BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 28219)
(Xem: 27165)
(Xem: 25418)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Cưới đi tù

13 Tháng Mười Hai 201112:00 SA(Xem: 720)
Cưới đi tù
56Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
56
- Ê Văn, tao sẽ gặp mày ở Câu lạc bộ Bà Lạc cạnh cư xá lúc 8 giờ tối nay nghen.

Thắng nói xong, chẳng chờ tôi trả lời là hắn rú ga dọt, trong lúc tôi đang dẫn đại đội khóa sinh về trại Trần Quốc Toản.

Sau khi phân chia công việc cho các Hạ sĩ quan và không quên nhắc nhở Thức là khóa sinh đại đội trưởng đôn đốc việc canh gác, tôi đi gặp Thắng, hắn đang ngồi thừ bên chai bia đang dang dở mà mắt nhìn đâu đâu.

Thấy tôi, Thắng hỏi ngay:

- Văn, mày có biết cộng quân tiến chiếm Khánh Dương và tràn đến gần đèo Phượng Hoàng rất gần trung tâm Lam Sơn mình, hiện đơn vị nhảy dù đang bị bao vây! Mày tính sao?

Tôi hoang mang ngồi im lặng thì Thắng hỏi:

- Còn 3 hôm nữa là đám cưới mày rồi, làm sao bọn tao đi được trong lúc này, và hôm nay chúc mừng mày vậy. Chuẩn bị đi, dù sao mày cũng đã có phép trong tay và tình huống tệ hại nhất mày nhớ dẫn vợ theo và mình sẽ gặp nhau ở Cam Ranh.

Hai thằng tôi uống không nổi 2 chai bia và chúc may mắn nhau trước khi chia tay.

Sáng hôm sau tôi nhận lệnh trực tiếp từ Đại úy Hòa, Tiểu Đoàn trưởng về kế hoạch di tản, ông chúc mừng tôi lập gia đình và rất tiếc ông không đại diện cho tôi trong ngày cưới được, lần nữa ông chúc tôi may mắn và bảo tôi thu xếp gặp lại đơn vị tại Cam Ranh, từ đó đến nay tôi không biết gì về ông cả.

Thật ra từ đầu tháng 3/1975 tôi đã có được giấy phép kết hôn với 4 tuần nghỉ phép. Thiệp cưới bọc nhung đỏ in đã xong, đã mời được anh em và các cấp chỉ huy nhận lời đúng ngày 1 tháng 4 thế mà....

Tờ mờ sáng ngày 1 tháng 4 năm 1975 đúng ngày cưới, tôi mặc thường phục chở theo bọc đồ đạc, vũ khí cá nhân, đành rời đơn vị trong tâm trạng thật buồn và hối hận như trốn tránh một trách nhiệm.

Khi tôi về đến nhà, mọi người lo lắng nhìn tôi vì nóng lòng chờ đợi. Còn 30 phút nữa thì tiến vào nhà họ gái. Tôi mặc vội chiếc áo dài đen, khăn đóng mà Mẹ tôi lo sẵn và vào ngay hàng ngũ rước dâu như đã chuẩn bị từ bao ngày,.

Lễ cưới vội vã, thủ tục đầu cần thiết lướt nhanh và bữa tiệc vừa bắt đầu thì vài phút sau đó những tiếng la ó, kêu vang ngoài cửa. Phần lớn khách đàn ông hơ hải ra về chẳng màng đến từ giã chúc tụng hay tiễn đưa, nên bây giờ tôi cũng không nhớ rõ ai là ai. Ngoài đường xe cộ chạy tán loạn, lính địa phương chạy lung tung.

Tôi quá mỏi mệt vì thiếu ngủ từ nhiều đêm trước ở đơn vị cộng với bao việc dồn dập, nên tâm trạng rối bời. Khoảng 6 giờ tôi chở người vợ vừa cưới trên chiếc Honda tiến về hướng biển, có lẽ vì hốt hoảng mà tôi cùng vợ ngã té sóng xoài trên đường thoát, tay chân trầy trụa. Xuống đến biển chỉ thấy những chiếc ghe máy nhỏ đầy người lơi bơi vô định. Nhìn quanh chẳng còn phương tiện nào để đi, thế là chúng tôi quay về.

Đêm tân hôn nằm nghỉ bên nhau mà quần áo chúng tôi mặc dày đến 2 lớp, cái xách đồ cầm tay luôn kề bên mình phòng khi bất trắc. Vợ chồng tôi qua 3 ngày đêm bên nhau đầy lo toan, và trời vừa tối phải thay đổi nơi ngủ vì quả thật việc bất trắc gì cũng có thể xẩy ra được trong lúc này. Trời tháng 4 thật nóng, càng nóng hơn với những lớp áo quần dày cộm cả ngày lẫn đêm.

Ngày 4 tháng 4 năm 1975, trưa ngày thứ 4 sau ngày cưới của tôi, Việt cộng phát loa ra lệnh trình diện. Tôi đành phải chia tay cha mẹ và người vợ mới cưới để lên đường 2 tuần cải tạo như họ đã tung tin, cùng đi có hơn 15 người chung số phận.

Không ngờ nơi đến trại tù cải tạo lại là quân trường Lam Sơn, mới 4 ngày trước đó tôi từ giã chia tay bạn bè cùng đơn vị thế mà.....

Gần 2 năm nơi trại Lam Sơn, họ đã đổi bảng từ Tổng Trại 3 cải tạo thành Trại tù tàn binh. Dù sao thì số phận của hơn 500 tù binh chỉ quanh quẩn chặt tre, cây rừng, lá cọ, gỡ mìn, trồng khoai sắn, đào ao, giếng , và đói xót. Bao điều ấy đã làm những đầu óc thông minh, thân thể cường tráng biến thành đờ đẫn, ngu muội và héo hắt.

Có lần tôi cùng hơn 200 người bị chuyển lên Đồng Trăng để đục đá, khiêng đá làm đường. Khi đến vào đêm tối, mưa to gió lớn, cả đoàn người ướt như chuột và phải tìm cây leo để ngủ vì sợ thú rừng. Những ngày kế tiếp là chặt cây làm nhà ở, từng toán 10 người. Có hơn 5 tháng ở Đồng Trăng mà không một ai trong chúng tôi tráng khỏi sốt rét. Người tôi tái xanh vì bệnh và thiếu ăn. Có lần mấy anh em bắt được con kỳ đà đem đốt, nướng, kho đủ loại. Tôi ăn được miếng thịt ở đuôi mà nhai hoài chẳng đứt, nuốt vào lại sợ đau nên đành bỏ đi mà cứ tiếc. Có lần cả toán chúng tôi đi lấy bắp ở những mật khu của họ cả 3 ngày đi rừng. Dọc đường tôi lên cơn sốt rét nặng, họ bỏ tôi lại ở làng người Thượng, không thức ăn và thuốc uống. Vì sinh tồn tôi dần đến làm quen và ăn ở chung với họ hơn 2 ngày đêm dù có cảm giác ghê ghê. Tuy nhiên tôi hiểu ra họ là những người đáng thương, sống trong điều kiện sống nghiệt ngã nhưng tâm hồn lại đầy yêu thương, trong sáng và tự do.

Không biết phải làm gì tôi tìm mấy mảng đá non, dùng đầu cây rựa gãy mà tạc được 1 bức tượng tướng cướp và 1 tượng nữ tu kích cỡ hơn bàn tay dày 5 phân, mà hiện giờ tôi còn lưu giữ ở quê nhà.

Sau hơn 2 ngày, đoàn tù vác bắp khô trở về ghé làng Thượng đón tôi. Thấy tôi đi được, tên bộ đội chỉ định tôi và người tù khác khiêng cối đá xay bột về trại, nhiều lần tôi té ngã vì không quen vừa khiêng cối mà đi trong rừng núi rậm rạp chằng chịt dây leo, cỏ rậm.

Rừng Đồng Thăng có lá lốt thật nhiều, loại lá mà người ta cuốn thịt bò để nướng. Còn nơi đây chỉ biết luộc lên để ăn thật khó nuốt.

Ngày thăm nuôi đầu tiên sau hơn 4 tháng, vợ chồng tôi gặp nhau bên bờ suối trại Đồng Trăng cùng một số thân nhân khác với sự theo dõi của bộ đội mang súng đi qua đi lại. Vợ tôi đi bằng xe đò, xe 3 bánh, đôi vai vợ tôi không quen cũng phải gánh gồng lội bộ hơn 1 ngày đường. Sờ lên má tôi đầy râu lộn xộn, nàng khóc và nói da anh xanh lắm. Chúng tôi chẳng dám hôn nhau vì tên quản giáo trại quân khu 5 trừng trừng nhìn chừng, chỉ nắm tay nhau thật lâu không nói được gì. Nhìn vào bàn tay tôi sần sùi, nứt nẻ, nước mắt nàng càng chảy xuống đôi má hồng tự nhiên của người đàn bà 20 tuổi. Chúng tôi chẳng dám nói nhiều, tôi chỉ biết khuyên nàng chịu đựng và đợi chờ. Vài giờ thăm nuôi được ấn định đã hết, tôi đưa nàng cành lan rừng và 2 tượng đá hình nổi bán thân, nói dối nàng đây là một thanh niên và người nữ tu. Nàng nhận và chẳng nói gì, tôi về lại rừng với các bạn đồng tù, nàng còn đứng nhìn tôi có lẽ mãi khi tôi khuất sau lùm cây.

Sau 5 tháng, đoàn tù chúng tôi trở về trại tù Lam Sơn, Dục Mỹ. Chúng tôi đã khác, đầy kinh nghiệm rừng rú và thân thể nhẹ nhàng, da ai cũng đổi thành màu vàng tái, xám xịt, không buồn nói chuyện.

Trại Lam Sơn giờ có đến hơn 1000 người, vì số tù binh tăng thêm do Sài Gòn thất thủ, số sĩ quan không rời nước được đành về quê, một số bị bắt ở chiến trường chuyển đến. Trại được chia làm 5 khu riêng biệt để họ dễ cai quản. Cạnh khu tôi là khu của Lý Tống đang bị nhốt trong thùng sắt, có lần tôi gặp là những lúc họ cho Lý Tống mặc quần cụt cạnh bên là chiếc nón sắt vừa ăn và uống, đang đứng ngoài thùng sắt một lát để tránh xỉu vì sức nóng và tránh phải chở đi bệnh viện.

Trở về Trại Lam Sơn, chúng tôi bị hành hạ về ăn uống, một ít cơm, khoai và ăn với củ cải trắng nấu với nước muối do chính chúng tôi phải trồng theo kế hoạch của trại, tưới bằng nước tiểu và phân.

Hằng ngày chúng tôi chia nhau kẻ chặt cây, cắt lá cọ, nhất là chặt tre. Mỗi người qui định 10 cây, làm nát cả tay, nứt cả chân vì khuân vác băng rừng lội suối. Quy định mới của Trại là thăm nuôi 3 tháng được 1 lần, thân nhân mang tối đa 2 kg đồ ăn. Tuy nhiên trong những ngày đầu thăm nuôi ăn uống bất thường làm dạ dày khó chịu nên thi nhau mà tiêu chảy ngày đêm. Cực nhất là đến đêm người rã rời mà phải ngồi ca hát nghe nga hàng mấy chục bài ca ngợi cách mạng vì cán bộ mang súng lảng vảng quanh nhà cho đến 11 giờ đêm mới được ngủ.

Một số anh em bị chết vì gỡ mìn, có hai người bị bắn vì trốn trại và có mấy người trốn trại được an toàn trong đó có Trung Úy Huỳnh Lưỡng bên Hải Quân hiện đang ở Atlanta và Lý Tống bên Không Quân.

........................


Gần hai năm tôi được phóng thích khỏi trại tù Lam Sơn tính ra mới có 24 tuổi. Cái tuổi con Rồng mà có lần một ông thầy tướng số vùng huấn khu Dục Mỹ trịnh trọng báo tin số tôi đúng là vận làm quan lớn, cái cấp tướng 2 sao là nằm chắc trong tay và có thể đạt được trước tuổi 37


Tôi và Thắng, hai thằng đều mang cái xách nhỏ, tờ giấy phóng thích màu hơi vàng nhỏ xíu nắm trong tay từ từ bước đều về phía cổng chính trại tù không một lời chuyện trò.

Vừa ra cổng được mấy bước, riêng tôi thấy đôi chân như nhẹ hều, mỗi bước thật dài và nhanh không sao dám quay đầu nhìn lại. Đứng bên vệ đường không hơn 5 phút, đã đón được chiếc xe Lambertta 3 bánh chở hai đứa tôi xuống bến xe Dục Mỹ.

Chúng tôi đứng đón xe gần cổng trại Tù tàn binh Lam Sơn, hai bộ đồ bà ba đen bạc thếch, mặt mũi tái xanh, chắc dân họ biết chúng tôi là ai nhưng không buồn để ý, không buồn hỏi, vì họ còn biết bao việc khó khăn, đau thương trong cuộc sống cần suy nghĩ hơn.

Thắng chỉ còn đủ tiền vé xe đò từ Ninh Hòa về Phan Rang. Tôi dư dả đôi chút do cất giấu lần thăm nuôi sau cùng nên bảo Thắng yên trí vào bàn ăn. Hai thằng tôi kéo ghế và gọi hai tô phở, hai ly nước chanh. Nhìn đồng hồ tường mới 11 giờ sáng. Phở vừa bưng ra chẳng cần đợi rau, giá là hai thằng tôi đã chuẩn bị đũa, muỗng cúi xuống xụm xụp đẩy lẹ vào bụng.

Mới chừng phút đầu là đã cạn nữa tô, tôi chợt thấy đôi chân mang dép râu tiến gần bàn và như đang đứng nhìn tôi. Ngước nhìn, một đôi mắt thật sắc bén đầy uất hận trừng vào tôi. Chuyện gì đây!

Bất giác hắn hỏi:

-Mày có phải là Đại đội trưởng Trinh Sát sư đoàn 23 không?

Tôi trả lời:

-Không, thưa cán bộ

Tôi biết là hắn nhìn lầm, tôi chỉ là Huấn luyện viên và Đại đội trưởng trong quân trường. Tôi có một cảm giác thật khó chịu mà đành nén lại, vì hắn có thể gây tai vạ không lường được cho số phận chúng tôi.

Hắn vẫn đứng, mặt vẫn gầm vào tôi mà hỏi:

-Chúng mày trốn trại hay phóng thích?

Nhìn qua Thắng, nét lo sợ ra mặt, vờ cắm cúi ăn. Tôi căm tức cái xấc xược của hắn nhưng đành lên tiếng:

-Thưa cán bộ, chúng tôi được phóng thích

Dường như càng nhìn tôi, hắn như biết đã lầm người hắn đã từng gặp ở chiến trường, nên giả vờ lên giọng: "Phóng thích sớm thế" và bỏ đi.

Cắn nhanh miếng thịt, uống vội miếng nước chanh, bao tử tôi còn cảm nhận sự thiếu thốn. Tôi nhìn Thắng, rồi đứng dậy trả tiền mang xách đi ngay dù rất thèm và tiếc nhìn nữa tô phở còn lại. Hai thằng tôi đón xe xuống bến Ninh Hòa. Chúng tôi bắt tay nhau mà chẳng biết nói gì, và cũng chẳng một hứa hẹn nào cho cuộc sống, như ngầm nói nhau lời chúc an lành và may mắn.

Thắng đứng bên kia đường đón xe đi Phan Rang, còn tôi đang nhìn tìm xe thì có tiếng kêu to:

-Thiếu Uý, em là Thức đây, em làm xếp bến xe khách này đó. Thiếu úy cải tạo về hở, mừng quá, để em lo.

Tôi nói nhỏ vào tai Thức:

-Kêu vậy ngại lắm.

Thức nghe lời và bảo tôi lên chiếc xe Daihatsu 4 bánh đi Vạn Giả và tôi nghe lời nhắn gởi với ông tài xế: "Ông thầy tôi đó."

Bác tài gật đầu:
-Tôi biết mà

Thức được tôi chỉ định là Đại đội trưởng khóa sinh, tính khí thật ương ngạnh nhưng biết cách điều khiển hắn thì lại rất tốt.

Xe lăn bánh, tôi nhìn sang bên kia đường. Thắng vẫn còn dáo dác chờ xe, mặt hắn nhăn nhó. Chưa đầy 2 năm mà chúng tôi thật khác quá. Thắng là huấn luyện viên khoa tổng quát, mới ngày nào là một nghệ sĩ tài hoa, chơi bóng bàn rất giỏi lại dòng dõi gia thế Phan Rang, thế mà....

Càng nghĩ càng hoang mang, tôi muốn quên không nghì tới Thắng nữa và cũng cần quên cả chính mình, đơn giản là mong sao xe chạy thật nhanh, bình thường thì hơn một giờ nữa là tôi sẽ gặp lại gia đình, nhất là nóng lòng gặp lại người vợ mới cưới mới 3 hôm là bị lùa đi cải tạo.

Vợ tôi, Xuân Hòa, không có cơ may được hưởng thụ những niềm vui hãnh diện là vợ của một Sĩ Quan QLVN Cộng Hòa, chưa được tiếp xúc bạn bè với nụ cười tươi, chưa được một cuộc sống bình thường của các người vợ Sĩ Quan thì đã thành ngay vợ của quân nhân bại trận không chinh chiến ngay giữa tiệc cưới.

Ngày cưới 1 tháng 4 năm 1975 của tôi với nàng là dấu mốc chuyển đổi không văn tự, nhất là nàng biến ngay thành vợ của một ngụy quân, vợ của kẻ bị khinh miệt trong chế độ mới, và dằn vặt đau thương hơn là vợ của người tù cải tạo vài hôm sau ngày cưới.

Xe chạy, tôi buồn bã nghĩ về mình, mới ngày nào huấn luyện viên khoa vũ khí, một đại đội trưởng trẻ trung, đầy nhiệt huyết, thế mà cái ngày 1/4/75, ngày thành hôn của vợ chồng tôi lại rơi đúng ngày tang thương thay đổi mọi vận mệnh.

Trại Lam Sơn không phải là nơi lần đầu vợ tôi đến thăm. Lần đầu năm 1974 nàng gặp tôi da hồng hào khoẻ mạnh trong bộ quân phục lúc đang hướng dẫn đại đội đi học ngoài bìa rừng, tâm trạng chúng tôi thật tuyệt vời. Lần thứ hai mới mấy tháng sau đó cũng quân trường này, tôi trong bộ bà ba bạc thếch dưới chòi tranh với làn da xanh tái, yếu ớt, phù thũng. Gặp tôi nàng như người mất hồn, chơi vơi, nhìn tôi lặng lẽ, nắm lấy tay tôi và ấn vào da thịt đang bị phù thũng, nhấc nhẹ ngón tay nhìn vào mà vết lõm vẫn còn nguyên vẹn, nàng xoa nhẹ lên da mà khóc tự lúc nào, giấu mặt cố nén không thành lời để tránh phạm phải qui định thăm tù cải tạo.

Tôi chợt tỉnh vì tiếng trò chuyện quá lớn của hành khách, nhưng tôi không cảm thấy khó chịu, tôi tự nghĩ, chắc họ cũng biết bao muộn phiền đau khổ, nói ra để giải tỏa phần nào những đè nén đau thương trong cuộc sống. Sắp đến nơi, tôi trả tiền nhưng bác tài không nhận. Tôi cảm ơn bác, xuống xe tay mang xách nhỏ lầm lũi về nhà.

Cha Mẹ tôi đã chuẩn bị căn nhà nhỏ cho vợ chồng tôi sinh sống ở một vùng quê hẻo lánh. Hằng ngày nuôi heo, trồng khoai, chuối. Sức khoẻ tôi còn quá kém, sốt rét liên miên, cơn sốt rét từ những ngày tháng đầu bị muỗi đốt ở trại Đồng Trăng còn hoành hành. Vợ tôi bán rau, trái, khoai ở chợ và không quên mua bột cám để trộn với những lát thân chuối cắt mỏng cho heo lớn và quệch nhuyễn trong cối giã cho đàn heo nhỏ.

Tôi thường lên cơn sốt, nên vợ tôi tìm y tá tư đến nhà chuyền serum pha thuốc sốt rét trị bệnh, có người bày vợ tôi gọt thân cây hoa sứ trắng phơi khô nấu thuốc cô lại để uống, màu nâu đen đắng kinh khủng mà tôi uống một hơi, có lẽ chẳng còn niềm tin nào hơn là những gì người vợ đã lo cho tôi. Cuộc sống có khó khăn, nhưng còn niềm vui, dù sao chúng tôi vẫn còn có trở lại những tháng ngày bên nhau.

Tưởng rằng về nơi hẻo lánh để sống đời yên thân, thực tế cho thấy một người tù cải tạo trở về còn bao điều khổ đau khác. Một số không lớn lắm là nhân viên, binh lính thề trung thành của một chế độ dân chủ tự do vài năm trước đó, nay đã hãnh diện cầm loa ra rả tung hô vạn tuế cái chế độ cộng sản. Điều này càng làm tăng thêm nỗi đớn đau của những kẻ bại trận không chinh chiến, những tù tàn binh như chúng tôi.

Tính đến tháng 4 năm 1985, chúng tôi sống bên nhau, có được 6 đứa con, 2 trai và 4 gái. Tôi bước vào tuổi 34, vợ tôi 29, chúng tôi đã là một gia đình đồ sộ đầy tiếng khóc, cười, yêu thương và lo lắng.

Tôi đã chống trả được bệnh sốt rét và sức khoẻ bình phục. Bổn phận gia trưởng buộc tôi phải lăn lộn làm đủ nghề từ thợ điện, thợ máy, xay bắp, xay bột, xắt thuốc lá, ấp trứng vịt, làm ruộng muối...v.v..., sao cho đủ để duy trì cuộc sống của 8 con người.

10 năm sống trong chế độ mới đã làm tôi thức tỉnh, nên tìm cách cho đứa con trai lớn vừa 8 tuổi vượt biển ra đi. Và dĩ nhiên chúng tôi bị đày đoạ lao động và kiểm điểm, khai báo đủ điều. Vợ tôi vẫn miệt mài mua bán để có đủ chi tiêu gia đình cho 5 đứa con còn lại.

Chúng tôi nhận được tin con trai tôi đang ở tại đảo Palawan. Nghe tin này tôi thầm cảm tạ đất trời, nhưng sự lo âu cho con thơ phương xa và con trẻ nheo nhóc nơi này càng làm tăng thêm ý chí ra đi. Chúng tôi đã trải bao cuộc vượt thoát đều thất bại, mỗi lần hỏng là trốn chui nhủi khắp nơi. Cuối cùng đêm ngày 3 tháng 7 năm 1986 chúng tôi cùng 5 con nhỏ ra đi. Thật trớ trêu, tôi và 3 cháu gái thoát được còn vợ tôi và 2 con bị thất lạc.

Tôi và 3 đứa con gái thập tử nhất sanh trên đường vượt thoát, sau cùng được tàu Anh vớt đem vào Nhật. Trong khi đó vợ và 2 con tôi ở quê nhà đang bị giam giữ tại đồn công an.

Tháng 7 năm 1986, chuyến bay đưa tôi và 4 con nhỏ đến Atlanta- Georgia nơi có bà con ở đó, chưa đầy 1 tháng tôi lên Bosston và bắt đầu cuộc sống mới. Các con tôi đứa thì nhà trẻ, mẫu giáo, tiểu học, còn tôi thì theo học tại một trường đại học cộng đồng, hằng đêm làm rửa chén cho một nhà hàng Mỹ.

Năm 1988 tôi về California vì nhiều lý do mà nhẩt là nỗi kinh hoàng trống vắng và đầy căng thẳng sau 8 ngày giải phẩu xương sống tại bệnh viện làm tăng lên sự mong muốn xa rời nơi tuyết lạnh.

Người vợ và 2 con nhỏ của tôi nơi quê nhà đã trải qua 3 lần vào tù, chỉ vì mỗi cái tội vượt bíển. Nàng đã phải bươn chải mua bán nuôi con, cuối cùng đã mượn vàng mang con đi vượt biển cuối năm 1989 và cũng gặp may được tàu Nauy vớt đem vào Nam Hàn

Cuối tháng 12 năm 1990, tám con người của gia đình chúng tôi, sau 3 lần vượt biển, mỗi chuyến là ván bài thách thức số mệnh, cuối cùng đã thắng bằng sự đoàn tụ thật trọn vẹn.

Sự trui rèn kể từ ngày cưới của chúng tôi trải qua 2 lần chia cách có hơn 5 năm, giờ gặp lại chúng tôi đà biết sợ khi mất nhau, đồng thời bao đau thương đã làm chúng tôi tự tin hơn trong cuộc sống. Các con tôi nay đã lớn, bốn cháu đầu đã tốt nghiệp và đi làm, hai cháu còn lại đang học college.

Vợ tôi, người con gái mới cưới năm nào, nay đã là một phụ nữ 50 tuổi, một người đàn bà khéo tay cắt rau, nuôi heo nay lại là một chuyên viên trang điểm làm đẹp cho đời với việc làm 50 giờ mỗi tuần, còn đi mãi những bước đi cần thiết cho gia đình trong niềm hạnh phúc còn lại.

Tôi vẫn còn thú vị nghề nghiệp, dù có hơn 10 năm dạy học trong ngành thẩm mỹ, tôi như hồi sinh nghề nghiệp cũ của đời mình lúc còn trai trẻ ở quân trường. Và chắc có lẽ từ sự yêu thích và thông hiểu những khó khăn đã trải qua này nên tôi đã soạn sách về móng tay, da mặt và tóc bằng song ngữ cho kẻ đến sau để theo học một nghề đơn giản, nhưng hợp năng khiếu để sớm ổn định cuộc sống trên xứ người. Tôi vui vì đã làm được một điều gì đó, không những tăng thêm cho riêng tôi nguồn thu nhập mà còn hữu ích cho đồng hương tôi với khả năng Anh ngữ hạn chế và nhiều bỡ ngỡ trong hoàn cảnh mới.

Tháng 8 năm 2005, chúng tôi đã mời ông bà Nỏrman Dixon là thuyền trưởng chiếc tàu Geomitra cứu mạng chúng tôi 20 năm trước, từ Anh Quốc sang dự lễ cưới của Kiều Lam, con gái đầu của tôi. Lợi dụng cơ hội này chúng tôi cũng đã âm thầm tổ chức một buổi lễ biết ơn ông ngày hôm sau tại hội trường nhật báo Viễn Đông. Buổi lễ biết ơn tuy đơn giản nhưng không kém trang trọng với sự tham dự của những viên chức chính quyền và những nhà hoạt động tích cực trong Cộng Đồng, nói lên lời tri ân tấm lòng nhân đạo của ông cùng thủy thủ đoàn.

Nỗi đau xót nào cũng giúp cho ta ít nhiều kinh nghiệm sống, hãy nghĩ về quá khứ để hướng đến tương lai nhất là những lớp người như chúng tôi không quá già để cố chấp và không còn trẻ để rơi vào những cám dỗ vật chất và ý niệm không tưởng.

Lê Văn

Trích sách viết "Chuyện Người Tù Cải Tạo" trang 292-303 tập II/2007
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn