BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 35577)
(Xem: 33236)
(Xem: 32278)
(Xem: 24653)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Căn lầu có ma

22 Tháng Mười Hai 201112:00 SA(Xem: 832)
Căn lầu có ma
51Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
51
Tôi là đứa con gái không ra chi, theo như cách nói của bà Kim Long, tức là một đứa con gái hậu đậu, làm việc gì cũng không nên hồn, đã vậy còn xấu đau xấu đớn, đen đúa như cột nhà cháy, béo trục béo tròn như phuy mỡ bò, đi thì huỳnh huych như trâu dẵm nước cộng thêm ăn nói thì cộc lốc và vô duyên. Nói tóm lại, trong cách nhìn của bà Kim Long và các qúy bà sang trọng ra vào trong ngôi biệt thự xinh đẹp này, tôi là biểu tượng cho những gì tệ hại nhất trên đời.

Cũng may cho tôi, đó không phải là cách nghĩ của tất cả mọi người, ít nhất không phải của một người, đó là má tôi. Có thể do trong trái tim của người mẹ, đứa con gái xấu xí nhất trần đời vẫn là viên minh châu trong con mắt mẹ mình. Đã có nhiều câu chuyện cổ tích, ca dao tục ngữ chứng minh hộ tôi điều này, thí dụ như chuyện gà mái mẹ lạc con chẳng hạn, mẹ gà nhờ ai tìm con mình cũng diễn tả là con tôi xinh xắn lắm, đáng yêu lắm trong khi chú gà lạc tội nghiệp thì xấu xí như tất cả mọi chú gà con xấu xí trong đời này. Cũng vậy, má tôi vẫn thường khen tôi tốt tính, ngoan ngoãn và biết kính trên nhường dưới. Đó là những khi tôi khóc lóc kể cho má nghe tôi thường bị qúy bà xinh đẹp trong ngôi biệt thự sang trọng dè bỉu như thế nào, má hay ôm tôi vỗ về:

- Con ơi, miễn là con có một tấm lòng nhân hậu, biết kính già yêu trẻ là con đã rất đẹp rồi.

Má tôi không được học hành nhiều, hình như chỉ mới hết tiểu học. Bà an ủi tôi bằng tất cả vốn liếng chữ nghĩa bà có và hơn hết bằng một trái tim gà mẹ yêu thương gà con xấu xí chứ quả thật là tôi không đẹp xíu nào, nếu nhìn theo cách nhìn nào đó, hoặc là nhìn thẳng vào trong gương. Tôi đậm người hay có thể gọi là béo tròn chùn chụt như kiểu nói của qúy bà sang trọng, cao vỏn vẹn 1m55, nặng 50 kg, một số đo bị đánh rớt ngay vòng đầu nếu đăng ký dự thi hoa hậu hay người mẫu. Nước da tôi ngăm ngăm, trán tôi không hiểu nên gọi là cao thông minh như má tôi gọi hay là dồ bướng bỉnh như bà Kim Long gọi. Mũi tôi không thấp không cao, mặt tôi tròn như trái cam, mắt tôi cũng tròn nốt, môi trên hơi hếch lên để lộ nửa răng, bà Kim Long hay bảo tôi “Lộ sỉ là tướng nghèo khó”. Điều này thì rõ ràng bà đúng rồi, nhưng tôi cũng thấy nhiều diễn viên điện ảnh có môi trên giống tôi như diễn viên điện ảnh Mỹ Duyên ở Việt Nam, như Châu Hải My ở Hồng Kông hoặc như cầu thủ Ronaldo ở Brazil, những người này tôi cho rằng họ còn giàu hơn cả bà Kim Long nữa. Nhưng mấy đứa bạn thân tôi lại nói khác, chúng nó bảo tôi mắt đen lay láy, môi đỏ như son lại cười toe toét suốt ngày thì chẳng bao giờ khổ. Điều này không biết có đúng không nhưng ít nhất cũng an ủi tôi rằng: Có thiếu gì người giàu mà vẫn khổ (thí dụ như tỷ phú Onassi, như công nương Dianna). Trong khi đó không thiếu gì người không giàu lắm mà vẫn thảnh thơi sung sướng như thường (như cô giáo tôi chẳng hạn - tôi sẽ nói sau). Tôi tự xếp mình vào loại thứ 2 xếp theo khuynh hướng tướng số của cả bà Kim Long lẫn ba con bạn thân thiết của tôi.

Cái chuyện tôi cười toe toét suốt ngày cũng bị bà Kim Long cho là vô duyên “Vô duyên chưa nói đã cười” bà dẫn chứng trong ca dao Việt Nam. Quả thật là tôi vô duyên ở cái khoản này, tôi gặp người quen nào cũng toét miệng cười, cười trước khi cất tiếng chào. Hàng xóm, bạn bè bảo tôi vui vẻ, bà Tám Lợi chủ tiệm tạp hoá Phước Lợi ở đầu đường dặn má tôi lúc nào tôi nghỉ học đem tôi qua bán hàng cho bà, cô giáo tôi khen tôi biết tôn trọng thầy cô, không giống mấy đứa khác gặp cô thầy cứ trợn mắt ra nhìn. Cái chuyện cười khi chưa nói không hẳn là vô duyên hoàn toàn.

Một số người quen biết thương tôi, họ nói số tôi gian nan lận đận, mới hai tuổi rưỡi đã mất cha, sống nương dựa vô người chẳng bà con thân thích chi, lại thêm bà chủ suốt ngày chì chiết, chê bai. Cùng bằng cỡ tuổi tôi, một đứa con gái bà Kim Long và một đứa cháu gái được cưng như trứng mỏng, sang trọng lụa là không sao kể xiết. Tôi biết ơn họ nhưng không tự cho mình gian nan lận đận. Cha tôi chết thì đã có má tôi, má tôi suốt mười mấy năm trường ở vậy nuôi tôi, thương yêu che chở tôi. Đâu phải ai cũng có được may mắn đó đâu, có người sống khổ sở với cha ghẻ, có người còn cả cha lẫn mẹ mà phải sống với ông bà khi cha mẹ họ ly hôn. Tôi còn sướng hơn họ, trong tâm trí tôi còn trọn vẹn bóng hình người cha cần mẫn, tốt bụng (qua lời kể của má tôi - chứ hồi đó tôi có biết gì đâu) và má tôi là số 1 trên đời đối với tôi rồi, thiếu gì người cha mẹ họ cờ bạc nhậu nhẹt chửi rủa con cái tối ngày, làm gì được như tôi có đủ hình ảnh tốt đẹp của cả cha lẫn mẹ.

Tôi cũng không nề hà gì khi phải làm mới có cái ăn, chủ nhà với tôi có bà con thân thiết gì đâu, mặc dù ông Kim Long luôn giới thiệu với mọi người tôi là cháu. Thật tình thì cũng là cháu, nhưng cháu xa lắc xa lơ, bắn đại bác một trăm phát chưa tới. Ông Kim Long là chồng của cô ruột tôi, có nghĩa ông là dượng rể tôi. Nhưng mà điều này đáng gọi là thân thiết nếu cô tôi còn sống. Đằng này cô tôi chết lâu lắc mười lăm mười sáu năm nay rồi, mà ba tôi cũng chết luôn. Sợi dây huyết thống giữa tôi với ông Kim Long xem ra vô cùng lỏng lẻo. Má con tôi ở nhờ trong khuôn viên biệt thự này với danh nghĩa vợ góa con côi của tài xế Lân (tức là ba tôi). Má tôi hằng ngày dọn dẹp, làm vệ sinh phía ngoài ngôi biệt thự, nghĩa là từ cổng trở vô tới trước cửa nhà, và chăm sóc ngôi từ đường nằm ngay trước căn phòng hai má con tôi. Tôi thì làm một việc lạ lùng hơn, năm mười một tuổi tôi được giao cai quản tầng lầu thứ nhất trong biệt thự. Tầng lầu này không có người ở, nhưng mỗi ngày tôi đều phải đến quét dọn, thay drap giường, lau chùi đồ vật trong mỗi phòng và thắp hương trước bàn thờ. Công việc rất nhẹ nhàng vì cả tầng lầu không người ở nên chẳng có gì phải dọn dẹp ngoại trừ cầu thang lên xuống.

Không biết do trí khôn tôi kém hay do tính tình tôi lạc quan nên tôi chẳng thấy công việc làm thuê này có gì phải than phiền. Hằng tháng má con tôi nhận tiền lương bằng các người giúp việc khác trong khi họ phải vất vả hơn chúng tôi. Bà Kim Long thường hay đay nghiến tôi về chuyện này: “Mi có làm chi mô mà cũng lương cũng phạn” Nhưng ông Kim Long không thèm đếm xỉa gì tới điều tôi có làm việc chi mô mà vẫn trả lương hằng tháng đầy đủ cho tôi. Điều này làm tôi hạnh phúc lắm vì tôi nghĩ rằng tôi là người kiếm được ra tiền từ năm học cấp 2, trong khi bạn bè tôi còn phải xin tiền mẹ mua kem thì tôi đã rủng rỉnh hằng tháng đưa tiền cho má.

Tôi cũng chẳng bao giờ so sánh mình với Nguyệt Cầm Minh - con gái ông bà Kim Long và Như Oanh - con bà Nguyệt Mai - cháu gọi bà Kim Long bằng dì ruột. Hai đứa này nhỏ hơn tôi một tuổi nhưng học cùng lớp với tôi (tôi ở lại lớp một năm - bà Kim Long thường hay nhắc mãi chuyện này khi nói về trí khôn của tôi). Hai đứa trắng như bột, tóc dài tha thướt, đi đứng rón rén; nói theo ngôn ngữ của bà Kim Long là đẹp như tranh. Bà Nguyệt Mai trước sống ở Huế, ông bà Kim Long đón về đây ở chung năm tôi học lớp 4. Hai mẹ con bà Nguyệt Mai ở hai căn phòng phía Tây trên lầu ba. Như Oanh, Cầm Minh hằng ngày ngoài giờ đi học trên lớp về nhà còn học đàn, học vẽ, học nấu ăn. Bà Kim Long thường nói con cháu bà phải biết đủ các món cầm kỳ thi họa và nữ công gia chánh. Bà thường hay chê tôi là tay chân cục mịch có biết làm chi mô, đen nhem đen nhẻm như ông Táo và cái điều bà ghét nhất ở tôi là “người chi mà răng cứ toét miệng cười, ai chửi chi cũng cười toe như người dại, người vô duyên như rứa có ma hắn đến đón đi”.

Tôi vốn không thông minh, ai có nói gì cũng chẳng quan tâm, mà cũng chỉ khi nào ai nói thẳng thì mới biết chớ nói gần nói xa thì một lúc sau mới hiểu ra, lúc đó thì đâu còn gì mà giận nữa. Cũng hiếm khi nào có ai nói gì tôi (ngoài bà Kim Long) nên cuối cùng tôi vẫn là người vô tâm nhất, cười toe toét suốt ngày (như người dại - theo cách nhìn của bà Kim Long).

Hằng ngày vào buổi chiều khi trên lầu 3 vang lên tiếng đàn cũng là lúc tôi chuẩn bị đi bơi, Hồ bơi cách nơi tôi ở chỉ một quãng đường ngắn. Quê tôi ở miền Tây, mỗi năm mùa hè tôi về thăm ông bà ngoại thường hay bì bõm dưới con rạch trước nhà. Lên Sài Gòn tôi vẫn thèm sông nước, ngày nào rảnh cũng đi bơi. Vậy nên da tôi ngăm ngăm mà được bà Kim Long phóng đại lên là đen như ông Táo. Bù lại là tôi bơi hết ý, liệng xuống nước thoải mái như trên bờ. Tôi nhớ câu chuyện 3 nhà khoa học, nhà văn, nhà chính trị đi du lịch bằng thuyền. Đang đi thì ông chính trị chợt hỏi người lái đò:

- Ông có biết Napoléon không?

Người lái đò lắc đầu.

- Thật tiếc cho ông. Nhà chính trị nói. Ông đã lãng phí một phần ba cuộc sống.

Nhà khoa học cũng hỏi:

- Thế ông có biết định luật Newton không?

Người lái đò lắc đầu.

- Quả thật ông đã lãng phí thêm một phần ba cuộc sống nữa. Nhà khoa học lắc đầu thương hại.

Nhà văn cũng không kém.

- Tôi cho rằng ông cũng không biết nốt Alexan Duyma.

Người lái đò xác nhận:

- Tôi không biết gì.

Nhà văn ngao ngán.

- Thế là còn lại một phần ba cuộc đời ông cũng lãng phí nốt.

Người lái đò bật cười:

- Thế trong 3 ông có ai biết bơi không?

Cả 3 người khách đều lắc đầu. Ông lái đò cười khanh khách:

- Tôi mà lật úp chiếc thuyền này xuống thì coi như 3 ông lãng phí toàn bộ cuộc đời.

Mỗi lần nhớ đến câu chuyện đó tôi thường tự hào mình đã không lãng phí cuộc đời chút nào vì tôi biết cả Alexan Duyma, Newton, Napoléon và nhất là biết bơi.

Còn cái chuyện nấu ăn còn tức cười hơn. Cầm Minh - Như Oanh đi học ở đâu không biết, về nhà bày bày nấu nấu. Không biết ở trường hai đứa nó làm kiểu gì mà về nhà sợ hư móng tay, dụ tôi đãi đậu cho hai đứa nó nấu chè đậu ván, chè bông cau, chè đậu xanh đánh, quậy bột, bắt bánh cho tụi nó làm bánh bột lọc kiểu người Huế, rang bột năng làm bánh phục linh, có bữa còn cao hứng kho cá kho tộ, nấu canh mít, canh tôm hay nấu bún bò nữa. Làm gì thì Cầm Minh - Như Oanh cũng dụ tôi làm những công việc cực khổ, còn hai đứa nó chỉ nếm thôi. Lần hồi bữa nào bà Kim Long cao hứng muốn khoe tài con gái nấu món Huế cũng một tay tôi làm hết, Cầm Minh - Như Oanh chỉ còn biết bưng ra chào khách. Má tôi nói tôi được lời, hai đứa nó đi học tốn một mớ tiền học, tiền mua đồ nấu nướng mà cái kết quả cuối cùng là nấu ngon thì lọt vô tay tôi. Giá như người khác thì ấm ức cho con gái mình mà má tôi thì thiệt là hiền, lại coi đó là điều may mắn. Hai mẹ con tôi đúng là có cái lạc quan của người nghèo, điều này chắc cũng do gia đình nội ngoại tôi truyền lại.

Nhà nội ngoại tôi cũng toàn là nhà nghèo, tôi lớn lên biết về bên ngoại nhiều hơn bên nội hơn vì ông bà ngoại tôi còn sống. Tôi có năm cậu, ba cậu lớn và hai cậu nhỏ. Tôi có một dì lớn hơn má tôi và đặc biệt là cậu thứ tư của tôi rất giỏi võ, hồi xưa cậu với ba tôi chơi thân với nhau, cậu tôi học võ ở lò võ thầy Ba Nhiêu, thầy Ba Nhiêu thường thượng đài đấu võ ở Cần Thơ, mỗi lần đi thường dắt cậu tôi theo. Đó là cậu kể cho tôi nghe, cậu còn dạy cho tôi vài ba thế phòng thân. Cậu nói hồi trước cậu cũng dạy cho ba tôi như vậy.

Bên nội tôi ít người hơn, má tôi kể ông bà nội tôi mất sớm, mấy anh em rau cháo nuôi nhau. Bác hai tôi tên Long, năm 17 tuổi đi theo Cách mạng rồi biệt vô âm tín từ đó đến giờ, chắc là chết mất xác lâu rồi. Ba tôi tên Lân, hồi còn nhỏ có học chữ đôi chút, lớn lên nhờ vậy đi học được nghề lái xe. Chú Quy tôi năm 75 theo bạn vượt biên rồi tới nay cũng không biết tin tức ở đâu. Cô út tôi tên Kim Phụng, lanh lợi giỏi giang nhất nhà, 8 tuổi biết ôm thúng bánh ít bán trên phà Mỹ Thuận, buổi tối theo ba tôi học chữ, tính nhẩm lẹ hơn ba tôi đọc bảng cửu chương. Năm 20 tuổi cô tôi lấy chồng, là ông Kim Long bây giờ.

Hồi tôi được 2 tuổi thì cô tôi mất, ông Kim Long gọi ba tôi lên lái xe cho ông, hơn nửa năm sau trong một lần đi giao hàng ông bị cướp, ba tôi một mình đánh trả 3 tên sau đó gặp được người tiếp cứu, Cướp bị bắt, tiền còn nguyên nhưng ba tôi do mang nhiều vết thương, máu ra nhiều nên không kịp đến bệnh viện đã trút hơi thở sau cùng. Ông Kim Long về quê đón mẹ con tôi lên, cho ở phía sau ngôi từ đường, cơm ăn ngày ba bữa, trả lương hậu hĩnh, công việc nhẹ nhàng. Có người nói má tôi hiền quá, ba tôi vì ông Kim Long mà chết đáng lý ông phải cung phụng mẹ con tôi cả đời mới phải, nhưng má tôi nói sống chết là do số, ông Kim Long đối đãi như vậy là đủ rồi. Chỉ có điều bà Kim Long không ưa mẹ con tôi, nhất là tôi, bà thường đay nghiến nặng nhẹ khi không có mặt ông còn lúc có ông ở nhà thì bà ra vẻ dịu dàng lắm. Tôi có nhận xét không hay về bà, tôi cho bà là người thâm hiểm và tôi thường tự thắc mắc không biết vì sao bà lại ghét tôi đến thế. Cũng là một việc làm ngớ ngẩn của tôi, thí dụ như đưa tay cầm một vật gì nóng mà không có lót tay, má tôi thì xuýt xoa: Khờ quá con. Ông Kim Long thì lắc đầu: Sao ngốc thế cháu. Bà Kim Long không nói gì nhưng sau đó khi ông Kim Long đi rồi là bà nguýt dài: “Ngu sao mà ngu dữ rứa, mi ngu giùm hết cho cả thiên hạ rồi”.

Hồi ở cấp một tôi đi học ở trường tiểu học gần nhà, mỗi sáng tôi ăn sáng rồi một mình đi bộ tới trường. Cầm Minh cũng ăn sáng giống tôi nhưng nó ỏng ẹo chê lên chê xuống, có khi chỉ uống chút sữa rồi lên xe hơi cho tài xế chở tới trường điểm ở xa lắc, Năm tôi học lớp 4 thì mẹ con bà Nguyệt Mai dọn đến ở, Như Oanh đi học cùng với Cầm Minh. Sang cấp hai tôi phải đi học xa hơn, buổi sáng ăn vội ăn vàng rồi đi bộ cho kịp, lúc đó chưa có nhiều xe buýt như bây giờ. Đi bộ xa nên tôi ăn nhiều, bà Kim Long thường nói tôi ăn như ăn cướp, nhưng tôi thà ăn như ăn cướp còn hơn bữa nào cũng khều khều gảy gảy như hai chị em Như Oanh, Cầm Minh; ngó thấy tụi nó ăn mà phát chán. Thử bắt tụi nó đi bộ 1 cây số tới trường như tôi coi, ăn kiểu đó có mà xỉu luôn.

Có người nói má tôi keo kiệt, hai mẹ con ăn không tốn tiền, lương lãnh hai suất mà sáng nào cũng bắt con đi bộ tới trường. Má tôi phân trần mua xe máy thì ai chở đây, má tôi làm gì biết chạy xe, còn thuê xe ôm hay xích lô cả tháng thì hết hẵn một suất lương, thôi thì con nhà nghèo tập chịu cực khổ là vừa. Vậy mà hóa ra hay, mười năm sau thiên hạ buổi sáng kéo nhau lũ lượt đi tập thể dục, trong khi đó vụ này đối với tôi là xưa rồi Diễm. Tôi bây giờ còn khen má là đi trước thời đại, biết chuyện còn hơn người nhiều chữ nghĩa.

Năm lớp nhứt tôi được học với cô giáo Ngân, người mà về sau này má tôi nhận ra khi đi họp phụ huynh – là bạn má thời thơ ấu. Má tôi mừng lắm, nơi đất khách quê người gặp nhau mà, huống chi lại là bạn thân thời con gái. Thiệt là lâu tôi mới thấy má được vui vẻ như vậy. Cô tôi người nhỏ nhắn, ăn nói rất có duyên mà học sinh không dám giỡn, có khi do lúc đó còn nhỏ tôi sợ cô như vậy. Về nhà má khen cô tôi được phước, vợ chồng con cái đề huề, không giàu có gì mà gia đình hạnh phúc. Chắc là hai người ngồi nói chuyện với nhau đem cô út tôi ra kể lể, rồi so sánh lại với má tôi, cô giáo tôi. Thật là nếu so giữa 3 người bạn gái thời thơ ấu sau mười mấy năm thì cô giáo tôi là người sung sướng nhất. Má tôi thì chồng chết, con thì đứa mất đứa còn. Cô út tôi thì vắn số, tiền bạc làm ra nhiều cũng có giữ được đâu. Vậy mới biết cái gì cũng là số phận đất trời sắp đặt, muốn cũng không được.

Cô giáo tôi thương tôi lắm, năm sau tôi lên cấp hai cô thường xuyên thay má đi họp phụ huynh cho tôi. Cô thường xuyên an ủi, dạy dỗ tôi, Đó cũng là một trong những lý do tôi tự cho mình có phước. Tôi đã có một người mẹ ruột thương yêu con, lại còn có thêm một người mẹ nữa thường xuyên theo dõi, động viên tôi, chỉ bảo cho tôi điều hay lẽ thiệt. Vậy nên tôi lúc nào cũng vô tư hồn nhiên, đến nỗi nhiều lúc bà Kim Long mắng mỏ tôi, tôi còn trơ mắt ra nhìn bà, để bà lại nổi xung chửi rủa tôi là đồ mọi rợ, cầu mong cho tôi bị sét đánh chết cho rồi. Nhưng tôi đã nghe theo lời cô giáo tôi, hơi sức đâu mà khóc lóc tức giận chi cho mệt, ai chửi người đó nghe, ai giận người đó cực thân, miễn mình biết mình không làm gì sai là được rồi. May mà tuổi mới lớn tôi có được cô giáo tôi làm nhà tư vấn tâm lý chớ nếu không, cái kiểu ngày nào cũng nghe bà chủ réo rắc “ Cái quân ni, cái quân nớ” có khi buồn quá dám uống thuốc tự vận chết lắm.

Nhưng cuộc đời tôi đến cấp ba thì chuyển qua một hướng khác, hay gọi là đổi đời theo như lời bạn bè tôi trêu chọc. Năm tôi học hết lớp chín ông Kim Long gọi tôi vào phòng làm việc, phòng này ở tầng trệt, ngày nào lên lầu lau chùi tôi cũng đi ngang qua. Ông chỉ tôi ngồi xuống ghế rồi hỏi thăm tôi học hành ra sao, có được lên lớp không, tôi nói tôi sắp thi vào trường cấp 3 Bế Văn Đàn. Ông bảo tôi thôi con không thi vô trường đó nữa, từ nay con đi học cùng với Cầm Minh, Như Oanh, giấy tờ gì đó để dượng lo. Tôi mắt tròn mắt dẹt ngẩn ngơ ngó ông, ông phì cười biểu tôi đừng có nhìn ông như vậy, Cầm Minh là con ông, Như Oanh là cháu ông thì tôi cũng là cháu ông, có gì khác nhau đâu. Tôi lúng túng: Nhưng cháu chỉ là… Ông ngắt lời tôi: Cháu không chỉ là cháu của ta mà từ nay cháu còn là con ta nữa. Ông biểu tôi về gọi má tôi cầm giấy khai sinh của tôi lên cho ông rồi bữa sau ông chở má tôi đi lên Ủy ban quận. Má tôi kể lại ông đi vô trong Ủy ban một mình, bỏ má tôi ở ngoài. Má dòm vô thấy mọi người tỏ vẻ tôn trọng ông lắm, rồi một hồi sau có người kêu má vô ký tờ giấy gì đó má không kịp đọc, chắc là giấy xin cho tôi đi học ở trường khác, má chắc là như vậy.

Tối hôm đó mẹ con tôi thấy tầng 2 ngôi biệt thự sáng đèn rất khuya. Tầng này là nơi ở của gia đình ông Kim Long, tôi chưa được lên bao giờ nhưng nghe thím Bảy - người dọn dẹp trong nhà (trừ tầng 1 là tôi dọn) mô tả là ông bà Kim Long ở căn phòng lớn hướng Đông, Cầm Minh ở căn phía sau hướng Tây. Căn trước hướng Tây để trống, là nơi bạn bè bà Kim Long thường tụ tập để tán gẫu hay đánh bài. Thường thì tầng 2 tắt đèn sớm khi ông Kim Long ở nhà, ông đi vắng thì bạn bè bà Kim Long đánh bài đến khuya nhưng họ không mở sáng đèn mà chỉ để mờ. Đêm đó chúng tôi nghe thấy vẳng tiếng khóc của bà Kim Long, ông Kim Long đứng bên cửa sổ hút thuốc. Má tôi lẩm nhẩm: Cầu trời đừng có vì chuyện đi học của con.

Nhưng cũng không có gì thay đổi ý định của ông Kim Long. Ba năm cuối cấp tôi đi học bằng xe hơi đưa đón như Cầm Minh - Như Oanh nhưng học khác lớp. Trước khi vô học ngôi trường sang trọng đó bà Nguyệt Mai đưa tôi đi sắm đồ, tôi biết chắc là tiền của ông Kim Long. Tôi có đủ quần áo đẹp đi học, tất nhiên là không nhiều như hai đứa kia; nhưng với tôi như thế là đủ rồi. Tôi chỉ buồn là khả năng thích ứng của tôi đối với ngôi trường này không tốt. Tôi luôn cảm thấy mình lạc lỏng. Tôi muốn đi học cùng với các bạn tôi như các năm trước, mặc dù tôi biết rằng khi vào cấp 3 sẽ thêm và bớt một số bạn bè. Không khí ở trường này quá xa lạ với tôi, về kiến thức tôi học đuối hơn người khác đã đành mà về tinh thần tôi luôn cảm thấy căng thẳng, giống như phải gồng mình lên để chịu đựng điều gì đó. Đôi lúc có cảm tưởng rằng rất nhiều người chuẩn bị chế diễu mình vì tất cả những điều xuẩn ngốc mà mình sắp làm. Tôi thèm đi đứng nhanh nhẹn, thèm được nhâng nhâng nháo nháo như hồi học cấp hai, thèm được cắn trái cóc trái ổi nhai rau ráu chớ không phải ăn nhẹ nhàng đi rón rén như ở đây. Tôi nhớ ba đứa bạn thân, nhớ cái lối nói móc họng của Yến Vi, nhớ tính cách phổi bò của Hạnh và nhớ nhất cái kiểu châm biếm của Hồng Anh. Thí dụ nếu như nó phát hiện ra cái tên dài thượt của Cầm Minh: Lê Phan Nhi Kiểm Nguyệt Cầm Minh; nó sẽ chuyển thành: Long lanh óng ánh lệch cằm Minh. Hay là nếu khi tôi phải uyển chuyển đi vào lớp nó sẽ cười là Hoa hậu “Sái một Chân” đến từ Mông Cổ .Từ khi chuyển trường, tôi không có cơ hội gặp tụi nó.

Hết học kỳ một năm lớp mười, bà Kim Long thuê gia sư đến dạy cho con gái và cháu. Tôi không được hân hạnh tham dự lớp học này, một trong những lý do là vì tôi không được phép bước lên quá lầu một. Hằng ngày tôi đến lầu một hút bụi, thay drap, thắp hương nhưng chỉ tới đó thôi, mẹ con tôi không được phép bước lên bậc thang cao hơn, đó là lệnh của bà Kim Long. Ngược lại mẹ con bà Kim Long cũng không đặt chân vào 3 căn phòng ở lầu một mặc dù họ phải đi qua cầu thang. Mẹ con bà Nguyệt Mai chắc cũng không đến đây, nhưng nhiều lần dọn phòng tôi thấy có tàn thuốc lá trên bàn nên tôi nghĩ là ông Kim Long thường hay đến.

Má tôi thấy Cầm Minh - Như Oanh có gia sư, má sợ tôi thua sút bạn bè (rõ ràng là thua) nên biểu tôi đi học thêm. Vậy là tôi kiếm mấy đứa bạn cũ, hỏi thăm rồi đi với tụi nó, Tôi lại trở lại với không khí quen thuộc của mình trong những buổi học thêm. Từ đó tôi có hai con người, một hoang dã mộc mạc chân thực, một co người khép nép với các quy tắc ỏng ẹo của tầng lớp qúy tộc. Thực lòng mà nói, điều này làm cho tôi dễ chịu hơn. Mỗi khi phải khép mình trong cái ràng buộc của giới thượng lưu, tôi lại mong ngóng đến giây phút thoát mình ra, trở về với lối sống bình dị để đón nhận cái cảm giác nhẹ nhàng đó. Chắc chắn có nhiều người cho tôi là ngu dốt, được lọt vào giai cấp qúy tộc lại thèm thuồng được thoát ra. Nhưng tôi vốn là tôi, là đứa con gái xấu xí quê mùa, chỉ thích hợp với lối sống dân dã nên cuối cùng tôi vẫn phải trở về với cội nguồn của mình.

Khi chưa hết cấp 2 tôi đã biết được nơi làm việc của tôi, tức là cái lầu một trong nhà ông Kim Long là nơi nào mặc dù má tôi cố gắng không cho tôi biết, và mọi người luôn né tránh mỗi khi đi ngang qua cầu thang. Đồ đạc trong căn lầu rộng thênh thang tố cáo cho tôi chủ nhân trước đây của nó. Ngày nào tôi cũng tới phủi bụi, thay drap, thắp hương bàn thờ Phật, tôi để ý thấy đồ đạc trong phòng nhiều năm không thay đổi. Ba bốn cái tủ áo quần treo toàn đồ phụ nữ và trẻ con, nhưng hầu hết có vẻ như đã quá lỗi mốt. Hai tủ sách lớn cũng có sách nhưng chắc đã lâu không ai đọc đến. Không cần đợi ai nói tôi cũng biết căn lầu này trước đây là nơi cô út tôi và đứa con của cô ở. Sau này cô chết rồi chắc ông Kim Long nghĩ tình vợ chồng và cái công cô tôi xây dựng cơ nghiệp nên không cho ai thay đổi đồ đạc trong căn lầu, giữ nguyên để tưởng nhớ người vợ đầu của ổng. Như tôi đã nói, thỉnh thoảng sáng ra tôi thấy gạt tàn đầy mẫu thuốc lá thì tôi biết là ông Kim Long đêm qua đã đến đây, nhưng đến để làm gì thì tôi không biết. Căn lầu này ngoài 2 phòng ngủ và 1 phòng khách ra còn có một phòng tắm rất rộng rãi, đẹp đẽ mà tôi rất thích. Đồ đạc trong phòng tắm tuy không hiện đại nhưng cái gì cũng đẹp, đặc biệt là cái bồn tắm lát đá xanh mướt, láng bóng. Ngoài ra phòng tắm còn có một cửa sổ nhỏ, mở ra có thể thò tay hái được mớ vú sữa chín lúc lẻo trên cành cây mọc sát nhà. Hồi mới biết là phòng ngủ của cô út tôi tôi cũng hơi rợn rợn người, nhưng lần hồi ngày nào cũng ra vô, cửa mở tanh banh sáng trưng nên tôi dần mất đi cái cảm giác sợ ban đầu. Đã vậy tôi còn đoán được ông Kim Long thỉnh thoảng tới đây trong đêm nên tôi càng vững dạ hơn.

Thời gian mỗi ngày cứ trôi qua trong sự yên tĩnh cam chịu của mẹ con tôi. Tôi hy vọng có ngày học xong. kiếm được việc làm rồi hai mẹ con sẽ xin ông Kim Long cho dọn đi chỗ khác. Điều này chắc làm cho bà Kim Long sung sướng lắm, từ lâu bà vốn coi mẹ con tôi như cái gai trước mắt. Đã có nhiều lần bà đay nghiến tôi, đay nghiến mẹ tôi, nhất là sau khi tôi bắt đầu học cấp ba, đi về cùng với Như Oanh và Cầm Minh, bà thích xỉa xói tôi là “Đũa mốc mà chòi mâm son”, “Đỉa đeo chân hạc”. Mới đầu tôi chỉ buồn, sau này tôi chuyển sang ghét bà, càng ngày càng ghét, nhất là sau một hôm ông Kim Long đánh rơi chùm chìa khóa tủ sách trong tầng lầu của cô út tôi

Tui không có chữ nghĩa nhiều, biết sao thì kể vậy thôi. Tía má tui hồi xưa ở Rạch Sâu - gần Mỹ Luông - Chợ Mới. Hồi nẵm chắc ở đó kiếm tiền khó khăn nên tía má tui ngược về gần Mỹ Thuận, chỗ ông bà nội con Tâm bây giờ. Ông nội tui là thầy tướng số, tía má tui thường chèo ghe đi bán quanh năm, Mấy anh tui là con trai còn được đi học chớ hai chị em gái học chữ chưa đầy lá mít, đâu được như mấy nhỏ bây giờ. Nhà tui với nhà ba con Tâm cách nhau hai công ruộng, ông Lân tui hồi đó chơi với anh Tư tui, tối bữa nào cũng dắt nhau lên gò mã đá tập võ.

Nhà bà nội con Tâm tội nghiệp lắm, ông già chết được một năm thì bà già đi theo, ở dưới tui kêu bằng đi cho có cặp. May còn để lại được mấy công ruộng, ba anh em trai lo mần kiếm gạo, hồi nào rảnh thì đi làm mướn kiếm thêm. Bác hai con Tâm giống mẹ, người trắng trẻo nho nhã hổng bù cho ba con Tâm đậm người cục mịch. Tui chơi thân với cô út con Tâm, còn một đứa bạn thân nữa là Tư Ngân về sau làm cô giáo dạy con Tâm học năm lớp nhứt, trong 3 đứa tui chỉ có Tư Ngân được cho đi học đàng hoàng thôi.

Nói nào ngay nhà nội con Tâm ai cũng hiền lành, trừ đứa lanh lợi là út Phụng. Bằng tuổi tui với Tư Ngân mà cái gì nó cũng vượt trội, tới nỗi nhà nghèo quá nó xách cái thúng không đi qua nhà dì Tám Hoả bỏ mối bánh ít, nó năn nỉ dì Tám bán thiếu cho nó hai chục bánh, nó lội bộ một mạch xuống Bắc Mỹ Thuận, mặt trời chưa kịp đứng bóng là nó bán sạch trơn, về trả lại tiền cho dì Tám. Bữa sau nó kêu ba con Tâm mượn xe đạp chở nó với năm chục bánh xuống bến Bắc, hẹn buổi trưa chở thêm cho nó năm chục nữa, vị chi một ngày nó bán cả trăm bánh. Mà biết lúc đó nó bao nhiêu tuổi không ? Mới có tám tuổi đó.

Bán bữa trước bữa sau nó kêu bác con Tâm dạy nó học chữ, học làm toán. Nó nói đi bán hổng biết gì sém nữa bị mất tiền, may mà có cái chú kia thấy nó nhỏ quá nên bày cho nó tính. Cái con đó vô cùng sáng dạ, bác con Tâm buổi tối dạy cho nó chưa được bao lâu thì nó còn muốn giỏi hơn ổng nữa. Nó tính nhẩm lẹ tới nước tía má tui sợ luôn. Cũng nhờ có nó bày đặt đòi học chữ mà tui cũng được học chút ít, đó là tui tới trường, học hết lớp ba, chớ út Phụng toàn là học lại của người khác, nó có được tới trường ngày nào đâu. Tía má tui hay lấy nó làm gương cho tụi tui, mà không riêng gì tía má tui, xóm nhà tui ai mà không biết chuyện con út Phụng ban ngày đi bán ban đêm học chữ, tự nó đòi học chớ đâu phải như bây giờ có lớp bổ túc hay bình dân học vụ gì đâu.

Ông nội tui - tức là ông cố ngoại con Tâm - từ Rạch Sâu lên thăm nhà tui, coi tướng con Phụng (ổng là thầy tướng số mà) ổng than rằng con nhỏ thông minh tuyệt đỉnh, ổng kêu cái gì mà tiếc là anh hoa phát tiết quá sớm cho nên khó thọ quá 30. Ổng nội tui còn nói ba má con Phụng đặt tên 4 đứa con Long Lân Quy Phụng nghe thì hay nhưng phạm vật thiêng nên cả nhà phải chịu phạt về sau mới hồi lại được. Đó là nói trong nhà cho tía má tui nghe thôi chớ ai mà dám nói ra ngoài.

Mười bốn tuổi út Phụng mở được một tiệm chạp phô, bây giờ kêu là tiệm tạp hóa, hàng xóm thấy nó giỏi giang ai cũng muốn giúp đỡ, không ai nỡ cho mượn tiền lấy lời cắt cổ như ở chỗ khác. Nhà út Phụng vượt lên nhờ tài kinh bang tế thế của nó, tới nổi mà tía má tui nghi ngờ lời tướng số của ông nội. Út Phụng nuôi thêm gà, chim cút, mà ngộ thiệt, con nhỏ nuôi gì trúng đó, tới nổi dám mua xe Hon đa cho anh hai Long; hồi đó như vậy ở quê tui là nhứt rồi. Nó cũng là người tốt nết, ai nghèo khó tới nó cũng giúp đỡ, nó hay nói nó chịu ơn hàng xóm láng giềng nhiều nên bây giờ trả được ai thì trả. Bây giờ nghĩ lại tui còn thấy rùng mình, câu nói đó nó nói hồi nó mới mười lăm tuổi, nghe giống như người ở tuổi ba mươi.

Rồi tự nhiên anh hai Long bỏ nhà ra đi, viết thơ để lại nói đi theo cách mạng, út Phụng khóc suốt một ngày một đêm, bữa sau mắt ráo hoảnh, coi như hổng có gì. Nhưng chị năm tui khóc lên khóc xuống vì để ý thương thầm anh hai Long, anh tư tui thấy vậy bực bội, kêu ba con Tâm nói chuyện:

- Hai Long đi rồi, làm em tao khóc sướt mướt, Mày coi liệu sao đó đi.

Ba con Tâm hết hồn:

- Hỏng lẽ mày biểu tao thế chỗ anh hai tao?

- Tao hổng nói vậy nhưng hai nhà mình từ nảo tới giờ thân thiết, ổng làm vậy tao cũng hổng trách, có điều phải chi ổng chịu con năm thì tốt hơn. Bây giờ còn con sáu tao để dành cho mày, mai mốt nó lớn mày cưới nó cho hai nhà vui vẻ.

Lúc đó tui còn nhỏ, ba con Tâm cũng chưa lớn, hai đứa mắc cở không dám nói tiếng nào.

Năm tới nữa chị Năm tui lấy chồng, qua làm dâu tuốt bên Phong Điền - Phụng Hiệp,

Hai năm sau ba con Tâm cưới tui, nói thiệt là bên nội con Tâm làm gì có ai, rước đâu ông chú xa lắc xa lơ nào trên Tri Tôn xuống làm chủ, còn tiền bạc thì một tay út Phụng lo hết, nó sắm cho tui cặp kiềng vàng, đôi bông tiền điếu với sợi dây chuyền bự xộn. Mấy thứ này hồi anh con Tâm bị ban cua vợ chồng tui đem bán ráo trọi lấy tiền lo thuốc cho con mà có được gì đâu, thằng nhỏ chết hồi được ba tuổi rưỡi.

Năm sau Tư Ngân bạn tui lấy chồng, gã về tuốt đâu Phú Xuân - Nhà Bè, vụ này làm anh tư tui đau lòng vì ổng thương Tư Ngân mà bị tối ngày ham lo ba cái vụ đánh võ để con người ta gã đi rồi mới tiếc.

Tui quên kể là tui có 3 anh trai: Nhân , Lễ, Nghĩa, tới chị năm tui Hiền, tui là Hậu, còn hai đứa em trai là Trí, Tín. Anh hai tui cưới vợ rồi ra riêng, cất nhà mé bên kia cầu Bắc, Anh ba tui về quê vợ mở tiệm bạc làm ăn cũng qua ngày. Trong nhà còn có Tư Nghĩa, Bảy Trí, Út Tín, tía má tui một hai nói hổng cho đứa nào ở riêng nữa, ổng bã hay ca cái câu: Con gái mà lấy chồng gần …..

Năm sau đó thì miền Nam giải phóng, nhà ba con Tâm ai cũng mong anh hai Long về mà chờ riết mõi mòn tới giờ cũng bặt tin. Nếu thiệt là ảnh chết rồi thì đúng là ông nội tui coi số nhà ba con Lân trúng phóc. Tháng mười hai năm đó chú Quy - em ruột ông Lân tui rủ Bảy Trí em trai tui xuống Rạch Giá mần ghe cào cho người ta, hai ba tháng sau nghe đâu hai đứa theo chủ vượt biên, mất tích luôn từ đó tới giờ. Ba má tui khóc ngất lên ngất xuống, còn con Phụng thì giận lắm, nó nói anh Hai Long với Tư Quy ngu hết biết, sống ở trên đời ăn một ngày ba bữa, ngủ một cái giường mà làm gì phải bỏ xứ mà đi như vậy, nó nói có làm biếng quá thì ở không cho nó nuôi cũng được chớ đi đâu cho biệt vô âm tín như vậy. Nó dặn ông Lân tui phải cố mà giữ lại đất vườn cha ông, cực khổ gì cũng ở lại nơi chôn nhau cắt rún, thiếu thốn gì để hết nó lo. Nói thiệt tình tui chưa thấy ai giỏi như út Phụng, năm 75 - 76 cực khổ đủ mọi bề mà nó giao cho tui tiệm chạp phô, lấy xe Honda đi tuốt về Cà Mau buôn bán giống gì đó không biết. Lần nào về cũng gói ghém vàng đưa cho ba con Tâm cất, nó hay nói sức nó mà quanh quẩn trong cái xóm này thiệt là uổng quá trời. Nó dặn tui ở nhà nhang khói cho bên nội, ngó chừng ông bà ngoại cao tuổi bệnh hoạn, còn cái tiệm bán được bao nhiêu thì lấy đó mà chi dùng, mỗi năm ông Lân mần ba công ruộng cũng đủ lúa ăn rồi, khỏi lo gì cho nó hết. Thiệt thấy mắc cở, nó bằng tuổi mình mà sắc sảo còn hơn chị mình, việc trong việc ngoài một tay lo hết.

Năm 78 thì con Phụng lấy chồng, lấy một ông người Việt mình mà lai ba Tàu, nghe con Phụng kể lại ông này cha là Bắc kỳ di cư, mẹ người Tiều; nhà cửa nghe đâu giàu có đóng tàu vượt biên, không may bị cướp, trôi dạt trên biển tưởng chết may gặp tàu đi ra đảo vớt lên. Con Phụng lúc đó cũng ở trên tàu, thấy ổng bạc nhược quá mới biểu ở lại trên đảo phục thuốc cho mạnh rồi đưa về. Duyên số làm sao mà thương yêu nhau chớ giỏi giang như út Phụng nhà nào ở đây hổng ham cưới làm dâu. Cái gì cũng tại duyên số hết, ông trời biểu sao thì mình phải chịu vậy chớ đâu có đòi hỏi gì hơn được.

Được nửa năm thì con Phụng đổi ý, nó biểu ba con Tâm giao lại vàng bạc nó gởi để nó lên Sài Gòn làm ăn, tui chắc đây là ý của chồng nó chớ út Phụng lưu luyến đất vườn hơn ai hết. Nó để lại cho vợ chồng tui mười lượng còn bao nhiêu ôm đi. Thiệt là lâu hổng thấy nó về mà cũng không có tin tức gì, hồi đó đâu có điện thoại như bây giờ, xe cộ đi lại thì khó khăn, ai ở đâu thì ở đó. Một bữa nó về mặt mũi sáng trưng, đúng thiệt là người Sài Gòn, nó nói nó gặp may, làm đâu trúng đó, mua được nhà cửa rộng rãi, sắp sửa mở xưởng cưa rồi. Ba con Tâm nói giỡn: Mày có mướn tao coi nhà cho mày hông? Nó liếc ngang: Anh hay dữ, anh ở đây mà lo đất đai hương hỏa, giá nào cũng giữ lại cơ nghiệp ông bà. Còn ai nữa đâu mà anh đòi đi? Mỗi tháng em gởi tiền cho anh chị xài, miễn hai ông bà đừng cờ bạc rượu chè thì tui nuôi cho tới ngày tui nhắm mắt.

Từ đó trở đi tháng nào nó cũng về, mà cái tánh con nhỏ thiệt là rộng rãi, lối xóm ai đau ai bịnh nó cũng tới thăm, cho tiền mua thuốc. Năm sanh con Tâm tui sướng như tiên, cô út sắm cho hai mẹ con hổng thiếu thứ gì, tía má tui đi khoe khắp cùng lối xóm.

Nhưng mà sự đời hổng có cái gì mà toàn vẹn hết, có lần út Phụng về tui thấy mặt nó buồn buồn, nó dặn tui có đi đâu cũng không được bán đất bán vườn, phải để lại để anh hai, anh tư có về biết đường mà kiếm. Nó còn dặn tui có chuyển đi đâu cũng đừng chuyển hộ khẩu, chỉ xin tạm vắng thôi rồi mỗi năm kiếm cách về mà giữ đất. Tui cười ngất nói vợ chồng tao có biết đi đâu đâu, ai có đuổi cũng năn nỉ xin ở lại. Đâu có ai ngờ nó về lần đó là chị em không còn gặp nhau nữa.

Tui nhớ rạng sáng ngày 7 tháng 4 năm 88, có người ở Sài Gòn về đập cửa vợ chồng tui hô Út Phụng chết rồi, kêu lên đám táng. Nhằm bữa đó con Tâm bị trái rạ, nóng li bì. Ông Lân cắn răng biểu tui ở nhà ngó con để ổng lên Sài Gòn lo cho em ổng. Đám ma xong rồi mà vợ chồng tui còn bàng hoàng như ai nói gạt, vừa thương em vừa tủi phận mình. Tui có hỏi ba con Tâm vì sao mà cô út chết, thấy ảnh khóc trả lời nó bị xe tông chết cả hai mẹ con - thằng nhỏ lúc đó năm tuổi. Tui nhớ lại ông nội tui coi tướng số cho út Phụng, giựt mình đếm đầu ngón tay thấy vừa chẳn 30.

Được một tháng thì dượng út nó về kêu ba con Tâm lên Sài Gòn làm tài xế cho y, ba nó dặn tui ở nhà coi chừng mấy công ruộng với cái tiệm chạp phô con Út để lại, ổng đi mần kiếm thêm chớ bây giờ anh em đâu còn ai. Mỗi tháng ổng về nhà 2 lần, lần nào cũng đưa tui quá trời tiền, nói là được trả công dữ dằn lắm, vợ chồng tui khen hoài dượng út con Tâm hiền lành biết điều, tui có hỏi bây giờ nhà cửa trển ai ở, ổng nói có mình dượng với mấy người làm công thôi, cái nhà bự chảng mà vắng huơ vắng hoắc. Vợ chồng tui cũng mừng có cơ may làm ăn khá khá nhờ phước phần cô út nó để lại.

Ai có ngờ trời bắt nhà nội nó tuyệt đường nối dõi, vợ chồng tui đương mong đẻ thêm một thằng nhỏ bù cho thằng lớn hồi trước bị ban cua chết. Chưa được nước non gì thì ba con Tâm bỏ má con tui ra đi. Nghe kể là ổng chở dượng út nó đi thăm nom mấy chủ vựa rồi lấy tiền hàng luôn. Hổng biết sao mà ăn cướp biết được, tới khúc đèo vắng xe hơi đương chạy thì xe Honđa quẹt vô cảng xe. Ba con Tâm mới ngừng lại thì tụi cướp nhảy ra kẹp cổ ông Kim Long, ba con Tâm đánh lại mà tụi kia ba bốn thằng đánh dữ quá, thằng có dao đâm ba con Tâm mấy dao, thời may có 2 chiếc xe hàng hai đầu chạy tới nghe kêu cứu nên xuống phụ bắt đem giao Công an, có điều ba con Tâm máu ra nhiều quá, chở chưa tới nhà thương thì chết. Dượng út nó chở xác ảnh về quê, tui giống như bị ai xô xuống ruộng, hồn vía lửng lơ ba bốn ngày mới tỉnh.

Tháng sau ông Kim Long về năn nỉ má con tui lên Sài Gòn ở để ổng lo cho con Tâm sau này, tui nhớ lời út Phụng dặn nên hổng muốn đi, nhưng nghĩ lại ở đây quê mùa lam lũ, giòng họ bên nội con Tâm giờ chỉ còn duy nhứt nó, cũng muốn cho con lên Sài Gòn cho có chút chữ nghĩa với người ta. Huống chi tui nhớ anh hai con Tâm hồi đó bịnh nặng, tiền vàng tui có trong tay mà hổng có thuốc men đàng hoàng cho con uống, uống bậy bạ thầy vườn để tới hồi quá nặng mà tới nhà thương cứu hổng kịp. Tui nghĩ vậy nên gởi đất đai vườn tược lại cho anh Tư, bán tiệm chạp phô gởi lại tía má tui nhang đèn cho ông bà nội nó, ôm con Tâm lên Sài Gòn ở tới bây giờ. Mỗi năm nghỉ hè tui cho con Tâm về quê, vừa là để chánh quyền biết mình còn căn cốt ở đó, vừa để nó biết đâu là quê hương giòng họ.

Nào nói ngay dượng út con Tâm, tức là ông Kim Long hổng xử tệ với mẹ con tui. Lên đây mới đầu mẹ con tui ngủ trong nhà lớn. Được vài bữa tui thấy khó coi, ai đời em rể chị dâu kẻ góa chồng người chết vợ ở chung một nhà, có tốt nết gì cũng có kẻ xấu miệng đâm thọc, mà cũng đâu có ở cả đời được. Tui mới nói dượng út nó cho mẹ con tui mướn nhà ra chỗ khác; dượng nó suy nghĩ lung lắm rồi kêu tui khoan khoan vài bữa, dượng kêu thợ tới xây thêm 2 căn phòng quay lưng lại ngôi từ đường rồi cho chuyển mẹ con tui ra đó. Chỗ đó coi vậy mà mát mẻ, cũng đẹp giống như trong nhà lớn, tui thấy vui trong bụng hơn. Dượng nói tui ngày 3 bữa cứ vô nhà lớn ăn cơm với dượng mà tui ngại quá nên xuống bếp ăn chung với đầy tớ trong nhà. Rảnh rang nên tui ngày ngày lau chùi quét dọn từ đường, dượng thấy vậy nên trả lương cho tui, mà trả nhiều lắm nghen, tui nói mẹ con tui ăn cơm của dượng thì làm chút việc có sao đâu vậy mà dượng cũng hổng chịu, dượng nói tui ráng để dành tiền lo cho con Tâm sau này. Mấy người làm công trong nhà nói tui ngu, ông Lân tui vì dượng mà chết lý ra dượng phải mua nhà cao cửa rộng cho mẹ con tui ở chớ sao ở chi trong căn nhà chút xíu vậy. Tui hổng biết trả lời sao nhưng mà nghỉ là sống chết có số, ông trời đã định cho ba con Lân ngày giờ đó phải chết thì dù đi một mình cũng chết, bây giờ dượng út đối xử với mình tốt như vậy mà còn bày đặt đòi hỏi gì nữa người ta họ ghét họ bỏ luôn thì biết thưa kiện ai, Chuyện ân nghĩa ai cân đong đo đếm được, đứa giết chồng mình thì vô tù rồi hổng lẽ mình vô đó bắt đền. Còn xét lý ra chồng mình chết rồi, em chồng cũng chết luôn thì giữa mẹ con tui với ông Kim Long có bà con gì đâu. Tui về kể lại tía má tui nói tui nghĩ phải, sanh nạnh làm chi cho người ta ghét. Ráng ở cho đàng hoàng để con Tâm mai này còn có chút phận nhờ.

Qua năm sau thì dượng nó rước bà vợ bây giờ về ở, lúc đó hai người đã có đứa con gái bằng trạc tuổi con Tâm rồi. Hèn gì mà mấy tháng trước khi út Phụng chết, có lần nó về mà mặt mũi buồn thiu, chắc lúc đó nó biết hai người có lẹo tẹo với nhau. Bà vợ sau này người Huế, nói tiếng nhèo nhẹo khó nghe lắm. Có điều bả đẹp quá trời quá đất luôn, trắng như bông bưởi mà tay chưn dịu nhĩu, duy có cái tướng đi tui thấy hổng ưng chút nào, cái tướng này ông nội tui mà thấy là thế nào cũng chê là cái gì xà xà đó, Mà bả khó lắm nghe, bả về được một tuần là bả cho người làm cũ nghỉ hết, tui cũng bị bả kêu lên cho nghỉ nhưng mà ông Kim Long về kịp, ổng nói là trừ phi ổng chết rồi thì má con tui mới đi chớ ngày nào ổng còn sống thì không được. Từ đó bà Kim Long ghét tui ra mặt, bả cấm tui không được bước chưn vô nhà bả. Tui cũng hổng ham vô làm chi, tới bữa cơm tui cũng không vô ăn như mọi lần, ông Kim Long biết được sai đầu bếp mỗi ngày 3 bữa đem ra cho má con tui. Bà Kim Long thấy vậy còn ghét dữ, bã nói vầy: “Cái quân chi mà sang như bà hoàng bà chúa, cơm dưng tận miệng cháo đút tận môi. Nhà ni chắc thiếu nợ chi mô nên phải hầu phải hạ quân nớ như công nương hoàng hậu”. Mấy cái câu này là tui nghe bà đầu bếp kể lại, tui nghĩ chắc ông Kim Long không kể lại chuyện ba con Tâm, mà người làm họ cũng mới đâu biết gì nên cũng không nói làm chi, có trời đất biết. Cũng nhờ bà Kim Long không ưa tui mà tui biết thân phận mình hết sức xài thiệt là hà tiện, mỗi tháng ông Kim Long cho bao nhiêu tui mua vàng bấy nhiêu, bỏ vô cái hủ giấu dưới chưn tủ thờ cô út nó trong từ đường.

Hồi con Tâm bắt đầu đi học ông Kim Long có xuống thăm mẹ con tui, dượng hỏi tui có muốn cho con Tâm học cùng với con dượng hông, mỗi ngày đi học bằng xe hơi. Tui nghĩ bà Kim Long ghét tui như vậy, cho con Tâm đi học kiểu đó khác gì đổ thêm dầu vô lửa nên nói với dượng là để tui cho nó học ở đâu gần nhứt cho tiện. Dượng út nó đem giấy khai sanh tới trường rồi đưa tiền cho tui sắm sanh cho nó không thiếu món chi. Ông Kim Long còn bắt buộc mỗi sáng con Tâm phải vô nhà ăn sáng với con gái ổng, ổng sợ con nhỏ đi học bụng đói. Thiệt là tui nói có trời, ông Kim Long thương con Tâm như con ổng vậy.

Năm con Tâm chín mười tuổi thì bà Kim Long đem chị ruột bà là bà Nguyệt Mai về đây ở, Tui cũng hơi lo là có thêm chị thêm em thì người ta còn ghét mình hơn, được cái là bà Nguyệt Mai thiệt là dễ chịu. Hay chắc là bã cũng phận ăn đậu ở nhờ nên thông cảm với ngời nghèo hơn; hổng phải mình tui nói đâu, mấy người ở đây: chú Tư tài xế, con Bảy, chị Hai nấu bếp ai cũng nói vậy hết. Năm con Tâm học lên cấp 2 thì ông Kim Long kêu nó vô nhà, cho nó dọn dẹp thắp hương ở lầu một. Chỗ này hồi xưa là của cô út nó ở, mấy năm trước tui lên đó thấy đồ đạc còn để y nguyên, ngày nào cũng có người lau chùi dọn dẹp thay gường giống như có người ở, mà hổng biết hồi xưa ai mần. Năm đó ông Kim Long kêu con Tâm dọn, tui e con nhỏ còn con nít nói ra nó sợ nên hổng dám kể; vậy nên nó hay hỏi tui hổng biết sao căn lầu rộng rinh mà có mình ông Kim Long qua lại, hổng ai ngủ mà bữa nào cũng bắt nó thay giường. Nó còn trầm trồ cái tủ sao nhiều đồ đẹp quá, mà may đâu kiểu hồi xưa dữ lắm. Tui biết đó là đồ của Út Phụng, chắc ông Kim Long còn thương vợ nên đồ đạc để y nguyên như hồi còn sống. Con Tâm hổng biết là vì trong phòng không có lập bàn thờ cô út nó, mà ngày nào cũng mở cửa tang hoác nên hổng giống như phòng của người khuất mặt.

Kể từ khi con Tâm lên dọn dẹp lầu một, ông Kim Long trả thêm một suất lương nữa cho mẹ con tui, tui ngại quá chối từ thì dượng nó la. Dượng nói biết dượng sống được tới khi con nhỏ lớn mà bảo bọc nó hay không, sợ khi bất ngờ dượng ra đi rồi mẹ con tui không nơi nương dựa . Dượng biểu tui có nhiêu tiền thì lo mà giữ, đừng có ham cờ bạc hay cho vay ăn lời mà mất thì hổng có gì lo cho con Tâm. Tui biết cái ý dượng một là dượng muốn cho mẹ con tui không có cái mặc cảm ăn đậu ở nhờ nên cho làm ăn công; hai là dượng sợ bà Kim Long kiếm chuyện khó dễ với mẹ con tui sau này. Cái tấm lòng của dượng nó tốt bao nhiêu thì mẹ con tui khổ với bà Kim Long bấy nhiêu. Hồi đó con Tâm còn nhỏ bả chì chiết mình tui, con Tâm vô làm trong nhà ăn lương thì bả chuyển qua tới con nhỏ. Tội nghiệp nhiều khi nó về khóc mướt, hỏi ra thì biết hễ ông Kim Long đi khỏi nhà là bả chửi mắng nó không tiếc lời. Cho nên mỗi ngày nó mau mau lau chùi quét dọn cái lầu một rồi lật đật chạy về. Nhiều khi thấy con khóc mà lòng mình buồn thúi ruột. Tui ráng cắn răng chờ tới ngày con nhỏ học hết rồi mẹ con kiếm chỗ khác ở. Chẳng qua thứ nhứt là vì dượng nó đối xử thiệt tình là tốt với mình, hai là hổng đâu kiếm ra chỗ nào công việc nhẹ nhàng mà trả công cao như vậy, cho nên tui ráng dặn con Tâm nhẫn nhục qua ngày. Cũng may là có bà Nguyệt Mai nhiều khi thương hại cháu đỡ lời nên con Tâm cũng bớt buồn; chớ còn tui nói thiệt ai mà cũng như bà chủ chắc mẹ con tui cuốn gói chạy về làng cho sớm.

Mấy năm sau này con Tâm đi học phước phần sao mà tui lại gặp được Tư Ngân. Nó làm cô giáo dạy con Tâm năm lớp nhứt, nhờ đi họp phụ huynh mà tụi tui nhìn ra nhau. Thiệt là vui thiệt là vui, chỗ đất khách quê người mà có được bạn bè thời thơ ấu. Đó là câu mà Tư Ngân nói đi nói lại hoài. Con Tâm nhờ có Tư Ngân dạy dỗ nên biết được nhiều điều hay lẽ phải, nó coi Tư Ngân như mẹ thứ hai của nó vậy mà, chớ tui quê mùa thất học biết gì đâu mà chỉ vẻ cho con. Cũng nhờ có Tư Ngân mà con tui vui lên, nó lẹ làng quen biết mấy đứa con cô giáo, thành ra cũng hổng đến nỗi cô độc. Mà nói thiệt, ngay tui đây cũng cảm thấy có phước có phần, chỉ là thương út Phụng em tui mà thôi.

Năm con Tâm bắt đầu học cấp 3 có một chuyện làm vợ chồng ông Kim Long gây nhau dữ lắm. Hồi nào tới giờ con Tâm đi học một mình, tự dưng ông Kim Long biểu con nhỏ đi học chung với 2 cô chủ. Mẹ con tui ngại lắm mà dượng hổng cho nói gì hết, dượng biểu tui đưa giấy khai sanh con Tâm cho dượng rồi dắt tui lên cái nhà thiệt lớn kêu bằng tư pháp gì đó. Tui đâu biết ất giáp gì, nhỏ lớn giờ có khi nào đi xe hơi chung với dượng đâu, mà bữa đó dượng biểu lên xe đi với dượng, Vô đó tui ngồi riết trên ghế, thấy người ta kính trọng dượng lắm. Sau cùng kêu tui vô ký tên đâu năm bảy cái tờ khai gì đó, hỏi tui có bằng lòng không. Tui nói cái gì dượng biểu tui cũng bằng lòng hết, hồi nào tới giờ dượng đối xử với mẹ con tui tốt quá mà. Rồi dượng chở tui tới trước cửa trường, nói là sau này cho con Tâm học ở đây, rồi dượng căn dặn tui ráng nhắc nhở con Tâm lo học, sau này còn thi vô Đại học nữa. Dượng dặn tui với con Tâm từ nay trở đi đừng có lo nghĩ gì tới chuyện tiền bạc, nhứt là chuyện học hành của con Tâm; cần học thêm học nếm gì thì nói với dượng một tiếng.

Dượng dặn vậy chớ thiệt tình mẹ con tui hổng dám đâu. Con Tâm đi học chung với 2 cô chủ một thời gian nó than dữ quá. Nó nói trường mới không có hợp với nó, vô đó toàn con nhà giàu không nó chịu hổng thấu. Tui nói người ta giàu kệ người ta mắc gì tới mình; nó nói má hổng biết đâu, hai giai cấp khó lòng hòa hợp được lắm. Nó không kể gì nhiều mà ngày một sút đi. Tui thương quá mới nói con thôi hay là má nói ông Kim Long cho con đổi trường; nó ngần ngừ rồi nói thôi má, vì chuyện này mà ông bà chủ giận nhau biết bao lâu, nay con đòi đổi trường thì tội cho ông chủ quá. Con nhỏ thiệt là nhớ dai, hồi lúc đó ông bà Kim Long gây nhau dữ lắm, tui nghe chị bếp kể bà Kim Long bỏ cơm cả tuần, bả còn chì chiết mẹ con tui đũa mốc mà chòi mâm son, ý nói thân phận con Tâm mà cũng đi học trường đó chung xe với con cháu bã. Hồi đó mẹ con tui toàn là tránh mặt bã không hà, tội là tội cho dượng tối ngày chịu trận bà vợ quá hung dữ.

Kể cũng tội con Tâm, mang tiếng đi học trường nhà giàu, có xe đưa đón mà đâu sung sướng gì, nhiều bữa phải đi xe buýt về vì học khác lớp 2 cô chủ nên thời khóa biểu khác nhau, mấy bữa đó vậy mà con Tâm vui dữ. Có bữa nó khoe nhờ đi xe buýt nó gặp lại bạn bè cũ nói chuyện râm ran. Rồi nó đi học thêm chung với bạn cũ nó, coi bộ vui dữ nên thấy đỏ da thắm thịt lại. Ông Kim Long biết chuyện biểu để ổng trả tiền học thêm cho con Tâm mà mẹ con tui hổng chịu. Mong là mong cho con mình vui vẻ khoẻ mạnh học hành tấn tới, được vậy là vui rồi.

Năm con Tâm thi rớt Đại học tui thấy nó buồn lắm. Cũng phải thôi mà, ai hổng buồn. Tui an ủi nó thôi đừng có khóc lóc làm chi, như chị em Cầm Minh – Như Oanh thuê gia sư mà còn rớt huống là con. Ông Kim Long an ủi con Tâm, biểu nó đăng ký đi học ôn thêm một năm nữa mà con Tâm không chịu, nó nói nó không đủ sức học Đại học thì nó học cái gì Cao đẳng đó. Con nhỏ này hễ nói là làm, ai can ngăn cũng hổng được. Mà tui thì chữ nghĩa hổng biết được bao nhiêu, dám đâu ngăn cản nó chuyện gì. Hình như ông Kim Long có biểu nó làm thêm việc gì cho ông mỗi ngày nữa, vì tui thấy nó hằng tháng đưa thêm tiền cho tui.

Chuyện bắt đầu rắc rối từ sau cái ngày ông Kim Long mời được cậu Kiên về dạy kèm tại nhà cho Như Oanh - Cầm Minh. Cậu trai này hơi đứng tuổi, nghe chị Hai nhà bếp kể là cậu đương học cái gì sĩ sĩ đó, mặt mũi sáng sủa thông minh, nghe nói còn biết đánh hai ba thứ đờn với lại gõ trống nữa. Mà thiệt ngộ, nhà bà Kim Long tiếp đãi cậu nồng nhiệt quá chừng, chắc cậu này học giỏi lắm đây. Hằng ngày cậu tới buổi chiều để giảng bài cho Như Oanh - Cầm Minh, có bữa còn thấy cậu xách theo cây đờn ghi ta tới nhà. Một bữa cậu tới còn dắt theo một cậu bạn nữa thiệt là bảnh trai, nghe nói đâu Việt kiều bên Úc. Nhà bà Kim Long trổ tài nấu món ăn Huế, vậy là con Tâm được hai cô chủ kêu vô để chế biến món ăn. Nghe kể lại ăn rồi cái cậu Việt kiều khen nức nở đồ ăn Việt làm cho mọi người trong nhà đều nở cái lỗ mũi thiệt bự, mà nở bự nhứt chắc là con Tâm tui, mặc dù hai mẹ con tui chỉ nghe kể lại. Có bữa tui thấy bà Kim Long sai con Tâm đi theo 4 cô cậu kia đi câu cá. Hổng biết câu cá ra sao mà về tới nhà con Tâm tui ướt mem hết trơn. Nó kể bà chủ sai nó đi theo xách đồ nghề cho mấy người kia, giống như tỳ nữ vậy đó mà. Họ đi câu bằng xe hơi của ông Kim Long tuốt đâu chỗ nào có cái thác gì đó, mà cậu Kiên thì lái xe. Rồi nghe con Tâm kể là hồi sắp về có mấy đứa nhỏ con ai hổng biết, a thần phù rớt xuống thác nước cuốn luôn, con Tâm tui thấy vậy nhào xuống nước cứu người. Thác nước cuốn mạnh dữ lắm, nó kéo được hai đứa nhỏ mà không đủ sức bơi vô bờ, may mà có hai cậu phụ nó đem vô được, cha mẹ tụi nhỏ khóc lóc cám ơn quá trời quá đất. Thiệt là cũng nhờ hồi nhỏ tới lớn con Tâm giống như con trai, học bơi học võ cái gì cũng mạnh dạn cho nên nó đi đâu, làm cái gì tui cũng đỡ lo.

Rồi sau này tui thấy con Tâm lạ lắm, mà hai cậu cũng xuống nhà tui hoài, nhứt là cái cậu Việt kiều tên Don, Việt Nam mình kêu cho dễ là Đông, cậu ở chơi với con Tâm cả buổi, quấn quýt nó lắm. Mà sao cũng lạ, sao tự nhiên xui khiến gì tui cũng thấy thương cậu, ngó cậu sao giống ai quen quen mà mình nghĩ hổng ra. Cậu Kiên cũng hay gặp gỡ con Tâm, hổng biết có gì hông mà bà Kim Long liếc ngang liếc dọc, chửi lên chửi xuống con nhỏ là thứ đồ nuôi ong tay áo. Cơ khổ một điều là con Tâm càng ngày càng lì, chắc con nhỏ bị đối xử tệ quá nên quẩn chí. Tui thấy nó thân thiết cả hai cậu, có mặt bà Kim Long nó cũng trửng giỡn như thường làm cho bả càng ngày càng ghét nó dữ dằn hơn.

Một bữa, cậu Đông tha thiết mời tui đi ăn nhà hàng, cậu nói cậu sắp về Mỹ rồi, mà ba cậu thì mới qua Việt Nam, cậu mời hai mẹ con tui đi ăn cơm với ba cậu một bữa. Tui lạ lùng quá, người mà cậu phải mời là mấy má con dì cháu bà Kim Long mới đúng, thân phận tui làm sao dám vô nhà hàng. Nhưng mà con Tâm biểu tui có gì mà sợ, mình được người ta mời chớ có phải mình xin xỏ gì đâu. Tui lo muốn chết là con Tâm cứ biểu tui đừng lo gì hết. Nó nói tui ai giàu kệ họ, mình hổng làm gì sai thì gặp ai mình cũng có sợ gì đâu.

Rồi nó lựa quần áo cho tui, còn bắt tui thoa môi son, đánh phấn. Tui rón rén đi theo nó ra khỏi nhà, hổng biết có ai để ý không, hai mẹ con kêu một chiếc tắc xi chở tới nhà hàng mà cậu Đông hẹn trước, tui đâu có ngờ lần này hai mẹ con tui vô tình mà gặp may mắn tới vậy đâu.

*** Khi tui tới nhà ni thì con Oanh được chín tuổi. Lúc nớ do tui buồn quá, nghe lời hắn mà về ở cho có chị có em. Hắn nói nghe cũng thương: Chi mô cũng chị em, em về ở trong Sài Gòn buồn muốn đứt ruột, nhớ Huế mình mà mần răng được. Thôi thì ba mạ không còn, anh em ai người phận nấy còn mình chị thì vô ở với em cho đỡ buồn. Chồng em giàu có mà thương em lắm, chị khỏi lo chi hết.

Hắn nói ri là hắn an ủi tui thôi chớ chi mà hắn không biết là tui còn buồn hơn ai hết. Mà hổng buồn răng được, vợ chồng ăn ở với nhau gần mười năm, gặp chuyện xui xẻo họ bỏ mình cái rột. Ai đời đương yên đương lành vợ chồng con cái chở nhau ra chợ Nọ, mới tới Vỹ Dạ thì cái xe tải đằng sau hất tuốt ba người cái vèo. Chồng tui mê man 3 ngày rồi tỉnh lại, tui thấy nhẹ mà hóa nặng, Xương hàm bị bể đã đành mà cái chưn trái bị dập gãy làm ba. Nhờ Trời Phật độ mà con Oanh tui không hề chi, khóc một trận mà người ngợm hổng xay xát gì. Người khổ nhứt là tui, cái mặt mang thẹo còn mong đi mỹ viện được chớ cái chưn gặp lúc đó bác sĩ dỡ ẹt nên mang tật suốt đời. Tai nạn năm trước thì năm sau ông Viễn bỏ tui theo vợ khác. Trên đời này tui chắc hổng có gì buồn hơn là bị chồng bỏ, nó bỏ mà nó không thèm giải thích lý do cho mình mới ức. Nhưng mà tui đau lòng nhứt là mạ tui buồn quá sinh bệnh rồi chết, trước khi chết mạ còn đổ thừa cho Nguyệt Lan, mạ nói do hắn ăn ở độc ác, cướp chồng đoạt vợ người ta cho nên vợ người ta oán, theo hại gia đình. Mạ tui nói hổng biết có đúng không nhưng thiệt là lúc nớ tui bị ám ảnh hoài, nhiều khi thắc mắc không biết phải do ai ăn mặn mà mình khát nước. Cũng có lúc ráp lại mọi chuyện xảy ra trong gia đình rồi thấy mạ nói rứa cũng có lý. Từ hồi con Lan lấy Kim Long, trong nhà biết bao nhiêu chuyện xấu xảy ra, nhẹ thì mất của, nặng thì mất người. Anh cả tui một đêm ngủ dậy liệt giường suốt 3 năm rồi chết. Chị gái tui bị giựt hụi vòng lân tới mức phải vô tù, may nhờ Nguyệt Lan lấy tiền của chồng nó trả chớ không thì chưa biết ra răng.

Em gái tui thiệt là đẹp, từ hồi nhỏ đã đẹp nhứt trường, nhứt xóm rồi, lại còn ăn nói yểu điệu, ướt rượt. Vậy mà mạ tui hay than là hắn mang số hồng nhan. Ba chị em tui: Nguyệt Hồng, Nguyệt Mai, Nguyệt Lan thì không có ai xấu xí nhưng Lan thì đẹp nhứt, còn khôn ngoan lanh lợi nữa. Nó có cái tướng đi uyển chuyển mà không hiểu sao ba tui không ưa, kêu là con gái mà tướng đi trắc nết lăng loàn, Vậy mà không biết sao ba mạ tui nói chi đúng nớ. Năm mười chín tuổi hắn nghe lời đường mật của thằng cô hồn các đẳng nào mà cuốn gói theo trai. Ba tui giận sinh bệnh, ông từ mặt nó luôn. Kể cũng tội nghiệp hắn nhưng không trách được ba, ông luôn luôn coi trọng đàn bà đoan chính. Ông cũng đã từng bao nhiêu công lao dạy dỗ con cái nên người, anh em tụi tui răm rắp dưới quyền cha mẹ. Vậy mà đúng là cha mẹ sinh con trời sinh tính, Nguyệt Lan từ nhỏ đã lộ ra cái kiếp hồng nhan, con trai xóm này xóm nọ bao quanh hắn không biết mô mà đếm. Hắn cũng gớm lắm, cậy mình xinh đẹp lén lút giao du với đủ hạng người. Hai chị em tui biết hết nhưng không dám để ba mạ hay, biết được chắc ông già cắt gân hắn. Cho tới khi học hết lớp mười hai thì hắn không nói một lời khăn gói trốn luôn một mạch lên Đà Lạt với thằng cha căng chú kiết nào đó đâu ai biết.

Nghe Nguyệt Lan kể chuyện nó với Kim Long cũng lãng mạn lắm, mà sao mạ tui khóc lóc hoài. Má tui nói nó ăn ở đoản hậu mai mốt trời trả quả. Trời chưa trả quả cho nó mà đã trả xuống gia đình tui tứ tung rồi. Có lúc má tui còn nói vợ con người ta báo oán nữa mới ghê. Vậy mà con Lan có sợ đâu, nó còn thách thức coi ai dám làm chi nó, Kim Long cưng nó quá mà. Nghe nó kể hồi xưa Kim Long đi mua gỗ trên Lâm Đồng, gặp nó; lúc đó nó mới bị thằng kia bỏ rơi, đương buồn rầu ảm đạm tính tự tử thì gặp Kim Long. Thấy Kim Long đẹp trai, sang trọng không thua thằng bồ cũ, lại còn tiền bạc rủng rỉnh nên nó nhảy qua liền. Ăn ở với nhau vài lần là Kim Long như mắc bùa mắc ngãi, cương quyết thề bồi với nó về bỏ vợ bỏ con. Vậy mà cũng kéo dài mấy năm sau nó mới về ở nhà này được, lúc đó vợ người ta đã chết rồi, nghe đâu chết vì bị tai nạn xe hơi, mà có xa xôi gì đâu, ngay trước cửa nhà bước ra chớ đâu, nghe nói 2 mẹ con cùng chết một lượt. Thiệt là thê thảm, tui nghe mà rùng mình. Hổng trách mạ tui than trời trách đất, mạ tui là người hiền từ ăn chay niệm Phật mà. Bởi vậy nên mạ tui buồn lắm, mạ chết dần chết mòn vì chuyện nớ.

Khi tui về nhà này thì đã thấy mẹ con chị ba, nghe đâu hai mẹ con họ là bà con với người vợ trước của Kim Long, Họ hàng không còn ai nên Kim Long đón về nuôi nấng. Rứa mà Kim Long đối đãi với họ không tệ. Dượng lo cho hai mẹ con đầy đủ, còn trả thêm tiền lương cho họ nữa. Nguyệt Lan ngứa mắt lắm, hắn ghét hai mẹ con ra mặt mà không làm chi được, vì nghe đâu Kim Long tuyên bố nuôi hai mẹ con họ cho đến khi hắn chết, còn biểu Nguyệt Lan trong nhà này muốn chi cũng chiều nhưng riêng chuyện hai mẹ con chị ba thì không được làm phiền đến họ. Nguyệt Lan đã ghét còn ghét hơn, nhứt là sau cái ngày dượng làm thủ tục nhận con Tâm làm con nuôi, rồi cho nó đi học cùng với Như Oanh - Cầm Minh. Con Lan làm mình làm mẩy với chồng một tuần lễ mà không mần răng thay đổi quyết định của chồng được. Tui cũng khổ theo với nó.

Thiệt ra tại răng hắn ghét mẹ con họ tui cũng đâu biết chi mô. Chắc là tại cái tánh con Lan kênh kiệu khinh người, thấy mẹ con người ta nghèo khổ nên không ưng vậy thôi. Chớ không lẽ mà con Lan ghen với người đã chết. Cô ruột con Tâm là vợ lớn của Kim Long chết nay đã gần hai chục năm rồi. Mà hồi chị ta còn sống con Lan cũng đã ăn ở có con với Kim Long, Hai mẹ con vợ lớn Kim Long chết đi rồi một thời gian sau con Lan mới về nhà này ở. Vậy thì mắc chi mà nó ghen hổng biết. Theo như con Lan kể thì Kim Long giữ nguyên căn lầu ngày xưa vợ ở, không cho thay đổi chút nào, y hệt như hồi chị ta còn sống, hằng ngày mở cửa như có người làm cho con Lan hắn gớm. Một hai hắn đòi Kim Long phá ra làm chỗ đánh bóng bàn mà chồng hắn nhứt quyết không chịu. Hắn tức mình viết đơn ly dị thì Kim Long ký cái rẹt. Thấy không làm chi được nên Nguyệt Lan phải chịu thua, chớ cái tánh con ni dữ dằn lắm, ai ở với hắn cũng có sung sướng chi mô.

Nói rứa thiệt ra cũng tội cho Nguyệt Lan, từ khi tui về đây hắn cũng tốt với mạ con tui lắm. Hắn sắm sửa cho con Như Oanh không thua kém chi với Cầm Minh, cái chi em có là chị có. Có điều khi mô hắn lên cơn là hắn chửi, hắn đay nghiến không thua chi mấy mệ ở Huế. Tội nhứt là con Tâm, vớ được cái chi hắn chửi cái nớ. Không có chi hắn cũng có chuyện nói mỉa nói mai. Con nớ da ngăm ngăm thì hắn nói đen như ông Táo. Tròn trịa đầy đặn thì hắn nói ăn chi cho nhiều rồi béo na béo núng, đi lệt bệt như vịt xiêm. Nói chí tình tui thấy con Tâm vui vẻ ngoan ngoãn tui khen thì hắn nghiến răng nói con nớ vô duyên vô hậu, tướng ăn xin ăn mày. Nhiều khi thấy thương hai mẹ con họ tui ráng an ủi cho họ đỡ buồn. Chi thì cũng phận ăn đậu ở nhờ với nhau. Thiệt may mà Kim Long không có con riêng chớ nếu có tui nói chắc còn khổ hơn tuồng Con Tấm con Cám. Không hiểu sao em tui cái mặt nó đẹp mà lòng dạ khe khắc quá chừng. Nó thấy Kim Long cưng chiều nó chừng nào nó càng khinh người, hợm hĩnh chừng đó. Tui là chị ruột nó, còn có hai chị em với nhau mà cơn hỏa bốc lên nó chửi tui thua chi chửi kẻ ăn người ở. Được là sau đó nó xuống nước chị chị em em, còn Kim Long thì luôn miệng xin lỗi nên tui mới còn sống ở đây tới giờ ni.

Hồi mấy đứa nhỏ thi rớt Đại học là tui biết trước rồi. Con người ta học hành sáng đêm còn chưa ăn ai, mấy đứa này sung sướng quá thi cử gì nỗi. Nói đâu xa như con Tâm học sống chết cũng chỉ đủ điểm Cao đẳng thôi. Học tà tà tối ngày hết đờn tới nấu ăn như hai đứa này thi tới mấy năm mới đậu nổi không biết. Chẳng qua con Nguyệt Lan ưa màu mè vậy thôi chớ ai mà không biết hai đứa nhỏ học được mấy đâu. Ngay cả cho đi học nấu ăn về nhà rồi nấu cái chi mà tụi hắn không kêu con Tâm làm. Tội cho con Tâm hết bà chủ hành tới cô chủ hành, nhiều khi tui phải nhắc nhở con Oanh không được hùa theo Cầm Minh mà ăn hiếp con nhỏ. Nhưng mà tụi nó còn trẻ quá đâu hiểu chi sự đời, ăn hiếp ai được là làm tới, chưa biết nghĩ hậu họa về sau này. Mà tui thì chân cẳng yếu ớt , đi lên đi xuống lầu còn khó, mấy khi mà ở dưới để bênh vực con Tâm.

Rồi bà Tám Diện - bạn cờ bạc với Nguyệt Lan giới thiệu thằng cháu trai thạc sĩ của bà tới dạy học cho hai đứa này. Tui biết ý họ muốn mai mối hai nhà chớ Câu lạc bộ Gia sư thiếu gì mà mắc chi phải đi thuê người này người nọ. Nhưng con Lan muốn kiếm thằng rể cho vừa ý, mà cậu Kiên đẹp trai, học giỏi, đàn hay, cha mẹ dù không giàu nhưng là dân trí thức. Cậu Kiên cũng hơi đứng tuổi một chút nhưng mà đàng hoàng, thân thiện. Con Lan ưng cái bụng lắm, muốn kén rể đông sàng mà ngặt nỗi chưa dò ý được Cầm Minh. Ai dè mới hai tháng sau cậu Kiên dắt theo cậu bạn nữa tới chơi. Cậu này là Việt kiều, nhỏ hơn cậu Kiên mấy tuổi, nghe đâu hai người quen nhau hồi cậu Kiên lãnh học bỗng đi du học bên Úc. Cậu này tên John, còn tên Việt Nam là Đông, theo cậu Kiên qua đây chơi mấy tháng nhân tiện kiếm người nhà luôn. Cậu này còn đẹp hơn cậu Kiên, mà cũng dễ thương lắm, nói tiếng Việt không thua ai.

Con Lan mới đầu ưng cậu Kiên làm rể, lần hồi thấy cậu Đông còn hơn cậu Kiên thì đổi ý biểu tôi chọn cậu Kiên cho Như Oanh, ý là nó muốn gã Cầm Minh cho Đông. Cái con đó nó làm như nó là ông trời, muốn se duyên cho ai cũng được. Ai dè đâu hai đứa nhỏ lại không theo ý người lớn, Như Oanh thì ưa Đông còn Cầm Minh lại thích Kiên. Nguyệt Lan không ưng bụng lắm nhưng cũng ráng chịu chớ biết sao bây giờ.

Tui thì sao cũng được, phận tui bây giờ có ra chi, con Oanh nó ưng chỗ mô thì tui theo đó. Ngặt nỗi biết người ta có ưng con mình không chớ. Chưa biết tới mô thì có chuyện xảy ra.

Số là lần đó hai đứa con gái tự dưng đòi đi câu cá, mà phải câu ở cái thác gì đó trên Đồng Nai mới chịu. Nguyệt Lan biểu Kim Long giao chiếc xe lại cho tụi nhỏ đi, cậu Kiên cầm lái, Đáng lý ra 2 nam 2 nữ đi là được rồi nhưng con Lan còn làm ra kiểu công nương hoàng hậu, bắt con Tâm theo xách cần câu, đồ ăn đi picnic. Ý là nó muốn cho 2 cậu kia biết địa vị thấp hèn của con Tâm mà. Không ngờ con Lan tính già ra non, gậy ông đập lưng ông. Theo như hai đứa nhỏ kể lại thì mới đầu không có gì. Gần tới lúc đi về thì có hai đứa nhỏ sanh đôi của cặp vợ chồng kia cũng đi picnic, không hiểu chơi giỡn cách gì mà cả hai thằng rớt xuống thác, nước cuốn đi. Hai vợ chồng thất thanh la hoảng mà không ai biết bơi, con Tâm thấy vậy nhảy ùm xuống nước cứu tụi nhỏ. Hai cậu Đông, Kiên cũng nhào theo cứu người, trong khi tụi con Như Oanh - Cầm Minh lo run rẩy trên bờ. Ba người vật lộn một lát mới đem được tụi nhỏ vô, lúc đó con Tâm đã mệt lã rồi. Thành ra khi về người được hai cậu trai lo lắng hầu hạ lại là con Tâm. Chuyện tới đây đâu có hết, mấy bữa sau hai vợ chồng nhà đó tới đây cảm tạ, đem theo quá trời quà tặng, họ giàu quá mà. Nguyệt Lan tiếp chuyện họ, nhận hết công lao cho con mình, quà tặng thì đem chia cho 4 đứa chớ không ngó ngàng gì tới con Tâm, tui thấy cũng bất nhẫn, có khác gì chuyện con Tấm con Cám không? Vậy mà cậu Đông, cậu Kiên biết được, từ đó họ quấn quýt với con Tâm, bỏ rơi hai đứa trên này. Vậy phải con Lan tính già ra non không ? Nhà này thiếu gì tiền bạc, thiếu gì quà tặng. Mắc chi mà phải cướp công của con nhỏ chớ ?

Rốt cuộc thì sao? Hai cậu trai quyến luyến con Tâm, còn Cầm Minh với Như Oanh thì tủi buồn. Con tui thì tui thương nhưng tui nói thiệt, so ra con Tâm hiền lành ngoan ngoãn thân thiện, thanh niên thời nay họ thích hơn là mẫu người qúy phái như hai đứa nhà này. Cũng tại con Lan cố tình tạo ra cái kiểu cách thượng lưu cho 2 đứa nhỏ chớ thanh niên bây giờ người ta xông xáo, nhiệt tình lắm.

Cái việc này xảy ra làm cho con Lan đã giận mẹ con họ lại giận hơn nữa. Là cái ngày mà ba cậu Đông bên Úc về, cậu Đông mời mẹ con chị ba đi ăn cơm mà không thèm đoái hoài gì tới gia đình này. Bữa đó tui cũng buồn lắm, con Oanh còn buồn hơn. Nó nói chắc cậu Đông giới thiệu con Tâm với gia đình, tui an ủi nó biết đâu con Tâm thương cậu Kiên thì sao, Thiệt là xấu hổ, hai đứa con gái đẹp như tiên như vậy mà hai thằng khùng kia không thèm quan tâm, xúm nhau tranh giành một con nhỏ xấu xí. Miết rồi không hiểu cái nhà này ra răng nữa. Mà cũng không ai biết con Tâm chọn ai, nghe mấy người làm kể là ai nó cũng nói nó thương hết. Không lẽ con nhỏ này bị dở người, trước đây nó đâu có như ri.

Mười giờ sáng tôi đứng trên lầu thấy hai mẹ con kêu tắc xi đi, chị ba mặc áo dài ngó cũng được lắm. Thấy hai mẹ con đi mà lòng tôi cũng xốn xang, nghĩ thương con cháu mình rồi nghĩ giận dì nó. Bỡi con Nguyệt Lan đối xử với con Tâm quá tệ là làm nên cái chuyện động vô tình cảm của người ta. Thanh niên họ thấy chuyện bất bình ai mà chịu được, tự nhiên họ thấy con Tâm sao mà đáng thương như vậy, bất hạnh như vậy, rồi họ coi mình như phù thủy, như kẻ xấu họ tránh mình tránh luôn con cháu mình. Con Lan tức nói nghe hăng lắm, nào là nhà này thiếu giống gì, nhà này muốn ai làm rể mà hổng được nhưng mà tui nói thiệt tình, kiếm được người đàng hoàng đâu có dễ, biết đâu có thằng nào chỉ rình rập của cải gia đình Kim Long thì sao? Nói là nói vậy chớ tui biết con Lan tiếc hùi hụi, mà đã tiếc thì nó còn ghét mẹ con chị ba hơn nữa.

Tui không phải hay ho gì mà không buồn, không thương con mình, nhưng tui nghĩ cái gì cũng có số hết, nhứt là cái chuyện vợ chồng. Nếu cậu Đông không thương con Oanh nhà tui thì tại là cái số cậu với nó không lấy được nhau. Còn nếu như đã có số lấy nhau rồi thì mười con Tâm cũng không làm gì được. Vậy thì lo lắng, bực tức như con Lan làm gì chớ, đằng nào thì con Tâm cũng chỉ lấy được một người thôi, không lẽ thanh niên khắp thiên hạ này ai cũng chỉ ưa con Tâm thôi sao? Mà không lẽ cả thiên hạ này không có ai thương yêu con gái mình nữa hay sao. Cố tình kiếm chuyện với con Tâm cũng chỉ là tự mình hạ thấp danh phận con mình xuống thôi. Nguyệt Lan sao mà không hiểu giùm cho chớ.

Sau bữa mẹ con chị ba đi gặp gia đình cậu Đông rồi thì lại còn lạ hơn. Tự nhiên cậu Kiên, cậu Đông và con Tâm quấn quýt chung nhau như vợ chồng ông Táo. Đi đâu cũng đi 3 người mà coi bộ ai cũng vui vẻ hết. Tui cũng bó tay không hiểu ra sao. Chỉ biết là con Lan ngày nào cũng kiếm chuyện tru tréo chửi rủa mắng mỏ đay nghiến con Tâm nhiều hơn, mà con này thì giống như con khùng, chửi nó, mắng nó nó nhăn răng ra cười. Con Lan giận xách đồ phang nó thì nó chụp, để hết lên bàn, cười còn dữ nửa chớ. Giống như là bà chủ đương giỡn với nó không bằng. Càng giống như là con Lan đang làm theo ý nó nên nó bằng lòng quá xá.

Gần đây tui thấy con Tâm ngày càng thêm lẳng lơ, đi đâu cũng kè kè lúc thì cậu Kiên lúc lại cậu Đông. Mà còn xài cả điện thoại di động nữa chớ. Tui không biết nó thương ai trong hai người đó, mà sao thấy họ lo lắng quan tâm nó dữ vậy không biết. Còn quần áo thì sắm sửa liên tục, không bù cho trước kia xuề xòa giản dị.

Hôm trước tui nghe nói hai mẹ con nó sắp về quê, dắt theo luôn hai cậu, đừng có nói là nó đem cả 2 người về ra mắt một lượt nghen. Nhưng càng nói thì càng đau lòng, con Như Oanh từ khi thấy cậu Đông quấn quýt con Tâm nó buồn rã rượi. Tui cũng ráng sức yên ủi con mình mà hình như không thấm vào đâu. Không biết Cầm Minh có như vậy không khi nhìn thấy con Tâm quấn quýt với cậu Kiên chớ tui biết con Oanh buồn lắm. Tui cũng mong sao cho cậu Đông tới ngày về Úc cho rồi. Để khỏi thấy cảnh ngứa tai gai mắt nữa, Cũng mong cho con mình quên đi người ta cho nó khỏi buồn rầu. Nói thiệt mối tình đầu bao giờ cũng sâu sắc lắm. Lần khần nói qua nói lại rồi cũng trách Nguyệt Lan. Tại nó ham cái chuyện mai mối làm chi hổng biết cho nên tụi trẻ mới quen nhau. Rồi cũng tại nó mà làm cho hai đứa con gái nhà này tủi thân tủi phận, đến nỗi mà … thôi tui không nói nữa đâu.

Nhà ni cả mấy tháng nay bắt đầu có nhiều chuyện xui rủi xảy ra rồi, không biết cái chi gây nên như rứa. Đầu tiên là thiên hạ xầm xì nhà có ma, có người nói thấy lửa ma trơi lập loè. Rồi tới hôm trước bạn cờ bạc của con Lan chạy tơi bời toé khói, có người té lăn cù lăn chiêng. Vậy nên lúc này không thấy ai tới chơi nữa, con Lan nó buồn dữ lắm, đòi kiếm thầy phù thủy ếm bùa, chưa thấy gì thì tới phiên nó, rồi thêm Cầm Minh nữa chớ.

Tui nói thiệt, cái chuyện ma cỏ thì tui bán tín bán nghi. Nhưng mà nhiều người nói quá, làm cho mình trong dạ bất yên. Lại nữa tui nhớ mạ tui hồi gần chết có trăn trối là dặn con Lan ăn ở cho có đức, chớ mạ con nhà người ta chết oan chết ức linh thiêng lắm chớ không bình thường mô. Rứa mà hắn có nghe lời tui mô. Cái chi hắn cũng ke re cắt rắt, với người ăn kẻ ở trong nhà sai chút mô thì hắn chửi bới đã đành. Với mạ con con Tâm họ sợ hắn như sợ cọp, dám làm chi mô mà hắn cũng không tha. Răng mà vong hồn vợ lớn Kim Long không uất ức?

Đáng như người ta biết điều biết lẽ, ba mươi mùng một ăn chay, đem vàng hương cúng lễ vong linh mẹ con họ thì còn nghe được. Đằng ni hắn nhơn nhơn như cái nhà ni do hắn làm nên. Hắn có coi người khuất mày khuất mặt ra răng. Hắn thiệt là con đàn bà coi trời bằng vung, khinh thường cả người cõi dương lẫn cõi âm. Mần răng vong linh mạ con người ta không tức giận?

Vậy cho nên túi hôm nớ hắn mới thấy, thấy rồi hắn mới kinh hồn bạt vía, thấy rồi hắn mới mê mê sảng sảng lúc nhớ lúc quên, mới thấy oan hồn mạ con người ta hiện lên đòi trả mạng. Lúc còn đương oai danh thanh thế mô biết sợ trời đất chi, lúc gặp chuyện rồi thì gào la khóc lóc. Thiệt tình, chị em không còn ai chớ tui nói thiệt, em gái tui là đứa quá đáng.

Rồi tới phiên con Cầm Minh cũng nghe thấy tiếng ma hú dưới lầu, con Cầm Minh cũng hồn bay phách tán, mấy ngày nay ở biệt trên lầu nỏ dám đi ra. Mần răng mà mẹ con hắn toàn gặp ma chớ. Mẹ con tui cũng ở trong nhà mà có thấy ma cỏ chi mô. Cái này là do tội nghiệt mình làm mình chịu thôi. Biết làm răng ?

*************************

Ở đây có ai sợ ma hông chớ nói thiệt tui thì tui sợ chết mẹ à nghen. Đừng có ngó tui cười dữ vậy, chẳng qua tại mấy người chưa gặp ma mấy người chưa sợ, giống như người ta hay nói: “Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ” đó mà. Còn tui, hổng nói gian tui gặp rồi, gặp thiệt tình, gặp tui mới sợ chớ. Đó, tui biết mà, mấy người sắp nói là tui quê mùa lạc hậu nên mới nói có ma chớ gì. Thử bữa nào gặp rồi coi mấy người có nói hay như vậy không chớ mỗi lần kể lại tui nổi ốc ác luôn , Bao nhiêu năm trời mà tui còn sợ muốn chết luôn đó. Hổng tin hả? Tui kể cho mà nghe.

Hồi năm 75 nhà tui về ở khu nông thôn trên miệt gần Lâm Đồng. Ở đó giải phóng trước Sài Gòn gần hai tháng lận, bom đạn nổ chết thiếu mẹ gì. Lúc đó tui còn nhỏ, mười lăm mười sáu gì thôi. Hồi đó mới sau chiến tranh, tình hình còn chưa yên ổn lắm. Mà tối đó thằng em trai tui mắc chứng gì đi chơi tới khuya chưa về, ba má tui, nội tui ai cũng lo lắm, tại vì hồi đó mấy ông cách mạng khó dữ lắm nghen, lạng quạng là nắm đầu cho đi cải tạo liền đó. Bà nội tui sốt ruột thằng cháu cưng đích tôn mới biểu tui cầm cái đèn dầu đi theo bã kiếm nó. Hồi đó làm gì có điện đóm đâu. Hai bà cháu lon ton đi vòng vòng mà kiếm hổng thấy nó đâu, sao đi tới trước cửa trường tiểu học thì tui thấy. Mà tui mới thấy xớn xác là tui lật đật hỏi liền: Sơn hả - Sơn là tên em tui. Cái miệng mới bật ra là trí khôn tui biết không phải liền. Tại vì sao vậy ? Tại vì ngay lúc đó tui biết đó là con gái, Tại vì tui ngó thấy từ lưng quần trở xuống là cái hông, cặp đùi tròn trịa của phụ nữ trong cái quần tây trắng, tui còn thấy rõ đường may chỗ gần túi quần nữa, nhưng nói chí tình tui chỉ thấy từ khúc hông chớ hổng thấy khúc trên hay bàn chưn đâu. Tay tui lúc đó cầm cái đèn dầu nhỏ ngang bụng mà. Trong trí tui mới thắc mắc tự hỏi con gái nhà ai giờ này còn đi ngoài đường một mình tối om không đèn không đuốc. Tò mò tui mới giơ cái đèn lên cao coi mặt mũi là ai.
Đừng có la tui là mất lịch sự, hồi đó tui còn trẻ mà, với lại tui cũng tò mò thiệt đó. Cha mẹ ơi giơ cái đèn lên hổng thấy cái gì nữa, mà hồi nãy con mắt mình thấy rõ ràng từng đường chỉ trên quần nó. Lúc đó bà nội tui mới hỏi tui:

- Mày nói chuyện với ai đó?

Tui hỏi lại bã:

- Nãy giờ nội có thấy ai hông?

Nội tui lắc đầu:

- Có thấy ai đâu.

Tôi sợ muốn són đái, mà im thinh thít không dám nói câu nào, dắt nội đi về nhà. Tới nhà thì thấy em tôi về rồi, cả đêm đó tôi lạc hồn mất vía, tới sáng bữa sau mới kể cho cả nhà nghe. Về sau hàng xóm mới nói cho biết khúc đường đó hồi lúc giải phóng pháo kích chết la liệt.

Tui kể tới đây là ốc ác tui nổi hết thấy hông, mấy người đừng có giỡn. Tui nói có ma là có mà, ai hổng tin mai mốt thế nào cũng gặp chớ đừng giỡn nghe. Tui thì tui tin đó. Tui thà tin còn hơn. Làm sao hả, thì mình chịu nhận là mình sợ ma chớ sao nữa. Mình nhận rồi ai còn hơi sức đâu đi nhát mình chi. Họ lo đi chọc ghẹo mấy người hổng sợ họ chớ. Nói thiệt đó. Hổng tin tui kể chuyện nữa cho nghe. Cái này hổng phải bị ma nhát đâu.

Hồi năm đó tui mới lấy chồng được vài năm, tức là sau khi tui gặp ma lần đầu cả chục năm. Thiệt ra hồi gặp lần đầu là tui sợ thất sắc rồi. Lúc đó hai vợ chồng tui ẩm con về nhà bà nội nó chơi vài bữa, nhà cha mẹ chồng có cái vườn rộng lắm. Phía sau nhà ông bà nội ở có cái nhà nhỏ của chú thím nó cất hồi trước rồi sau này bỏ đi làm ăn chỗ khác. Chồng tui thấy con còn nhỏ sợ nửa đêm nó khóc ông bà nội già cả ngủ hổng được mới nói thôi để vợ chồng con cái tui tối xuống đó ngủ. Vợ chồng tui ngủ đêm trước hổng có gì, qua đêm sau thằng chả nghe lời bạn bè rủ đi nhậu, bảy tám giờ tối nhắn về nói ở lại nhà bạn tối nay. Hổng lẽ lúc đó mình nói không.

Vậy là tối đó hai mẹ con tui ngủ trong căn nhà phía sau đó mà không có ba nó. Mới đầu tui cũng hơi sợ sợ nhưng rồi nhớ lại hôm qua mình ngủ rồi đâu có sao đâu. Với lại hổng lẽ giờ này tự dưng ôm gối ôm mùng chạy lên nhà trên ngủ với ông bà nội, thôi thì ngủ lại đây cho rồi. Sao mà tối bữa đó gió lay xào xạc cành mít trên nóc nhà dữ vậy không biết, tui mới tính vô mùng ngủ thì đứa cháu chồng chạy vô chơi. Nó thì thào:

- Bác dám ngủ đây một mình hả?

Tui chột dạ làm bộ:

- Ngủ đâu hổng được.

Con nhỏ nhìn quanh quất:

- Có ma đó. Cây mít sau hè có ma. Bác hổng thấy vợ chồng chú Tám hổng dám ở sao.

Tui làm cứng:

- Ma cỏ gì mày, lên nhà trên cho tao đi ngủ.

Con nhỏ rón rén đi, trước khi đi còn ghé lại nói thêm:

- Đó, nhà kế bên ngày nào cũng cúng đó. Hồi chiều bà nội mình cũng cúng đó.

Đợi nó đi rồi tui mới hé hé cái cửa sổ nhìn về phía gốc mít, đúng là hồi nãy tui có thấy mấy người đi ra gốc mít mà hổng để ý. Cây mít này nó nằm giữa phần đất của nhà chồng tui với nhà hàng xóm, cành lá chỉa qua cả hai bên. Bây giờ con nhỏ nói rồi tui mới để ý thấy mấy tàn nhang cháy chưa hết còn lập loè trong đêm tối.

Ruột gan tui lộn xộn, nửa muốn chạy lên đập cửa nhà trên nửa sợ người ta cười. Ngoài trời gió hổng biết có nhiều hông mà cành cây quẹt xào xạt trên nóc. Tui ráng hết sức giữ bình tĩnh, tui mở đèn lớn lên kiếm cái gì đó tự trấn tỉnh mình. Không biết sao tui lục được một tờ báo cũ , tui nói thôi đọc hết tờ báo cho buồn ngủ híp mắt rồi đi ngủ luôn khỏi sợ. Ai dè mở ra quanh đi quẩn lại sao lại thấy nói toàn chuyện ma mới gớm chớ. Bà cố nội quân nào dám đọc. Tui tắt đèn chui vô mùng ngủ, mà sao tiếng lẹt xẹt trên đầu liên hồi không dứt. Tui sợ quá ngồi dậy khấn rằng:

- Tui xin mấy ông ma bà ma, tui nói thiệt tui sợ lắm, mấy ông mấy bà mà nhát một cái tui chết liền, chết thiệt. Làm ơn tha cho tui, tui sợ mấy ông mấy bà thiệt mà.

Tui khấn xong nằm xuống, tự nhiên sao mà từ đó cành cây trên đầu không còn lẹt xẹt nữa, không biết do trời ngừng gió hay mấy ông ma bà ma nghe tui khấn thấy thương quá không hăm he nữa.

Sáng bữa sau tui kiếm cách hỏi dò thì người ta kể cho tui biết hồi trước có người treo cổ trên cây mít mà ở phía bên nhà hàng xóm. Lạy trời. tui mà biết trước thì cho vàng tui cũng hổng dám ngủ đêm đó.

Đó, đó là tui nói cái ý của tui vậy, ai không tin thì thôi chớ nhứt định là tui tin có ma. Bỡi vậy tui nói thiệt, may mà ông chủ không biểu tui dọn dẹp phòng bà lớn chớ bắt tui dọn chắc trả bao nhiêu tiền tui cũng không dám. Ai đời bà chết cả mười mấy năm rồi mà ông để y nguyên cái phòng như bà còn sống, còn quét tước dọn dẹp, thay drap như bà ngũ mỗi ngày, thấy phát sợ , Như vậy làm sao mà hổng linh cho được, bà có cần đi đâu nữa đâu, nhà bà bà ở thôi. Cho nên nếu bà về cũng là phải thôi mà. Mà cái này tui nghe lén thôi nghe, chớ tui về đây lúc đó bà hai về rồi, bà hai cho mấy người làm cũ nghỉ hết rồi mới thuê đám người mới tụi tui. Tui nghe mấy tiệm chạp phô đầu đường kể bà lớn hồi đó giỏi giang lắm, mà sao chết tức tưởi một lần hai mẹ con ngay trước cửa nhà trong đêm ba mươi - hổng phải ba mươi tết đâu – nhưng mà chết đêm ba mươi tối đen biết đường đâu mà đi chỗ khác - người ta nói vậy đó.

Hổng biết ông chủ nhà này sao mà thương vợ dữ vậy không biết. Vợ nào coi bộ ổng cũng thương quá trời, vợ lớn chết bao nhiêu năm mà cũng vọng trọng như người còn sống, lo lắng cho chị vợ, cháu vợ tươm tất. Vợ sau thì cưng chiều như trứng mỏng, tối ngày bà chủ ở không son phấn đánh bài chớ có làm gì động móng tay đâu. Nói thiệt sao trời cho nhiều người sung sướng dữ vậy hổng biết, đâu phải ai cũng được như bã đâu. Vậy mà người sao khó tánh khó nết quá chừng hổng biết.

Đừng có la tui nói xấu chủ nhà nghen, thiệt tình là có mới nói chớ không có đâu mà nói. Bả giàu có thiệt tình, ăn bận sang trọng, hễ ông chủ đi vắng là tập hợp bạn bè đánh bài đánh bạc, còn ông chủ ở nhà thì dắt nhau đi chơi bời chỗ nọ chỗ kia. Vậy mà chớ hề bao giờ biết cầm cho kẻ ăn người ở trong nhà đồng bạc lì xì ngày tết, đừng nói chi chuyện khác. Đã vậy có chuyện gì không bằng lòng là riết róng cả buổi chưa thôi. Nói thiệt tình nếu hổng phải ông chủ là người hào phóng rộng rãi, biết nghĩ tới người hầu chắc hổng ai muốn làm cho cái nhà này. Đâu phải mình tui nói, hổng tin hỏi mấy người khác coi có ai nói hổng giống tui không. Tui nhớ có lần tui ủi cháy cái áo của bã mà bã chửi suốt một ngày đêm, còn đòi trừ tiền công nữa chớ, may mà ông chủ hổng cho, dắt bã đi siêu thị mua bộ khác chớ tui lấy đâu ra tiền mà trả cho bã. Chị gái bã – bà Nguyệt Mai cũng nói cái áo đó có đáng gì đâu, chẳng qua là cái tật bà chủ ưa chửi rủa người khác cho sướng miệng vậy mà.

Nói thiệt lòng tụi tui dù có hay bị chửi cũng không nhiều lắm, tại gì có làm chút đỉnh lỗi làm gì bã cũng mới có cớ chửi thôi. Tội là tội cho mẹ con chị ba - nhứt là con Tâm, tối ngày bị bà chủ chửi lên chửi xuống, sai cũng chửi không sai cũng chửi, giống như bã hổng chửi nó được bã ăn cơm hổng ngon vậy á. Tới nỗi nếu không còn chuyện gì chửi thì bã chì chiết con nhỏ xấu nết xấu người, bã trù bã rủa cho nó chết đầu đường xó chợ, sét đánh, trôi sông. Miết rồi anh Tám lái xe anh nói bà này bị ngộ chửi. Ý nghĩa là nếu ngày nào không có ai cho bã chửi thì bã bị bệnh, bã ghiền chửi rồi, ghiền như người ta ghiền rượu ghiền thuốc lá vậy đó. Vậy mới là độc, rốt cuộc một mình con Tâm lãnh đủ.

Ác ôn là bã chửi con Tâm nhiều chừng nào thì ông chủ càng lo cho nó nhiều chừng đó. Cũng phải thôi, nghe đâu hàng xóm kể lại hồi trước ba con Tâm làm tài xế cho ông chủ, vì cứu ông chủ thoát tay bọn cướp mà bị đâm chết, bỏ vợ goá con côi lại. Vậy là phải rồi, bà Phước Lợi bán tạp hóa đầu xóm còn nói ông chủ có mua nhà lầu 7 tầng cho 2 mẹ con người ta ở cũng chưa đền đủ cái mạng của ba con Tâm nữa. Huống hồ gì của cải nhà này cũng bắt đầu từ do cô con Tâm mà ra, ông Kim Long mới phát triển lên lần lần. Đó là mấy người hàng xóm lâu năm ở đây họ nói vậy chớ kẻ ăn người ở trong nhà này như tụi tui đâu biết mốc xì gì. Tới đây làm thì đâu đó yên ổn hết rồi mà.

 Nhưng nếu đúng như vậy thì thiệt tình bà chủ hổng biết điều, bã thọ hưởng của cải người ta mà bã còn đối xử bất nhân với con cháu người ta. Nói cho cùng hai mẹ con chị ba ăn được bao nhiêu, cùng lắm bằng hai con bẹc rê nhà này chớ mấy. Mà nhà cửa thì thênh thang, lẽ ra phải ở trong nhà như mẹ con bà Mai mới phải, đằng này họ cũng giống như tụi tui, ở trong căn phòng tạm bợ. Chị ba cũng phải quét dọn sân vườn, nhà từ đường; con Tâm phải dọn dẹp lau chùi phòng bà lớn. Có ai ăn không đồng nào đâu mà bà chủ làm giống như tội nợ oan gia hổng bằng. Bởi vậy ông bà mình nói hổng sai “Nhà giàu tham việc” Ý bà chủ muốn mẹ con người ta phải làm chảy mồ hôi sôi nước mắt bã mới vừa lòng vừa dạ. Chớ còn thấy người ta chưa như vậy bã còn ấm ức lắm. Sao mà bã không nghĩ tới cả ngày bã có làm gì động móng tay đâu nà. Mà bã ăn trên ngồi trốc, hưởng lộc của chồng, mà lộc đó bắt nguồn từ đâu, từ gốc nguồn nhà con Tâm chớ đâu?

Cũng may là nhà này hổng ai giống bã, ông chủ thì đối xử tốt quá trời, lương trả gấp rưởi chỗ khác, nói năng thì đàng hoàng lịch sự, nói với người làm mà như nói với anh em trong nhà, bỡi vậy ai cũng thương ổng, thương ổng mà bỏ qua cái miệng lưỡi chanh chua, bỏ qua cái tánh nết đành hanh của vợ ổng. Chớ đất Sài Gòn này thiếu gì chỗ làm, ổng mà giống như bã nói thiệt tụi tui bỏ đi cái rột. Hổng làm cho chủ này thì làm cho chủ khác, ai cần ai ?

Thêm được bà Nguyệt Mai cũng dễ mến lắm, chắc tại cũng là phận ăn đậu ở nhờ. Nhưng nói gì thì nói, cũng có người người ta cậy chị cậy em khinh rẻ người làm. Bà này hổng có như vậy, bã đỡ được cái gì cho ai là bã đỡ liền, nên tụi tui cũng thương bã lắm. Nói thiệt chị em mà sao khác tánh nhau một trời một vực hổng biết. Còn hai đứa con gái cũng không đến nỗi nào quá đáng, Cầm Minh có khi cũng ỏng ẹo, cũng kiêu căng. Nhưng mà nói sao được, họ giàu trong trứng giàu ra, đâu có biết gì mấy cái chuyện đời như mình đâu. Mà cũng là con nít mà, chấp làm chi cho mệt.

Thương là thương con Tâm, hết bị mẹ chửi tới bị con ăn hiếp. Có cái giống gì mà tụi nó không sai con Tâm đâu trời. Mỗi lần bà chủ bày đặt đòi nấu món ăn Huế là tụi tui sướng lắm. Bã nói:

- Mấy người có biết chi cái cách tao nhã của người Huế mô. Người ta ăn món chi cũng thanh cảnh, cũng nhẹ nhàng. Mô có phàm tục như người trong ni.

Phàm tục như tụi tui mà tháng 30 ngày bã phàm tục tới 25 bữa. Thôi lâu lâu cho bã thanh cảnh tao nhã một bữa để tụi tui sướng cho rồi.

Vậy là đồ ăn Huế được bày ra nấu nướng, đi học đàng hoàng đó nghe, chớ không phải tay ngang đâu. Nhưng mà người đi học đâu có thèm làm, chỉ tay năm ngón thôi. Tụi tui cũng kiếm đường né hết, tội gì mà xông vô, làm đã mệt mà lỡ có chê thì mình hứng à. Khổ thân con Tâm lãnh trọn từ đầu tới cuối, bữa nào cũng vậy, xong mâm cơm Huế là tui thấy con nhỏ khỏi ăn được miếng nào. Tại vì Cầm Minh với Như Oanh đứng chỉ đạo không mà, một mình con Tâm thực hành muốn sụm bà chè luôn, còn sức đâu mà ăn nữa.

Vậy mà hễ có ai khen thì là:

- Con cháu nhà ni đứa mô cũng giỏi nữ công gia chánh như rứa, có cái chi mà bọn hắn không làm được. từ món mặn, món ngọt tới món chay. Cầm kỳ thi họa nhà ni đứa mô cũng giỏi.

Lạy ông Trời tui có nói gian cho tui chết liền, hai đứa nó biết nấu trong sách vở chớ mà đứa nào thò tay vô nhào bột, bắt bánh tui chết ngay. Kiểu đó gạt được thiên hạ chớ về mà gặp mẹ chồng Huế thứ thiệt thì coi như phát hiện hàng giả lập tức.

Cái hồi cậu Kiên mới tới đây cũng vậy, cậu này nghe nói học hành giỏi lắm, cũng thuộc dạng cầm kỳ thi hoạ gì đó như bà chủ ca ngợi, mà gia đình thì thuộc dạng có ăn có học, bà chủ vừa lòng lắm, coi như rể qúy của mình, rồi lại thêm cái cậu gì Việt kiều cũng tới. Chua choa cái cậu này Việt kiều mà hổng như người khác, nói tiếng Việt ngon lành luôn, còn biết nói giống giọng dân miền Tây nữa chớ, cậu nói cậu “Về Việt Nam có mình ên” làm cho ông chủ ngã ngữa. Đúng là ngôn ngữ miệt vườn mình mà, dân Sài Gòn có đâu mà nói.

Vậy cho nên ông chủ cưng cậu Đông lắm, ông nói gia đình cậu Đông biết dạy dỗ con, ra nước ngoài mà không để mất gốc, chớ hổng phải như nhiều người khác con cái hổng biết nói một câu tiếng Việt nào. Coi bộ ổng cưng cậu Đông còn hơn cậu Kiên nữa. Mà cũng phải thôi, cậu Đông vừa trẻ hơn, vừa giàu hơn lại ở nước ngoài mà, tính điểm thì ăn trọn cậu Kiên rồi. Vậy mà con Tâm lại khen cậu Kiên mới ác. Nó nói cậu Kiên chỉ có lớn tuổi hơn cậu Đông thôi chớ hổng có cái gì thua cậu Đông hết. Nó nói cậu Đông giỏi là vì cậu có điều kiện tốt ở nước ngoài. Còn cậu Kiên ở trong nước mà đâu thua cậu Đông thì cậu Kiên phải giỏi hơn là cái chắc. Tui thì hổng biết họ giỏi cái gì, chắc là con Tâm muốn nói cái vấn đề học giỏi. Con nhỏ này nó thiệt thà, nó nói giỏi thì chắc là giỏi thiệt. Mà ối thôi, ai giỏi thì kệ họ, ăn thua gì tới tui.

Hồi về sau này con Tâm lạ lắm, hai cậu cậu nào cũng thường xuyên lui tới thăm viếng con Tâm, hình như hổng ai ngó ngàng tới hai cô chủ đẹp như tiên sa trên lầu hết. Đi đâu cũng chở con Tâm đi, tới nhà này thì lẩn quẩn ở chỗ mẹ con chị ba. Cậu Kiên còn lên lầu dạy học cho 2 cô chủ chớ cậu Đông có đâu, vô một cái là thẳng tuột tới chỗ của chị ba, hoặc là xuống bếp nói chuyện với tụi tui, giống như là học thêm tiếng Việt đó mà. Tụi tui cũng mến mấy cậu này lắm, nếu mà hai cậu này ưng hai cô chủ thì tụi tui cũng không đến nỗi khó sống lắm đâu. Nhưng hình như hổng có cậu nào quan tâm điều này, một hai chỉ biết có con Tâm thôi, cả hai cùng như vậy mới ác nhơn. Mà con Tâm cũng độc, nhiều khi tui hỏi nó:

- Vậy chớ mày thích cậu nào?

Nó cười ngỏn nghẻn:

- Có thích ai đâu nà.

Tui hỏi:

- Hai người ai cũng lui tới với mày, rồi mày làm sao?

Nó tỉnh bơ:

- Có sao đâu.

Tui bực quá nói luôn:

- Hổng lẽ mày bắt cá hai tay, mà hai người là bạn nhau nữa chớ. Rồi họ ngó nhau sao được?

Nó cười hí hí:

- Miễn họ ngó được thì thôi, thím lo làm chi.

Thiệt tình là không hiểu nỗi tụi nhỏ bây giờ à. Tui mà như nó thì tui chọn một người rồi, có đâu mà lây lất trầy trật như vậy chớ.

Rồi có một bữa tui thấy chị ba lạ lắm, chị cười cười nói nói suốt ngày, chắc là từ nào tới giờ chưa khi nào chỉ vui như vậy. Chỉ kể cho tui nghe bữa nay chỉ gặp được người bà con nhà chồng chỉ, tức là bên nhà ba con Tâm đó. Chỉ nói lộn xộn đầu đuôi tui hổng hiểu nỗi cái gì, mà đại ý là vô tình họ gặp nhau trong bữa tiệc. Người bà con đó hoá ra là ông Việt kiều nào đó về thăm quê nhà, mà hình như cái ông này cũng ba lơn, về quê mà hổng biết quê mình ở đâu, kiểu như mò kim đáy biển vậy mà. Hổng biết đầu óc có vấn đề gì không chớ hổng lẻ đi hồi mới lẩm chẩm hay sao mà quên mất bổn xứ. Mà điều tui thấy chỉ vui quá tui hổng có hỏi nhiều về chuyện này, tui chỉ hỏi là bây giờ ổng ở đâu, có cho chị ba tiền hông. Thì chị ba nói ổng ở trong khách sạn, mai mốt chị ba dắt ổng về quê gặp bà con anh em. Còn tiền thì bây giờ ổng chưa có cho, mà ổng nói yên chí đi từ nay chị ba khỏi lo gì nữa. Coi bộ thằng cha này cũng hổng có giàu lung đâu, nếu giàu là đã cho một mớ rồi. Cái kiểu hứa mập mờ như vậy ai mà tin được. Nhưng mà chị ba chỉ nói quan trọng là kiếm được người, còn từ hồi nảo hồi nào tới giờ mẹ con chỉ tay làm hàm nhai, được ông Kim Long giúp đỡ có thiếu thốn gì đâu. Có Việt kiều hay không có Việt kiều điều đó cũng không quan trọng với mẹ con chỉ. Mừng là mừng từ nay con Tâm biết giòng biết họ bên nội, không còn cái kiểu chỉ nghe nói mà hổng biết mặt mày gì.

Tui thấy chỉ nói vậy cũng đúng, mình nghèo mà, Việt kiều có cho thêm thì cũng chỉ thêm chút đỉnh thôi. Đâu phải mình biết đầu tư buôn bán lớn gì đâu mà bỏ tiền núi cho mình giữ, tiền họ có họ cũng phải làm trào máu mới có, ngu sao cho mình để mình xài hoang phí, làm giống họ hổng biết cho con cái họ vậy. Thôi thì bà con anh em lâu năm gặp được nhau là mừng rồi. Tiền bạc có nghĩa lý gì đâu. Phải vậy hông ?

Nhưng tui chắc chắn là sau này con Tâm sẽ được đổi đời. Bao nhiêu năm nay tui biết trong bụng nó chỉ mong ra trường kiếm được tiền nuôi mẹ là nó sẽ bỏ chỗ này liền. Phải quá mà, ở đây ngày nào con nhỏ cũng bị chửi rủa đay nghiến, sức người ta chớ cây gỗ gì đâu mà chịu từ năm này qua năm khác. Bao nhiêu năm nay chịu đựng như vậy là quá giỏi rồi. Tui cũng mong cho nó sau này kiếm được việc làm yên ổn, có được tấm chồng hiền lành cho đỡ khổ, đừng có như chị ba goá bụa sớm quá chừng. Khổ thân lúc trái gió trở trời dữ lắm.

Nãy giờ tui kể lung tung nhiều quá, cái mà mấy người hỏi tui thì tui lại bỏ quên. Ý là mấy người hỏi tui nhà này có ma không chớ gì . Nói thiệt tình là tui thấy ma ở đâu chớ chưa thấy ở đây. Có hay không tui cũng không dám nói chắc. Nhưng mà mỗi lần đi qua cầu thang ngang lầu một là tui thấy rợn người liền, ban ngày cũng vậy nữa chớ đừng kể ban đêm. Ban đêm mà hễ bữa nào bạn bè bà chủ tới đánh bài, ăn uống xong kêu tui lên dọn dẹp là tui te te đi một nước ngang qua đó không dám ngó ngiêng ngó ngửa, nhứt là buổi chiều nào mà có ai đó đốt nhang trầm trong phòng, cái mùi nhang nó lẩn quẩn trong nhà, u u ám ám thiệt là lạnh lùng sương khói, hổng nói gian đi ngang thiệt là ớn lạnh.

 Mà làm sao hổng có ma được. Bà lớn đâu cần phải đi đâu, tui nói rồi nhà bả bả ở mà. Huống chi ông chủ để nguyên một từng lầu y hệt như hồi bã còn sống cho bã nhớ đường quay về thì làm sao mà bả hổng về chớ. Mấy người đừng có hồ nghi, đừng có đòi phải thấy tận mắt nọ kia. Hồn ma chớ bộ người thiệt đâu mà đòi thấy rõ ràng, thấy rõ ràng ai kêu hồn ma làm chi, kêu mẹ người ta cho rồi.

Cho nên tui nói tui tin có ma là vậy đó. thường ngày tui dọn dẹp đi ngang qua đó là thấy lạnh sống lưng, hổng có người cõi âm làm sao mà phải bị vậy? Còn nửa đêm hả, xin lỗi đi. Cái chuyện đó là thường xuyên. Mấy ngày ông chủ đi khỏi bà chủ tụ tập lại bài bạc dương khí nhiều quá nên người ta lên hổng được chớ mấy ngày khác coi. Tui nói gian cho tui chết, cái chuyện đốm lửa lập loè ở tầng một tui thấy thường xuyên. Lần nào tui thấy cũng van vái:

- Con lạy bà lớn, con ở trong nhà bà, hổng dám làm gì xúc phạm tới bà. Oan có đầu nợ có chủ, bà có báo oán ai thì bà báo, bà làm ơn tha giùm con.

Trời ơi. Mấy người hổng biết đâu, cái đốm lửa đó di chuyển vòng vòng, ở phòng tui nhìn lên thấy hết, cửa sổ bằng kiếng mà. Có lúc nó lại bùng lên thiệt lớn nữa đó. Tui đâu có dám nói nhiều, Bữa sau chỉ có lặng lẻ mua trái cây qua nhà từ đường thắp hương lên bàn thờ bà lớn thôi.

Tui chắc hổng phải một mình tui thấy đâu, kẻ ăn người ở trong nhà này ai cũng thấy hết, bằng chứng là có ai không lên bàn thờ bà lớn mà nhang đèn đâu. Chú Tư tài xế còn bợm hơn. mỗi lần sắp sửa đưa ông chủ đi cũng lên bàn thờ bà lớn thắp nhang, mỗi lần về tới nhà là đem heo quay, vịt lạp lên cúng. Mình ở làm cho nhà người ta mà. Có điều không ai kể cho ai nghe điều gì hết, coi như bổn phận thắp hương cho chủ nhà.

Cho nên tui nghe kể bà lớn về là tui tin liền, hổng phải như người khác nửa tin nửa ngờ đâu. Chẳng qua ai thấy nhiều tin nhiều, thấy ít tin ít thôi. Còn ai mà sợ nhưng cố làm bộ nói hổng tin thì bà lớn cho thấy một lần để chừa khỏi ba đía nữa chớ sao. Người ăn kẻ ở trong nhà này hỏi thử coi có ai dám nói không tin hông? Chỉ có mấy người bạn cờ bạc của bà chủ, trong bụng có tin hay không hổng biết mà làm bộ nói cứng. Vậy mới có người nhìn thấy bà hiện về phiêu phiêu phưởng phưởng. Vậy nên cả lũ mới chạy té đái trong quần bữa hôm đó. Chớ như mấy người làm trong nhà này bà lớn đâu có nhát ai đâu. Tui đây thường xuyên đi dọn dẹp canh ba gà gáy mà bà lớn cũng có dọa dẫm gì tui đâu chớ.

*********

Anh ở mô tới mà dám hỏi tui rứa? anh có biết tui là chi trong cái nhà ni không? Trong nhà ni tui muốn chi là làm đó, cần phải hỏi ai chớ?

Cái con Tâm thiệt là đáng ghét nhứt đó nghen. Tui nói rồi anh để ý mà coi. Trong nhà ni thiệt không hiểu giống chi mà chồng tui để lộn một loại quái vật vô nì. Nó xấu ôi chao ơi là xấu, giống thằng cha con mẹ mô không biết. Cái trán thì như trán Lê Nin, Hai con mắt thì trao tráo như ốc bươu ốc lác. Còn khi mô cũng toét miệng cười ra như con dại. Con gái người ta làm chi cũng khẽ khàng duyên dáng, hắn thì cả đời bói không ra nỗi một chút duyên. Tui nói đừng có cười, hơi sức đâu tui nói xấu hắn, cái mặt hắn nói thiệt, còn tệ hơn cái thảm chùi chưn.

Mà cái nhà này cũng lạ. nợ nần chi mô mà cung phụng mẹ con hắn như bà hoàng bà chúa. Tui hỏi chứ một ngày ba bữa cơm, mà có làm chi. Mẹ thì lau dọn nhà từ đường, quét sân quét lá. mà cái nhà từ đường thì có phải cung điện nguy nga chi mô, nó nhỏ xíu bằng cái trứng vịt, để được có hơn ba chục bát nhang chớ có bây nhiêu đâu. Ở Huế tui tề, nhà từ đường mô cũng thờ cả trăm người, vậy mới xứng với cái công lau chùi mỗi ngày, chớ đâu kỳ lạ như trong ni, có chút xíu mà cũng tốn hao công lau chùi dọn dẹp. Mà ông Kim Long tui cũng lạ, làm bao nhiêu nớ ăn ba bữa cơm hai mẹ con là quá lời rồi. Vậy mà tháng mô cũng trả tiền công. Ít ỏi chi chớ?

Đã rứa lão ni còn bày đặt cho con Tâm lên nhà trên dọn dẹp cái lầu một. Tui ghét cay ghét đắng cái mặt con nớ, mà mỗi ngày ra vô phải gặp hắn, lên xuống cầu thang cũng gặp, tức như gặp hà bá thiên lôi.

Mà hắn làm cái chi, cái lầu nớ có ai ở mô, rác rến chi mà dọn dẹp. Túi ngày hắn ăn chơi không chớ có chi mà làm. Mấy căn phòng nớ mỗi ngày được mấy trăm gờ ram bụi mà Kim Long trả hắn chẳn một suất lương. Thiệt là chủ nhà bắt thang cho con ở leo mà. Cho nên hắn có sợ tui lúc mô. Tui chửi hắn mới đầu hắn còn xụ cái mặt xuống đi chỗ khác, lần hồi hắn thấy tui hiền quá hắn nhăn răng cười. Tui giận quá lấy món chi phang hắn thì hắn chụp, hết cái nì tới cái nớ cho tới khi tui mệt đừ. hắn muốn giết tui chết đó.

Mà dễ gì ai giết được tui, tui là chủ cái nhà ni, tui muốn ở mô tròn thì chỗ nớ phải tròn, ở mô méo thì chỗ nớ phải méo chớ ai dám cải tui. Chị gái tui còn chưa dám cải lại tui nữa chớ đừng nói anh.

Mà không ai kỳ lạ như Kim Long nhà tui, đối xử chi với mạ con họ hết lòng như rứa. Mấy năm trước thằng cha còn cho con Tâm đi học trường đầm nữa chớ. Trời ơi tướng con nớ mà cũng đưa vô cái chỗ sang trọng như ri, học chung trường với hai đứa con cháu tui. Thiệt là tệ hại, đi chung với con cháu tui hắn như con gà trụi lông đứng chung với thiên nga, chim hạc. Sao mà cái giống nớ không biết thân phận mình? Người ta có nói thì mình cũng đừng đi mới phải chớ. Có đâu cũng bày đặt leo lên xe hơi cho tài xế chở tới trường, có đâu cũng bày đặt yểu điệu ôm cặp đi vô lớp. Cái thứ hắn mà học được cái chi? Ngu độn trên trời dưới đất đều biết. Học trường mô mà chẳng dốt nát như nhau? Giòng họ hắn đều như rứa mà. Mồ mã nhà hắn táng nhằm chỗ chi mà lụn bại cả họ cả hàng cả giòng cả giống chết non chết yểu không còn ai nối dõi tông đường không biết.

Tui nói rứa đừng có tui ác khẩu, chớ thiệt ra nhiều người khẩu Phật tâm xà, tui tuy nói rứa thôi chớ có chi hung ác mô. Mà sao nhiều người mắc lừa con Tâm dữ rứa hỉ? Ai tới nhà cũng khen hắn ngoan ngoãn, vui vẻ, thiệt thà. Ngoan ngoãn chi? Thứ hắn ngu dốt rứa thôi. Vui vẻ chi, lúc mô chẳng toe toét cười như người dại. Thiệt thà chi? Đần độn như mấy đứa bị chất độc da cam. Có chi mô mà ai cũng khen tui không hiểu nỗi. Hắn là thứ chồn đội lốt thỏ, thứ bạch cốt tinh trá hình, thứ hồ ly tinh chuyên cám dỗ thanh niên chứ hiền lành chi?

Mà kỳ lạ cho hai cái thằng thanh niên ngu dốt tới nhà ni chơi. Hồi mới đầu mệ Tám làm mai cho thằng Kiên tới nhà dạy học thêm cho hai đứa. Mệ nói thằng Kiên học giỏi, gia thế đàng hoàng, còn biết đàn biết hát. Mà tui cũng ưng cái thằng ni chớ, hắn đẹp trai, đứng đắn mà cũng có tiền, ba mạ hắn nghe nói hồi chưa về hưu làm cái chi trong ngành giáo dục. Cũng là người có danh phận mà. Tui muốn cho con Cầm Minh nó yên nơi yên chỗ, mà phải là môn đăng hộ đối tui mới vừa cái bụng, Rồi thì thằng Kiên có thằng bạn Việt kiều, nghe nói quen nhau hồi thằng Kiên lãnh học bổng đi du học qua Úc. Thằng Kiên dắt thằng nớ tới nhà này chơi, tui mới thấy thằng này ngon lành hơn thằng Kiên, mới biểu con Cầm Minh coi ưng thằng Đông Việt kiều đi. Ai dè con Minh ngu khờ đi ưa thằng Kiên, còn con Oanh thì chụp vô thằng Đông liền. Tui cũng khó chịu nhưng đằng mô cũng là cháu mình mà, biết làm răng đây, chứ nói thiệt tui ưa thằng rể Việt kiều hơn. Ai hổng vậy phải không? Việt kiều thì dư giả hơn, còn có suất theo chồng đi Úc nữa chớ. Thiệt là con cái ngu dại không biết đường mô mà nói nữa. Bực cái mình.

Vậy mà rốt cuộc con hồ ly tinh nớ không hiểu dùng mưu kế chi, bùa ngãi chi mà rù quến cả hai thằng đàn ông ngu dốt. Từ cái ngày bốn đứa đi câu cá tới chừ là hai đứa nớ đeo dính con yêu tinh. Giống như trên đời ni chỉ có con hồ ly nớ chớ tiên nga mỹ nữ trốn mất biệt rồi. Làm răng mà bọn hắn lại không hiểu giòng giống nhà tui là giống loan giống phụng, loan phụng không yêu mà yêu chi cái loài gà loài vịt, loài thần nanh mỏ đỏ, loại quạ ó đen lông. Răng mà ngu dốt chi dữ vậy trời.

Tui nói thiệt nghen. Hai đứa nhỏ nhà ni hiền lành mới rầu rỉ thất tình chớ phải tay tui thì hai thằng ngu nớ chỉ có nước qùy lạy thôi. Hồi tui còn trẻ thanh niên đứng xếp hàng ngoài cổng nhà đến nổi ba tui ổng đánh tui bầm mình bầm mẩy, Bây chừ tui cũng còn hơn con hồ ly đó nữa chớ đừng nói chi hai mươi năm trước. Hai mươi năm trước tui đẹp nhứt khu Vĩ Dạ - Ngự Bình. Đi học khi mô cũng có quân nớ theo hầu hạ, Chỉ cần tui cười với thằng ni là thằng nớ mất ăn mất ngủ, tự động để cho tui sai khiến chi cũng được. Mạ tui bả nói tui hồng nhan bạc phận mà tui thấy tui có bạc phận chi mô. Hết người này thương mình thì tới phiên người khác. Có chi mà bạc phận chớ.

Từ khi tui ưng anh Long là tui xui xẻo lắm rồi nớ. Nếu hổng phải tui có con Cầm Minh rồi thì Kim Long cũng chưa chắc giữ nổi tui mô. Cũng may là anh Long biết chiều chuộng tui, lo lắng cho tui đầy đủ, cái gì cũng nghe lời tui nên tui mới ở với anh mười mấy năm nay . Chớ bạn cờ bạc của tui thiếu chi, làm quan cũng có, tài phiệt cũng có, đâu phải mấy thằng cha nớ không chết thèm tui. Nhưng tui thấy Kim Long thiệt tình với tui nhứt nên tui không nỡ bỏ ảnh đó chớ.

Nói cái chuyện nghe lời tui là tui bực mình ghê lắm nớ. Cái chi cũng nghe lời mà sao đụng tới mẹ con con hồ ly tinh thì bênh chầm chập. Con ni may mà nó còn nhỏ chớ nếu nó mà lớn thêm chút nữa chắc nó hút hồn luôn Kim Long quá. Lo cho mạ con nó ăn ngon, ở tốt chưa đủ, còn trả lương cho mạ con nó sắm vàng, rồi còn làm giấy tờ nhận con hồ ly đó làm con nuôi nữa. Trời ơi. Tui biết tui gây một trận trời long đất lở mà Kim Long tui bị bùa mê thuốc lú của con yêu tinh đó rồi nên khăng khăng làm theo ý ổng, không thèm đoái hoài gì tới lời nói của tui. Thiệt là trời đất ngó xuống mà coi, có bà con ân nghĩa chi mô mà phải làm như rứa. Ổng nói hồi xưa ba con Tâm vì ổng mà chết nên chừ ổng phải báo đáp lại cho con yêu tinh nớ. Nói rứa mà cũng nói được, chết là do số chớ, nếu chưa tới số chết thì răng mà chết được. Biết bao nhiêu người bị trúng đạn cùng mình có chết chóc chi mô. Tới giờ chả phải chết thì chả mới đưa lưng ra chịu đâm chịu chém chớ, tốt lành chi mô mà phải mang ơn. Tui nói rứa mà Kim Long mắng tui độc ác, mắng tui vô ơn bạc nghĩa, Suốt bao nhiêu năm trời có khi mô anh Long đối xử với tui như rứa mô? Chỉ vì con yêu tinh đó hốt hồn nên Kim Long mới xử tệ với tui. Tui hận con hồ ly đó. Tui muốn băm vằm nó ra làm trăm mảnh thả cho cá ăn thì tui mới vừa lòng.

Đó là tui chưa nói tới cái chuyện tui nghi ngờ Kim Long giấu đút của cải cho con yêu tinh đó nữa. Vậy chớ mà sao ngày tui mới về nhà ni giàu nứt đố đổ vách luôn. bây chừ thì càng ngày càng mạt. Mà tui có làm chi mô ăn tàn phá hoại đâu, Bổn phận nuôi vợ con là chuyện của thằng chồng rồi, Vợ thì chỉ có chờ chồng nuôi chớ có chi mà phải lo lắng.

Vậy mà tui cứ phải lo hoài, lo Kim Long ngu dốt có của cho mạ con con yêu tinh nớ. Nội cái chuyện nhận hắn làm con nuôi đây cũng là không phải yên đâu, mai mốt Kim Long nằm xuống hắn cũng dám xông vô đòi chia của lắm. Gì chớ tui còn sống là đừng có mà mong ăn được cọng tóc nào với tui. Chỉ cần Kim Long nhắm mắt là tui đuổi mạ con hắn ra khỏi nhà ngay tức khắc. Nuôi cái quân nớ thì chỉ là nuôi ong tay áo, nuôi khỉ dòm nhà thôi.

Đừng có nói tui nói quá lời. Tui còn tỉnh táo lắm, nãy giờ có thấy tui nói sai nói bậy cái chi mô. Tui biết mấy người nói tui điên, nhưng mà điên sao được, chuyện chi mà tui hổng nhớ.

Tui nhớ cái nhà đương ở là nhà của Kim Long với vợ trước ổng làm nên. Sau đó con vợ hắn tàn ác quá nên trời cho xe tông chết cả hai mẹ con. Khi tui về ở cái nhà ni là tui biểu phá căn lầu của mẹ con hắn ở đi mà Kim Long không chịu. Đã vậy ngày nào cũng quét dọn, làm như có người ở không bằng. Mấy năm trước Kim Long tự tay quét dọn, khí dương nặng nên không sao. Sau này để cho con hồ ly đó lên lên xuống xuống. Âm khí của con yêu tinh đó tích tụ lại căn lầu đó. Rứa nên lâu năm ma lớn ma nhỏ nó về tụ tập, tụi nó yêu qủy một bọn với nhau mà.

Tại rứa mà ma qủy nó lôi nó kéo, lâu lâu nó hiện thành đốm lửa bay quanh quanh trong phòng. Mấy đứa người làm thấy nói chớ ai. Hổng thấy trong từ đường chỗ hình con mẹ vợ lớn quanh năm khói nhang nghi ngút sao? Tui người làm còn kể có ngày tụi nớ về đông, đám lửa bự như cái chén bay lên bay xuống, luợn qua lượn lại nữa tề.

Nhưng mà gớm nhứt mà mấy tuần nay, đêm nào cũng có tiếng hú dưới lầu, cỡ chừng một hai giờ đêm, sau khi bạn bè tui đi về là mẹ con tui không ai dám bước ra ngoài. Vậy mà ông Long ổng hổng tin, tui đòi rước thầy pháp trừ yêu thì ổng hổng cho, ổng nói để ổng xuống đó ngủ. Cái ông nớ răng mà cứng đầu rứa không biết. Quân yêu ma thì mình phải trị theo kiểu yêu ma. Mình rước thầy trừ tà bắt hồn nó nhốt lại cho nó khỏi đi đầu thai luôn, cho nó trầm luân muôn kiếp luôn chớ có chi mà hổng dám. Ổng cứ la tui thời đại ni làm chi mà có ma có qủy. Không qủy không ma răng bao nhiêu người trông thấy như ri.

Hồi tuần trước mấy người bạn tui đi đánh bài về có kể lại đi qua cầu thang thấy một đốm xanh lè bự như cái chén lơ lững trong phòng, mà cái phòng thì cửa tự nhiên mở ra mở vô. Mấy người họ chạy một bữa bán mạng, từ đó tới chừ hổng dám tới chơi. Mà kêu con Bảy coi thử căn phòng có chi hông thì nó nói không có chi, bữa sau con yêu tinh nó nói nó khóa cửa phòng đàng hoàng mà sao mở ra mở vô được. Không biết trong hai con con nào nói thiệt. Hay là cả hai con sợ quá rồi nói đại không biết.

Nhưng mà tui thì tui thấy có rõ ràng. Tối hôm kia tui đau bụng nửa đêm, mới ra nhà vệ sinh. Chớ lâu nay đánh bài rồi vô ngủ có đi đâu ra ngoài, khi cần đi tiểu là đã có cái bô rồi. Ghét cái là nhà này xây theo kiểu xưa, mỗi tầng lầu chỉ có một nhà cầu. Tui đi xong rồi, tính trở vô thì thấy chóng mặt, mới vịn cái tay cầu thang một chút. Sao tui lại nhìn về hướng căn lầu phía dưới chớ. Trời ơi. Một cái bóng trắng lơ lững trên không, bay qua bay lại. Trời ơi. ma thiệt mà. anh có tin không?

Răng tui lại đi kể cho anh nghe tề? Anh là cái giống ôn hoàng dịch lệ chi mà tới đây tra khảo tui? Ờ thì nhà tui có ma, tui kêu thầy phù thủy về là được chớ chi? Răng không kêu hả? Tại thằng cha Kim Long tiếc tiền tiếc bạc, muốn vợ con hắn chết yểu mà. Con ma nào tui cũng không sợ mô. Cho nó đòi mạng luôn. Tui có một cái mạng thôi. Cùng lắm là bóp cổ tui thôi chớ răng? Nhưng mà tui ghét mấy người cứ nói đó là vong hồn con vợ lớn Kim Long về đòi mạng. Đòi gì tui mà đòi chớ. Mụ nớ chết do xe cán thì phải đòi mạng cha tài xế chớ mần răng đòi tui. Chị tui mấy năm trước còn nói do tui giựt chồng người ta, còn xúi Kim Long về phụ bạc vợ nên mạ con người ta chết tức chết tối.

Thiệt là hoang đường. Mười mấy năm nay sao không đòi mạng mà bây chừ lại đòi. Mà tui có làm chi mô mà đòi tui. Kim Long nhục mạ mụ thì mụ đi kiếm Kim Long mà bóp cổ. Tui có làm chi mô đâu mà biểu tui đền mạng. Ừ thì tui có xúi Kim Long xử tệ với mụ, xúi Kim Long nhục mạ mụ cho mụ tự ái bỏ đi, xúi Kim Long hất hủi mụ thiệt đó. Nhưng sao Kim Long lại nghe tui làm chi. Không lẻ tui xúi bốc cứt gà rồi cũng bốc sao. Kim Long đâu phải đứa con nít mà nghe lời người khác chớ.

Thôi tui không nói với anh nữa, anh làm ơn gặp con ma đó nói là tui biểu đi kiếm người khác mà đòi mạng chớ đừng đòi mạng tui. Nói nó đừng có bay qua bay lại nữa. Úi trời, mới nhắc tới mà con ma nớ lại hiện lên rồi. Đó đó anh thấy không ? Chỗ nớ tề. Nớ, nớ. Răng rõ ràng như ri mà anh kêu anh không nhìn thấy. Mấy người này bị đui mắt hết rồi. Đuổi nó đi cho tui, Trời ơi ghê quá. Nó đương nhìn tui nó cười kìa. Ai đó cứu tui với.

Thật lòng mà nói câu chuyện này tôi không muốn kể cho ai biết hết, tôi muốn nó chết trong lòng một mình tôi thôi, nhưng vì anh biểu tôi phải nói ra để anh tìm được nguyên nhân các vụ việc xảy ra trong nhà tôi nên tôi buộc lòng kể cho anh nghe. Chứ tôi không hề muốn cho một người nào khác biết chút nào.

Tôi tên Minh Long, Minh Long chứ không phải Kim Long như mọi người vẫn tưởng. Kim Long là tên ghép của vợ tôi – Kim Phụng với tôi – làm thương hiệu, tôi giữ mãi cho đến bây giờ.

Ba tôi là người Bắc kỳ nhưng không phải đến năm 54 mới vào Nam, ông đã vào đây từ năm 49 cơ. Vào năm trước năm sau thì ông quen mẹ tôi, do làm thuê ở Chợ Lớn. Mẹ tôi là người Hoa, con gái một lò bánh mì kế bên chổ ba tôi làm. Thấy ba tôi hiền lành giỏi giang nên ông bà ngoại tôi thương, gã luôn cô gái cưng cho ông và để ông chăm nom lò bánh. Tôi sinh năm 52, tuổi con cọp. Hồi sinh tôi ra ông bà ngoại có đi bốc số tử vi, nói rằng tuy số tôi có chút vất vả nhưng qua được hết, lại còn bảo tôi có số nhờ vợ nữa. Tôi được cho đi học đàng hoàng, con nhà giàu mà. Tôi học cũng khá giỏi, mấy năm đó thanh niên trong miền Nam mà học hành dở dang thì chỉ có nước là đi lính thôi. Tôi học ngành Kinh doanh theo con đường của ba má tôi ở trường Đại học Đà Lạt. Vừa sắp hết năm thứ tư thì giải phóng. Chỉ mới nghe tin tức phong phanh là ba tôi đã gọi tôi về Sài Gòn gấp, không kịp chờ đến những ngày sau cùng của niên học, cho nên rốt cuộc tôi cũng như một số thanh niên lúc đó, học xong đại học mà không có bằng cấp trong tay. Biết sao bây giờ, thời buổi chiến tranh mà, cái mạng còn không biết giữ được chăng chứ nói chi đến mấy mảnh giấy đó.

Mấy năm sau giải phóng gia đình tôi cũng giống như những gia đình khác ở Sài Gòn lúc đó, thường xuyên được nhắc nhở về chuyện đi kinh tế mới để xây dựng đất nước. Ngày nào trên phường cũng mời hội họp, nhắc nhở, hứa hẹn đủ điều. Thấy vậy ba tôi mới chia gia đình ra làm hai, tôi, đứa em trai và ba đăng ký đi kinh tế mới, còn để mẹ tôi và hai đứa con gái ở lại giữ đất giữ nhà.

Chúng tôi được đưa về vùng đất gần Long Thành, là khu đạm Phú Mỹ bây giờ. Mấy mươi năm trước vùng đất này còn hoang sơ lắm, xanh ngát một màu cỏ tranh hoặc cỏ gấu. hai loại cỏ này nếu kể ra thì chắc là 2 loại gian ác nhất, rể có ăn luồn trong lòng đất, chỉ cần sót lại một tí cũng đủ chúng phát triển trở lại, giá như gạo lúa mà như thế này thì cả thế giới chẳng lo đói bao giờ. Khi chúng tôi làm cỏ, phía trên dùng một dụng cụ gọi là sạc lai giẫy cỏ, còn phải đào sâu xuống để moi hết rễ lên. Tôi không hiểu người nông dân trong vùng phải đối phó với hai loại cỏ mất dạy này như thế nào chứ quả thật người thành thị như chúng tôi vô cùng vất vả vì chúng.

Người ta đưa chúng tôi đến đây, phát cho mỗi đầu người 10 kg gạo loại xấu, hẹn 10 ngày nữa sẽ phát tiếp. Chia cho mỗi người 10m đất chiều ngang, 100m chiều dài, người này kế tiếp người kia, nhìn thấy thì đẹp mắt lắm, cứ như trong hình vẽ, đó là chỗ sản xuất. Còn ở thì tập trung một nơi khác, mỗi gia đình một mảnh đất 10m x 20m. Kể ra số lượng đất được chia ấy ai giữ được đến bây giờ thì giàu to, nhưng lại là chuyện của 30 năm sau, ai mà biết được.

Lúc đó chúng tôi mới từ thành phố đến, cả đời chưa biết cây cỏ, đất cát là gì, sáng ra đánh kẻng gọi đi làm thì đi, bảo sạc cỏ thì sạc, bảo ăn thì ăn, bảo về thì về, có biết gì đâu. Ở thì mỗi gia đình từ kiếm lều bạt mà che chắn. Dân địa phương họ bán cho chúng tôi gỗ và từng tấm tranh để lợp nhà, tranh này là người ta cắt ngang mặt đất, rồi dùng những cọng tre chẻ mỏng (gọi là lạt) xâu lại (gọi là đánh tranh) thành những tấm dài 1m nặng trịch nhưng có tác dụng che mưa nắng rất khá. Gia đình chúng tôi 3 người đàn ông mà còn trầy trật vì không quen những chuyện lao động chân tay, phải thuê mướn dân địa phương làm giúp. Khổ thân những gia đình không có đàn ông, toàn phụ nữ trẻ em, có gia đình có thêm người già thì lại càng vất vả. Đó là chưa kể có những gia đình không có tiền thuê mướn, tự xoay sở lấy thì còn thảm thương hơn.

Gia đình tôi ở gần một gia đình từ Đồng Nai đến, tọi nghiệp họ, một gia đình gồng gánh các loại khổ sở trên đời, Một bà già, hai người phụ nữ trung niên (chị dâu em chồng) năm đứa trẻ con trong đó còn có một đứa bị tàn tật, kể ra đủ sức lao động chỉ là một cô gái 16 tuổi, mà cô này từ trước đến nay toàn ăn với học, có biết gì là làm lụng tay chân đâu.

Chúng tôi đi làm cùng nhau một chỗ, cũng như nhau chưa từng biết vất vả là gì. Cô gái thường xuyên bị say nắng và bị trừ công điểm liên tục. Khổ thân cô. Lúc đó hai anh em tôi đang ở trong tuổi thanh niên, cô gái thì mới lớn, kể ra nếu thanh thản cũng có khi tán tỉnh yêu đương lắm nhưng khốn nỗi cái cực khổ làm cho chúng tôi lã người rồi, kiếm đâu ra văn hay ý tốt mà chọc gái.

Căn nhà của chúng tôi tương đối khá, do ba tôi mua dụng cụ và thuê người làm, có anh em chúng tôi phụ. Nhưng ngôi nhà của gia đình bên cạnh thì thật là thảm hại, vì họ không có nhiều tiền như chúng tôi. Đã vậy chợ thì xa, muốn mua miếng gì phải đi bộ 4 cây số, thanh niên như chúng tôi còn nhanh nhẹn, chứ gia đình họ mỗi lần đi chợ phải huy động hết mọi người, kẻ mang mắm muối người xách giỏ rau, nhìn thấy cực khổ trăm bề.

Nói cái nhà của chúng tôi tương đối khá là nói so với căn nhà bên cạnh thôi chứ thật ra có bõ bèn gì, nhìn lên trời thấy lung linh ánh sao, trời mưa thì né chỗ nọ, nấp chỗ kia, do lợp tranh không đủ dầy đó mà. Nhà bên còn thê thảm hơn nhiều, cho gọi là có ấy mà. Thế mà trước khi đi kinh tế mới, phường bảo với chúng tôi lên đó có nhà cửa đầy đủ, gạo thóc phát cho ba tháng, ai ngờ chỉ mỗi lần đầu được đúng 10kg gạo mốc, vậy mới biết đừng bao giờ tin lời nói của ai cả.

Đã vậy mà trời ơi là gió, gió vi vu, gió nóng rát mặt, gió đem cát thổi đi bốn phương. Tôi không biết bây giờ khu Phú Mỹ đó còn những cơn gió ác độc tệ hại như xưa không chứ hồi ấy bọn tôi hãi gió lắm. Ngồi trong nhà ăn cơm mà nghe hơi gió đến thì phải nhanh tay kéo đại vật gì đó che thức ăn lại ngay. Nếu không kịp là cứ coi như bữa ăn ấy nhai cát rào rạo. Tôi dám chắc kể ra đây nhiều người bảo tôi nói ngoa, nhưng nếu mà còn kiếm được ai đã từng đi kinh tế mới ở Phú Mỹ năm 75 – 76 mà không cùng ý kiến với tôi về vấn đề này thì cứ coi tôi là con chó. Tôi nói thật đấy.

Có lẻ vì gian khổ quá nên chỉ hai tháng sau gia đình cô bỏ đi nơi khác, phải thôi, sống ở đó mãi chịu gì nỗi, gia đình họ neo đơn quá mà, có được ưu tiên chút gì cho người già con trẻ đâu.

Gia đình tôi thấy nhà cô dọn đi cũng thắc thỏm làm theo, nhưng ba tôi khôn hơn, ông không đi hết một lượt mà rút đi từng người. Đầu tiên là em trai tôi về vì chứng đau phổi, đó là do mẹ tôi xin được giấy ốm ở một người quen. Hai tháng sau tôi lại về vì loét bao tử loại 3. Và thêm ba tháng nữa thì gia đình tôi lại sum họp ở Sài Gòn với đầy đủ giấy tờ chứng tỏ đã làm tốt nghĩa vụ đối với dân tộc rồi.

Từ khi về Sài Gòn là ba mẹ tôi đã có ý định đưa gia đình ra nước ngoài, ngặt vì chưa tìm được mối manh đó thôi. May mắn sao mà đợt đó có người rủ rê chị tôi và hai đứa em tôi ra đi, má tôi lo được cho ba người đi lọt tới đảo nên mừng lắm. Bà già bắt đầu nghĩ tới chuyện lớn hơn: Hùn hạp với người ta đóng tàu chở người vượt biên.

Đầu năm 78 gia đình tôi tham gia vô phi vụ này, coi vậy mà tốn kém khủng khiếp, nhưng má tôi hy vọng ăn lại sau khi thành công, mỗi đợt đi là hằng đống người, mà mỗi người đâu có ít vàng. Trót lọt được là ngon lành. Không ngờ trời đâu chiều lòng người. Chuyến đi lần đó cả gia đình tôi chia tay nhau vĩnh viễn. Do không có nhiều kinh nghiệm về tàu thuyền nên chiếc tàu của chúng tôi không đủ sức đương cự với đại dương bát ngát. Theo tôi nghĩ chắc người ta không lường trước được biển khơi mang nhiều nguy hiểm đến vậy. Gia đình tôi có phần hùn nên được ưu tiên hơn chớ phần lớn đàn ông bị gom lại nhốt dưới hầm tàu. Đàn bà con nít còn được thong thả một chút. Mà có được mấy đàn bà con nít đâu, thanh niên là chính.

Đoạn ở trong này trốn chui trốn nhủi đã đành, đến khi ra tàu lớn thì mênh mông bát ngát chỉ thấy nước là nước. Đó là do tôi còn được thong thả bên ngoài chớ ngồi trong hầm tàu chật hẹp thì có biết cái nỗi gì. Mà chiếc tàu khi ra biển lớn thì có khác gì quả trứng trong chậu nước. Đó là chưa kể nói là đóng tàu nhưng thực tế đâu phải là chiếc tàu mới xuất xưởng, nó đã cũ và hình như không xứng đáng với số vàng đã bỏ ra. Nhưng đến giờ phút đó thì lấy đâu ra nữa mà lựa chọn. Từ khi lên tàu tôi đã có cảm giác bất an mà không dám nói ra, chỉ cầu trời đất cho tai qua nạn khỏi. Trên con tàu đó bỗng tôi nhận ra một người quen, đó là cô gái năm ngoái ở gần gia đình tôi trong khu kinh tế mới. Tôi ngờ ngợ mãi mới nhận ra cô, vì bây giờ cô đã lớn hơn và xinh đẹp hơn nhiều. Phải rồi, lúc ở kinh tế mới cô phơi nắng cả ngày, khổ cực gian nan và tôi cũng thế, thì giờ đâu mà ngắm nhìn nhau. Quế Anh – tên cô gái – cũng nhận ra ba tôi và tôi. Chúng tôi nhanh chóng trở thành những người thân trong cái khung cảnh bức bối hạn hẹp đó. Tôi hỏi Quế Anh hoàn cảnh gia đình cô. Quế Anh buồn rầu kể lại chuyện mẹ cô trở về nhà cũ bị xua đuổi, cô phải tới Chợ Hòa Bình làm thuê cho một tiệm bánh mì. Khi gia đình nhà chủ tổ chức vượt biên, vì để đảm bảo bí mật họ nhốt cô cùng với những người làm công khác, về sau một người con của gia đình họ đổi ý không đi, tiếc số vàng đã đóng cho chủ tàu, họ lôi cô đi theo với lời buộc cô phải trả lại sau khi qua được miền đất hứa.

Chúng tôi cứ thế bồng bềnh trên biển, cũng không còn nhớ nỗi bao nhiêu ngày. Lại cũng không hiểu tài công có biết đường hướng gì không, chỉ biết mênh mông biển trời bát ngát. Trong hoàn cảnh đó mà tôi và Quế Anh lại thân thiết và yêu nhau một cách chóng vánh. Có lẽ chúng tôi nghĩ rằng cái mạng chúng tôi không biết kéo dài được bao lâu nên tận dụng thời gian ở bên nhau. Ba mẹ tôi cũng không phản đối, còn bảo rằng qua đến đó là cho chúng tôi cưới nhau ngay. Nói yêu là nói thế thôi chớ hai đứa có dám làm gì ngoài những cái nắm tay, ôm vai. Xung quanh đầy dẫy con người ta, dù ai cũng mệt mõi không quan tâm đến mình thì cũng không gan ruột nào dám làm điều không phải. Nhưng đó thực sự là mối tình đầu của tôi, dù rất ngắn ngủi.

Cho tới một hôm thì trời chuyển mây đen kịt, sóng lớn bắt đầu nổi lên, con tàu tròng trành, người trên tàu bắt đầu ói mật xanh mật vàng. Quế Anh nằm lả người, hai mắt nhìn tôi đau đáu. Tôi cũng không khá gì hơn nhưng dù sao cũng là đàn ông, còn đỡ một chút. Mẹ tôi cũng như Quế Anh, dựa vào đống đồ đạc mà ói. Ba tôi vậy mà lại không sao, tuy nhiên có vẻ cũng mệt lắm.

Rồi gió càng ngày càng to, mọi người tranh nhau tìm chỗ kín đáo mà trốn. Gia đình chúng tôi – cả Quế Anh nữa, lọt vào trong một góc nhỏ tương đối ít gió. Bây giờ trên tàu mạnh ai nấy cầu trời đất độ trì cho qua cơn bão táp này. Mưa bắt đầu rơi mà sóng gió thì không bớt. Tôi ôm chặt Quế Anh vào lòng – bây giờ nàng đã gần như bất tỉnh vì sợ. Tự nhiên tôi muốn nhìn kỹ người con gái mà bỗng chợt đến trong đời tôi thế này. Trong những ngày tháng ở kinh tế mới tôi chỉ thoang thoáng nhìn thấy Quế Anh. Mấy hôm nay tôi nói rằng yêu nàng nhưng thực sự thời gian quá ngắn mà có biết bao nhiêu cái điều phải suy nghĩ trong đầu, tôi đâu kịp ngắm nhìn cho kỹ nàng đâu.

Tôi chỉ vừa kịp nhìn thấy Quế Anh có một đôi môi đẹp như vẽ và cặp mắt nhung đen buồn rười rượi thì một cơn sóng lớn ụp lên chiếc tàu. Quang cảnh chợt trở nên hỗn loạn. Tôi gào lên:

- Ba mẹ ơi.

Giọng ba tôi bình tĩnh ở kế bên:

- Ngồi im, nắm chặt vào cái gì đi.

 Nhưng dù ba tôi có bình tĩnh đến mấy thì những con người khác đã không giữ được như ba tôi. trong hầm tàu đã có tiếng người gọi vang, tiếng đập ình ình. Hình như tàu bị nước vô rồi, và hình như còn có những gì ghê gớm hơn nữa.

Tôi không còn nhớ rõ lắm mọi điều xảy ra trong lúc kinh hoàng đó, tôi chỉ nhớ chiếc tàu xoay vòng vòng, có người la lên là tài công chết rồi, rồi hình như một cơn sóng thẳng đứng quét vào chúng tôi, tôi thấy tôi lọt thỏm vào cái bể nước mênh mông đó.

Khi cơn sóng đã qua rồi, tôi thấy nhiều đồ vật trên sàn tàu đã biến đâu mất, may là người nhà chúng tôi còn đủ cả. Sóng vùi dập chúng tôi lắc lư hết bên nọ sang bên kia một lúc lâu nữa rồi dần yên ổn lại, mưa cũng tạnh dần, trời bắt đầu quang đảng trở lại.

Ba tôi lần mò ra đằng lái tàu, khi nãy có ai đó nói tài công chết rồi, tôi cũng lần mò ra xem.

Quả thật người tài công này trong cơn gió lớn, không hiểu sao té đập đầu vào một thùng đạn đại liên cũ, bây giờ đang chứa mỡ bò, phía sau gáy đập vào cái cạnh thùng, chắc nhằm chỗ hiểm nên ngã ra chết .

Ở dưới hầm thì tiếng kêu vọng lên ầm ỉ. Chúng tôi mở cửa xuống coi thì thấy nước đã vào khá nhiều. Lúc này mấy người làm công trên tàu hô hào mọi người tát nước ra. Người ta vất cái xác người tài công xuống biển, rồi họ chọn một người khác, có lẽ nhiều kinh nghiệm nhất, thay thế.

Chúng tôi rơi vào tình cảnh này như con chuột bị nằm trong cái bẫy, chỉ còn biết sống đến đâu hay đến đấy chớ không còn dám nghĩ đến chuyện liệu người tài công mới này có đủ bản lĩnh đưa con tàu vượt biển theo kế hoạch không. Lại càng không biết con tàu này có đủ sức chịu nỗi thêm cơn sóng gió nào .

Bây giờ một số đàn ông đã trèo lên sàn tàu, còn lại một số mệt mõi nằm vật vờ dưới hầm. Nước đã cạn dần. Ai đó đã tìm được lổ thủng và trám lại. Chúng tôi coi như đã thoát qua được một cơn hiểm nghèo giữa trời biển mênh mông này.

Nhưng chuyến đi hôm đó là chuyến đi định mệnh, vì sau này tôi không hề nghe biết được chút tin tức gì của con tàu đó. Có lẽ trong số gần một trăm con người trên tàu, tôi là người may mắn nhất.

Quế Anh đã qua cơn sợ hãi khủng khiếp nhất đời, cô tỏ ra vui vẻ hơn, dù còn rất nhiều mệt mõi. Buổi tối hôm đó tôi và Quế Anh trao nhau nụ hôn đầu tiên trong cái cảm giác lo lắng và bất an kèm theo nỗi băn khoăn cho tương lai hai đứa. Tôi nhủ thầm tôi và nàng đã cùng nhau qua cơn sóng gió thế này thì vĩnh viễn chúng tôi chẳng thể nào quên nhau được.

Quế Anh thầm thì kể cho tôi nghe những biến chuyển trong gia đình nàng, những bất hạnh mà gia đình gặp phải sau ngày thống nhất đất nước. Trong ánh sáng yếu ớt của ngọn đèn dầu tôi nhìn đôi mắt Quế Anh đen thăm thẳm, hai hàng mi dầy rợp làm đôi mắt em đẹp nhưng buồn rười rượi. Lúc đó có phong trào ca tụng những đôi mắt đẹp u buồn nhưng người Hoa chúng tôi coi đôi mắt này mang một số kiếp khổ ải trầm luân, tôi tự than khổ trong lòng nhưng thực tình vẫn thấy sao mà quyến rủ quá chừng. Ngoài đôi mắt đẹp Quế Anh còn sở hữu cái miệng nhỏ nhắn và nét môi đều đặn như vẽ. Thực sự chưa bao giờ tôi nhìn thấy Quế Anh trong lúc em ăn diện bao giờ. Ngày đi kinh tế mới mọi người phơi nắng hừng hực ngoài đồng, mồ hôi mồ kê nhễ nhại lấy đâu ra son phấn. Còn bây giờ thì sống chết bấp bênh, cũng không ai còn sức nghĩ đến ăn diện làm chi. Vậy mà nhìn em vẫn đẹp, vẫn cuốn hút dù làn da trắng đang sạm nắng mỗi ngày. Tôi nghĩ thầm sau này nếu chúng tôi yên ổn tốt đẹp và được lấy nhau, tôi sẽ cố gắng cho Quế Anh ăn diện để khỏi thua chị kém em, lúc đó chắc nàng sẽ đẹp lắm. Tôi thật là lãng mạn, trong lúc sống chết bấp bênh mà vẫn cố gắng nghĩ ra miền đất hứa để tự động viên mình.

Nhưng sự đời có được như mình muốn đâu anh. Chúng tôi qua được hai ngày nữa trên biển, thấy sao mà dài như hai năm đằng đẳng. Chúng tôi không dám nói lớn nhưng bảo nhau không biết đã đi được đến đâu hay vẫn cứ loanh quanh vì có ai trên tàu biết đường hướng gì đâu, chỉ nghe người ta xầm xì bảo nhau là nhiên liệu sắp hết, ngay cả nước uống, thức ăn cũng cạn dần. Ai cũng cầu mong cho gặp tàu trên biển để tiếp tế thêm lương thực, nước uống, xăng dầu.

Vì ai cũng mong ngóng như vậy nên chạng vạng hôm đó, nhìn thấy bóng dáng chiếc tàu xa xa là ai nấy mừng quýnh lên, dùng mọi phương tiện có được để ra tín hiệu cầu cứu.

Con tàu kia đã nhìn thấy tín hiệu của chúng tôi, rẽ nước từ từ tiến đến. Chúng tôi mừng vô kể, dù rằng quả thật nhìn thấy nó cũng không lớn lao gì cho lắm, nhưng giữa trời biển mênh mông mà gặp được một con tàu khác thì cứ như buồn ngủ gặp chiếu manh, cứ thấy nét mặt ai cũng phấn khởi là biết ngay thôi.

Nhưng cho đến khi con tàu đến gần chúng tôi mới thấy là thà không có nó còn hơn. Đó là một chiếc tàu chỉ lớn hơn tàu chúng tôi đôi chút nhưng nhìn rất chuyên nghiệp với đội ngũ thủy thủ vạm vở và không tìm đâu ra một nét nào để tin tưởng vào họ. Chúng tôi đã bắt đầu nghi ngờ tàu của hải tặc nhưng đã quá muộn cho bất cứ sự chọn lựa nào.

Lũ qủy đã neo tàu chúng lại để nhảy sang tàu chúng tôi, nhanh nhẹn và chuyên nghiệp. Chúng nhanh chóng khống chế mọi người bằng mấy khẩu súng máy và mã tấu. Sau khi bắt mọi người trên boong trói lại, lủ qủy đã xuống hầm tàu lôi hết mọi người lên. Lúc này hầu như tất cả mọi người dưới hầm tàu đều rã rượi, kiệt sức. Bằng một loại tiếng la hét xì xồ, chúng cột hai người một vào với nhau rồi bắt đầu ra hiệu mỗi người tự móc túi ra. Mới đầu tất cả ngoan ngoãn móc hết trong người ra nộp cho chúng. Chắc là không vừa ý, bọn chúng bắt đầu tự tay lục lọi, cười ha há thô bỉ khi chạm tay vào phụ nữ.

Tôi bắt đầu lo lắng cho Quế Anh, nhìn em cũng mặt mũi tái xanh, thất thần vì sợ hãi. Ba tôi bị cột chung tay với tôi, ông thì thầm:

- Lúc nào nhảy được là nhảy nghe con.

Tôi nói:

- Nhảy xuống biển sao bơi nổi ba.

Ông trả lời:

- Không thì bọn nó cũng giết mình thôi, thà nhảy còn có cơ sống sót.

Lũ chúng nó lùa hết phụ nữ vào một góc, một tên cầm súng máy giơ lên định bắn, tiếng la hét vang trời. Một tên ngăn tên kia lại, xì xà xì xồ gì đó, cười hăng hắc rất dâm đãng. Rồi bọn chúng bắt đầu lựa chọn phụ nữ tương đối còn trẻ, trong số đó có Quế Anh, em co rúm người vì sợ hãi. Tôi không còn diễn tả được cái nỗi đau, nỗi nhục nhã như thế nào khi mọi chuyện diễn ra càng lúc càng tồi tệ, mà tôi, một trong những người đàn ông khoẻ mạnh nhất lúc đó lại không biết phải làm gì. Tôi đau đớn cho cái sự hèn nhát của mình, tôi khinh bỉ nỗi khiếp sợ đê tiện trong con người mình, tôi căm thù cái lũ thô bỉ gian ác trước mặt mình, và tôi thống hận nỗi bất lực bạc nhược trong xương tủy mình khi nhìn thấy lần lượt chúng nó chia nhau những người phụ nữ ngay trước mắt mình. Tôi bỗng hoa mắt khi thấy Quế Anh cười nũng nịu với gã đàn ông râu ria xồm xoàm khua tay cười hăng hắc trước mặt em. Tôi tái mét mặt khi Quế Anh vòng tay ôm cổ thằng cha hung hợn ấy, thì thầm cái gì vào tai gã. Bọn này không phải người Việt nên chắc có nói gì cũng không hiểu, chỉ là thể hiện qua cử chỉ thôi, Nhìn trong thái độ tôi thấy Quế Anh thật là tình tứ trong khi phần đông những người phụ nữ khác cố tình trì kéo, chống cự, một số nữa mất hết tinh thần để bọn chúng lôi kéo làm gì tùy thích trong khi 2 chiếc tàu không người lái cứ trôi từ từ chầm chậm theo giòng nước.

Có lẽ tên gần gũi Quế Anh là một trong những tên đầu sỏ. Nó xì xồ la hét cho bọn kia tản mạn đi ra xa, Quế Anh cười lả lơi với nó, quàng vai tên cướp đi dần dần ra mũi thuyền, Tôi thấy gã nọ dúi mặt vào cổ Quế Anh, cô ta điệu bộ hất ra nhưng mắt lại long lanh tình tứ. Họ ôm sát nhau đong đưa như đang khiêu vũ, thỉnh thoảng Quế Anh còn đưa tay mơn trớn gáy gã và chọc cho gã cười. Tôi điên ruột khi nghĩ tới thái độ e lệ của cô ta khi ngồi gần tôi. Hoá ra con đàn bà này thật là gớm ghiếc, đối với mình thì làm như còn ngây thơ vậy, nhưng khi gặp hải tặc thì lộ nguyên hình là một thứ hồ ly. Tôi xấu hổ không dám nhìn ba tôi, hình như ông cũng nhắm mắt lại không dám nhìn ai, nhất là nhìn cô con dâu hụt của ông. Đâu đó trong khoang có tiếng la hét, tiếng chửi rủa, tiếng rít róng, tiếng đấm đá thô bạo và tiếng khóc của phụ nữ. Tôi cắn răng nhìn gã đàn ông thô bạo ôm dúi Quế Anh vào thành tàu phía trước, tôi thấy cô ta như mèo vờn chuột lôi kéo gã đi về hướng không có chiếc tàu của bọn cướp. Tôi bỗng nghi ngờ hành động của cô ta, hình như có một ý gì đó không bình thường, trong khi gã cướp mãi mê say sưa với nụ cười và điệu bộ lẳng lơ của người đẹp thì tôi đã nhìn thấy một con dao nhỏ nằm sát chiếc bao tải rách gần chân Quế Anh, phía bên kia gã hải tặc là một đoạn lan can tàu bị gãy. Tôi hồi hộp theo dõi, Quế Anh kéo gã cướp ngồi xuống, ôm hôn đôi má gã. Hai tay gã đàn ông bắt đầu sờ soạng bộ ngực cô. Quế Anh tay thì hất ra nhưng miệng lại cười khêu gợi. Hai con tàu vẫn từ từ trôi trong một mớ tiếng động ồn ào: Tiếng chửi thề của nhóm người đàn ông bất lực, tiếng khóc than sướt mướt của vài người phụ nữ, tiếng trẻ con nháo nhác khiếp sợ, tiếng cười thống khoái của lũ côn đồ. Gã đàn ông râu ria có lẽ sốt ruột lắm rồi, gã bắt đầu cởi nhanh chiếc áo trên người và nóng nảy vồ vập Quế Anh. Tôi bỗng thấy Quế Anh nhanh nhẹn rút con dao dưới lưng đâm thẳng vào bụng gã và nhanh nhẹn trườn mình lên gã. Gã đàn ông hét lên kinh hoàng làm chấn động mọi người. Gã dúi dụi nắm tóc Quế Anh, em thúc đầu gối vào hạ bộ gã và hung hãn kéo gã lăn một vòng. Như đã được tính toán trước, em vùng vẫy cho cả hai lăn sát vào chỗ lan can tàu bị gãy. Tôi kinh hoàng thét lên:

- Coi chừng.

Nhưng Quế Anh như một người điên, em không buồn nhìn ai nữa, ôm chặt gã côn đồ lăn tòm xuống biển.

Cả khoang tàu nháo nhác. Những tên khác đang hành sự nửa chừng cũng dừng lại không kể đến thân thể gớm giếc chạy ra boong tàu coi. Đàn ông chúng tôi vẫn còn bị trói nên không ra được nhưng vài người phụ nữ hiếu kỳ chạy đến và miêu tả máu loang ra một vùng, hai người lặn ngụp trong nước và chìm dần, chìm dần.

Lũ hải tặc có vẻ hoang mang lắm. Chúng nó xì xồ cải nhau ỏm tỏi trong khi chẳng ai, kể cả người trên thuyền và bọn cướp quan tâm đến sự trôi dạt của hai chiếc tàu. Một tên có vẻ hung hăng ra hiệu bắn giết hết mọi người. Mấy tên khác có vẻ như là muốn ngăn lại. Rồi chúng nó bày vàng bạc ra chia nhau. Giống như cái chết của hai người kia làm ngưng lại cơn dục vọng trong chúng thì bây giờ chúng lại quan tâm đến vàng bạc. Trong khi bọn chúng còn đang cải nhau ỏm tỏi thì tôi bỗng thấy nút dây ở tay mình lỏng dần. Hoá ra nãy giờ ba tôi không theo dõi chuyện gì, chỉ chăm chăm mở nút thắt bằng răng, nhân lúc hỗn loạn không ai để ý đến. Tôi bỗng thấy xấu hổ hơn bao giờ hết. Tôi – người đàn ông có thể coi như trụ cột của gia đình mà chưa bao giờ có thể làm được điều gì cho ra hồn. Tất cả chỉ là trông cậy vào gia đình mà thôi. Ngay cả trong lúc tai ương cũng thế. Tôi đã nhìn thấy mọi sự diễn biến đối với người yêu của mình mà chẳng thể nào biết phải làm gì ngoài một tiếng kêu. Tôi cắn răng khẽ khàng quay lại mở trói cho ba. Hình như cũng có một số người tranh thủ làm như ba tôi, nhìn thấy vẻ mặt mọi người có nét tươi tỉnh hiện lên mặt. Hoặc là họ nghĩ đến lúc bọn hải tặc chia vàng xong sẽ thả mọi người. Dù sao thì cũng còn có chút niềm hy vọng.

Nhưng cuối cùng thì tôi vẫn phải nói với anh rằng chuyến đi đó là một chuyến đi tệ hại nhất trong cuộc đời tôi. Chuyến đi đã làm tôi mất hết mọi thứ trong cuộc đời này. Trong lúc mọi người còn đang nhốn nháo, bọn cướp chưa chia xong số vàng cho vừa ý chúng thì tôi có cảm giác đất trời như quay tròn, mới đầu chầm chậm rồi hình như càng lúc càng nhanh hơn. Cuối cùng rồi không phải một mình tôi nhận biết điều đó, mọi người dần dần cũng thấy được điều kỳ quái này. Và bọn cướp có vẻ thất thần, chúng ồn ào hẳn lên và vội vội vàng vàng ôm của cải chạy về tàu chúng nó. Mọi người bên chiếc thuyền tôi nháo nhác hỏi nhau, không ai hiểu nổi chuyện gì. Khi bọn chúng cắt đứt dây neo, tách rời 2 chiếc tàu ra thì chúng tôi mới biết được rằng do trong một khoảng thời gian dài không ai quan tâm đến 2 con tàu đã vô tình trôi dạt rơi vào vòng nước xoáy. Do trôi từ từ và cột vào nhau lại thêm không ai có kinh nghiệm nên tất cả mọi người đều không nhận thấy. Trong khi đó thì bọn cướp đang quá say sưa với đủ loại mồi ngon trên tàu như đàn bà, vàng bạc nên cũng không phát hiện ra.

Bây giờ thì tàu của bọn cướp đã tách ra, mỗi chiếc tự xoay theo chiều của nó, chiếc tàu kia cố gắng chống chọi lại còn tàu chúng tôi thì vô phương. Một số tài công than thân trách phận nhưng tôi biết họ vốn không phải là những người đi biển giỏi giang vì nếu giỏi họ đã phát hiện ngay từ đầu.

Chiếc tàu quay tròn mỗi lúc một nhanh hơn. Tôi bỗng cảm thấy như có ai xúi giục, tôi gọi ba tôi:

- Con nhảy xuống biển ba ơi.

Ba tôi không trả lời. Có lẽ trước cái chết, ông cảm thấy quá bất lực. Tôi bò về phía má tôi, hôn bà rồi qùy xuống lạy bà chín lạy. Một số người trên tàu thấy tôi làm vậy thì ùa ra khóc lóc la trời thảm thiết. Đàn ông ai nấy mặt ủ mày ê, kẻ chửi thề luôn miệng. Tôi trở về bên ba, qùy xuống lạy ông, tôi thấy ông hai hàng nước mắt chảy dài, bệu bạo: Thôi con đi. Bên kia má tôi khóc than thảm não.

Một cơn gió thổi qua, chiếc tàu càng lúc càng chòng chành, quay tròn. Có ai đó giục giã tôi: Nhảy đi, nhảy đi. Tôi nghĩ rằng đã tới số của mình rồi nên Diêm vương Hà bá hối thúc. Bò ra chỗ hồi này Quế Anh rơi xuống , tôi thét lên:

- Chào mọi người, tôi đi trước đây.

Khi bên tai tôi còn nghe tiếng kêu gào của ba má thì thân thể tôi đã ngập trong nước biển lạnh ngắt. Thân người tôi như cây kim chìm trong bể bơi, quay vòng vòng không kềm chế được, càng lúc càng đuối dần. Bỗng tôi thấy như có một bàn tay kéo tôi đi, tôi vùng vẫy tay chân cho khỏi chìm rồi mặc kệ cho đến khi thấy mình không còn trong vòng xoáy nữa. Nói thật lòng từ khi nhảy xuống biển tôi không hề có chút ý thức nào nhìn lại hai chiếc tàu gặp nạn. Tới khi yên ổn thì tôi chỉ biết tôi một mình trong đại dương bát ngát như một chiếc lá dập dềnh. Tôi bơi theo phản xạ, không còn kịp nghĩ tới một điều gì nữa cho tới khi tôi không còn sức để nghĩ.

Tôi tỉnh lại thấy mình nằm trên một con tàu nhỏ, xung quanh nhiều người nhìn tôi nháo nhác. Có người đổ cháo vào miệng tôi, rồi họ lại đắp mền cho tôi. Ngày một ngày hai tôi trở nên khá hơn. Không cần kể lại mọi người cũng đều biết tôi vượt biên không thành, lúc ấy chuyện này đã rất phổ biến. Chiếc thuyền này trên đường đi ra đảo …………. Họ cho tôi đi theo họ luôn .

Trên tàu có một cô gái chú ý đến tôi, cô này không đẹp như Quế Anh, nước da ngăm ngăm nhưng có đôi mắt đặc biệt sáng long lanh, cô hay hỏi thăm tôi và khi tàu tới đảo tôi và cô đã trở thành một đôi bạn.

Mặc dù nói rằng sức khoẻ tôi đã phục hồi nhưng thật ra tôi còn rất bạc nhược. Lý do chính là tôi quá đau khổ vì lạc mất gia đình, mà có lẽ đã chẳng còn ai trong cái ngày tang tóc. Chuyến tàu vượt biên đó về sau không còn ai nhắc tới, cũng không có tăm hơi gì về những người đã ra đi, trừ tôi. Trong một phút chốc tôi mất me, mất cha, và mất cả người yêu. Vâng tôi vẫn cứ xác định Quế Anh là người yêu của tôi dù rằng mối tình của chúng tôi vỏn vẹn chỉ có mấy ngày, chưa kịp để lại cho nhau chút gì kỷ niệm ngoài một nụ hôn đầu. Hình ảnh cuối cùng của Quế Anh trong vòng tay tôi là đôi môi xinh đẹp và cặp mắt nhung buồn thăm thẳm. Câu nói cuối cùng mà tôi nghe được là câu nói của ba tôi. Chỉ có thế thôi, gia đình tôi trong phút chốc biệt ly vĩnh viễn. Tôi đau lòng đến mức không còn muốn sống trên đời. Ai có từng trải qua nỗi mất mát như thế này mới hiểu được nỗi đớn đau của tôi lúc đó. Thà là ông trời cho tôi chết đi luôn cho đủ cả gia đình còn hơn là để tôi một mình còn lại trên đời này không người thân thích. Tôi gần như không còn muốn ăn, muốn uống, muốn nói chuyện gì với ai nữa sau khi biết được mình đã mất tất cả người thân.

Kim Phụng – cô gái có đôi mắt sáng long lanh và nước da đen giòn mà tôi gặp ở trên tàu – về sau này là vợ tôi đã an ủi, động viên tôi rất nhiều.Cũng chính tay cô đổ từng muỗng thuốc vào miệng tôi, lau cho tôi từng giọt mồ hôi. Tôi sốt li bì, về sau nghe kể lại là luôn miệng kêu tên mọi người. Phụng ở lại đảo với tôi trong nhà một người dân tốt bụng, họ tưởng tôi và Phụng là vợ chồng. Chúng tôi ở đó được hai tuần thì Phụng bảo tôi về đất liền sau khi cô đã trả một số tiền hậu hĩnh cho chủ tôi mà chúng tôi trọ lại.

Về đến Rạch Giá Phụng tìm thuê cho tôi một căn nhà nhỏ. Tôi cũng sợ chính quyền làm khó dễ chuyện giấy tờ nhưng việc gì đến tay Phụng là tất cả đều trở nên tốt đẹp. Phụng hỏi tôi có muốn làm ăn gì không thì cô giúp vốn. Tôi như người lạc đường ngẩn ngẩn ngơ ngơ, Phụng thương hại mới qua lại thăm tôi, chu cấp thuốc men tiền bạc cho tôi trong suốt thời gian dài.

Mang ơn Phụng, lại không còn gia đình, nhà cửa ở Chợ Lớn thì nghe nói đã bị tịch thu, vả lại Phụng là người con gái có tình có nghĩa, nhan sắc cũng thuộc dạng dễ coi, một thời gian sau từ cảm mến chuyển sang tình yêu lúc nào không hay, chúng tôi quyết định lập gia đình với nhau.

Về quê Phụng rồi tôi mới biết bên vợ tôi cũng không còn ai ngoài anh ba Lân. Cũng nhờ về quê rồi tôi mới biết là vợ tôi giỏi giang cỡ nào. Đầu trên xóm dưới ai mà không biết út Phụng làm đâu thắng đó, nghe người ta khen ngợi vợ mình mà mát ruột mát gan. Chắc là đúng như lời thầy bốc số tử vi cho tôi hồi nhỏ: Số nhờ vợ. Nhưng sự đời cái gì cũng vậy, nghe hoài mới đầu còn thấy hay, nghe đi nghe lại thấy chán, nghe thêm nữa thấy như sao người ta muốn ám chỉ mình là nhờ bóng vợ, nghe thêm chút nữa thấy sao mà giống như họ chửi mình chó chui gầm chạn. Con người ta thường thì như vậy đó. Mấy khi mà được vừa lòng đâu.

Tôi mới bàn với Phụng lên Sài Gòn lập nghiệp. mới đầu Phụng ngần ngại vì không muốn xa nhà cửa ruộng vườn nhưng tôi khéo léo ỉ ôi nên dần dần Phụng cũng xiêu lòng. Thật ra là ý xấu của tôi, tôi cho rằng Phụng chỉ quanh quẩn ở trong xóm nên làm đâu thắng đó, chớ nếu bước chân ra chốn thị thành chắc gì đã bằng người ta. Tôi thật là một thằng chồng không ra gì, người ta muốn vợ thành đạt mà mình thì mong cho vợ mình thất bại. Lý do sâu xa là vì tôi bực mình một cách vô lý, Tôi – một thằng học hết 4 năm Đại học Kinh doanh lại phải thua người đàn bà chưa từng được cắp sách đến trường. Tôi muốn Phụng đem tiền bạc lên Sài Gòn để tôi lấy cái sự học hành của mình ra nuôi vợ, tôi không muốn là thằng đàn ông nấp sau bóng vợ mình, nhất là đó lại là một bà vợ quê mùa thất học.

Lúc vợ chồng dắt díu nhau lên tới Sài Gòn rồi tôi mới ngã ngửa khi biết vợ tôi có quá nhiều vàng. Phụng bắt tay vào mua ngay một ngôi nhà nhỏ nhưng tọa lạc trên miếng đất rộng . Lúc đó tôi hỏi Phụng:

- Mua chi miếng đất to dữ vậy em?

Phụng cười hồn nhiên:

- Đất rộng mai mốt mình cất nhà lớn ở.

Rồi cô thủ thỉ:

- Ở dưới quê nhà em nhỏ xíu mà, em thích ở nhà lớn lắm. Làm được cái nhà lớn rồi có chết em cũng vui lòng.

Rồi cô cười cười:

- Nói vậy chớ làm nhà lớn rồi có chết em cũng không đi đầu thai, ở lại nhà mình cho sướng.

Không bao lâu hai vợ chồng tôi ổn định công việc, tôi nói với Phụng ở đây không như ở quê, Phụng là người lạ cảnh, tôi là dân địa phương thì Phụng để cho tôi lo lắng việc gia đình.

Phụng cũng không cải tôi, cô đưa tiền bạc cho tôi làm ăn, mới đầu tôi nhận trung gian nông sản, lúc đó còn là mặt hàng cấm, làm được là ăn lớn lắm. Vậy mà cũng không được gì, tôi lại xoay sang hùn hạp mở cơ sở sản xuất vỏ xe đạp. Do không hiểu biết về kỹ thuật nên hàng hóa sản xuất ra không đạt chất lượng, chỉ bán rẻ cho mấy cửa hàng thương nghiệp Nhà nước. Thấy không hy vọng gì tôi lại đòi mở quán ăn. Phụng cản tôi:

- Bây giờ thiếu thốn như vầy, ai có nhiều tiền mà ăn tiệm, Còn chưa tính Nhà nước họ có để yên cho không.

Tôi bực bội:

- Không làm lấy gì mà ăn.

Phụng cười cười:

- Anh không làm thì em làm, có sao đâu.

Tôi giận dỗi:

- Anh không muốn bị coi là người ăn bám vợ.

Phụng dỗ dành:

- Ai nói anh ăn bám đâu, anh với em là vợ chồng, em hay anh gì cũng vậy thôi, Mà em không biết tính toán, anh quản lý tiền bạc cho em.

Tôi nghe cũng xuôi tai, vả lại hai lần trước thất bại tôi đã ngao ngán rồi. May mà Phụng là người thông cảm cho chồng chứ nếu gặp người phụ nữ lắm mồm chắc tôi dễ gì ăn ngon ngủ yên sau khi phá bay vốn liếng của vợ.

Tôi cũng muốn thử coi có phải Phụng giỏi giang thật như lời ở quê nàng đồn đại hay chẳng qua chỉ là một lúc nào đó thôi.

Không ngờ Phụng đúng là có lộc hái ra vàng, việc nào có Phụng nhúng tay vào là cứ giống y như tôi chỉ có việc bỏ tiền vô túi. Đậu, mè, cà phê cũng hồi trước tôi làm nhưng lúc thì mất, lúc lại bị bắt, lúc nhằm hàng kém chất lượng. Tới phiên Phụng thì đều tăm tắp đâu ra đó êm ru từ lúc mua cho tới lúc bán, mà cả người bán lẫn người mua đều vui vẻ phấn khởi chớ không có ai tỏ chút khó chịu gì. Hàng hóa đưa ra đưa vô tấp nập mà cũng không thấy ai xét hỏi bắt bớ, giống như nọi việc đã được sắp xếp êm đẹp hết thảy rồi.

Gần hai năm sau Phụng nói với tôi nàng muốn đổi nghề, tôi tiếc mối làm ăn ngần ngừ không chịu. Phụng mới giao lại hàng họ cho tôi, bây giờ tôi đã quen hết mối lái, Phụng tách ra làm ăn kiểu khác. Tôi quên kể trước đây đã có lần Phụng có thai nhưng chỉ được hơn hai tháng là hư. Phụng nói bây giờ Phụng kiếm việc nhẹ nhàng hơn mà làm cho đừng ảnh hưởng tới con cái, chớ lo cái chuyện đậu mè này đôi khi nó nặng nhọc, khó giữ được bầu bì. Tôi nghe cũng có lý nên bằng lòng.

Phụng bắt đầu chuyển qua buôn gỗ, nghe tiếng thì nặng nề nhưng công việc cũng rất nhẹ nhàng, chỉ ngặt một nỗi là thỉnh thoảng phải đi xa vài ngày nhận hàng. Công việc êm xuôi trôi chảy đến mức có hôm Phụng gọi tôi đi cùng nàng mua thêm miếng đất ở ngoại thành. Té ra vợ tôi muốn mở một xưởng cưa ở đó. Phụng nói:

- Buôn bán khi được khi không, mở cái xưởng cưa làm chủ cho chắc chắn.

Bây giờ thì tôi phục vợ tôi quá chừng, tôi cũng phục cả ông thầy lấy số tử vi cho tôi hồi nhỏ, Quả thật là tôi có số nhờ vợ, mà cũng quả thật vợ tôi là người vợ vàng vợ bạc ông trời đưa đến cho tôi.

Mở xưởng cưa xong thì Phụng chuyển qua chuẩn bị xây nhà. Tôi lúc này đã hết thắc mắc về chuyện tiền bạc, cũng không còn cái ý nghĩ ngớ ngẩn trong đầu ganh tỵ với vợ nữa. Tôi chỉ còn có mỗi việc là nghe theo lời vợ và cất tiền vào tủ. Phụng cho tôi làm chủ xưởng cưa, bỏ luôn cái chuyện đậu nành cà phê lúc này đã bắt đầu tới giai đoạn chững lại. Cái nhà được cất dưới sự giám sát toàn quyền của tôi, Phụng chỉ yêu cầu dành riêng cho nàng tầng lầu một. Lúc này Phụng hay đi nhiều, và thường xuyên về quê giúp đỡ bà con anh em, tôi cũng đâu dám hó hé gì, tài sản trong nhà một tay Phụng gây dựng mà. Với lại bà con anh em phía tôi có ai đâu mà phải ghen tỵ.

Trong lúc này Phụng lại có thai lần thứ hai nhưng lại cũng như lần trước, chưa được hai tháng đã phải bỏ. Vợ chồng tôi buồn lắm. Tôi nói với Phụng:

- Nhà mình bây giờ xây xong rồi, em khỏi cần đi làm nữa cho mất công. Em ở nhà cho khoẻ để kiếm đứa con. Anh nghĩ chắc do em đi lại nhiều quá nên thai không đậu nỗi.

Phụng nghe nói có lý nên bằng lòng, từ đó nàng chỉ ở nhà thôi, không đi buôn gỗ nữa, cái xưởng cưa để cho tôi làm chủ.

Gần một năm sau vợ tôi có bầu lần nữa, lần này hai vợ chồng chăm chút, tới bác sĩ liên tục. Tôi cương quyết không để cho Phụng động tay việc gì, mướn người lo việc nhà trong ngoài chớ trước đây một tay Phụng làm hết.

Nhờ vậy mà cuối năm đó con trai tôi ra đời, hai vợ chồng tôi mừng như trúng được hủ vàng, hồi đó đã có siêu âm gì đâu, sinh ra mới biết trai biết gái.

Thằng nhỏ lớn như thổi, mặt mũi lanh lợi, vợ chồng tôi thương yêu biết bao nhiêu. Nhưng cái xưởng cưa vô tay tôi thì mới đầu còn xuôi chèo mát mái, lần hồi chậm chạp lại rồi bắt đầu ế ẩm. Phụng qua một thời gian ở nhà coi con cũng bắt đầu ngứa ngáy tay chân. Nàng thấy tôi tối nào cũng cộng trừ nhân chia rồi ủ rủ mới hỏi sự tình. Tôi chán nãn nói cho Phụng biết tình hình ở xưởng. Nghe xong Phụng cười rồi biểu tôi ngày mai dắt nàng vào thăm xưởng, nếu cần giao lại cho nàng quản lý, tôi chỉ phụ trách sổ sách thôi.

Tôi không lạ gì tài năng của vợ mình nên hôm sau dắt nàng lên xưởng. Trước đây công nhân trong xưởng có biết Phụng với cương vị vợ ông chủ thôi vì thế tôi phải dắt Phụng đi chỉ trỏ hết mọi thứ. Thật nhanh chóng Phụng làm quen với công việc, rồi cứ như có phép màu hiện ra, ngày nào cũng có mối làm ăn tấp nập đưa đến. Phụng một tay bế con, một tay chỉ đạo công việc chạy ầm ầm như thác nước. Tôi chỉ còn biết lẩn quẩn trong phòng tính toán không cũng đủ hết giờ. Có đôi lúc tôi tự thắc mắc không hiểu sao Phụng làm việc gì cũng dễ như người ta trở bàn tay, từ việc nhỏ như nhận hàng cho đến khó như xoay được các giấy tờ hợp lệ cho sản phẩm. Đã thế mà công nhân trong xưởng rất yêu qúy nàng, đi đến đâu là Phụng nhận được cảm tình nồng hậu của người khác đến đó. May tôi là người chồng sống với nàng lâu năm nên hiểu biết điều đó chớ như người khác cũng cảm thấy mình tức tối lắm chớ không chơi.

Không mấy chốc cái xưởng cưa của chúng tôi làm ăn tấp nập, phát tài phát lộc vù vù. Tôi tuy sung sướng nhưng vẫn mang trong mình cái ghen tỵ nhỏ nhen. Tôi ấm ức mình làm gì cũng thua người vợ thiếu học thức này. Tôi tự giận ông trời sao mà bắt tôi thua thiệt như vậy, thà là tôi thua người hơn tôi, hoặc là ít ra người đó cũng phải bằng tôi, đằng này ông trời oái oăm cho tôi thua một người phụ nữ quê mùa, lại chưa từng bước chân vô trường học, trong khi đó tôi ít gì cũng xong bốn năm đại học, bình phương, ma trận thua kém gì ai, vậy mà trên thương trường lại thua chính vợ mình. Cái mặc cảm trong tôi nó luôn ngắc nhéo, dày vò tôi mỗi lần tôi đem tiền gửi vô ngân hàng hoặc đưa ra mua vàng, nó như con rắn độc cắn xé trái tim tôi mỗi lúc Phụng sung sướng đọc lại con số cuối tháng tôi kết toán. Tuy rằng vợ tôi chưa bao giờ coi thường tôi, cô ấy luôn nói là nhờ có tôi quản lý sổ sách mà cô ấy mới kiếm được nhiều như vậy, nhưng tôi biết chẳng qua vợ tôi sợ tôi buồn, tôi mặc cảm nên nói thế chứ nếu cần cô ấy thuê lấy một đội ngũ kế toán thì có thua gì tôi.

Vào năm 85 chúng tôi nhận được một mối hàng lớn, Phụng lo ngại nguyên liệu đầu vào sẽ thiếu nên mới bảo tôi để nàng đi mua thêm gỗ. Tôi tự dưng muốn thoát ra khỏi cái hào quang bao bọc của vợ mới bảo để tôi đi mua. Phụng tỏ ý lo ngại nhưng tôi cương quyết là mình làm được. Sau rồi cô ấy cũng đồng ý và chỉ cho tôi những mối quen biết trước đây của cô ấy. Bây giờ tôi và vợ tôi lại trao đổi vị trí cho nhau, cô ấy trông chừng xưởng cưa còn tôi thì đi buôn gỗ.

Tôi không biết nên nói là tôi phải ân hận hay cám ơn trời đã cho tôi chọn chốn buôn gỗ là Lâm Đồng. hồi đó vợ tôi thường buôn bán ở Đồng Nai, xa hơn một chút và chỉ vượt qua đến đầu ranh giới tỉnh Lâm Đồng, rồi thôi. Cô ấy nói tới đó là cũng đủ rồi, không cần đi xa hơn. Nhưng tôi không muốn cái gì cũng phải phục tùng cô ấy, đã nói là cái mầm mống ganh tỵ nó ăn sâu trong trái tim tôi rồi, chỉ chờ dịp là bộc phát thôi. Tôi không dừng lại như vợ tôi chỉ mà đi lên phía trên xa hơn. Công việc lúc ấy cũng trôi chảy nên tôi tự hào mình không cần phải nương nhờ bóng vợ nữa. Nói thật ai có qua cầu mới hay, bị cái bóng ai đó bao phủ quả là không dễ chịu chút nào, mà nhất là cái bóng đó lại là vợ mình, mà lại là một người vợ không qua trường lớp chớ đừng nói là tốt nghiệp đại học như mình. Tôi luôn dằn vặt vì cái so sánh đó.

Vợ tôi biết tôi không nghe lời cô ấy nhưng cũng không nói gì, hình như cô ấy cũng muốn cho tôi chứng tỏ khả năng của mình. Vì vậy tôi càng lúc càng đi xa, không nghĩ đến việc càng mua ở xa thì tiền vận chuyển càng lớn, có nghĩa là lợi nhuận vơi đi thêm một chút. Tôi chỉ mê mãi nghĩ tới cái sĩ diện của tôi chớ không khôn ngoan tính toán như Phụng chút nào, cho nên cuối cùng tôi cũng phải thú nhận rằng mình thua kém vợ, thú nhận một cách tâm phục khẩu phục.

Chuyện mà lần đó xảy ra cho đến bây giờ tôi vẫn không thể nào quên được. Tôi không dám nói là họa hay phúc đã xảy ra cho tôi. Phúc thì đã không như vậy mà họa thì lại càng không phải. Tôi nhớ đến mức độ rành rọt dù đã biết bao nhiêu năm trôi qua rồi. Ký ức thật là diệu kỳ, có những điều mà dù muốn hay không người ta vẫn không thể nào quên nó đi được.

Lần đó tôi cao hứng, mua xong chuyến hàng tôi cho người áp tải về cho vợ, thay vì về nhà tôi lại đón xe đò lên tuốt Đà Lạt. Xin nhắc lại là trước đây tôi đã từng học tại Trường Đại học Đà Lạt bốn năm, nên Đà Lạt đối với tôi không có gì lạ lùng cả. Chỉ là lâu quá tôi không tìm lên mà thôi, tự nhiên cảm thấy như có cái gì thôi thúc mình đến đó.

Trời Đà Lạt 4 mùa trong một ngày, buổi sáng trời mát mẻ của mùa xuân, buổi trưa có chút nắng thênh thang mùa hạ, buổi chiều ngây ngất một trời mùa thu và buổi tối co ro áo khoác mùa đông. Thơ mộng như thế mà không hiểu sao 4 năm đại học tôi chẳng có mối tình nào vắt vai, mặc dù trọ học ở cái nơi người ta gọi bằng đủ thứ tên lãng mạn: Thành phố buồn, thành phố ngàn hoa, thành phố tình yêu, thành phố sương mù… Nên cái việc tôi đến Đà Lạt lần này đơn thuần là vì tôi cảm thấy nhớ chính cái thành phố xinh đẹp đó chứ không phải vì vấn vương một bóng hình nào ở đó.

Nhưng thật ra đây là nghiệp chướng thôi mà, giá như tôi không đến Đà Lạt ngày hôm đó, hoặc giả như tôi cao hứng nhớ tới chút nào thành phố sương mù ấy thì tôi đã không có những tháng ngày thần tiên hay địa ngục như mười mấy năm nay. Vì sao à? Thong thả rồi tôi kể tiếp, đằng nào thì hôm nay tôi cũng phải kể hết ra cho anh nghe . Việc gì mà vội.

Tôi đã nói Đà Lạt là thành phố của tình yêu, của ngàn hoa và sương mù lãng đảng. Khắp Đà Lạt đi đâu cũng thấy hoa, mùa nào cũng có hoa. Hoa ở khắp nơi, hoa trong chợ, hoa trong vườn, hoa ở những chiếc xe mang đi khắp nơi, trong thành phố và ngoài thành phố, hoa cả ở những bụi cây quanh đường, trên bờ cỏ và bất cứ nơi nào người ta cũng nhìn thấy chúng. Những ngày mùa đông hoa dã qùy nở vàng khắp nơi, trời mùa xuân rực rở những bụi cây mâm xôi nhỏ li ti trên đường, mùa hạ lại rực ánh vàng lên của hướng dương và mùa thu thì ngập tràn cúc dại. Đây là tôi chỉ nói đến các loài hoa dại tự sinh tự phát, chứ chưa nói đến các loài hoa cao sang qúy tộc được trồng, tưới bón nâng niu. Lúc đó hoa còn là một loài xa xí phẩm, không như bây giờ hơi tý là mang hoa đến tặng nhau đâu.

Nhưng không vì thế mà Đà Lạt lại vắng hoa, Suốt bốn năm trời tôi chưa bao giờ thấy Đà Lạt thiếu hoa. Đó là tôi chỉ ở trong có bốn năm, chứ người Đà Lạt gốc ấy hử, người ta cả đời chả bao giờ thấy Đà Lạt thiếu hoa cả. Người ta nói như vậy. Và tôi thì trong cái ngày định mệnh ấy tôi lại còn tìm thấy một loài hoa đối với tôi qúy hơn mọi thứ hoa trên đời này.

Hôm đó là một ngày đầu mùa đông, hoa dã qùy nở rộ trên khắp hang cùng ngỏ hẻm của cái thành phố thơ mộng này. Tôi đến đó vào buổi chiều, trời bảng lảng hoàng hôn, nhạt nhòa sương phủ núi đồi; trong cái lạnh se se Đà Lạt đẹp như một thiếu nữ rủ tóc bên bờ suối. Tôi bị hút hồn trong cái không gian lãng mạn đó, xỏ hai tay vào túi quần đi lang thang quanh hồ Xuân Hương, thỉnh thoảng lại ngồi xuống bên vệ đường nghỉ chân. Tôi có thể nói với anh rằng, nếu anh đi trên bất cứ con đường nào của Đà Lạt, mõi chân xin mời anh ngồi xuống nghỉ bên đường. Sẽ không có ai nhìn anh bằng đôi con mắt lạ lẫm cả, không như ở những nơi khác, nhất là Sài Gòn, ngồi như thế người ta sẽ bảo mình điên.

Đà Lạt thì không vậy, mõi chân xin anh cứ ngồi, ngồi chán lại đứng lên đi, chuyện thường ngày ở tỉnh rồi. Đó là nhận xét của một nữ du khách nói với tôi, và tôi thấy đúng. Tôi đi quanh đồi Cù, lúc đó người ta chưa làm sân Golf như bây giờ, rồi tôi leo lên đồi, tìm một nơi cỏ sạch sẽ nằm nhắm mắt, hít thở cái mùi thiên nhiên độc đáo của Đà Lạt. Rồi tôi thấy cái gì, tôi thấy từ xa một bóng hình phụ nữ uyển chuyển đi tới, một dáng dấp thật là sang trọng và yểu điệu thướt tha trong bộ quần áo lụa màu hoa Cúc. Cô gái ấy hình như không biết có tôi, ngồi xuống bên bờ hồ nhìn ra mặt nước, quay về phía tôi mái tóc xỏa dài và tấm lưng óng ả đẹp như những nàng tiên nữ trong chuyện liêu trai. Trời không còn sáng lắm cho tôi được nhìn rõ nàng nhưng như có một ma lực kéo tôi ngồi dậy, rồi tôi lại từ từ nhẹ nhàng khẽ bước đi đến gần. Sắp đến nơi tôi nghe tiếng nức nở, trời ơi, cô ấy đang khóc, tiếng khóc nghe sao mà đứt ruột đứt gan, Tôi rùng mình khi nhớ lại những câu chuyện hồ ly tinh trong Liêu trai chí dị của Bồ Tùng Linh, nhưng rồi tôi cũng không ngăn được tò mò, cố gắng nhẹ nhàng đến bên cô ấy.

Tôi làm cô ấy giật mình quay lại bằng cách đá bay một hòn sỏi trên đường. Khi cô ấy ngẩn lên tôi tưởng như tôi đã gặp phải một hồ ly thứ thiệt. Đẹp, chỉ một tiếng thôi là đủ nói lên mọi thứ rồi. Mặc dù khi đó trời đã bắt đầu chập choạng tối nhưng không vì vậy mà tôi không nhận ra cái vẻ đẹp mê hồn của cô ấy. Tôi chỉ kịp ngồi xuống hỏi: sao cô khóc là gần như điếng người khi cô ấy ngã dụi vào lòng tôi nức nở sụt sùi. Cô ấy khóc rất lâu trong tay tôi, khóc như mưa dầm tháng bảy, khóc mãi cho tới khi tôi phải cố gắng lắm mới dìu được cô ấy đứng dậy, cô ấy gần như lã người đi.

Rồi tôi đưa cô ấy về, về ngôi nhà trọ của cô ấy sau khi đã trở lại khách sạn lấy valy. Tiếng được tiếng mất cô ấy kể cho tôi nghe cô ấy bị phụ tình, định ra bờ hồ tự tử thì gặp tôi. Hú hồn, tôi mà ngủ quên thì đã để cho thế gian mất đi một bông hoa xinh đẹp. Tôi dỗ dành cô ấy và trời xui đất khiến nào không biết tôi lại hứa với cô ấy là sẽ quan tâm lo lắng cho cô ấy.

Tôi không biết mọi người nghĩ về tôi như thế nào nhưng quả thật tôi đã đắm đuối ngay khi lần đầu tiên nhìn thấy cô ấy. Đôi mắt cô đẹp hơn đôi mắt Phụng và còn hơn cả mắt Quế Anh. Trong khi đôi mắt Phụng sáng long lanh và đôi mắt Quế Anh đẹp u buồn thì mắt cô gái này ướt át tình tứ. Cái mũi thanh tú hơi hếch lên kiêu căng mà cả vợ tôi và Quế Anh đều không có. Nhưng đôi môi cô giống hệt đôi môi Quế Anh, lại còn đỏ thắm hơn. Nguyệt Lan, tên người phụ nữ đó, cái tên đẹp như người, yếu đuối và mong manh như cánh hoa. Cái cảm giác đàn ông mạnh mẻ được che chở cho người phụ nữ bừng sống lại trong tôi, sau một thời gian bị chai lì khi sống bên người vợ quá đảm đang. Tôi lại nghĩ mình như một anh hùng cứu giúp mỹ nhân và đắm say như một vì vua bên mỹ nữ.

Ngay tối hôm đó tôi ở lại với Nguyệt Lan và lại khám phá ra nàng là người đàn bà tuyệt tác của tạo hóa, Hình như ông trời không bắt nàng phải mang một khuyết điểm gì, từ tướng đi uyển chuyển, giọng nói mê hồn cho đến suối tóc óng ả, rồi đến làn da nõn nà và một thân hình tuyệt mỹ không chút tì vết. Vậy mà cái thằng khốn nào dám bỏ rơi của báu trần gian này thật tình là thằng đó mắc bệnh điên, đáng cho sét đánh, đáng cho xe tông. Tôi vừa vuốt ve nàng vừa thầm chửi rủa cái thằng đàn ông đến trước mình. Thằng chó đó nó đã hưởng lộc trời mà còn phí của, dám vất đi một tuyệt tác thiên nhiên thế này để chút xíu nữa thôi thì hồ Xuân Hương đã nhận về một con ma da nhớt nhát lạnh ngắt. May là có tôi, người hùng cứu mỹ nhân, vậy thì sao tôi lại uổng phí công lao vĩ đại của mình chớ.

Một đêm hoan lạc còn khiến cho tôi biết thêm một điều lý thú nữa là Nguyệt Lan của tôi là một người đàn bà tuyệt vời. Tôi lấy vợ đã tám năm hương lửa mặn nồng mà không bằng một đêm thức cạnh người ngọc. Tôi không biết phải nói sao với anh nhưng quả thật tôi biết mình không thể nào xa rời được người phụ nữ này. Nguyệt Lan như cục nam châm hút chặt tôi vào cảm giác mê đắm của dục vọng, mà tôi thì như một thằng nhà quê đói ăn được mời dọn lên bữa tiệc ê hề, no say ứ hự mà vẫn không muốn đứng dậy.

Tôi ở lại Đà Lạt một tuần, một tuần đó tôi chẳng thể đi đâu nỗi, quên hết tất cả mọi công việc làm ăn, chỉ biết nghe theo lời yêu cầu của nàng. Mà Nguyệt Lan là người phụ nữ vô cùng khôn khéo, chỉ cần nàng nghiêng đầu rưng rưng nước mắt là tôi thấy như muốn hái mặt trời xuống cho nàng vừa lòng. Chúng tôi đi ăn, đi nghe nhạc, đi dạo và nhất là quấn quýt bên nhau. Lan thua tôi đến hơn mười tuổi nên đối với nàng tôi yêu chiều như đối với đứa trẻ. Đối với tôi một tuần lễ đó thật sự là những ngày đẹp nhất đời tôi.

Qua đến tuần sau thì tiền tôi mang theo đã gần hết, tôi lại thấy cần phải về nhà vì đã đi khá lâu. Nguyệt Lan khóc như mưa không chịu rời tôi bước nào làm cho tôi thấy lúng túng và còn thương yêu nàng hơn. Sau cùng tôi phải nói thật với nàng là tôi đã tiêu gần hết số tiền tôi có, nếu ở đây cũng không làm sao chúng tôi sống nổi trong tuần lễ tiếp theo. Rằng tôi cần phải về nhà để lấy thêm tiền cho cuộc sống của tôi với Lan sau này. Sau khi năn nỉ và hứa hẹn thề thốt mọi điều Lan mới cho tôi xách valy về Sài Gòn.

Tôi lên xe trong tâm trạng lo âu, không biết phải nói sao với Phụng về số tiền đã tiêu hết và một tuần không liên lạc được. Suốt một chặng đường dài 300 cây số tôi nghĩ ra đủ cách để nói dối vợ, Nghĩ tới nghĩ lui mà cũng không biết nói cách nào. Rồi tôi còn nghĩ tới đủ mọi thứ để tự bào chữa cho cái tội trăng hoa của mình. Nào là vì thấy Lan yếu đuối, nào là vì Lan có đôi mắt đẹp và đôi môi giống như Quế Anh, nào là vì bên Phụng tôi luôn luôn có cảm giác bị vợ thương hại, nào là do tôi đàn ông xa nhà yếu đuối. Đủ mọi thứ cho tôi tự bào chữa cho mình, nhưng thật lòng tôi biết chắc: Tôi đã bị Nguyệt Lan lấy mất hồn vía ngay từ phút đầu nhìn thấy cô ấy.

Gần tới nhà tôi nghĩ đi nghĩ lại thấy mình thề thốt với Nguyệt Lan như thế thật không ổn chút nào. Một tuần qua tôi với Nguyệt Lan tiêu mất một số tiền khá lớn do nàng cứ thích vào các nơi sang trọng mà tôi thì chẳng dám chối từ, đã thế Lan lại còn thích mua sắm đủ thứ, mà cái giọng ngọt ngào của nàng cất lên thì có bao nhiêu trong túi tôi cũng phải móc ra. Nếu đúng như lời hứa với Lan tôi sẽ bỏ vợ để lên Đà Lạt với nàng thì tôi không biết phải có bao nhiêu tiền để sống. Chắc là cái thằng bồ trước của Lan cũng vì như vậy mà cuốn gói ra đi . Nhưng biết sao bây giờ, muốn có hàng đẹp thì phải bỏ ra nhiều tiền chứ, chỉ có của ôi mới rẻ thôi.

Rồi tôi chợt giật mình khi nhớ đến vợ. Lúc Phụng quen tôi tôi là thằng đàn ông không một xu dính túi, bạc nhược như sắp chết đến nơi, Vậy mà Phụng lại yêu thương, giúp đỡ tôi. Trong bao nhiêu năm nay Phụng luôn là vị thần hộ mệnh cho tôi, không có cô ấy tôi có được hồng hào, sang trọng như thế này không.

Rồi tôi lại tự nói với mình rằng chính vì cô ấy thông minh quá, khôn ngoan quá, giỏi giang quá nên đã làm cho cái hào khí đàn ông trong người tôi lụn bại. Đứng bên cô ấy tôi thật tầm thường, nhạt thếch trong khi cô ấy lấp lánh như một ngôi sao. Rồi tôi lại đổ thừa cho Phụng không biết chiều chuộng chồng, không biết những kinh nghiệm phòng the làm cho tôi say đắm. Nhưng tôi cũng tự biết nếu tôi rời Phụng ra tôi chưa chắc gì làm ăn ra hồn, lấy đâu tiền mà cung phụng cho Nguyệt Lan. Trong đầu óc tôi bao nhiêu cái điều hỗn loạn quay cuồng.

Khi tôi về tới nhà thì Phụng vẫn còn đang ngoài xưởng cưa. Tôi vô phòng nằm đắp mền giả bộ bệnh. Bốn giờ chiều thì Phụng về, người làm công đã nói cho Phụng biết nên nàng đi thẳng và phòng hỏi tôi:

- Anh bệnh sao vậy?

Tôi giả vờ uể oải:

- Sốt rét cả tuần nay.

Phụng băn khoăn:

- Sao không nhắn về nhà cho em hay?

Tôi gắt gỏng:

- Hơi sức đâu mà kiếm người nhắn.

Phụng thở dài đi ra, gọi người làm nấu cho tôi nồi cháo. Thật ra do Phụng là người miền Tây, không có kinh nghiệm về bệnh sốt rét nên tôi mới lừa được vợ chứ nếu Phụng là dân miền Đông nam bộ thì đố mà tôi lừa nổi. Người bị sốt rét cả tháng sau mặt mũi còn xanh lè xanh lét có đâu mà đỏ au hồng hào như tôi. Đó là chưa nói chỉ cần kiểm tra vết chích thuốc là biết ngay thật giả liền.

Lần đó vợ tôi không hỏi han tôi nhiều lắm, tôi cũng đã tập tành cho mình thói nói dối vợ. Đôi lúc tôi cảm thấy xấu hổ với chính mình nhưng tôi lại cố tình lấp liếm. Tôi cứ cố gắng bảo với tôi rằng Nguyệt Lan là bản sao của Quế Anh dù tôi biết rõ ràng không phải vậy. Càng ngày tôi càng lún sâu vào cuộc tình tội lỗi này mà cứ tự ngụy biện, tự bào chữa cho mình một cách vô lý. Tôi luôn luôn tìm cách xoay tiền, tôi luôn tìm mọi cách để đi hết chuyến này đến chuyến khác dù thật ra có mấy lần tôi mua bán được gì cho ra hồn.

Vậy mà Phụng cũng không quan tâm đến tôi, cô ta cứ bỏ hết sức lực tâm trí vào việc kiếm tiền. Tiền qua bàn tay Phụng cứ chảy ào ạt vào nhà đến nỗi gần như cô ấy chẳng buồn để ý đến việc tôi kiếm ra được bao nhiêu. Trong khi đó tôi hết sức tiết kiệm, dè sẻn phần của bản thân tôi để cung cấp cho Nguyệt Lan, nhất là từ khi Lan han hoan báo cho tôi biết nàng đã có thai. Tôi nửa vui nửa buồn, lo lắng không biết phải tốn kém bao nhiêu cho đủ để cung phụng cho cả hai mẹ con.

Rồi Nguyệt Lan sinh con gái. Nàng nũng nịu đòi hỏi quyền lợi của 2 mẹ con, đòi tôi phải mua một ngôi biệt thự cho Lan và con gái. Trong con mắt Nguyệt Lan tôi là một ông chủ làm ra tiền như nước, nàng không hề biết thật ra tôi chỉ là thằng ăn nhờ lộc vợ. Trước sự đòi hỏi quá cao của Nguyệt Lan, tôi đành phải thú nhận cho Lan biết người thực sự nắm tiền bạc trong nhà là bà vợ đảm đang của tôi, chớ tôi thực sự chỉ là cái bóng trong gia đình. Nguyệt Lan tru tréo:

- Trời ơi đất hỡi nhìn xuống mà coi, răng tui phải khổ thế ni hở trời. rồi mẹ con tui biết sống ở mô hở trời. Răng mà số tui khốn nạn rứa?

Tôi khổ sở:

- Anh đâu có để cho mẹ con em phải thiếu thốn gì đâu.

Lan gào lên:

- Tui không biết mô. Tui là vợ, tui phải được đối xử như người ta. Tui phải có nhà cao, cửa rộng như con nớ. Tại răng anh lo cho hắn mọi thứ mà mẹ con tui phải khổ như ri hở trời.

Tôi nhăn nhó:

- Tiền bạc lớn nhỏ gì cũng của bã làm ra hết mà em.

Lan trợn mắt:

- Anh nói răng? Con người anh ăn học như rứa mà không mần ra tiền. Con nớ thất học biết chi mô mà làm ăn. Chẳng qua nó thấy anh thiệt thà nó qua mặt anh, không phải anh túi ngày đi buôn đi bán thì hắn lắy chi mà kinh doanh, không có gỗ của anh thì xưởng cưa của hắn chặt chưn bỏ vô cưa à?

Tôi xuôi xị:

- Không có anh bà ấy vẫn làm được như thường.

Lan lồng lộn:

- Mần răng anh binh hắn dữ rứa. Hắn là mẹ anh hay răng? Tui cũng vợ anh mà anh không coi tui ra chi. Tui nói thiệt, thử giao tài sản cho tui coi tui có làm ra gấp năm gấp bảy lần không cho biết. Anh ngu chi ngu dữ tề.

Tôi cố gắng đấu dịu:

- Anh đâu có biểu em làm. Em cứ ở vậy coi con là được mà. Tiền bạc anh đem về cho em.

Lan lăn ra khóc thảm thiết. Tôi xót xa nhưng không biết phải làm sao. Làm sao tôi tin nỗi Lan có thể làm ăn được như Phụng, biểu nàng xài tiền nghe dễ hơn. Nhưng nhìn thấy Lan đau khổ như vậy tôi đứt ruột đứt gan. Khóc một lát Lan ôm tôi:

- Anh nì, anh về giải quyết vụ ni cho em.

Tôi ngần ngại:

- Giải quyết làm sao?

Lan suy nghĩ :

- Anh về ly dị với nó, chia của ra.

Tôi khổ sở:

- Em ơi. Của cải vốn liếng gì cũng là của bà ấy. Anh có chia cũng được bao nhiêu đâu.

Lan giãy lên:

- Răng anh ngu rứa. Người ta nói của chồng công vợ mà. Con vợ anh có làm mấy thì cũng là của anh. Nếu anh không quản lý tiền bạc thì ngu dốt như hắn liệu có giữ được đồng tiền mô không ?

Rồi nàng đế thêm:

- Anh đi hỏi khắp cái tỉnh ni coi có ai không biết chữ mà làm ra tiền không. Cái đồ thất học như ri có miếng cơm đút vô miệng là giỏi rồi.

Rồi Lan ôm chặt tôi, tình tứ:

- Người giỏi giang như ri mà lấy chi con đàn bà ngu dốt để ở lâu ngày với hắn rồi sinh ra khờ khại quá không biết.

Tôi lại rơi vào cái bẫy êm ái ngọt ngào của người phụ nữ được trời ưu ái mọi điều đó. Lúng túng một cách hân hoan và hãnh diện. Cho đến hết tuần đó, ngày nào Lan cũng bơm vào đầu óc tôi cái tư tưởng ly dị với Phụng mà tôi thì thật tình không hứng thú chút nào.

Tối đó, ăn cơm xong Phụng ngồi chơi với con, tôi ngần ngừ mãi không biết phải mở đầu như thế nào, Thật ra trong lòng tôi biết cuộc đàm phán này không đem lại kết quả gì nhưng những lời năn nỉ ỉ ôi, những giọt nước mắt ngắn dài của Nguyệt Lan làm cho long tôi như có lửa đốt. Tôi ngồi trên ghế bành, đốt thuốc liên tục hết điếu này đến điếu khác, giả bộ như coi lại sổ sách mà thật ra có tâm trí gì đâu. Phụng hỏi tôi:

- Anh nhắm có lựa được chiếc xe nào hông?

Tôi giả bộ càu nhàu:

- Mua xe làm chi cho mất công.

Phụng thật thà:

- Mua được thì mua, cho anh đi tới đi lui đỡ mệt.

Tôi phàn nàn:

- Mua xe thì phải kiếm tài xế nữa. Rắc rối.

Phụng cười:

- Thêm một người cũng có sao đâu, miễn là người thiệt thà, giỏi giang.

Rồi không biết là có phải sực nhớ ra hay không, Phụng nói luôn:

- Hay là để em kêu anh Ba lên lái xe cho nhà mình luôn cũng được, Ảnh biết lái xe, có bằng mà còn có chút đỉnh nghề võ, có đi đâu cũng yên tâm hơn.

Tôi sa sầm mặt, Thì ra cô ta muốn mua xe, thuê tài xế để quản lý tôi đây mà. Đi với anh vợ thì có khác nào bị tù giam lỏng. Cô ta nào có ý tốt lành gì với tôi đâu chứ. Chừng như chưa vừa ý, Phụng nói thêm:

- Anh tính coi, bây giờ trộm cướp lừa đảo nhiều lắm, anh yếu đuối, đi một mình mà tiền bạc thì nhiều. Gặp người tốt không nói gì, người xấu rồi mình đâu có xoay trở kịp, Mình có đủ tiền mua xe thì mình cứ mua, vậy nghe anh.

Thế là cô ta đã quyết định rồi đó. Tôi ghét cái kiểu cách này của Phụng, cô ta ỷ thế làm ra tiền nhiều nên ưng cái gì là quyết cái đó liền, hỏi ý kiến tôi chẳng qua là để cho tôi khỏi mang mặc cảm thôi. Không bù cho Nguyệt Lan, việc gì nàng cũng để mặc tôi quyết định mặc dù nhiều lúc nàng cũng muốn ép tôi đến đường cùng, nhưng nàng chỉ khóc lóc chớ không dứt khoát mạnh mẻ như vợ tôi. Tôi bực bội đi ra khỏi phòng, lên tầng trên đi tới đi lui, càng đi càng thấy bực mình thêm. Ai bắt mà vợ tôi cho xây cái nhà rộng thênh thang như vậy chớ, vợ chồng con cái ở được bao nhiêu mà làm cho tới hai ba tầng lầu. Kiểu này chắc là Phụng muốn đem bà con giòng họ tới đây nuôi dưỡng chớ gì. Phải rồi, nhà tôi đâu còn ai, mặc dầu Phụng nói là xây nhà rộng để khách khứa tới có chỗ nghĩ , để có lỡ anh chị tôi ở nước ngoài có về tìm ra cũng còn đến mà ở được nhưng biết bao giờ anh chị tôi mới về đây. Chẳng qua cô ta muốn rước gia đình nhà Ba Lân lên ở chứ gì.

Một lúc sau tôi bình tâm trở lại, xuống phòng. Lúc này Phụng đã đưa thằng nhỏ vô giường ngủ. Nhìn cảnh hai mẹ con nằm bên nhau trong giường tôi lại nhớ đến mẹ con Nguyệt Lan. Giá như bây giờ ở đây không phải là mẹ con Phụng mà là mẹ con Nguyệt Lan thì tôi hạnh phúc biết chừng nào. Tôi thở vô thở ra không biết bao nhiêu lần mà vẫn không sao biết bắt đầu câu chuyện như thế nào.

Một lát, thằng nhỏ đã ngủ yên, Phụng khoát mùng ra đến bên tôi. nhắc nhở:

- Khuya rồi, đừng hút thuốc nữa anh.

Lại dạy đời, ở Đà Lạt tôi hút hết điếu này Nguyệt Lan châm điếu khác cho tôi, còn khen mùi thuốc tôi hút thơm, sang trọng. Tôi gắt gỏng:

- Khuya rồi thì đi ngủ đi.

Phụng không nghe, cô ta ngồi lên salon, dọn dẹp mớ đồ chơi của con, hỏi:

- Buôn bán có chuyện gì hông mà sao anh thở ra thở vô, đi tới đi lui hoài vậy?

Lại buôn bán, sao cô ta không quên nỗi cái từ này vậy không biết. Cái chuyện làm tôi ưu tư đâu phải tiền bạc, buôn bán gì đâu. Phải rồi người như cô ta chỉ biết đồng tiền thôi, đâu biết suy nghĩ của chồng như thế nào. Cô ta đâu có biết nỗi khổ tâm của tôi đâu chứ. Vậy thì làm sao mà nói là vợ hiểu chồng, Nguyệt Lan nói đúng quá mà, người thất học như Phụng làm sao mà tương xứng với tôi được chứ.

Phụng lại nói:

- Em thấy lúc này anh không khoẻ. Thôi hay là anh nghỉ đi hàng đi. Một cái xưởng cưa này mà khéo quản lý thì vợ chồng mình sống yên ổn tới già rồi, đâu cần thêm gì nữa đâu.

Khéo quản lý. Cô ta lại chửi xéo tôi đây mà. Ý là thời gian trước tôi quản lý quá dở nên xưởng cưa suy sụp, còn bây giờ cô ta giỏi giang nên xưởng cưa ngày một phồn thịnh, lên như diều gặp gió chớ gì.

Tôi gầm gừ trong miệng:

- Đương làm ăn được sao mắc mớ gì phải nghỉ.

Phụng từ tốn:

- Lời lãi cũng hổng được bao nhiêu mà trên đó hay bị sốt rét lắm. Bệnh hoạn rồi thuốc men cũng vô đó thôi.

Tôi thoáng ăn năn. Phụng đâu có biết lâu nay tôi lấy lời lấy vốn nuôi mẹ con Nguyệt Lan. Lần nào về tôi cũng giả bộ than đau than bệnh, có lần giả bộ bị kiểm lâm tịch thu. Thật ra công việc đâu có gì trắc trở, chẳng qua tôi chẳng dám mở miệng nói ra thôi. Nhưng nếu không đi hàng nữa thì tôi lấy cớ gì đến với mẹ con Nguyệt Lan đây? Lòng tôi chuyển sang rối bời. Tôi say đắm Nguyệt Lan mất rồi, thà tôi mất mẹ con Phụng chứ tôi không thể nào rời xa Nguyệt Lan được.

Tôi phản đối mạnh mẻ:

- Dẹp cái vụ đó đi nghen. Tôi không có ăn nhờ ở đậu đâu nghen.

Phụng nhìn tôi:

- Sao anh nói gì lạ vậy? Em có nói gì bậy đâu?

Tôi càng hung hăng:

- Tôi cũng là người kiếm ra tiền chứ. Tôi đâu phải người ở cho cái nhà này mà muốn bảo tôi làm là làm, tôi nghỉ là nghỉ đâu ?

Phụng thở ra:

- Việc ở xưởng cưa đầy ứ, em làm một mình hổng xiết, có anh thì em đỡ biết bao nhiêu.

Tôi gào lên:

- Tôi không phải thằng bám váy vợ.

Phụng lắc đầu:

- Không nói với anh nữa. Em tình thật muốn cho anh đỡ cực mà anh cứ nghĩ sai cho em hoài. Nói thiệt tình cả năm nay anh có đem về nhà đồng nào đâu. Còn thâm thêm vốn liếng nữa, đâu phải em không biết.

Tôi lì lợm:

- Biết hay không cũng mặc kệ. Tôi muốn làm gì rôi tôi làm.

Phụng liếc xéo tôi:

- Không phải muốn làm gì là làm đâu, cái gì cũng có lúc phải dừng lại thôi.

Tôi chột dạ. Cô ta muốn ám chỉ gì đây? Hay là cô ta đã biết chuyện của tôi. Vô lý. Tôi đi một mình, về cũng một mình. Nguyệt Lan chưa bao giờ tháp tùng tôi ngoại trừ một vài lần đi sắm sửa nàng bắt tôi phải đi theo. Có ai đâu mà biết chớ.

Tôi giả vờ dọ ý:

- Ăn nói kiểu gì vậy?

Phụng thủng thẳng:

- Tự anh biết mà.

Tôi nổi xung:

- Cô muốn ám chỉ gì chứ ?

Phụng nói chậm rãi:

- Cái gì sai thì đừng làm.

Tôi phát khùng. Tôi yêu Nguyệt Lan thì có gì sai. Tại sao Phụng không hiểu là với tôi Phụng chỉ là một người vợ suốt ngày cứ chăm chắm vô chuyện cơm áo, con cái. Tôi còn muốn có một người thông cảm, hiểu biết tôi hơn nữa kìa. Phụng có đáp ứng được yêu cầu của tôi đâu chứ. Tôi nói liều:

- Sai hay không tự tôi biết. Cô đừng có xen vô.

Hình như bây giờ Phụng bắt đầu không kềm chế được, cô ta long lanh hai mắt nhìn tôi.

- Có chắc là anh không biết sai đúng hay không?

Tôi lại gào lên:

- Tôi chẳng làm gì sai cả.

Phụng gằn giọng:

- Chắc không?

Tôi câm giọng. Quả thật việc này không thể có ai nói không sai. Nhưng người ngoài làm sao hiểu được tôi, họ đâu biết với tôi Nguyệt Lan quan trọng như thế nào. Sai hay không gì tôi vẫn cứ phải làm như thế.

Phụng bước tới cửa sổ khép lại:

- Chuyện gì qua rồi em không nhắc tới, không nhắc chớ không phải không biết.

Tôi làm liều:

- Cô biết được tới đâu?

Phụng nghiêm nghị:

- Biết anh có một người đàn bà khác.

Tôi biết đã đến lúc phải nói:

- Còn hơn vậy nữa.

Phụng ngỡ ngàng:

- Là sao?

Tôi điềm nhiên:

- Tôi có một đứa con gái rồi.

Phụng cắn chặt môi, thả người xuống salon, một lát sau mới nói:

- Đúng là em biết quá trễ. Bây giờ anh tính sao?

Tôi vênh váo:

- Tính sao? Cô biểu tôi tính sao.

Phụng ôm mặt một lúc nhưng không khóc. Tôi ghét cái tính này của Phụng. Việc gì buồn đến đâu cô ta cũng chỉ lặng lẽ khóc thầm chứ không ồn ào như Lan. Loại đàn bà cứng rắn thế này chỉ tổ làm trái tim đàn ông của tôi chai lại. Nước mắt khiến trái tim người ta mềm đi, Nguyệt Lan hiểu điều này nên buộc tôi dễ dàng, chỉ vì Phụng không được học hành nên cư xử với chồng không ra chi. Đó là lúc đó tôi nghĩ vậy.

Lâu sau Phụng mới lên tiếng:

- Bây giờ anh muốn ly dị phải không?

Tôi ngần ngừ. Quả thật là đây là ý kiến của Nguyệt Lan nhưng không phải là tâm ý của tôi. Con người tôi tham lam, dù có Nguyệt Lan tôi vẫn không muốn mất Phụng. Ít nhất bên Phụng cho dù không có sự đồng cảm nhưng tôi luôn luôn vững tin về kinh tế, không phải lo lắng chút gì, còn với Nguyệt Lan tôi phải chu tất mọi thứ từ A đến Z. Tôi hỏi lại:

- Không còn cách gì khác à?

Phụng hy vọng:

- Anh muốn cách gì?

Tôi ngập ngừng:

- Cách gì cho ổn thỏa hơn.

Phụng hiểu nhầm:

- Nếu anh chấm dứt tình trạng này, em coi như không biết gì cả. Còn anh thu xếp sao cho đừng thiệt thòi mẹ con người ta.

Tôi cười phá lên:

- Cô nhầm rồi. Tôi không có ý đó.

Phụng ngạc nhiên:

- Vậy là sao?

Tôi tàn nhẫn:

- Tôi bỏ được cô thì bỏ chứ không bỏ người ta đâu.

Phụng giận xanh mặt:

- Vậy thì ly dị đi. Tài sản ai làm người đó hưởng.

Tôi không chịu:

- Tôi không ly dị. Tại sao tôi phải ly dị ? Nhà cửa rộng rãi thế này tôi lấy thêm một bà vợ nữa không được sao?

Phụng cười mũi:

- Anh tưởng tôi ngu đến mức đưa lưng ra làm cung phụng mẹ con họ sao?

Tôi quát lên:

- Ai cần cô, tôi làm cũng dư sức nuôi vợ con tôi rồi.

Phụng phá ra cười, cười chảy nước mắt nước mũi, chưa khi nào tôi thấy Phụng cười nhiều như vậy, cười đến mức tôi phát sợ, cười như không còn kềm hãm lại được, cười như một người điên loạn, cười như trúng phải một loại thuốc gây cười nào đó.

Cười đã đời rồi cô ả mới nói:

- Ai ở ngoài không biết thì thôi, tới anh mà không lẽ anh không tự biết con người anh sao. Mười năm nay anh làm được cái gì ? Gia sản này một tay tôi gây dựng, anh đụng tới đâu là thua lỗ tới đó. Tôi thương anh nên tôi cố tình đứng sau lưng anh để anh khỏi mặc cảm, khỏi mắc cở vì thua vợ chớ đâu phải tôi không biết gì. Luôn cái chuyện anh vợ bé vợ mọn tôi cũng nói chắc anh chỉ quen biết qua đường thôi, không ngờ anh tự hào về mình dữ vậy. Mà thôi, anh đã coi đó là vợ con anh thì tôi còn biết nói làm sao?

Tôi tức điên cả người. Cô ta đã chạm đến cái vết thương lòng lâu nay của tôi. Tôi vẫn biết so với cô ấy tôi luôn luôn thua kém, cô ấy như vầng hào quang đi đến đâu chói sáng đến đó, còn tôi thì mờ nhạt như một cái bóng mặc dù cô ấy luôn luôn động viên, luôn luôn giới thiệt với mọi người tôi là ông chủ, là người đứng đầu trong gia đình. Nhưng sự thật luôn luôn giày xéo trái tim tôi mỗi lần tôi coi lại sổ sách thấy gia sản mình tăng vọt, mỗi lần tôi xem lại hợp đồng buôn bán thấy càng lúc càng nhiều đến nỗi Phụng phải thuê thêm người quản lý, điều hành, mỗi lần tôi đến xưởng cưa hay có dịp chiêu đãi khách hàng, nhìn thấy vẻ kính trọng của người khác đối với Phụng. Những lúc như vậy tôi thấy mình thật thừa thải, thật nhỏ bé, thật ngượng ngùng. Tôi ấm ức nói liều:

- Cô đừng tưởng cô giỏi giang hơn tôi. Thật ra cô chỉ được cái may mắn mà thôi, Cô chỉ là một đứa thất học, cái gia sản này nếu không có tôi giữ gìn thì cô còn biết giữ được xu nào hay không. Người ta có bằng cấo nọ kia như tôi mới xứng đáng được làm ông chủ bà chủ, hạng không biết chữ nghĩa gì như cô lấy đâu ra danh phận đó. Cứ thử bây giờ đổi lại cô trắng tay như tôi ngày xưa xem cô có làm nỗi ra đồng bạc nào không mà cô vênh váo. Tài sản này là công lao tôi gìn giữ chắt bóp mới có ra, Cô tưởng cô mà xứng đáng giữ nó à? Chỉ có những người có ăn có học mới có thể làm chủ được đồng tiền thôi cô biết chưa ?

Phụng giận xanh mặt, lần đầu tiên sau mười năm vợ chồng tôi mới thấy những giọt nước mắt đầu tiên của cô lăn trên má. Tôi đâm ra hối hận vì những lời nói của mình. Quả tình tôi đã nói sai, nói bậy không biết bao nhiêu mà kể, chỉ vì tôi ám ảnh trong đầu cái tư tưởng Nguyệt Lan bơm cho tôi nên tôi mới lớn giọng như thế.

Phụng quày quả bước vô phòng, ôm thằng nhỏ đang ngủ trên giường dậy. Cô ta nhìn trừng trừng vào tôi:

- Anh giỏi lắm. Anh đã khinh tôi không biết chữ. Anh đã tự nhận công lao này của anh. Anh đã thách đố tôi làm lại gia sản này. Vậy thì tôi làm cho anh sáng mắt.

Tôi nói cứng:

- Cô có ngon thì để lại hết đi, thử coi cô có giỏi giang làm được một lần nữa như vậy không?

Phụng cười khinh bỉ:

- Còn tôi chống mắt thử coi anh có giữ nổi được cái tài sản này hay không?

Ôm con, Phụng lầm lũi đi xuống lầu, không thèm cầm theo bất cứ cái gì. Tôi nghĩ thầm chắc cô ta chỉ đi ra để chờ tôi năn nỉ nhưng không ngờ Phụng đi thẳng luôn ra mở cổng, tôi lật đật chạy theo nhưng không kịp. Cánh cổng đóng lại khi tôi mới bước chân ra khỏi cửa và tôi nghe tiếng xe rít rợn người.

Sau khi Phụng chết được một tháng, tôi tuy đau lòng nhưng vẫn không quên được Nguyệt Lan, nhất là nàng lại liên tục nhắn xuống là con đau, con bệnh làm cho tôi không lúc nào yên ổn được. Tôi nghĩ dù sao thì Phụng cũng mất rồi, tình yêu của tôi với Nguyệt Lan quá nặng, tôi phải đem mẹ con Nguyệt Lan về sống với tôi. Nếu ở đây sợ lối xóm chê cười thì tôi với Lan bán nhà dọn đi chỗ khác là cùng. Tôi nghĩ vậy nên sắp xếp quần áo lên Đà Lạt.

Nguyệt Lan gặp tôi mừng lắm, nàng kể lể cả tháng nay sống trong nhung nhớ tôi thế nào, mẹ con nàng bơ vơ ra sao, giọng điệu nghe não nùng như người thiếu phụ bồng con mõi mắt chờ chồng. Tôi càng quyết định đem Lan về nhà, Hỏi Lan có sợ không khi mà Phụng mới mất được tròn tháng, Lan ngúng nguẩy ra vẻ tôi coi thường nàng quá, nàng nói tình yêu của nàng làm cho nàng không sợ gì cả, dù người hay ma cũng thế. Cùng lắm nàng mời phù thủy về yểm trấn vong hồn Phụng là xong chứ gì. Tôi nghe cũng yên tâm.

Tối đó tôi đưa Lan đến nhà người quen làm ăn buôn bán với tôi, người này ở Đà Lạt nên ông chỉ biết Nguyệt Lan là vợ tôi như trước đây tôi đã từng giới thiệu. Hôm đó lúc vợ chồng tôi đến thì ông cũng đang tiếp một người bạn. Lúc tôi bước vào nhà thấy ông bạn nhìn tôi trừng trừng, Nguyệt Lan thì nghĩ người ta nhìn mình nên ẻo lả cúi chào, nhưng ông ta không trả lời Nguyệt Lan mà cứ nhìn tôi một cách rất mất lịch sự. Tôi khó chịu nhưng cũng không tiện nói ra, đành chào hỏi chủ nhà rồi nói vào câu từ biệt cho phải phép. Thấy vậy chủ nhà mới kéo tôi lại uống vài ly rượu gọi là tạm biệt, không lẽ từ chối thì khó coi, tôi đành ở lại tiếp thêm vài ly cho vui, Nguyệt Lan cũng vui vẻ nhập cuộc. Được một hồi tôi chuẩn bị ra về, mới hỏi nhà vệ sinh phía sau. Không ngờ mới đi mấy bước thì thấy ông bạn chủ nhà đã ở sau lưng, tôi và ông ta cùng nhau vào toa lét. Ông ta hỏi tôi ngay lập tức:

- Ông làm gì mà để vong hồn theo ông sát rạt vậy?

Tôi lạnh xương sống nhưng cũng cố trấn tỉnh mình, nói:

- Tôi có làm gì đâu, đừng có nói bậy.

Ông ta nghiêm sắc mặt:

- Tui không nói bậy, tin hay không tùy ông. Nói cho ông biết vậy thôi. Coi bộ ông sắp mang họa rồi đó.

Rồi ông ta bỏ ra ngoài. Tôi sợ đến mức quên cả đi tiểu. Từ đó tới lúc về nhà tôi không nói được câu nào cho đàng hoàng. Nguyệt Lan hỏi chuyện gì tôi cũng chỉ ậm ừ cho qua. Tối hôm đó tôi ngủ không được, tôi biết là người đàn ông đó không nói đùa, ông ta cũng chẳng quen biết gì tôi, lại càng không phải là một âm mưu nào để lừa đảo. Cuộc gặp gỡ hôm nay hoàn toàn vô tình, chủ nhà còn chưa biết nữa là khách, mà ngay cả chiều nay tôi mới có ý định đến thăm chớ Nguyệt Lan còn chưa hay thì lấy đâu ra âm mưu lừa đảo. Mà cái vong ông ta nói chắc chắn phải là mẹ con Phụng rồi, nếu vậy thì ông ta nói đâu có sai. Tôi trằn trọc quá, khác với mọi khi hễ gặp Lan là tôi say mê ôm ấp cô ấy. Vậy mà tối đó tôi than mệt , thao thức lo sợ một mình.

Sáng hôm sau tôi bảo Nguyệt Lan khoan về Sài Gòn, tôi có chút chuyện còn chưa giải quyết được, rồi một mình tìm tới nhà người bạn hôm qua. Ông ta ngạc nhiên:

- Không phải tối qua anh nói sáng nay anh chị về Sài Gòn luôn sao?

Tôi không trả lời mà hỏi lại:

- Ông Thịnh tối hôm qua còn ở đây không vậy?

Chủ nhà lắc đầu:

- Ổng lên bến xe mua vé về Phan Rang rồi.

Tôi không kịp nói thêm, lập tức phóng ra bến xe, vừa đúng lúc chuyến xe Phan Rang – Đà Lạt sắp chuyển bánh. Tôi nhét vô tay anh lơ xe tờ giấy bạc, bám vô bậc thang kêu lớn:

- Anh Thịnh, anh Thịnh có trên xe không ?

Người lơ xe ra hiệu cho xe dừng lại, ông Thịnh từ hàng ghế trước quay đầu hỏi tôi:

- Anh muốn gì ở tôi?

Tôi xuống nước:

- Anh làm ơn ở lại thêm một ngày giùm tôi được không?

Ông ta lại nhìn trân trối vào tôi một lúc rồi gật đầu:

- Được, tôi ở lại.

Ông mang valy xuống, chuyển sang xe tôi. Tôi chở ông về lại trung tâm thành phố, trên đường đi chúng tôi im lặng không nói gì nhiều. Tôi chở ông đến một khách sạn trung bình, đặt phòng rồi xách valy lên phòng cho ông như một người hầu tận tụy.

Khi mọi việc xong xuôi, ông pha một bình trà cho cả hai, tôi mới ngồi vào ghế nói chuyện với ông. Ông nói:

- Tôi tưởng sáng nay anh tới gặp tôi sớm, không ngờ chờ hoài anh không tới nên tôi ra về, tưởng là anh không tin lời tôi.

Tôi ngần ngừ:

- Hôm qua tôi định về Sài Gòn sáng nay, nên khi quyết định ở lại bị mất chút thời gian.

Ông ta gật gù:

- Kể cho tôi nghe đi.

Tôi cứng đầu:

- Có gì mà kể, ông thấy cái gì thì phải nói cho tôi biết chớ.

Ông cười ha hả:

- Tới giờ này rồi mà anh còn nói cứng sao. Thấy gì hả? Tôi thấy một người phụ nữ máu me đầy mặt, ẩm đứa con nhỏ đi tò tò sau lưng anh chớ gì?

Tôi rủn cả người, qùy xuống lạy như tế sao:

- Ông Thịnh, nếu như vậy xin ông cứu tôi.

Ông ta trừng mắt:

- Biết vậy sao ăn còn nói cứng với tôi, anh coi tôi là loại người chuyên đi lừa gạt người khác sao?

Tôi biết lỗi, xuống nước năn nỉ:

- Tôi biết tôi sai rồi, ông làm ơn cứu tôi.

Ông ta bắt tôi thuật lại từ đầu tới cuối câu chuyện, từ lúc tôi gặp Phụng cho tới khi mẹ con Phụng qua đời. tôi kể suốt hai tiếng đồng hồ, không dám bỏ qua một chi tiết nào. Ông Thịnh trầm ngâm, gật gù theo dõi. Sau cùng tôi nói:

- Quả tình là tôi đã kể hết rồi, tôi biết tôi sai nhưng tôi thương yêu Nguyệt Lan quá , bây giờ tôi không thể bỏ mẹ con cô ấy được.

Ông Thịnh thở dài:

- Bây giờ anh có bỏ hay không bỏ đi nữa thì mẹ con người ta cũng chết rồi. Anh có hối hận cũng đâu được gì đâu.

Tôi hỏi:

- Bây giờ tôi phải làm sao?

Ông Thịnh suy nghĩ một lúc rồi nói:

- Theo như anh kể thì vợ anh là người thông minh sắc sảo, khôn ngoan tài giỏi. Vậy thì khi chết chị ấy cũng không ngu đần gì đâu. Anh đã phản bội vợ, lại gián tiếp hại chết vợ con anh, chắc chắn là chị nhà không thể tha thứ cho anh rồi. Hôm qua thấy thái độ anh tôi ghét nên tôi không nói thêm chớ tôi thấy nếu anh không tìm người giúp đỡ, trong 100 ngày nữa anh mà không gặp hậu họa thì tui bỏ luôn nghề.

Ông ta rót một chén trà, thở dài:

- Bây giờ biết rồi tôi cũng không biết làm sao mà gỡ cho anh đây.

Tôi tuyệt vọng:

- Không lẽ vong hồn Phụng cứ theo oán tôi suốt đời sao?

Ông Thịnh cười khẩy:

- Bộ anh nghĩ chị ấy để cho anh đem vợ bé về nhà, tiêu xài tiền bạc của chị một cách thoải mái như vậy sao?

Tôi câm ngay lập tức. Quả thật, nếu đổi lại là tôi tôi cũng không để yên cho ai làm như vậy. Chỉ tại tôi quá say mê Nguyệt Lan mà quên mất cái lý cái lẻ trên đời. Huống gì Phụng mới mất có một tháng, mộ còn chưa kịp xanh cỏ tôi đã có ý định đem người đàn bà khác vào ở trong chính ngôi nhà Phụng tạo dựng, lý nào Phụng lại tha thứ cho tôi sao?

Im lặng một lúc, ông Thịnh đốt thuốc hút liên tục, sau cùng ông nói:

- Bây giờ anh còn dám có ý nghĩ như vậy không?

Tôi không nói, thực lòng tôi muốn sống với mẹ con Nguyệt Lan nhưng cái ám ảnh mà ông Thịnh nói lên khiến tôi hồn phi phách tán, tưởng tượng mẹ con Phụng lúc nào cũng ở sau lưng mình mà rởn tóc gáy. Tôi thở dài:

- Hay là anh yểm bùa cho tôi.

Ông Thịnh đá bay chiếc ghế tước mặt tôi:

- Anh đã làm chuyện thất đức vậy mà còn muốn tôi hùa theo anh à? Yểm bùa hả? Cái nhà đó là do mồ hôi nước mắt của vợ anh tạo nên. Mẹ con cô ấy chết trước cửa nhà, cô ấy cần gì phải đi lang thang mà yểm. Hai mẹ con người ta chết oan chết ức, thần linh nào nỡ đuổi mẹ con người ta đi. Cái nhà đó anh có đem ai về ở cũng không sống nổi với mẹ con cô ấy đâu. Nói cho anh biết.

Tôi vẫn ngoan cố:

- Hay tôi bán nhà đi chỗ khác, cô ấy ở lại với chủ nhà mới.

Ông Thịnh trừng mắt:

- Người mà cô ấy theo oán là anh, là vợ nhỏ anh chớ không lẻ là tôi hay ai? Anh kể vợ anh là người khôn ngoan mà, oan có đầu nợ có chủ chớ. Anh có đi tới đâu cô ấy cũng chẳng tha cho anh đâu. Còn anh mà rước thầy về trù ếm cô ấy hả, sợ là anh chưa rước được thầy thì cái mạng anh đã lung lay rồi. Anh thử bỏ ra một cục vàng tổ chảng coi tôi có dám hại cô ấy không? Thầy bà cũng phải biết ân oán chớ. Cô ấy chết đau khổ quá mà.

Tôi tuyệt vọng:

- Tôi biết làm cái gì bây giờ đây?

Ông Thịnh không nói. Hồi lâu chừng như bớt giận ông ta từ tốn hơn:

- Ai buộc thì người đó phải cởi. Anh đã đối xử không phải với chị ấy thì bây giờ anh phải làm sao cho vong hồn chị ấy vui lòng, may ra chị ấy bớt giận mà tha thứ cho anh. Anh kể chị ấy là người biết thương yêu đùm bọc anh em, chia sẻ giúp đỡ hàng xóm láng giềng thì bây giờ anh phải bắt chước chị ấy đối xử với người khác như vậy, phải lấy tiền của chị ấy mà phân phát cho người nghèo, phải giúp đỡ anh em nhà người ta, phải biết lấy công mà chuộc tội mình. Công lý trần gian không ai buộc anh tội giết vợ nhưng toà án lương tâm liệu có tha thứ cho anh không.

Ông phủi tay:

- Tôi không nói nhiều nữa, anh cư xử sao cho sống được thì sống. Tôi nói trước, vợ anh tuy nhân từ nhưng là một hồn thiêng oan ức, anh sống không ra gì thì chị nhà không để yên cho anh đâu.

Ông ta đứng dậy, đẩy tôi ra cửa:

- Anh về đi, tôi không muốn giúp đỡ loại người như anh. Vợ con đàng hoàng như vậy mà để cho vợ chết thảm thương. Tôi coi tướng thấy con đàn bà hôm qua anh dắt theo chỉ là cái loại “Lấy quan quan cách, lấy khách khách về Tàu” mong gì mà nhờ cậy làm ăn cho nên chớ. Khéo mà giữ cơ đồ chớ không thôi sạt nghiệp tới nơi. 

Tôi ra về, vừa buồn lại vừa sợ, vừa tức. Buồn vì không làm sao chung sống được với Nguyệt Lan, sợ vì cái hình Phụng mà ông Thịnh tả luôn ở sau gáy, tức vì nghe lão Thịnh chê Nguyệt Lan tệ hại.

Mười mấy năm trôi qua tôi mới thấy lời ông Thịnh là đúng, quả thật nếu tôi không khôn ngoan thì Nguyệt Lan phá nát cái tài sản nhà này như chơi. Hết ăn diện tới cờ bạc, mà không hề làm nổi một xu nào, May là tôi đã biết trước, giấy tờ tài sản tôi đem cất hết ở ngân hàng, không cho Lan biết chút gì ngoài số tiền mặt tôi đưa về nhà. Tôi muốn bù lại cho Phụng cái gia sản mà nàng tạo dựng, ít nhứt cũng để lại được cho cháu nàng. Vậy nên Phụng mới để cho tôi yên ổn.

Để tôi uống ly nước rồi kể tiếp chuyện cho anh nghe. Anh cũng uống với tôi một ly bia đi cho mát.

Hôm đó tôi về chỗ mẹ con Nguyệt Lan, tháo gỡ hành lý của mẹ con nàng, bảo hãy ở lại Đà Lạt thêm một thời gian nữa. Nguyệt Lan khóc ngất:

- Anh nỡ bỏ mẹ con em răng?

Tôi không dám nhìn vào mặt nàng, lặng lẽ để lại một số tiền rồi ra bến xe mua vé về Sai Gòn.

Về tới nhà việc đầu tiên là tôi tự tay dọn dẹp, quét tước căn lầu của vợ chồng tôi. Tôi nguyện sẽ làm cho Phụng vui lòng để nàng tha thứ cho tôi. Suốt một tuần tôi ăn chay nằm đất, van lạy Phụng nghĩ đến tình xưa nghĩa cũ. Tôi không dám rước thầy về cúng siêu độ, tôi nghĩ vong linh Phụng chưa muốn rời khỏi căn nhà này. Tôi không dám làm điều gì để cho Phụng giận tôi thêm. Đêm nào tôi cũng thắp hương khấn vái, tự tay chuẩn bị giường ngủ của vợ chồng, con cái, điều mà khi Phụng còn sống chưa khi nào tôi phải làm. Tôi ngủ tại căn phòng đó, đôi khi lạnh mình khi nghĩ đến mẹ con Phụng lẫn khuất bên mình. Nhưng tôi đã quyết, tôi đã phạm nhiều sai lầm rồi, tôi phải bắt đầu sửa đổi dù rằng quá muộn.

 Khi sống Phụng có nói với tôi, dù chết nàng cũng không đi đâu cả, cương quyết ở lại ngôi nhà mồ hôi nước mắt của nàng. Vì vậy tôi không thờ ảnh Phụng trong phòng mà chỉ để bàn thờ Phật, còn ảnh Phụng thì thờ chung với mọi người đã khuất trong từ đường. Nhìn bên ngoài căn lầu giống như có người ở, không có vẻ gì là bà chủ đã qua đời, tôi biết ý Phụng muốn thế.

Sau đó tôi mua một chiếc xe nhỏ, loại xe trước khi chết Phụng đã chọn. Rồi tôi về quê năn nỉ anh Ba lên lái xe cho tôi. Đó chẳng phải là ý nguyện của Phụng lúc còn sống sao?

Tôi trả cho Ba Lân rất nhiều tiền, gấp 3 lần tiền lương của một tài xế. Dù sao vẫn là của cải do cô ấy làm ra, gia đình cô ấy phải được hưởng. Nói ra thì anh cười tôi mê tín. Chớ sau khi anh Ba lên nhà tôi rồi có lần tôi nằm mơ thấy Phụng cười vui vẻ với tôi. Không biết phải do tôi bị ám ảnh hay Phụng đã vừa lòng vừa dạ.

Được nửa năm thì một tai họa xảy ra cho tôi, à không, phải nói chính xác là cho gia đình Phụng. Đêm đó tự nhiên tôi nằm mơ thấy ai đưa cho tôi một giỏ tiền, mà sao có cánh tay nào cứ thò ra ngăn lại không cho tôi lấy. Tôi cố sức lấy đến độ toát cả mồ hôi vẫn không được. Tỉnh dậy thấy lưng áo ướt đẩm.

Sáng hôm đó có người nói cho tôi biết một mối hàng của tôi ở Tuy Hòa nhắn tôi ra để trả tiền. Cha này thiếu nợ vợ chồng tôi đã lâu rồi nhưng bị phá sản. Phụng thương tình cho để vốn lại, hàng tháng chỉ lấy số tiền lời rất thấp, chỉ bằng lãi suất ngân hàng Nhà nước. Từ hôm Phụng chết đến giờ không thấy hắn gửi trả tiền lời nữa. Vậy mà hôm nay hắn cho người nhắn tôi lên để hắn trả cả vốn lẫn lời. Cơ hội này mà trôi qua thì dễ dầu gì hắn trả lại lần nữa. Tôi biểu Ba Lân chuẩn bị xe, dặn đầu bếp nấu cơm sớm, ăn xong 11 giờ thì đi. Ba Lân hỏi:

- Dượng út để ngày mai đi được hông?

Tôi hỏi:

- Sao vậy?

Ba Lân nhắn nhó:

- Mắc gì mà từ sang tới giờ tui đau bụng đi cầu dữ quá.

Tôi càm ràm:

- Anh coi uống thuốc đi, chớ tôi cần đi bữa nay.

Ba Lân nói:

- Tui uống thuốc rồi mà sao hổng thấy bớt. Sợ đi nửa đường mà cần thì mệt lắm.

Tôi càu nhàu:

- Có anh với tôi, cần thì ngừng xe lại, kiếm chỗ nào đó cũng được, gì mà phải than vậy?

Ba Lân không nói, lặng lẽ đi ra ra ga chuẩn bị. Tôi cũng thu xếp 2 bộ đồ vào giỏ và giục nhà bếp cơm nước.

Chiều hôm đó tôi ra tới Nha Trang, vì Ba Lân vẫn còn đau bụng nên chúng tôi ghé vào một khách sạn nhỏ ngủ lại. Tôi giục Ba Lân đi kiếm bác sĩ.

Hôm sau tình hình có vẻ khá hơn, trưa hôm đó chúng tôi tiếp tục ra Tuy Hòa.

Ông chủ cơ sở này là người đàn ông mắt một mí, có vẻ táo tợn, đây là lần đầu tôi tiếp xúc với ông ta, trước đây ông ta vô Sài Gòn chỉ liên hệ với Phụng. Không hiểu sao nhìn ông ta tôi đã có cảm giác bất an, tôi tự hỏi Phụng làm cách gì để làm ăn buôn bán với tạng người này.

Chúng tôi nói chuyện với nhau về việc làm ăn buôn bán, ông ta cho biết trước đây ông ta bị phá sản nhưng nhờ một người quen bên Mỹ trợ giúp nên ông ta xây dựng cơ sở lại như trước.

Sau khi nói chuyện xã giao một lúc, ông ta ngõ lời cảm ơn vợ chồng tôi, đặc biệt là với Phụng đã không gây khó dễ trong thời gian ông ta gặp nạn. Tôi cho ông hay vợ tôi đã mất được nửa năm nay. Ông ta tỏ vẻ ngạc nhiên và hỏi tôi sao tháng trước gia đình em gái ông đi Đà Lạt có quen với người phụ nữ tự xưng là chủ trại cưa Kim Long. Tôi chột dạ biết là gia đình họ đã gặp Nguyệt Lan và Nguyệt Lan trong lúc cao hứng đã khoe khoang mình là chủ cơ nghiệp. Tôi lúng túng hấp tấp cáo từ đi về. Cái thói đời nó như vậy đó anh, hễ có điều gì sai là tự dưng mình cứ lay hoay như gà mắc tóc.

Đáng lý ra lúc đó trời sập tối, tôi phải ngủ lại Tuy Hòa, vì tuy Nha Trang Tuy Hòa không xa lắm, nhưng khi đi xe của tôi dở chứng trục trặc ba bốn lần, nên khi ra tới Tuy Hòa thì đã xế chiều. Ba Lân bàn:

- Ngủ lại bữa nay đi dượng út.

Tôi còn bực mình về vụ thằng cha hồi nãy nên cáu cẳn:

- Về luôn tối nay đi.

Ba Lân ngỡ ngàng:

- Về Sài Gòn luôn hả?

Tôi gật đầu. Tự nhiên tôi thấy ghét cái đất này, ghét luôn cái bản mặt thằng cha mới trả nợ cho mình hồi nãy. Ba Lân không nói, chỉ thở dài. Tôi biết anh sợ giữa đường hư xe. Lúc đó xe cộ chưa nhiều như bây giờ, quãng đường đèo Cả còn rất vắng. Thực ra tôi cũng lo lo nhưng tôi nghĩ đoạn đường không xa lắm nên chắc cũng không đến nỗi nào.

Xe bắt đầu rồ máy chạy, sao như có ai níu kéo nó lại không bằng. Cứ chạy được vài mét nó lại khục khặc. lại giật ngược. Ba bốn lần như vậy tôi đâm bực mình, tôi bực mình vì cho rằng Ba Lân không chăm chút chiếc xe cẩn thận, để khi cần đi thì trở chứng. Thêm vài lần như vậy thì tôi nghi ngờ Ba Lân có dụng ý gì muốn cho tôi phải ở lại Tuy Hòa đêm nay. Hay là ông này thấy mình đem nhiều tiền nên nổi lòng tham. Muốn đợi tối nay tôi ngủ quên rồi đem tiền bỏ trốn. Nghĩ vậy nên tôi tỏ thái đô bực mình, cẳn nhẳn cằn nhằn liên tục.

Thêm một lúc nữa rồi chiếc xe cũng chạy được ngon lành, mặc dầu trời đã sụp tối rồi. Tôi cười thầm Ba Lân có khôn thế mấy cũng không qua được tôi, nên tôi càng đắc chí giục Ba Lân chạy nhanh hơn.

Không ngờ đến giữa Đèo Cả thì hai chiếc xe Honda chạy cùng chiều với xe tôi lấn ra trước. Một trong hai chiếc quẹt nhẹ vào cảng xe tôi ngã ra đường. Tôi bảo ba Lân dừng lại xem có chuyện gì không. Vừa bước xuống xe thì hai tên ở chiếc Honda còn lại đã kẹp tôi cứng ngắc. Hai thằng té xe bây giờ mở giọng cười đểu cáng:

- Có bao nhiêu tiền đưa ngay ra.

Tôi gào lên:

- Không có đâu.

Thằng kẹp bên trái giật một chõ vào hông tôi đau điếng:

- Xạo mày.

Hai thằng kia khống chế Ba Lân, anh bảo:

- Tui làm gì biết bạc tiền ở đâu.

Thằng giữ bên phải gí dao vào cổ tôi:

- Chui vô xe lấy tiền ra.

Tôi ngần ngừ tiếc tiền. Ba Lân nhìn tôi nói:

- Tui không biết cái gì đâu.

Tôi nổi giận. Hay là Ba Lân thông đồng với bọn này để cướp xe đây mà. Tức tối tôi gào lên:

- Bọn bây cùng một duộc với nhau mà.

Câu nói chưa kịp dứt lời tôi đã thấy Ba Lân tung mình lên đá ngã thằng cầm dao gí cổ tôi. Rồi nhanh như chớp anh quật luôn thằng còn lại. Miệng anh hét lên:

- Chạy đi dượng út.

Hai đứa khống chế Ba Lân mới đầu bất ngờ, sau đó đã kịp vây lấy anh, cộng thêm hai thằng kia vừa lóp ngóp bò dậy, tổng cộng anh phải chiến đấu với 4 thằng. Ba Lân nhanh nhẹn tay đấm chân đá trong khi trong lòng tôi vẫn còn nghi ngờ không biết đây có phải là màn kịch do bọn chúng sắp xếp không.

Được một lúc tôi thấy Ba Lân loạng chọang ngã xuống cùng với một thằng trong bọn. Ba thằng kia nhào lên người anh, tôi nghe tiếng thét của Ba Lân vang lên. Cũng vừa lúc đó tôi thấy ánh đèn xe từ hai phía quét lại. Tỉnh hồn tôi chạy ra giữa đường, gào lên:

- Cướp, cướp. Cứu với.

Hai chiếc xe hai đầu ngừng lại rồi những người trên xe cầm vũ khí xông vào.

Tôi gào lên:

- Tụi nó có 4 thằng. Ông áo trắng là người của tui.

Hai nhóm người kia kẻ cầm dao người cầm mỏ lết, vây đánh bọn cướp. Tôi xông vào kéo Ba Lân ra, người anh bây giờ đẫm máu. Tôi hối hận hỏi anh:

- Anh mệt lắm hả ? Tụi nó đâm anh nhiều không?

Ba Lân thều thào:

- Nhiều lắm. Chở tui đi nhà thương.

Tôi lật đật xốc anh lên xe. Có 2 người đàn bà trên chiếc xe tải xuống phụ tôi đưa Ba Lân lên ghế sau. Ngoài kia mọi người đã khống chế được bọn cướp, tôi kể vội vài câu, nhờ họ đem bọn cướp đến Công an rồi lật đật cho xe chạy, trong thời gian này tôi đã chạy được xe nhưng chưa có bằng lái.

Máu trong người Ba Lân chảy đầm đìa trên ghế, thỉnh thoảng tôi nói vọng ra sau:

- Ráng lên anh Ba, chút xíu nữa là tới .

Khi xe bắt đầu vô thành phố thì tôi nghe Ba Lân nói vọng lên :

- Dượng út. Tui gởi lại mẹ con con Tâm. Dượng út lo cho nó ăn học nên người giùm tui.

Tôi cuống lên:

- Đừng nói bậy. Sắp tới nhà thương rồi.

Ba Lân thều thào:

- Không qua nỗi đâu dượng út ơi.

Rồi anh không nói thêm gì nữa. Tôi quay nhìn lại, đầu anh đã nghẻo sang một bên, nhắm mắt.

Tôi kinh hoàng không biết phải xử lý ra sao. Tôi hối hận vì đã nghi ngờ người anh vợ hiền lành tốt bụng này. Tôi đau khổ vì nếu tôi nghe lời anh ở lại qua đêm thì đâu đến nỗi. Giả như anh có lòng tham lấy đi số tiền đó thì cũng lắm chỉ mất đi cái mà đáng ra đã mất rồi. Và thực tế thì đó là số tiền của Phụng làm ra, nếu Ba Lân có lấy cũng đâu có gì nghiêm trọng.

Vậy mà bây giờ sự việc đã rối tinh như thế này, tôi biết làm sao trả hết món nợ này cho gia đình họ đây. Tôi nhớ lại giấc mơ đêm qua bàn tay ai đã níu kéo ngăn không cho tôi cầm túi tiền đó. Tôi nhớ lại Ba Lân đã kêu đau bụng không muốn đi. Tôi nhớ lại tối nay anh đã muốn ngủ lại Tuy Hòa. Tôi nhớ lại chiếc xe đã trục trặc như có người trì kéo bao nhiêu lần rồi mà tôi cứ cương quyết khăng khăng đi về trong đêm. Bây giờ tôi mới biết có bàn tay của người khuất mặt ngăn cản chuyến đi này của tôi nhưng do tôi cứ cố tình cưỡng lại nên mới gây ra cái chết của Ba Lân. Rồi tôi tự nghĩ giá như Ba Lân là người chết nhát, cứ mặc kệ để bọn cướp tra khảo đánh đập tôi thì anh đâu có bị thiệt mạng thế này. Cùng lắm chúng chỉ đánh đập tôi rồi lấy mất tiền thôi. Nhưng như thế thì làm sao tôi không nghi ngờ anh thông đồng với bọn chúng. Lúc nãy tôi đã ra miệng chửi rủa cả bọn rồi, làm sao Ba Lân không biết tôi nghi oan cho anh. Tại tôi, tại tôi ngoan cố cứng đầu nên dẫn đến cái chết không đáng có của người tài xế hiền lành mà cũng là ông anh vợ thân tín của mình. Tại tôi làm cho gia đình người ta tan tác, tuyệt tôn tuyệt tự. Lỗi này không phải của tôi thì còn của ai bây giờ?

Tôi ủ rũ hỏi thăm đường rồi đánh xe tới đồn Công an gần nhất kể hết sự việc. Sau đó họ liên lạc với các đồn Công an khác và tạm thời đưa Ba Lân vào nhà làm lạnh ở bệnh viện.

Tôi ở lại Tuy Hòa thêm 2 ngày để làm các thủ tục. May mà 2 chiếc xe hàng nọ đã đem bọn cướp đến nộp ở Công an gần nhất. nhờ thế mà những điều tôi kể ở Công an tỉnh Tuy Hòa được xác minh là sự thật. Họ cấp mọi giấy tờ cần thiết cho tôi và cho tôi đem xác Ba Lân về. Tôi thuê một chiếc xe chở Ba Lân, lúc này đã được liệm trong hòm để mang thẳng về quê. Còn chiếc xe của tôi tôi cũng thuê một tài xế khác lái về Sài Gòn.

Chôn cất Ba Lân xong, rước thầy tụng kinh cho ảnh ba ngày tôi mới quay về Sài Gòn. Lòng tôi bây giờ rối tung lên, thương tâm cũng có mà chua xót hối hận cũng có. Gia đình vợ tôi đối với tôi như bát nước đầy, vậy mà một mình tôi hại cả nhà người ta. Ngay cả khi Phụng vì tôi mà chết thì vợ tôi cũng muốn ngăn cản không cho tôi bước vào chuyến đi xui xẻo rủi ro đó. Tôi tin chắc là vợ tôi chớ không phải ai khác đã níu kéo, ngăn cản chuyến đi đó của tôi. Có điều chỉ tại tôi ương bướng không nhận ra sự có mặt của cô ấy nên cứ hăm hở lao đi. Tôi còn phải dùng những từ ngữ gì để cảm tạ cái ơn nghĩa mà vợ tôi đã dành cho tôi, ngay cả khi cô ấy vì tôi mà chết.

Tôi cay đắng nhận ra, lâu nay tôi dù có tự mình huyễn hoặc về mình thì bây giờ cũng phải nhìn nhận một sự thật rằng tôi sẽ không làm được trò trống gì nên hồn nếu như không có Phụng ở kề bên trợ giúp. Bao nhiêu lần tôi làm ăn đều thất bại, trong khi với Phụng điều đó cứ như trò trẻ con, vậy mà tôi cứ ganh tỵ với chính vợ mình.

Rồi tôi lại thấy rằng cuộc sống trước mắt này của tôi sẽ khó khăn biết bao nhiêu khi không có vợ tôi ở kế bên làm thần hộ mệnh. Tôi sẽ phải làm sao để báo đáp lại cái chết của anh vợ tôi. Tôi sẽ phải nuôi dưỡng một gia đình mới với một người đàn bà tiêu tiền như nước. Tôi sẽ phải chu cấp vẹn toàn cho vợ con người đã vì tôi mà mất mạng. Liệu tôi có đủ sức, đủ tài để gồng gánh nỗi những trách nhiệm này không?

Giá như – Giá như làm gì nữa khi đã quá trễ tràng. Giá như tôi đừng ganh tị với vợ mình – lẳng lặng chung sức chung lòng cùng Phụng thì đừng nói chỉ tát cạn biển Đông, ngay cả biển Tây, biển Bắc có khi cũng cạn. Giá như tôi đừng ương bướng cải lời Phụng, chỉ quanh quẩn ở Đồng Nai thì làm gì mà lên Đà Lạt để gặp Nguyệt Lan. Giá như tôi tỉnh táo trước người đàn bà đó để nhớ rằng mình đã có một gia đình ấm êm hạnh phúc. Giá như tôi đừng cố tự huyễn hoặc mình, bào chữa mình cho rằng Nguyệt Lan và Quế Anh chỉ là một thì đâu đến nỗi phải xúc phạm đến Phụng nhiều như thế. Nếu tôi đừng nghe lời òn ỉ, xúi khôn xúi dại của Nguyệt Lan, lời xỉa xói, lời khiêu khích của Nguyệt Lan thì tôi đâu nỡ lòng nào đụng đến cái nỗi đau thất học của vợ mình để đến nỗi Phụng mất hồn mất vía xăm xăm bước ra đường không nhìn ngó gì đến xe cộ, để gây ra cái chết thảm thương cho cả hai mẹ con.

Giá như hôm đó tôi tin vào giấc mơ của mình để chấp nhận ở nhà. Giá như hôm đó tôi nhận ra chiếc xe đã bị một bàn tay kéo lại. Giá như hôm đó tôi đừng nghi ngờ Ba Lân, bằng lòng ở lại Tuy Hòa thì đã không xảy ra chuyện bọn cướp ở giữa đèo để đến nỗi Ba Lân phải chết. Giá như , giá như , giá như …….

Tôi ăn chay nằm đất suốt một tháng trời. Tôi nguyện làm tất cả mọi điều tốt đẹp cho gia đình vợ tôi. Vì họ cũng có mà vì tôi cũng có. Tôi biết Phụng là người thông minh, nhân từ. Nếu tôi đối đãi với chị dâu nàng cháu nàng chu đáo chắc chắn Phụng sẽ không oán thù, không hơn giận tôi. Tôi tự biết mình tài hèn sức mọn, không giữ nổi tài sản của Phụng để lại nên tôi quỳ gối trước linh vị vợ xin phù hộ tôi thay thế nàng giữ được cơ ngơi, sự nghiệp. Tôi hứa bao giờ cháu nàng đủ 20 tuổi tôi sẽ trao trả lại gia sản cho nó. Tôi hứa với Phụng mỗi tháng ba mươi mùng một, mười bốn ngày rằm tôi sẽ tắm gội, ăn chay nằm đất tại căn phòng mà vợ chồng tôi đã từng sống trước kia. Tôi trịnh trọng hứa sau này dẫu cho tôi có lấy bao nhiêu người đàn bà khác nữa thì chữ “vợ tôi, con tôi” chỉ để nói về mẹ con Phụng. Để rồi anh coi, sau này tôi đem Nguyệt Lan và Cầm Minh về đây sống nhưng không bao giờ tôi nói với ai chữ vợ tôi hoặc con tôi để ám chỉ họ. Tôi chỉ gọi đơn giản là Nguyệt Lan, Cầm Minh thôi. Tin hay không tùy anh.

Có phải anh đang cười tôi là chung thủy với vợ tôi khi đã quá muộn màng rồi không? Đúng thế. Khi tôi nghĩ ra được điều này thì đã quá trễ tràng. Trễ tràng đến nỗi không còn có thể hy vọng gỡ gạt lại được tí chút nào. Trễ tràng đến nỗi mà nói theo ngôn ngữ bây giờ chỉ còn hy vọng vào cỗ máy thời gian. Nhưng sự thật thì làm gì có cái cỗ máy thời gian nào. Giá như có thì thế giới này sẽ không ai phạm sai lầm nào cả, chỉ việc quay ngược lại thời gian là xong thôi. Nhưng đó là điều mà tôi dám tin là sẽ chẳng bao giờ xảy ra trên cái cõi đời này, và muôn đời nữa cũng chẳng bao giờ có thể. mặc kệ cho bất kỳ ai muốn nói gì thì nói, Tôi vẫn không tin là có thể có nó đâu.

Đoạn sau này thì tôi chắc anh cũng đã biết rồi, qua những người khác mà anh đã thu thập tin tức, tôi không muốn kể ra sự việc làm chi cho thừa thãi. Tôi chỉ muốn nhấn mạnh cho anh biết rằng tôi đã rất tôn trọng vong hồn của vợ con tôi. Sau nhiều năm rồi tôi vẫn giữ nguyện hiện trạng căn lầu này dù nhiều lần Nguyệt Lan nằng nặc đòi phá bỏ nó. Tôi muốn Phụng và con tôi còn có chỗ lui tới khi nào họ muốn. Trước đây là tôi, sau này là cháu Tâm thường xuyên đến đây dọn dẹp quét tước căn lầu này như thể vợ con tôi vẫn còn hiện diện nơi đây. Mỗi tháng 4 ngày tôi xuống đây, nằm một mình trong căn lầu này ăn năn sám hối tội lỗi của mình trong suốt mười mấy năm trời đằng đẵng. Sở dĩ tôi để cho mẹ con chị Ba sống ở bên ngoài nhà vì chị Ba không muốn thiên hja dèm pha dị nghị, điều này cũng tốt thôi, vì thật ra nếu ở chung thì hai mẹ con họ cũng khó sống với Nguyệt Lan, vì tính tình Nguyệt Lan thật là cay độc. Bù lại tôi luôn luôn quan tâm đến họ, nhất là đối với cháu Tâm, giọt máu cuối cùng của gia đình vợ tôi. Nói thật cho anh hay, tôi đã làm mọi thủ tục nhận cháu làm con nuôi của tôi và viết di chúc để sẵn ngôi nhà này và cái xưởng cưa cho cháu. Tôi muốn trả lại cho vợ tôi những gì của Phụng, để Phụng và anh Ba được yên lòng.

Gần đây, có những tiếng đồn về căn lầu này có ma. Một số bạn bè của Nguyệt Lan kể lại họ nghe tiếng hú, tiếng rên rỉ phát ra từ căn lầu không có người này. Lại có người bảo rằng họ thấy lửa ma trơi lập loè bay vòng vòng khắp căn phòng ngoài, một vài người làm kể lại rằng nghe tiếng gào như ma sói và từng đốm lửa to như cái tô bay vun vút trong cần lầu giữa đêm thanh vắng.

Tôi không tin là có ma nào ngoài vong linh vợ con tôi hiện diện nơi đây. Nhưng mẹ con Phụng chắc là không bao giờ làm những trò vớ vẩn này, nếu có thì phải có từ nhiều năm về trước rồi. Tôi nghi ngờ có kẻ trộm vào rình rập chung quanh ngôi biệt thự này, thấy người ra vào nhiều nên giả vờ tung tin ma qủy cho mọi người sợ hãi. Chứ tôi chẳng tin có ma qủy nào đến quấy phá khi vợ con tôi luôn hiện diện ở đây.

Lại còn Nguyệt Lan một hôm la hét thất thanh rồi từ đó dở điên dở dại, khi tỉnh khi mê. Nghe nói nhiều lần thì tạm kết luận là Lan nhìn thấy một bóng ma trắng toát bay tới bay lui trong căn lầu và rên rỉ đòi trả mạng. Cầm Minh cũng bảo với tôi lâu lâu lại nghe tiếng thở dài và tiếng khóc trong phòng. Tôi không hiểu có tên trộm đạo nào định uy hiếp tinh thần mọi người để đêm hôm dễ bề đột nhập hay không. Chị Nguyệt Mai thì băn khoăn không biết có phải mời thầy pháp về trị yêu hay không ? Tôi thì chẳng tin mấy ông thầy chỉ nghe người ta kể lại rồi la hét vang trời đó. Nếu là người giỏi giang như thầy Thịnh ngày xưa thì đã nhìn ra tôi có vong linh đi theo từ xa rồi.

Vậy nên tôi mới nhờ các anh điều tra nguyên nhân giúp tôi, để cho mọi việc không còn vướng mắc nữa, sau này Nguyệt Lan có về thì cũng xoá được cái tư tưởng ma qủy trong lòng cô ấy.

Anh ráng lo giùm tôi vụ này, chuyện mẹ con Phụng tôi cho rằng chỉ là để cảnh cáo tôi thôi, chứ người hiền lành như Phụng chẳng khi nào cô ấy hiện lên để hại ai cả, mà nếu như có muốn hại Nguyệt Lan thì cô ấy đã hại từ mười mấy năm trước chứ đợi chi đến bây giờ.

Linh chăm chú nghe đi nghe lại lời kể của những người trong cuộc và cả những người ngoài cuộc qua chiếc máy ghi âm nhỏ xíu anh luôn mang theo trong người. Đó là một công cụ hữu ích cho anh đối với công việc của một thám tử tư. Nhưng Linh rất kín đáo, anh không để cho người được ghi âm biết, Anh giả vờ hỏi chuyện họ đủ thứ rồi sau cùng để họ tự khai ra. Cái này ngoài những nghiệp vụ được học còn là năng khiếu đặc biệt của anh. Ít có ai bị anh gợi chuyện mà không tự khai ra, nhất là những người mang nặng trong lòng một khối sầu não nào đó.

Cả tuần nay anh đã khéo léo gợi chuyện với hết người này tới người khác. Hầu hết mọi người trong nhà đều cung cấp tin tức cho anh. Chỉ có bà Nguyệt Lan, tuy nói là có nhưng trí nhớ của bà đang có vấn đề, nói năng lộn xộn và mức độ tin cậy không lấy gì làm nhiều.

Có một hôm Linh còn bắt xe đò đi về vùng quê của Tâm, anh muốn kiểm tra thực hư về tính chân thật của mẹ con Tâm, về người phụ nữ giỏi giang mà bạc mệnh mang tên Kim Phụng. Tất cả những lời họ kể đều là sự thật, những người dân quê ở đây đều nói giống như họ nói. Đó là chưa kể sự ân nghĩa với Út Phụng còn lớn lao hơn cả khi mẹ con Tâm kể lại. Đó là những chuyện cô Út xây đền dựng chùa, chuyện gia đình tám Nhẫn ở đầu làng nhờ cô mà thoát cảnh bị xiết nợ do nợ tiền góp, chuyện thằng Tứ Hải con bà Mười Thơm kế ao cá nhờ cô út mà có tiền kịp kêu xe chở thằng nhỏ đi bệnh viện trong cơn sốt xuất huyết năm nào, chuyện ông Hai mù sống được cả chục năm trời nhờ út Phụng nuôi dưỡng ngay từ năm cô mới mười bốn tuổi. Cả làng cả xóm đều khen ngợi và thương nhớ cho người phụ nữ vắn số đó, ai cũng chắc lưỡi hít hà nuối tiếc. Linh đồ rằng giả như bây giờ có ai đó lập cái miểu thờ Út Phụng chắc hương khói nghi ngút không ngơi.

Trong cuộc viếng thăm cái xứ quê nghèo đó, Linh lại vô tình biết được Tư Quy, anh của Út Phụng năm nào đi vượt biên đã trở về cùng với người chị dâu. Họ nhìn ra nhau trong dịp con trai ông mời mẹ con Tâm đến nhà hàng. Hỏi thăm kỹ hơn Linh biết được rằng Tư Quy khi vượt biên, bị hải tặc đánh đã mất đi một phần trí nhớ. Ông chỉ còn biết mang máng về quê hương chớ không biết chính xác mọi việc. Do đó mà ở nước ngoài dầu cho ông làm ăn khá giả cũng không biết thôn làng ở đâu mà tìm, nhất là khi Bảy Trí , bạn ông, tức cậu của Tâm, đã bị hải tặc giết quăng xác xuống biển.

Con tạo khéo xoay vần, Đông lại yêu thương nhằm chị mình. Khi Tư Quy về Việt Nam, Đông dẫn mẹ con Tâm đến nhà hàng gặp ông, mục đích giới thiệu người mình yêu thương với cha. Nhưng Tư Quy thì mất đi một phần trí nhớ chớ chị Ba Lân thì tỉnh táo hoàn toàn, chỉ vài câu hỏi thăm qua lại chị ba đã nhận ra được đứa em chồng lưu lạc bao nhiêu năm. Phải thôi vì dù sao họ cũng là hàng xóm của nhau nhiều năm dài. Vui mừng khôn kể, Tư Quy và vợ Ba Lân, Tâm, Đông dắt nhau về thăm lại xóm làng. Đông buộc phải chuyển từ tình yêu Tâm sang nghĩa chị em chú bác. Đó là lẽ thường tình thôi. May là còn nhìn ra nhau. Không trách mà vợ Ba Lân nói đã nhìn thấy Đông giống ai đó mà bà chưa nhìn ra được. Bà con với nhau nó như có cái gì thiêng liêng mà người ngoài khó thể giải thích được . Có lẽ Đông cảm thấy yêu Tâm cũng là do như thế.

Chiều hôm qua Linh đã lên xuống lục soát căn lầu này nhiều lần, anh phát hiện dưới gốc cây vú sữa, cái cây mà có nhánh xoè ra sát bên cửa sổ nhà tắm, có nhiều dấu chân đã cũ, rồi anh còn phát hiện ra cánh cửa sổ nhà tắm bản lề trơn nhẵn. Đáng lý ra nhiều năm nay không có ai sử dụng, những bản lề này phải rỉ sét mới đúng. Linh nghi ngờ có ai đó đã sử dụng cánh cửa này để ra vào căn lầu mà không cần qua cửa chính. Nhưng là ai mới được, người đó phải leo trèo nhanh nhẹn mới có thể chuyền từ cành vú sữa vào cái cánh cửa sổ nhỏ này.

Câu hỏi được anh có đáp án ngay buổi sáng nay khi anh nhờ chú Tư hái giùm anh mấy trái mận góc vườn. Chú Tư cười hì hì:

- Cậu lấy cái khèo mà khèo, còn không thì kêu con Tâm nó hái cho.

Linh giả bộ ngu ngơ:

- Khèo thì ai khèo hổng giống ai.

Chú Tư cãi:

- Con Tâm nó trèo lên cây, khèo được nhiều hơn.

Linh lại tiếp tục giả bộ:

- Cô Tâm con gái mà trèo leo gì được.

Ông già trề môi:

- Xời. Con Tâm nó như con trai, trèo leo như mèo vậy đó. Đố cậu mà bằng nó.

Linh cười tủm tỉm:

- Ai mà biết đâu, thấy cổ tròn vo cục mịch vậy mà.

Chú Tư không cải nữa, đưa cây khèo cho Linh hái mận. Anh hái qua loa vài trái rồi bỏ vô nhà Tâm. Sáng nay không có Tâm ở nhà, chỉ có thím ba đang quét dọn từ đường. Thấy vậy, Linh không vào nhà mà bước qua gian nhà thờ của gia đình Kim Long, thím ba thấy Linh cũng không để ý lắm, cắm cúi làm việc của mình. Ngôi từ đường được lau chùi quét dọn mỗi ngày nên sạch sẽ, ngăn nắp. Có nhiều bàn thờ, chỗ thì có ảnh chỗ thì không nhưng nói chung đều láng bóng.

Linh bước thêm vào trong là nhìn ngay ra ảnh của Út Phụng. Đôi mắt và cái trán giống hệt như Tâm nhưng nụ cười với vành môi rõ nét trông xinh đẹp hơn. Rõ ràng là so với bà Nguyệt Lan thì Kim Phụng không bằng nhưng nhìn vào lập tức người ta có ngay một tình cảm thân thiện, dù ngay chỉ là trong bức ảnh.

Linh cẩn thận ngó xuống chân tủ thờ, chỗ mà chị ba kể giấu vàng. Loại tủ này chân là một khối hộp lớn vững chắc, có lẽ bên trong rỗng ruột nên chị ba lau chùi nhiều lần biết được mà đem của nả giấu vào trong.

Linh thắp mấy nén nhang, khấn trước ảnh Út Phụng.

- Cô út. Tôi vì nhiệm vụ tới đây làm việc, không dám làm phiền đến cô.

Anh cắm nhang lên bàn thờ, bỗng có một cơn gío ùa vào, Linh lạnh cả người khi thấy bát nhang vụt bốc cháy ngùn ngụt dù rằng anh đã vung tay tắt trước khi cắm nhang vào và cái lạnh càng gia tăng khi trong ánh lửa đó anh thấy ảnh Út Phụng không cười tươi tắn nữa mà nhìn anh nghiêm nghị.

Một lát sau Linh mới trấn tỉnh được người. Anh dụi mắt, nhang đã cháy hết và ảnh Út Phụng vẫn như cũ, nhìn anh cười tươi tắn. Nhưng tóc gáy Linh vẫn dựng ngược mặc dù anh cố trấn tỉnh mình bây giờ là buổi sáng. Linh tần ngần một lúc lâu nữa rồi đi vòng ra phía sau bàn thờ Phụng, nhìn ngó một lúc anh phát hiện ra phía sau bức ảnh Phụng dầy lên một cách bất thường. Kỹ hơn, anh lại đi vòng ra phía sau các tủ thờ kia. Tất cả đều bình thường. Linh nhìn quanh quất rồi thò tay gỡ nhẹ lớp giấy phía ngoài. Một mớ giấy tờ hỗn độn rơi ra. Linh nhanh tay bỏ vào túi áo, anh sửa lại chỗ đó cho đàng hoàng rồi bỏ ra ngoài, lên xe đi về.

Về đến nhà, Linh lập tức đóng cửa, ngồi vào bàn, đổ hết đống giấy tờ trong túi áo ra. Đó là những mảnh giấy vụn lâu ngày đã úa vàng, được viết bằng những nét chữ trẻ con xiêu vẹo. Cũng có vài mảnh giấy mới hơn, chữ viết cứng cáp hơn. Linh quyết định sắp xếp chúng lại theo lối cũ trước mới sau, anh đếm được hai mươi sáu mảnh. Bắt đầu anh đọc những tờ giấy cũ trước.

Đó là những lời lẽ trẻ con, anh đoán là của Tâm, kể lể với ba, với cô út về những oan ức cô phải chịu trong những ngày sống ở nhà Kim Long. Những lá thư không đầu không đuôi, có những chữ còn sai chính tả nhưng tất cả đều mang một nỗi ấm ức giận hờn về cách đối xử bất công, có khi là tàn nhẫn của bà chủ nhà đối với cô bé. Linh đoán những lá thư này Tâm viết trong lúc buồn tủi mà không biết kể lể cho ai nghe vì mẹ cô quá hiền lành, không bênh vực hay an ủi cô. Chắc cô bé nghĩ là nhét vào ảnh của cô mình thì Út Phụng sẽ đọc được hết nên được lá thư nào là nhét hết vào phía sau tấm ảnh.

Linh chú ý đến một tờ giấy chưa cũ lắm mang nét chữ viết rất vội vàng, cẩu thả, anh đọc:

Út ơi con biết rồi, con biết sự thật cái chết của út rồi, hôm qua ổng làm rớt chìa khóa tủ sách, con lượm được lén mở ra, con lấy cuốn sách cũ nhứt đọc, Con nghe ổng kể chuyện ổng với bã, rồi chuyện của ổng với út, rồi tới vụ út bị xe cán chết, Ổng nói tại ổng mà út với cu Dũng phải mất mạng. Ổng hối hận lắm. Hối hận thì làm được gì hả út? Hối hận có níu kéo út sống lại được hông? Nhưng mà con ghét ổng thì ít, ghét bã thì nhiều. Tại bã phải hông út? Tại bã mà làm út phải ra đi tức tưởi như vậy. Tại bã mà giờ này con phải mồ côi cha phải hông út? Tại bã quyến rủ, bã giựt chồng người ta phải hông út?

Linh tiếp tục đọc mảnh giấy mới hơn. Coi bộ câu chuyện đã mở ra được rồi.

Út ơi. Hôm qua con làm cho bã tức điên người. Con đi chơi với cả 2 anh, 2 anh đó đều là bã chọn cho con cháu bã. Cả hai người đều thương con hơn là hai đứa kia. Con thấy bã gào lên như bà điên mà con sướng quá trời. Hồi xưa bã giựt chồng của út thì bây giờ cho bã nếm mùi mất con rể, cháu rể. Con thề con sẽ làm cho bã điên đảo thêm nữa, còn làm cho hai đứa nó khóc lóc thêm nữa con mới vừa lòng.

Một mảnh giấy khác nữa tiếp theo:

Họ sợ lắm rồi út ơi, mấy con mẹ đánh bài chạy bò lê bò càng, bã thì rú lên như ma sói. Hà hà. út ơi, út vừa lòng chưa?

Đọc tới đây Linh đã hình dung ra được mọi chuyện xảy ra ở nhà Kim Long. Một cô bé bị ức hiếp đủ điều, đến khi phát hiện ra chuyện bí mật và khi đã có cơ hội, cô không ngần ngại gì mà không tìm cách trả lại món nợ khó đòi. Vừa ra mặt gây phiền hà lại vừa âm thầm lẻn vào nhà lúc nửa đêm giả ma giả qủy. Nhưng liệu anh sẽ làm gì với cô gái tội nghiệp đó đây ?

Linh nghe đi nghe lại không biết bao nhiêu lần những đoạn ghi âm rời rạc cũng có mà suông sẻ cũng có. Anh băn khoăn với những ý kiến trái ngược nhau. Nhận tiền để điều tra chuyện này nhưng bây giờ chuyện đã rõ ràng thì anh lại thấy như vướng vào một bụi gai khó gỡ. Nếu thẳng thắn anh sẽ đưa những mảnh giấy này ra mọi người đọc. Mọi ám ảnh ma quái được đưa ra ánh sáng, Tâm sẽ lộ ra trò ma qủy của cô . Nhưng làm như thế có bất công với cô gái bất hạnh này không?

Linh tự đặt mình vào hoàn cảnh của Tâm, một đứa bé lớn lên không nhớ mặt cha, hai mẹ con sống nhờ vào gia đình người khác đã là một nỗi đau rồi. Lớn lên một chút và cho mãi đến bây giờ cô luôn bị bà chủ nhà đối xử tàn tệ. Tuy ông Kim Long có tốt với cô nhưng bao nhiêu đó có vá víu được nỗi đau trong lòng cô không? Cái chết của ba cô, cô không trách hờn ông Kim Long đã đành, dù rằng nếu đối với người khác, chắc gì mẹ con họ đã chịu sống an phận như vậy; nhưng còn cái ngày cô khám phá ra bí mật cái chết tức tưởi của cô ruột mình, cô đã bị choáng như thế như thế nào? Nỗi giận hờn nhiều năm bị dồn nén, tích lũy nay được thổi bùng lên bằng sự căm tức, oán thù những kẻ đã đem lại sự bất hạnh cho người thân. Không biết làm gì để trả thù, cô đành chọn lối chơi tai ác khủng bố tinh thần họ. Bằng vào cái nhanh nhẹn của mình giấu trong bề ngoài ngờ nghệch. Ai trong nhà này mà không coi cô là con nhỏ ngờ nghệch chứ? Nửa đêm cô trèo qua cây vú sữa, lẻn vô phòng Phụng đốt nhang đỏ rực lên. Chó trong nhà đã quá quen với cô, có đâu mà sủa. Vả lại những người này mang trong mình cái ám ảnh căn lầu có ma nên nhìn thấy là sợ run rồi. Làm gì có ai dám vào truy tìm đâu. Mà có tìm cũng chẳng nhanh hơn được với cô, Mặt khác cô dùng chính con người mình dựng lên vở kịch tình ái, cố ý gây đau khổ cho lớp hậu duệ của con người năm xưa đã gây tang tóc. Một kiểu trả thù xưa như quả đất mà vẫn có bao nhiêu người mắc bẫy.

Bảo rằng cô không có lỗi thì không đúng nhưng cái lỗi này có đáng được tha thứ hay không? Bà Nguyệt Lan hiện phải đang điều trị trong bệnh viện Tâm thần, ngày nào cũng la hét đòi mạng người khác. Người đàn bà dữ dằn này chịu sự trả thù như thế có hợp lẽ trời chưa? Liệu anh có dám đứng ra phán xét không?

Nhưng chẳng lẽ lại giao Tâm cho gia đình họ xét xử. Tội cho cô quá, bao nhiêu năm lớn lên là bao nhiêu năm cô phải gánh chịu những nỗi bất công rồi. Sao lại để cô phải xấu hổ vì lầm lỗi của mình thêm nữa. Gia đình này sống trên nhung lụa, trên chính những đồng tiền của bà Phụng để lại, họ đã có quá đủ hạnh phúc rồi, có cần phải thêm một chút kiêu hãnh cho họ nữa không?

Anh suy nghĩ nát cả đầu mà không tìm ra cách nào cho trọn vẹn đôi đường. Anh lại bỗng nhớ khuông mặt nghiêm khắc của Út Phụng mà anh thấy trong lúc bát nhang bốc cháy. Tự nhiên anh thấy sợ, nó như một lời cảnh cáo anh. Nếu Út Phụng linh thiêng như ông Kim Long kể, chắc chắn bà không để yên cho anh trừng trị cháu bà. Nói ra thì thật là hoang đường cho một người làm nghề thám tử như anh, Nhưng quả thật lúc đó anh nhìn thấy rõ ràng nụ cười trong tấm ảnh của Kim Phụng vụt tắt, thay bằng một gương mặt đanh lại lạnh lùng.

Chiều hôm đó Linh đến nhà Tâm, cố tình nài nỉ Tâm đi với mình ra quán uống cà phê. Tâm ngần ngại không muốn đi nhưng nghe Linh nài ép quá cuối cùng cũng phải bằng lòng.

Họ vào một quán cà phê sang trọng, Linh yêu cầu dọn vào trong một phòng riêng nhỏ. Tâm lúng túng đi bên Linh, trông cô thật tội nghiệp. Có lẽ đây mới là lần đầu Tâm đến một quán nước cao cấp thế này.

Đóng cửa phòng lại, theo kinh nghiệm, Linh đi kiểm tra một lượt quanh phòng, anh muốn đảm bảo cuộc nói chuyện ngày hôm nay chỉ anh và Tâm, biết đâu ông Long chẳng chơi trò hai mang, lại thuê một thám tử khác theo dõi anh.

Nhưng đó là Linh quá lo xa, chuyện anh ngẫu nhiên chọn quán này làm sao có ai biết được, ngay cả Tâm. Vì thế cho nên sau khi kiểm tra kỹ càng, Linh yên tâm ngồi xuống đối diện Tâm.

Tâm ngượng ngịu khuấy ly cam tươi được mang đến cho cô. Linh xoay tròn phin cà phê trong tay, anh chưa biết phải mở đầu câu chuyện như thế nào. Nhìn vẻ bối rối ngượng ngùng của Tâm. Linh thấy thương hại nhiều hơn là ghét bỏ. Tự nhiên anh muốn đứng về phía cô, về những con người thật thà chân chất mà luôn bị số mạng hất hủi hơn là những con người qúy phái trong ngôi nhà mà anh đã gặp.

Một lát Tâm hỏi:

- Anh đưa tôi đến đây để làm gì?

Linh thở một hơi dài, đã đến lúc rồi đây, anh nói:

- Đầu tiên, cô nên hiểu tôi đến đây gặp cô với tư cách của một người bạn, mặc dù cả hai chúng ta quen nhau chưa được bao lâu. Vậy nên trong câu chuyện ngày hôm nay, cô không cần phải căng thẳng hay giấu giếm gì cả.

Tâm cúi mặt, nói khẽ:

- Cái gì cần nói tôi đã nói với anh rồi.

Linh gật đầu:

- Đúng thế, cái gì cần cô đã nói rồi, nhưng cũng còn sót vài thứ.

Anh đổ ra bàn nắm giấy anh đã lấy từ sau bức ảnh của Phụng. Tâm xanh mặt, cô mím môi không nói. Một lúc, Tâm mới cất tiếng:

- Anh biết hết rồi phải không?

Linh chăm chú nhìn Tâm, anh gật đầu.

Họ im lặng một lúc lâu, rồi Tâm nói:

- Anh đã biết rồi thì tôi không nói nữa. Bây giờ anh muốn sao thì tùy.

Linh gật gù:

- Đồng ý, không nói nữa. Nhưng cô có biết nếu gia đình bà Lan đem những thứ này ra tố cáo với pháp luật cô sẽ bị khó dễ như thế nào không?

Tâm cứng rắn:

- Tôi làm tôi chịu. Miễn là không liên quan đến mẹ tôi.

Linh chưa buông tha:

- Bà Lan hiện đang ở trong bệnh viện tâm thần, cô biết chứ. Trò chơi của cô gây hậu quả đâu có nhỏ.

Tâm phẫn uất:

- Thì đã sao? Hai người họ gián tiếp giết cô tôi, vì họ mà tôi phải trở thành đứa trẻ côi cút. Bao nhiêu năm nay bà Lan đối xử với tôi còn thua con chó trong nhà. Luật pháp đâu có xử những chuyện này đâu? Có ai biết cả nhà họ, con cháu họ sống trên mồ hôi nước mắt của cô tôi không?

Linh thở dài:

- Tôi biết cô hận họ, nhưng cô nghĩ sai cho ông Long rồi. Bao nhiêu năm qua ông ta đã hối hận vì việc làm của mình.

Tâm cười khinh bỉ:

- Hối hận? Hối hận thì còn làm được việc gì chớ? Khi một người đã cố tình phản bội người ơn của mình, hất hủi người vợ, đứa con của mình đến nước phải bỏ mạng thì ông ta có còn là người nữa không?

Linh nhắc nhở:

- Không phải cô cũng đã công nhận ông ta rất tốt với mẹ con cô sao?

Tâm im lặng không nói, một lát cô hỏi:

- Việc đã thế này, bây giờ anh muốn gì?

Linh im lặng không nói. Anh lặng lẽ nhặt hết toàn bộ số giấy trên bàn, cho vào chiếc dĩa đựng tách cà phê và trước đôi mắt chăm chú của Tâm, anh…châm lửa đốt cho cháy rụi. Tâm ngạc nhiên:

- Sao anh đốt đi?

Linh nhìn cô:

- Không lý cô muốn cho có thêm người đọc những tờ giấy này sao?

Tâm lúng túng:

- Nhưng đó là bằng chứng.

Linh lắc đầu:

- Tôi không cần đến chúng.

Ngưng một lúc, anh nói:

- Chuyện này tôi biết, cô biết. Tôi không nói, cô không nói. Hết.

Tâm thắc mắc:

- Ông Kim Long mướn anh điều tra.

Linh gật đầu:

- Đúng thế.

Tâm vẫn còn thắc mắc:

- Nhưng … anh …

Linh khoát tay:

- Cô đừng quan tâm đến chuyện của tôi, tôi nhận lời điều tra vụ này nhưng không có nghĩa là tôi nhận lời phải tìm cho ra con ma trong căn lầu.

Anh lại nói :

- Cô uống nước đi rồi tôi hỏi thêm cô mấy câu.

Tâm lặng lẽ uống nước. Linh nhìn cô gái nhỏ, tự thấy mình không xấu hổ với chính mình. Chỉ cần đừng có thêm con ma nào xuất hiện trong căn lầu là được rồi, có ai bắt anh phải đem con ma ra đối chứng đâu. Đâu có cần phải đưa cô bé này tới đường cùng như vậy. Bà Lan không phải là người tử tế gì, một thời gian sau với tiền bạc đầy đủ như vậy bà cũng sẽ hết hoảng loạn thôi. Hơi đâu anh phải lo lắng đến người đàn bà hợm hĩnh đó.

Một lát sau Linh nói:

- Cô trèo cây vú sữa, theo đường cửa sổ nhà tắm vào căn lầu lúc nửa đêm tôi biết rồi. Nhưng ngày nào cô cũng vào sao?

Tâm lắc đầu:

- Không phải. Chỉ những khi tôi đốt hẳn một bó nhang lớn đi quanh phòng. Còn những lúc khác có đốm lửa mà mấy người làm nhìn thấy tôi nghĩ đó là ông Kim Long.

Linh gật gù, anh nhớ ông Kim Long có kể anh nghe chuyện mỗi tháng mấy lần ông đến căn phòng bà Phụng ngủ lại, có khi hút thuốc cả đêm. Có lẽ người làm nhìn thấy qua khung kính rồi hôm sau phóng đại sự việc lên.

Linh hỏi:

- Tiếng hú dưới lầu là cô sao?

Tâm gật đầu. Linh lại hỏi:

- Cô làm sao mà lại cho có ánh lửa xanh và cánh cửa mở ra kéo vô mà họ không biết?

Tâm cười:

- Cái này cực khổ hơn. Tôi lẳng lặng thay chiếc quạt trần ở phòng ngoài bằng cái quạt đảo, có ai để ý đâu mà biết. Rồi tôi mua một ít phốt pho, rắc vô một loại băng keo 2 mặt, dán lên quạt. Trong đêm tối phốt pho sáng lên, quạt chạy đảo qua đảo lại là xong. Còn cánh cửa thì quá dễ, tôi núp gần đó, kéo sợi dây. Khi họ bớt sợ, bật đèn kiểm tra thì tôi đã ra ngoài rồi. Đèn sáng thì làm sao thấy phốt pho. Mà họ ai cũng sợ mất hồn, có ai dám kiểm tra kỹ như anh đâu.

Linh hỏi tiếp:

- Còn chuyện bà Lan thấy con ma phất phơ.

Tâm bụm miệng cười:

- Tôi lấy cái áo dài trắng của cô tôi, treo lơ lững trên sợi dây. Tôi định nếu có ai phát hiện thì tôi nói tôi thấy dơ nên đem giặt, phơi. Mà có ai dám đi vô đó mà tìm.

Linh phì cười:

- Nhưng sao cô biết hôm đó bà Lan cần đi ra nhà vệ sinh.

Tâm cười mũi:

- Trưa hôm đó ăn cơm có món canh cua rau đay. Bà Lan hôm nào ăn món này ngày hôm sau cũng chửi nhà bếp nấu ăn đau bụng. Mà tại vì ông Kim Long thích nên thỉnh thoảng dì Hai nấu bếp phải nấu.

Linh hỏi ngược lại:

- Nếu bà Lan không ăn thì sao?

Tâm cười:

- Thì bà ta đã không thấy.

Linh cũng cười theo, cô gái này quả thực là thú vị. Anh lại hỏi:

- Còn chuyện bà Lan gào lên vì hồn ma đòi mạng?

Tâm trầm ngâm:

- Chuyện này khó hơn nhiều. Nhân lúc ông Long đưa bà Lan đi bệnh viện, tôi lẻn vào phòng gắn một chiếc loa nhỏ trên khung hình 2 vợ chồng bã treo trên đầu giường, sợi dây tôi cho nằm chung với dây điện thoại, chạy xuống phòng tôi. Đợi ngày ông Kim Long xuống ngủ dưới lầu, tôi mới mở máy hù doạ bà.

Rồi cô thở dài:

- Tôi còn chưa biết làm sao gỡ nó ra đây. Mấy hôm đó họ bấn loạn nên đi đâu cũng quên không khoá cửa. Bây giờ còn có một mình ông Kim Long ở nhà, tôi không vô phòng đó được.

Linh không hỏi thêm gì nữa. Một lát sau Tâm rụt rè:

- Bây giờ làm sao?

Một lát sau Linh mới trả lời:

- Tôi chưa biết. Rồi anh nói thêm:

- Nhưng này, cô gái. Hai người thanh niên đó đều là nạn nhân trong cuộc trả thù của cô à?

Tâm lắc đầu:

- Không phải. Mới đầu họ đều coi tôi như bạn, nhưng sau đó bà Lan chửi rủa tôi, tôi bực mình mới làm ra vẻ thích cả hai. Không ngờ cả hai lại cùng nói yêu tôi. Thực lòng tôi qúy Kiên hơn. Đông biết vậy nên cố tình muốn đưa ba đến gặp tôi trước. Không ngờ sự thể lại đổi lại như thế. Vì vậy nên sau này với ai tôi cũng thân thiết mà không e ngại gì, một đằng là người yêu, một đằng là em mình mà. Nhưng nhà bà Nguyệt Lan không biết Đông là em tôi. Họ có bao giờ nghĩ là gia đình tôi lại có dây mơ rễ má với ông con Việt kiều đẹp trai đó được.

Linh gật gù. Anh uống hết ly cà phê rồi tính tiền ra về. Khi đi ra cửa Tâm còn hỏi anh:

- Bây giờ anh tính sao.

Linh gắt nhẹ:

- Tính sao? Cô làm rồi bây giờ cô hỏi tôi tính sao? Làm ơn để cho tôi tính được không.

Anh ngần ngừ nhìn cô:

- Tôi nói thiệt với cô, tôi bỏ qua cho cô nhưng không phải ai cũng như tôi đâu. Nếu cô không dừng lại, ông Kim Long thuê người khác điều tra thì không hay cho cô đâu. Vả lại theo tôi, oán thù nên cởi chứ không nên buộc.

Tâm buồn buồn:

- Tôi biết rồi. Cám ơn anh nhiều lắm.

Hai hôm sau Linh đến gặp ông Kim Long, sau khi hỏi han đủ thứ chuyện anh đề nghị Kim Long cho anh thêm một lần nữa đi quan sát ngôi nhà. Kim Long dễ dãi:

- Anh cứ đi đi, lâu nay nhà tôi hoang vắng. Từ ngày Nguyệt Lan đi bệnh viện, chị Mai dắt tụi nhỏ về Huế, tôi cũng ít để ý lắm, thường thì tôi ngủ ngay tầng lầu mà mọi người gọi là có ma.

Linh ý nhị:

- Ông đến đó để chận ma hay sao?

Kim Long cười buồn:

- Ngôi nhà này có phải của tôi đâu. Giả như có ma thì tôi còn làm gì được đây? Tôi nhớ trong Kinh Thánh có câu là: Của Cesar thì trả lại cho Cesar, của thượng đế trả về cho thượng đế. Tôi lo là lo người sống thôi.

Linh thở ra không nói, anh mượn chìa khoá mở hết mọi phòng trong nhà. Nói chung, phòng nào cũng ngăn nắp gọn gàng. Linh khoá cửa căn phòng vợ chồng bà Nguyệt Lan rồi leo lên nhìn vào khung ảnh treo nơi đầu giường. Quả đúng như Tâm kể, có một chiếc loa nhỏ xíu gắn khéo léo sát khung hình, ở xa nhìn như một cây đinh đóng tường để nâng chiếc khung. Sợi dây khéo léo luồn lách sau mấy cụm hoa giả trang trí trên tường rồi chạy cặp theo đường dây điện thoại. Linh nhanh nhẹn gỡ hết mọi tang chứng ra, lòng thán phục cô gái thông minh tháo vác. Sau đó anh xuống tầng lầu dưới, kiểm tra từng khung cửa, quạt tường, những điểm mà Tâm đã thú nhận với anh. Anh tự cười thầm mình đáng lý phải phanh phui ra ánh sáng thì lại tiếp tay xoá hết dấu vết, rồi tự trấn an lòng mình rằng đã làm một việc không tồi.

Khi Linh vừa thu dọn xong vết tích cuối cùng là đường dây dẫn đến nhà Tâm thì ông Kim Long xuất hiện, ông hỏi Linh:

- Anh đã có chút nào kết luận chưa?

Linh cười thật tươi:

- Tôi nghĩ ông thật là người thông minh.

Kim Long nhướng mắt:

- Anh nói gì?

Linh di di những đầu ngón chân xuống nền gạch:

- Tôi cũng nghĩ như ông, đây đơn giản chỉ là một kiểu dọa nạt tinh thần của ai đó.

Kim Long hỏi lại:

- Anh cũng đồng ý như tôi, vụ này có bàn tay con người thu xếp phải không?

Linh thở ra:

- Tôi nghĩ như vậy, nhưng không dám chắc.

Kim Long tỏ vẻ ngạc nhiên:

- Tôi tưởng anh có bằng chứng rồi?

Linh lắc đầu:

- Bằng chứng thì không có, nhưng tôi thấy trong nhà ông khí dương thịnh vượng như vậy thì hồn ma bóng quế nào dám ra mặt đây.

Ông Kim Long có vẻ phấn khởi:

- Anh cũng biết coi âm số à?

Linh đáp liều:

- Tôi không giỏi để có thể nhìn thấy vong linh người chết, nhưng tôi thấy khí dương bao phủ ngôi nhà này, chỉ có điều…

Anh hạ giọng:

- Người đàn bà trẻ trong ngôi từ đường đó thật là linh hiển.

Không kềm được, Linh rùng mình tự nhiên, anh nhớ tới khuông mặt nghiêm khắc lạnh lùng của Phụng. Kim Long suy nghĩ một lúc rồi gật gù:

- Được rồi, tôi sẽ thuê thêm người canh gác ngôi nhà này. Đề phòng trộm vặt ấy mà.

Ông chợt mỉm cười thê lương:

- Trộm thì còn đề phòng được, chớ nếu cướp một lần nữa thì đâu còn ai đem mạng sống ra vì tôi đâu.

Linh chợt chạnh lòng, người đàn ông này ân oán nặng trĩu trong tim, ai bảo vợ đẹp con khôn tiền bạc dư thừa là hạnh phúc đâu? Đôi khi người ta thèm một chữ nhàn biết bao nhiêu? Anh nói:

- Tôi tài hèn sức mọn, không xứng đáng với đồng tiền ông trả công, chẳng giúp được ông việc gì.

Kim Long lắc đầu:

- Chẳng phải một mình anh, ai cũng thế thôi. Ai gây nợ thì phải trả, có ai giúp được ai trong quy luật này đâu? Ông trời vốn rất công minh mà.

Ngừng lại một lúc, ông tiếp:

- Công cán thì anh cứ giữ, còn biên bản thì anh kết luận giùm có người ngoài đột nhập vào nhà căn cứ theo cái nọ cái kia gì đó. Tôi muốn Nguyệt Lan – Cầm Minh sau này yên lòng hơn.

Một lát ông lại tiếp:

- Một thời gian ngắn nữa tôi đưa Cầm Minh và mẹ nó về Huế, ngôi nhà này tôi sang tên lại cho con Tâm, trên giấy tờ nó là con nuôi tôi mà. Lúc đó coi như mọi ân oán trong đời tôi đã được giải tỏa hết.

Linh bùi ngùi:

- Ông bỏ lại toàn bộ cơ nghiệp này lại rồi về Huế ông sống bằng gì? Nuôi mẹ con họ bằng gì ?

Kim Long cười buồn:

- Cầm Minh trước sau gì cũng đi lấy chồng. Anh chị tôi có gửi cho cháu một số của hồi môn. Còn tôi và Nguyệt Lan về đó, sống dành dụm bằng tiền tiết kiệm thôi. Thỉnh thoảng có thiếu thốn thì cũng còn cậy nhờ anh chị ở nước ngoài, vài năm thôi rồi mình cũng sống được nữa đâu.

Linh gợi ý:

- Ông trả lại nhà cho cô Tâm là đủ rồi, còn cơ xưởng thì ông có quyền giữ lại chớ?

Kim Long lắc đầu:

- Tôi đã nói cái số tôi nếu không được Phụng phù hộ thì chẳng thể làm ăn gì được. Thôi thì đành chấp nhận cái dở của mình. Còn Nguyệt Lan sau này phải tự hiểu là đâu có ai giàu sang mãi được đâu. Tiền là bạc mà.

Linh băn khoăn:

- Bà ấy quen được ông cung phụng rồi.

Kim Long buồn buồn:

- Chị Mai, bà ngoại con Minh cũng đều nói tôi như thế. Họ nói tôi chiều chuộng Lan nhiều quá nên Lan không biết kính trên nhường dưới, không biết đất trời phép tắc. Họ biểu tôi phải để cho Lan biết khổ như mọi người thì mới biết qúy trọng cuộc đời này.

Linh hỏi lại:

- Đến bây giờ ông mới nghĩ đến điều đó liệu có muộn quá không?

Kim Long gật đầu:

- Quả là rất muộn, nhưng dù sao sự việc cũng phải đi đến đó thôi. Tôi không thể nắm giữ mãi tài sản của vợ tôi. Đã đến lúc phải trả lại cho gia đình cô ấy. Coi như mười mấy năm nay tôi muợn đầu heo nấu cháo, hưởng chút lợi lộc từ của cải để lại thôi. Còn bây giờ đã đến lúc rồi.

Ông thất thểu bỏ đi. Linh nhìn theo, bùi ngùi cảm động. Ai cũng có những lầm lỡ, nhưng có những lỗi lầm có thể xoá đi làm lại nhưng cũng có những lỗi lầm mà muôn đời không bôi xóa được, những lỗi lầm khi đã xảy ra rồi thì người ta có kêu đến trời cũng không có cách gì thay đổi. Và cũng chính vì thế mà họ luôn phải đối diện với chính những lầm lỡ của mình.

Linh bước chậm rãi về ngôi từ đường, anh muốn thắp một nén hương. Ngoài kia trời đang nắng.

Ngày 22/07/2008

An Chu
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn