BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 30218)
(Xem: 29297)
(Xem: 26299)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Thiếu tướng Trần Văn Thanh

07 Tháng Tư 201112:00 SA(Xem: 1150)
Thiếu tướng Trần Văn Thanh
51Vote
42Vote
30Vote
20Vote
10Vote
4.33

I


Trần Văn Thanh là cán-bộ chấp-pháp của cơ-quan Công An Nhân Dân của Cộng-Sản Việt-Nam phụ-trách vụ án của tôi.

Tôi bị An-Ninh Liên-Khu Năm (V) của CSVN bắt giữ tại ngôi biệt-thự số 22 Đường Bá-Đa-Lộc, Nha Trang, vào ngày 17-4-1975, và áp-giải từ Nha Trang ra Đà Nẵng, tạm giam tại Trại Kho Đạn (Chợ Cồn), ở thành-phố này, vào ngày 26-4-1975.

Sau đó, sau đợt hỏi cung cấp-tốc tại Nha Trang, trong suốt cả một thập-kỷ trong môi-trường “lao động cải tạo” tại Quảng-Nam–Đà-Nẵng, mà có thời-gian là tại Hà-Nội, đã có khá nhiều người khác liên-tục thẩm-vấn tôi, tỉ như các cán-bộ ra từ các tỉnh nguyên thuộc Vùng II của Việt-Nam Cộng-Hòa, các cán-bộ vào từ các tỉnh Quảng-Trị và Thừa-Thiên–Huế mà đối với CSVN thì thuộc lĩnh-thổ của Liên-Khu Tư (IV), các cán-bộ tại Bộ Nội-Vụ của CSVN, các viên-chức nhân-danh Bộ Nội-Vụ của nước cộng-sản Hung-Ga-Ri từ Đông-Âu qua...

***


Tôi bị đưa đi đưa lại nhiều nơi, nhiều lần, và chỉ còn nhớ một số địa-điểm và ngày tháng sau đây:

17-04-1975: Nha Trang (Khánh Hòa).

25-04-1975: Quy Nhơn (Bình Định).

26-04-1975: Kho Đạn (Chợ Cồn, Đà Nẵng).

14-03-1976: An Điềm (Thượng Đức, Quảng Nam).

25-08-1978: Kho Đạn (Chợ Cồn, Đà Nẵng).

25-12-1978: Hội An (Quảng Nam).

03-01-1979: An Điềm (Thượng Đức, Quảng Nam).

24-04-1979: Đồng Mộ (Tiên Phước, Quảng Nam).

05-02-1980: “Nhà Trắng” Thôn 5 (Quảng Nam).

15-10-1980: Tiên Lãnh (Tiên Phước, Quảng Nam).

16-10-1980: Kho Đạn (Chợ Cồn, Đà Nẵng).

02-03-1981: Tiên Lãnh (Tiên Phước, Quảng Nam).

09-04-1981: Kho Đạn (Chợ Cồn, Đà Nẵng).

15-07-1981: Thanh Liệt (Thanh Trì, Hà Nội).

20-04-1982: Hội An (Quảng Nam).

1984 - 1985: Hòa Sơn (Hòa Vang, Quảng Nam).

1985 - 1987: Tiên Lãnh (Tiên Phước, Quảng Nam).

20-04-1987: Ra trại.

***


Đó là chưa kể những ngày, nhiều ngày liên-tiếp, họ đến tại các Trại nơi tôi bị giam, để lấy cung tôi.

Lý-do tôi phải trường-kỳ “làm việc” là phía Cộng-Sản Quốc-Tế đã phát-hiện ra một đường dây nội-tuyến trong hàng-ngũ Hung-Ga-Ri, trong số nhiều đầu-mối xâm-nhập vào Ba LanHung-Ga-Ri mà tôi đã tuyển-mộ được và chuyển-giao cho Cơ-Quan Tình-Báo Trung-Ương Hoa-Kỳ (CIA) tiếp-tục khai-triển tại Đông-Âu.

***


Tuy nhiên, viên-chức chính-yếu, của Tỉnh Quảng Nam/Đà Nẵng, xoi-mói hồ-sơ lý-lịch, vắt-ép cung-từ, rà-soát quá-trình “học tập”, và chủ-trì “tẩy não” tôi suốt hơn 12 năm trong lò “cải tạo” là cán-bộ Trần Văn Thanh. Ông ta đương-nhiên ở trên tất cả các cán-bộ “quản-giáo” của các Trại (mà “quản-giáo” của Trại đã là một thứ “Nam-Tào Bắc-Đẩu” cầm-nắm sổ sinh & sổ tử của các tù-nhân chính-trị rồi).

 Điều đáng nói là cán-bộ Trần Văn Thanh này đã đẩy tôi vào một cuộc “đấu tranh tư tưởng” gay-gắt đến nỗi làm tôi nhức-nhối trong óc (họ nói là “động não”), có khi cảm thấy tức-uất và cả nhục-nhã nữa, đến độ toan-tính tự-tử.

 Trần Văn Thanh đã trở thành một con quỷ dữ, một cơn ác-mộng đối với tôi.

Ông ta quả là một cán-bộ Công-An gương-mẫu, điển-hình, nghĩa là, nếu nói theo lý-thuyết của các ông tổ Cộng-Sản Quốc-Tế và của “Bác Hồ”, thì vừa trung-thành tuyệt-đối với Đảng, vừa tuân-hành nghiêm-chỉnh mọi luật-lệ của Nhà Nước, vừa hoàn-tất xuất-sắc tột bực mọi nhiệm-vụ được giao-phó, vừa giữ-gìn “đạo-đức cách-mạng” hết sức trong-sáng như bảo-toàn chính “con-ngươi trong mắt mình”.

 II


 “An tâm học tập” nghĩa là “cam tâm ở tù”, sau khi chấm dứt giai-đoạn khai-báo để tiến vào thời-kỳ “cải-tạo mút mùa”. Nhưng tôi thì phải ở trong tình-trạng thường-xuyên sẵn-sàng “làm việc”, kể cả gián-tiếp – tức là qua các cán-bộ khác – với Trần Văn Thanh, cho đến tận ngày tôi “ra trại”, dù đã có lần tôi không gặp mặt ông ta một thời-gian lâu (sau này nghe nói là Trần Văn Thanh đã đi tu-nghiệp tình-báo và phản-tình-báo tại Liên Xô – số cán-bộ trẻ tuổi, có trình độ học vấn khá, thuộc gia đình “Cách Mạng”, đi học bên đó về đều được thăng lên cấp tá. Thì ra họ cũng làm như chương trình “trẻ trung hóa và trí thức hóa” Cảnh Sát Quốc Gia của VNCH, với kế hoạch tương tự cho Công An CSVN).

Con đường tiến tới trong quá-trình phục-vụ của ông ta được biểu-lộ qua vài thái-độ trông thấy rõ-ràng. Từ lần đầu tiên nói chuyện với tôi, để “đả thông tư tưởng”, Trần Văn Thanh đã tự giới-thiệu về mình, và khi nhắc đến thời-gian xa xưa từ trước quốc-biến 30-4-1975, được đưa băng rừng lội suối ra Miền Bắc “công tác”, ông ta đã lạc giọng hẳn đi khi cất lên hai tiếng “Hà Nội” – thủ-đô nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, sau này là nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam – như tên của một “thần-linh”, một “thánh-địa”, một “thiên-đường”. Một thời-gian sau, khi tôi được đưa từ Hà Nội vào lại Đà Nẵng, ngồi chờ tại một phòng nhỏ ở cổng cơ-quan Công An Nhân Dân tỉnh này, có một cán-bộ sắc-phục mang cấp-hiệu 4 sao (đại-úy) nghe phong-thanh tôi là một cựu “Giám Đốc Công An Ngụy”, tò-mò xớ-rớ lại gần, đã bị Trần Văn Thanh lừ mắt búng tay dõng-dạc đuổi xua: “Đi chỗ khác!”

***


 Bây giờ, nếu ngồi nhớ lại “quãng đời cải tạo” của mình, chắc hẳn nhân-vật cộng-sản đã lưu trong tôi nhiều dấu ấn khó quên nhất là Trần Văn Thanh.

 Ông ta không chỉ “làm việc” với tôi với tư-cách “chấp pháp”, mà còn với tư-cách “đồng-nghiệp nhưng khác chiến-tuyến”. Câu nói này là của một cán-bộ cấp cao ở trung ương, mà các cán-bộ áp-giải tôi gọi là “Ông Tướng”, tôi không biết tên gì, lặp lại lời của một nhân-vật ở bên kia đường dây điện thoại, mà tôi đoán là Phạm Hùng, Phó Thủ Tướng kiêm Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ (sau này đổi tên thành Bộ Công An), trong một lần chấp-cung tôi tại một địa-điểm bí-mật (họ bảo là cũng tương-tự như “Nhà An Toàn” của “Ngụy” mà thôi) ở trung-tâm thủ-đô Hà Nội. Không phải viên chức nào của Miền Nam cũng được đối phương Miền Bắc nhận là “đồng nghiệp (dù khác chuyến tuyến)”. Cán-bộ cộng-sản thường chỉ lặp lại, những gì “lãnh đạo” đã nói, đã viết, chứ không dám tự ý mình sáng-tác ra.

 Trần Văn Thanh không chỉ điều-tra “tội ác” của tôi, của Ngành Đặc-Cảnh, của Lực-Lượng Cảnh-Sát Quốc-Gia, mà còn tìm hiểu sâu hơn về “Ngụy Quyền Sài Gòn”, về “Đế Quốc Mỹ” mà họ gọi là “Sen Đầm Quốc Tế”, là “Thực Dân Kiểu Mới”. Và bàn về cả những vấn-đề thời-sự quốc-tế, quốc-nội – đương-nhiên là theo quan-điểm của CSVN. Nhưng đúng theo những giáo-điều trong ngành gián-điệp của bất-cứ quốc-gia nào, Trần Văn Thanh cũng tạo cho tôi, những lúc “làm việc” với tôi, một khung-cảnh “thoải-mái”, một không-khí “thân-tình”, bảo là để tôi “tự do phát-biểu” cảm nghĩ của mình. Mà chính ông ta cũng từng nhiều lần tỏ ra “tâm sự” với tôi.

 Cuộc hỏi cung căng-thẳng kéo dài, mà của tin là một cuốn tự-điển tiếng Anh mà Trần Văn Thanh cho phép tôi giữ dùng (cho đến tận ngày ra trại), tùy thuộc vào diễn biến nỗ lực phá điệp Mỹ của các nước xã hội chủ nghĩa “anh em” bên kia trời Âu. Đau xót mà éo le thay lại có nhiều khi tôi thấy nhớ, thấy thèm được (hay bị) “làm việc” với ông ta.

 Sau đây là vài nét chính mà tôi còn nhớ... suốt đời.

 ***


Về Đế Quốc “kiểu mới” Mỹ

 Tôi lên án Mỹ đã trắng-trợn dùng trực-thăng đưa Lực-Lượng Đặc-Biệt từ Thái-Lan xâm-nhập vào tận trại tù-binh Mỹ ở Sơn-Tây, chỉ cách “thủ-đô” của “ta” có mấy chục cây số về hướng Tây, trong đêm rạng ngày 21 tháng 11 năm 1970. “Chúng” đã đột-nhập vào cả trung-tâm huấn-luyện Phòng-Không cạnh đó, gây cho “ta” hằng trăm hy-sinh, nhưng không giải-cứu được tù-binh nào, nhờ “ta” đã biết trước nên di-chuyển hết bọn “giặc lái” đến nơi khác rồi.

Trần Văn Thanh hỏi tôi: “Anh thấy tình-báo của ‘ta’ có tài không?” và ông ta nói thêm: “Chúng đã quỷ quyệt cùng lúc điều máy bay của Hải Quân từ Vịnh Bắc Bộ ở hướng Đông tấn công vào thành phố Hải Phòng để đánh lạc hướng ‘ta’, nhưng ‘ta’ vẫn biết rõ mục tiêu chính của chúng trong đêm đó là bọn ‘giặc lái’ ở hướng Tây, nên ‘ta’ đã kịp thời dành cho chúng một thất bại hoàn toàn trong cuộc hành quân giải cứu tù binh ở Sơn Tây!”

 Nhân nghe ông ta nhắc đến Hải Phòng, tôi lại “tố khổ” Mỹ đã gian ác gài mìn quanh 7 hải cảng chính, nhất là cảng Hải Phòng, và cả các cảng phụ dọc theo bờ biển Miền Bắc, hoàn tất vào đúng lúc 9 giờ ngày 9 tháng 5 năm 1972, là lúc Tổng Thống Hoa Kỳ Richard Nixon công bố trên đài từ Hoa Thịnh Đốn rằng Mỹ đã rải mìn phong tỏa tất cả các lối ra/vào Miền Bắc bằng đường biển, khiến tàu bè của các nước “anh em” không còn chở được đồ tiếp tế vào cho “ta” suốt từ đó cho đến ngày chúng ký hiệp định Paris.

Trần Văn Thanh hùng hồn: “Chúng tưởng như thế là ‘ta’ cạn kiệt vũ khí và lương thực sao? Các nước ‘anh em’ vẫn tiếp tế như thường! Anh biết bằng cách nào không? Đựng trong bao ni lông, thả trôi theo hướng gió, nhờ các làn sóng bể đẩy vào bờ!”

Tôi nói: “Đúng như thế. Chính tôi ở trong Đà Nẵng cũng được ‘bọn Ngụy’ ở cảng tặng cho một số hộp thịt lợn của Trung Quốc lấy từ các bao tiếp tế từ ngoài Bắc trôi lạc vào.”

 Lần khác, tôi lại tố-cáo Mỹ nguy-hiểm ngay cả trong thời bình, thí-dụ “chúng” đã dùng kỹ-thuật cao khóa miệng 2 giếng dầu “Hồng 9” và “Dừa 9”, khiến Liên-Xô dù dùng kỹ-thuật cao cũng không thể dò ra hai giếng dầu ấy cho “ta”.

Trần Văn Thanh hỏi tôi: “Sao anh biết?”

– Báo “Nhân Dân” đăng như thế.

Ông ta lặng thinh, không tự đề-cao, không lên án kẻ thù.

 ***


Về “Ngụy Quyền Sài Gòn”

  Trần Văn Thanh nhấn mạnh: “Ngụy chỉ lo cho quyền lợi riêng tư của bản thân bọn cầm quyền, bóc lột nhân dân, phá hại xã hội, nên nhân dân nổi dậy tiếp tay ‘cách mạng’ đuổi Mỹ cút, lật ‘Ngụy’ nhào!”

Ông ta tưởng như tôi chưa từng nghe những luận-điệu ấy từ bao lâu nay.

 Ông ta nói về Cảnh-Sát Quốc-Gia:

“Như anh, đánh điệp vào được các nước xã hội chủ nghĩa, là một thành tích lớn; đáng lẽ được thăng cấp cao, được đưa lên trung ương truyền dạy kinh nghiệm cho đàn em.” Sau đó, ông ta nói thêm: “Nhưng người đã qua huấn luyện, nhất là người chỉ huy, phải theo dõi nắm biết cả những việc làm sai trái, nếu có, của thuộc viên, và cả của người ngoài ngành mình”. Sau đó nữa, ông ta lại nói: “Nhà trường không hun đúc đạo đức. Mà điều quan trọng là lẽ công bình, óc minh chính và lòng trong sạch của người đứng đầu cơ quan.”

Lần khác, ông ta lại nói:

“Thanh Tra, ở bình diện khác, quan trọng hơn giảng huấn. Thanh Tra các anh chỉ là kẻ mất ghế, không rành việc, đến đâu cũng có báo trước và phải nhờ vã các giới chức địa phương nên lệ thuộc vào chúng, thành ra thanh tra vô ích. ‘Cách Mạng’ chúng tôi đi công tác thì đem theo lương thực, mình ăn của mình, không mang ơn ai. ‘Cách Mạng’ thành công là nhờ ‘đi sâu sát vào thực tế’, cái gì cũng phải đến tận nơi mới chính mình nghe & thấy và ‘sống’ thật lòng. Có những vụ bị dìm đi nên không điều tra. Có những vụ có điều tra nhưng kết luận sai sự thật. Nên cần thanh tra. Không phải chỉ trừng phạt phần tử xấu, làm sạch cơ quan, nâng cao hiệu năng phục vụ, mà còn bênh vực kẻ bị thiệt thòi & oan khiên, phát hiện người có tài năng, làm chỗ dựa tinh thần đằng sau cho những ai cần.” Nhưng lần khác ông ta lại nói: “Cái đó còn tùy. Tùy ở lãnh đạo có đặt nặng vấn đề thanh tra hay không, và tùy ở cán bộ thanh tra có đủ hiểu biết về các mánh lới qua mặt, can đảm đương đầu chướng ngại, và tin tưởng vững chắc vào lẽ phải hay không.”

Nói chung, tôi thấy Trần Văn Thanh sâu sắc hơn các cán bộ chấp pháp khác đã “làm việc” với tôi. Ông ta đề cập đến nghiệp vụ Công An, nói theo nhận thức và ước vọng của mình, chú trọng tài & đức của cán bộ chỉ huy, và vai trò đa hiệu của ngành thanh tra.

 ***


Về “quốc nạn” Tham Nhũng

 Trần Văn Thanh đã nói với tôi, đại-ý:

 “Cứ theo thống kê của ‘Ngụy’ các anh thì thành quả ‘diệt Cộng’ của Cảnh Sát Đặc Biệt tại Vùng II và Vùng I trong thời gian cả chục năm trời anh chỉ huy điệp ngụy thì tổng cộng cơ cán ‘Cách Mạng’ riêng phần hy sinh cũng đã lên đến con số nghìn; thế nhưng anh có được chúng tin tưởng gì đâu?” Lần sau ông ta lại nói: “Anh chống thực dân, chống phong kiến, chống độc tài, chống quân phiệt; nhưng bọn chúng dốt, không biết rằng trong thâm tâm anh mà chống là chống cái xấu, cái ác, vì anh muốn cho chế độ của chúng tốt đẹp hơn, vững mạnh hơn, để giết chúng tôi, để diệt chúng tôi, chứ đâu có phải là để hưởng ứng ‘cách mạng’, về với ‘nhân dân’!” Lời nói như thế tôi cũng đã nghe một cán bộ khác nói rồi.

Lần khác, Trần Văn Thanh nói: “Chỉ vì tham ô. Tham ô sinh ra phe phái. Phe phái lại đẻ ra tham ô. Rồi là bất công, bất chính, bất hợp pháp, bất nhân, bất nghĩa, bất tài, bất lực, bất đồng, bất bình, bất hợp tác... và bất thành công!”

Có lần ông ta nhắc chuyện tôi viết giùm đơn cho các đồng bào bị Pháp bắt giam ở Lao Thừa Phủ, cạnh Tòa Hành Chánh Tỉnh Thừa Thiên. Tôi nói: “Lúc đầu thì là đơn xin thăm nuôi, về sau là đơn khiếu nại bị bỏ tù oan, rồi đến các vụ bất công xã hội...” Ông ta hỏi: “Tham ô?” Tôi đáp: “Tham nhũng. Theo tôi, có hai mức độ khác nhau: tham lam và nhũng nhiễu.” Ông ta có vẻ chú ý và suy nghĩ nhiều. Tôi nhớ đến một cán bộ, cũng thuộc thế hệ trẻ tuổi và có học thức như ông ta, ở Hà Nội, có lần than phiền với tôi: “Muốn có được tiền ra phố đãi anh ăn phở, phải thông qua khâu hành chánh, không phải dễ dàng.” Dạo đó trời mưa, tôi phải nhiều lần được đưa từ Trại Thanh Liệt dọc theo sông Tô Lịch qua Gò Đống Đa đến một trụ sở của Bộ Công An (đúng ra là “nhà an toàn” của Bộ ấy) ở trung tâm Hà Nội; khi viên “thủ trưởng” hỏi ông ta: “Đã mua áo mưa cho anh Nhuận chưa?”, ông ta trả lời tức thì: “Rồi ạ!”. Thật ra, ông ta đã trao cho tôi một tấm nhựa màu, đã dùng làm khăn trải bàn, bị rách mấy góc và đầy dấu ố đế bình tách trà. Trần Văn Thanh nói: “Phải là Cảnh Sát Công An mới biết cách thức viết đơn thưa kiện thế nào.”

Trần Văn Thanh trầm tư một lát, rồi nhìn vào phần cơm tù của tôi: “Không còn như những ngày đầu. Hồi đó, các kho của ‘Ngụy’ để lại đầy tràn, ‘ta’ chưa quy hoạch, các Trại tha hồ cho tù no nê. Bây giờ, ‘Mỹ Ngụy’ còn để lại cho ‘ta’ nhiều khó khăn...” Tôi lại nhớ đến thời gian được cho ăn ngon, để “làm mặt” với các đồng chí Đông Âu, vào mấy tuần sau chỉ có dăm bảy cái đầu và đầy đủ bộ râu đỏ lòm của các con tôm trồi lên trên mặt bát canh, còn phía dưới thì không có thân hình con tôm.

 Trải qua nhiều năm, sau nhiều lần chuyển trại, tôi đã gặp nhiều cán bộ cấp cao thuộc nhiều Cục, Bộ khác nhau. Họ bị kết “tội hiện hành”, “làm sai thủ tục giấy tờ”, “thất thoát của công” chứ không phải là biển thủ, “xâm phạm tài sản nhân dân” chứ không phải là tống tiền, cướp đoạt sản nghiệp của đồng bào. Ngay chính các Trại Cải Tạo cũng gian tham: heo đẻ 6 con thì chỉ báo cáo là 5, chọn một con lớn làm thịt; bắt tù đốn cây gỗ quý đóng tủ bàn ghế cho các cấp trên, khi Thủy Lâm đến kiểm tra thì vội bắt tù cất giấu phi tang; vân vân. Tôi không tin là ông ta và cả các lãnh tụ chóp bu của Đảng đã không biết rõ tệ nạn này.

Trần Văn Thanh lẩm bẩm: “Mình đã lấy vợ cũng là cán bộ, chứ không như người ta...”

 Rồi một hôm ông ta hỏi tôi: “Theo anh, nguyên nhân nào là nguyên nhân chính, làm cho Miền Nam của các anh sụp đổ?”

 Tôi trả lời không suy nghĩ: “Tham Nhũng!”

 III


 Trần Văn Thanh chở tôi về nhà ở Đà Nẵng cho tôi thăm bà mẹ đích của vợ tôi. Bà cụ già yếu, nằm trên ghế bố, đưa hai tay lên ôm chầm lấy tôi mà khóc. Bà con bên vợ xúm đến hỏi han, thảy đều thương xót tôi. Tôi liếc thấy vẻ ngạc nhiên trên đôi mắt ông ta. Dân “Ngụy” mà chúng tình cảm thế sao? Không căm thù kẻ có “nợ máu” với nhân dân như đã học tập bao lâu nay sao?

 Ông ta phác họa với tôi một viễn cảnh: ngày kia, tôi sẽ được “Cách Mạng” khoan hồng, ông ta sẽ tiễn tôi lên xe lửa, và các đồng chí của ông ta ở Nha Trang sẽ thay mặt chính quyền nhân dân đón tôi từ sân ga trong đó, chở tôi về nhà, chia sẻ niềm vui với tôi vào phút đầu tiên được tái đoàn tụ với vợ con, trong một đất nước thống nhất, hòa bình, mọi người ấm no... nhờ ơn “Bác Hồ”. Thật là lý tưởng, như truyện thần tiên ngày xưa.

 Thế nhưng khi tôi rời Trại Tiên Lãnh, đáp xe đò xuống Đà Nẵng, ghé gặp vài chỗ thân, hỏi thăm thì được biết Trần Văn Thanh đã làm to. Ông ta thăng cấp, thăng chức, là một lãnh đạo Công An được nhiều người ở vùng này “kính yêu”. Tất nhiên là không còn có chuyện ông ta sẽ đích thân chở tôi lên ga xe lửa tiễn tôi vào Nha Trang để tái hợp với gia đình.

 IV


 Tôi qua Mỹ, tưởng như Trần Văn Thanh đã mãi hoài chỉ còn là một đối thủ cũ, lùi xa dần vào quá khứ, để tôi cùng với các cựu đồng nghiệp, và đồng hương, chỉ còn nhìn về tương lai.

 Nhưng bỗng một hôm, nguyên viên-chức CSQG Nguyễn Dạng, trước kia cũng cùng làm việc tại Bộ Chỉ Huy Vùng I ở Đà Nẵng như tôi, từ Bang Colorado gọi điện thoại qua tôi:

 ‒ Anh còn nhớ Trần Văn Thanh không? Bị rồi!

 ‒ Có phải là Trần Văn Thanh cán bộ Công An ở Đà Nẵng?

 ‒ Đúng là ông ta. Đã thăng lên hết các cấp tá, rồi thăng lên đến cấp tướng; đã lên làm lớn ở Tỉnh Quảng Nam‒Đà Nẵng, rồi lên làm lớn ở trung ương.

‒ Và ông ta bị gì?

‒ Bị gì thì anh xem báo của họ ở trong nước là biết!

 V


  Tôi lên liên-mạng, tìm thấy rất nhiều bài tường-thuật liên-quan, của các phóng-viên Hải Châu, Trà Bang, Hoàng Khuê, Việt Hùng, trên các trang Việt Báo, dựa vào các bản tin của Thông Tấn Xã Việt Nam, VietNamNet, VnExpress.net, VnMedia...

 http://vietbao.vn/Xa-hoi/Khoi-to-nguyen-Thieu-tuong-Chanh-Thanh-tra-Bo-Cong-an/20831849/157/

http://vietbao.vn/An-ninh-Phap-luat/Nguyen-chanh-thanh-tra-Bo-Cong-an-bi-truy-to/11119336/218/

http://vietbao.vn/An-ninh-Phap-luat/Nguyen-chanh-tra-Bo-Cong-an-hau-toa-tren-bang-ca/11120071/218/

http://vietbao.vn/An-ninh-Phap-luat/Tuong-Tran-Van-Thanh-moi-3-luat-su-bao-ve/11122399/218/

http://vietbao.vn/An-ninh-Phap-luat/Xu-vang-mat-tuong-Tran-Van-Thanh/11122616/218/

http://vietbao.vn/An-ninh-Phap-luạt/Nguyen-Chanh-Thanh-tra-Bo-Cong-an-nhan-18-thang-tu-treo/20862307/218/

http://vietbao.vn/Xa-hoi/Tam-dung-phien-toa-de-nghi-khoi-to-dieu-tra-bo-sung/20805215/157/

http://vietbao.vn/An-ninh-Phap-luat/Tuong-thanh-tra-Bo-Cong-an-bi-de-nghi-khoi-to/11076235/218/

http://vietbao.vn/Xa-hoi/Nguyen-Chanh-thanh-tra-Bo-CA-bi-tuyen-12-thang-tu-treo/20882937/157/

http://vietbao.vn/An-ninh-Phap-luat/Ong-Tran-Van-Thanh-duoc-giam-6-thang-tu-treo/65183498/218/ v.v...

  Tóm tắt nội vụ như sau:

 Trần Văn Thanh đã làm Giám Đốc Công An Đà Nẵng nhiều năm. (Đà Nẵng tách khỏi Tỉnh Quảng-Nam‒Đà-Nẵng, trở thành một trong 5 Thành Phố lớn nhất của Việt Nam, xếp hạng đô thị loại 1, trực-thuộc Trung-Ương, kể từ năm 1997). Sau đó, ông ta được nâng lên làm Chánh Thanh Tra tại Bộ Công An. (Hẳn là ông ta phải xuất-sắc lắm, vượt trội tất cả các giám-đốc Công An khác trên toàn-quốc, nên mới được trao chức vụ này).

***


Qua cuộc điều-tra từ năm 2007 đến năm 2009, phía công-tố tóm-lược nội-vụ, đại-ý như sau:

 Ngày 6/4 và 24/4/2007, có ông Đinh Công Sắt, thiếu tá Công An, ở Đà Nẵng, gửi đơn ra Hà Nội, khiếu nại, tố cáo “một số lãnh đạo ở Đà Nẵng đã bao che vụ vi phạm ở Đồng Nò, vụ Công-Y Dệt “Hữu Nghị”; tố cáo Công An Đà-Nẵng chi sai nguyên-tắc trong việc mua sắm xe ô-tô, dập biển số phản-quang xe ô-tô, mô-tô, và chia nhau số tiền 2 tỷ đồng của UBND TP Đà Nẵng hỗ trợ hằng năm, nhưng không được điều-tra, xử-lý, do có sự bao che của cấp trên; tố-cáo các vị lãnh đạo của Bộ Công An như Lê Thế Tiệm, Nguyễn Văn Hường, Trương Hòa Bình... bao che cho lãnh đạo Đà Nẵng”. Việc khiếu-tố này xảy ra trong quá-trình Đà Nẵng đang “chính trang đô thị”, để “xây dựng và phát triển thành phố”, bằng cách “giải tỏa” mặt bằng và “đền bù” đất đai cho dân (tai-nạn này xảy ra khắp nước và đã tạo nên tình-trạng “dân oan”).

 Để đi đến việc làm trọng-đại này, nhóm Đinh Công Sắt đã chuẩn-bị hồ-sơ tài-liệu liên-quan và nghiên-cứu tình-hình từ cuối năm 2005.

 Trong nhóm khiếu+tố, ngoài ông Đinh Công Sắt còn có ông Nguyễn Phi Duy Linh (nhân danh ông Huỳnh Ngọc Toàn, và tự xưng là đại diện nhân-dân thành-phố Đà Nẵng).

Họ còn đưa cả 2 “Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng” ra thủ-đô Hà Nội để “khiếu kiện, kêu oan, tạo nên tác động tiêu cực đối với các cơ quan có thẩm quyền”.

 Đặc-biệt là trong vụ này, có thêm ông Dương Tiến, trung tá Công An, là Trưởng văn phòng đại diện báo Công An Thành Phố Hồ Chí Minh tại Hà Nội, “được xác định đã lợi dụng quyền tự do báo chí để viết bài không đúng sự thật về tình hình Đà Nẵng. Bị cáo Tiến cũng là một trong những người cung cấp tài liệu cho Đinh Công Sắt phát tán. Bị cáo còn trực tiếp vào Đà Nẵng nắm tình hình dư luận về bài báo của Tiến viết về TP cũng như kết quả phát tán công văn 73, 77. Tại đây, Tiến tiếp tục cung cấp cho Sắt bài viết của Trần Đình Bá với các nội dung không đúng sự thật để Sắt đọc, sử dụng cho mục đích khiếu nại và phát tán”.

 Tòa Án Nhân Dân TP Đà Nẵng đã xử vụ này nhiều lần, với tội danh “lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân”, và “ngày 23/9/2008 đã phải dừng lại nửa chừng do Hội đồng xét xử nhận thấy có vai trò của ông Trần Văn Thanh trong vụ án này”.

***


Theo cuộc điều-tra thì chính Thiếu Tướng Trần Văn Thanh, Chánh Thanh Tra Bộ Công An, đã “xúi giục, hướng dẫn, kích động, giúp đỡ” nhóm Đinh Công Sắt, “thể hiện rõ qua việc (Thanh) chủ động gặp Sắt, hứa xem xét mức độ kỷ luật, hướng dẫn làm đơn, bảo 2 Bà Mẹ VNAH làm đơn khiếu kiện, gợi ý cung cấp tài liệu tố cáo” các vụ kể trên. Những đơn tố cáo đó đã gửi lên Thủ tướng, Văn phòng Chính phủ, Ban phòng chống tham những Trung ương... cùng một số cơ quan báo chí.

“Với tư cách Thiếu tướng, Chánh Thanh tra Bộ Công an, biết Đinh Công Sắt bị công an triệu tập để làm rõ vụ phát tán tài liệu nhưng ông Trần Văn Thanh vẫn gọi điện bảo Sắt bỏ trốn. Trong thời gian Sắt bỏ trốn, ông Thanh còn trực tiếp gặp Sắt. Sắt muốn ra đầu thú nhưng bị Nguyễn Phi Duy Linh ngăn cản mà Sắt biết đằng sau đó là ông Thanh. Công an cũng thu giữ tại nhà vợ cũ của Linh các bản thảo đơn khiếu kiện có bút tích sửa chữa của ông Thanh. Theo lời khai của Linh, nếu không có các đơn này thì Linh không thể viết đơn khiếu kiện được…” (Đúng như Trần Văn Thanh đã nói với tôi trước kia: “Phải là Cảnh Sát Công An mới biết cách thức viết đơn thưa kiện thế nào”).

 ***


Trong số các lãnh đạo Đà Nẵng bị khiếu+tố, có ông Nguyễn Bá Thanh.

 Cứ theo quan-điểm của phía công-tố thì “trong nội dung tố cáo có nhiều nội dung đã được UBND TP Đà Nẵng giải quyết, có nội dung đã được Thủ tướng Chính phủ và các ngành chức năng Trung Ương (giải quyết đơn thư khiếu tố, khiếu nại của công dân TP Đà Nẵng) kết luận, có việc đã được Tòa án Nhân dân xét xử”, do đó “không thấy có việc đồng chí Nguyễn Bá Thanh, (một lãnh đạo Đà Nẵng, một đối-tượng trong vụ khiếu+tố này) có liên quan hoặc sai phạm trong các nội dung này” và “Hai bản án sơ thẩm, phúc thẩm (vào năm 2007) xét xử vụ án Phạm Minh Thông và Nguyễn Hưng (liên-quan đến nội-dung khiếu+kiện) đều cho thấy không liên quan đến ông Nguyễn Bá Thanh”. Bởi vậy, “mọi hành vị phát tán các tài liệu liên quan đến vụ án này ngay trước thời điểm diễn ra cuộc bầu cử Quốc hội khóa 12 nhằm xúc phạm, làm giảm uy tín của lãnh đạo TP Đà Nẵng là vi phạm pháp luật”.

 Hội đồng xét xử sơ thẩm TAND TP Đà Nẵng, qua kết quả xét hỏi tại toà, nhận thấy... có căn cứ về việc ông Trần Văn Thanh là đồng phạm, có vi phạm nghiêm trọng luật tố tụng hình sự nên Hội đồng xét xử đã giao Viện Kiểm Sát Nhân Dân TP Đà Nẵng tiến hành điều tra bổ sung, khởi tố ông Thanh về hành vi đồng phạm trong vụ án.

 ***


 Vụ án này kéo dài cho đến cuối năm 2009, và đã có những điểm hay-hay như sau:

 Các việc bị cho là “lợi dụng quyền tự do báo chí để viết bài không đúng sự thật” và “lợi dụng các quyền tự do dân chủ, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân (tập thể và cá nhân)” đều bị ghép vào tội hình-sự, căn cứ theo điều 258 của Bộ Luật hình sự, và các điều 179 và 199 của Bộ luật Tố tụng hình sự của CSVN.

 Trần Văn Thanh bị thôi chức vụ Chánh thanh tra Bộ Công an từ cuối năm 2008.

 Ngày 10/7/2009, “Giám đốc Bệnh viện 19.8 tại Hà Nội đã xác nhận, nguyên chánh thanh tra Bộ Công an bị tai biến mạch máu não; chảy máu vùng thái dương phải... Tuy nhiên, ngày 15/7/2009, TAND Đà Nẵng không chấp nhận đơn xin hoãn phiên tòa của bị can Thanh. Ngày 19/7/2009, ông Thanh được chuyển viện vào Bệnh viện 19.9 của Bộ Công an tại Đà Nẵng. Tại đây, các bác sĩ cũng kết luận thực trạng sức khỏe của ông Thanh tương tự như chuẩn đoán của Bệnh viện 19.8. Tuy nhiên, cả 2 kết luận trên đều không được TAND Đà Nẵng chấp nhận”. (Giữa Giám-Đốc Công-An với các lãnh đạo Đảng và Nhà Nước ở cùng thành-phố, đều là đồng-chí cao-cấp với nhau, hẳn phải có “một cái gì” đó, nên mới xảy ra cơ-sự này. Phải chăng đó là cái mà Trần Văn Thanh từng hỏi tôi về nguyên nhân chính làm cho Miền Nam của “Mỹ Ngụy” sụp đổ).



 Ngày 20/7/2009 “phiên tòa mở tại Nhà hát Trưng Vương, Đà Nẵng ken kín người dân tới theo dõi. Đúng 8h, xe cấp cứu của Bệnh viện 19.9 (Bộ Công an) có mặt trước tiền sảnh nhà hát. Tuy nhiên, ông Thanh vẫn còn bất động trên băng ca, tay đang chuyền dịch, thở ôxy. Trước tình trạng sức khỏe của ông Thanh, một hội đồng giám định y khoa do nhóm cán bộ, bác sĩ bệnh viện Đà Nẵng, Trung tâm cấp cứu 115, đại diện VKSND và TAND Đà Nẵng đã thành lập tại tòa để khám và giám định sức khỏe cho bị can này ngay trên xe cấp cứu. Kết quả giám định tại chỗ sáng nay cũng cho thấy ông Thanh bị yếu nửa người trái; có ổ máu ở thái dương phải (xuất huyết não); nhịp tim 120 lần mỗi phút; huyết áp 200/100mmHg... đề nghị đưa về viện điều trị tiếp”. Mãi lâu sau đó Hội Đồng Xét Xử mới nghị án, quyết định hoãn phiên xét xử.

Ngày 5/8/2009, theo phóng viên Hoàng Khuê, Trần Văn Thanh đã mời thêm một luật-sư thứ ba, là bà Nguyễn Thị Dương Hà, bào chữa cho mình. Trước đó, ông Thanh đã có hai luật sư, trong đó có ông Phạm Hồng Hải là Phó Chủ Tịch Liên Đoàn Luật Sư toàn-quốc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.

Ngày 6/8/2009, TAND Đà Nẵng xử sơ thẩm vụ án này (ông Thanh đã có đơn xin vắng mặt, nhưng), theo phóng viên Trà Bang: “chủ tọa phiên tòa công bố đơn ấy không ảnh hưởng quá trình xét xử và tuyên bố phiên tòa vẫn tiếp tục). Việc vắng bị cáo Trần Văn Thanh làm phiên tòa “nóng” ngay lúc mở đầu. Hai luật sư Hoàng Ngọc Biên và Phạm Hồng Hải lập tức phản đối. Họ đề nghị hoãn phiên tòa. Tuy nhiên, HĐXX không chấp nhận. Phiên tòa “nóng” hơn khi có tới 3 luật sư đề nghị thay đổi chủ tọa và công tố viên, vì cho rằng có biểu hiện không vô tư khách quan, vi phạm quy trình tố tụng... Sau hơn 90 phút giải thích, viện dẫn các điều luật, tòa bác các yêu cầu của luật sư và chuyển sang phần xét hỏi, dù các luật sư vẫn bảo lưu ý kiến.”

Ngày 7/8/2009, theo phóng viên Hải Châu: “HĐXX nhận định đây là vụ án phạm tội có tổ chức. Trong đó bị cáo Trần Văn Thanh giữ vai trò cầm đầu, chủ mưu kích động, xúi giục các bị cáo khác phạm tội. Tại phần tranh luận, các luật sư không đồng ý với quan điểm thể hiện tại Cáo trạng của VKSND TP Đà Nẵng. Họ cho rằng chứng cứ thu thập được trong vụ án này còn rất thiếu và yếu, không có căn cứ chứng minh các bị cáo Thanh và Linh phạm tội. Trước không khí tranh cãi nảy lửa giữa các luật sư... với đại diện VKSND, chủ toạ phiên toà phải lên tiếng nhắc nhở các luật sư chừng mực hơn trong khi tranh luận”. Ký giả Hải Châu ghi nhận: “Tuy vậy, KSV giữ quyền công tố này cũng vài lần bộc lộ sự thiếu chính xác như cho rằng bị cáo Dương Tiến phản cung trong khi từ đầu đến cuối phiên toà bị cáo này không hề phản cung mà chỉ đề nghị HĐXX làm rõ thêm; hoặc bị “hớ” khi giải thích việc VKSND TP Đà Nẵng trả hồ sơ cho cơ quan điều tra để điều tra bổ sung sau khi Công an Đà Nẵng đã ra quyết định khởi tố bị can đối với Trần Văn Thanh là do bị cáo này thuộc quyền quản lý của Bộ Chính trị nên phải chờ xin ý kiến của TƯ!” Chủ toạ phiên toà kết luận: nhận thấy cáo trạng truy tố của VKSND TP Đà Nẵng là có căn cứ và các bị cáo nêu trên đã phạm tội. HĐXX đã tuyên phạt nguyên thiếu tướng Chánh Thanh tra Bộ Công an Trần Văn Thanh 18 tháng tù treo, thêm thời gian thử thách 36 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, giao về cơ quan chủ quản là Văn phòng Bộ Công an giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách”.

Trần Văn Thanh... đã có đơn kháng cáo, đề nghị Toà Phúc thẩm TAND Tối cao tại Đà Nẵng xét xử theo thủ tục phúc thẩm, huỷ bản án sơ thẩm, đình chỉ vụ án và tuyên không phạm tội. Ngoài ra, Viện Thực hành quyền công tố và xét xử phúc thẩm tại Đà Nẵng (Viện Phúc thẩm 2) cũng kháng nghị một phần bản án hình sự sơ thẩm của TAND Đà Nẵng. Theo đó, đề nghị Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Đà Nẵng tuyên bị cáo Trần Văn Thanh không phạm tội và đình chỉ vụ án với bị cáo này.

 Ngày 7/12/2009, theo phóng viên Việt Hùng: “An ninh phiên xử được thắt chặt. Từ sáng sớm, hàng trăm người đã kéo đến dự phiên tòa, rất nhiều người không vào được hội trường nên phải đứng ngoài theo dõi”. “Tại phiên toà, đại diện Viện Phúc thẩm 2 tiếp tục giữ nguyên quan điểm cho rằng căn cứ hồ sơ vụ án và những tình tiết tại phiên tòa sơ thẩm ngày 7/8 vừa qua thì không đủ căn cứ buộc tội các bị cáo, đặc biệt là phần buộc tội đối với bị cáo Trần Văn Thanh là không đúng quy định pháp luật. Viện Phúc thẩm II nhận định, các chứng cứ trong vụ án này không đủ cơ sở để buộc tội ông Trần Văn Thanh là đồng phạm với 3 bị cáo còn lại; không chứng minh được ông Thanh chủ mưu, trực tiếp soạn đơn..., không xác định được nội dung các cuộc trao đổi, gặp gỡ giữa ông Thanh với các bị cáo khác. Các luật sư bào chữa cho các bị cáo cũng đưa ra nhiều lập luận nhằm khẳng định thân chủ của mình vô tội. Trong đó, lập luận cơ bản nhất là hành vi của các bị cáo không nghiêm trọng, không gây thiệt hại cho xã hội, không xác định được người bị hại, không ảnh hưởng đến uy tín của lãnh đạo TP Đà Nẵng, không làm mất niềm tin của người dân”. Hơn nữa, trước đó “Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao cũng đã kháng nghị Toà án Tối cao tuyên Trần Văn Thanh không phạm tội (vì không có đủ chứng cứ)”. (Cả “Viện Phúc Thẩm 2” lẫn “Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao” cũng đều là 2 cơ quan công tố mà đã cùng kháng nghị bản án hình sự của tòa sơ thẩm, đồng-thanh đề nghị xử cho Trần Văn Thanh vô tội). Ngoài ra, luật sư của Dương Tiến cũng nói nếu bài báo có sai phạm thì phải xử theo Luật báo chí (chứ không phải luật hình). Hơn nữa, trong phần tranh luận, kiểm sát viên Nguyễn Quang Cường (giữ quyền công tố tại phiên tòa) cho rằng án sơ thẩm quy kết bị cáo Thanh phạm tội và đóng vai trò chủ mưu, cầm đầu là không đủ chứng cứ. Ông Cường kết luận: “Từ những vấn đề được làm rõ, đề nghị tòa phúc thẩm hủy án sơ thẩm, tuyên bị cáo Thanh không phạm tội, đình chỉ vụ án”. (Công-tố mà lại không đồng ý truy-tố, là một chuyện lạ).

Trong lúc đó, “tại phiên tòa, ông Nguyễn Thanh Quang, chủ tịch Ủy ban Mặt Trận Tổ Quốc VN TP Đà Nẵng, khách do hội đồng xét xử mời, bày tỏ quan điểm, hành động của các bị cáo đã ảnh hưởng rất lớn đến quá trình chuẩn bị bầu cử đại biểu Quốc hội của địa phương, làm giảm uy tín ứng cử viên do ủy ban giới thiệu.” (Rõ-ràng đó là lý-do và mục-đích của sự hiện-hữu, và là cơ hội hãn-hữu để lập-công, của “Mặt Trận Tổ Quốc” Việt Nam).

Thế rồi Chánh Án Tòa Phúc Thẩm TAND Tối cao tại Đà Nẵng nêu rõ “trong khoảng thời gian từ cuối tháng 11 năm 2005 đến nửa cuối năm 2007” nội bọn đã “dùng các thủ đoạn xảo quyệt giả mạo tên người khác đứng đơn thư tố cáo, tự mạo nhận đại diện nhân dân Đà Nẵng để phát tán tài liệu nhiều nơi có nội dung khiếu kiện gay gắt, tố cáo sai sự thật đối với nhiều cán bộ lãnh đạo thành phố Đà Nẵng, nhằm hạ uy tín của lãnh đạo Đảng, chính quyền và các cơ quan pháp luật thành phố Đà Nẵng, gây phương hại đến an ninh trật tự, đến uy tín và hoạt động bình thường của các cơ quan nhà nước, gây bức xúc trong một bộ phận nhân dân với mưu đồ bôi nhọ danh dự của lãnh đạo TP, làm giảm ý nghĩa đối với thành quả của địa phương trong công cuộc đổi mới trong việc giải toả đền bù chỉnh trang đô thị, đồng thời gây ảnh hưởng đến uy tín của lãnh đạo TP, khiến nhiều người hoài nghi. Những hành vi này đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nhà nước, của công dân, gây mất ổn định, ảnh hưởng tới tình hình trị an ở thành phố Đà Nẵng và một số nơi vào thời điểm trước, trong và sau ngày bầu cử Quốc hội khoá XII”. Và “sau một ngày xét xử căng thẳng, tranh tụng gay gắt, đã không chấp nhận kháng nghị của Viện Phúc thẩm 2 và kháng cáo của các bị cáo, chính thức tuyên án nguyên Thiếu tướng Chánh Thanh tra Bộ Công an Trần Văn Thanh cùng các đồng phạm. Ông Thanh bị tuyên phạt 12 tháng tù treo, thời gian thử thách 24 tháng giao cho đơn vị chủ quản là Bộ Công an quản lý, giáo dục” (“do xét nhân thân tốt, và qua công tác trong ngành công an, thấy có quá trình cống hiến, và gia đình có truyền thống cách mạng, lại sức khỏe giảm sút, đang điều trị bệnh nên quyết định giảm 6 tháng tù treo so với bản án sơ thẩm”).

 VI


 Nếu bản án trên không có gì thay đổi thì bây giờ Trần Văn Thanh đã hoàn tất 12 tháng tù treo. Không biết bản án ấy có ảnh hưởng thế nào đối với “cảnh nghiệp” ‒ nghiệp vụ Công An của ông ta.

 Chữ “nghiệp” có 3 nghĩa: Một là “nghiệp vụ” (về điểm này, ông ta hẳn đã “nắm biết cả những việc làm sai trái, nếu có, của thuộc viên, và cả của người ngoài ngành mình”, cũng như “có đủ hiểu biết về các mánh lới qua mặt, can đảm đương đầu chướng ngại, và tin tưởng vững chắc vào lẽ phải” với ý hướng “trừng phạt phần tử xấu, làm sạch cơ quan, nâng cao hiệu năng phục vụ, mà còn bênh vực kẻ bị thiệt thòi & oan khiên”). Hai là “nghiệp báo” (gieo nhân nào, gặt quả nấy, của Đạo Phật). Và ba là “nghiệp dĩ” (vốn nó như thế, tự trong lòng mình). Vốn ấy phải chăng là “lẽ công bình, óc minh chính và lòng trong sạch của người đứng đầu cơ quan”.

 Tôi nhớ câu nói của Trần Văn Thanh ngày xưa, me-mé rằng: “chúng” dốt, không biết rằng trong thâm tâm “anh” mà chống là chống cái xấu, cái ác, vì “anh” muốn cho chế độ của “chúng” tốt đẹp hơn, vững mạnh hơn!”

 Tôi mà có lòng minh-chính ở đời thì chắc cũng do “nghiệp dĩ”. Nhưng tôi không thể tự nhận mình là “đồng nghiệp” (với cái nghĩa là “nghiệp-dĩ) ‒ dù khác chiến tuyến”) như ông ta đã từng “tâm sự” với tôi.

 LÊ XUÂN NHUẬN 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn