BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 55069)
(Xem: 50968)
(Xem: 34943)
(Xem: 26731)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Tính đồng nhất về nghệ thuật và sự kiện của Hoa Địa Ngục 1 và Hoa Địa Ngục 2

16 Tháng Mười Một 200812:00 SA(Xem: 566)
Tính đồng nhất về nghệ thuật và sự kiện của Hoa Địa Ngục 1 và Hoa Địa Ngục 2
53Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
53
Khi tập thơ “ Hoa địa ngục 1” được tạp chí Văn Nghệ Tiền phong xuất bản dưới tên “ Bản chúc thư của một người Việt Nam “. Tác giả được đề là “ khuyết danh “ vì khi bản copy của tập thơ được trao lại cho Văn Nghệ Tiền Phong thì tên tác giả và tên tập thơ được dấu kín vì lý do tế nhị ngoại giao và vì sự an nguy của tác giả tập thơ. Tạp chí này đã cho in ở trang sau tập thơ lời đánh giá như sau : đó là một tuyệt tác thi ca, một tiếng lòng phẫn nộ, một thiên anh hùng ca bất diệt nói lên sự bất khuất của dân tộc Việt Nam trước bầy ác thú Cộng sản. Có đọc tập thơ này thì ai cũng đồng ý với nhận định của tờ báo Văn Nghệ Tiền Phong tập thơ Hoa địa ngục 1 đúng là một tuyệt tác thi ca.

Năm 1995 tác giả Nguyễn chí Thiện đặt chân đến đất Mỹ và nói cho mọi người biết tập thơ có tên là Hoa Địa Ngục. Sau này nhà thơ Nguyễn chí Thiện cho in tiếp một tập thơ lấy tên là Hoa địa ngục 2, coi như tiếp nối với tập thơ Hoa địa ngục 1 là tập thơ được Văn Nghệ Tiền Phong in lần đầu tiên. Dù hai tập thơ có cùng chung tác giả , nhưng có một số dư luận xầm xì bôi bác cho rằng thơ trong tập Hoa địa ngục 2 kém xa so với Hoa địa ngục 1. Liệu lời đánh giá này có chính xác và công bằng hay không? Đó là mục đích của bài viết này nhằm phân tích và so sánh trình độ nghệ thuật và những liên hệ và sự kiện để làm sáng tỏ mối liên hệ của hai tập thơ một cách nghiêm chỉnh và công bằng.

Một trong những điểm tương đồng đầu tiên là cả tập thơ Hoa địa ngục 1 và Hoa địa ngục 2 đều có những bài thơ độc vận. Đó là nét độc đáo ở thơ Nguyễn chí Thiện mà người ta không tìm thấy ở những nhà thơ khác.

Thử đọc vài bài độc vận ở Hoa địa ngục 2 để nhìn thấy thể thơ độc vận độc đáo này.
MỘT SỰ BẤT TÍN
Một sự bất tín, vạn sự chẳng tin
Vạn sự bất tín, hỏi ai tin ?
Ấy vậy mà lắm kẻ vẫn tin
Tin tới u mê, cuồng tín !
Do tin tức bốn phương bịt kín
Do sự thực vào tù câm nín
Do “tiếng đầu lòng đã gọi Stalin “ *
Do lũ bồi văn điên đảo mẹ mìn
Do cái đầu tối đen như hắc ín
Chứa chấp toàn Đảng, Bác, Mác, Lênin !
( 1984 - Hoa địa ngục 2 trang 329)
*Thơ Tố Hữu

ĐÔI CHÂN
Đôi chân phù và tê
Năm nhiều, xương cốt ê
Nắng chiều vàng như nghệ
Loang lổ khắp sơn khê
Đêm tối đen bốn bề
Bao người đi không về
Cuộc đời buồn như thể
Tiếng côn trùng lê thê !
( 1986- Hoa địa ngục 2 trang 355)
Riêng bài “ Tài năng “ dùng toàn vần trắc “ ực “ nên còn gọi là “ tử vận “

TÀI NĂNG
Tài năng và đạo đức
Đọa đày và uất ức
Ngu tối và bạo lực
Rông rỡ đà hết mức!
Óc tim ta hừng hực
Bao niềm mơ rạo rực
Muốn nói lên sự thực
Thân tường giam bốn bức !
Thơ đầy, đầu đau nhức
Khó giữ, lòng buồn bực
Đời tù ngày càng cực
Giá rét như nồng nực
Nước lã uống ừng ực
Cọng rau cũng háo hức
Làm sao giữ được sức ?
Gia đình không tin tức
Tháng năm như thách thức
Bao giờ thoát đáy vực ?
Câu hỏi đè lên ngực
Tất cả đen như mực
Thần chết luôn chõm chực !
( 1987- Hoa địa ngục 2 trang 366 )

Chúng ta có thể tìm thấy những bài thơ độc vận trong tập thơ Hoa địa ngục 2 như sau : Ta muốn hôn ( trang 361), Có những con trang 363), Một nơi giữa ( 260), Thần Hổ ( trang 349), Không về ( 257), Đa phần dân ( 262), Vì ta là ( 263), Đảng thì ( 272), Lông lá ( 271), Chúng là ( 276), Trừ số nhỏ ( 279), Đón xuân ( 282), Anh sững sờ ( 284), Cuộc sống nơi ( 301), Chỉ tin ( 302).. tử vận, toàn vần trắc , Chân trong cùm ( 303), Vì máu người ( 303), Cuộc chiến đấu ( 305), Tù ngục ( 311), Mắt kèm nhèm ( 313), Hành hạ ( 318), Tổ quốc ( 319) 64 câu , Như đêm dài ( 332), Không óc ( 333), Có tiếng còi tàu ( 334), Ta mơ ngày ( 337) 117 câu, Cách mạng gì ( 342), Đảng hèn hạ ( 344), Mặt trời ( 355), Giả thừ ( 357), Lịch sử ( 357), Gió vi vu ( 370), Trời bao giờ ( 371), Thầy mẹ ( 374), Sao gần đây ( 395), Tù ăn chay ( 375), Bát ngát ( 375), Tù ăn ( 376), Đảng bất nhân ( 381), Vô phúc ( 382), Kẻ muốn đi xa ( 383), tử vận, Cuộc đời ( 385), Mây trắng ( 389), Quan Vũ ( 394)

Tổng cộng tập 2 có tất cả 47 bài thơ độc vận, không tính các bài 4 câu trong “ Những ghi chép vụn vặt “.

Hoa địa ngục 1 có những bài tử vận và độc vận giống như Hoa địa ngục 2 vậy. Xin trích dẫn vài bài để người đọc thấy rõ;
LÃNH TỤ
Lãnh tụ béo nục
Dân đen gầy rục !
Lao động hùng hục
Họp hành liên tục
Đói ăn khắc phục
Kêu ca tống ngục !
Cộng sản đánh gục
Đời mới hết nhục !
( 1962- Hoa địa ngục 1 ( trang 93 ) tử vận )

TRÊN MẢNH ĐẤT
Trên mảnh đất Đảng gieo mầm tội lỗi
Trong lành cũng phải tanh hôi
Trẻ con chưa nứt mắt đã tù rồi
Bạo lực đi về rất vội !
Chết trận chết tù, hỡi ôi xã hội !
Biết bao là vợ góa con côi
Bán thân rồi lại bán cả mồ hôi
Mà đói rét vẫn quần sớm tối
Mảnh đất chờ trông sám hối
Thức giả tiêu sầu: chai nước lã đun sôi !
( 1964 – Hoa địa ngục 1 ( trang 114)

NẾU CÓ TRỜI
Nếu có trời, đời tôi phải khác
Đâu bị đói nghèo, tù lao tan tác !
Vì tôi chưa làm việc gì độc ác
Và luôn sống với tâm tình chất phác
Dù toàn gặp điều bội bạc
Và lòng buồn như đêm sa mạc !
( 1967- Hoa địa ngục 1 ( trang 145 ) tử vận )

Ngoài ra còn có những bài độc vận trong Hoa địa ngục 1 như sau “ Đêm ngày nghe ( trang 123) , Sao có thể sống ( trang 159), Đêm rừng , một tiếng chim ( 161), Tôi nhớ căn phòng ( 168), Như mũi tên ( 187), Anh là một ( 189), Bước theo nỗi buồn ( 193), Thơ của tôi ( 195), Sương xám ( 202), Mùa đông ập ( 203), Đau đớn lắm ( 205), Từ tư tưởng ( 206), Cuộc đời tôi ( 213), Đất nước tôi ( 213), Dù trời đêm ( 214), Biển đã ( 215), Khi Tồ Quốc ( 220), Từ trẻ tới già ( 229), Mỉa mai thay ( 235), Miếng thịt lợn ( 235), Cuộc cờ ( 237), Khi Mỹ chạy ( 238), Con người không thể ( 243), Con tầu cuộc sống ( 244).

Nói chung Hoa địa ngục 1 có tất cả 27 bài độc vận, đó là không tính đến “ những ghi chép vụn vặt “. Những bài thơ độc vận rải rác trong hoa địa ngục 1 và Hoa địa ngục 2 cho thấy có khuynh hướng sử dụng nhiều đến thơ độc vận để bày tỏ cảm xúc và tư tưởng của mình. Sự liên hệ mật thiết và gắn bó này là một khẳng định cho thấy 2 tập thơ Hoa địa ngục 1 và 2 có cùng chung một người viết và nhà thơ đã tạo ra được những bài thơ độc vận độc đáo thành công, ghi dấu ấn sâu đậm trong tim óc người đọc.

Nhà thơ Nguyễn chí Thiện làm thơ độc vận để chứng minh sự phong phú của tiếng Việt. Tuy độc vận nhưng câu thơ nghe tự nhiên, không hề thấy gò bó, khiên cưỡng. Nếu không để ý , nhiều khi người đọc không biết là độc vận.

Hoa địa ngục 1 có 27 bài độc vận, Hoa địa ngục 2 có 47 bài độc vận. Đó là không tính đến những bài thơ 4 câu trong “ những ghi chép vụn vặt “. Đó là một đặc điểm của thơ Nguyễn chí Thiện. Trong văn học Việt Nam cũng như Trung Quốc, Pháp, Anh , chưa từng có một nhà thơ nào làm như vậy.

Ngoài chuyện thơ độc vận, trong Hoa địa ngục 2 có tới 6 bài liên hệ về sự kiện đến Hoa địa ngục 1

Sau khi giao tập thơ Hoa địa ngục 1 cho Sứ quán Anh vào năm 1979 và bị đưa đến giam ngay vào xà – lim Hỏa lò, Nguyễn chí Thiện đã làm ngay 4 câu :
Thêm mấy chục năm sống nữa tích sự gì
Khi uổng phí cả đời thơ tận tụy
Nay bước lao tù nếu ta ngã quỵ
Thơ đã tung trời, băng lưới thép bay đi !
( Hoa địa ngục 2 bài trang 469)

Khi biết thơ mình đã được in ra ở thế giới bên ngoài, thi sĩ Nguyễn chí Thiện vẫn tiếp tục làm thơ. Trận thứ nhất đã thắng rồi, nhưng trận thứ hai sẽ ra sao? Có thoát khỏi tù ngục, sống sót không? Không quyết chắc được, nhà thơ chỉ còn biết trông vào vận số.
Ta đã thắng hung tàn một trận
Trận thứ hai thắng bại khôn lường
Hơi đã tàn, râu tóc đã pha sương
Ta lặng lẽ giao đời cho số phận
( Bài 213 trang 468 Hoa địa nguc 2)

Nhà thơ vẫn lao tâm, khổ trí, tiếp tục sáng tác , quyết sống, hy vọng Hoa địa ngục 2 sẽ chào đời. Nhưng phải trông vào Thượng Đế vì tù lao khắc nghiệt quá , khó sống sót !
Hoa địa ngục tập hai mà xuất bản
Trận thứ hai ta lại thắng hung tàn
Một niềm vui an ủi một đời tan
Niềm vui này ta quyết sống đợi trời ban !
( Bài 212 trang 468 Hoa địa ngục 2)

Đảng chỉ nghi ngờ là làm thơ, Nguyễn chí Thiện đã bị giam mười mấy năm, không xét xử. Nay Hoa địa ngục 1 đã xuất bản , công khai và ngang nhiên kết tội Đảng, Bác, số phận nhà thơ sẽ ra sao ? Bài thơ “ Cộng sản “ cho thấy tác giả đã lường trước những hậu quả khi tập thơ Hoa địa ngục 1 xuất bản ở thế giới tự do, chắc chắn nhà thơ sẽ bị trù dập , đày đọa, tù ngục. Ở trong hoàn cảnh ấy , nhà thơ chỉ còn biết trông mong vào trời để mong có ngày sống sót trở về
CỘNG SẢN
Cộng sản chỉ nghi ngờ
Loáng thoáng ta làm thơ
Chống chế độ man rợ
Tàn bạo và nhuốc nhơ
Nói lên niềm ước mơ
Cùng nỗi khổ vô bờ
Của dân lành héo rũ
Đã mười mấy năm tù
Nơi rừng rú âm u
Không xét xử êm ru !
Nay công khai là thù
Ngang nhiên thẳng tay giáng
Vào mặt Bác và Đảng
Một tát như trời giáng
Lật mặt trước địa cầu
Đôi mắt Đảng đỏ ngầu
Dưới đáy vực thảm sầu
Ta phen này chìm sâu
Nhưng cuộc đời biết đâu
Còn có trời trên đầu !
( 1980 – Hoa địa ngục 2 trang 270)

Bài thơ “ Nhìn xuất cơm “ , nhà thơ đã cực tả hình thức trả thù của Cộng sản dành cho ông là cho ăn ít ỏi để sức lực ông suy tàn , cạn kiệt và nhu thế là có thễ đi đến cái chết dễ dàng. Chúng hứa Hoa địa ngục 2 sẽ được Diêm vương xuất bản và giun đất đọc ngâm !
NHÌN XUẤT CƠM
Nhìn xuất cơm- cực hình tra tấn
Vừa khổ đau, vừa căm giận bừng bừng
Chúng đương xẻo của ta từng miếng thịt
Hút của ta từng giọt máu bi thương
Chúng cho ta ăn thua một con mèo
Và khoái trá khi nhìn ta xương da lủng củng
Đi đứng lờ đờ, xanh bủng, mắt mờ run
Chúng bảo ta vẫn còn nghị lực
Vẫn ngấm ngầm sáng tác
Tiếp tục ý đồ xấu xa bôi xấu Đảng
Lần thứ hai trước mắt địa cầu
Chúng hứa bắt ta phải quỵ gối, cúi đầu
Ngậm đắng nuốt sầu tới ngày lấp lỗ
Mang theo thơ phú xuống mồ
Nhờ Diêm Vương xuất bản
Cho loài giun đất đọc ngâm !
Ta không trả lời
Lấy mùi xoa lau qua vầng trán
Vầng dương còn cháy đỏ
Dẫu hoàng hôn !
( 1987 – Hoa địa ngục 2 , trang 362)

Sau khi biết được Hoa địa ngục 1 được xuất bản ở hải ngoại, nhà thơ Nguyễn chí Thiện coi như “ một phần công việc đã làm xong “. Đến lúc này ông vẫn có khả năng làm thơ và coi đó như là một ân sủng trời cho ! Bài thơ “ Thoát khỏi nơi “ đã nói lên điều đó.
THOÁT KHỎI NƠI
Thoát khỏi nơi ngục tù Cộng sản
Nơi đọa đày thê thảm nhất trần gian
Hỏi ai không mong đợi ?
Không ít nhiều phấn khởi, vui tươi ?
Riêng ta thầm câm nghĩ ngợi
Đôi khi bật tiếng thở dài
Ta không thể nào thoải mái
Hớp rượu, hớp trà, nói cười, hứng khởi
Khi mẹ cha ta trong đau đớn đã lìa đời
Khi thơ ta chưa thoát được ra ngoài
Đe dọa rất nhiều mà tất cả còn nguyên !
Ta làm sao tránh khỏi ưu phiền
Không nghĩ ngợi !
Khi áo cơm cứ quanh quẩn rối bời
Ta làm sao có sinh thú trên đời
Khi mục đích cả đời ta ước nguyện
Không phút nào quên nung nấu triền miên
Trong óc tim ta ngày đêm thúc giục !
Nay, nếu ta thoát vòng tù ngục
Một phần công việc đã làm xong
Ta có thể an lòng
Chén rượu, chén trà, thảnh thơi
Bên những người thân thiết
Nhưng số phận của ta quả là khắc nghiệt
Có lẽ Trời bắt ta phải chịu nhiều rên xiết
Để cho ta có thể hoàn thành công việc
Dùng thơ ca ngăn họa đỏ lan tràn
Nên giữa xà – lim đen tối lụi tàn
Thơ lại bùng lên, âm thầm tỏa sáng
Khiến ta tự hỏi, bàng hoàng :
_ Lửa thiêng đó từ đâu mà tới ?
Từ trên thượng giới
Trời cho
( 1988- Hoa địa ngục 2 trang 384)

Cả Hoa địa ngục 1 và 2 đều lên án, luận tội chế độ Cộng sản, phi nhân, man rợ, dù trong nhà tù nhỏ cũng như nhà tù lớn, đều toát lên một niềm tin vào chính nghĩa sẽ thắng gian tà, nhân bản sẽ thắng tàn bạo. Hoa địa ngục 1 và 2 là một giòng sông thơ cùng phát nguyên từ đáy địa ngục Cộng sản.

Nếu có sự khác nhau thì đó là về nghệ thuật

Hoa địa ngục 1 có những bài làm khi còn quá trẻ, còn mang nặng ảnh hưởng của thơ mới, chưa có gì đặc sắc. Nhưng càng về sau, càng làm chủ được ngòi bút, rũ bỏ được mọi ảnh hưởng, có được bản sắc đặc biệt .

Đỉnh cao của Hoa địa ngục 1 là bài trường thi Đồng lấy dài hơn 500 câu, và những bài như Cây, Núi, Anh gặp em, Sẽ có một ngày, Mẹ tôi, Tôi chưa sống, Tôi khổ gấp trăm lần, Trái tim tôi. Mưa , Con tàu rêu, Tôi là bạn của cô gái đĩ. Những bài trên đều thuộc loại trữ tình. Hai bài “ Thơ của tôi “ và bài “ Nàng thơ “ ( 1985ë- trang 343) là những tuyên ngôn về thơ ( 1970 , 1975 và 1985) khác hẳn những tuyên ngôn về thơ từ xưa đến nay, ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Xin trích đăng ba bài thơ trên để thấy tuyên ngôn về thơ của Nguyễn chí Thiện
THƠ CỦA TÔI
Thơ của tôi không phải là thơ
Mà là tiếng cuộc đời nức nở
Tiếng cửa nhà giam ngòm đen khép mở
Tiếng khò khè hai lá phổi hang sơ
Tiếng đất vùi đổ xuống lấp niềm mơ
Tiếng khai quật cuốc đào lên nỗi nhớ
Tiếng răng lạnh đập vào nhau khồ sở
Tiếng dạ dày đói lả bóp bâng quơ
Tiếng tim buồn thoi thóp đập bơ vơ
Tiếng bất lực trước muôn vàn sụp lở
Toàn tiếng của cuộc đời sống dở
Và chết thời cũng dở, phải đâu thơ !
( 1970 – Hoa địa ngục 1 trang 195)

THƠ CỦA TÔI
Thơ của tôi không có gì là đẹp
Như cướp vồ, cùm kẹp, máu ho lao
Thơ của tôi không có gì cao
Như chết chóc, mồ hôi, báng súng
Thơ của tôi là những gì kinh khủng
Như Đảng, Đoàn, như Lãnh tụ, như Trung ương
Thơ của tôi kém phần tưởng tượng
Nó thật như tù, như đói , như đau thương
Thơ của tôi chỉ đề đám dân thường
Nhìn thấu suốt tim đen phường quỷ đỏ
( 1975 – Hoa địa ngục 1 trang 240)

NÀNG THƠ
Nàng thơ của ta khát thèm rau muống
Mộng bát cơm đấy quỷ đói hay ma
Thiếu chất nhiều khi chân đứng dậy là
Đầu choáng, mắt hoa, tối xầm gục xuống
Nên rượu thánh ta chưa hề được uống
Câu thơ thần ta vẫn tạo ra
Những vần thơ từ đau khổ bao la
Trào ra, máu óc tim còn sủi nóng !
( 1985 – Hoa địa ngục 2 trang 343)

Cả hai tập thơ Hoa địa ngục 1 và 2 đều có những bài thơ mô tả hiện thực, cuộc sống trong tù cũng như ngoài xã hội. Người đọc cảm nhận được cái không khí chết chóc, tù hãm, tiêu diệt cả hồn lẫn xác trong những bài thơ nầy.

Phải nhận rằng Hoa địa ngục 2 không có bài nào bằng bài Trường thi Đồng lầy, nhưng ngòi bút trong Hoa địa ngục 2 già dặn, đều tay hơn tập Hoa địa ngục 1. Hơi thơ trầm lắng hơn, nhưng sức bay bổng không bằng hồi tuồi trẻ. Đây cũng lả lẽ tự nhiên thường tình!

Những bài thơ tuyệt hay trong Hoa địa ngục 2 có thể kể ra đây là Nàng thơ ( trang 343), Có những con thuyền ( 363), Nhà thơ ơi ( 391), Ta nhớ ( 352), Trái tim hồng ( 348), Ngày tết ( 322), Hai bài về Trăng ( 346- 347). Những bài này thuộc loại thơ trữ tình. Còn những bài thơ hiện thực với nhiều chi tiết cụ thể có thể kể là : Tòa tuyên án ( 280), Chúng phải trói ( 258), Thần Hổ ( 349), Tuyệt thực ( 300). Bài thơ Chắc chắn ( trang 337) tiên đoán sự sụp đổ của Liên Xô.

Xin trích dẫn vài bài thơ tuyệt hay của Hoa địa ngục 2. những bài thơ này hay không kém bất cứ bài thơ nào hay nhất của Hoa địa ngục 1.
TRÁI TIM HỒNG
Ta có trái tim hồng
Không bao giờ ngừng đập
Căm giận, yêu thương tràn ngập xót xa
Ta đương móc nó ra
Làm quà cho các bạn
Mấy chục năm rồi
Ta ngồi đây
Sa lầy trong khổ nạn
Như con tàu vượt trùng dương mắc cạn
Mơ về sóng nước xa khơi
Khát biển, khát trời
Phơi thân xác trong mưa mòn, nắng gỉ
Thân thế tàn theo thế kỷ
Sương buồn nhuộm sắc hoàng hôn
Ký ức âm u vất vưởng những âm hồn
Xót xa tiếc nuối
Ta vẫn chìm trôi trong dòng sông đen tối
Lều bều rác rưởi tanh hôi
Hư vô ơi cập bến tới nơi rồi
Cõi bụi chờ mong chi nữa !
Một trái tim hồng với bao chan chứa
Ta đặt trên bờ dương thế trước khi xa
( 1986 Hoa địa ngục 2 trang 348)

CÓ NHỮNG CON THUYỀN
Có những con thuyền đầy ước mơ vỡ đắm
Có những phương trời rỏ máu mắt đăm đăm
Có dáng thân yêu trong đất im nằm
Có hối tiếc trong tim này ai oán lắm
Đâu cả ngàn đêm mắt không hề nhắm ?
Đâu vạn bình minh lao ngục tối tăm ?
Đâu triệu nấm mồ chôn triệu khối hờn căm ?
Câu giải đáp đen ngòm như vực thẳm !
Bằng phong ơi, gió buồn vạn dặm
Vầng trăng quê hoen máu xa xăm
Tất cả tàn theo dấu tháng năm
Cờ rũ giữa tâm hồn tôi đã cắm !
( 1987- Hoa địa ngục 2 , trang 363)

NHÀ THƠ ƠI
Nhà thơ ơi , phải biết
Giữ linh hồn luôn luôn tinh khiết
Như đóa sen hồng thơm ngát giữa tanh nhơ
Như vì sao trong đêm tối hoang sơ
Thăm thẳm mịt mùng, lung linh sương tuyết..
Nhà thơ còn phải biết
Sống trong cõi đời như không bao giờ chết
Dẫu cơ hàn thảm thiết, nguy nan
Dẫu xác thân bệnh hoạn , teo tàn
Khí tiết vững bện hơn thạch thiết
Giữa thời gian hủy diệt trơ trơ
Có thế mới mong thả nổi hồn thơ
Bay bổng tung hoành ngay trong cũi sắt
Còn thoát xổng hay là lụi tắt
Là việc của Trời, không phải việc nhà thơ !
( 1988- Hoa địa ngục 2, trang 391)

Cả hai tập thơ Hoa địa ngục 1 và Hoa địa ngục 2 đều có chung ba đặc tính : Bi, Hùng, Hài. Ba đặc tính này đều có trong cuộc sống muôn màu , muôn vẻ của cuộc sống con người, đặc biệt là cuộc sống và đời tù trong chế độ Cộng sản Việt Nam. Thử đọc vài câu trong tập Hoa địa ngục 1 để thầy cái Bi pha lẫn với Hài trong bốn câu thơ sau:
Mưởi mấy năm sống giữa lao tù
Sống giữa buồng tim chế độ
Tôi đã hiểu đến tận cùng bể khổ
Mà trước kia Phật tổ hiều lơ mơ

Bốn câu sau trong Hoa địa ngục 2 nói lên cái Bi pha lẫn với cái Hùng:
Căm giận, đau buồn, bất lực, xót xa
Ta không có niềm vui nào hết cả !
Thù nước, thù nhà, thù bản thân chưa thể trả
Chiếc đinh bà đâm suốt cuộc đời ta không thể rút ra!
( Số 228 trang 472)

Những câu sau cho thấy cái Hài kết hợp với cái Hùng:
Hờn căm năm tháng nấu nung sôi
Sôi mãi, cũng bốc hơi rồi cạn
Phải sử dụng hờn căm, ôi các bạn
Đúng vào lúc nó sục sôi !
( số 338 trang 497 – Hoa địa ngục 2)

Còn có dư luận cho rằng thơ trong Hoa địa ngục 1 quyết liệt, dũng mãnh khi đối đầu với Cộng sản hơn thơ trong Hoa địa ngục 2. Nhận xét này không đúng lắm. Ta thử đọc 4 câu trong Hoa địa ngục 2 để thấy sự bức xúc, quyết liệt của nhà thơ đối với chế độ Cộng sản:
Ta ước được ôm bom nổ giữa hội trường
Đảng gian ác đang tưng bừng đại hội
Cho đời tả tơi, thành hơi, thành khói
Cho khối hận thù muôn vạn mảnh tan tung !
( Hoa địa ngục 2 trang 478)

Bài “ Cuộc chiến đấu “ trong Hoa địa ngục 2 nói lên quyết tâm tranh đấu đến cùng với bọn Cộng sản độc ác, nguy hiểm:
CUỘC CHIẾN ĐẤU
Cuộc chiến đấu trong mấy chục năm qua
Mang đầy tính chất bi ai
Mấy chục năm chỉ là thảm hại
Nhưng anh dũng vô song, cực kỳ vĩ đại
Lũ vô lại, vô thần thẳng tay đầy ải
Danh dự lương tâm đòi chúng ta chống lại
Dân tộc cơ hàn xiết rên quằn quại
Rất mong chờ được thấy ngày mai
Chế độ này quái vật một không hai
Gieo rắc bao là đau đớn họa tai
Quân Cộng sản quả là nguy hại
Không thể để chính quyền trong tay chúng mãi
Không thể để lũ giết người ngự mãi trên ngai
Bằng giá nào cũng phải cứu tương lai
Đâu phải đơn thuần chuyện nếm mật nằm gai
“ Mười mất một còn” , tỷ số này sai !
Nhưng dù hy sinh thế nào cũng không quản ngại
Non nước này mới thấy được ngày mai
Non nước này trông đợi những tài trai !
( 1983 – Hoa địa nguc trang 305)

Ngoài những vần thơ rực lửa đấu tranh nằm rải rác ở trong hai tập Hoa địa ngục 1 và Hoa địa ngục 2, Thi sĩ Nguyễn chí Thiện còn dâng hiến cho đời hai bài thơ tuyệt diệu về Trăng. Đề tài Trăng trong thi ca Việt Nam cũng đã có nhiều người làm nhưng làm những vần thơ hay về Trăng quả thật lá vẫn hiếm hoi. Hai bài thơ về Trăng trích dẫn dưới dây của Nguyễn chí Thiện cho thấy ngôn ngữ thơ ông mượt mà, trong sáng, khêu gợi lại được những kỷ niệm êm đềm của thời thanh xuân, trẻ trung :
LÂU LẮM RỒI
Lâu lắm rồi, không được thấy trăng
Xa vắng tường chừng quên lãng
Nay chợt thấy, trời, trăng đẹp lắm!
Lồng lộng giữa trời xanh vàng thắm
Ta sững sờ kêu lên
Gõ tường gọi bạn xà lim bên cùng ngắm
Trăng rất gần mà xa xôi lắm
Mơ hồ mang ký ức xa xăm
Những vầng trăng ngây ngất bao năm
Ta không được hưởng
Nhưng ai chẳng có một vầng trăng
trong tâm tưởng
Để nhớ, để thương !
Đời ta vắng bóng chị Hằng
Ta thương nhớ thời “ Ông Giẳng Ông Giăng “
Bạn xà lim bên thở dài im lặng
Chắc cũng đương mơ về
một vầng trăng chìm đắm
( 1985- Hoa địa ngục 2 trang 346)

TA VẪN TIN
Ta vẫn tin vầng trăng có con trâu, chú Cuội
Hay nói nhăng, nói cuội chẵng ai nghe
Có cây đa, có cả chị Hằng
Sống lạnh lẽo một mình trong cung Quảng
Ta thường ngắm và ta thương lắm !
Nên những đêm vàng ngọc thỏ của ta ơi !
Ta vẫn mơ được ôm người
Như ngàn xưa say sưa Lý Bạch
Bình vàng đó, có bao giờ ta bỏ mặc
Ta thường mơ nâng chén ngọc hỏi trời xanh:
Chú Cuội kia, trâu ăn lúa sao mà
Ta nghe tiếng chú gọi cha ời ợi
Chàng Hậu Nghệ có còn giương cung bắn?
Đường Minh Hoàng du Nguyệt Điện đã về chưa ?
Và cành đa trên đó Tản Đà
Có được nhấc lên người cười nhân thế ?
Những đèn kéo quân, đèn xếp, đền lồng
Những thiền thừ xanh đỏ
Những mâm cỗ bày giữa sân
thủa ta là em nhỏ
Còn nguyên như bao bóng dáng thương !
Trăng vẫn sáng, không già, năm tháng
Chị Hằng kia lạnh thế vẫn mặn mà
Bánh nướng, hạt sen, trứng mặn vẫn đậm đà
Trong ký ức, dù đầu ta tóc đã
Trắng như màu bánh dẻo xa xưa !
( 1985- Hoa địa ngục 2 trang 346)

Nói về trăng, ca dao việt nam có hai câu thơ bất hủ, tuyệt vời nói về ánh trăng vàng giữa đồng ruộng thôn quê Việt Nam:
Hỡi cô tát nước bên đàng
Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi

Thi hào Nguyễn Du cũng có hai câu thơ tuyệt hay nói về một vầng trăng diễm ảo chứng kiến tâm trạng bâng khuâng của Kiều khi chia tay với người yêu Thúc Sinh
Vầng trăng ai xẻ làm đôi ?
Nửa in gối chiếc nửa soi dặm trường
( Kiều)

Thi sĩ Tản Đà đã viết những vần thơ ý nhị,hay ho về trăng như sau:
ĐÊM THU
Đêm thu buồn lắm chị Hằng ơi !
Trần thế nay em chán nửa rồi
Cung quế đã ai ngồi đó chửa ?
Cành đa xin chị nhấc lên chơi ?
Có bầu, có bạn can chi tủi
Cùng gió, cùng mây thế mới vui
Rồi cứ mỗi năm rằm tháng tám
Tựa nhau trông xuống thế gian cười

Nhà thơ Hàn mặc Tử cũng có nhiều câu thơ nổi tiếng nói về trăng rất độc đáo , thể hiện sự khao khát xác thịt bị dồn nén
BẼN LẼN
Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu
Đợi gió đông về để lả lơi
Hoa lá ngây tình không muốn động
Lòng em hồi hộp chị Hằng ơi !
Trong khóm vi-lau rào rạt mãi
Trong lòng ai nói ? Sao im đi?
Ô kìa, bóng nguyệt trần truồng tắm
Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe..
Vô tình để gió hôn lên má
Bẽn lẽn làm sao lúc nửa đêm.
Em sợ lang quân em biết được
Nghi ngờ đến cái tiết trinh em..

Rồi hai câu thơ trong bài “ Đây thôn Vỹ Dạ “ thể hiện tình yêu thiên nhiên trong ánh trăng mơ màng, huyền ảo
Thuyền ai đậu bến trăng sông ấy
Có chở trăng về kịp tối nay

Bên cạnh những thi nhân nói về trăng kể trên, Nguyễn chí Thiện đã đóng góp những vần thơ tuyệt đẹp qua hai bài thơ về trăng trích dẫn ở trên nói về ánh trăng mơ mộng, trong sáng vào trong vườn thi ca Việt Nam làm cho ánh trăng thêm dịu dàng, huyền ảo và ngời sáng mãi mãi.

***

Tóm lại Hoa địa ngục 1 và Hoa địa ngục 2 có những tính đồng nhất về nghệ thuật và sự kiện rõ ràng. Hoa địa ngục 1 có tính trẻ trung, trong sáng, nhiệt tình, mạnh bạo của tuồi trẻ trong khi Hoa địa ngục 2 có sự trầm lắng, sâu sắc, vững chải của một tài thơ đã đến hồi chín chắn, điêu luyện. Mỗi tập đều có mặt mạnh , mặt yếu khác nhau nhưng chúng đều mang một văn phong, một thi tứ đặc thù của một người : đó là nhà thơ Nguyễn chí Thiện. đọc cả hai tập thơ, người đọc cảm nhận được tấm lòng tha thiết, sự cương quyết đồi đầu Cộng sản, niếm tin tất thắng của lẽ phải và chính nghĩa . Còn giữ được niềm tin và sự tất thắng của cuộc đấu tranh khi đang còn ngụp lặn dười bùn đen tù tội khắc nghiệt là một chuyện không dễ làm. Nguyễn chí Thiện đã làm được điều đó và ông xứng đáng được mọi người ngưỡng mộ như một chiến sĩ đấu tranh cho tự do dân chủ không mệt mỏi . Từ lúc còn ở Việt Nam, ông đã tuyên bố là sẽ “ sống lâu hơn Đảng Cộng sản Việt Nam”.Những sự kiện long trời lở đất xảy ra trên quê mẹ như chuyện biểu tình của dân oan, Hoàng Sa, Trường Sa, vụ nổi dậy ờ Thái hà cho thấy lời tiên đoán của Nguyễn chí Thiện có nhiều cơ may trở thành hiện thực để tháo cũi , sổ lồng cho 80 triệu dân Việt Nam bất hạnh.

Hoa địa ngục 1 và 2 là một tuyệt tác thi ca, một viên ngọc quý trong vườn thi ca Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung. Cả hai tập thơ đểu lột trần tội ác man rợ của Cộng sản Việt nam cũng như dự phóng đến diễn tiến cuộc đấu tranh cho tự do dân chủ một cách sáng tạo và chính xác . Vì thế những người Việt Nam tranh đấu hôm nay, cho dù đang ở trong nước hay ở hải ngoại, cần có trong tay 2 tập thơ Hoa địa ngục 1 và 2 làm hành trang lên đường để cứu lấy quê hương,

Los Angeles, một đêm khô lạnh giữa tháng 11 năm 2008
TRẦN VIẾT ĐẠI HƯNG
Email : dalatogo@yahoo.com
(Muốn đọc tất cả những bài viết của Trần viết Đại Hưng, xin vào www.nsvietnam.com rồi bấm vào tên Trần viết Đại Hưng nằm bên trái )
* Hai cuốn thơ Hoa địa ngục 1 và 2 được in thành một cuốn có tên là Hoa địa ngục do Tổ Hợp Miền Đông xuất bản ( 2607 Military Rd, Arlington, Va 22207 ..phone : 703—525- 4538) 



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn