BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 36315)
(Xem: 33502)
(Xem: 33024)
(Xem: 24813)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Nhân ngày quốc hận lần thứ 25 (30-4-2000)

21 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 1026)
Nhân ngày quốc hận lần thứ 25 (30-4-2000)
50Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
00
Tạm Biệt Sài Gòn

Chúng tôi, những tình báo viên đang đối mặt với quân địch ngay trên tuyến đầu của cuộc chiến, không hoàn toàn bị bất ngờ về cuộc tấn công của quân đội Bắc Việt khoác áo "quân giải phóng", vào thành phố Sài Gòn. Vì rằng: Ngày đầu tháng 4 năm 1975, trong tay của chúng tôi đã có một bức điện mật của điệp viên nội tuyến từ trong Ban Tham Mưu của bộ chỉ huy quân giải phóng (Việt Cộng) gửi ra, với nội dung như sau:

"Ngày 22 tháng 3 vừa rồi, ông chủ đã quyết định làm một chuyến buôn lậu lớn từ Bắc vào Nam. Và hàng sẽ nhập cảng Sài Gòn vào cuối tháng 4 này. Nên nhớ! Kết thúc chuyến buôn lậu này là do sự yểm trợ của băng đảng Mafia quốc tế, nên chúng ta khó thực hiện việc kiểm soát? Cửa ngõ đã mở rồi! Tôi xin chấm dứt nhiệm vụ. Mong "Đại Bàng" có quyết định ngay!"

Bức điện với ngôn ngữ tình báo trên đây có nghĩa là: Ngày 22 tháng 3 năm 1975, Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng CSVN đã ra nghị quyết mở cuộc tấn công chiếm Sài Gòn vào cuối tháng 4 năm 1975. Và để giành chiến thắng trong trận tổng tấn công vào Sài Gòn sẽ có một siêu cường quốc tế yểm trợ cho quân CS Bắc Việt!

Nhưng... chỉ có một ẩn số mà chúng tôi chưa nghiệm được chính xác là "siêu cường nào?" Chính Đại Bàng - thượng cấp của chúng tôi - cũng đau đầu về nghiệm số này!

Mọi giả định đều đặt trên bàn như đánh bài lật ngửa. Đại Tá Thúy, Chánh sở Nghiên Cứu, khẳng định: "Theo tôi, tên Mafia đó, không kẻ nào khác là Liên Sô!"

Đại Tá Long, Chánh sở Đặc Vụ, trầm ngâm, dè dặt nghi vấn: "Chẳng lẽ, chẳng lẽ là anh bạn ấy?"

Đại Bàng hỏi tôi: "Sao, Z18 nghĩ thế nào?"

Thú thật, tôi có suy nghĩ gần như Đại Tá Long, nhưng chưa dám cả quyết. Tôi nói: "Tôi tán đồng ý kiến của Đại Tá Long vì có hiện tượng anh bạn ấy đã bật đèn xanh cho Lê Đức Thọ"

Đại Bàng nhanh chóng chặn lời tôi: "Chắc hai vị - ám chỉ tôi và Đại Tá Long - đã lập sai phương trình rồi. Theo tôi, ý kiến của Đại Tá Thúy hữu lý hơn."

Ngày 15 tháng 4, tôi lại nhận được một điện tín từ cơ sở Hànội chuyển vào, rằng: "Anh Ba đã đồng ý với anh Sáu, đặt tên cho chuyến buôn lậu vào Sài Gòn là C.Z... người". Có nghĩa là "Lê Duẩn đã đồng ý với Lê Đức Thọ đặt tên cho cuộc tấn công vào Sài Gòn là chiến dịch Hồ Chí Minh."

Tôi tức tốc đến gặp Đại Tá Long tại biệt thự số 3 Mạc Đỉnh Chi vào lúc 11 giờ đêm hôm đó.

Trong gian phòng riêng biệt, với bốn bức tường cách âm, không thể có một âm thanh nào lọt ra ngoài dù có nói to giọng. Tôi chưa đưa bức điện mới nhận được cho Đại Tá Long coi, thì Đại Tá Long đã kéo hộc tủ lấy ra một bức điện từ Paris gửi về đưa cho tôi, vànói: "Toa xem ông tướng họ Trần nhà ta đưa tin có đúng không?" Bức điện chỉ có mấy dòng như sau: "Từ Phi Châu về Paris, Trần Văn Đôn đã tiếp xúc với một số nhân vật trong chánh phủ Pháp. Ông ta tuyên bố rằng "Ba đại cường quốc Mỹ, Nga và Trung Cộng đã thỏa thuận nước Việt Nam sẽ được thống nhất dưới quyền kiểm soát của Hànội!"

Xem xong tôi không do dự buông một câu: "Thế là đúng với sự nhận định của toa phải không?"

"Nghĩa là hai ta có cùng một quan điểm!" Đại Tá Long vừa nói, vừa nhìn tôi thăm dò.

"Chưa hẳn là vậy. Nhưng..." Tôi dừng lại đó. Đại Tá Long lộ vẻ khó chịu. Anh ta bước đến gần tôi cau có: "Đến lúc này toa còn sợ gì nữa mà không dám nói cho moa nghe?"

Tôi với Đại Tá Long rất thân nhau, nhưng do vị trí, chức phận khác nhau. Anh ta vừa là Chánh sở Đặc Vụ, vừa là bí thư riêng cho ông Tướng Đặc Ủy Trưởng, lại là cháu của Tổng Thống phu nhân nữa nên tôi phải dè dặt là lẽ đương nhiên. Hơn nữa trong nghề nghiệp tình báo "khả nghi" là bài học vỡ lòng, làm sao tôi có thể quên được, dù là với người chiến hữu thân cận.

Tôi hỏi trớ sang chuyện khác: "Toa đã trình bức điện này cho Đại Bàng chưa?"

Đại Tá Long nhìn tôi với đôi mắt tỏ vẻ nghi ngờ, gằn giọng: "Toa không hay gì sao? ... Đại Bàng cụp cánh rồi!"

Tôi trố mắt nhìn người thân cận nhất của Tướng B. Đại Tá Long đĩnh đạc bước đến tủ rượu lấy ra một chai Champagne còn nguyên xi. Anh ta bảo: "Mời Trung Tá khui rượu để chia buồn với Đại Bàng của chúng ta!"

Tôi bình tĩnh đáp: "Được! Tôi sẵn sàng phục vụ Đại Tá. Nhưng ngài nhớ cho, sau khi nốc cạn ly đầu tiên, ngài phải giải thích cho rõ ràng cái tin giật gân vừa rồi đấy!"

Sau khi đã nốc cạn ly rượu đầu tiên Đại Tá Long đưa bản tin của hãng UPI cho tôi, và chỉ mẫu tin do chính anh ta đã khoanh tròn, nói: "Đây, toa xem! Moa có nói láo đâu!"

Mẫu tin ghi rành rành rằng: "Vợ chồng của ông tướng cầm đầu ngành tình báo của Nam Việt Nam sẽ được gửi đi Hawaii với cái tên Mỹ là bà W. Legros và đã được sự chấp thuận của tòa đại sứ Mỹ ở Sài Gòn."

Xem xong tôi làm bộ không tin: "Có thể đây là tin vịt?"

"Sao lại là tin vịt? Trung Tá trưởng ban Q. đã gặp Polar, và chuẩn bị xong mọi thủ tục cho bà tướng ấy rồi!"

"Thú vị nhỉ!" Tôi cười:

"Đại Bàng cụp cánh! Toa thích lắm sao?" Đại Tá Long khó chịu ra mặt.

"Xin lỗi, ông bí thư đừng hiểu lầm! Ý tôi muốn nói nhà Polgar nhà ta." Tôi giải thích: "Chắc toa còn nhớ vụ scandal của ngài Pol. mới đây chứ?"

"Vụ ngài Pol. cho bà vợ Mỹ sơ tán sang Manila, rồi rước cô bồ trẻ măng người Việt về nhưng bà chánh thất vì nổi máu ghen, nên không sợ Việt Cộng, đã bay trở qua Việt Nam và bắt quả tang đức phu quân đang ăn vụng của quý... Phải không?" Đại Tá nói một hơi. Anh ta dừng lại một giây, quắc mắt chiếu tướng tôi, hỏi:

"Vậy toa nghĩ thế nào về việc chuẩn bị của Đại Bàng?"

"Thôi "chef" đừng giả bộ nữa! Việc Đại Bàng chuẩn bị ra đi là việc tất nhiên thôi! Ngay cả Thủ Tướng, Tổng Tham Mưu Trưởng và Tổng Thống cũng đang chuẩn bị đánh bài chuồn... thì ông tướng của chúng ta cũng tìm cách "vi thượng sách" chớ."

Tôi nói trắng ý nghĩ của mình, và để chấm dứt câu chuyện của Đại Bàng, tôi liền đưa bức thư điện từ Hànội gửi vào cho Đại Tá Long. Nhưng anh ta chỉ liếc nhanh qua vànói: "Mọi việc đã an bài! Chiến dịch có đặt tên nào cũng vậy thôi!"

"Moa nghĩ khác xa hơn toa. Vì rằng, nó liên quan đến thời điểm quân Việt Cộng mở cuộc tấn công vào ngay vùng đất sống của chúng ta!" Tôi nói với thái độ dứt khoát.

"Chính ngài Đại sứ Pháp Jean-Marie Mérillon đã nhận định rằng: Quân đội Bắc Việt sẽ tấn công vào Sài Gòn đúng vào ngày 19 tháng 5. Bây giờ theo bức điện này thì nhận định đó coi như đúng! Vì rằng ngày 19 tháng 5 làngày sinh nhật của Hồ Chí Minh!" Đại Tá Long khoát tay nói: "Thôi đừng quan tâm đến cái thời điểm đen tối đó nữa!"

Tự nhiên tôi nghe con tim của mình bị nhói đau, như có một lưỡi dao vô hình chọc thẳng vào yếu huyệt! Tôi bần thần, nhưng cố bình tĩnh nói với người bạn tâm giao, người chiến hữu mà tôi gửi gấm niềm tin sau cùng: "Toa nên nghe moa lần cuối trước khi chia tay nhau. Moa dám chắc chính hai tên họ Lê đã lừa gạt ngài đại sứ Pháp, đã lừa gạt chúng ta bằng cách đưa thần tượng xác chết của ông gi� Hồ ra. Moa tin rằng chúng sẽ mở cuộc tấn công đúng vào lúc ngài đại sứ Mỹ Martin lên máy bay về nước!"

"Căn cứ vào đâu mà toa đoán chắc như thế?" Đại Tá Long ngó tôi chầm chầm.

"Toa nên nhớ những gì đã xảy ra đối với Nam Vang vào ngày 12 tháng 4 vừa rồi, khi Tổng Thống Mỹ G. Ford ra lệnh cho Đại Sứ John Dean đóng cửa tòa đại sứ của Mỹ tại đó! Có lẽ số phận của chúng ta còn thê thảm hơn người bạn láng giềng đáng thương kia!" Nói xong, tôi đứng dậy tỏ ý định ra về.

Nhưng Đại Tá Long đã vội vàng giữ tôi lại: "Chúng ta còn có chuyện bí mật phải bàn riêng với nhau thật cặn kẽ, trước giờ tạm biệt Sài Gòn!" Nói xong, Đại Tá Long mở tập sưu khảo để ngay trên bàn làm việc riêng của anh ta, lấy ra một bản sao mật mã chưa giải, nhìn tôi, nghiêm trọng nói: "Toa cất lấy bản M2 này, và sau cuộc đi chơi với moa tối nay, toa phải giải mã ngay và căn cứ vào đó, toa phác thảo một kế hoạch "luồn sâu, trèo cao" sau khi chúng ta Good Bye Sài Gòn."

Theo sự nhậy cảm của nghề nghiệp, tôi đoán chắc "Đây làmột phi vụ đường dài khá nguy hiểm cho những chiến sĩ chết không có người thứ ba biết đến." Tôi nhét ngay bản M2 vào túi trong của chiếc áo ba-đờ-suy đang khoát trên người - một thói quen của tôi khi gặp Đại Tá Long vào ban đêm - Tôi hỏi:

"Toa có thể cho moa biết ai là chủ nhân của bức thư tình đáng yêu mà cũng đáng ghét này hay không?"

Đại Tá Long hình như đã chuẩn bị trước câu trả lời, anh ta cười:

"Chủ nhân của nó là tiếng gọi của hồn thiêng sông núi, là trách nhiệm của người chiến sĩ lấy đại cuộc làm mục đích của đời mình, và ..."

"Và là của người tình muôn thuở, luôn dấu mặt với tình quân, nhưng lại làngười cầm chìa khóa quyết định vận mạng của những thằng đằn ông si tình đến cuồng dại "như Trụ Vương mê nàng Đắc Kỷ"... có phải không?" Tôi tiếp lời.

Đại Tá Long gục gật đầu:

"Thế là toa quá thuộc bài rồi, còn hỏi moa làm gì." Anh ta nắm tay tôi đẩy ra cửa, nói thêm: "Toa lái xe đến thẳng biệt thự Đào Hoa... nửa giờ sau tôi sẽ có mặt!" Đại Tá Long kề tai tôi nói nhỏ: "Mật ngữ là ..."

o0o

Biệt thự "Đào Hoa" làmật danh của chúng tôi đặt cho một quán nhậu đặc biệt ở giữa khu rừng cao su Thủ Đức, mà chủ quán của nó một thời đã là vị tướng, tướng Mai Hữu Xuân. Quán này có một cái tên rất ư là giang hồ "Đường Sơn Quán". Chính tại quán này hơn 5 năm trước tướng Thiệu đã cho đàn em kết liễu cuộc đời của một viên tình báo chiến lược của CS Bắc Việt. Chính hắn - Phạm Ngọc Thảo - con nuôi của Đức cha Ngô Đình Thục, và được Ngô Tổng Thống trọng dụng... và khi hắn chết đã là Đại Tá của quân lực VNCH!

Tôi lái xe lên đến biệt thự "Đào Hoa" đúng vào lúc kim đồng hồ dạ quang của tôi chỉ con số 12:15. Xa...xa...từ hướng Xuân Lộc dội về từng loạt pháo nổ, bom rền... Quang cảnh chung quanh Đường Sơn Quán im lìm trong sương lạnh. Tất cả ánh đèn mầu cực kỳ hấp dẫn khách ăn đêm không còn tỏa sáng ra ngoài một cách quyễn rũ như vài tháng trước đây. Chủ nhân Đường Sơn Quán đã cố tình che nó lại, không để cho một tia sáng nào, dù chỉ làmột vệt kẻ chỉ, lọt ra ngoài. Ngôi quán lù lù như một nấm mồ hoang trong khu rừng vắng. Ba, bốn chiếc xe du lịch nằm ẩn mình dưới các lùm cây cao su ở phía sau quán, làm cho tôi nhớ lại câu chuyện Bas-si-ma Hoàng Ngọc Ẩn, trong "Châu Về Hợp Phố" của nhà văn Phú Đức. Tôi dừng xe cách Đường Sơn Quán chừng 50 thước, tắt máy, vừa mở cửa, chưa kịp bước ra khỏi xe thì có hai bóng đen bất thình lình xuất hiện, dí hai khẩu súng lục vào hai màng tang của tôi - "Đứng im! Không được chống cự!" Một tên trong bọn họ ra lệnh. Vốn dĩ đã chạm trán nhiều lần với cảnh tranh tối tranh sáng như thế này, trong cuộc đời đi đêm của mình, nên tôi vẫn bình tĩnh như không có chuyện gì xẩy ra. Tôi cười nói:

"Thôi mà các cha nội. Đánh phé thua hết tiền rồi phải không?"

"Ông muốn đạn đồng hay nước hoa?" Hai kẻ lạ mặt nói cùng một lúc.

Tôi đã nhận ra mật khẩu liền đáp lại:

"Chỉ thích uống rượu nhẹ và nghe nhạc nhẹ."

Hai kẻ lạ mặt nhanh chóng hạ súng xuống, gật đầu chào tôi và rút nhanh vào bóng tối. Hành động đó của họ báo cho tôi biết rằng "mọi việc đều êm xuôi, tôi có quyền tự do hànhh động theo như kế hoạch!"

Tôi ung dung bước đến gõ cửa quán. Sau vài giây, cửa hé mở, một giai nhân - người tình của muôn người - chúng tôi thường gọi Thu Sương như thế, ló mặt ra:

"Quán đã đóng cửa nửa giờ trước rồi ông ạ!"

"Khách quen, nửa đêm mò lên đây để thưởng thức món nai nướng của quán Đường Sơn, chẳng lẽ em cũng không tiếp hay sao?"

"Xin lỗi! Ông chờ tôi hỏi ông chủ xem ông có đồng ý tiếp hay không".

Mấy phút sau, Thu Sương trở ra, nở nụ cười thật tươi:

"Ông anh đừng buồn em nhé! Em chỉ làngười phục vụ mà ."

Tôi vuốt nhẹ mái tóc mượt mà của người góa phụ ấy, nói một câu bâng quơ, như chỉ là sự trêu chọc của cánh đàn ông ham của lạ, nhưng kỳ thật đó làmật ngữ của tôi với nàng: "Đã quá nửa đêm rồi, em có thể dành cho anh cái diễm phúc của người đến trễ tràng hay không?"

"May quá, em cũng đang có tâm sự buồn, rất mong có người bạn để giải sầu cho hết đêm sắp tàn cuộc chiến này, anh ạ!" Thu Sương vừa nói vừa liếc xéo vào gian phòng tiếp khách đặc biệt của ông chủ quán, nói tiếp:

"Giờ này anh là khách độc hành, muốn ngồi bàn nào tùy ý! Em đi chuẩn bị đồ nhậu cho anh nhé!"

Thói quen của tôi khi vào các quán nhậu, bao giờ cũng chọn bàn ở một góc, góc trái hoặc góc phải. Đêm nay, tôi chọn góc trái, đối diện với phòng tiếp khách của chủ quán, theo đường chiếu. Trong gian phòng chỉ vang ra những âm thanh rất nhỏ, rất khó nghe họ đang bàn chuyện gì, nhưng máy thu âm siêu tần có bộ phận khuếch đại, đang nằm trong túi của tôi sẽ ghi không thiếu một tiếng nào.

Chưa đầy năm phút Thu Sương đã mang đồ khai vị ra. Vừa mở rút chai rượu chát nàng vừa nói:

"Nếu em không lầm thì đây là loại "hảo tửu" của anh, phải không?

Bỗng có tiếng vọng từ ngoài cửa vào: "Đấy là loại "hảo tửu" của tôi chứ không phải của hắn đâu!" Tôi và Thu Sương cùng ngó ra cửa. Đại Tá Long bước vào, cười chọc phá Thu Sương: "Bắt gặp tại trận rồi, đừng chối nữa nghen."

Nhân cơ hội đó, Thu Sương bước đến, xà vào lòng tôi, vừa ôm tôi vừa nhét vào túi áo tôi một cuộn phim mới chụp, nàng ngẻo đầu ngó Đại Tá Long thách thức: "Có chồng mặc kệ có chồng, còn duyên anh bế anh bồng cho đời thêm vui."

Tôi và Đại Tá Long ngồi nhậu đến khi các "khách quí" của ông chủ quán ra về. Họ đi ra cửa sau. Nhưng dõi theo các bóng của họ, tôi cũng biết là có sáu người, hai ngoại quốc, bốn Việt Nam, và chắc chắn không sai là có Big Minh!

Đồng hồ treo tường của quán Đường Sơn ngân nga một đoạn nhạc Tango... Tôi ngước nhìn lên, kim đồng hồ đã chỉ 2:45 sáng. Tôi ra dấu cho Thu Sương tính tiền. Nhưng Đại Tá Long đã ra dấu để anh trả. Anh ta móc một sấp tiền còn mới toanh trao cho Thu Sương, nói: "Dư lời, l ỗ chịu. O.K!" Thu Sương đáp không chút do dự "Not at all"!" Tôi chen vào "Xạo vừa thôi! Lời là phần chắc rồi!"

o0o

Qua cuộn phim của Thu Sương trao cho tôi, và qua máu thu âm của tôi mang theo trong người tại Đường Sơn Quán vào đêm 15 tháng 4, chúng tôi được biết cuộc họp mật của tướng Dương Văn Minh với nhóm thân tín của ông là luật sư Vũ Văn Mẫu, và nhà báo Lý quý Chung. Còn hai người ngoại quốc, quả là một ẩn số, vì trong ảnh không nhận ra khuôn mặt thật của họ.

Nội dung của cuộc họp mật này có thể tóm tắt như sau: Big Minh đã được một nhân vật quan trọng trong quốc hội Mỹ bắn tin rằng: "Tổng Thống G. Ford đã quyết định cho Tổng Thống Thiệu ra đi!" Đồng thời Big Minh cũng được một nguồn tin từ Bộ Chỉ Huy Việt Cộng cho hay là "Quân Giải Phóng sẽ tấn công Sài Gòn vào hạ tuần tháng 5 năm 75". Vì vậy Dương Văn Minh phải chuẩn bị ngay một ê-kíp để thay thế Thiệu và "nói chuyện với Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng của Nguyễn Hữu Thọ"!

Chúng tôi đánh giá những dữ kiện mà chúng tôi cố công thu thập được, vào thời điểm lịch sử này không còn có giá trị tình báo nữa! Tuy vậy, không có nghĩa là vô dụng đối với công việc tương lai của chúng tôi. Tôi và Đại Tá Long thống nhất không báo cáo tin này lên cho Đại Bàng, vì chúng tôi xem như ông ta không còn tư cách là vị chỉ huy của chúng tôi nữa!

Vấn đề mà chúng tôi nặng đầu lo lắng nhất lànội dung bức mật mã của "Người tình muôn thuở" quá ư là phức tạp, lại chỉ giao riêng cho hai chúng tôi: "Đại Tá Long đảm trách phần tình báo quốc ngoại, còn tôi đảm trách phần tình báo quốc nội sau ngày Tự do đã mất và phải đơn độc chiến đấu trong lòng của chế độ CS!"

Ngày 24 tháng 4, bao nhiêu sự kiện chính trị dồn dập làm khổ tâm cho những ai thực sự quan tâm đến sinh mạng của quốc gia dân tộc trước sự sụp đổ không thể tránh khỏi của nền Đệ Nhị VNCH! Tân Tổng Thống Trần Văn Hương (được Tổng Thống Thiệu trao quyền trước đây 3 ngày) đã bí mật gặp Big Minh tại nhà riêng của cựu Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, trong căn cứ Tân Sơn Nhất, để yêu cầu Big Minh ra giữ chức Thủ Tướng chánh phủ. Nhưng mộng của Minh Cồ là làm Tổng Thống kia! Cuối cùng do sức ép từ nhiều phía, đặc biệt là của Đại Sứ Mỹ Martin, ông giáo già họ Trần đành phải nhượng bộ! Ông Chủ Tịch Thượng Viện Trần Văn Lắm cũng muốn cái ghế Tổng Thống nên vội vàng tuyên bố rằng: "Tổng Thống Hương có thể từ chức, nhưng ông ta không thể trao quyền lại cho bất cứ ai. Nếu ông ta trao quyền cho Tướng Minh tức là coi thường Hiến Pháp." Mặt khác, ông Lắm cũng tỉ tê với cụ Hương rằng "Nếu cụ từ chức tôi sẵn sàng đảm nhận việc điều khiển quốc gia...?"

Đúng đêm hôm đó, tôi và Đại Tá Long đã gặp lại nhau lần cuối, trước khi đi vào ngã rẽ của cuộc chiến thầm lặng trên mặt trận mới không cân sức với kẻ thù! Để tránh những cặp mắt tò mò, chúng tôi quyết định gặp nhau "du hí" tại khách sạn Thiên Nga. Thiên Nga nằm ẩn mình trong một ngõ hẻm trên đường Cống Quỳnh.

Chúng tôi đều dùng xe Honda để đi đến điểm hẹn như bất cứ một khách ăn đêm nào. Tôi đến trước vàmướn một căn phòng trên lầu ba. Đại Tá Long đến sau, mướn một căn phòng ở lầu một. Sau đó thừa lúc vắng người, Đại Tá Long lên phòng của tôi, đúng vào lúc 12 giờ đêm.

Chúng tôi bắt đầu mở máy thu siêu tần - một loại radio cực mạnh, được thiết kế đặc biệt cho các điệp viên quốc tế sử dụng để nhận tin phát ra từ bất cứ nơi nào trên thế giới.

Sau khi kiểm tra, Đại Tá Long bảo tôi: "Toa xem đã đến giờ "INFO" chưa?" - INFO làmật ngữ chỉ giờ thông báo tin. Tôi xem đồng hồ: "Chỉ còn 3 phút nữa thôi!" Đại Tá Long đứng dậy, chỉ tay ra ngoài: "Moa ra ngoài hút vài điếu thuốc. Toa bắt đầu là vừa kịp đó."

Tôi hiểu ý, Đại Tá Long ra ngoài để gác cho tôi nhận tin của "Người tình muôn thuở". Cẩn thận hơn, tôi móc con chó lửa của tôi giao cho Đại Tá Long vànói: "Đạn đã lên nòng. Tăng cường thêm hỏa lực. Xin mời."

Sau khi Đại Tá Long ra ngoài, tôi đóng cửa lại và bắt đầu gắn tai nghe vào... vànghe những tín hiệu đầu tiên: "Đại Dương gọi Lục Địa! Chuyển tần số Y... sang Z...Đại Dương gọi lục Địa!"

Vừa rà tần số mới, tôi vừa chuẩn bị viết để ghi thông báo của thượng cấp: "Có lẽ chuyến tập kết hàng lậu vào Sài Gòn sớm hơn dự định. Khi nào nghe đài phát thanh AMERICA phát bản nhạc "Tôi mơ một đêm Giáng Sinh mà u trắng" là đến giờ t� u chở hàng lậu cập bến Hòn Ngọc. X27 nhất định phải có mặt tại Gò Công để đáp chuyến t� u đặc biệt, đi nhận một áp phe mới. Z18 phải về tọa độ N. để chuẩn bị những kho hàng lớn cho những chuyến nhập hàng sắp tới. Đã mở account số... tại ngân hàng ... cho Z18. Chúc thành công lớn! Hẹn ngày tái ngộ."

Tôi tắt máy và thu cất những đồ nghề xong, đứng dậy, ra mở cửa cho Đại Tá Long vào. Khi đọc xong chỉ thị của thượng cấp, Đại Tá Long thở dài: "Số phận đã bắt buộc hai đứa mình phải xa nhau."

"Làm sao được! Khi chúng ta tình nguyện dấn thân vào con đường hiểm nguy." Tôi vừa nói vừa khoát chiếc áo măng tô vào người, vừa hỏi: "Toa có nhớ ai mua chiếc măng tô này cho moa không?"

"Nếu moa nhớ không lầm thì nàng tiên E9 mua tặng cho toa ngày sinh nhật của kẻ thoát chết Z18 vào năm toa từ vùng đất của kẻ thù trở về!"

"Trí nhớ của toa thật không tồi. Nhưng..."

"Nhưng từ ngày nàng bị kẻ thù bắt và hy sinh anh dũng để bảo vệ cơ sở, thì dù cái áo măng tô đã sờn vai, rách gấu, Z18 vẫn giữ nó trên mình vào những đêm lạnh lòng, như đêm nay chẳng hạn." Đại Tá Long nói tiếp lời của tôi.

"Toa có tin rằng, toa còn có thể gặp lại E9 không?"

Trầm ngâm một vài giây, tôi nói tiếp: "Nếu ta xem sự chết như làmột chuyến du lịch sang một thế giới mới lạ và kỳ thú, thì ta sẽ không có cảm giác xa người quá cố. Linh hồn giữa người sống vàngười chết không có thể chia cắt, nếu ta đã yêu mến người quá cố bằng sự rung động chân thành, và ta yêu mến họ qua linh hồn chớ không bằng thể xác..."

"Đúng vậy, xác của người quá cố tuy đã bị hủy đi theo thời gian, nhưng hồn của họ vẫn ở quanh ta, và tuy ta không thấy họ, nhưng họ vẫn cảm xúc được tình thương của người đang sống...Moa tin chắc rằng, dù đang sống ở bên kia thế giới, E9 vẫn biết được tình cảm yêu thương của toa đối với nàng! VÀ rất có thể nàng đang sửa soạn một bữa tiệc thật ngon để chào đóng người hùng, cũng làngười tình muôn thuở không sống cùng nàng..."

"Toa có thể bỏ nghề tình báo để làm nhà văn được rồi đó."

"Sao không được nhỉ! Chính cuộc đời của một tình báo viên làmột thiên tiểu thuyết vô giá." Đại Tá Long cười.

Chúng tôi đã chia tay nhau trong tâm trạng hoài niệm về những chiến hữu đã nằm xuống, vànghĩ đến tương lai khi mình rời khỏi chiến trường. VÀ từ hôm đó, sau khi rời khỏi khách sạn Thiên Nga và cùng ăn sáng tại nhà hàng Broda trên đường Tự Do, chúng tôi không còn gặp nhau nữa.

o0o

Giờ tạm biệt Sài Gòn đã đến! Lúc 4 giờ sáng ngày 29 tháng 4, pháo binh của quân CS Bắc Việt đã nả cấp tập vào sân bay Tân Sơn Nhất, Bộ Tổng Tham Mưu và Bộ Tư Lệnh Hải Quân của VNCH.... Và bình minh tới, các phi công của những chiếc F-5 và A-37 còn lại đã vội cất cánh để không bao giờ trở lại! Đúng 5 giờ 45, Đại Sứ Mỹ Graham Martin vội vàng đến sứ quán, cũng là lúc Bộ Tư Lệnh Không Quân VNCH ra bản quân lệnh cuối cùng: "Chiếc máy bay nào còn bay được tức khắc phải rời khỏi lãnh thổ Nam Việt Nam"! VÀ vào lúc 9 giờ 30 phút, giờ Sài Gòn, tôi nhận được bản tin cuối cùng rằng: Hội Đồng An Ninh Quốc Gia của Mỹ đã họp dưới sự chủ tọa của Tổng Thống Gerald Ford để quyết định di tản người Mỹ an toàn ra khỏi Miền Nam VN trước giờ sáng ngày 30 tháng Tư!

Liền theo lúc đó, Minh Cồ, nhân danh Tổng Thống đã trao cho sứ quán Mỹ một công hàm, và bức công hàm này đã được tân Thủ Tướng Vũ Văn Mẫu đọc công khai trên đài truyền hình, truyền thanh Sài Gòn rằng:

"Kính thưa ông Đại Sứ, tôi kính yêu cầu ông ra lệnh cho nhân viên văn phòng của Tướng Smith ra khỏi Việt Nam trong 24 giờ kể từ ngày 29 tháng 4 năm 1975 để vấn đề hòa bình tại VN được giải quyết mau lẹ."

Và Đại Sứ Mỹ, nhà quý tộc Graham Martin đã không do dự trả lời rằng:

"Kính thưa Ngài Tổng Thống, tôi đã nhận được bức công hàm của Ngài, và tôi xin thông báo cho Ngài rõ là tôi đã ra lệnh cần thiết đúng theo yêu cầu của Ngài."

Một màn kịch chính trị khá hoàn hảo được diễn ra trên xác chết của bao nhiêu chiến sĩ quân lực VNCH đang dũng cảm tử thủ để bảo vệ Sài Gòn, bảo vệ dinh tổng thống. Họ chẳng hề hay biết rằng, "Đằng sau lưng cuộc chiến đang có một âm mưu lớn!"

Ngày 29 tháng Tư, đúng 11 giờ 13 phút, giờ Sài Gòn, đài phát thanh Hoa Kỳ phát đi bản nhạc chết người: "Tôi Đang Mơ Một Giáng Sinh Mầu Trắng (I'm Dreaming a White Christmas)". Tôi nghe bản nhạc cầu hồn này vào lúc tôi đang ăn bữa cơm chia tay với vợ con.

"Em sẽ chờ đợi cho đến ngày anh chiến thắng trở về." Vợ tôi đã tiếp sức sống cho tôi trong cuộc chiến đấu mới!

Bị Phản Bội



Sáng sớm ngày 30 tháng Tư, tôi đang đứng trên sân thượng của khách sạn Caravell, quan sát chiếc trực thăng cuối cùng, chở người Mỹ di tản, bay lên từ nóc toà đại sứ Hoa Kỳ, có chiếc Cobra hộ tống! Bỗng có người nói sau lưng tôi: "Sao ông còn ở đây?"

Tôi nghe tiếng nói rất quen, nhưng chưa nhận ra hắn là ai. Theo quán tính của nghê nghiệp, tôi cảm thấy có điều không bình thường trong câu hỏi của hắn! Tôi vẫn thản nhiên không quay mặt lại, cũng không trả lời cho hắn. Tôi giả như hắn đang hỏi một người nào đó!

"Quen mặt nhau quá, sao ông cố tình làm lạ vậy! giáo sư Hoàng?"

Đến thế này thì tôi không thể đánh bài lờ được nữa. Vả lại tôi đã nhận ra ngay hắn! Hắn chính là Phạm Xuân Ẩn, phóng viên của tờ Time (Mỹ). Theo như hồ sơ phản gián của chúng tôi, hắn là tình báo chiến lược của Việt Cộng len lỏi vào được trong hàng ngũ phóng viên của Mỹ hoạt động thường trú ở Sài Gòn. Chúng tôi đã nhiều lần đề nghị cùm hắn. Nhưng ý kiến của cấp trên là không nên đụng đến hắn, vì "Hắn là một nhị trùng. Khi nào có ý kiến của cố vấn từ bên kia bờ Đại Tây Dương thì mới được hành động!" Hắn gọi tôi là "giáo sư Hoàng" vì tôi trong sinh hoạt giao tiếp với chính giới ở Sài Gòn, đều với tư cách giáo sư, kỳ thật tôi cũng có dậy một số giờ ở Đại Học Văn Khoa.

Tôi day lại, tỏ vẻ ngạc nhiên:

"Tôi tưởng ông hỏi ai chớ? Xin lỗi, bỏ qua cho tính đãng trí của tôi."

Đồng thời tôi cũng giả vờ hỏi hắn:

"Ông Ẩn là người thạo tin nhất trong giới thạo tin của Sài Gòn, ông hãy cố vấn cho tôi xem khi nào thì "Quân Giải Phóng" tấn công Sài Gòn?"

Phạm Xuân Ẩn cười nhếch mép, ngạo mạn:

"Lịch sử sắp sang trang rồi đấy, ngài giáo sư khả kính ạ!"

"Thế thì hay quá! Tôi đã và đang chờ đợi giờ phút đó!"

"Thật à ! Ông không sợ VC trả thù hay sao?"

"Nếu đã sợ, tôi đâu còn có mặt ở đây để làm một chứng nhân lịch sử."

"Tuyệt! Đúng làmột con người biết thích ứng với thời thế. Nếu giáo sư vui lòng, tôi xin được phép mời giáo sư dùng bữa sáng với chúng tôi."

Hắn nhấn mạnh chữ "Chúng Tôi". Hắn muốn gì đây? Trong trí tôi chợt nảy ý định lợi dụng cơ hội này để làm quen với nhóm bộ ba "Ngự Lâm Pháo Thủ" của hắn, trong đó có Cao Giao, cộng tác viên của tờ Newsweek, và một gã tên Vượng được các vũ nữ Sài Gòn tặng cho cái danh hiệu "gã đàn ông duyên dáng trong các hộp đêm". Tôi không ngần ngại nhận lời:

"Rất vinh hạnh! Mấy khi được làm quen với các nhà báo quốc tế."

Tiếng đồn không sai! Phạm Xuân Ẩn đúng làmột con người tinh ý và biết đối đáp. Hắn cười lớn:

"Giáo sư Hoàng hơi quá lời rồi đó! Tôi chẳng qua làmột thứ phóng viên cố mài ngòi bút để tồn tại trong hoàn cảnh không có chó thì bắt mèo thay vật mà !"

"Nếu vậy, ông vẫn còn hơn tôi đến mấy bậc đấy!"

"Nghĩa là tôi hơn ông đến mấy bậc "vô danh" mà không tiểu tốt, phải không? Pardon!... Sơ giao nói mấy câu đùa cho vui, mong giáo sư đừng để bụng. Bây giờ xin mời giáo sư đến Grival."

Nhà hàng Grival đối diện với khách sạn Continental trên đường Tự Do. Đây làmột loại nhà hàng nổi tiếng về cà phê thượng hảo hạng, và chỉ những người có nhiều tiền mới chọn nơi đây để thưởng thức "hương vị for breakfast đúng nghĩa của người Anh" theo cách nói của dân có tiền học làm sang. Phần đông những chuyên gia săn tin tức thời sự nóng hổi cũng thường mò đến đây vào mỗi buổi sáng. Thỉnh thoảng cũng có một số chính khách dùng nơi này làm điểm hẹn để bàn chuyện thế cuộc. Bởi thế các nhà báo quốc tế khi đến Sài Gòn cũng tìm đến đây để nghe ngóng.

Tôi và Phạm Xuân Ẩn vừa bước vô cửa đã nhìn thấy Cao Giao đang sôi nổi bàn chuyện với Nguyễn Hưng Vượng. Thấy Phạm Xuân Ẩn, Giao liền lên tiếng ngay:

"Chúng tôi chờ you đã hơn nửa tiếng rồi!"

Phạm Xuân Ẩn không giải thích, hắn chỉ tôi, giới thiệu:

"Đây, người bạn mới của chúng ta, giáo sư Hoàng."

Hai người bạn của Phạm Xuân Ẩn đứng lên bắt tay tôi. Cao Giao ngó Phạm Xuân Ẩn một cách ý nhị (?). Tôi dò thấy trong cặp mắt ti hí và chòm râu dài, cố để cho ra người già của Cao Giao, có điều gì nghi ngờ đối với tôi (?). Tôi chậm rãi nói:

"Nếu quý vị có điều gì không tiện nói cho tôi nghe, tôi xin phép ngồi riêng!"

"Ngồi ở Grival, đặc biệt là ngày hôm nay, không có gì bí mật cả! Anh Cao Giao có tin gì mới cho bọn này biết với!"

Từ trước đến giờ, chúng tôi chỉ biết Phạm Xuân Ẩn qua báo cáo. Hôm nay trong cuộc tiếp xúc sơ giao, tôi có nhận xét ban đầu làmột số chi tiết trong hồ sơ cá nhân của hắn cần phải thẩm tra và đánh giá cho chính xác hơn!

Cao Giao hỏi Phạm Xuân Ẩn:

"You có nghe lời tuyên bố của Martin, khi ông ta vừa bước lên soái hạm Blue-Ridge không?"

Phạm Xuân Ẩn không nói gì, chỉ móc túi đưa ra một mẫu tin ghi vội bằng tốc ký, và bình luận:

"Trong đời làm ngoại giao của ngài đại sứ chưa bao giờ tuyên bố với báo chí một câu thật ngắn như lần này. Martin tuyên bố rằng "Nếu chúng ta giữ những cam kết, như một quốc gia đúng với cái danh xưng ấy, thì tất cả chuyện này không xảy ra!" Có ý nghĩa đấy chứ?" Ẩn nhấn mạnh thêm.

"Có ý nghĩa gì... thì mọi việc đã xong rồi. Thật là nhục nhã cho một siêu cường số 1 của thế giới Tự Do!" Cao Giao vừa nói vừa ngó tôi thăm dò.

"Cũng tại Tổng Thống Dương Văn Minh yêu cầu tòa đại sứ Mỹ trong vòng 24 tiếng đồng hồ phải rút hết ra khỏi đây. Như vậy là người Mỹ sẽ không chịu trách nhiệm mọi hậu quả từ nay về sau. Đúng là bụng làm dạ chịu chớ có trách ai!"

Nguyễn Hưng Vượng bào chữa cho nước Cờ Hoa.

"Tôi nghe tin ngài tân Bộ Trưởng Thông Tin Lý Quý Chung lãnh trọng trách đóng vai Tô Tần đi làm thuyết khách. Uốn ba tấc lưỡi kêu gọi VC thương thuyết nhưng đã bị thất bại!" Cao Giao vừa nói vừa nhún vai tỏ vẻ khinh thường nước cờ của Dương Văn Minh.

"Muốn thương thuyết thành công phải có thế và lực hơn đối phương hoặc ít ra cũng bằng đối phương. Thực tế hiện nay, Big Minh có gì để nói với kẻ đang cầm chắc chiến thắng trong tay!" Phạm Xuân Ẩn nhìn tôi và nói tiếp:

"Chiến thắng của họ không còn tính tháng, tính ngày nữa, mà chỉ còn tính giờ thôi!"

"Hình như ông Ẩn đã biết trước những sự việc sắp xẩy ra... Vậy theo ông, hôm nay giờ nào thì "Quân Giải Phóng" vô tới Sài Gòn?"

Tôi cố tình hỏi hắn. Hắn cười, vỗ vai tôi:

"Thưa ông giáo sư chứng nhân lịch sử ơi! Nếu tôi là Khổng Minh thì tôi đã hốt bạc tỷ... và giờ này tôi đang ngồi ở Hoa Thịnh Đốn, uống Whiskey và ngắm các cặp đùi tuyệt trần của các cô vũ nữ thượng thặng rồi! Đâu có ngồi đây mà tán láo và ngắm chòm râu dê của gã Cao Giao làm chi!"

Cao Giao vừa muốn trả đũa Phạm Xuân Ẩn, thì bỗng có một người trạc tuổi ba mươi, ăn mặc chỉnh tề, từ ngoài bước nhanh vào đến bên Cao Giao thì thầm mấy câu... Cao Giao vội vàng đứng dậy cáo lỗi là có chuyện phải đi gấp.

"Thật là tiêu biểu, khi cuộc chiến tranh Việt Nam do chánh quyền Kennedy vạch kế hoạch tiến hành, với một quân đội trang bị hiện đại nhất thế giới, lại được chánh quyền Gerald Ford chấm dứt bằng một cuộc di tản vĩ đại với những chiếc trực thăng hiện đại."

Phạm Xuân Ẩn nói với nụ cười mỉa... Hắn day qua hỏi tôi: "Có phải không, giáo sư Hoàng?"

"Tôi chưa đủ trình độ để xét xem kẻ nào đích thực là Kẻ Chiến Thắng trong một dự mưu cho tương lai của tổ quốc của chúng ta! Có phải thế không ông nhà báo quốc tế?" Tôi hỏi lại Phạm Xuân Ẩn.

"Cả hai chúng ta đều là con cờ của các siêu cường... Cả tôi và ông dều bị phản bội!"

Phạm Xuân Ẩn nói trong một giọng điệu chua chát. Tôi thấy cũng đến lúc chia tay với tên gián điệp nhị trùng này.

"Cám ơn đã dành cho tôi một bữa ăn sáng thú vị. Ông hãy nhận ở tôi lời chúc "thăng quan tiến chức"... trên bước đường mới!"

Tôi nói và bắt tay chào tạm biệt Phạm Xuân Ẩn, Phạm Xuân Ẩn bắt chặt tay tôi, và kề sát tai tôi nói nhỏ:

"Theo tôi, giáo sư nên rời khỏi Sài Gòn ngay! Có kẻ đã phản bội các ông rồi!"

o0o

"Có kẻ đã phản bội các ông rồi!"

Câu nói của gã nhị trùng Phạm Xuân Ẩn có ẩn ý gì? Câu hỏi đó cứ hành hạ tôi, sau khi bước ra khỏi nhà hàng Grival. Phải chăng hắn đã biết tôi là ai? Và kẻ nào đã phản bội tôi? Tại sao hắn lại báo cho tôi một tin quan trọng như vậy? Nhưng thời gian không cho phép tôi ngồi giải phương trình siêu nghiệm đó nữa! Tôi về đến biệt phòng của tôi đúng vào 8 giờ 30 sáng, tôi nhanh chóng thủ tiêu mọi dấu vết, tài liệu và hệ thống mật báo của tôi, ngụy tạo một số dấu hiệu nhằm đánh lạc hướng đối phương khi chúng được bọn tay sai nằm vùng báo cáo về tôi.

Tôi khoá cửa phòng và rời khỏi "mật cứ giữa lòng thủ đô Sài Gòn" vào lúc 9 giờ 45 phút. Tôi bỏ chiếc xe Jeep tại đó, và dùng chiếc Honda 90 làm phương tiện di chuyển cho mọi người không chú ý. Vừa phóng ra khỏi "khu cấm" - khu làm việc của Sở Đặc Vụ - tôi gặp ngay một cô gái ăn mặc khá sang trọng, đi chiếc Honda Dame đuổi theo.

"Thưa ông, Có người nhờ chuyển bức thư này cho ông."

Tôi vẫn cho xe chạy và đưa tay ra nhận bức thư, cười nói:

"Vợ tôi sắp đẻ phải không?"

Cô gái cười rất tươi và nói rất nhanh:

"Chúc mừng ông! Bà sinh được đứa con trai!"

Tôi đã bắt đúng tần số, nhưng không kịp nói gì thì cô gái mà tôi mong chờ từ sáng đã đi khuất dạng sau một góc đường tấp nập người qua lại. Tôi đành tấp vào một quán cà phê ven đường. Bức thư chỉ thông báo gọn rằng: "Minh Cồ đã viết bản văn công bố lập trường hòa hợp hòa giải với phía bên kia. Đúng 10 giờ 24 phút, bản văn "phản bội của bọn đầu hàng" sẽ được loan truyền trên đài phát thanh sg! Không còn gì phải nấn ná! Hãy thực hiện ngay phương án: Bão táp đã tan! Vở kịch mới bắt đầu!"

Phải chăng "kẻ phản bội" mà tên nhị trùng Phạm Xuân Ẩn đã nói với tôi hồi sáng... là Minh Cồ, một viên tướng mà trong hồ sơ phản gián của chúng tôi có ghi rõ những lần hắn móc nối với CS Bắc Việt qua người em ruột Dương Thành Nhật. Nhật là trung tá tình báo của VC. Một điều đau lòng nhất của chúng tôi là biết rõ con sâu trong nồi canh của mình mà không được phép vớt ra, giết chết nó để tránh được mầm độc! Và kẻ đáng phỉ nhổ hơn hết là tên nhà báo Lý Quí Chung, đương kiêm Bộ Trưởng Thông Tin của nội các đầu hàng, đã dám huyênh hoang tuyên bố không ngượng miệng rằng: "Chúng ta không có mặc cảm nào về sự đầu hàng." Sau này, tôi được biết thêm có một Phó Thủ Tướng, vốn xuất thân từ anh học trò chạy bán báo, nhờ núp sau cái váy bà vợ ba của tướng Lâm Thành Nguyên mà nên danh phận, cũng đã nịnh nọt CSBV bằng câu nói vô sĩ rằng: "Những người CS Miền Bắc... xứng đáng lãnh đạo nước VN thống nhất."

Tôi vừa rời khỏi quán cà phê vỉa hè thì nghe đài phát thanh loan truyền bản văn phản bội của Dương Văn Minh. Tôi còn nhớ rất rõ nguyên văn của bản văn nhục nhã này: "Đường lối của chúng tôi là hòa giải. Tôi tin tưởng mạnh mẽ ở sự hòa giải của những người VN để tránh sự đổ máu vô ích. Tôi yêu cầu những binh sĩ của Cộng Hòa VN ngưng những sự thù nghịch và hãy ở yên tại chỗ. Tôi yêu cầu những binh sĩ anh em của Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời Nam VN ngưng các sự thù nghịch. Chúng tôi ở đây chờ gặp Chánh Phủ Cách Mạng Lâm Thời Nam VN để cùng nhau thảo luận lễ chuyển giao quyền hành và tránh cho dân chúng sự đổ máu vô ích."

Đúng là thời gian sụp đổ của chế độ dân chủ tự do mà bao nhiêu chiến hữu của chúng ta hy sinh xương máu trong mấy chục năm nay, chỉ còn tính từng giờ, từng phút mà thôi! Tôi quá đau lòng khi nghe lời tuyên bố hèn hạ của một viên tướng tham sống, sợ chết, không nhớ lời thề của một quân nhân: "Chỉ có chết chớ không đầu hàng!"

Nỗi buồn đau cộng với sự tức giận tràn ngập trong lòng, tôi cảm thấy mình như là con hổ đang lạc giữa đồng bằng, chung quanh mình là bầy sói "thừa cơ trả thù". Tôi đang trong vòng cạm bẫy của kẻ thù. Tôi phải vượt thoát bằng cách nào đây? Không chạy trốn! Phải ở lại để đối diện với kẻ thù theo sứ mạng thiêng liêng của người chiến sĩ vô danh! Cái khó nhất của người chiến sĩ tình báo là làm sao tránh được sự phản bội của những người đã từng biết mặt mình trước đây, vì họ còn sống sờ sờ ở mọi nơi trên bước đường hoạt động của mình! Kẻ phản bội lớn nhất đã lộ diện nhưng còn những kẻ phản bội tiểu nhân? Để cắt bỏ cái đuôi theo mình, tôi không được phép quay về gặp mặt vợ con trong lúc hỗn quan hỗn quân này. Đó làmột nỗi đau dằn xé nhất đối với tôi vào giữa ngày quốc hận 30 tháng Tư 1975 này!



Trong thời điểm ngổn ngang ấy, tôi lại bỗng sinh ý mạo hiểm, nhìn lại Dinh Độc Lập và lá cờ tổ quốc lần cuối trước khi quân CS tràn ngập Sài Gòn. Tôi phóng xe Honda ngược đường Trần Hưng Đạo trở ra hướng chợ Bến Thành, chạy thẳng lên đài phát thanh rồi vòng trở lại xuôi theo đường Hồng Thập Tự để rẽ qua Dinh Độc Lập. Một khung cảnh hỗn loạn diễn ra trước mắt tôi: Tại các công sở, lá cờ tổ quốc đã mất dạng, thay vào đó lànhững tấm vải trắng biểu hiện sự đầu hàng. Các khu nhà của dân Việt thì treo cờ xanh đỏ của VC. Có nhà treo cả cờ Pháp, cờ Trung Cộng để "làm bùa hộ mạng". Thật là khó tưởng tượng! Hết rồi mảnh đất tự do! Trong khi tôi đang chạy về hướng Dinh Độc Lập, thì dân chúng chen nhau hai bên đường Hồng Thập Tự, và nghe tiếng kêu truyền của đám người hỗn loạn "Xe tăng! Xe tăng!" Tôi vội ngừng xe lại bên đường, vàmột chiếc xe tăng của quân CS, mang số 390 đang lăn bánh một cách chậm chạp hướng thẳng về Dinh Độc Lập. Tôi nhớ mãi hình ảnh chiếc xe tăng mang số 390 mà sau này tôi biết, đó là chiếc xe tăng ủi xập cổng Dinh Độc Lập, kết thúc sự đầu hàng của nội các Dương Văn Minh.

Đêm 30 tháng Tư, tôi nghe đài VOA đưa tin: Ngoại Trưởng Mỹ Kissinger đã viết thư gửi cho bà Lioanaes - thư ký của ủy ban giải Nobel Hòa Bình, để từ chối nhận nửa phần thưởng giải Nobel Hòa Bình (còn phân nửa giải là thưởng cho Lê Đức Thọ). Tôi cảm thấy, đây chỉ là trò chơi trí thức đầy mưu mẹo của ngài tiến sĩ Ngoại Trưởng Mỹ đã đi đêm với CS Hànội.

o0o

Giặc thù đã chiếm thành phố Sài Gòn bốn tuần lễ. Tôi vẫn len lỏi trong các ngách của nội thành để quan sát tình hình, đồng thời đi tìm lại "người tình muôn thuở", nhưng nàng đã mất dạng, lưu lạc tận phương trời nào? Trong cơn hỗn loạn của một cuộc chiến vừa kết thúc, nhưng sự hận thù vẫn chồng chất lên trên nỗi hoang mang lo sợ của những người dân lương thiện. Kẻ bại trận đang nuôi hy vọng quá mong manh từ một "phép lạ"! Còn kẻ thắng trận thì huyênh hoang tự xưng mình là "anh hùng của thế kỷ" trong tâm trạng mừng rơn của anh chàng võ sĩ hạng nhẹ lại đánh bại được chú Sam khổng lồ, nhờ bởi cơ hội ngàn năm có một! Nhưng với người chiến sĩ tình báo, tôi luôn luôn tâm niệm một phương ngôn của người xưa "Thất bại làmẹ đẻ của sự thành công!" Bởi vậy, dù đang lâm vào hoàn cảnh nào cùng phải bình tĩnh, kiên tâm tạo dựng cho mình một sức mạnh tinh thần của những kẻ sĩ trong lịch sử đấu tranh cho Tự Do: "Thà chết trong Tự Do chớ không cam sống kiếp nô lệ!"

Suốt bốn tuần lễ qua, bốn tuần lề bàng hoàng đến cay đắng cho cuộc đời của một người có nhà, có gia đình, mà phải sống chui, sống nhủi như loài chuột sợ bóng người. Khánh Hội, Phú Lâm, Thủ Đức, Ngã Tư Bẩy Hiền, Bình Chánh, Nhà Bè, Lái Thiêu, BÀ Điểm... rồi quay về khu "chị em" ở chợ Vườn Xoài trương Minh Giảng, là lộ trình "du ngoạn" của tôi, dưới đủ dạng người bằng sự cải trang đơn sơ, nhưng nếu thoáng qua dù làngười quen cũng khó nhận ra tôi - một gã đi buôn hàng chuyến, một người nông dân quê mùa, một người lao động chạy xe Honda ôm, một anh phu khuân vác ở bến goại Bình Tây... Nhờ đó tôi đã vượt thoát mấy lần vây ráp ráo riết của bọn an ninh CS! Có lần, tôi đang giả dạng người lái Honda ôm ở xa cảng Miền Tây, một tên an ninh CS giả dạng hành khách đang đi lòng vòng trả giá xe về Thủ Đức, đến hỏi tôi. Tôi nhận ra ngay bộ dạng của hắn qua cây súng K.54 nổi cộm trước bụng của hắn, dù hắn đã giấu khá kỹ. Hắn hỏi tôi:

"Tôi trả cho anh 5 ngàn, anh có đi không?"

"Thưa thày, em đang chờ người khách quen. Xin thày cảm phiền gọi xe khác."

Hắc có vẻ bực ra mặt, chửi thề "Đ.M, giải phóng rồi mà còn nâng giá!" Hắn đã tự lột mặt nạ "Hắn là ai?"

Tôi để ý theo dõi, có một tên chỉ điểm đứng đàng xa ra dấu cho hắn. Hắn đến với tên chỉ điểm, và hai tên vừa nói chuyện vừa ngó về phía tôi. Tôi cảm nhận có điều bất lợi cho tôi! May quá, có một cô gái vừa bước tới hỏi tôi:

"Về Thủ Thiêm bao nhiêu tiền anh?"

"Mời cô lên xe, cô cho bao nhiêu thì cho!"

Tôi vọt đi trước sự bất ngờ của tên an ninh. Sau đó tôi bỏ hẳn địa bàn Phú Lâm - xa cảng Miền Tây. Một lần khác, tôi vừa ở trong làng Đại Học Thủ Đức chạy ra thì gặp ngay một toán an ninh lưu động của ban anh ninh thành phố chặn lại, hỏi giấy tờ tùy thân. Tôi móc giấy căn cước trình cho chúng. Một tên an ninh trẻ độ chừng hơn hai mươi tuổi, xem qua căn cước của tôi, hỏi một cách hách dịch:

"Giấy chứng nhận trình diện đâu?"

"Dạ, dân thường cũng phải trình diện sao?"

"Ai cũng phải trình diện hết!"

"Tôi nghe trên đài phát thanh thông cáo chỉ có..."

"Không có lý sự!" Hắn cắt ngang, không cho tôi nói tiếp. Một tên an ninh trẻ khác có vẻ biết chuyện hơn nói:

"Anh nói đúng, dân thường không có trình diện. Nhưng ai có thể chứng minh anh là dân thường?"

"Trong giấy căn cước có ghi rõ ràng nghề nghiệp của tôi là buôn bán."

Hắn cười mỉm:

"Ngày trước giải phóng, chúng tôi cũng dùng căn cước giả như ông vậy!" Hắn nhìn tôi một cách đắc ý.

"Tôi làngười buôn bán, làm sao tôi biết được chuyện của mấy ông làm! Người dân thường thấp cổ bé họng như chúng tôi, trào nào cũng bị bắt nạt! Nếu mấy ông nghi ngờ thì cứ đưa tôi về gặp ông Trưởng Ban Quân Quản."

Bỗng một phụ nữ trạc tuổi bốn mươi vừa đi xe Jeep tới. Cả bọn anh ninh trẻ đều gọi "chị Sáu" một cách kính cẩn.

"Ủa, anh đó hả! Sao anh lại bị giữ ở đây?"

Hai tên anh ninh vừa nạt nộ tôi, vội hỏi:

"Người quen của chị Sáu hả?"

"Người quen, anh... anh ấy là dân buôn bán có gì mà tụi bay phải giữ anh ấy. Trao trả căn cước cho anh ấy đi!" Người nữ cán bộ tên Sáu nghiêm mặt.

Tôi thường tự tin về trí nhớ vốn đã được rèn luyện hơn hai mươi năm trong nghề nghiệp của một chiến sĩ tình báo, vậy mà tôi chưa nhận ra người phụ nữ này! Tôi vừa cất giấy căn cước vào túi, vừa nói:

"Cám ơn cô Sáu, nếu không gặp cô tối nay, tôi phải hiến máu cho bầy muỗi háu đói trong khám Chí Hòa rồi."

"Đâu phải bạ ai cũng bắt giam đâu! Anh thông cảm cho các em, chúng nó chưa đủ kinh nghiệm để nhận ra người thật, kẻ giả!" Người phụ nữ không quen biết nhìn tôi cười đầy ý nghĩa, nói thêm:

"Để giúp anh khỏi bị lôi thôi trong những lần sắp tới, tôi sẽ viết một giấy chứng nhận cho anh."

Nói xong, cô ta bước trở lại xe Jeep lấy cái túi đựng giấy tờ, hí hoáy vài chữ vào tờ giấy trắng, rồi cho vào phong bì, đem lại trao cho tôi.

"Anh nhớ, khi nào gặp rắc rối, anh nói với họ là cứ đến hỏi tôi. Trong thư tôi có ghi rõ địa chỉ và số điện thoại của tôi. Thôi anh đi. Chúc anh buôn bán phát tài."

Tôi vội vã bước đi, không hề quay đầu lại. Vừa đi tôi vừa suy nghĩ, lục lọi các ngăn trí nhớ trong đầu, mong tìm thấy lại hình ảnh của cô Sáu vừa mới giải thoát tôi khỏi sự kiểm soát của bọn an ninh CS... "Nhưng cô ta vẫn là một cán bộ CS mà ?" Thắc mắc đó cứ ám ảnh mãi trong đầu tôi.

o0o

"Chắc rằng anh rất bất ngờ và ngạc nhiên khi tôi nhận anh làngười quen? Hơn nữa, tôi lại bảo lãnh cho anh thoát khỏi cuộc vây ráp, tìm bắt tên gián điệp Z18! Anh hãy nhớ lại người con gái mang tên "Mặt Trời Đỏ", tức khắc anh sẽ hiểu lý do vì sao tôi cứu anh! Chỉ một lần thôi! Từ nay về sau tôi không còn nợ anh nữa! Thủ tiêu ngay vết tích này và rời khỏi cái bẫy đang giăng!"

Vậy là một tờ giấy "trả nợ ân oán" chớ không phải giấy chứng nhận như cô ta đã nói trước mặt mấy tên an ninh CS. Câu chuyện của sáu năm về trước đã hiện rõ trong tâm trí của tôi. Năm đó, nhân dịp nghiên cứu hồ sơ phản gián của Ban Sinh Viên Vụ, tôi phát hiện được một nữ sinh có tên là Hồng Nhật, con của một chủ tiệm may lớn ở đường Tổng Đốc Phương, Chợ Lớn; lại là người yêu của một tên cán bộ thành đoàn VC nằm vùng tại thủ đô Sài Gòn, và đã bị lộ diện sau Tết Mậu Thân 1968, nên hắn đã chuồn nhanh vào mật khu Tua-Xà Ke, thuộc địa phận tỉnh Kong Pong Cham, Kampuchia. Và Hồng Nhật, có nghĩa Mặt Trời Đỏ, vẫn còn liên lạc thường xuyên với người yêu ở bên kia biên giới. Tôi liền vạch kế hoạch sử dụng Hồng Nhật theo chiến thuật "ly gián từ xa" nhằm biến người của VC nhưng lại gián tiếp hoạt động cho cụm tình báo chiến lược của ta đang luồn sâu trong toàn mật khu B2 của Trung Ương Cục Miền Nam (mang bí ngữ R). àÀ cô nữ sinh ngây thơ về công tác phản gián, đã rơi vào cái bẫy của chúng tôi, nghĩa là đã lọt vào cặp mắt theo dõi của tay chân Sáu Hoàng. Sáu Hoàng tức là Cao Đăng Chiếm, Phó Ban An Ninh R. Để đánh tan sự nghi ngờ của bọ an ninh VC đối với Hồng Nhật, chúng tôi cho thực hiện bước hai, nghĩa là cho Hồng Nhật vô ngồi khám của Tổng Nha Cảnh Sát Quốc Gia một thời gian. Cuối cùng, tôi lấy tư cách là thầy giáo của Hồng Nhật, bởi vì cô ta thật sự có học những giờ giảng về lịch sử của tôi ở Đại Học Văn Khoa, bảo lãnh cô ta ra khỏi tù, đưa Hồng Nhật vào ở luôn trong mật khu T4, tức Thành Ủy VC phụ trách vùng Sài Gòn-Gia Định-Chợ Lớn. Cô ta không còn bị Sáu Hoàng nghi ngờ, mà lại được Tư Ánh, tức Trần Bạch Đằng đương kiêm Bí Thư Thành Ủy T4 lúc đó trọng dụng. Và theo dư luận trong hàng ngũ cận vệ của Tư Ánh, thì Hồng Nhật đã trở thành tình nhân của ông Bí Thư Khu Ủy T4. Hồng Nhật đã được Trần Bạch Đằng đặc biệt nâng đỡ. Từ năm 1972, với bí danh là Sáu Hồng, Hồng Nhật đã trở thành một cán bộ trung cấp của ban anh ninh T4. Khi Hồng Nhật về công tác tại ban an ninh T4 thì Tư Ánh đã bị Mai Chí Thọ, Phó Bí Thư Khu Ủy T4, cấu kết với Mười Cúc - tức Nguyền Văn Linh đương chức Phó Bí Thư Trung Ương Cục Miền Nam, hạ bệ Tư Ánh. Tư Ánh bị điều về văn phòng Ban Tuyên Huấn R, ngồi chơi xơi nước, làm thơ và viết tiểu thuyết... Hồng Nhật lại được sự chiếu cố đặc biệt của anh Năm Mai Chí Thọ.

Tôi hoàn toàn bất ngờ, khi gặp lại cô ta trong một hoàn cảnh đảo ngược thế cờ như vậy! Nhưng không thể chạy trốn khỏi Sài Gòn ngay được, vì tôi chưa gặp được người mà tôi muốn gặp. Người ấy rất hệ trọng trong việc giữ liên lạc giữa tôi và các đầu mối trong tương lai. Nếu không có con "Chim Nhạn" ấy, tôi sẽ phải mất nhiều công sức vào việc chọn lựa và đào tạo người mới, mà chưa chắc có năng lực như cô ta! Vì vậy, tôi quyết định ở lại Sài Gòn một thời gian để tìm ra đầu giây mối nhợ của một cuộc tình mà số phận khắc nghiệt đã ràng buộc tôi với nàng.

Vào một chiều, khói lam giăng tràn mái nhà , ngọn cây, bầu trời vùng quê sao quá ảm đạm! Tôi thả lê từng bước trong khu vườn hoang vắng chủ, màngười chủ của khu vườn hoang đó lại làngười bạn cố tri của tôi. Con quỷ chiến tranh đã chết hơn tháng nay rồi, nhưng thành và gia đình vẫn chưa trở về, hay đã trôi giạt về đâu, lưu lạc ở phương trời nào? Thế là điểm tựa cuối cùng của tôi cũng không còn! Tôi cũng mất luôn đầu mối để truy tìm con "Chim Nhạn" của tôi! Em đã cao bay đến tận tầng mây thứ mấy rồi? Hay em cũng tận hưởng gối chăn êm ở nơi nào? Em có biết anh đang tìm em trong cõi chết ở vùng đất mànăm trước đôi ta đã có lần hò hẹn trước họng súng của quân thù hay không?

Đêm ùa đến với mùi gió lạ, mùi cỏ ngật ngày, mùi đất hâm hấp vàmùi xác chết của những ngày tàn cuộc chiến... Và tôi, một người lính không đúng nghĩa đã bị đánh bật ra khỏi tuyến phòng thủ của mình. Đồng đội đâu? Bè bạn đâu? Gia đình đâu? Tại sao chỉ có một mình tôi và kẻ thù đông như bầy kiến hôi! Phải chăng đã quá ư là tồi tệ...? Tôi lang thang và tâm hồn của tôi cũng lang thang theo từng bước chân âm thầm trong đêm tối, gần như tuyệt vọng! Tôi lần theo một vệt sánh giữa khu rừng tối mịt, con đường số mệnh dẫn từ nhà người bạn cố tri đi về con suối nhỏ, cách xa con lộ Long Thành - Bà Rịa hơn một cây số đường chim bay. Tôi dự tính vượt qua con số rủi may, tìm đến một vùng đất khả dĩ có thể lọt lưới giăng của bọn an ninh CS, với một tia hy vọng mong manh.

"Ai? Đứng lại, giơ tay lên!"

Một chùm ánh sáng đền pin từ trong các lùm cây chiếu thẳng vào tôi, và tiếng lạch cạch, lạch cạch... lên đạn của các khẩu súng AK vang lên. Bọn chúng, nhẩy chồm ra, bao vây quanh, chỉa các họng súng vào người tôi. Tôi từ từ... đưa tay lên và đảo mắt quan sát xem "chúng là ai?" Bọn chúng, có tất cả 12 thằng, đúng một tiểu đội. Chúng đều ăn mặc quân phục mầu xanh lá cây, đội nón tai bèo. Trong lúc tôi còn suy nghĩ đường thoát, thì tên chỉ huy, cầm cây súng nhỏ K.54, chỉa vào đầu tôi nạt nộ:

"Mày là ai? Sĩ quan ngụy trốn trình diện hả?"

"Không, không phải! Tôi là dân khai hoang ở vùng này!"

"Dân khai hoang?"

"Dạ, đúng vậy!"

"Đêm tối thế này, mày đi đâu vậy? Đi ăn trộm hả?"

"Tôi đi xuống suối xem có cá mắc câu không."

"Có thật hay không?"

"Thật hay không, các ông theo tôi xuống suối thì biết."

Tên chỉ huy day qua hỏi tên đứng cạnh hắn:

"Này, đồng chí thấy thế nào?"

"Đồng chí đội trưởng, không tin được hắn đâu! Cứ bắt hắn về nhốt lại, ngày mai xét sau."

Chúng bắt tôi đưa về trụ sở an ninh huyện Long Thành, nhốt trong một cái phòng bỏ trống bên cạnh khu nhà bếp, không giường, không màn chiếu. Khi khóa cửa lại, tên đội trưởng đe dọa:

"Nếu mày bỏ trốn, chúng tao bắt lại được, bắn bỏ, không tha!"

Bị tống vào phòng tạm giam ngay tức khắc, không cần lập cung từ, chứng tỏ rằng toán an ninh này chỉ thi hành phận sự đón bắt những kẻ được nghi là sĩ quan trốn trình diện hoặc là những tên trộm cướp trong vùng Long Thành. Điều đó cũng có nghĩa là chúng không phải chuyên đặc biệt theo dõi tôi. Tuy nhiên, tôi vẫn phải suy tính để đối phó với những tình huống bất ngờ có thể xảy ra bất lợi cho tôi. Trong nghề nghiệp tình báo chúng tôi gọi đó là "sự rủi ro tai hại không lường trước được!" Ngồi giữa phòng giam tối mịt, ngửi một thứ mùi hôi khó thở của các loại rác rến mục thúi từ lâu không được quét dọn, tôi cảm thấy buồn nôn, mệt mỏi đến rã rời thân xác. Tôi ngủ gục một cách ngon lành, cho đến khi đàn muỗi bu quanh, chích khắp mặt mày, nhức nhối khó chịu, tôi mới giật mình tỉnh giấc. Cái đồng hồ dạ quang của tôi đã bị tên đội trưởng an ninh lột, nên không còn biết thời giờ chính xác được. Hình như đêm đã khuya lắm rồi. Không gian bên ngoài im vắng, không có tiếng chân đi lại ngoài cửa của tên lính gác, bỗng trong đầu tôi léo lên một tia hy vọng... vượt trốn khỏi chốn tử địa này. Hình như trời cùng ủng hộ tôi. Mây đen giăng tối mịt bầu trời Long Thành. Tôi lần đến các cửa của phòng giam, cửa ra vào và cửa sổ. Tôi sờ mó, đẩy thử, nhưng không có cách nào mở được. Tôi cố gắng bằng mọi cách và đến lúc hình như tuyệt vọng, bỗng nhiên tôi nghe bầy chuột kêu chút chít ở một góc phòng. Tôi đảo mắt quan sát... và thấy có một vầng sáng lờ mờ ở góc bên trái, sát bên chân cửa sổ. Tôi bò đến xem, mới biết đó là một lỗ chuột ăn thông ra bên ngoài. Tôi quyết định dùng mười đầu ngón tay cào xới cho lỗ chuột lớn ra đến khi chui đầu ra được, vì như kinh nghiệm dân gian đã tổng kết là "đầu xuôi đuôi lọt". May thay! Đất xung quanh lỗ chuột vừa mềm vừa xốp, nên tôi chỉ cố gắng khoảng hơn nửa tiếng đồng hồ thì đạt yêu cầu mong muốn. Tôi đút đầu chui qua lỗ và ép mình, gắng hết sức trườn ra ngoài đúng vào lúc cơn mưa rào trút xuống.

Tôi không dám chạy theo đường cái, cũng không dám chạy sâu vào rừng cao su, mà chỉ chạy dọc theo bìa rừng, hướng về phía Biên Hòa. Tôi chạy dưới trời mưa tầm tã, nhưng không hề biết lạnh. Tôi chạy trong bóng tối, và không ngừng vấp ngã mà không hề biết đau đớn. Tôi chạy đi tìm cửa sống trong nỗi lo bị kẻ thù săn đuổi. Tôi chạy đến mệt lã và đến khi người ngất xỉu, ngã xuống bất tỉnh vẫn không hay! Tôi cảm thấy mình như đang ở một thế giới khác, không dính dáng cuộc đời hiện tại cả. Tôi đang đi trong một thành phố kỳ lạ, một thành phố của những ngôi mộ cổ của các đại đế, những ngôi mộ xây bằng đá hoa cương. Chỉ có thành phố ấy và tôi. Không có một bóng người nào khác. Tôi cứ đi... và nhìn xem những hàng chữ trên các mộ bia. Đó chỉ là những hàng chữ tượng hình. Tôi nghĩ "Mình đang sống ở thời đại nào đây?" Khi tôi đi đến một góc đường cái quan, bỗng nhiên nghe một tiếng nổ kinh thiên động địa và bầu trời tự nhiên tối sầm lại. Trong nỗi kinh hoàng bất chợt, tôi nhắm nghiền đôi mắt lại và tin rằng mình sẽ chết tức khắc trong cái thành phố cổ mộ đó. Tôi tỉnh dậy vào lúc mặt trời đã xế chiều. Tôi nhận thấy mình đang nằm dưới đáy của một cái hố cạn, mà xung quanh miệng hố mọc đầy cỏ dại che lấp cả người tôi. Tôi chợt hiểu rằng mình vừa trải qua một cơn ác mộng! Tuy nhiên, theo trực giác của tôi, cơn ác mộng này vẫn làmột cái "điềm không may" trên bước đường tôi đi tìm con Chim nhạn của tôi!

Lê Tùng
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn