nửa trái đất no hay đói, chiến tranh hay hòa bình, thắng hay bại, hạnh phúc hay đau khổ, bỏ nước chạy trốn như bầy vịt hay ở lại sống đoàn viên. Chính quý vị, những người đầy phép tích, đầy quyền uy, lương tâm của hai trăm mười sáu triệu dân Mỹ, đã vung cánh tay thần tiên, biến quê hương Việt Nam của chúng tôi thành một đại dương nước mắt. Tôi phải thành thật bày tỏ tấm lòng cảm phục của tôi với quý vị, những nhà ảo thuật đổi trắng thay đen trứ danh bậc nhất từ thuở có nền ảo thuật trên hoàn cầu. Tôi càng cảm phục hơn về tấm lòng trắc ẩn của quý vị, lương tâm của nước Mỹ, đã chẳng thèm lý tới hàng ngàn bộ xương của các chiến sĩ anh dũng Hoa kỳ không bao giờ biết thua trận còn nằm ngổn ngang đó đây ở bờ bụi Việt Nam. Sau hết, tôi vinh tôn sự khiêm tốn của quý vị, sự hiếu hòa tối đa của quý vị, những con bồ câu hiền lành hơn cả bồ câu, những chú nai ngoan hơn cả nai, đã tình nguyện thua trận ở Việt Nam mà chẳng cần đau xót, nhục nhã, xấu hổ. Theo tinh thần Đông phương, quý vị đã đạt rồi, đã là chính nhân quân tử rồi vậy. Và theo tinh thần nhà Phật, quý vị đã ngộ. Thua cái đáng thua ấy là thắng. Thắng cái không đáng thắng ấy là thua. Quý vị thông hiểu nghĩa sinh sát của nhà Phật một cách sâu sắc. Những anh lính Mỹ khù khờ, đần độn chết khốn nạn ở Việt Nam là đáng đời. Vì trót dại đòi thắng, thắng nữa, thắng mãi. Những ông đại sứ cuốn cờ chạy bán sống bán chết cũng là những anh mê muội, xuẩn ngốc, cao ngạo, sống ở phương Đông mà không thèm nghiên cứu triết lý sống của cổ nhân Đông phương. Một lần nữa, nhân danh người Việt Nam chống Cộng Sản không cần bàn tay quý vị dơ lên tụt xuống quyết định số phận của dân tộc tôi, tôi xin biểu dương quý vị, lương tâm của nước Mỹ, người khổng lồ đã hoan hỉ thua chú tí hon.

Thưa quý vị,

Tôi trốn khỏi ngục tù Cộng Sản sang đây không phải để xin quý vị thương xót ban cho chút hạnh phúc định cư tại Mỹ, xin được nhập quốc tịch Mỹ. Cũng không sang đây để, bắt chước ông Thân Bao Tư, người nước Sở, quỳ gối giữa sân Tòa Bạch Ốc, xin quý vị đem quân sang lần nữa giải phóng chúng tôi. Tôi sang đây chỉ để trình bày một vấn đề liên quan tới lương tri của hai trăm mười sáu triệu nhân dân Mỹ. Sau đó, tôi sẽ trở về quê hương tôi, sẽ vào tù nữa. Ngục tù đối với chúng tôi nó còn đơn giản hơn tự do, dân chủ đối với quý vị. Cách đây mấy năm, ông Gerald Ford, vị tổng thống bất hủ của lịch sử hiện đại Hoa kỳ, nhìn cái quyền uy cuối cùng của nước Mỹ ở Việt Nam rơi vào tay quân Cộng Sản, đã thản nhiên tuyên bố với nhân dân Mỹ, quân đội Mỹ và thế giới rằng, lịch sử đã sang trang. Lịch sử thua trận ở Việt Nam của người Mỹ không hề biết thua trận đã sang trang, sang rất vội vàng. Mọi bí ẩn của nó, đời sau sẽ rõ. Chúng tôi không phàn nàn gì cả. Một cô gái quê lên tỉnh gặp tú bà, sở khanh, chỉ biết trách mình ngu ngơ khờ khạo. Thế thôi. Lẽ phải luôn luôn nằm trong tay những kẻ táng tận lương tâm. Tôi chẳng có gì phải hậm hực. Người Mỹ rút khỏi Việt Nam để lại rất nhiều cặn bã. Cộng Sản nó bảo quý vị đưa chúng tôi về thời kỳ đồ đá. Nó bài trừ ảnh hưởng văn hóa đồi trụy và tư tưởng của quý vị rất kỹ. Chiến dịch và chiến dịch. Việc của nó không ăn nhằm gì tới tôi cả. Cả những đứa trẻ con lai Mỹ đen, Mỹ trắng còn vất vưởng ở Sài gòn, ngày đi ăn xin, lượm giấy vụn, đêm họp nhi đồng, nhận Hồ Chí Minh là bác, cũng không ăn nhằm gì tới tôi. Cái đáng nói, đối với chúng tôi, những người trực diện chống đối Cộng Sản không cần nhận quý vị là đồng minh, là những cái còng made in USA mà khi cuốn gói khỏi Việt Nam, quý vị đã quên không di tản.

Thưa quý vị,

Tôi xin phép quý vị để được nói đôi chút về sự liên hệ của chúng tôi với người Mỹ và những cái còng. Vâng, người Mỹ, chúng tôi, kẻ thù, còng khóa chỉ là những con đô-mi-nô tội nghiệp. Lục ngũ phải dính với ngũ tứ, ngũ tứ phải dính với tứ tam vân vân… Cái chủ thuyết domino thật trứ danh. Nó là trò chơi của tư tưởng. Nó có luật giết bò, gài triệt, triệt buộc… Dĩ nhiên, nó còn có cả gian lận, chạy làng nữa. Chúng tôi vốn đôn hậu, hồn nhiên, ngây thơ và nồng nhiệt. Theo tiếng gọi tân biên cương và quyền sống con người trên trái đất của cố tổng thống Kennedy, chúng tôi lớn lên, phóng tầm mắt nhìn sang nước Mỹ như nhìn hạnh phúc của dân tộc mình sau một trăm năm buồn tủi. Cái lý tưởng tự do, dân chủ của Hiệp Chủng Quốc đã hấp dẫn thế hệ chúng tôi, đã thúc dục chúng tôi móc trái tim dâng hiến sự nghiệp xây dựng tự do, dân chủ. Như những chiến sĩ Mỹ đã anh dũng hy sinh tại Việt Nam, chúng tôi không cần tiết kiệm xương máu. Cho tới phút này, hình ảnh người lính thủy Mỹ cuối năm 1954 vẫn là hình ảnh ngoại nhân đẹp nhất đối với chúng tôi. Chúng tôi đã nhìn chính sách của nước Mỹ ở Việt Nam như đã nhìn lính thủy Mỹ thật thà, dễ thương xuất hiện trên vỉa hè Sài gòn năm xưa. Bất hạnh cho chúng tôi là chính sách của quý vị đã không giống hình ảnh người lính thủy cuối năm 1954, càng khác xa chính sách của quý vị ở ngay nước Mỹ. Chúng tôi già nua trong nỗi thất vọng và những dâu biển của thời thế do quý vị tạo ra trên quê hương chúng tôi. Tôi vẫn để dành những giọt nước mắt khóc những người lính Mỹ bỏ xác tại Việt Nam. Hôm nay, tôi xin được khóc thương họ trước mặt quý vị, vì tôi biết quý vị đã quên họ. Nước mắt cho những con người chết cho lý tưởng giả dối và cho sự lừa gạt của con người trên trái đất. Nhưng quý vị, quý vị luôn luôn cao cả, luôn luôn là ngọn đuốc sáng biểu tượng lương tri của dân tộc Hoa kỳ, luôn luôn là thứ quyền uy vô địch kể từ nhân loại có quyền uy.

Thưa quý vị,

Bây giờ, tôi xin trở lại chuyện những cái còng viện trợ Mỹ. Xin thưa với quý vị rằng, tháng năm nằm trong cachot của Cộng Sản, tôi chợt nhớ hai bàn tay thân hữu nắm chặt lấy nhau gắn bó tình nghĩa viện trợ Mỹ các nước trên thế giới. Cái emblème quý vị chọn lựa thật là thấm thía. Bàn tay của quý vị lớn, khỏe, quý vị bắt chặt, siết chặt thân hữu các nước nhỏ thì các nước nhỏ chỉ có trợn mắt, lè lưỡi mà thôi. Ý nghĩa thấm thía nữa là hai bàn tay trao và nhận viện trợ hôm nay, sẽ là hai bàn tay còng và bị còng ngày mai. Ở Việt Nam, Cộng Sản chơi rất bẩn. Nó cứ còng chúng tôi bằng còng Mỹ. Nó hô hào tận diệt mọi tàn tích của đế quốc Mỹ nhưng nó đã “nuôi dưỡng” còng Mỹ. Tôi không hiểu tại sao kỹ nghệ và văn minh chế còng của Cộng Sản tối tân hơn của Mỹ mà nó lại suy tôn còng Mỹ quá đáng thế. Đó là vấn đề tôi phải bơi thuyền gỗ, lênh đênh trên mặt đại dương, đương đầu với bao nhiêu hiểm nguy để sang nước Mỹ phỏng vấn quý vị, sau nhiều năm luân lạc khắp các đề lao, các trại tập trung. Tôi phải bán cái nhẫn kỷ niệm cuối cùng mới đủ tiền mua vé xuống thuyền trốn khỏi Việt Nam. Như những thuyền nhân bất hạnh khác, tôi bị hải tặc hãm hiếp bảy lần, bị đói khát mười ngày ròng rã và, sau hết, trầy bả vai, nhỏ máu mắt mới vô được nước Mỹ thiên đường. Để lên Thiên Đường, quý vị linh mục chỉ cần làm sáng danh Chúa. Để vào nước Mỹ, quý vị linh mục cần có thân nhân ruột thịt ở Mỹ làm ở RMK, Pacific hay… đi lính ! Tôi vô thiên đường Mỹ nhờ dạy học dưới chế độ quý vị bảo trợ. Nhưng tôi sẽ trở về quê hương đau khổ của tôi như Lưu Thần, Nguyễn Triệu đã trở về quê hương trần thế lầm than sau một lần dại dột cất bước lên thiên thai. Người trên thiên thai trái tim bằng gỗ, không biết rung động, không biết yêu, không biết xấu hổ. Tôi hy vọng quý vị sẽ chẳng làm tôi tiếc rẻ cái trinh tiết còn lại đã bị ô uế trên mặt biển, khi trở lại Việt Nam.

Thưa quý vị,

Chúng tôi, khi bị còng dính chùm với nhau, đã bàn cãi sôi nổi về những biểu quyết của quý vị về ngân sách, tài khoản viện trợ cho Việt Nam. Bạn tôi bảo, quý vị toàn là những người xuất thân từ Harvard, từ Yale, từ Cornell, từ Darmouth…, những nơi quy tụ tinh hoa của trí thức, những nơi mà trí tuệ nước Mỹ sẽ tỏa khắp năm châu, mở đường khai lối tự do, dân chủ cho loài người. Những người cao cả như quý vị không thể, không bao giờ biểu quyết chấp thuận viện trợ dùi cui và còng cho bọn thống trị độc tài, phát-xít bản xứ. Bạn tôi bảo, quý vị chỉ chấp thuận cho chính phủ Mỹ viện trợ thuốc DDT giết muỗi, thuốc khai quan giết cây, hại rừng, tàn sát môi sinh, bom đạn giết người, lựu đạn mửa, khói cay đàn áp tuổi trẻ xuống đường học tập dân chủ và chính sách tham nhũng riêng cho lũ tướng tá thống trị bù nhìn vơ vét mồ hôi của dân, xương máu của lính. Không bao giờ quý vị chấp thuận viện trợ dùi cui và còng. Trí tuệ nhà nước Mỹ không bao giờ là dùi cui và còng. Bạn tôi bảo thế. Và chúng tôi hoàn toàn đồng ý. Thế nhưng, tại sao dùi cui và còng Mỹ lại ngổn ngang khắp đất nước Việt Nam ? Chẳng lẽ chính phủ Mỹ dám qua mặt Quốc hội ? Những cái dùi cui Mỹ viện trợ đã giáng xuống nhiệt tình và lòng tự phụ của tuổi trẻ Việt Nam ra sao, quý vị đã đọc trên báo chí Mỹ. Còn những cái còng Mỹ viện trợ thì để còng tay Cộng Sản và còng luôn cả tay những người chống Cộng Sản, đồng thời cũng chống luôn tập đoàn thống trị quân phiệt ngu dốt và ăn cắp. Nếu từ trước tới nay, quý vị chưa hiểu bí mật của còng Mỹ thì, bây giờ, quý vị đã hiểu tại sao những người trí thức chân chính bản xứ không ưa người Mỹ.

Thưa quý vị,

Có hàng ngàn vấn đề cần đặt ra để thắp sáng lương tri dân tộc Mỹ nhưng, rất tiếc, không thuộc phạm vi bài diễn văn của tôi hôm nay. Tôi sang đây không làm công việc than vãn, trách móc hay cầu cạnh. Lịch sử, như ông Ford nói, đã sang trang. Người Mỹ không thích lần dở quá khứ, không thích phục hồi dĩ vãng. Những kẻ còn ôm cái ảo tưởng bám chân người Mỹ về giải phóng quê hương, thâu tóm quyền bính cũ là những kẻ xuẩn ngốc đang chiến đấu với hư mộng. Chúng tôi khẳng định với quý vị rằng, chúng tôi không cần người Mỹ trở lại Việt Nam. Một lần đã đủ chua xót. Hãy để chúng tôi yên lặng ngồi liếm vết thương và làm lại quê hương chúng tôi. Lịch sử đã sang trang, thật sự đã sang trang rồi. Hiện tại là khởi sự những trang lịch sử mới của dân tộc chúng tôi chiến đấu cô đơn với Cộng Sản, chiến đấu bằng trái tim, không bằng súng đạn Hoa kỳ. Có một thứ quyền trên cả nhân quyền và thần quyền. Đó là quyền hy vọng. Chúng tôi hy vọng sẽ loại bỏ Cộng Sản như tổ tiên chúng tôi đã loại bỏ quân thù truyền kiếp. Nhưng, trước khi dấn thân vào sự quyết liệt, tôi tưởng nên gỡ nốt cái móc làm sự sang trang của lịch sử hiện đại Hoa kỳ thiếu suông sẻ. Vâng, tôi xin tiếp tục đề cập cái còng Mỹ. Còng Mỹ, nói rõ rệt, còng chế tạo tại Mỹ, do Mỹ viện trợ cùng với bột DDT, sữa hết chất béo, phó mát thừa, quần áo cũ, thuốc khai quang, bom đạn và cố vấn lãnh đạo đàn áp, đã còng tay còng chân những người Việt Nam đối lập các chế độ ở nước tôi do quý vị nặn ra rồi đạp đổ. Những người Việt Nam bị còng Mỹ siết chặt đều là những người nghe răm rắp tiếng thúc dục tranh đấu cho lý tưởng tự do, dân chủ của người Mỹ vĩ đại Kennedy. Còng Mỹ được trao cho đầy tớ Mỹ để nó phản bội lý tưởng của vĩ nhân Mỹ. Rốt cuộc, tình nghĩa Mỹ trao gửi Việt Nam đã bị còng luôn ! Nghĩ cũng buồn.

Thưa quý vị,

Càng buồn hơn, còng Mỹ đang được Cộng Sản trao cho cái sứ mạng còng tay, còng chân những người Việt Nam chống Cộng Sản một mình, những người Việt Nam còn say mê lý tưởng tự do, dân chủ, còn nhìn ông Kennedy như ngọn đuốc soi đường. Có lẽ, quý vị phải mở cuộc điều tra tường tận về con số còng chính xác viện trợ cho Việt Nam hai mươi năm trước. Nhiều người quá khích cho rằng, người Mỹ rút khỏi Việt Nam, để lại toàn bộ còng, khóa, dùi cui là có mục đích xấu xa. Tôi không tin thế. Thật lòng, tôi không tin thế. Luôn luôn, tôi nhìn dân tộc Mỹ qua các văn hào Mỹ, các vĩ nhân Mỹ. Tâm hồn đích thực của dân tộc Mỹ là tâm hồn Lincoln. Ngoài tâm hồn ấy là chính sách của Mỹ đối xử với các nước nhỏ. Tôi yêu dân tộc Mỹ, người Mỹ và thù ghét chính sách Mỹ ở nước tôi như tôi thù ghét còng Mỹ đã siết chặt chân tay tôi, bạn bè tôi, đồng bào tôi ! Còng Mỹ đang siết chặt chân tay đồng bào tôi và chẳng biết đến ngày nào nó mới chịu nghỉ mệt. Dân tộc Mỹ và quý vị, chắc chắn, không bao giờ muốn dân tộc Việt Nam bị Cộng Sản còng chân tay, tống vào tù ngục bằng còng Mỹ. Bởi thế, thân gái dặm trường, tôi phải chịu nhục nhã trên đường bôn tẩu, sang tận đây để tường trình quý vị những cái còng viện trợ Mỹ còn ngổn ngang khắp các nhà tù, đề lao, trại tập trung của Cộng Sản. Tôi không dám làm công việc tra vấn lương tâm quý vị vì tôi hiểu lịch sử sang trang vội quá nên quý vị cũng quên nhanh quá và nhiều chuyện quý vị chưa kịp nhớ. Vậy, tôi sang đây nhắc quý vị rằng, quý vị cần phải thu hồi toàn bộ còng của quý vị về Mỹ. Thu hồi bằng cách nào, đó là nhiệm vụ, là bổn phận, là lương tâm của quý vị, nằm trong chiến thuật, chiến lược mà tôi không nên biết, không nên hỏi. Người Mỹ đã lên cung trăng đem đá xuống trần gian, người Mỹ sẽ sang Việt Nam mang hết còng Mỹ về nước. Chúng tôi tin tưởng quý vị thừa khả năng.

Thưa quý vị,

Khi những cái còng Mỹ viện trợ Việt Nam còn do Cộng Sản dùng để siết chân tay những người Việt Nam chống Cộng Sản cô đơn, những người Việt Nam chân chính, quả cảm, quyết thắp sáng ngọn đuốc lý tưởng tự do, dân chủ thì lịch sử hiện đại của Hoa kỳ hai mươi năm can thiệp ở Việt Nam chưa sang trang. Khi ấy, quốc hội Mỹ nên đeo một chiếc còng vào cổ tay cầm bó đuốc của Nữ thần Tự do và hoán chuyển thế đứng cho nữ thần yêu dấu. Và, chính phủ Mỹ cũng nên treo một chiếc còng lớn lên đài Tưởng Niệm Chiến Sĩ Hoa kỳ bỏ mình vì lý tưởng tự do, dân chủ ở Việt Nam. “Bởi vì, còng Mỹ còn hoạt động tại các ngục tù Việt Nam là người Mỹ còn có mặt tại Việt Nam. Và vết ô nhục phản bội còn hằn trên lương tâm quý vị, hằn trên lương tri dân tộc Hoa kỳ; còn là lưỡi lê dơ bẩn cắm xuống mồ các vĩ nhân Mỹ, đâm vào trái tim những người lính anh hùng Mỹ đã chiến đấu, đã đổ mồ hôi và máu, đã hiến dâng tuổi trẻ của mình cho ngọn cờ dân chủ và hạnh phúc loài người…”

Bài diễn văn này do cô giáo Nga đọc ở cachot khu A đề lao Gia Định thời gian cô bị còng made in USA còng dính chùm cô với hai cô Lan và Nhi. Nó ở chương thứ năm của Sỏi đá ngậm ngùi*. Tôi không tin Mỹ cứu tù nhân cải tạo, cứu dân tộc tôi. Tôi chỉ muốn bắt họ sang Việt Nam thu nhặt hết còng Mỹ đem về Mỹ. Cái ảo tưởng Mỹ cứu, Mỹ sẽ can thiệp chuyện Việt Nam đã đưa vô số người vào tù Cộng Sản và đưa vô số tù nhân vào nhà kỷ luật của trại tù. Nằm buồn tênh ở nhà kỷ luật, vẫn còn tù nhân hỏi tôi: “Có nghe BBC nói gì về vụ này không ?” Chẳng muốn để anh ta tuyệt vọng, tôi đáp: “Yên chí, họ sẽ nói”. Những thằng ngu đưa dân tộc của chúng nó vào ngục tù Cộng Sản, rồi đổ vạ Mỹ không dạy mình giữ nước, không viện trợ đều đều. Thêm những thằng ngu tin tưởng Mỹ cứu, đưa bạn tù của chúng nó vào nhà kỷ luật chịu đựng trăm đắng nghìn cay một cách lãng nhách.

============

* Nam Á – Paris, 1985

(Còn tiếp)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn