BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 35727)
(Xem: 33265)
(Xem: 32447)
(Xem: 24688)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Đối Thoại Năm 2000

25 Tháng Ba 200012:00 SA(Xem: 682)
Đối Thoại Năm 2000
53Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
53

Dân chủ: Vấn đề của dân tộc và thời đại


A- Người ta hay nhầm yếu tố dân chủ với thể chế dân chủ. Trong những xã hội phát triển thấp kém như xã hội nô lệ, xã hội phong kiến, những người lao động bị bóc lột, bị chà đạp, họ bị tước hết quyền làm người, quyền sống. Tuy nhiên, người ta cũng hiểu rằng sống trong xã hội nô lệ thì khổ thật, vì người nô lệ chỉ được coi là công cụ biết nói nhưng vẫn sướng hơn thời nguyên thủy. Chế độ phong kiến thì chuyên quyền độc đoán, tô tức nặng nề, bị đánh đập chém giết tàn bạo nhưng rõ ràng con người vẫn sướng hơn ở chế độ nô lệ.

Sống trong những xã hội có giai cấp, người lao động vẫn tiếp tục đau khổ nhưng rõ ràng mức đau khổ giảm dần. Cho nên trước đây người ta hay ngoái lại quá khứ, mơ ước sống đời Nghiêu Thuấn mà quên mất rằng đó là thời kỳ thị tộc, làm không đủ ăn, đói đến mức có khi phải ăn thịt lẫn nhau. Đúng là những mơ ước hão huyền.

Tức nước thì vỡ bờ. Khi bị áp bức bóc lột quá đáng thì người ta phải chống, nên chủ nô hay chúa đất cũng phải nới tay, trả cho người lao động những quyền tối thiểu. Điều này có lợi cho người lao động, đồng thời cũng lợi cho cả chủ nô và chúa đất. Khi nào được dễ chịu, người ta cảm thấy đã được ít nhiều chủ động trong cuộc sống, thế là coi như đã được hưởng dân chủ.

Trở lại nghĩa gốc của từ dân chủ ở tiếng Hy Lạp "đê-môt" là nhân dân, "kratôt" là sức mạnh, thế lực. Sức mạnh, thế lực của nhân dân.

Nhưng tất cả những quyền đó phải đợi đến sau cách mạng tư sản mới được thể chế hóa thành một chế độ dân chủ hẳn hoi. Chế độ dân chủ tư sản với nhiều điều hạn chế, tuy chưa làm chúng ta hài lòng nhưng vẫn phải xác nhận rằng nó tốt đẹp, tiến một bước rất cơ bản so với chế độ phong kiến độc tài chuyên chế. Nhắc lại sơ qua như thế để thấy rằng không nên khinh thường, bỉ báng dân chủ tư sản và rõ ràng với tư cách của những người hiểu biết không thể bỉ báng những thành tựu của nhân loại. Ngay xã hội tư bản nào mà giai cấp thống trị còn luyến tiếc thiết chế phong kiến cũng không dám tuyên bố mình là nước quân chủ mà phải thêm hai chữ lập hiến. Có thể cứ giữ lại quốc vương hoặc nữ hoàng nhưng quyền lực thì không được ra khỏi hiến pháp đã qui định. Vua hay nữ hoàng cũng không có quyền vi phạm hiến pháp. Cùng là chế độ tư bản cả thôi, nhưng chế độ cộng hòa cao hơn và tốt hơn chế độ quân chủ lập hiến. Ít nhất là nó cũng không phải nuôi nợ cái đám hoàng tộc vô tích sự, lắm chuyện. Xem như thế mới thấy hiến pháp quan trọng như thế nào vì nó là thước đo trình độ tiến bộ của từng xã hội.

Bác Hồ và Đảng ta ý thức được tầm quan trọng của hiến pháp cho nên ngay sau khi giành được chính quyền và Tuyên ngôn độc lập, đã khẩn trương tổ chức Tổng tuyển cử, bầu ra Quốc hội và thông qua Hiến pháp Dân chủ Cộng hòa. Trên thế giới này không biết có nước nào như Việt Nam, như Nam Bộ, đồng bào ta đi bỏ phiếu dưới làn đạn quân thù, có những nơi máu đổ ngay trên hòm phiếu. Lòng khát khao dân chủ tự do của toàn dân ta cao như thế đó và sẵn sàng trả giá đắt như thế đó. Chớ quên rằng 30 năm đổ xương máu, 30 năm mặt đối mặt với kẻ thù của đồng bào Nam bộ, của toàn thể nhân dân Việt Nam chính là để bảo vệ bản Hiến pháp này, bảo vệ những quyền tự do thiêng liêng đã được ghi trên Hiến pháp. Hồ Chí Minh thực sự là vĩ đại, xứng đáng tiêu biểu cho DẤN TỘC và ĐẢNG LAO ĐỘNG vì Người là cha đẻ của Nhà nước Dân chủ đầu tiên ở Việt Nam và ở Đông Nam Á này. Trong lịch sử nước nhà có 4 mốc quan trọng nhất :

Mốc quan trọng thứ nhất : đó là thời điểm Đức Tổ Hùng Vương tạo lập nên nhà nước Văn Lang - nhà nước đầu tiên ở Việt Nam. Chính nhờ có nhà nước Văn Lang với đầy đủ thiết chế kỷ cương, luật pháp mà ta rèn luyện được bản lĩnh Việt, đủ nội lực đề kháng để chống lại mọi cuộc xâm lăng quân sự và văn hóa bất kể từ phương nào tới. Chỉ cần nhớ rằng khi tộc Hán vốn là một dân tộc phát triển sớm và cực kỳ hùng mạnh, vượt Dương Tử Giang tràn xuống phương Nam (dấu tích đường xuống là Hán Khẩu hiện nay) thì Bách Việt rơi vào tình trạng hoảng loạn như thế nào. Có những tộc thì chạy sang các đảo phía Đông, có những tộc chạy xuống tận vùng đa đảo phương Nam (Mã Lai, Nam Dương v.v.) tộc nào không chạy kịp thì bị đồng hóa (Mân Việt, Dương Việt v.v.), chỉ còn Lạc Việt là trụ lại được và trụ vững mấy nghìn năm liền.

Xem qua thế đủ hiểu nghị lực sống và bản lĩnh Lạc Việt ra sao. Không phải ngẫu nhiên mà chúng ta có quyền kiêu hãnh nhìn ra thế giới với tư thế con Hồng, cháu Lạc !

- Mốc quan trọng thứ hai : đó là cái năm 939 Ngô Quyền cắm cọc trên sông Bạch Đằng đánh tan đạo quân Nam Hán do tướng Hoằng Thao chỉ huy đưa nước nhà thoát ách nô lệ ngàn năm Bắc thuộc xây nền móng cho một nhà nước độc lập, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc, tạo ra một tiền đề trong tâm linh người Việt : bất chấp thời gian, bất chấp kẻ thù hùng mạnh, hãy vùng lên thẳng lưng mà làm người (do không nhận thức được tầm quan trọng của mốc lịch sử này nên Ban đổi tên đường ở TPHCM mới đặt Ngô Quyền vào con đường nhỏ, chưa kể lại còn đặt các cụ tổ Lạc Long Quân, Ấu Cơ vào đường nhỏ hơn cả đường Ngô Quyền).

- Mốc quan trọng thứ ba : Chỉ cần nhớ rằng ở thế kỷ XV vương triều Đại Minh là một vương triều chính thống cai trị một lãnh thổ rộng lớn và phát triển rực rỡ về nhiều phương diện. Thế mà bọn Trần Thiêm Bình thất thế còn ngu xuẩn rước lũ voi Minh về giày mả tổ khiến chúng đặt lên đầu lên cổ dân ta một ách thống trị tàn bạo chưa từng thấy : "Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn; Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ" (Bình Ngô đại cáo).

Thử hỏi nếu không có đầy đủ lòng tin vào ý chí quật khởi và tiềm năng văn hiến của dân tộc thì Lê Lợi, Nguyễn Trãi và những anh hùng đương thời có đủ gan phát động cuộc khởi nghĩa rồi cùng với nghĩa quân 10 năm trường nằm gai nếm mật, rồi tiến tới chém tướng Liễu Thăng và bắt sống toàn bộ đại quân của thiên triều phải hàng phục, đến nỗi khi được tha chết vẫn còn chưa hết sợ hãi :

Mã Kỳ, Phương Chính cấp cho 500 chiếc thuyền ra đến bể còn hồn bay phách lạc
Vương Thông, Mã Anh cấp cho vài ngàn cỗ ngựa về đến nước còn tim đập chân run


(Bình Ngô đại cáo)

Do đó nhà chí sĩ anh hùng Phan Bội Châu khi viết Việt Nam vong quốc sử đã đánh giá rất cao công cuộc khôi phục nước nhà của Bình Định Vương Lê Lợi và nghĩa quân Lam Sơn, nhằm khơi dậy ý chí quật khởi và niềm tin vào tiền đồ đất nước của 20 triệu đồng bào đang đắm chìm trong nô lệ, đau khổ.

- Mốc quan trọng thứ tư :

Đó là thời điểm Hồ Chí Minh cùng với 5000 đảng viên cộng sản lãnh đạo toàn dân giành lại nền độc lập cho đất nước sau 80 năm nô lệ và tiến hành hai cuộc kháng chiến thần thánh, đánh thắng hai đế quốc to, khẳng định vị thế vẻ vang của Việt Nam trên trường quốc tế. Về mốc lịch sử quan trọng này, chúng ta và con cháu sau này còn phải nghiên cứu dài dài mới hiểu hết tầm quan trọng của nó đối với dân tộc và thời đại. Ở đây, chúng tôi chỉ xin nêu một điểm khác biệt để tham khảo chung và để thấy bước phát triển quan trọng của 4000 năm dựng nước :

Đức tổ Hùng Vương có công lớn khai sáng nên nhà nước đầu tiên và đó là nhà nước của giai cấp quí tộc.

Còn Đức thánh Hồ Chí Minh khai sáng ra một nhà nước của nhân dân, do nhân dân làm chủ và có một hiến pháp dân chủ sánh ngang được với mọi bản hiến pháp trên thế giới. Nói thật rõ ràng điều này để mọi người cùng nhận thức ra con đường phát triển tất yếu của dân tộc, không ai được phép đảo ngược.

Cứ mở Hiến pháp năm 1946 sẽ rõ :

Chương I chỉ gồm 3 điều, 9 dòng mà đã nêu bật được toàn bộ tinh thần của thời đại Hồ Chí Minh :

Điều thứ 1 : Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa. Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo.

Điều thứ 2 : Đất nước Việt Nam là một khối thống nhất. Trung, Nam, Bắc không thể phân chia.

Điều thứ 3 : Cờ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa nền đỏ, giữa có sao vàng 5 cánh.

Quốc ca là bài Tiến quân ca.

Thủ đô đặt ở Hà Nội.

Những dòng chữ thiêng liêng như thế mà người ta dám vi phạm thì to gan thật.

Chúng tôi không muốn nói chuyện thay đổi quốc ca nữa. Đấy chỉ là một trò hão huyền không đáng nói đến, chỉ cần khẳng định rằng : bài TIẾN QUẤN CA thiêng liêng này không thể thay đổi, không được quyền thay đổi và vĩnh viễn không cần thay đổi.

Về quốc hiệu, chúng ta đã chót thay, cũng vẫn nên bàn bạc lại một cách nghiêm chỉnh. Nếu cơ sở kinh tế xã hội đã phát triển mà không thay cho phù hợp thì hoàn toàn không đúng. Ngay hiến pháp và các nghị quyết của Đảng gần đây nhất vẫn ghi nhận rằng Việt Nam đang quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Còn về cơ sở kinh tế, chúng ta đang cố gắng trở lại với Lênin, nghĩa là làm NEP, làm chủ nghĩa tư bản nhà nước. Và tất nhiên chúng ta phải chấp nhận sự bóc lột có giới hạn, chấp nhận khoảng cách giàu nghèo với quyền điều tiết một cách hợp lý của chúng ta. Chưa đáng thay mà lại thay, theo ý một vài đồng chí nào đó. Đúng là một chuyên vô duyên. Riêng chúng tôi, chúng tôi vẫn tin rằng Đảng ta vẫn phát huy được truyền thống dũng cảm : có sai thì sửa.

Một vấn đề nghiêm trọng khác đòi hỏi tất cả phải thảo luận một cách nghiêm túc là : "Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam". Dòng chữ đơn giản này đã thể hiện cái cốt lõi của tinh thần dân chủ. Và chính do Bác Hồ và Đảng ta đã thực thi mấy chục năm qua nên mới có thành tựu vĩ đại như ngày nay. Có những điều gần đây người ta hay nhấn mạnh là nghĩa vụ. Trước kia, đó là quyền cả đấy thôi. Làm gì có cái gọi là "nghĩa vụ quân sự". Chỉ có cái quyền là "quyền đi bộ đội Cụ Hồ". Đến nỗi không đủ cân thì giắt đá, giắt gạch vào người cho đủ cân để thực hiện cái quyền này. Người ta có quyền đóng thuế nông nghiệp, có quyền đi dân công Điện Biên Phủ. Trong vùng tạm chiếm miền Bắc và nhất là ở miền Nam thời chống Mỹ, người ta có quyền nuôi và cất giấu cán bộ, người ta có quyền đi B để sát cánh cùng đồng bào miền Nam chiến đấu, có quyền chịu tra tấn đánh đập và quyền chết để bảo vệ cán bộ Mặt trận giải phóng. Ai dám cưỡng bách người ta làm những chuyện đó ? Ai dám ngăn cản không cho người ta thực hiện những quyền đó. Sau hàng trăm năm nô lệ, người ta mới được hưởng cái quyền vùng dậy, quyền chết cho độc lập tự do, chết cho Dân Tộc và Tổ Quốc trường tồn. Lần giở lịch sử lại một chút, nhớ lại thời Cụ Hồ và chính phủ lâm thời. Cụ Hồ vừa mới từ Tân Trào về Hà Nội, cũng chưa kịp đi thăm đồng bào Trung Bộ hay Nam Bộ, nghĩa là cũng chưa có đủ thì giờ để giáo dục thuyết phục hoặc dân vận gì cả. Nhưng thử hỏi ai dám ngăn cản cái quyền ông bà Trịnh Văn Bô mang 1547 lượng vàng ra ủng hộ chính phủ Cụ Hồ, ông bà Huỳnh Thiện Lộc ở Nam Bộ cũng hiến hàng ngàn mẫu ruộng cho cách mạng và mang hàng ngàn lượng vàng để ủng hộ chính phủ Cụ Hồ. Cụ Hồ và Chính phủ lâm thời chỉ với hai bàn tay trắng thế mà chỉ trong có 1 tuần lễ vàng mà đã có khả năng tống khứ 15 vạn quân Tưởng về và đủ tiền mua vũ khí trang bị cho những đơn vị vệ quốc đoàn đầu tiên. Chưa kể hàng triệu thị dân tiểu tư sản tự đốt phá nhà mình để đi theo kháng chiến. Những người như Trịnh Văn Bô, Nguyễn Thiện Lộc, Nguyễn Thị Năm ....... và những nhà tư sản dân tộc, những địa chủ kháng chiến, họ có tiếc công tiếc của gì đâu. Đúng như Cụ Hồ đã nói : "Thấy người ta nói đấu tranh giai cấp thì mình cũng đấu tranh giai cấp". Thử hỏi trên đất Việt mình có giai cấp nào không mong cho Tổ quốc được độc lập tự do. Có người dân Việt nào dù ở Paris hay Luân Đôn, dù ở Úc Đại Lợi hay Canađa, California lại không nhớ đến Đức tổ Hùng Vương, lại không muốn thực hiện quyền đóng góp của mình để cho Việt Nam được rạng mặt rạng mày với thế giới (tất nhiên thời nào cũng phải trừ ra cái lũ phản bội Tổ quốc bán hồn cho quỉ).

Công bằng mà đánh giá, Bác Hồ của chúng ta là người ý thức đầy đủ nhất, rõ nhất, cao nhất về quyền lợi của nhân dân. Đừng nói đến những lý tưởng xa vời vợi, Người bỏ cả cuộc đời của mình ra đấu tranh trước hết vì quyền dân chủ của nhân dân (chúng tôi nói của nhân dân vì hiện nay có nhiều người lãnh đạo nghĩ rằng họ làm chủ chứ không phải dân làm chủ, nhưng họ lại luôn miệng nói đến dân chủ. Trong từ dân chủ của họ không có nội hàm nhân dân. Bảo họ giả dối là đúng, bảo họ tuy đi theo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh nhưng ý thức hệ thì phi dân chủ cũng chẳng sai).

Không phải ngẫu nhiên khi Hồ Chí Minh chỉ đạo làm Hiến pháp năm 1946, Người đã đặt ngay nghĩa vụ và quyền lợi công dân ở chương thứ hai. Nghĩa vụ chỉ ghi sơ sài có 2 điều (điều 4 và 5) quyền lợi thì ghi tới 11 điều (từ điều 6 đến điều thứ 16) và có mấy quyền quan trọng nhất thì được ghi ngay ở điều thứ 10 (trong tổng số 70 điều).

Điều thứ 10 : Công dân Việt Nam có quyền :

- Tự do ngôn luận

- Tự do xuất bản

- Tự do tổ chức và hội họp

- Tự do tín ngưỡng

- Tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài.

Sở dĩ chúng tôi nhắc lại nguyên văn điều 10 này là vì trong đó có một điều cốt tử mà thiếu nó thì không đảm bảo được bất cứ quyền dân chủ nào : quyền tự do ngôn luận.

Nhân dân thấy bọn tham nhũng hằng ngày hằng giờ ăn cắp, ăn trộm, ăn cướp công khai hoặc bí mật, hô hoán lên liền bị bịt miệng lại (các ông các bà dám buộc tội, dám tố cáo giám đốc, tổng giám đốc, thống đốc, chủ tịch ủy ban, bí thư đảng ủy ....... không sợ bị địch lợi dụng hay sao ? Không biết làm như thế là chống lại sự lãnh đạo của Đảng à ?). Thế là kẻ cướp lại nhởn nhơ, người lương thiện thì phải vào tù hoặc phải trốn biệt xứ, phóng viên báo đài nào can đảm phanh phui sự việc liền bị mất việc hoặc bị trù dập khốn khổ không ngóc đầu lên được. Ngay từ đầu bọn tham nhũng còn ít, mới ló đầu ra, nhân dân bảo bắt đi thì không bắt, bất đắc dĩ phải bắt, bảo xử đi thì lại không xử hoặc xử thật nhẹ, bảo bỏ tù đi thì cho án treo hoặc thả cho chúng chạy trốn. Còn nếu có buộc phải giam giữ thì lại cho sống như ông hoàng, thậm chí còn được gắn huân chương (xin miễn nói tên cụ thể để đỡ xấu mặt người ngớ ngẩn). Dư luận vẫn nhức nhối về các vụ Trần Xuân Hoa, Nguyễn Văn Quang .... và gần đây nhất là vụ đám con cái Trần Đàm (Tân Trường Sanh) bỏ trốn ra nước ngoài.

Chưa có ai chịu trách nhiệm, chưa chịu sát cánh với Interpol để bắt bằng được và dẫn độ chúng về. Trong xã, trong phường, trong cơ quan, trong xí nghiệp quốc doanh, trong công ty quốc doanh, "ai ăn, ai không ăn", người ta đâu có nhầm, sao người ta lại không biết. Vạch mặt ra đến đâu bắt ngay đến đấy, chặn ngay đến đấy thì làm gì tham nhũng có thể sinh sôi nảy nở đến nỗi thành phổ biến, thành quốc nạn. Rồi lại đổ quanh đổ quẩn tại cơ chế, tại kinh tế thị trường, tại thiếu tu dưỡng đạo đức, tại "buông lỏng" lãnh đạo .... Không phải thế đâu. Tại cái gốc của nó là thiếu tự do ngôn luận, tự do báo chí. Đến quyền to và mặt dày mày dạn như các tổng thống Mỹ Giônxơn, Níchxơn mà còn phải sợ dư luận trong nước và quốc tế. Bọn tham nhũng, bọn ô dù ở ta ba đầu sáu tay thế nào mà dám nhởn nhơ trước công luận ?

Điều nguy nhất đối với chế độ dân chủ của chúng ta là những người được tin cậy giao cho làm hiến pháp, làm luật thì lại tìm cách bóp nhỏ dần dần các quyền dân chủ tự do rồi rút dần các nội hàm và thêm vào những từ vô nghĩa đến nỗi nhiều quyền tự do chân chính chỉ còn là những xác không hồn. Nói có sách, mách có chứng :

Cũng là quyền tự do ngôn luận, ở Hiến pháp năm 1959 chạy tụt xuống điều thứ 25 "Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có các quyền tự do ngôn luận, báo chí hội họp, lập hội và biểu tình. Nhà nước bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để công dân được hưởng các quyền đó". Đến Hiến pháp năm 1980 thì chạy tụt xuống điều thứ 67 kèm theo một ràng buộc mới :

"Công dân có các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do hội họp, tự do lập hội, tự do biểu tình phù hợp với lợi ích của CNXH và của nhân dân.

Nhà nước tạo điều kiện vật chất cần thiết để công dân sử dụng các quyền đó.

Không ai được lợi dụng các quyền tự do dân chủ để xâm phạm lợi ích của nhà nước và của nhân dân".

Đến Hiến pháp năm 1992 cũng vẫn quyền tự do ấy lại tụt xuống đến điều 69 với một ràng buộc chặt chẽ nhưng không kém phần vô nghĩa :

"Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo qui định của pháp luật".

Chúng tôi nói vô nghĩa là vì nó thừa. Chịu khó đếm cụm từ "theo qui định của pháp luật" hoặc "theo luật định" lặp đi lặp lại khoảng dưới 100 lần, đủ thấy tâm thế và tâm lý của người làm luật như thế nào. Hiến pháp là luật mẹ, tất nhiên là đẻ ra một loạt luật con và tất nhiên từ công dân cho đến chủ tịch nước, từ đảng viên thường cho đến tổng bí thư, có ai đủ lương tri mà lại không tuân theo pháp luật mà phải ghi vào Hiến pháp những từ thừa thãi như thế.

Không nghi ngờ gì nữa, ngay bản thân những người ghi vào luật là "phù hợp với lợi ích của CNXH" thì bản thân họ cũng chẳng hiểu thế nào là chủ nghĩa xã hội, thế nào là lợi ích của CNXH và chính những người tương tự như họ ở Liên Xô và Đông Ấu trước đây đã gây tai họa cho xã hội và chế độ.

Bản Hiến pháp tuy chỉ mỏng vài ba chục trang nhưng lại là thành tựu vĩ đại của một quá trình đấu tranh đầy gian khổ và vẻ vang của toàn dân, lẽ nào có thể soạn thảo tùy tiện. Đọc kỹ 3 bản Hiến pháp sửa đổi (1959-1980-1992), chúng tôi mới thấy càng sửa đổi người ta càng đi quá xa nội dung súc tích và đúng đắn của bản Hiến pháp đầu tiên (1946).

Trong bản Hiến pháp sửa đổi năm 1959 (lúc đó Bác Hồ còn), điều 4 được ghi là :

a. Tất cả quyền lực trong nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đều thuộc về nhân dân. Nhân dân sử dụng quyền lực của mình thông qua Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp do nhân dân bầu ra và chịu trách nhiệm trước nhân dân, Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và cơ quan nhà nước khác đều thực hành nguyên tắc tập trung dân chủ".

Thế là tuy có chút hơi xa những vẫn tiếp cận nội dung Điều 1 của bản Hiến pháp 1946.

Đến bản Hiến pháp năm 1980 (11 năm sau khi Bác Hồ mất) thì vẫn Điều 4 lại được ghi là :

"Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong và bộ tham mưu chiến lược của giai cấp công nhân Việt Nam được vũ trang bằng học thuyết Mác-Lênin là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo xã hội; là nhân tố chủ yếu quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam.

Đảng tồn tại và phấn đấu vì lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam.

Các tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp".

Vẫn điều 4 ấy ở bản Hiến pháp sửa đổi năm 1992 lại được ghi là :

"Đảng cộng sản Việt Nam, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo nhà nước và xã hội.

Mọi tổ chức của Đảng hoạt động trong khuôn khổ và pháp luật".

Ở điểm này, ta khác hẳn giai cấp tư sản phương Tây. Cũng là cầm quyền lãnh đạo nhưng giai cấp tư sản lại chơi trò giấu mặt, bày ra đảng này đảng khác để tranh luận rất gay gắt, thậm chí còn túm ngực nhau đấm nhau, ném giày vào mặt nhau, làm bộ ta đây "tự do dân chủ". Tiếng rằng đủ các thứ đảng nào là : cộng hòa, dân chủ, tự do, xã hội, Thiên chúa giáo, đảng xanh, đảng vàng, đảng một dân tộc v.v. kỳ thực vẫn là đại diện cho các ông chủ đấy thôi. Thử hỏi có đảng nào dám bỏ phiếu khác ý của ông chủ của các Tờrơt, Xanhđica, công ty xuyên quốc gia .... nghĩa là đào này kép khác vào ra chiêng trống cũng vẫn là "đào kép mới" mà thôi. Tóm lại là vẫn giai cấp tư sản độc quyền lãnh đạo xã hội.

Còn ta thì cứ nói trắng ra là Đảng của giai cấp công nhân giữ độc quyền lãnh đạo xã hội, không cần giấu giếm úp mở. Đây là vấn đề thuộc về qui luật đáp ứng nhu cầu của lịch sử, chứ không phải vấn đề muốn hay không muốn, ưng hay không ưng.

Chỉ có điều đã ghi vào Hiến pháp thì phải thận trọng. Tại sao lúc thì không ghi (hiến pháp 1946, hiến pháp 1959), lúc thì lại ghi là "lực lượng lãnh đạo duy nhất" (1980), đến hiến pháp sửa đổi năm 1992 thì lại bỏ đi 2 chữ "duy nhất". Thế nghĩa là thế nào ?

Thực tế thì bảy chục năm qua ai dám tranh quyền lãnh đạo của Đảng cộng sản ? Toàn là độc quyền, toàn là duy nhất cả thôi. Ghi không cẩn thận, người ta thấy Dân tự nhiên mất hết quyền.

Sẽ có ý kiến cãi là Hiến pháp chẳng ghi "quyền làm chủ tập thể" đấy thôi.

Thưa rằng, chẳng ai hiểu hình thù "quyền làm chủ tập thể" như thế nào.

Thực tế cuộc sống cũng đã xác định rằng không làm gì có cái quyền mơ hồ vớ vẩn như thế. Do đó, Hiến pháp năm 1980 ghi và Hiến pháp năm 1992 bỏ đi là đúng.

Chữ nghĩa ghi trong Hiến pháp không cân nhắc cẩn thận khiến cho người ta hiểu tiền hậu bất nhất. "Tổ chức Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp" tức là Đảng là một bộ phận bình đẳng với các tổ chức khác, lúc thì làm cho người ta hiểu Đảng là một bộ phận siêu quyền lực, trên cả Hiến pháp (lực lượng lãnh đạo duy nhất lãnh đạo nhà nước, lãnh đạo xã hội). Điều này gây một sự ngô nhận rất lớn đối với các đảng viên kém lý luận, hiểu lơ mơ về quyền lực của Đảng và quyền lực của Quốc hội. Những đảng viên tiêu cực, thoái hóa biến chất sở dĩ có thể múa may quay nồm, tác oai tác quái trong một thời gian dài chính là do sự sơ hở này.

Nếu chúng tôi không nhớ nhầm, đồng chí Phạm Văn Đồng từng lo lắng: hiện nay ngưòi ta có thể ngưỡng mộ Việt Nam như đứng trước một bức tượng danh nhân, nhưng ngày mai người ta có thể đi qua Việt Nam không thèm để ý như đi qua một túp lều nát. Chúng ta ý thức được và chúng ta cũng có đủ cơ sở để tự hào và tin tưởng : với tiềm lực và nội lực sẵn có, Việt Nam không cam tâm chịu thua kém bất cứ nước nào trong khu vực và cũng không chịu hổ thẹn khi "sánh vai với các cường quốc năm châu" (|Hồ Chí Minh).

Nhìn về lịch sử nước nhà từ những triều đại tồn tại được hàng trăm năm (Lý 247 năm, Trần 175 năm, Lê 300 năm, Nguyễn (cả nhà chúa lẫn nhà vua là 363 năm) đến những triều đại chỉ tồn tại dăm bảy năm như nhà Hồ 4 năm, Tây Sơn 7 năm v.v. chúng ta đều đã rút ra những bài học lịch sử : vì sao hưng thịnh, vì sao suy vong. Đến năm 2000, chế độ Dân chủ của ta đứng vững được 55 năm. Chúng ta định đứng vững trong bao lâu nữa mà lại không bàn một cách nghiêm chỉnh. Trong khi nhìn ra thế giới, một nhà nước vĩ đại và ưu việt như nhà nước Xô Viết mà tồn tại được có 70 năm. Đau xót biết chừng nào !

Hẳn mọi người sẽ hỏi : vậy thì phải giải quyết như thế nào ?

- TẦT CẢ PHẢI LÀ THỰC CHẦT.

Vừa qua, nếu chúng ta đánh giặc GIẢ, chúng ta có thắng được không ?

Thế thì, chúng ta làm kinh tế GIẢ, dân chủ GIẢ, đánh tham nhũng một cách giả dối vờ vịt mà chúng ta lại hy vọng giải quyết được quốc nạn. Thật là những hy vọng hão huyền !

Năm 1945, 90% nhân dân thất học và mù chữ lại đang đói dài ra, thế là nghèo nàn chứ gì ? Thế là dân trí thấp chứ gì ? Thấp mà người ta lại phân biệt nổi Việt Minh với Việt Quốc, Bất Cách, người ta lại phân biệt được Hồ Chí Minh với Nguyễn Hải Thần, Vũ Hồng Khanh .... Ai yêu nước, ai không yêu nước ? Ai yêu nước nhiều, ai yêu nước ít ? Ai tốt ai xấu ? Ai đúng ai sai ? Ai vì quyền lợi của dân tộc, ai vì quyền lợi của bản thân và phe phái mình ? Dân ta biết cả và không nhầm đâu !

Ngay từ năm 1946, Hồ Chí Minh và những đồng chí của Người, và cả với những ai mà Người đã tinh tường lựa chọn đều lọt vào cặp "mắt xanh" của Nhân Dân. Vì thế mà Nhân Dân đã dồn phiếu cho họ, chọn lựa họ là Đội Tiên Phong của mình : "Nó lú nhưng chú nó khôn" bất cứ đối với cộng đồng nào chớ có chỉ nhìn vào bộ phận trung bình hoặc bộ phận lạc hậu, phải nhìn vào bộ phận tiên tiến của nó. Chính Bác Hồ của chúng ta với con mắt thấu suốt lịch sử và nhìn rộng thấy bốn cõi lại dự báo được tương lai. Người yêu Nhân Dân và tin Nhân Dân, Người lôi bằng được bộ phận tiên tiến của Nhân Dân đi trước để cho tất cả tiếp bước theo sau. Người lôi được cả những phần tử tuyệt đẹp đang sống ở phương trời Tây, trong đó có Phạm Ngọc Lễ mà sau này Người đổi tên cho là thành Trần Đại Nghĩa. Cái ông kỹ sư này đi du học không để mưu vinh thân phì gia mà mày mò bằng được học cách chế chất nổ (cái mà bọn thực dân Pháp dứt khoát không dạy cho du học sinh thuộc địa) để cho Nhân Dân dùng vào việc đại nghĩa sau này. Chúng tôi gọi người trí thức Nam Bộ này cũng như bao nhiêu trí thức chân chính khác ở mọi miền là tuyệt đẹp chính vì bất kỳ sống ở đâu, trong hoàn cảnh nào cũng đêm ngày khóc ra máu, lo lắng cho vận mệnh của dân tộc và đất nước.

Cụ Hồ lôi cuốn trí thức là lôi cuốn THẬT, thế nhưng có những người tự nhận là học trò trung thành của Cụ lại lôi cuốn GIẢ. Cho nên khi Đại hội VII ghi được vào Nghị quyết của mình : thành lập một liên minh mới gồm công nhân, nông dân và trí thức, thì đúng là một bước tiến lớn về nhận thức của Đảng ta. Tiếc rằng có nhiều đảng viên không thấm nhuần và không chịu thực thi điểm trọng yếu mang tầm chiến lược của Đảng ta trong giai đoạn cách mạng mới. Miệng cứ nói là phải TẬP TRUNG DẤN CHỦ nhưng Trung ương bảo điều đúng có chịu nghe đâu. Nhiều nơi lại lấy vải thưa che mắt Trung ương bằng cách chọn dùng loại trí thức gọi dạ bảo vâng, hoặc dán vào trán họ vài học hàm học vị, rồi báo cáo với Trung ương rằng địa phương chúng tôi đang tích cực sử dụng trí thức theo đúng nghị quyết của Đảng. Dùng trí thức mà thiếu "tuệ nhãn" Hồ Chí Minh, thiếu tinh thần bao dung Hồ Chí Minh, dùng một cách tạp nham thì đúng là lợi bất cập hại. Ngay cách đây vài ngàn năm, người cầm quyền sáng suốt đã biết nói rằng : Ta thông minh là nhờ có dân thông minh (Dư thông minh tại ngã dân thông minh).

Vậy, ai hay nhận định dân trí ta hiện nay thấp kém tưởng cũng nên nghĩ lại. Bố mẹ thì học có chừng nhưng con người ta, cháu người ta học cấp ba với đại học, thậm chí trên đại học mà cứ bảo họ thấp là thấp cái gì. Cả một vùng đồng bằng sông Cửu Long 18 tỉnh trước kia muốn học trung học phải lên tận Sài Gòn thế mà vừa qua có ai ngờ riêng tỉnh Long An nhỏ bé đã có tới 15 trường Trung học phổ thông. Trước kia cả tỉnh mới có một vài trường tiểu học cơ bản, bây giờ có xã nào còn chưa có trường tiểu học. Lại phải điều tra thống kê cho chính xác và đừng quên phương pháp so sánh trước khi nhận định. Cũng phải thống nhất với nhau thế nào là dân trí. Theo chúng tôi hiểu, muốn biết trình độ dân trí thì phải nhìn vào tổng thể về trình độ học vấn của nhân dân nhưng trước hết vẫn là phải thấy trình độ hiểu biết của nhân dân và bộ phận hiểu biết trong nhân dân, tức là tầng lớp trí thức của nhân dân. Đấu về mặt văn hóa với quốc tế thì chúng ta phải đưa Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Chí Minh ra. Đấu về mặt trí tuệ quân sự, ta phải đưa Trần Hưng Đạo, Quang Trung, Võ Nguyên Giáp ra. Đưa người làng nhàng ra thế nào được. Và bất cứ lĩnh vực nào, thời nào cũng thế thôi, thiên hạ đâu có căn cứ vào lớp làng nhàng mà đánh giá một cộng đồng được.

Nói Dân làm Chủ thì cụ thể làm chủ như thế nào (tất nhiên cái chuyện làm chủ tập thể thì coi như đã vào kho lưu trữ rồi). Chắc nhiều người sẽ nói : ta có đủ cả Quốc hội và các Hội đồng nhân dân. Đúng, nếu chúng ta tổ chức một Quốc hội thật sự có quyền lực thì dân ta thực sự làm chủ đất nước và làm chủ được vận mệnh của mình. Như trong bài "Chỉnh đốn để tồn tại và phát triển", chúng tôi đã nói : Vào giai đoạn cách mạng mới mà bầu cử quốc hội theo kiểu cũ là không ổn, gây cản trở cho sự phát triển đất nước, làm suy yếu Chế Độ tốt đẹp của chúng ta.

Chúng ta sống trong một xã hội ưu việt nhưng lại cảm thấy như là rất nhiều thứ chúng ta tạo ra đều trở thành vô hình hoặc nói đúng hơn là nó thoắt hiện, thoắt biến, nghĩa là nó "tàng hình" theo nhu cầu và quyền lực của bản thân nó chứ không hề xuất phát từ quyền lợi của nhân dân hay đất nước. Còn nói là vì nhân dân vì đất nước thì chỉ là nói phiệu đấy thôi. Họ chỉ vì quyền lợi của bản thân họ và gia đình họ. Chúng tôi nói như thế là dựa trên cơ sở thực tế chứ không hề nói oan cho họ.

Bọn ăn cắp, bọn tham nhũng, bọn lừa đảo, bọn buôn gian bán lận ...., tất cả thông đồng với nhau chiếm đoạt tài sản XHCN. Một tỷ, tức là 1.000 triệu đồng thì phải có người đứng ra chặn ngay chứ. Hoặc không ngăn chặn ngay được thì phải hô hoán lên cho mọi người biết chứ. Thế mà các cấp ủy viên, các ủy viên chấp hành công đoàn, các ủy viên chấp hành đoàn thanh niên đều cứ im như thóc. Do đó, mới có chuyện hôm nay ăn cắp dăm ba quả trứng rồi ngày kia là ăn trộm cả con bò. Các vị đại biểu Hội đồng nhân dân và các đại biểu Quốc hội cũng im lặng một cách đáng sợ. Đáng sợ hơn nữa là sự im lặng của các nhà trí thức (trong đó có cả những người vừa lĩnh xong giải thưởng Hồ Chí Minh), các nhà văn nghệ sĩ, các nhà khoa học cấp quốc gia và quốc tế (chúng tôi không kể đến những kẻ được gọi là trí thức hoặc những kẻ vừa được dán nhãn những học hàm học vị "lên đời"). Chẳng lẽ tất cả đều đang lo "tu thân", "tề gia" và lo "độc thiện kỳ thân" hoặc mải lo giữ gìn "chữ tâm" của mình đến nỗi không còn nghe hoặc thấy gì nữa, lại khuyên bảo nhau "thận ngôn" và "kiệm ngôn", "nói thì ăn cái giải gì ? nói làm gì cho phí lời ?".

Ầy thế mà khi có những người còn nghĩ đến trách nhiệm của mình trước vận mệnh của Dân Tộc, của Đất Nước, của Chế Độ thì họ lại lập tức lên tiếng mỉa mai, chê cười, xúm nhau vào đánh đến bại hoại gân cốt thậm chí còn hỏi chính quyền sao hữu thế, không bắt cổ chúng đi (chính tai chúng tôi đã nghe thấy họ hỏi nhau rằng : thế nào, bọn tác giả viết "chỉnh đốn để tồn tại và phát triển" đã bị bắt chưa ?). Có mấy nhà văn viết được vài ba tác phẩm kha khá phản ánh được hiện thực xã hội thì lập tức mấy vị chuyên gia điểm sách và mấy tay "phê bình" nửa mùa xúm vào phang tới tấp (chuyện này chúng tôi sẽ viết kỹ hơn ở mục văn học nghệ thuật hiện nay).

Chúng tôi thực sự tự hào và khâm phục những người dũng cảm và khí phách tuyệt vời như ông Nguyễn Tăng Thắng và những chiến hữu của ông. Dư luận nhân dân bàn tán : thế mới đáng mặt đảng viên cộng sản chứ. Có những người lại nói : thôi cứ gọi là cộng sản cho gọn, nói rườm rà làm gì, "đảng viên nhan nhản, cộng sản khó tìm".

Như thế là cuộc đời vẫn đáng yêu và đáng hy vọng lắm chứ ! Cụ Nguyễn Trãi nói có sai đâu :

" Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau
Nhưng hào kiệt thời nào chẳng có".


(Bình Ngô đại cáo)

Có bao giờ mà đất nước này thiếu đi những anh hùng hào kiệt và những con người bình thường mà vĩ đại. Vấn đề là có chịu bỏ công ra mà tìm, mở mắt ra mà nhìn để thấy được những gì là tinh hoa là tốt đẹp trong đời. Tốt đến như thế, đẹp đến như thế, khí phách hào hùng đến như thế mà vẫn có những kẻ nhắm tịt mắt lại, dài mồm bĩu môi chê trách :

"Mấy cái ông Thắng, ông Chiến không yên phận mà lo cho vợ cho con, còn khỏe kiện cáo, khiếu tố, lên đồn xuống phủ. Đến đại biểu hội đồng nhân dân, đại biểu quốc hội người ta còn chẳng có ý kiến, chỉ là một đảng viên thường, bày trò chỉ thêm rách việc, vừa gây mất đoàn kết nội bộ, vừa làm mất mặt tỉnh ủy và ủy ban Bình Thuận, lại mất mặt cả Tổng cục Lâm nghiệp".

Thế hóa ra theo những kẻ này là cứ giữ đoàn kết và ổn định còn mặc cho bọn lâm tặc hoành hành mới giữ đúng tư cách công dân và đảng viên chăng ?

Đến tận bây giờ nhân dân thắc mắc chưa thấy Ban thi đua Trung ương đề xuất với Quốc hội và Chính phủ phong anh hùng cho ông Nguyễn Tăng Thắng và truy tặng danh hiệu liệt sĩ cho ông Nguyễn Văn Chiến cũng là do mồm mép của bọn tệ hại này.

Chúng tôi cũng thông cảm với đoàn đại biểu quốc hội Bình Thuận. Cũng không thiếu đại biểu tâm huyết có tấm lòng với Dân với Nước muốn thực sự xứng đáng với trọng trách của mình. Nhưng tại sao trong các kỳ họp quốc hội không thể nói lên được những bức xúc và nguyện vọng của nhân dân, cam phận ú ớ như bao nhiêu người khác.

Xét cho cùng lỗi chủ yếu không phải do họ. Nó do cái cơ chế của chúng ta. Muốn sửa tình trạng này phải sửa cơ chế bầu cử và làm việc của Quốc hội.

Hiện nay, mỗi đại biểu Quốc hội thường là phải kiêm nhiệm một vài chức vụ ở địa phương mình; nghĩa là hầu hết họ ở trong bộ máy hành pháp. Họ thật là vất vả khi lại được giao thêm công việc ở cơ quan lập pháp. Cho dù họ có là những người đủ trình độ tri thức và tinh thần trách nhiệm, họ cũng không bao giờ đủ thì giờ và điều kiện để học tập nghiên cứu thấu đáo về luật pháp. Thế mà họ phải giơ tay biểu quyết từng điều luật một của tất cả mọi thứ luật : hình sự, dân sự, giáo dục, báo chí, đầu tư trong nước, đầu tư nước ngoài, thuế khóa, đất đai ... Một luật còn khó rành 6 câu huống hồ đủ các thứ luật. Rõ ràng họ bị quá tải. Còn những người rành luật thực sự liệu có phát ngôn được không ? Người ta có dự kiến cho họ phát biểu không ? Và nếu họ được phát biểu thì ý kiến của họ có được đa số không rành luật chấp nhận không ? Còn nguyện vọng của dân ư ? Đảng đoàn đã cho ông hay bà phát biểu chưa ? Liệu các vị định "kích động" nhân dân để gây khó khăn cho địa phương và Trung ương hay sao ?

Hiện nay, ta có một lối ngụy biện rất lạ khiến cho những kẻ cơ hội núp vào đó mà hoành hành ngang ngược. Khi điều gì có lợi cho bản thân họ hay đơn vị cơ quan, hay địa phương của họ, bất chấp lợi ích chung, họ thi hành bằng được với chiêu bài "phải có quan điểm quần chúng", cho dù việc đó có trái với lệnh của Trung ương hoặc vi phạm pháp luật (Rừng Tánh Linh - Bình Thuận cũng như bao nhiêu rừng ở những nơi khác bị chặt trụi liên tục hàng chục năm trời chính là do "quan điểm quần chúng" kiểu này).

Ngược lại, khi việc gì có lợi ích chung mà không có lợi riêng cho họ, họ gạt phắt với chiêu bài "không thể theo đuôi quần chúng" và họ đả kích những người làm đúng với nguyện vọng của dân và lợi ích chung của đất nước là "bọn mị dân", bọn lôi kéo quần chúng chống Đảng (chống Đảng ở đây có nghĩa là chống lại nghị quyết sai của đảng ủy, huyện ủy hay tỉnh ủy địa phương đó. Nhẹ thì khai trừ, nặng thì ghép tội và bỏ tù, nhóm các ông Tăng Thắng là một ví dụ điển hình - vừa bị khai trừ Đảng vừa phải trốn biệt xứ).

Nhân đây chúng tôi cũng muốn nói thêm một chuyện mà ai cũng thấy vô lý nhưng cứ chấp nhận, không bao giờ dám nói ra : tại sao lại coi nghị quyết Đảng như một thứ linh thiêng không bao giờ được động đến. Vậy thì nó có khác gì các chiếu chỉ của nhà vua phong kiến. Đành rằng vua chúa đúng hay sai, người ta cũng phải chịu, nhưng nghị quyết của một Đảng cộng sản tức là của những người cách mạng nhất trong những người cách mạng mà sai hoặc có những điểm sai thì có gì mà không được phép góp ý, phê bình để sửa đổi cho phù hợp với lợi ích của đời sống nhân dân.

Đặc biệt giới lý luận của Đảng quên mất rằng cái nghị quyết lớn nhất của những người cộng sản trên thế giới này vạch hướng đi cho hàng trăm năm sau tức là "TUYÊN NGÔN CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN" thì hai người sáng tạo ra nó vẫn phải dặn dò các đồng chí của mình và các thế hệ cộng sản đến sau rằng có những điều không thích hợp thì phải viết lại. Thế mà những đảng viên làm lý luận ở nước ta không những không bao giờ dám bàn nhau chuyện viết lại mà đến chuyện nhắc lại lời dặn "phải viết lại" của Mác và Ắnghen cũng không dám vì coi như là một điều cấm kỵ. Nói thẳng thì họ buồn, nhưng thực sự họ đã suy nghĩ nghiên cứu, thảo nghị quyết, viết sách lý luận bằng một nếp nghĩ và một nếp cảm rất "pháp tiên vương", rất "án khóa nhi hành". Theo Mác, theo Ắnghen, theo Lênin mà theo kiểu từng chữ từng câu cũng còn không ổn, đã là chống lại các ông một cách không tự giác. Huống chi lại theo Stalin cùng với biết bao đồ đệ giáo điều của ông ở cả phương Tây lẫn phương Đông.

Ở Việt Nam ta lại còn một hiện tượng rất lạ : Trung ương ra nghị quyết đã đành, nhưng cấp ủy nào cũng ra nghị quyết. Có những nghị quyết của cấp ủy địa phương chống lại nghị quyết Trung ương nhưng cũng không cho ai nói động đến. Nguyễn Tăng Thắng vừa chống lại nghị quyết phá rừng của Bình Thuận thì lập tức nhận được nghị quyết khai trừ khỏi Đảng ngay. Mà nào có riêng gì Bình Thuận hay Thái Bình, nơi nào cũng đều có những nghị quyết hoặc công khai, hoặc bí mật, hoặc ghi thành văn bản, hoặc chỉ nói mồm, cứ lẳng lặng chống lại Trung ương, chống lại luật pháp một cách thường xuyên liên tục.

Gần đây, việc chống lại nghị quyết, chống lại lệnh của Trung ương xem ra ngày càng công khai và trắng trợn hơn. Thủ tướng Phan Văn Khải thay mặt Chính phủ (đồng thời cũng là thay mặt Bộ Chính trị) ra lệnh phải kích cầu, nghĩa là phải tìm mọi biện pháp tăng đầu tư và tăng sức mua để đẩy mạnh sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Thế mà ông Thủ tướng nói chưa dứt lời, lệnh ký chưa ráo mực, ông Bộ trưởng Bộ Điện lực hạ lệnh tăng giá điện, ông Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện hạ lệnh tăng giá cước điện thoại. Ông Tổng cục trưởng Tổng cục xăng dầu tăng ngay giá xăng dầu. Mấy ông chủ hãng gas tư nhân học tập quốc doanh tăng giá gas ngay. Tăng giá là một cách giảm sức mua và chống kích cầu một cách hữu hiệu nhất.

Đáng sợ nhất là Tổng cục thuế tăng thuế một cách toàn diện, vừa tăng thuế cũ vừa ban hành sắc thuế mới đến mức hàng trăm chủ doanh nghiệp tư nhân lao đao bỏ cuộc, hàng ngàn hộ kinh doanh tiểu thương dẹp sạp bỏ chợ (đấy là con số của một vài chợ ở TPHCM chứ chưa phải là con số thống kê của toàn thành phố hoặc toàn quốc). Chắc nhiều người lãnh đạo của Tổng cục thuế không để ý đến một nguyên tắc đơn giản là : đánh thuế nhẹ thì thu được nhiều, đánh thuế nặng thì thu được ít hoặc không thu được gì. Hẳn đ/c Tổng cục trưởng Tổng cục thuế không hiểu rằng tình hình đánh thuế và thu thuế như hiện nay đang làm lâm nguy CHẾ ĐỘ.

Nhân dân ta đi theo Cụ Hồ và Đảng Cộng sản để lật đổ những chế độ đã đặt hàng trăm thứ thuế vô lý lên đầu lên cổ nhân dân ta, chẳng lẽ lại chấp nhận ba ông Tổng cục và ba ông phòng thuế hiện nay ? (Ai thắc mắc là chúng tôi nói đúng hay sai, xin mời tham khảo báo chí hiện nay và riêng Tổng cục trưởng Tổng cục thuế thì xin mời tham khảo hay nói đúng hơn là đọc lại tác phẩm viết bằng huyết lệ của nhà chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu mà đ/c cũng như chúng tôi đều đã học).

Theo chúng tôi hiểu, vừa qua, nông dân Thái Bình tức giận nổi dậy không phải chỉ vì đóng tới ba chục khoản. Ba chục khoản chứ sáu chục khoản cũng chẳng nghĩa lý gì. Khi đất nước cần, người ta "đóng" cả sinh mạng của bản thân và con cái mình, người ta còn chẳng tiếc, xá gì tiền bạc. Nhưng đóng để xây dựng, phát triển đất nước thì được, chứ đóng để cho bọn cường hào tham nhũng bỏ túi thì ai chịu, ai nghe !

Chúng tôi xin nhắc lại, nhân dân Thái Bình và một vài vùng khác nổi dậy không nhằm chống Đảng, chống Chế Độ mà là để chống lại bọn cường hào tham nhũng đang hoành hành vượt qua cả kỷ cương phép nước. Chúng tôi xin hỏi : bao giờ thì chúng ta chấm dứt cái trò trống đánh xuôi kèn thổi ngược, gây mất ổn định ở nông thôn cũng như thành thị ở cấp địa phương cũng như cấp trung ương, chính phủ. Chẳng lẽ chúng tôi lại dám khinh thường mấy ông này mà bảo rằng các ông không hiểu nổi thế nào là cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước. Các ông hiểu mà các ông dám làm sai, quả là các ông to gan thật !

Cũng nói thêm một chút về ông chủ nhiệm Ủy ban vật giá của chính phủ. Ông này lại không chịu hiểu rằng khi giá gas tăng có nghĩa là động đến đời sống, động đến miếng ăn hàng ngày của hàng chục triệu nhân dân và công nhân viên chức ở đô thị. Thế mà khi báo phỏng vấn ông, ông lại thản nhiên trả lời một câu xanh rờn :

- Chúng tôi không quản lý giá gas.

Giá gas nội địa hiện nay ngoài việc được đánh thêm 20% thuế nhập khẩu đã là một điều vô lý, nay họ lại bảo nhau tăng giá cho bằng với giá gas của khu vực. Hóa ra, mấy ông Tổng cục thuế, ủy ban vật giá ... lại nằm chiêm bao thấy rằng lương công nhân viên nước ta đã bằng lương của các nước Singapore và Thái Lan. Và mức thu nhập quốc dân của ta đã ngang bằng thế giới rồi. Các cụ xưa dạy không sai : đúng là "người làm sao chiêm bao làm vậy".

Chúng tôi châm biếm tí chút, các đồng chí cũng đừng giận, vì Mác đã nhận xét : "Bao giờ nhân loại cũng tiễn đưa quá khứ một cách vui vẻ". Đó là lý do cắt nghĩa tại sao ở nước ta : giai thoại, tân giai thoại, tiếu lâm, tân tiếu lâm và đủ các thứ ca dao hò vè lại được xuất bản miệng một cách "ngoài luồng" mạnh mẽ đến như thế.

Chúng ta đang ở trong một tình trạng vừa buồn cười lại vừa đau lòng. Do thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ một cách nghiêm túc trong 30 năm kháng chiến nên ta đã lập được bao thành tựu vĩ đại. Trong thời kỳ làm kinh tế thị trường, nhiều người dám cả gan không tôn trọng nguyên tắc này nữa, tạo nên tình trạng hỗn loạn, mất ổn định ngay trong nội bộ chúng ta.

Kẻ thì dân chủ quá trớn. Anh được quyền bàn bạc thảo luận nhưng khi đã thành nghị quyết, thành lệnh, thành luật, anh không chấp hành sao được ? Anh là địa phương mà dám không phục tùng Trung ương ? Anh là Bộ trưởng, Thứ trưởng, Tổng cục trưởng mà lại dám không phục tùng lệnh Thủ tướng. Các anh nhận thức như thế nào mà trên cương vị của mình, đáng lẽ phải làm gương, anh lại dám vi phạm Hiến pháp và những đạo luật do Quốc hội ban hành ?

Thế là chỉ muốn hưởng dân chủ mà không hiểu thế nào là tập trung. Hữu ý hoặc vô tình, anh đã chống lại sự lãnh đạo của Đảng, chống lại sự quản lý của Nhà nước, tóm lại là anh chống lại Nhân Dân. Các anh lại ngu xuẩn hơn cả bọn phong kiến, đế quốc đến như thế à ? Đúng là các anh không hiểu Nhân Dân Việt Nam ta là như thế nào : toàn là những "chuyên gia khởi nghĩa" nổi tiếng trên hành tinh này đấy ! Tối dạ đến như ngài Bộ trưởng Mắc Namara mà gần đây còn mở mắt ra được mà sám hối rằng : chúng tôi không hiểu lịch sử Việt Nam và văn hóa Việt Nam. Chúng tôi đã sai lầm một cách khủng khiếp.

Học lịch sử dân tộc, học truyền thống văn hóa dân tộc quan trọng đến như thế, thế mà Bộ giáo dục ta trong nhiều năm dám bỏ môn thi lịch sử. Không thi thì trẻ con học làm gì ? Cũng là một sai lầm khủng khiếp !

Kẻ thì tập trung cũng quá trớn chẳng kém. Mồm thì nói "tập trung dân chủ", tay thì viết "tập trung dân chủ", thế mà hoa chân múa tay úm ba la thế nào mà dân chủ biến mất, nhìn lại túi dân thấy rỗng không. Nhìn vào kho tàng công quĩ cũng thấy rỗng không. Tài thật, tài đến thế là cùng ! Dân uất ức, Dân khiếu, Dân tố, Dân chống lại liền được "tập trung" tức khắc. Ngày xưa, chống vua, chống triều đình là tội đại nghịch. Nay, đã được chụp cái mũ chống Đảng, chống Nhà nước XHCN thì coi như tiêu đời rồi. Mất dân chủ là mất của cải, mất danh dự, mất sinh mạng chính trị, nghĩa là mất hết. Hẳn có người sẽ vặn:

- Các vị cứ hay nói quá đáng ! Đảng, Chính phủ tôn trọng quyền khiếu tố của Nhân Dân. Quốc hội còn có hẳn pháp lệnh qui định quyền khiếu tố. Ai không biết hưởng quyền đó thì thiệt, còn kêu ca nỗi gì ?

- Vâng, chúng tôi xin thưa ngay rằng tất cả mọi thứ quyền, tất cả mọi thứ văn bản, chúng ta có đủ cả. Vấn đề là nội dung ra sao và hành xử như thế nào để thực thi được mục đích cao cả mà Cụ Hồ với Dân này, Đảng này đã cam kết cùng nhau khi tiến hành cuộc cách mạng Dân tộc Dân chủ Nhân dân trên đất nước ta.

Chúng tôi đã có dịp tiếp xúc lại với anh chị em bộ đội Cụ Hồ từ đồng chí binh nhì cho đến các đồng chí cấp tá, cấp tướng, trong số đó có những người đã bỏ hẳn nửa thế kỷ đời mình xông pha đủ loại chiến trường trong Nam, ngoài Bắc, bảo vệ chế độ Dân chủ cộng hòa bằng bất cứ giá nào (tất nhiên, giá cao nhất là giá máu, giá sinh mạng), giờ đây về hưu, nhìn lại hai bàn tay mình (nếu may mắn còn đủ hai bàn tay) bỗng nhiên kinh ngạc thấy quyền dân chủ bay biến đâu mất cả. Chẳng lẽ chỉ còn biết yên phận thở dài, chửi đổng. Thật cay đắng, đau xót !

Cũng thật khó hiểu khi thấy người ta có thể thản nhiên ngụy biện về một nguyên tắc quan trọng và cao cả đến thế. Người ta phải phục tùng Trung ương, Chính phủ và mọi thứ luật pháp đúng đắn đã đành. Anh là cái gì mà ra lệnh sai, làm sai cũng bắt người ta phải theo. Anh là cái gì mà lúc nào cũng giơ chiêu bài "tập trung" ra để bịt mồm chặn họng Nhân Dân. Sai thì phải sửa chứ Nhân Dân có đòi hỏi điều gì quá đáng ngoài những điều Cụ Hồ nói và Quốc hội đã pháp chế hóa bằng văn bản.

Ta có một nếp nghĩ sai lầm kéo dài là đồng nhất cá nhân với tập thể. Lãnh tụ huấn thị đã đành. Thế mà với "đầu óc lãnh tụ" anh là cái gì mà đi đâu cũng huấn thị. Lại có một lũ thường xuyên túc trực - "nhờ đồng chí bí thư huấn thị, mà vấn đề được sáng ra".

- Ý kiến của đồng chí bí thư huyện ủy hoặc tỉnh ủy cũng là ý kiến của Đảng, chúng ta phải chấp hành nghiêm chỉnh. Nói theo kiểu văn học dân gian thì cái lũ này chỗ nào cũng cảm thấy phảng phất hương lan hương huệ.

Như thế là rất nhiều người, từ lâu, mượn danh nghĩa "tập trung dân chủ" để độc quyền, độc tài, độc đoán. Họ "tập trung" đến mức dân tức thở không chịu nổi nữa phải nổi dậy chống lại. Đúng như Cụ Hồ đã dạy : những người này muốn làm "quan cách mạng", muốn thành "vua con" ở từng địa phương.

Họ cũng đưa đủ các thứ lý do xem ra rất chính đáng, lại còn nại cả lý luận Mác Lênin ra để bảo lãnh nhằm chống lại đường lối của Đảng, luật pháp của Nhà nước, nào là tình hình cụ thể của địa phương như thế này, dân tình cụ thể của chúng tôi ở địa phương như thế kia; chính sách của Trung ương đúng thật, luật pháp của Nhà nước cũng đúng thật, nhưng chúng tôi không thể vận dụng áp đặt được. Cái gì cũng phải năng động linh hoạt mới được việc. Nói nghe có lý như thế đấy. Nhưng thử hỏi, Quốc hội đã ban hành pháp lệnh bảo vệ rừng, Chính phủ, cụ thể là Tổng cục Lâm nghiệp, hạ lệnh bảo vệ rừng, cho dù anh là Huyện ủy hay Tỉnh ủy, anh có được quyền chống lại không ? Cái gì có lợi cho Dân thì không hề xuất phát từ tình hình cụ thể để giải quyết. Anh lại giơ đủ các luật lệ, phép tắc, chỉ thị nghị quyết để nói rằng anh phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết của trung ương và pháp lệnh của Nhà nước. Cái gì có hại cho Dân cho Nước nhưng lại có lợi cho anh và phe cánh của anh, anh lại đảo lưỡi ngay. Cho nên kẻ thù chúng ta chửi ta là "ngụy biện cộng sản" cũng không oan. Nhìn lại lịch sử mới thấy cái nguy cơ cục bộ, địa phương, tức là phong kiến cát cứ, hầu như đã trở thành bệnh kinh niên tính từ thời thập nhị sứ quân đến nay đã tồn tại khoảng hơn ngàn năm.

Chúng tôi cũng thấy cần phải thẳng thắn phê bình Trung ương và Chính phủ nhiều khi rất hữu, rất buông lỏng để cho các "vua con" hoành hành gây mất ổn định. Đúng như nhân dân Nam Định đã có nhận xét và tổng kết tình hình bằng một câu ngắn gọn chắc nịch : dưới lộng quyền, trên bất lực.

Đại hội Đảng VII vừa qua nêu 4 nguy cơ là hoàn toàn đúng. Nhưng chúng tôi thấy không nên bỏ quên nguy cơ thứ năm này. Vì nó là nguy cơ của mọi nguy cơ.

Phải cân nhắc kỹ lại xem cái đơn thuốc phê bình và tự phê bình từng hữu hiệu một thời, liệu nay còn là phương thuốc vạn năng nữa không. Theo chủ quan chúng tôi nhận xét thì có nhiều con bệnh đã nhờn thuốc rồi.

Nhớ lại một thời, qua từng đợt chỉnh huấn, các đồng chí chúng ta từng thành khẩn tự phê bìnhvà chân thành phê bình xây dựng giúp đỡ nhau. Trong tình hình nước sôi lửa bỏng, cùng vào sinh ra tử với nhau, lòng trong như ngọc, chỉ một mực quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh, ai dám không thực lòng thương yêu đồng bào đồng chí, ai dám không can đảm thanh toán những vẩn đục dù nhỏ trong tâm trí mình. Tất cả cho lý tưởng ĐỘC LẬP TỰ DO và lý tưởng cộng sản. Chỉ nghĩ sai một chút, lòng đã cảm thấy hổ thẹn, cảm thấy như mình có tội với Nhân Dân, có tội với Cụ Hồ, cứ sau mỗi đợt chỉnh huấn chúng ta lại dũng cảm xông lên với tư thế con người mới, giành bằng được thắng lợi và quyết tâm xây dựng một cuộc đời mới, bắt một xã hội mới trong ước mơ phải trở thành hiện thực. Đẹp biết bao, những con người của một thời ! Sẵn sàng quên mình vì nghĩa lớn, đóng dấu ấn tuyệt vời vào thời đại, có thể cao đầu nhìn Lịch Sử và Nhân Loại mà lòng không chút ngượng ngùng.

Lẽ nào có thể yên tâm ngồi nhìn cái thời đẹp ấy một đi không trở lại ?!!!

Có lẽ chẳng cần dự nhiều, cứ ngồi hình dung ra cũng đủ thấy các vị tự phê bình và phê bình ra sao. Lòng vị nào cũng bất an, rối bời. Kẻ có lỗi, có tội lo lắng bị phát hiện đã đành. Ngay người tốt sống liêm khiết cũng lo. Nó làm bậy thật đấy nhưng phê nó đâu có dễ. Nó đã vậy, còn phe cánh, ô dù của nó thì sao ? Phê không cẩn thận thì đầu chẳng phải lại phải tai. Đặc biệt với những vị nào lại được một cấp có thẩm quyền hoặc bà xã (hoặc ông xã) "dặn dò" : phát động thì mạnh mẽ thế nhưng mình thì nên giữ mồm giữ miệng không khéo lại ảnh hưởng đến niêu cơm của gia đình đấy (do đó mà người ta hay gọi những vị có tinh thần phục thiện này là những người đã từ bỏ tinh thần Mácxít thành người "Mácmít" (Marmite tiếng Pháp có nghĩa là cái nồi để chỉ những người chỉ đặt lợi ích của bản thân và gia đình mình trên hết).

Còn các vị tiêu cực thì nhìn nhau và cùng thống nhất chủ trương : ông không động đến mày thì mày cũng đừng động đến ông. Loanh quanh chỉ còn lại là :

- Chúng tôi có sai lầm, nhưng đây là chủ trương của tập thể cơ quan, của cấp ủy, do có ý thức tổ chức và tôn trọng tập thể lãnh đạo nên chúng tôi mới phạm khuyết điểm nặng như thế. Mong các đồng chí xét hoàn cảnh khách quan, chủ quan mà thông cảm cho.

- Chúng tôi xin thẳng thắn phê bình đồng chí Bí thư (hoặc thủ trưởng đơn vị, đ/c có khuyết điểm lớn là không chú ý bảo vệ sức khỏe của bản thân mình, đ/c cần nhớ sức khỏe của đ/c là của Đảng và của tập thể cơ quan.

- Đ/c còn có khuyết điểm là đối với cấp dưới hay xuê xoa, nể nang, chưa ngăn chặn kịp thời một vài đ/c của mình đã cố tình vi phạm kỷ luật của Đảng và pháp luật của Nhà nước.

Cứ thương yêu đoàn kết đấu tranh kiểu này rất khó tìm ra được đảng viên loại hai. Địa phương thì có bao nhiêu việc bê bối nhưng chất lượng đảng viên lại là 89%, 92% (Sở VHTT TPHCM), thậm chí có nơi còn 98,37% (Phú Nhuận) đảng viên thuộc loại 1.

Thế này là họ muốn chứng minh rằng Trung ương nhận định đánh giá tình hình sai hay sao. Đảng bộ nào cũng đều trong sạch vững mạnh thậm chí còn có tinh thần đấu tranh không khoan nhượng với cái sai, cái xấu, cái tiêu cực thế thì đặt ra việc chỉnh đốn Đảng làm gì cho thêm tốn thì giờ, tiền bạc, lại còn làm hoang mang nội bộ.

Cũng cần góp ý phê bình thẳng thắn bản ghi 19 điều cấm đảng viên không được làm. Không hiểu đ/c chuyên viên nào lại tham mưu cho Ban tổ chức Trung ương qui định cả những điều cấm vi phạm Hiến pháp và luật pháp như điều cấm đảng viên không được tự ý ứng cử.

Xin hỏi người thảo ra những điều luật kiểu này quan niệm đảng viên là thuộc loại người như thế nào trên đất nước này. Luật pháp đã qui định chỉ có những người bị tù tội (mất quyền công dân) hoặc những công dân bị bệnh tâm thần, mất trí không tự điều khiển được hành vi của mình mới không được quyền bầu cử hay ứng cử. Chắc chắn là họ không dám xếp các đảng viên của chúng ta vào loại người kể trên.

Vậy, vào loại nào ? Chẳng lẽ họ lại dám coi đảng viên là một thứ người "siêu công dân" chăng, nên chẳng cần có nghĩa vụ gì trong việc thực thi hiến pháp và gương mẫu tuân thủ pháp luật.

Theo thông lệ, mọi người vẫn nghĩ rằng : đã là đảng viên thì phải dứt khoát là giác ngộ hơn quần chúng và dứt khoát phải gương mẫu về mọi phương diện "đảng viên đi trước, làng nước theo sau". Anh là đảng viên mà anh lại vi phạm Hiến pháp, coi thường pháp luật thì hỏi anh còn giáo dục được ai ? Anh còn nói được ai ? và ai còn chịu nghe anh ? Không thể không nghiêm khắc với những kẻ dám coi thường kỷ cương phép nước như thế.

Xin đừng nghĩ nhầm là đợt chỉnh đốn Đảng cực kỳ quan trọng này chỉ nhằm kiểm điểm những đảng viên tiêu cực thoái hóa về đạo đức và tham nhũng hối lộ. Trước hết, theo chúng tôi, là phải kiểm điểm nghiêm khắc từng đảng viên về mặt nhận thức đối với Hiến pháp và Pháp luật. Trên một đất nước, người đảng viên và người không đảng viên, ai ai cũng đều sống và làm việc với tinh thần "thượng tôn pháp luật", ai ai cũng hết lòng thực thi đúng nghĩa vụ và quyền hạn công dân của mình thì có thể nào Dân không giàu, Nước không mạnh, xã hội không công bằng văn minh ? Liệu có lực lượng thù địch nào có thể phá hoại nổi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa thiêng liêng của chúng ta ?

Vừa qua, chúng ta bảo nhau "học lại" (Lê Khả Phiêu) bài học dân vận của Bác Hồ là hoàn toàn đúng. Mỗi người trong chúng ta, phải "thuộc làm lòng" (Nguyễn Du) áng văn bất hủ này. Nhưng điều quan trọng là phải lĩnh hội được cái "thần" của áng văn. Quan trọng hơn nữa là phải bàn nhau "pháp chế hóa" mọi điều dạy dỗ thiêng liêng chưa từng có trong lịch sử này.

Đức Trần Hưng Đạo từng dạy dỗ vua Trần rằng : "Phải biết khoan thứ sức Dân để làm kế sâu rễ bền gốc". Lời dạy chính xác và thiêng liêng này nếu được nghe theo thì đất nước Đại Việt này đâu đến nỗi ! Vua Trần đã vậy, mà ngay cả các vua Lê, vua Nguyễn sau này nghe hay không nghe, theo hay không theo, làm hay không làm hoàn toàn tùy "tâm" quí vị. Ai biết "tu thân", "tề gia" thì nghe theo mà "trị quốc". Còn không chịu nghe theo cũng chẳng "ai đòi ai bắt" (Nguyễn Đình Chiểu) nổi các vị. Xem thế mới biết, Cụ Hồ đúng là kết tinh của một trường kỳ lịch sử trí tuệ và tư tưởng Việt Nam. (đâu có thể nhầm lẫn mà nói rằng Cụ chỉ là người vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác Lênin .... Tất nhiên phải khẳng định rằng tư tưởng Hồ Chí Minh là tư tưởng Việt Nam ở thế kỷ XX này, rất đậm Mác Lênin). Chúng tôi trân trọng đề nghị, những điều dạy thiêng liêng này phải được ghi vào Hiến pháp và phải được hóa thân thành một đạo luật vì tất cả đều là rất Hồ Chí Minh, rất Việt Nam, rất truyền thống và cũng cực kỳ hiện đại.

Đối với bản Di chúc Hồ Chí Minh thiêng liêng, chúng tôi nghĩ cũng phải làm như vậy. Một trong những điều quan trọng hàng đầu trong bản Di chúc này là Người nhấn rất kỹ cái vị thế kép của Dân, của Đảng. Thế mà Đảng quên đằng Đảng, Dân quên đằng Dân, thật là một điều đáng buồn.

Một văn bản quan trọng đến như thế mà dám tùy tiện cắt xén. Thật là một chuyện động trời không tưởng tượng nổi. Theo nếp nghĩ truyền thống, tất cả những lời trối trăng của bất cứ người đã khuất nào đều là thiêng liêng và được mọi người sống tôn trọng. Con cháu nhà nào làm sai lời trối trăng của ông bà, cha mẹ, đều bị chê là bất hiếu và làm ăn sẽ bị lụn bại. Tục gọi là "sái". Vì sợ "sái" cho nên chẳng ai dám làm sai. Riêng đối với những lời trối trăng của vua chúa hoặc những nhân vật quan trọng thì được trân trọng gọi là "di chúc" hoặc "di huấn", không làm theo thì bị "sái" cả dòng họ, thậm chí "sái" cả quốc gia.

Một chứng cứ hiển nhiên là lời di huấn đúng đắn và thiêng liêng của Đức Trần Hưng Đạo đã không được các vua mạt Trần, mạt Lê, mạt Nguyễn tuân theo nên cơ đồ Đại Việt, Đại Nam suy sụp như thế nào, lịch sử đã được chứng kiến (tất nhiên lời di chúc hay di huấn nào có hại cho lợi ích quốc gia thì cũng không nên theo. Lời di chúc của An Sinh vương Trần Liễu không được đức Trần Hưng Đạo tuân theo vì Ngài đã biết đặt lợi ích của vương triều, của quốc gia lên trên lợi ích của gia đình).

Chúng ta phải tuân theo Di chúc Hồ Chí Minh không phải vì thần thánh hóa Người hay sùng bái cá nhân Người, mà vì đó là chân lý của Dân Tộc và Thời Đại, là nguyện vọng và ý chí của toàn thể Dân Tộc, là lẽ sống làm người, là lẽ sống của Dân Tộc. Sâu xa hơn cả, đó là trí tuệ và tư tưởng Việt Nam, là tình nhân ái Việt Nam.

Nói theo ngôn ngữ chính trị và quân sự, Di chúc Hồ Chí Minh là một bản đồ chiến lược có kim chỉ nam định hướng chính xác, đảm bảo chống lại mọi lực lượng thù địch với Việt Nam và nhân loại, đảm bảo cho Việt Nam đến đích Dân chủ và Giàu mạnh, vĩnh viễn xóa nghèo nàn và lạc hậu, vĩnh viễn sánh vai sóng bước cùng các quốc gia tiên tiến nhất trên địa cầu.

Một văn bản lịch sử thiêng liêng như thế mà dám cả gan cắt bỏ những điều quan trọng hàng đầu.

Không hiểu họ nghĩ thế nào mà dám cắt rồi dấu đi "lệnh" xá thuế cho nông dân sau ngày Đại Thắng. Chẳng lẽ họ lại không hiểu đất nước Việt Nam thực chất là đất nước của NÔNG DẤN hay sao ?

Chẳng lẽ họ lại quên đi nỗi đau khổ và khát khao ngàn đời của Dân ta hay sao ?

Giữa những năm được mùa mà vua Lý còn hạ lệnh xá thuế cho dân cày, nghĩa là để cho Dân được no thêm, vui thêm. Sau trận Bạch Đằng đại thắng quân Nguyên, hai vua Trần hạ lệnh mở kho cho toàn dân được ba ngày "thái bình diên yến" và kèm theo lệnh đại xá tù nhân và xá thuế.

Thế mà ta vẫn tự hào là cách mạng và ưu việt nhất trong lịch sử (kể ra con hơn cha, con cháu hơn ông bà ông vải đều là đại hồng phúc, tổ tiên từ xưa cũng chỉ mong có như thế). Thế mà dám bỏ truyền thống tôn trọng di chúc, lờ đi Di chúc của Cụ Hồ, phớt lờ quyền lợi của Nông Dân. Sau ngày đại thắng đế quốc Mỹ, vẫn trói Nông Dân rất chặt. Tận 11 năm sau thấy tình hình nguy cấp mới vội vàng bảo nhau cởi trói cho bà con Nông Dân nghĩa là tổ chức "khoán" theo đúng chủ trương của đấng tiên liệt cộng sản Kim Ngọc, để giải phóng lực lượng sản xuất. Thế giới kinh ngạc: quái ! Việt Nam sao lại không sụp đổ ?

Việt Nam sụp đổ sao được khi vẫn còn trí tuệ, vẫn còn tình nhân ái.

Một điều cắt bỏ khác cũng không kém phần khủng khiếp. Đó là: "Trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, phụ nữ đảm đang ta đã góp phần xứng đáng trong chiến đấu và trong sản xuất. Đảng và Chính phủ cần phải có kế hoạch thiết thực để bồi dưỡng, cất nhắc và giúp đỡ để ngày thêm nhiều phụ nữ phụ trách mọi công việc kể cả công việc lãnh đạo. Bản thân phụ nữ thì phải cố gắng vươn lên. Đó là một cuộc cách mạng đưa quyền bình đẳng thật sự cho phụ nữ". (Di chúc Hồ Chí Minh)

Rõ ràng họ không hiểu rằng Hồ Chí Minh là người đầu tiên trong lịch sử tư tưởng văn hóa nước nhà đã ghi thành văn bản khẳng định quyền bình đẳng của đàn bà đối với đàn ông từ thời kỳ đất nước còn đắm chìm trong nô lệ và Người còn đang phải bôn ba phiêu dạt tìm đường cứu nước. Điều quan trọng này, tư tưởng quan trọng này Người đã viết trong Tóm tắt chính cương của Đảng từ năm 1927. Và chính Người sau khi thành lập Nhà nước Dân chủ cộng hòa, đã chỉ đạo việc pháp chế hóa quyền sống, quyền hưởng hạnh phúc, quyền bình đẳng, quyền tham gia mọi hoạt động xã hội trong Hiến pháp và Luật Hôn nhân và gia đình, và trước khi vĩnh biệt cuộc đời, Người vẫn căn dặn phải tiếp tục giải phóng Phụ nữ và đưa Phụ nữ tham chính một cách rộng rãi.

Đúng như nữ sử gia Mỹ J. Stenson đã nhận định rất đúng rằng : "Trong số những lãnh tụ là nam giới như : Tô-mat Giuphecxơn, Mahatma Găngđi, V.I. Lênin, Các Mác, Mao Trạch Đông, Macthin Luthơ King và Nensơn Manđêla, chỉ có Hồ Chí Minh đã luôn luôn bộc trực về quyền bình đẳng của phụ nữ, về giáo dục, tự do ngôn luận, độc lập về kinh tế và quyền của phụ nữ được hưởng các quyền lợi khác như nam giới. Chỉ Hồ Chí Minh là thấy được rằng phụ nữ đã phải chịu đựng những gánh nặng như nam giới và còn hơn thế nữa."

Suốt đời Người đau đáu lo lắng cho số phận và địa vị của người Phụ nữ. Thế mà dám cắt bỏ. Họ không hiểu tấm lòng Cụ Hồ đã đành mà còn có tội rất lớn đối với các Mẹ, các Chị, các Em gái Việt Nam.

Lại một lời dạy thiêng liêng khác có quan hệ đến truyền thống, đến thuần phong mỹ tục mới, đến nền kinh tế và môi trường cũng không làm theo :

Các vua Trần bảo thiêu, đức Trần Hưng Đạo bảo phải thiêu, thế là phải tuân theo răm rắp. Thế mới biết ta nhu nhơ, vô chính phủ thật.

Lại đưa lý do giữ thi hài Bác Hồ lại vì để đồng bào miền Nam vào ngày thống nhất có dịp được trông thấy Bác.

Thử hỏi đấy có thực sự là nhu cầu tình cảm của đồng bào miền Nam hay không ? Chẳng lẽ Đức Trần Hưng Đạo, Đức Lê Lợi, Đức Quang Trung và bao nhiêu bậc minh quân tiên liệt anh hùng khác kể cả Đức Tổ Hùng Vương mà ta không hề được chiêm ngưỡng chân dung thì ta bị lạc giống lạc nòi hết rồi sao. Ta không còn giữ được lòng biết ơn và thành kính noi theo nữa hay sao ? Đâu có phải cứ cần có mồ mả rồi năm thì mười họa đến thăm mới là tưởng nhớ. Không ! Hô Chí Minh tức là Đức thánh Hồ của Dân Tộc ta, cũng như bao nhiêu Đức thánh đã hiển linh trước Người có giây phút nào không sống trong tâm khảm của từng con dân nước Việt.

Vả lại trong thời đại hiện nay còn biết bao nhiêu phương tiện lưu giữ chân dung, hành trạng về cuộc đời hoạt động cao cả của Người, việc gì phải theo truyền thống thời Nguyễn. Tại sao chúng ta lại có thể nghĩ nông nổi hạ thấp một lãnh tụ vĩ đại của Dân tộc, một danh nhân văn hóa kiệt xuất của nhân loại ngang tầm với mấy ông vua Ai Cập cổ đại. (nhân đây cũng nói thêm về cái từ "Lăng" mà khi dịch ra tiếng Pháp là Mausolée thì danh từ chung Mausolée vốn xuất phát từ danh từ riêng Mausolof là tên một vị vua Ai Cập có ngôi mộ to nhất thế giới xây bằng đá. Các vua chúa phương Tây học tập các vua chúa Ai Cập đua nhau xây lăng mộ đã vắt kiệt sức nhân dân và hủy hoại nền kinh tế, thậm chí còn hủy hoại cả một nền văn minh. Còn từ "Lăng" vốn xuất phát từ phương Bắc để chỉ những khu mộ rộng lớn có khi đến hàng trăm hàng ngàn hécta; điển hình là khu lăng mộ Tần Thủy Hoàng, ngoài mộ thật lại còn hàng trăm ngôi mộ giả, chỉ lo kẻ thù hoặc người đời sau đào mả hoặc yểm mất long mạch. Các vua thời Nguyễn học tập, rập khuôn phương Bắc mới đua nhau xây mồ mả thật đồ sộ và mới được nghe dân ta thán đến muôn đời :

Vạn niên là Vạn niên nào

Thành xây xương lính, hào đào máu dân.

Lăng Vạn niên đâu có làm vẻ vang gì cho vua Tự Đức, các lăng khác cũng thế mà thôi.

Cụ Hồ vì muốn nối tiếp và phát huy truyền thống Lý Trần về việc ma chay chôn cất. Thế mà ta lại dám chống lại ý Cụ, rồi theo truyền thống các vua Nguyễn để gây ra bao nhiêu tổn phí, hại bao nhiêu sức người sức của lại phản vệ sinh, phản môi trường, phản khoa học.

Nhân dân hiểu cả, muốn theo đúng ý Cụ Hồ mà không theo nổi. Bài Dân Vận cũng bị quên đi thành ra ai nhớ được là Dân có quyền trong mọi chuyện từ nhỏ đến lớn ở đất nước này. Đại biểu Quốc hội muốn nói cũng chẳng dám nói, hiểu ý nguyện của Dân đấy mà cũng đành, cứ giơ tay vỗ tay cho qua chuyện.

Có người đã thể hiện ý Cụ Hồ, ý Nhân Dân thành trường ca nhưng có bao giờ được xuất bản :

Sau vụ Giá - Lương - Tiền

Dân quá khổ kêu trời không thấu

May sao vọng tới Bác Hồ

Lập tức Bác cho gọi ngay anh Ba Duẩn

Vừa thấy mặt anh, Bác liền chất vấn :

- Các chú làm ăn lãnh đạo ra sao

để Nhân Dân khổ đau kêu ca như rứa ?

Anh Ba ấp úng thưa :

- Dạ thưa Bác,

Việc nhà nước do anh Tô điều hành

Còn phần tôi chuyên lo công tác Đảng ....

Nghe chưa dứt lời Bác vội cắt ngang :

- Chú là Tổng bí thư mà Dân sướng khổ ra sao lại không hay biết ?

Kỳ lạ thật !

Thế việc xây lăng tôi do ai đề xuất ?

- Dạ thưa Bác, việc này do ý anh Năm.

- ý chú Năm sai các chú cũng hùa theo

Tôi là vua chúa sao mà các chú cho nằm trong lăng đá ?

Sống, tôi chỉ cần một căn nhà nhỏ

Chết, tôi lại cần cái nhà mồ to chừng đó !ỉ

Tôi đã dặn thiêu đi các chú lại không nghe ?

Thật không ngờ các chú quá ngu !

Cũng mang tiếng luận bàn tập thể !

(Trích "Trường ca Hồ Chí Minh phán xét" - 1985 - Trần Khuê )

Như thế là Cụ Hồ muốn cách mạng thực sự, muốn cho Dân ta thoát ra khỏi quốc nạn lăng mộ. Các vua Nguyễn đã xây quá nhiều lăng mộ. Nay ta lại tăng cường lăng mộ từ cấp Trung ương cho đến cấp phường xã, thử hỏi nền kinh tế nào chịu đựng nổi. Liệu chúng ta có thể vin cớ là giữ gìn truyền thống dân tộc rồi bảo nhau lưu giữ mãi. Mà cái truyền thống hủ lậu này cũng mới thịnh hành từ đời Nguyễn chứ đâu có phải là truyền thống tốt đẹp ngàn năm. Cội nguồn ta đâu có phải là khăn đóng áo dài, ma chay cưới xin linh đình rườm rà, cỗ bàn tốn kém, mê tín dị đoan, buôn thần bán thánh .... Giả thiết đó thực sự là cội nguồn thì rễ nào mục cũng phải nhổ đi, nguồn chưa trong cũng phải thanh lọc đi, huống chi đó phần lớn là những thứ mới ngoại nhập từ thời Nguyễn.

Đúng là chỉ béo lũ cơ hội ! Lợi dụng lúc tình hình trong nước và quốc tế rối ren, kinh tế chính trị đều khủng hoảng, họ bảo nhau tìm ra các nguyên nhân để khắc phục.

Tệ hại nhất là có những người được mệnh danh là nhà "nghiên cứu văn hóa", "nghiên cứu khoa học", họ chẳng cần tìm hiểu nguyên nhân kinh tế, chính trị, xã hội ra sao, thấy tiện nhất là đổ lỗi cho phụ nữ, gia đình và đám học trò "bất trị" rồi hô hào "phục hồi tứ đức", phụ nữ phải trở về giữ mái ấm gia đình mà làm tròn "thiên chức". Khẩu hiệu dạy thật tốt, học thật tốt của Cụ Hồ được hạ xuống rồi thay bằng "Tiên học lễ, hậu học văn".

Sau khi ông giáo sư Léon Vandermessch - cựu giám đốc học viện Viễn Đông bác cổ - mang từ phương trời Tây tới một tác phẩm chứa đầy những nhận định và quan điểm sai lầm nhằm cổ động cho 5 con rồng châu Á và hô hào Việt Nam ta cũng mau mau noi gương mà phục hồi Khổng giáo và Tân khổng giáo để sớm hóa rồng; Thế là nhiều giáo sư học giả của ta vội vã hưởng ứng nhiệt liệt. Người thì kêu lên : mấy chục năm qua ta bỏ học Khổng giáo và chữ vuông là cắt đứt mất truyền thống và làm cạn kiệt nguyên khí quốc gia (Phan Ngọc, Mai Quốc Liên); người thì khuyến cáo các vị lãnh đạo trung ương và chính phủ ta nên mặc quốc phục khăn đóng áo dài cải tiến (Bộ Văn hóa); người thì khẳng định Cụ Hồ là người "tắm trong biển thánh"; như thế nghĩa là ta mà có quay lại với Đức thánh Khổng thì cũng vẫn là đang đi theo con đường Cụ Hồ.

Ít người bạo được như ông giáo sư tiến sĩ Đỗ Huy dám viết thành văn bản cái ý mà mấy vị khác chỉ dám xì xào truyền khẩu : hai cuộc kháng chiến vừa qua đã làm hại văn hóa, cản trở văn hóa dân tộc phát triển (*1 & 2).

Riêng ông Trần Trọng Tân thì lại rẽ sang hướng khác. Ông cổ động cho Kitô giáo và chữ Quốc ngữ và gián tiếp khuyến cáo ta nên tri âm các vị cố đạo phương Tây và học tập Kitô giáo mà gia tăng thêm "tình người" (*3). Giáo sư Phan Ngọc lại còn biện hộ không công cho chủ nghĩa bành trướng phương Bắc và chủ nghĩa thực dân cũ phương Tây (*4).

Kinh hoàng nhất là tiến sĩ giám đốc sở VHTT TPHCM lại hô lên ở giữa một hội thảo khoa học về văn hóa rằng : tình hình văn hóa xuống cấp rất trầm trọng, phải làm thế nào cho "mọi người dân" không rơi vào xô bồ "mất gốc" (*5). Lại có người nhận định rằng phim ảnh của các nước rồng tuy có bạo lực, tình dục chút ít nhưng thể hiện được tinh thần lễ giáo, văn hóa, phép tắc Á Đông, nên để nó góp phần giáo dục tư tưởng cho thanh niên. Do đó có thời kỳ người ta ào ạt nhập phim Đài Loan, Hàn Quốc và đặc biệt mời cả nhà tư tưởng, chính trị Lý Quang Diệu sang ta và in luôn Tuyển tập bài viết của ông về phép trị dân, trị nước. Đủ hiểu trào lưu học tập 5 con rồng hào hứng đến thế nào. Cũng may là chưa có pháp lệnh ban hành đánh roi trong nhà trường cũng như ở nơi công cộng. Chỉ có dăm ba thầy cô tự phát "vận dụng" nên đã bị dư luận xã hội phản ứng (còn trong các trại giam thì hình hình cụ thể như thế nào chúng tôi chưa có điều kiện điều tra). Các xuất bản phẩm : vụ án, tình dục, bói toán .... cũng ào ạt xuất hiện trên thị trường sách và tiếp tục lai rai cho đến nay.

Người ta chỉ thấy tội ác của chủ nghĩa thực dân mới chứ ai dám bắt lỗi những luận điểm gớm ghiếc của mấy vị học giả kia.

Thế là ta tưởng trở về với cội nguồn theo kiểu đó, lục lại những tín điều Khổng giáo và giáo lý của các tôn giáo thì sẽ ổn định được xã hội, ổn định được kỷ cương phép nước, nhưng tình hình đã rối càng thêm rối.

Chúng tôi từng nhắc đến một tình hình đặc biệt khó khăn của Việt Nam ta. Cách mạng tư sản Pháp 1789 chỉ phải chọi với một đối tượng là hệ ý thức tư tưởng phong kiến để củng cố hệ ý thức tư tưởng tư sản. Giả thiết, nay các nước tư bản phát triển như Mỹ, Anh, Pháp có làm cách mạng vô sản thành công thì giai cấp vô sản ở đó cũng chỉ phải chọi nhau với một đối tượng tức hệ ý thức tư tưởng tư sản mà thôi. Còn ta cùng một lúc phải chọi nhau với hai đối tượng : cả hệ ý thức tư tưởng tư sản lẫn hệ ý thức tư tưởng phong kiến. Một thời, chúng ta tưởng nhầm rằng hệ ý thức phong kiến chỉ là tàn dư. Thực ra không phải, mới chỉ là sự thoái lui, mai phục, khi có thời cơ là trỗi dậy không kém phần mạnh mẽ. Đặc biệt, hệ ý thức tư sản, về nguyên tắc, là không đội trời chung với hệ ý thức phong kiến, nhưng khi vì lợi ích chung lại sẵn sàng "liên minh thần thánh" với nhau. Ta tiến công anh A thì anh B lên tiếng ngay : cứ hiện đại hóa cho lắm vào, toàn là mất gốc, bỏ truyền thống dân tộc, phủ nhận sạch trơn quá khứ, mất hết lễ giáo kỷ cương. Nghe họ, có lúc ta đã khôi phục nhiều cái cũ một cách vô nguyên tắc, sinh nhiều tệ nạn. Khi ta sửa gáy anh B thì anh A cũng lập tức lên tiếng : cứ luyến tiếc ôm ấp quá khứ thì làm sao hiện đại hóa nổi, 30 năm chiến tranh qua lâu rồi, các anh còn nhắc lại làm gì, giai cấp đấu tranh lỗi thời rồi, Cụ Hồ với Mác Lênin cũng lỗi thời rồi; cứ khư khư bảo thủ thì làm sao hội nhập được với thế giới hiện đại, các nước trong khu vực của anh có ai phải kháng chiến gì đâu mà sao họ phát triển nhanh thế .... Nghe họ nên nhiều người trong ta bảo nhau : thôi đừng cứng rắn quá, phải "thoáng" đi chứ ! Chiến thắng oanh liệt của quá khứ cũng nhắc vừa phải thôi. Mình đang giao lưu thân thiện với họ, không cẩn thận thì ảnh hưởng đến viện trợ ODA và ảnh hưởng cả đến việc cho vay của Ngân hàng thế giới.

Thế là họ "thoáng" đến mức trong bộ từ điển Bách khoa Việt Nam, họ bỏ luôn các mục từ : chiến thắng Như Nguyệt, chiến thắng Chi Lăng, chiến thắng Rạch Gầm Xoài Mút, chiến thắng Đống Đa và tiện thể bỏ luôn cả chiến thắng Điện Biên Phủ 54 và chiến thắng giải phóng Sài Gòn 75.

May sao họ còn sợ Đức thánh Trần nên ghi chiến thắng Bạch Đằng của Người đúng 7 dòng (tức 3 dòng rưỡi của khổ sách). Ai không tin xin mời mở ngay từ điển Bách khoa tập I mới xuất bản năm 97 mà coi.

Để khỏi lộ liễu, họ cũng tỏ ra quan tâm đến quá khứ. Nhưng quá khứ nào ?

Họ rủ nhau rửa mặt, chạy tội "cõng rắn cắn gà nhà" cho vua Gia Long. Họ ca tụng luật Gia Long; họ bào chữa tội giết anh và tội đàn áp cuộc khởi nghĩa Đoàn Trưng và hàng trăm cuộc khởi nghĩa nông dân của vua Tự Đức, họ ca tụng vua Minh Mệnh có công Hán hóa tất cả chục ngàn tên làng xã trong cả nước và bắt toàn thể phụ nữ vùng văn minh lúa nước sông Hồng bỏ váy mặc quần cho đúng với kiểu nhà Thanh.

Thế là luật Gia Long rập đúng khuôn mẫu luật Mãn Thanh, rồi bên kia Đại Thanh nhất thống chí thì bên đây cũng Đại Nam nhất thống chí, bên kia Thông giám cương mục thì bên đây cũng Thông giám cương mục, rồi Tử Cấm thành, điện Thái Hòa, điện Cần Chánh nhất nhất đều rập khuôn một cách "sáng tạo" (sửa sang lại còn chưa đủ, lại còn định bảo nhau phải phục chế lại điện Cần Chánh làm sao phải giống hệt cái điện Cần Chánh đã mất). Ngay hàng trăm bài thơ chữ Hán (không hề có một bài chữ Nôm nào) khắc trên điện Thái Hòa, toàn là "đạo" các tứ thơ từ đời Hán, đời Đường, ngay thời Pháp thuộc và thời Mỹ ngụy cũng chẳng có học giả nào dám lên tiếng ca tụng, thế mà bây giờ lại xúm vào khen nức khen nở.

Trên đài truyền hình TPHCM lại xuất hiện các vị học giả (giáo sư Hoàng Như Mai, tiến sĩ Mai Quốc Liên) bốc thơm các vị vua Nguyễn thành những ông vua văn hóa của dân tộc. Sợ nhất là tạp chí Kiến thức ngày nay - phụ trương của Hội nhà văn TPHCM) đã mấy lần in ảnh ông cựu hoàng Bảo Đại và bà cựu hoàng hậu Nam Phương, lại còn ca tụng bà Nam Phương xứng đáng là "mẫu nghi thiên hạ". Chẳng hiểu học giả Nguyễn Đắc Xuân lục được ở đâu ra lời kêu gọi chống Pháp của bà Nam Phương, thế là cũng làm ầm ĩ lên một hồi (chưa thấy đưa chứng cứ cụ thể cho mọi người thực mục sở thị). Đáng kinh ngạc và đáng sợ nhất là báo An ninh thế giới của Bộ Công an ta lại còn chường mặt vợ chồng ông bà cựu hoàng lên hẳn trang nhất. Gần đây, trên mặt báo Sài gòn giải phóng lại còn nhắc lại câu : "Trẫm làm dân một nước độc lập còn hơn làm vua một nước nô lệ ", và lại còn bảo câu nói đó đang còn âm vang trong lịch sử. (*). Có lẽ họ - Ban biện tập báo SGGP không biết rằng câu nói của ông Bảo Đại chẳng qua là do ông Trần Huy Liệu, trưởng đoàn đại biểu Chính phủ lâm thời lúc bấy giờ mớm cho. Và chính ông cựu hoàng này cũng đã nhả ngay câu nói đầy ý nghĩa này ra để một lần nữa lại cam tâm làm một ông Quốc trưởng bù nhìn cho kẻ thù của dân tộc.

Lại còn Hội đồng KHXH TP. mới đáng lạ. Chính nhà chí sĩ yêu nước kiêm sử gia Phan Bội Châu đã viết rành rành trong cuốn Việt Nam vong quốc sử của cụ rằng : Bà Từ Dũ (mà cụ gọi khinh thường là mụ) cùng với vua Tự Đức, cả hai mẹ con bàn với Nguyễn Văn Tường thông đồng với giặc. Có người đưa chứng cứ này ra thì Bệnh viện Từ Dũ đã đổi tên thành Bệnh viện Phụ Sản. Thế mà các vị này chưa hề đưa chứng cứ và lập luận để chứng minh được rằng cụ Phan Bội Châu nhận định như thế là sai. Không hiểu Hội đồng này thuyết phục thế nào mà Bộ Y tế và UBND TPHCM lại phục hồi khắc 4 chữ vàng "Bệnh viện Từ Dũ" treo trở lại. Thế là một loạt vị lại đua nhau "ăn theo" viết sách, báo, lên truyền hình ra sức ca tụng công lao đức độ của bà Từ Dũ, lờ hẳn chuyện bán nước. Rút cục việc mất nước, hồi đầu thế kỷ này chẳng có ai phải chịu trách nhiệm. Vài ba sử gia hiện đại rất có uy tín của ta như GS Phan Huy Lê kết luận việc mất nước là tất yếu. Thế là xong, khỏi bàn cãi.

Theo ý chúng tôi, nếu Bộ Y tế cứ giữ tên Từ Dũ là quyền của Bộ. Nhưng nên đổi tên các Bệnh viện Trưng Vương, Nguyễn Tri Phương, Phạm Ngọc Thạch cho khỏi vàng thau lẫn lộn.

Các vị này cùng với mấy người làm báo chơi trò câu khách rẻ tiền kia chẳng lẽ lại không hiểu rằng việc làm của họ tác hại đến trận địa văn hóa tư tưởng và gây nhiễu một cách đáng sợ như thế nào chăng ?

Vài năm gần đây, mấy ông nghiên cứu sử học, dân tộc học (GS Mạc Đường, TS Đinh Văn Liên ....) ở Viện KHXH TPHCM lại chơi thêm trò hội thảo quốc tế Việt Nhật : Họ hoa tay múa lưỡi một lúc : thế là "phát xít Nhật" thành "người Nhật", "xâm lược" thành "hiện diện", "hai triệu đồng bào chết đói năm 45" còn có "hơn một triệu", "Viện trợ Nhật cho ngụy quyền Sài Gòn thành "Viện trợ nhân đạo cho nhân dân miền Nam". Và họ còn to gan lớn mật đến mức biến cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước vĩ đại của ta thành "một cuộc nội chiến".

Mới có mấy chục ngàn đô la mà trắng đen biến hóa lung tung. Họ quên mất rằng xuyên tạc lịch sử đã được ghi thành một tội danh trong luật. Và còn đạo lý nữa chứ !

Lại nói về Hội thảo quốc tế Việt Nam học lần đầu tiên được tổ chức ở thủ đô ta, 278 đại biểu quốc tế với 300 đại biểu trong nước. Thế mà ban tổ chức Hội thảo không dám treo quốc kỳ, quốc huy thậm chí tượng Cụ Hồ cũng cất biến đi. Trên chủ tịch đoàn không thấy một đại biểu nữ khoa học Việt Nam nào. Thảo luận thì có đủ các thứ tiểu ban về đủ thứ vấn đề nhưng tiểu ban thảo luận về danh nhân văn hóa Hồ Chí Minh thì lại không có. Dư luận bàn rằng Hội thảo về Việt Nam, về văn hóa Việt Nam mà không thảo luận về nhân cách văn hóa kiệt xuất của Việt Nam và thế giới tức là nhân cách văn hóa Hồ Chí Minh thì làm thế nào để hiểu thấu nổi bản sắc văn hóa Việt Nam. Dù "hữu hảo" đến đâu, dù "thoáng" hay "mềm dẻo" đến đâu cũng phải bảo tồn lấy bản sắc mà phát triển chứ ? Tưởng cũng nên cân nhắc lại xem, có nên vì vài trăm ngàn đô tài trợ mà phải "thoáng" đến mức thế chăng ? Dứt khoát không được phép bảo thủ nhưng cũng dứt khoát không được phép vô nguyên tắc. Hội thảo về mình, ngay trên đất nước mình mà còn thiếu tự tin, tự trọng đến như thế, thử hỏi khi lại hội thảo về mình trên đất nước người thì miệng lưỡi khoa học, miệng lưỡi văn hóa của chúng ta còn phải uốn éo ra sao cho vừa tai, đẹp ý những người mua vé máy bay và lo chỗ ăn ở cho mình.

Nói bao nhiêu lại đau lòng bấy nhiêu !

Thế mới biết Cụ Hồ tiên tri giỏi thật !

Ngay từ những năm đầu cách mạng và kháng chiến, Cụ đã tiên đoán cái tình trạng "lại tổ", "lại cái" của cán bộ đảng viên ta. Cụ đã bảo phải đề phòng bệnh công thần, bệnh quan cách mạng, bệnh tham nhũng, óc lãnh tụ, óc bè phái, óc cục bộ địa phương. Đặc biệt là óc quan liêu, cửa quyền, đè đầu cưỡi cổ nhân dân.

Rõ ràng, trong Đảng ta có những người thì vô tình, có rất nhiều kẻ cố ý quên đi những lời dạy của Người.

Trong nhân dân ta cũng có những bộ phận phạm sai lầm và phải chịu trách nhiệm về tình trạng tồi tệ của nhiều cán bộ đảng viên thoái hóa hiện nay vì đã quên đi cái vị thế rất quan trọng mà Cụ Hồ và cách mạng đã trao cho mình : nước ta là một nước dân chủ, nhân dân là người chủ đất nước, tất cả mọi quyền bính đều thuộc về nhân dân.

Thế mà, có lẽ do đã phải sống quá lâu, hàng ngàn năm phong kiến và hàng trăm năm thuộc địa nên đã ngấm vào máu cái ý thức làm thân phận nô lệ. Do đó luôn nghĩ rằng dù thế nào mình cũng vẫn là phận dân đen con đỏ. Làm cách mạng xong thì coi như được làm "phó thường dân". Cứ mặc cảm tự ti một cách đáng thương như thế nên nhìn lũ đầy tớ của mình thành quan phụ mẫu, thành tân quan cách mạng cả. Để cho lũ tiêu cực tham nhũng cường hào mới, nhúng nhắng múa máy hoạnh họe đè nén bằng ấy năm trời cũng là có phần lỗi tại mình chứ đâu chỉ lỗi tại Đảng hay Chính phủ. Mình là công dân thì mình phải học tập Hiến pháp, luật pháp, nắm cho vững mà làm tròn nghĩa vụ và quyền hạn của CÔNG DẤN. Ở vị thế công dân, anh phải tôn trọng Đảng, Chính phủ, tôn trọng những người được giao quyền lãnh đạo, quyền quản lý đất nước. Nhưng chớ có quên lời Cụ Hồ dạy : "Đảng vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành của nhân dân" (Di chúc). Đảng viên nào chỉ nhớ vị thế thứ nhất mà quên đi vị thế thứ hai thì có trách nhiệm nhắc nhở họ. Nhắc nhở mãi mà họ vẫn không nhớ, vẫn ngoan cố hoành hành ngang ngược, tự tung tự tác thì phải kiến nghị với chính phủ "đuổi" chúng đi. Cụ Hồ đã nói : Chính phủ không tốt, nhân dân còn có quyền đuổi đi huống chi ba lũ sâu mọt, bất lương, phản chủ, phản quốc này.

Ở điểm này, Dân với Đảng lại phải bàn bạc với nhau thật thấu đáo xem những kẻ nào đáng bị đuổi đi, những kẻ nào đáng được giữ lại để giáo dục dần dần.

Đành rằng dân ta anh hùng thì cả thế giới đều đã biết tiếng. Tần, Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, Pháp, Nhật rồi lại Pháp, rồi siêu cường Mỹ, rồi bành trướng ...., rồi cả đám mạt Lý, mạt Trần, mạt Lê, mạt Nguyễn có kẻ xấu, kẻ ác nào mà Dân này tha không đuổi đi.

Ném chuột, đuổi chuột nhưng không được để vỡ lọ quí. Hắt nước bẩn nhưng chớ hắt cả đứa con yêu của mình. Không phải chỉ bảo nhau học lại lời Cụ Hồ đã đủ. Học phải đi đôi với hành, nghĩa là phải chân thành thẳng thắn bàn bạc với nhau, tránh cái thói mà Cụ Hồ đã phê phán : "Không nói trước mặt hục hặc sau lưng". Bất cứ trong hoàn cảnh như thế nào cũng không được làm hỏng nghiệp lớn. Ai không có tâm thành bàn bạc để cho nghiệp lớn đổ vỡ, hẳn những kẻ đó vĩnh viễn đắc tội với Đức Tổ Hùng Vương và Đức Thánh Hồ cũng như bao đấng bậc anh hùng tiên liệt và hàng trăm thế hệ đã đổ mồ hôi, đổ xương đổ máu vì sự tồn tại của đất Việt này.

Nên nhớ rằng, khi nhân dân ta thờ Đức Thánh Hồ Chí Minh không phải chỉ trong đền đài mà ở trong lòng mỗi người thì không được coi đó là sự mê tín. Ngược lại, đó là một niềm tin hết sức sáng suốt, một tâm thế rất cao của toàn thể dân tộc trong suốt trường kỳ lịch sử. Thờ thần thánh, tổ tiên ở đất Việt này là cả một nghệ thuật kiến trúc đời sống tâm linh một cách kiên cố nhằm bảo tồn bản lĩnh Việt và thắng mọi lực lượng chống Việt. Hình thức thờ cúng có thể theo thời gian mà thay đổi cho phù hợp với thời đại. Còn tâm linh thờ cúng thì muôn đời sau cũng không biến đổi và cũng không một lực lượng nào có thể cưỡng ép người ta biến đổi. Và dân ta thì thừa dân trí để hiểu rằng cần thờ ai và không cần thờ ai. Xin phép được hỏi các vị giáo sư và tiến sĩ : vừa qua, có nơi nào lập đền thờ ngài Gia Long (ngoài hoàng tộc ở Huế) xin vui lòng chỉ cho chúng tôi được rõ. Còn vua Quang Trung người ta vẫn thờ, mặc dù cứ phát hiện ra là chết chém. Cũng nên nghiên cứu thêm để hiểu thấu hơn nữa, chính xác hơn nữa hiện tượng cả nước thờ Đức Thánh Trần và Đức Thánh Mẫu : Tháng Tám giỗ Cha, tháng Ba giỗ Mẹ

Người xưa nói rằng : cứ 500 năm mới có thánh nhân xuất hiện. May mắn thay, tính từ anh hùng dân tộc Quang Trung, chưa đầy 200 năm, đất nước đã xuất hiện thánh nhân mới. Mà Hồ Chí Minh của chúng ta đúng là một hiện tượng lạ trong những hiện tượng lạ hiếm có trên đời. Có lẽ lịch sử nhân loại cũng chưa ghi nhận được hiện tượng nào tương tự. Trong hơn nửa thế kỷ đấu tranh quyết liệt của Người, mọi phương tiện truyền thông hiện đại của kẻ thù và cả những kẻ thù chính trị đầu sỏ của đối phương và bộ máy tâm lý chiến của họ cũng bảo nhau không xúc phạm đến Người mà chỉ nghiêng mình thi lễ và bày tỏ lòng cảm phục (Đọc những hồi ký gần đây của các nhân vật chính trị, quân sự ở Pháp, ở Mỹ, người ta càng thấy rõ hơn điều đó).

Chúng tôi đã hơn một lần nhắc đến sự kiện đại biểu của 183 nước trong tổ chức UNESCO của Liên hiệp quốc với các khuynh hướng triết học, chính trị, tôn giáo khác nhau, đã nhất trí bỏ phiếu bầu, tặng Người danh hiệu "Người anh hùng giải phóng dân tộc" và "Danh nhân văn hóa kiệt xuất" của thế giới.

Đó là sự công bằng của lương tri loài người. Mãi mãi chúng ta và các thế hệ con cháu chúng ta có quyền tự hào rằng Hồ Chí Minh kính yêu của chúng ta không chỉ sống trong lòng Dân tộc mà còn sống trong lòng Nhân loại. Chúng ta còn phải tiếp tục với trách nhiệm làm sáng danh Hồ Chí Minh, làm sáng danh Việt Nam.

Nhưng phải bằng cách thực hiện đúng ý nghĩ cao cả và tốt đẹp của Người chứ không phải bằng mồ to mả đẹp. Nếu làm nhầm, làm sai ý Người thì phải có can đảm sửa. Chúng ta đề nghị Tổng cục thống kê và Bộ Tài chính thử tính sổ xem 30 năm qua, ta đã tiêu tốn vào lăng Người tổng số là bao nhiêu tiền của. Và từ nay đến hết năm 2000, chúng ta dự toán sẽ chi tiếp là bao nhiêu. Và thử đem riêng ngân sách dự chi cho năm 2000 xem có thể xây được bao nhiêu trường học cho 1000 xã hãy còn trắng về giáo dục ở vùng cao. Có thể xây được bao nhiêu căn nhà để nuôi trẻ mồ côi đang lang thang ở các đô thị (vừa nuôi vừa dạy nghề cho các cháu), có thể xây bao căn nhà dưỡng lão cho người già lão cô đơn không nơi nương tựa. Có thể xây bao nhiêu nhà thương làm phúc chữa bệnh cho người nghèo. Nếu dự toán ngân sách cả 5 năm hoặc 10 năm tới thì ta sẽ giải quyết được những phần gì trong ý nguyện của Bác : ai cũng có cơm ăn, áo mặc và được học hành.

Vậy, còn ngần ngại gì mà không bàn nhau đưa ra nghị quyết vâng theo lời Bác mà thiêu di hài Bác. Chỉ xin thưa với Bác là cho phép chia làm bốn. Ba phần làm theo đúng lời Bác, còn một phần thì để lại ở lăng, có đặt một đỉnh hương trầm và một bát hương lớn để cho bà con trong nước và bạn bè quốc tế đến thắp hương lễ Bác. Lăng thì nên sửa sang lại phần bên trong để bày các hiện vật nói về cuộc đời hoạt động của Bác. Tức là lăng sẽ trở thành Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh. Binh đoàn gác lăng Bác thì có thể chuyển về sản xuất, làm thế "ngụ binh ư sản xuất". Chỉ cần giữ lại vài ba chục người để trông coi việc quét dọn lăng và giữ việc hương khói là đủ. Hẳn Bác ở dưới suối vàng cũng ngậm cười thấy rằng con cháu và Trung ương Đảng đã làm theo đúng ý nguyện của mình và đất nước chắc chắn sẽ qua được "vận sái" sẽ lành mạnh, no ấm và phát triển nhanh chóng.

Nhân đây, chúng tôi cũng trân trọng kiến nghị : tất cả các đ/c ủy viên Bộ Chính trị và Trung ương Đảng ta, dù cũ dù mới, nên làm theo lời di chúc của Bác đối với bản thân mình, thay việc chôn cất mồ mả bằng hình thức hỏa táng hoặc điện táng. Lời Người đã khuất mà sai thì không nên theo, nhưng đúng thì nhất thiết phải theo, phải thực hiện nghiêm túc.

Lời Bác dạy, khi chết nên hỏa táng, lợi ích về mọi mặt như thế nào chắc không cần bàn thêm. Mấy năm qua, chính phủ ta đã cho lệnh nhập công nghệ điện táng (Hà Nội) và công nghệ hỏa táng (TPHCM), nhưng công suất của cơ sở Hoàn Vũ ở Thủ đô còn rất thấp. Nếu Bộ Chính trị, Trung ương ta và các đồng chí đảng viên tiên tiến, tiên phong gương mẫu kế theo tầng lớp các nhà khoa học, các văn nghệ sĩ chân chính, các trí thức ưu tú v.v. nghĩa là những tầng lớp được coi là ưu tú, tinh hoa của đất nước nối gót theo, hẳn chẳng bao lâu chúng ta sẽ phục hồi được một thuần phong mỹ tục đã hình thành từ thời Lý Trần. Đây thực sự là một sự "về nguồn" đầy ý nghĩa khoa học, thực tiễn, vừa hiện đại lại vừa rất dân tộc. Nếu cần, Trung ương ta nên họp bàn và ra một nghị quyết hẳn hoi - Nghị quyết này dứt khoát sẽ gặp phải sự chống đối nhưng tin rằng chúng ta thừa lý luận và thực tiễn để thuyết phục những người chống đối. Cứ xem lệnh cấm pháo của chính phủ Võ Văn Kiệt thì biết, thấy lợi ích là nhân dân hưởng ứng ngay, răm rắp tuân theo ngay. Một số người luyến tiếc phong tục cổ truyền ngấm ngầm vi phạm, sau khi bị trừng phạt cũng dần dần tỉnh ra. Thay đổi phong tục tập quán lạc hậu tức là thay đổi thói quen của hàng triệu người, đòi hỏi bản lĩnh lớn và tinh thần quả quyết.

B- Trong bài "Chính đốn để tồn tại và phát triển" chúng tôi đã nói rằng chúng ta phải xem xét nhận thức lại cái cơ chế : "Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, nhà nước quản lý".

Trước đây, chúng ta đã nhất trí hoàn toàn với nhau về cơ chế này. Nếu tất cả đều suôn sẻ, xuôi chèo mát mái, chẳng có gì cần bàn thêm. Nhưng thực tiễn hoạt động và thực tế xã hội chứng tỏ rằng nếu không duyệt lại nhận thức và sửa lại cơ chế thì dứt khoát không ổn.

Trước hết, hãy nói về sự cầm quyền của Đảng. Từ xưa tới nay, vai trò độc quyền lãnh đạo được chúng ta nhấn đi nhấn lại, coi đó là một chân lý tuyệt đối, nhất thành bất biến. Đó là một điều đúng, nhưng rất tiếc có nhiều người lại nhận thức một cách rất sai. Trong khi họ vẫn tự nhận rằng họ trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh nhưng trong suy nghĩ và hành động, họ đều tỏ ra phi biện chứng Mácxít.

Mác cũng như tất cả các nhà duy vật chân chính đã khẳng định rằng trên đời này không có cái gọi là chân lý tuyệt đối. Và có lẽ chỉ có nhận thức đó là mang ý nghĩa chân lý tuyệt đối. Còn lại tất cả chỉ là chân lý tương đối mà thôi.

Kiến thức sơ đẳng nhất mà ai đã học về phép biện chứng đều phải biết : mọi vật đều biến chuyển theo hướng hoặc đi lên (phát triển) hoặc đi xuống (suy vong). Đó là qui luật của muôn đời. Các quá trình phát triển, suy vong có thể nhanh hay chậm là tùy thuộc vào chủ thể và vào môi trường. Trong môi trường xã hội loài người thì chủ thể đó là con người. Không nói thì ai cũng biết, con người hiện nay là kết quả của quá trình phát triển tiến hóa của hàng triệu năm. Nếu tính nguồn gốc của người cũng như mọi thứ sinh vật trên hành tinh này thì nguồn gốc và quá trình phát triển sự sống lại phải tính đến hàng chục, hàng trăm triệu năm. Điều đó chưa rõ vì khoa học còn đang tiếp tục khảo sát. Điều mà khoa học đã chứng minh được đó là sự sống bắt đầu bằng tế bào. Mặc dù tế bào chưa hề có cái gọi là ý thức hay tư duy thì cũng đã "ý thức" được rằng phải tách đôi, lại phải cứ thế mà tách đôi tiếp. Nhờ có quá trình tách theo cấp số nhân liên tục của tế bào một cách tự nhiên như thế mà có chúng ta ngày nay và đủ các thứ chúng ta chén được để mà tồn tại và phát triển.

Ngừng phát triển có nghĩa là ngừng tồn tại và là hủy diệt hoặc tự hủy diệt. Việt Nam ta không chịu bị hủy diệt và cũng không ngớ ngẩn đến mức tìm cách tự hủy diệt mình nên đã không ngừng tìm đường để có thể phát triển.

Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường cho Việt Nam phát triển. Tất nhiên phải trả giá bằng 30 năm xương máu, đó là những điều chúng ta không muốn. Nhưng chúng ta không thể làm khác. Chính những sử gia thế giới trong đó có sử gia người Pháp nổi tiếng De Villers trong tác phẩm của mình (Sài Gòn - Paris - Hà Nội), bằng những dữ liệu chính xác và đầy đủ đã chứng minh rằng năm 1946, Cụ Hồ Chí Minh bị giới chính trị và quân sự Pháp dồn vào thế buộc phải phát động cuộc chiến tranh vệ quốc. Cụ Hồ là người yêu hòa bình và không muốn chiến tranh. Thế mà đến năm 1995, tại hội nghị quốc tế Việt Nam học ở Aix-En-Provence, trong tham luận của mình, tiến sĩ thần học Nguyễn Văn Trung lại có ý bác bỏ cuốn sách với những luận điểm đúng của De Villers mà không đưa ra chứng cứ gì. Trong nghiên cứu khoa học, người ta không chấp nhận chuyện hồ đồ như thế. Một lần nữa cũng xin thưa với tiến sĩ triết học Đỗ Huy và những ai còn cho rằng 30 năm kháng chiến của chúng ta là cản trở sự phát triển văn hóa thì cũng nên nghĩ lại.

Vừa qua, Đại hội VI cũng đã tìm ra được con đường phát triển. Chỉ tiếc rằng nếu biết nghe đ/c Kim Ngọc và nhân dân Vĩnh Phú sớm hơn thì đâu có phải trả giá một cách vô ích như thế. Cũng có những nhà lý luận cãi rằng : do hoàn cảnh kháng chiến nên buộc phải giữ lại hợp tác xã mặc dù biết nó có nhiều khuyết tật. Vậy, chúng tôi xin thưa rằng nếu biết khoán như Kim Ngọc là đúng thì tại sao sau ngày đại thắng không khoán ngay để đến nỗi cuộc khủng hoảng trì trệ kéo dài 10 năm liền (1976-1986). Phải nói thẳng rằng khoán chậm cũng như làm 5 thành phần kinh tế chậm và nhiều thứ chậm chạp khác là do nhận thức sai lầm về mặt lý luận chứ không thể chỉ đổ cho khách quan, hoàn cảnh thế này, hoàn cảnh thế nọ. Cũng đáng tiếc cho đ/c Trường Chinh vĩ đại, giá như khi nhận ra sai lầm, đ/c Trường Chinh dám công khai xin lỗi đ/c Kim Ngọc, tỉnh ủy và nhân dân Vĩnh Phú thì hẳn là đ/c còn vĩ đại hơn nhiều. Nhân dân ta vốn rất độ lượng, các cụ đã từng dạy : trước không phải, sau phải vẫn nên coi là phải", "đánh kẻ chạy đi không ai đánh người chạy lại".

Nhân đây, chúng tôi cũng nhắc đ/c Tố Hữu và những ai đã tham gia đánh vụ nhân văn giai phẩm cũng nên can đảm xin lỗi những người bị đánh oan. Không nên để những người còn sống như Lê Đạt, Hữu Loan, Thái Vũ, Hoàng Cầm, Phù Thăng, Văn Tâm .... và những người đã mất như Văn Cao, Trần Dần, Phùng Quán .... cùng với gia đình con cháu họ cứ phải ngậm hờn, ai oán mãi mãi.

Tiếc rằng đ/c Lê Đức Thọ và những người tham gia vụ tiêu diệt "nhóm xét lại Hoàng Minh Chính" hầu hết đều đã không còn nữa. Vậy thì Trung ương hiện nay của ta nên giải quyết cho rành mạch.

Vừa qua, nhân chuyến đi công tác Hà Nội, chúng tôi có dịp tiếp xúc với ông Hoàng Minh Chính và các ông Trần Độ, Lê Hồng Hà, Hoàng Hữu Nhân, Hoàng Tiến, Thanh Giang, Nguyễn Kiến Giang v.v. . . nghĩa là những người từng bị bắt giam hoặc mới bị khai trừ Đảng, với mục đích tìm hiểu xem họ đúng sai ra sao. Về mặt quan điểm tư tưởng, phương pháp và cách thức trình bày những quan điểm của họ có điểm chúng tôi tán thành, có điểm chúng tôi không tán thành. Chúng tôi đã thẳng thắn tranh luận với họ và nghĩ rằng còn cần phải tiếp tục tranh luận. Nhưng cần phải công bằng mà nhận định rằng, họ đều là những con người trung thực, có trí tuệ, có tâm huyết đối với dân tộc và cách mạng. Có thể họ sai, có thể chúng tôi sai. Cần có thời gian, biết lắng nghe nhau và biết chờ đợi thuyết phục nhau. Không ai có thể giữ độc quyền đúng hoặc độc quyền sai. Không được phép áp đặt cho nhau. Trong lĩnh vực tư tưởng càng phải tôn trọng nguyên tắc và luật pháp. Không được dùng biện pháp hành chính hoặc hình pháp một cách tùy tiện. Ngay giai cấp tư sản và chế độ tư bản cũng không dám tùy tiện. Nếu không thì đ/c Mác và đ/c Ắnghen của chúng ta làm sao ngồi yên mà viết sách chống họ và xuất bản ngay trước mũi họ. Và chắc nhiều người chưa quên khi bộ máy chuyên chính của giai cấp tư sản Pháp động đến nghị sĩ cộng sản Jacque Duclos thì cả nước Pháp làm ầm lên như thế nào. Cả thế giới tiến bộ lên tiếng phản đối như thế nào. Anh còn nhận anh là dân chủ, bắt buộc anh phải chùn tay. Còn khi anh đã đi vào con đường phát xít hóa như Đức, Ý, Nhật thì anh tiêu vong.

Giai cấp tư sản Pháp và đảng cầm quyền ở Pháp lúc bấy giờ hiểu rằng phải dừng lại ở đâu, không dám làm bừa làm tới. Cũng lạ cho các đảng cộng sản trong phe ta, nhiều khi không tính rõ tương quan rồi cũng chẳng biết nên dừng ở chỗ nào. Liên Xô, Trung Quốc trước đây cũng thế. Cứ bắt bớ, tù đày, bắn giết, thủ tiêu ngầm .... không đếm xỉa gì đến lẽ công bằng, đạo lý và pháp lý. Chuyện Nga thì còn xa xôi, thôi thì lấy ngay dẫn chứng ở cái nơi "núi liền núi, sông liền sông" với ta đây này. Thân danh làm đến ủy viên thường vụ Bộ Chính trị, làm đến chủ tịch nước, công lao hãn mã mấy ai bì kịp, thế mà Lưu Thiếu Kỳ được các chiến hữu chí thiết của mình giam cầm, đánh đập, hành hạ đến chết. Lúc hấp hối chỉ còn nắm da bọc xương và trút hơi thở cuối cùng dưới một mảnh bao tải rách giữa một mùa đông giá lạnh Trung Quốc. Đ/c Lưu Thiếu Kỳ và hàng chục triệu đảng viên cộng sản Trung Quốc khác chết đau đớn nhục nhã còn kém thân phận của những kẻ ăn mày. Càng xót xa hơn khi nghĩ đến tình cảnh gia đình, con cái cháu chắt họ bị ngược đãi. Chuyện Stalin và những thủ hạ của Stalin ngược đãi, giết hại những người đảng viên cộng sản Liên Xô như thế nào, những người có lương tri ở đó đã nói quá đủ rồi, ở đây không nói nữa.

Điều đáng nói là cho đến những ngày cuối thế kỷ, chúng ta vẫn chưa hết giật mình kinh hãi khi nghĩ đến một bộ máy cầm quyền vĩ đại như Đảng cộng sản Liên Xô mà phút chốc sụp đổ tan rã một cách thảm hại. Chúng tôi đã từng chê trách những người làm lý luận ở ta không chịu nhìn thẳng vào sự thật, khảo sát lơ mơ, phân tích theo kiểu khuôn sáo nên không giúp cho ta rút ra được những bài học thích đáng.

Ngoài ba nguyên nhân chủ yếu mà chúng tôi đã phân tích trong bài trước (bệnh chống qui luật, bệnh chống trí tuệ, bệnh kiêu ngạo cộng sản), chúng tôi xin nêu thêm một nguyên nhân nữa đã khiến cho Đảng cộng sản Liên Xô sụp đổ nhanh. Đó chính là điều 6 ghi trong Hiến pháp của nhà nước Xô Viết mà chúng tôi đã trích dẫn ở phần trên.

Đảng cầm quyền thì cứ việc cầm quyền chứ ghi vào Hiến pháp thế nào được. Giai cấp tư sản vốn bản chất là thô bạo nhưng phải công bằng mà khen họ ở điểm này là rất tế nhị. Thử hỏi khi họ không ghi vào Hiến pháp cái sự cầm quyền của họ nhưng có quyền lớn, quyền nhỏ nào trong thế giới tư bản lại vuột khỏi tay các ông chủ của những tập đoàn tài phiệt, quân phiệt, các công ty xuyên quốc gia. Giai cấp tư sản cũng thừa khôn ngoan để hiểu rằng bất cứ đảng Cộng hòa hay đảng Dân chủ, đảng Tự do hay đảng Xã hội thiên chúa giáo; đảng Xanh hay đảng Vàng ... dù cầm quyền thì cũng không bao giờ đủ số đảng viên có năng lực để rải khắp từ cấp chính phủ trung ương cho đến cấp phường xã cơ sở. Vả lại cái gương tày liếp cũng vẫn còn treo đó : các vị hoàng đế từng vỗ vào ngực : "Nhà nước là ta, pháp luật là ta" đều đã tiêu vong rồi. Dại gì mà làm trò quay ngược bánh xe lịch sử. Chẳng nhẽ các đ/c lãnh đạo Liên Xô trước đây lại không biết rằng : mình ở cấp trung ương mình hiểu biết, còn có thể tự kiềm chế; còn các vị đảng viên cấp cơ sở, lúc nào cũng giơ quyền ra rồi tùy tiện lạm quyền, lộng quyền thì ai ngăn cản nổi, dân nào dám động đến họ. Chúng tôi tin chắc rằng nhân dân Liên Xô không hề chán ghét lý tưởng cộng sản. Nhưng họ thật sự gớm mặt ba vị đảng viên hằng ngày hoạnh họe, bóp nặn, khinh khi họ. Dân chán đến mức thấy mặt đã ghét mà lại không sụp đổ thì mới là chuyện chưa từng có trong lịch sử loài người.

Vậy phải truy xét xem ai là người đã tham mưu cho Trung ương đưa điều 4 vào Hiến pháp của ta năm 1980 ? Họ nhầm : Họ không hiểu rằng chép lại cái điều 6 từ Hiến pháp Liên Xô thành điều 4 ở Hiến pháp Việt Nam là tạo điều kiện cho tiêu cực, tham nhũng mặc sức sinh sôi nảy nở. Chúng tôi trân trọng đề nghị Đại hội IX và Quốc hội khóa mới của ta nghiêm túc duyệt lại điều này, bàn xem có nên để điều 4 ở trên Hiến pháp nữa hay không.

Hồ Chí Minh của chúng ta tuyệt vời lắm. Hỏi nước ta ai có quyền to hơn Cụ, không những thế uy của Cụ còn vượt cả biên giới. Thế mà lúc nào cũng : "Tôi chẳng qua chỉ là một người lính được quốc dân giao phó trách nhiệm ra trận". Mà Dân ta biết Cụ nói chân thật. Cho nên Cụ bảo gì, ra lệnh gì mà không vâng theo. Cụ bảo phải đánh Pháp ta đánh Pháp. Cụ bảo lên Điện Biên Phủ, ta lên Điện Biên Phủ. Cụ bảo đánh Mỹ, ta đánh Mỹ. Cụ bảo phải cứu bà con ruột thịt miền Nam, phải hỗ trợ cho anh em bè bạn quốc tế, ta đi B, đi C. Cụ bảo miền Bắc có trách nhiệm chi viện miền Nam, thế là mẹ ta gạt nước mắt tiễn chồng, tiễn con lên đường và bát cơm mẹ xẻ làm tư.

Cụ Hồ thực thi quyền lực một cách có lương tâm, có đạo lý để phục vụ lý tưởng cao cả của dân tộc, đáp ứng nhu cầu của thời đại, làm sao những người có lương tri lại không tuân theo được. Còn nhiều đảng viên rất nhố nhăng, được giao phó một chút ít quyền lực thế là đã tưởng rằng mình thành ông vua con, ông giời con, coi thường nhân dân, coi thường tập thể, coi thường Trung ương, mặc sức hoành hành ngang ngược, xem địa phương, xem đất nước như một chốn rừng hoang, không kỷ cương, không luật pháp.

Quyền lực nhỏ mà đã láo lếu chơi luật rừng. Láo lếu chán rồi rủ nhau "ngự" Đường Sơn quán. Nhưng khi họ nắm được quyền lực lớn mới kinh khủng.

Cứ xem như trường hợp đ/c Lê Đức Thọ thì biết. Cho đến giờ phút cầm bút viết những dòng này, chúng tôi - và chắc rằng rất nhiều người khác - vẫn tin rằng Đảng ta không bao giờ nỡ đối xử với các thành viên của mình một cách quá đáng. Trung ương ta cũng không bao giờ nỡ đối xử với đồng chí, với cấp dưới của mình một cách nhẫn tâm, tàn bạo như thế. Hồi các ông được gọi là trong "nhóm xét lại chống Đảng" như Hoàng Minh Chính (viện trưởng Viện Triết học), Đặng Kim Giang (thiếu tướng quân đội nhân dân Việt Nam), Vũ Đình Huỳnh (vụ trưởng Vụ Lễ tân), Lê Liêm (thứ trưởng Bộ Giáo dục), Chu Văn Tấn (thượng tướng) bị xử trí, người thì bị tù đày, người thì bị khai trừ, quản thúc.

Nhân dân, trong đó có chúng tôi cứ yên chí họ là những phần tử chống Đảng thật sự, toan tổ chức vũ trang lật đổ chính quyền cách mạng hoặc thông đồng với ngoại bang chơi trò cõng rắn cắn gà nhà.

Cháy nhà mới ra mặt chuột. Nhờ đổi mới mà nhiều sự thật mới lòi ra. Chính nhờ đ/c Nguyễn Trung Thành, người hồi đó được đ/c Lê Đức Thọ và Trần Quốc Hoàn giao cho trực tiếp phụ trách tra xét vụ này, dư luận mới hiểu rằng mấy ông "xét lại" này chẳng qua có những quan điểm lý luận khác với các đ/c Lê Đức Thọ, Lê Duẩn chứ chẳng có tổ chức, có mưu đồ lật đổ ai. Mà những quan điểm lý luận này cũng chỉ mới tranh luận với nhau bằng mồm chứ chưa viết thành văn bản. Tất nhiên cũng chưa phạm tội tán phát tài liệu chống Đảng.

Có thể chúng tôi nhầm vì thiếu thông tin. Nhưng thực tế đã xác nhận rằng rất nhiều người, kể cả giới nghiên cứu KHXH không hiểu tường tận vụ việc này, nhưng vì nhát sợ nên cũng không dám điều tra tìm hiểu để đi đến kết luận chính xác. Chỉ biết rằng khi tiếp xúc với ông Hoàng Minh Chính, tranh luận một cách thân ái và thẳng thắn với ông cựu viện trưởng Viện Triết học này về chủ nghĩa xã hội và về vai trò của Đảng trong giai đoạn cách mạng mới, thì trước mắt chúng tôi là một con người tuy cao tuổi (80 tuổi) nhưng vẫn hết sức minh mẫn, cứng cỏi, hiểu biết rộng rãi sâu sắc cả sách vở lẫn cuộc đời. Chia tay với con người thanh nhã lịch thiệp này, ấn tượng còn lại vẫn là đã gặp một triết nhân đầy nhiệt huyết với dân tộc và cách mạng. Quái, một con người hồn hậu, dung dị lại giữ được bản lĩnh, bản sắc Việt Nam như thế, sao lại có thể thành phần tử xét lại chống Đảng được nhỉ. Mà về mặt lý luận xem ra ông còn có phần "chống xét lại". Thế mới biết việc đời, người đời không phải là điều dễ hiểu !

Với chúng tôi, ông Hoàng Minh Chính vẫn là một bậc cách mạng lão thành chân chính đáng cúi đầu thi lễ, nhưng vấn đề chủ yếu không phải ở chỗ đó. Vấn đề chủ yếu là ông Hoàng Minh Chính và tất cả những người đã bị bắt bớ giam cầm hay quản thúc trong thời kỳ đ/c Lê Đức Thọ làm trưởng ban tổ chức Trung ương Đảng và đ/c Trần Quốc Hoàn làm bộ trưởng Bộ Công an, họ có tội hay không có tội. Nhân dân cần biết rõ sự thật. Vấn đề không thuộc của riêng ai mà nó thuộc về công lý của Dân tộc và Thời đại. Chính trên bình diện đạo lý và pháp lý mà chúng tôi thẳng thắn đặt lại vấn đề này. Trong thời đại Hồ Chí Minh, không ai có quyền chỉ vàomặt nhau : "anh là kẻ chống Đảng, chống chế độ !" rồi tùy tiện bắt, tùy tiện giam, tùy tiện thả, không cần chứng cứ, không cần xét xử. Sự tùy tiện liên tục xảy ra đến nỗi, trong một bữa giỗ, ngay em ruột đ/c Lê Đức Thọ (Phan Đình Khải) là đ/c Đinh Đức Thiện (Phan Đình Dinh) cũng phải nổi khùng với anh mình : "Anh không thể làm những việc thất đức như thế được. Anh đừng có làm nhục dòng họ Phan, anh không lo rồi họ đào mả bố chúng ta lên à ?".

Khi người ta là thành viên của cộng đồng (một Dân tộc vĩ đại, một Đảng vĩ đại) mà người ta quên mất danh dự của Dân tộc, của Đảng, quên mất cả danh dự của dòng họ và bản thân mình thì thật là cực kỳ hết ý rồi. Sở dĩ còn phải lục ra bàn lại vì nó có ảnh hưởng đến các thế hệ con cháu chúng ta. Theo chỗ chúng tôi biết thì trên đời này chưa có một đảng phái nào dám ra văn bản qui định việc bắt bớ tù đày, bắn giết đảng viên của mình. Trước khi từ biệt thế kỷ cũ, chúng ta có trách nhiệm phải làm sáng tỏ những hành động phi lý và phi pháp này để khi bước vào thế kỷ mới, toàn Dân, toàn Đảng ta mang một tâm thế mới, mới hy vọng phát triển được. Nếu không, mọi người cứ sống trong tâm trạng nơm nớp lo sợ bị hoạnh họe, bị chèn ép, trù dập, bị bắt bớ tù đày .... Một người dân sống trong thôn xóm, xã, phường .... ngay cả những công dân nhỏ tuổi trong nhà trường mà lúc nào cũng bị thằng thúc đóng hết khoản lệ phí nọ đến khoản lệ phí kia. Thử hỏi làm thế nào để có thể sống yên ổn, no đủ.

Vừa qua, đ/c Nguyễn Văn Yểu, phó chủ tịch Quốc hội dẫn một đoàn đại biểu về kiểm tra TPHCM về tình hình bắt oan, xử tù oan những người vô tội. Không thấy công bố số lượng người bị bắt oan, xử tội oan cụ thể là bao nhiêu. Chỉ thấy báo đưa tin đ/c Yểu đã biểu dương tình hình có nhiều tiến bộ, nghĩa là tỷ lệ bắt oan đã giảm được 5% so với cùng kỳ năm ngoài. Dư luận đặt dấu hỏi : Vậy mỗi phần trăm ấy là bao nhiêu người ? Chẳng lẽ đ/c Yểu lại không hiểu rằng dù còn bắt oan đến một người cũng vẫn là nỗi đau đớn, nhục nhã cho bản thân và gia đình người ta rồi, vẫn là nỗi xấu hổ cho nền pháp chế dân chủ của ta. Sao lại còn có chuyện biểu dương và đánh giá cao thành tích ở đây ? Đã đến lúc chúng ta phải nhận thức lại toàn bộ vấn đề, đổi mới những phần cơ bản trong nhận thức của chúng ta về mặt pháp chế.

Ta thử đặt địa vị mình vào địa vị một đ/c cán bộ cách mạng nguyện suốt đời tận tụy vì đất nước và cách mạng, hay địa vị một văn nghệ sĩ nguyện suốt đời sáng tác để phục vụ nhân dân và cách mạng, một nhà khoa học nguyện suốt đời nghiên cứu để phục vụ khoa học và đất nước .... chỉ vì sự bất đồng ý kiến hoặc quan điểm, hoặc vì những lý do vu vơ nào khác mà đột nhiên bị đấu tố, bị vô hiệu hóa, bị loại trừ danh dự và mất tư cách công dân trong cộng đồng trong vài ba chục năm trời liên tục thì bản thân họ và gia đình họ đau khổ nhục nhã đến thế nào. Rồi cũng lại đột nhiên lẳng lặng trả tự do cho họ, không công khai xin lỗi, không công khai phục hồi danh dự cho họ. Như thế liệu có được không ?

Ở nước ta cũng có một hiện tượng rất lạ : đối với những người bị coi là "nhân văn giai phẩm" hoặc phần tử "xét lại" thì lên án rất mạnh mẽ, bài bản, có sách vở, có nghị quyết hẳn hoi, tạo nên một phong trào rất sôi nổi dữ dội. Mà trên thực tế, họ là những người vô tội. Nếu ai có khuyết điểm sai lầm nào đó thì cũng chưa gây nên một hậu quả tác hại lớn lao nào về mặt tinh thần cũng như vật chất.

Trong khi đó, nhưng phần tử giáo điều đã gây nên những thiệt hại trầm trọng cho Nhân dân, cho Đảng cả về mặt tinh thần và vật chất, lại không hề bị lên án hay kết tội. Chưa hề có một nghị quyết nào lên án những phần tử giáo điều tương đương như Nghị quyết 9 lên án những phần tử xét lại. Nếu chúng tôi không nhớ nhầm thì chính các đ/c Cuba đã có nêu thắc mắc về vấn đề này. Họ ngạc nhiên khi thấy chúng ta chỉ có "nghị quyết chống xét lại" mà không có "nghị quyết chống giáo điều". Và cả họ lẫn nhân dân chúng ta đều không ngớt ngạc nhiên khi thấy Đảng và Nhà nước ta lại còn tiếp tục giao quyền lực lãnh đạo và quản lý cho nhiều phần tử giáo điều để họ tiếp tục hưởng đặc quyền đặc lợi và tác oai tác quái.

Thế là đám gọi là "xét lại" chưa gây thiệt hại cụ thể gì thì coi là có tội và tuy chưa hưởng quyền được xét xử vẫn bị trừng phạt rất nặng. Ngược lại, đám giáo điều (không phải là "giáo điều" mà chính cống là giáo điều) gây thiệt hại một cách cụ thể có chứng cứ rõ ràng, cả nước cả thế giới đều biết thì đã không bị kết tội lại còn được o bế. Như thế là công bằng chăng ? Thiết tưởng, trước khi bảo nhau đi tới một xã hội công bằng văn minh, chúng ta phải thực tập dần dần để củng cố nhận thức : thế nào là công bằng ?

Lại nhớ đến một bài thơ giàu ý nghĩa triết lý của nhà thơ kiêm triết gia Ba Tư là ông Xa-a-đi :

Lẽ công bằng

Một anh chăn cừu hỏi cha :

- Thưa cha, thế nào là lẽ công bằng ?

Người cha trả lời:

- Con nên nhớ rằng khi con muốn công bằng với chó sói tức là con đã bất công với cừu !

Hội nghị Trung ương vừa qua thi hành kỷ luật cảnh cáo hai ủy viên Trung ương là đ/c Ngô Xuân Lộc và đ/c Cao Sĩ Khiêm, đó là lẽ công bằng, đó là kết quả của những ý muốn tốt đẹp, muốn thực sự lập lại kỷ cương công bằng. Có dư luận cho rằng cảnh cáo là còn nhẹ, nương tay quá. Xin thưa với quí vị rằng đừng quên các cụ xưa đã dạy : "Có hoa mừng hoa, có nụ mừng nụ", chớ có nóng vội ! Không bao giờ nên quên nước ta là một nước tiểu nông, căn bản vẫn là một nền sản xuất nhỏ, bất cứ việc gì cũng không được đốt cháy giai đoạn, phải tiến mạnh nhưng phải tiến thật vững chắc, nhất là trong lĩnh vực nhận thức cũng cần phải dần dần, càng phải biết chờ đợi nhau.

Đến như đ/c Hữu Thọ, trưởng Ban tư tưởng - văn hóa Trung ương có vấn đề còn nhận thức chưa ra, nói gì đến người khác. Một quyết định kỷ luật của Trung ương mạnh mẽ như thế khiến dư luận rung động xôn xao như một luồng gió mới mang lại phấn khởi cho đất nước, thế mà đ/c Hữu Thọ lại cho rằng : "Việc công khai đó cũng là điều bình thường". Trời ạ ! Một việc kỷ luật công khai những người tưởng như không thể kỷ luật được, lần đầu tiên được ghi trong văn bản nghị quyết của Trung ương công bố cho toàn Đảng, toàn Dân và toàn thế giới biết. Thế mà đ/c lại bảo là việc bình thường thì quả là kỳ lạ thật. Xin đ/c vui lòng cho biết từ khi thành lập Đảng ta đến nay đã có văn bản nghị quyết nào ghi kỷ luật những ủy viên Trung ương một cách cụ thể như thế chưa ? Chúng tôi chưa hề thấy một nghị quyết nào như thế. Mới đến như thế mà đ/c Hữu Thọ lại bảo rằng : "Đây cũng không phải là điều gì mới đâu !" (Trích trả lời phỏng vấn báo Tuổi trẻ TPHCM số 133/98 ngày 13-11-99).

Đối với những người có cái kiểu suy nghĩ như đ/c Hữu Thọ thì cuộc đời này chẳng có gì đáng gọi là mới cả, chẳng có gì là khác thường cả. Đ/c Hữu Thọ còn đưa dẫn chứng : "Tôi còn nhớ khi Bác Hồ còn sống, lúc vỡ đê Mai Lâm, Bác đã kiên quyết cách chức Bộ trưởng thủy lợi vì liên quan đến trách nhiệm của đ/c ấy, dù chỉ mới nhận chức bộ trưởng được mấy tháng".

Dẫn chứng như thế là chính xác và lập luận như thế quả là khó bác bỏ, đầy sức thuyết phục. Chẳng thế mà đ/c Hữu Thọ trả lời hôm trước ở báo Tuổi trẻ thì hôm sau báo Sài Gòn giải phóng đã tung hô ngay. Đúng là "tâm phục, bút phục" ! (Xem báo SGGP ngày 15-11-99).

Trước hết, hãy xin phép thảo luận với đ/c Hữu Thọ thế nào là bình thường và thế nào là không bình thường. Thảo luận theo nề nếp tư biện thì chúng ta lấn sang sân của Viện Triết học và Hội đồng lý luận của Trung ương. Chúng ta cứ tuân theo lời Bác Hồ dạy là "lý luận liên hệ với thực tiễn" để bà con ta dù học ít hay học nhiều đều có thể hiểu được. Đ/c Hữu Thọ cho rằng việc Trung ương thi hành kỷ luật công khai hai đ/c ủy viên Trung ương Cao Sĩ Kiêm (cựu thống đốc Ngân hàng quốc gia và đương kim phó trưởng Ban kinh tế Trung ương) và Ngô Xuân Lộc (đương kim phó thủ tướng Chính phủ) là điều bình thường. Vậy, việc Trung ương ta chưa công khai thi hành kỷ luật ủy viên Trung ương Nguyễn Thiện Luân (đương kim thứ trưởng Bộ Nông nghiệp) có là điều bình thường không ? Trước khi được đề bạt thứ trưởng, ông Luân còn là giám đốc nhà máy bột ngọt Thiên Hương. Do một báo cáo dối trá của ông mà 51 tấn bột ngọt trong kế hoạch hoàn thành của nhà máy chỉ có trên giấy, sau đó được báo cáo là bị mất trộm. Thế là Công an, rồi Viện kiểm sát, và suýt nữa cả Tòa án đều phải vào việc. Phúc đức làm sao ông Sấm bà Ao và những người có liên quan khác đang bị giam giữ chờ ngày ra tòa thì được Công an TPHCM cứu thoát. Theo Công an TPHCM điều tra thì chẳng có một ký bột ngọt nào bị mất trộm cả nên những người bị bắt bớ giam cầm oan uổng đều được phóng thích.

Chắc đ/c Hữu Thọ hồi đó đang đương chức đương quyền ở báo Nhân dân còn nhớ rõ : Báo chí ở thành phố và một vài tờ báo Trung ương thông cảm với nỗi oan ức đau khổ của những người cùng giai cấp đã làm om lên như thế nào. Rồi Ban thanh tra TP và tiếp đến là Ban thanh tra Trung ương đã ra tay như thế nào và đều kết luận nhất trí với Công an ra sao. Rồi dư luận nhân dân phản ứng ra sao, rồi Đoàn đại biểu Quốc hội TP lo ngại vụ việc bị chìm xuồng hoặc để lâu thì "hóa bùn" tất cả nên kỳ họp Quốc hội nào cũng lên tiếng kiến nghị. Thế mà đột nhiên có một lệnh riêng nào đó từ Hà Nội (chúng tôi đang điều tra để có chứng cứ đích xác là ai đã ra lệnh phi pháp này), báo chí im tịt luôn, đoàn đại biểu Quốc hội cũng im tịt luôn và mọi người thì không dám bàn tán công khai nữa. Miệng thì không được nói, nhưng lòng nhức nhối, mà đ/c Hữu Thọ biết đấy, lòng dân đã nhức nhối không yên thì lôi thôi lắm, sao lại coi là bình thường được.

Đức Nguyễn Trãi đã dạy :

Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân
Quân điếu phạt trước lo trừ bạo


(Bình Ngô đại cáo)

Nếu chúng ta không nỗ lực giúp đỡ Trung ương ra tay trừ bạo nghịch, bạo ngược để làm sáng tỏ nhân nghĩa Hồ Chí Minh, nhân nghĩa cộng sản thì thật là vô trách nhiệm biết chừng nào.

Hãy giả thiết, bản thân ông Nguyễn Thiện Luận hoặc những người bao che có đủ chứng cứ để chứng minh rằng ông Luân và đồng bọn đều vô tội thì chúng tôi yêu cầu cũng nên công khai minh oan cho họ. Và vấn đề buộc phải chuyển hướng : cần truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Công an TP, Ban thanh tra TP và Ban thanh tra Trung ương. Vu cáo, bôi nhọ danh dự một đ/c ủy viên Trung ương, Thứ trưởng lại là chuyện đùa giỡn với pháp luật được chăng ?

Xin hỏi thêm đ/c Hữu Thọ, vậy việc bà con nông dân ta ở Thái Bình, vừa qua nổi dậy chống lũ cường hào quan lại tham nhũng, như thế là bình thường hay không bình thường?

Xét theo logic lịch sử thì bình thường quá đi chứ. Phải không đồng chí ?

Thế sao các đ/c lại hoảng lên rồi kẻ thì bàn việc đánh dẹp, người thì bàn việc né tránh, còn đ/c thì lại làm bộ đứng giữa để chữa đôi bên, lại còn cao giọng khuyên bảo những vị lão thành cách mạng và những vị cựu chiến binh không nên "cầm đầu" cuộc nổi dậy của Thái Bình. Thế hóa ra "sống chết mặc bay" à !

Trong văn bản "Chỉnh đốn để tồn tại và phát triển", chúng tôi đã khẳng định : Nhân dân Thái Bình không chống Đảng, Đảng này do người ta đẻ ra, người ta yêu thương bao nhiêu cũng chưa đủ, sao lại nói chuyện "chống" ở đây. Nhân dân Thái Bình cũng không chống chế độ, chế độ này do bao nhiêu xương máu, mồ hôi người ta đổ ra mới tạo dựng nên, sao lại nói chuyện chống ở đây !

Lại đưa luận điệu do bị xúi giục, kích động thì cũng là trí nhớ và thần kinh không bình thường. Hãy mở lịch sử coi lại xem. Thế thì các ông Nguyễn Hữu Cầu, Nguyễn Danh Phương, Hoàng Công Chất ...., rồi trước đó là các ông Nguyễn Huệ, Lê Lợi, Nguyễn Trãi không nắm vững chính nghĩa, không hiểu nỗi oan khổ và nguyện vọng của dân thì các ông "kích động" nổi ai để làm nên nghiệp lớn và tiếng tăm lưu sử xanh.

Nếu anh là phi nghĩa, anh có ý đồ xấu thì giỏi lắm anh kích động được dăm ba chục người, vài ba xã. Chứ khi hàng vài trăm xã người ta đồng tình nổi dậy thì mong đ/c Hữu Thọ cũng như bất cứ ai chớ có đánh giá thấp bà con nông dân ta như thế.

Theo chỗ chúng tôi khảo sát lịch sử, trong khoảng vài ba ngàn năm qua, bà con nông dân ta chẳng bao giờ nổi dậy nhầm cả. Và tất cả những ai thiếu tài năng và bản lĩnh cũng chẳng bao giờ dám đứng ra kích động và cầm đầu ai cả.

Gần đây (30-10-1999), chúng tôi đọc được trên báo Sài Gòn Giải Phóng bài "Bài thuốc cứu nguy" của đ/c Trần Trọng Tân, cựu trưởng Ban tư tưởng văn hóa Trung ương Đảng. Có thể nói không quá đáng rằng đây là một bài báo đầy tâm huyết có nhiều ý kiến sâu sắc, táo bạo. Chỉ hơi tiếc, có vài điểm đ/c Tân chưa kịp đổi mới tư duy lý luận. Hạn chế này có lẽ do đ/c chưa quan tâm vận dụng phương pháp so sánh lịch sử, phần khác là do đ/c Tân cũng như nhiều đảng viên liêm khiết khác, vì quá lâu ngày tự khuôn mình vào những "tín điều" đã bị thực tiễn và đời sống loại bỏ. Khi đ/c viết : "Nhiều người dân ở thành phố này, qua nhiều năm, đã biết Đảng cộng sản là đảng duy nhất dám lãnh đạo nhân dân đương đầu đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược hung bạo, đã thấy được tận mắt nhiều cán bộ đảng viên của Đảng từng sống chết vì dân nên họ còn quí Đảng, không chịu mang tiếng chống Đảng". Quái ! Tại sao chống lũ đảng viên tiêu cực, tham nhũng lại là "chống Đảng" ?

Đ/c Tân sớm quên rằng xưa kia chống vua có nghĩa là phạm tội đại nghịch, ngoài tội chết chém còn thêm cái họa "tru di tam tộc". Chưa nói đến chuyện vua đó lại còn là dòng dõi của những dòng họ công lao hiển hách như họ Trần, họ Lê v.v. Ơn nghĩa cứ ghi nhận ơn nghĩa, chứ dân ta đâu có ngán cái chuyện "mang tiếng".

Còn vùng đất Lục tỉnh này, nhất là vùng đất Sài Gòn - Gia Định một thời đã phò giúp chúa Nguyễn Ánh dựng nghiệp lớn, lại còn là đất quê ngoại của nhà vua từng được hưởng bao ơn mưa móc, cơm nặng áo dày, tình nghĩa lắm đấy chứ ! Ơn nghĩa với vua cha (hoàng đế Gia Long) nhưng vua con (hoàng đế Minh Mệnh) lại cứ ban hành chính lệnh hà khắc để dung dưỡng cho lũ tham quan ô lại, cường hào ác bá thì nhân dân Lục tỉnh cũng phải bảo nhau nổi dậy thôi. Chỉ tiếc người cầm đầu là Lê Văn Khôi chưa đủ tài năng và bản lĩnh để đưa một cuộc khởi nghĩa lớn như thế đến thắng lợi. Chuyện trăm năm gần đây lại càng rõ. Nhân dân Gia Định và cả dân Gò Công nữa cũng chẳng sợ mang tiếng gì cả :

Viên đạn nghịch thần treo trước mắt
Lưỡi gươm địch khái nắm trong tay.


Nếu dân vùng đất này chỉ vì sợ mang tiếng mà không nắm chắc lưỡi gươm địch khái thì chắc chắn hồn nước rồi bản lĩnh, bản sắc cũng tiêu lâu rồi, lấy đâu ra Nam Kỳ khởi nghĩa, Nam Bộ kháng chiến, lấy đâu ra Thành đồng Tổ quốc và những ngày vẻ vang tốt đẹp như hôm nay. Đ/c Tân lại lo dân đất Thành đồng này vì sợ "mang tiếng" mà chịu thua kém Thái Bình chăng ?

Không ! Theo chỗ hiểu biết cạn hẹp của mình, chúng tôi chưa thấy nhân dân ở đâu lại yêu Đảng của mình như nhân dân mình. Cũng là lẽ tự nhiên thôi. Có bậc cha mẹ nào lại không yêu thương con cái của mình ? Nhưng con không chịu học hành lại rượu chè, buôn lậu, ma túy rồi về nã tiền bố mẹ, hở đâu lấy đấy, còn thông đồng với cả trộm cướp dọa nạt hành hạ bố mẹ. Thử hỏi có bố mẹ nào chịu đựng được mãi không ?

Chúng tôi cho rằng nhân dân Liên Xô cũng chẳng bao giờ chán ghét lý tưởng cộng sản hoặc chán ghét Lênin. Và khi họ đồng lòng bảo vệ Đảng thì đừng có lực lượng nào hy vọng động đến Đảng. Nhưng khiếu tố, khiếu nại mãi mà vẫn cứ bảo nhau ôm ấp, bao che cho bọn quan liêu, tham nhũng, cưỡi đầu cưỡi cổ, đục khoét nhân dân thì ai chịu nổi. Lý tưởng thì thấy còn xa vời mà hàng ngày mặt giáp mặt chỉ thấy một lũ hống hách, tham lam, bỉ ổi . . . hỏi ai chịu nổi mà không sập tiệm ?

Nói cho ngay, dân ta hiện nay cũng chưa chán Đảng mình đâu. Nhưng với lũ đảng viên tiêu cực thoái hóa quan liêu tham nhũng thì thực sự dân mình đã ngấy đến tận cổ rồi.Ta phải thực sự xúm lại mà bàn bạc cho ra nhẽ, chứ không thể để cho lũ này lại còn nhung nhăng phê với tự phê !

Dân ta có một bộ phận rất đông mắc bệnh sĩ diện do lây nhiễm từ giới nho sĩ thời Nguyễn chịu ảnh hưởng Tống nho, nhưng nói chung khi đã lâm vào tình thế nước sôi lửa bỏng thì cũng chẳng còn "sĩ " nữa, chẳng sợ "mang tiếng" gì hết !

Đã chơi là chơi. Được làm vua, thua làm giặc. Làm giặc cũng chẳng xấu. Thất nghiệp, chết đói mới là "đại sự" (đối với các nho sĩ Tống nho thì chết đói là "tiểu sự", thất tiết mới là "đại sự").

Trong lịch sử, cứ khi nào dân đói quá khổ quá thì lập tức vứt trả mọi thứ "dầu bôi trơn" - đói khổ là do số phận, do mệnh trời hoặc do tiền kiếp - rồi rùng rùng nổi dậy. Nho sĩ bình dân thì chưa đến nỗi đói nhưng nhục quá không chịu được thì đi làm trách nhiệm "cầm đầu". Hai bên gặp nhau thế là khởi nghĩa bùng nổ, triều đại suy sụp. Và thế là lịch sử phát triển. Tất cả các giới thống trị phong kiến, thực dân, phát xít, đế quốc. . . đều muốn ngăn cản sự phát triển này nhưng bánh xe lịch sử cứ lăn tới và nghiền nhừ hết.

Ô hay, sao đ/c Trần Trọng Tân lại lo ngại vô cớ như thế này :

"Khó thứ ba là dân chống bọn cầm quyền thống trị trước đây trong chế độ xã hội cũ thì có Đảng lãnh đạo, nay không có ai lãnh đạo cho nên đã bị bọn cơ hội chính trị lợi dụng kích động thì có nguy cơ lớn hơn. Cấp trên ở xa không hiểu thấu, đảng viên tốt ở cơ sở, sát dân có muốn xông vào tiếp sức với dân thì sợ bị qui là đi xúi giục dân gây rối, vi phạm kỷ luật Đảng".

Không nên đánh giá thấp nhân dân. Lối nhìn nhân dân theo kiểu các tác giả phim "Chuyện làng Nhô" là lối nhìn quáng gà. Không đáng nói nữa. Chắc đ/c Trần Trọng Tân và rất nhiều người còn nhớ thời kỳ 45, dân mình vừa mù chữ, vừa đói mờ cả mắt, thế mà Việt Quốc, Viết Cách, Đại Việt .... đầy cả đường, lại thêm cái loa ở đường Quan Thánh ra rả suốt ngày suốt tháng nói xấu Cụ Hồ, nói xấu Việt Minh. Ở Thủ đô, ở Huế và nhiều tỉnh khác, chúng còn xuống đường diễu hành hô đả đảo. Thế mà dân mình cũng có nhầm đâu ! Huống chi bây giờ, người nào tốt, kẻ nào xấu, người nào chân chính, kẻ nào cơ hội qua làm sao nổi mắt dân !

Còn chuyện đ/c Tân lo "nay không có ai lãnh đạo cho" thì đó là lo xa quá đấy thôi, nói theo kiểu các cụ xưa : đó là chuyện "lo bò trắng răng, vội vàng mua thuốc nhuộm răng cho bò". Cấp trên của ta bây giờ luôn luôn xuống sát cơ sở để nắm vững dân tình, đâu có như vua chúa ngày xưa năm thì mười họa mới vi hành, đâu phải chỉ "đảng viên tốt ở cơ sở" mới nắm vững tình hình. Thế đ/c không tin rằng những "đảng viên tốt" ở Trung ương cũng nắm vững tình hình à ? Đảng viên tốt ở cơ sở muốn xông vào tiếp xúc với dân thì sợ bị qui là đi xúi giục dân gây rối đã đành, chẳng lẽ những "đảng viên tốt" ở Trung ương lại cũng sợ thế chăng ?

Nếu đảng viên tốt ở cơ sở và đảng viên tốt ở Trung ương lại đều bảo nhau đánh vần chữ "sợ" như thế thì hỏi các vị có còn xứng đáng là học trò Cụ Hồ nữa không ?

Và nếu trên dưới đều sợ và mang tâm lý bất lực trước bọn quan liêu, cường hào, tham nhũng thì Đảng ta phải đổi tên thành Đảng gì ?

Nói cho hết nhẽ thế thôi, nhận thức nhầm thì ta tự điều chỉnh lại chứ chẳng có gì đáng phải bi quan cả. Chúng tôi tin rằng còn nhiều đảng viên tốt ở mọi cấp đều nhớ rằng mình là cộng sản. Lãnh đạo nhân loại bị áp bức bóc lột, đấu tranh giành quyền sống, quyền hưởng tự do và hạnh phúc trong thời đại hiện nay, chẳng lẽ không còn phải là trọng trách không thể thoái thác của bất kỳ ai ý thức được rằng mình là cộng sản ?

Tất nhiên, ở đời, thật giả khó phân : ông tổng thống ngụy Nguyễn Văn Thiệu quả là đáng ghét nhưng trước khi hốt hoảng bỏ chạy khỏi đất nước cũng được một câu nói đáng cho ta ngẫm nghĩ : "Không nên nghe cộng sản nói mà nên xem cộng sản làm".

Ta cũng thường nói : thực tiễn là thước đo chân lý. Cứ xem việc làm thì biết ngay ai là cộng sản chân chính, ai là cộng sản giả hiệu.

Có điều đáng buồn là, không hiểu mắt nhắm mắt mở thế nào mà trong một thời kỳ dài, những Phạm Nhật Hồng, Phùng Long Thất, Lê Minh Xư, Nguyễn Xuân Trường .... và một lô một lốc lũ cướp ngày, trộm ngày khác lại được bầu và duyệt là đảng viên 4 tốt. Thậm chí có những kẻ còn được báo chí ca tụng, được truyền thanh, truyền hình phỏng vấn, nêu gương cho đời học tập, và chúng không lên chức lên lương sao được, không cưỡi hẳn 1000 con trâu sao được.

Đúng như Cụ Hồ đã nói : "Không phải cứ dán hai chữ cộng sản vào trán họ là họ thành cộng sản" (Hồ Chí Minh toàn tập, tập ....... trang ....). Thế mà trong đợt phê bình, tự phê bình này, Trung ương đã bảo phải làm thật nghiêm chỉnh mà có những vị vẫn cả gan dán lên trán mình mấy chữ "đảng viên loại 1". Mà có mấy cái tập thể đảng bộ chẳng hiểu nhận thức ra sao, hữu khuynh a dua như thế nào mà lời Cụ Hồ cũng chẳng nhớ, lời ông Phiêu cũng chẳng chịu nghe. Lại nhất trí bầu nhau loại 1. Đến nỗi toàn là 80% đến 90% loại 1, lại đúng vào những địa chỉ bê bối mà nhân dân cứ nghe đến đã đủ lắc đầu cười khảy rồi.

Chúng tôi cũng không muốn nói nhiều đến bọn quan liêu tham nhũng nữa. Không cần phải quan trọng hóa chúng nó chỉ vì chúng đang giữ một chức hoặc một quyền nào đó trong bộ máy nhà nước ta. Không nên nghĩ một cách mặc cảm tự ti rằng số phận của chúng ta là đang nằm trong tay chúng mà phải khẳng định dứt khoát rằng chính số phận chúng đang trong tay Dân ta, Đảng ta. Dân đã kiên quyết, Đảng cũng kiên quyết, vậy thì chúng độn thổ đi đằng nào ?

Xin phép hỏi thẳng, những đảng viên nào còn giữ được chất cộng sản mà lại nói rằng chúng đông lắm không chống được đâu. Vô lý thật ! Chúng lại đông bằng Nhân dân à ? Chúng lại mạnh ngang với vua chúa và thực dân đế quốc à ? Chắc các đ/c lại cho là còn vướng ô dù chứ gì ? Mà chắc những ô dù này còn mạnh hơn cả siêu cường Mỹ chăng ?

Cho nên nói thẳng ra là : Dân thì dứt khoát chống và dứt khoát thắng. Còn Đảng mà không lãnh đạo nhân dân trong cuộc này thì rõ ràng Đảng tự loại mình ra khỏi đời sống dân tộc. Nỗi lo lắng của đ/c Lê Khả Phiêu là đúng : Đảng không lãnh đạo chống quan liêu tham nhũng thắng lợi thì Đảng mất vai trò lãnh đạo. Ai đồng tình với Tổng bí thư Lê Khả Phiêu thì tiến lên đi - "Tiến lên toàn thắng ắt về ta". Dân thì ký cả hai tay rồi. Còn Đảng viên nào chần chừ do dự là tự đánh mất phẩm chất của mình. Vị trí của bọn tham nhũng là vành móng ngựa và nhà tù. Vị trí của người cộng sản là đi tiên phong trong mọi cuộc đấu tranh. Không cần sợ tai tiếng gì cả. Vì lý do cơ bản của sự có mặt của những người cộng sản, của những đảng cộng sản chân chính trên đời này là để cầm đầu mọi cuộc đấu tranh chống áp bức bất công. Chính những ai định lái Đảng đi chệch con đường này mới đúng là "mang tiếng". Không chỉ "mang tiếng" mà còn là "mang tội" trước lịch sử. Còn nói như Fidel Castro : "Nếu xét xử tôi một cách oan ức thì đã có lịch sử minh oan cho tôi".

Hãy giả thiết lại thêm một lần nữa những người chân chính bị ném vào tù hay phải dẫn ra pháp trường thì đâu có phải vì thế mà mất nhuệ khí đấu tranh. Lời đ/c Trần Phú chẳng hãy còn văng vẳng bên tai chúng ta hay sao : "Hãy giữ vững chí khí chiến đấu !". Và xin phép được nhắc thêm một lần nữa lời Cụ Hồ : "Một người yêu nước không sợ gì hết và nhất thiết không được sợ gì".

Chúng tôi cũng không tán thành ý kiến đ/c Trần Trọng Tân, cho đến hôm nay, sắp chào từ biệt thế kỷ này mà đồng chí vẫn còn đồng nhất cá nhân với tập thể Đảng : "Đ/c Tổng bí thư ngồi học lại bài "Dân vận" (...). Làm việc đó, chứng tỏ Đảng ta không bao giờ quên ơn, không phụ lòng những liệt sĩ, thương binh, những bà mẹ anh hùng, những người dân đã có công theo Đảng giành chính quyền về tay nhân dân, chứng tỏ Đảng ta muốn dân ta được làm chủ thực sự, không phải là lời tuyên bố suông" (Vẫn bài báo trên).

Nhận thức đồng nhất giữa cá nhân và tập thể như thế sẽ làm cho tư tưởng Dân chủ không phát triển được và cũng sai thực tế.

Đảng ta có bao giờ quên Dân và Đảng này không bao giờ tuyên bố suông cả. Lịch sử xác nhận như thế chứ không phải vì yêu quí Đảng rồi bốc Đảng lên. Đảng không quên, vậy những đảng viên nào quên, những tổng bí thư nào quên, thì mang họ ra mà phê bình kiểm điểm. Họ phải nhận lỗi chứ không thể đổ lỗi cho Đảng được. Còn đ/c Lê Khả Phiêu nhớ và học tập tử tế lời Bác Hồ thì khuyên cho đ/c một dấu son vào trang sử hiện nay.

Từ nay, chúng tôi kiến nghị :

- Chấm dứt hoàn toàn và triệt để sự đồng nhất giữa cá nhân đảng viên với tập thể đảng. Một bí thư cấp cơ sở nói đúng sai phải trái chưa phân tích để nhận thức cho rõ lại bảo nhau : Đảng đã chỉ thị như thế, ta phải phục tùng. Thử hỏi Đảng nào ở đây ? Ông bí thư tỉnh ủy tổ chức việc buôn lậu thì phải phản đối và báo cáo ngay cho Trung ương biết. Ông bí thư huyện ủy thông đồng với bọn lâm tặc thì phải phản đối ngay cho tỉnh ủy biết và tỉnh ủy phải lập tức điện theo đường dây nóng báo cho Trung ương và Chính phủ biết. Tập trung dân chủ đúng theo nguyên tắc như thế thì làm gì có vụ Tánh Linh với Tân Trường Sanh hay Epco Minh Phụng, thủy cung Thăng Long ...

Tuy nhiên, đó cũng là chuyện nhỏ thôi. Chuyện đáng nói là nếu tập trung dân chủ có tính nguyên tắc (không phải theo cái kiểu vô nguyên tắc như xưa nay ta vẫn làm) thì làm sao nẩy nòi ra được những hiện tượng "cộng sản" quái gở như Goócbachốp, như Enxin. Cần rà soát lại một cách nghiêm khắc, không thể chấp nhận lối phê bình, tự phê bình một cách qua loa tắc trách vì đây là vận mệnh của Đảng, của Chế độ, của Dân tộc, không phải chuyện đùa !

Chúng tôi thấy đ/c Hữu Thọ có một ý rất đúng : "Trong nghị quyết Trung ương 7, chúng ta có nhận ra một thiếu sót. Đó là nhiều chức năng, nhiệm vụ còn chồng chéo, rồi chế độ, qui định trách nhiệm chưa được rõ ràng, cho nên nhiều người có trách nhiệm hiện nay lại chưa có đủ quyền hạn thực thi nhiệm vụ của mình. Do vậy, tôi nghĩ rằng thi hành kỷ luật về chế độ trách nhiệm thì phải đồng thời thực hiện nghị quyết Trung ương 7 trong việc phân định trách nhiệm rõ ràng. Người ta có quyền đầy đủ thì mới có trách nhiệm đầy đủ". (Vẫn trích bài phỏng vấn). Rất tiếc, đ/c Hữu Thọ nói đúng ý nghị quyết nhưng lại không gắng giải thích cho "rõ ràng và đầy đủ".

Chế độ ta đã kéo dài một tình trạng không hay. Thủ tướng chính phủ là người có quyền lực cao nhất trong bộ máy hành pháp mà không thể ký lệnh cách chức bất cứ ai dưới quyền mình. Vì trên thực tế, Thủ tướng có được hưởng quyền bổ nhiệm đâu mà có quyền cách chức. Do đó, thấy có những Bộ trưởng làm hỏng việc, Thứ trưởng phạm pháp, Phó thủ tướng phạm tội cũng phải làm ngơ. Bộ trưởng thấy người phó giúp việc mình không có năng lực, có Cục trưởng, Vụ trưởng bê bối cũng phải làm ngơ. Tình hình ở các địa phương cũng tương tự. Ông chủ tịch tỉnh hay chủ tịch thành phố cũng chẳng bao giờ dám cách chức ai hết.

Thủ tướng và các Bộ trưởng quyền được giao lớn như thế mà khi về kiểm tra địa phương, kiểm tra ngành lại không dám khiển trách một ai cả, dù rằng dư luận nhân dân cũng như dư luận báo chí đã nêu rõ những địa chỉ phạm pháp. Điều tai hại là những người có quyền hạn trong bộ máy hành pháp không thể thực thi quyền hành của mình, cũng không ai nói gì. Lâu ngày, người ta cảm thấy không thể cách chức hoặc kỷ luật một ai và cấp dưới làm đúng, làm sai mình cũng chẳng chịu trách nhiệm gì. Do đó, không biết từ lúc nào nảy sinh một tình hình kỳ lạ vào loại số 1 trên hành tinh : ai cũng có thể được cử làm chủ tịch, bộ trưởng, tổng cục trưởng, thống đốc ngân hàng .... mà những người được cử cũng không hề từ nan, không thấy ai băn khoăn, lo lắng về năng lực của mình đối với trọng trách quản lý một địa phương hoặc một ngành chuyên môn. Thậm chí làm Phó thủ tướng, Thủ tướng hoặc Chủ tịch nước ở đất nước ta nhiều người còn quan niệm đơn giản hơn nhiều. Nghe đâu Trung quốc cũng có thời kỳ tương tự như ta nhưng họ có thận trọng hơn.

Thử hỏi tình hình vì sao nên nỗi ?

Bây giờ lại đi trách Thủ tướng, Bộ trưởng, các chủ tịch tỉnh, chủ tịch huyện, .... cũng là oan cho họ. Họ có được toàn quyền bổ nhiệm ai đâu ? Bản thân họ cũng "bị" bổ nhiệm. Vì ở ta do quan niệm đề cao tập thể và ý thức làm chủ tập thể nên việc gì cũng do tập thể quyết định hết. Tập thể lãnh đạo cấp trên bổ nhiệm các cá nhân cấp dưới mà danh sách bổ nhiệm lại nằm trong tay phòng tổ chức hay ban tổ chức. Ban tổ chức chính quyền cấp nào thì tham mưu cho chính quyền cấp đó. Cán bộ ta dù là đảng viên hay không đảng viên đều hiểu rõ quyền lực của ban tổ chức (phòng, vụ) là rất lớn. Vì thế những phần tử cơ hội muốn tiến thân đều "chạy chọt" ở cửa này.

Tuy nhiên, ban tổ chức Chính quyền, tiếng rằng quyền hạn to như thế vẫn phải nằm dưới ban tổ chức Đảng. Tất nhiên, ban Tổ chức Trung ương có quyền lực cao nhất. Ông trưởng ban Tổ chức Chính phủ cũng phải thỉnh thị ý kiến của ông trưởng ban Tổ chức Trung ương.

Nếu các vị trưởng ban tổ chức cao cấp này đều biết khiêm tốn học tập Phụng Dương công chúa đời Trần thì thực là đại hồng phúc cho Đảng ta và Nhà nước ta.

Như phần trên chúng tôi đã nói, do Bộ Giáo dục ta có sơ khoáng trong việc thi cử, nhiều năm không cho thi môn lịch sử. Mặt khác lại cũng do các đồng chí ta mải mê "công tác tổ chức" nên cũng ít thời giờ học lại các bài học lịch sử nước ta nên nhiều người quên biến hoặc không biết Phụng Dương công chúa là ai ?

Xin thưa rằng : Phụng Dương công chúa là con vua Trần Thánh Tông là phu nhân của thượng tướng Trần Quang Khải, một vị tướng giỏi võ hay thơ nhưng lười tắm táp. Bà Phụng Dương cùng với Linh từ Quốc mẫu (phu nhân Thái sư Trần Thủ Độ) đều là những người phụ nữ quí tộc giỏi nhất vào thời Trần. Nói theo ngôn ngữ hiện nay, một người được giao làm Tổng cục trưởng Tổng cục hậu cần, một người là trợ thủ đắc lực trong việc quản lý và điều khiển gia trang nhà Trần. Công lao của hai bà lớn quá đến mức dẫu các sử gia phong kiến sẵn máu khinh thường phụ nữ cũng thấy vẫn cần phải chép vào Quốc sử.

Riêng bà Phụng Dương với thành tích tổ chức và quản lý đã được Trần Quang Khải tạc công đức vào bia đá. Văn lòng bia chính tay thượng tướng Trần Quang Khải viết. Và bia hiện còn nguyên vẹn tại xã Mỹ Thành, huyện Mỹ Lộc (cũ), tỉnh Nam Định, là đất Thái ấp của ông bà Thượng tướng (*1). Ở đây, chúng tôi chỉ nêu vắn tắt cái nguyên tắc làm việc của bà : "Ai không có tài thì không thể cho chức vụ, nếu thiếu tiền thì cho tiền. Đối với người trong hoàng tộc hay ngoài hoàng tộc cũng thế".

Đấy, học người xưa là học cái thần, cái cốt tử của nếp nghĩ, nếp hành động của người xưa.

Xin thưa với các nhà nghiên cứu văn hóa, nếu tất cả chúng ta bảo nhau, từ công dân cho đến chủ tịch nước, học tập kế thừa có phê phán nếp cảm, nếp nghĩ, nếp sống .... của ông bà ông vải thì lo gì mà không đậm đà bản sắc dân tộc. Cổ động cho việc phục hồi y phục, ẩm thực, lễ hội .... cũng nên vừa phải thôi. Chứ chẳng giúp cho dân tộc phát triển thêm đâu. Còn việc phục hồi hương ước giả phả, gia lễ , xây nhà thờ họ, xây mồ mả .... cũng nên vừa phải thôi.

Xin mời các nhà nghiên cứu quá bộ về nông thôn mà khảo sát tình hình. Quan niệm về dòng họ không đúng nên đã có chuyện tương đối phổ biến : "Chi bộ họ ta và chi bộ họ chúng nó", "chi bộ họ ta dứt khoát phen này phải nắm cái bí thư, còn bên chi bộ họ chúng nó thì cao nhất là chân phó bí thư". Mặc dù trên thực tế "chi bộ họ ta" không ai giỏi bằng người bên các chi họ khác.

Cũng mang tiếng là đảng viên cộng sản, thật đáng xấu hổ với hương hồn Phụng Dương công chúa, Thái sư Trần Thủ Độ và bao bậc tiên liệt anh hùng khác.

Trách các đ/c ta ở nông thôn một phần thôi. Người đáng trách nhất là các nhà nghiên cứu lý luận và các nhà quản lý văn hóa. Tế lễ thần thánh là việc thiêng liêng không bao giờ có thể bỏ được, nhưng khi quí vị đã đi tiên phong trong việc ẩm thực và tế lễ thì các cụ Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan hẳn là không thể yên nghỉ dưới mộ được rồi. Sợ nhất là các vị lại đồng tình với những quan điểm đáng ngờ của giáo sư Léon Vandermessh (Pháp) và tiến sĩ Tu Weiming (Đỗ Duy Minh) (Đài Loan), nhất là quan điểm của ngài Lý Quang Diệu (Singapore) trong việc ca ngợi và phục hồi Khổng giáo. Mà cũng lạ, không rõ ngài Lý Quang Diệu nghiên cứu ra sao mà trong phương châm tu, tề, trị, bình, ngài lại giải thích rằng bình thiên hạ là đem lại hòa bình cho thiên hạ. Chẳng lẽ các hoàng đế Trung Quốc từ xưa đến nay đều hiểu rằng bình thiên hạ nghĩa là bình định, dẹp yên thiên hạ để đặt được được ách thống trị lên đầu lên cổ các chư hầu và tứ di lại là hiểu sai cả chăng ? Xin thưa đó chính là chủ nghĩa bá quyền đấy ạ !

Cũng may vừa qua cơn bão tài chính thổi từ Hoa Kỳ sang vùng Đông Nam Á ta, khiến cho các tiểu long một phen nhào lên lộn xuống, ngay đại long Nhật Bổn tận vùng Đông Á cũng liêu siêu một phen. Thế là nhiều học giả của ta đã có thời kỳ khen nức khen nở các nước rồng, rằng nhờ văn hóa Khổng giáo mà cất cánh được, ta nên mau mau học tập, mau mau phục hồi Khổng giáo, giờ đây đã giật mình và đã có phần nào tỉnh ngộ.

Chúng tôi nói phần nào vì có bài thu hoạch của giáo sư Phương Lựu sau kỳ hội thảo quốc tế về Khổng giáo nhân dịp kỷ niệm 2550 năm ngày sinh Khổng tử tại Thủ đô Bắc Kinh. Chúng tôi chưa được đọc toàn văn bài tham luận của ông Phương Lựu nhưng chỉ cần xem cái tinh thần tóm tắt bài tham luận của ông, chúng tôi thấy ngay một điểm cơ bản là ông Phương Lựu chỉ nói chuyện quá khứ chứ không dám đề cập một vấn đề nào của hiện tại. Nghiên cứu khoa học mà không nhằm phục vụ hiện tại, phục vụ cho sự phát triển của dân tộc và đất nước trong hiện tại thì nghiên cứu như thế bổ ích gì ? Mà ngay nói chuyện quá khứ ông cũng né tránh những những chuyện đau buồn của dân tộc ta do chủ nghĩa bá quyền Khổng giáo gây ra.

Cũng phải thông cảm với các giáo sư. Các vị được người ta trân trọng mời sang, nói những chuyện đau buồn ấy trên đất nước người ta sao được, cho dù người ta cũng là xã hội chủ nghĩa chứ không còn là phong kiến nữa. Nhưng điều đáng lưu ý là đối với những học giả ngoài Trung Quốc có ý kiến phê phán mặt tiêu cực của Khổng giáo thì nghe giọng văn của giáo sư Phương Lựu cũng thấy ông chẳng đồng tình với họ. Chúng tôi cũng chẳng lạ gì giáo sư Phương Lựu vì toàn bộ phần nghiên cứu của ông từ trước đến nay có bao giờ giáo sư đề cập và giải quyết rốt ráo một vấn đề gì thuộc về lý luận giúp cho đất nước phát triển.

Cũng không thể đòi hỏi nhiều hơn ở ông Phương Lựu được. Do đó chúng tôi chỉ thẳng thắn thưa với ông Phương Lựu cũng như tất cả những vị đang nghiên cứu về nho giáo ở nước ta rằng : xin các vị hãy thận trọng !

Dân ta không lạ gì Khổng giáo và trong vài ngàn năm qua, Dân ta đã khôn ngoan thu hút những mặt tốt đẹp tinh hoa của Khổng giáo. Vì thế mà chúng ta có bao nhiêu nho sĩ khí tiết, bao nhiêu nhân tài lỗi lạc nhờ sự tiếp nhận tinh hoa Khổng giáo. Thử hỏi các ông : chúng ta còn bỏ sót không tiếp nhận phần tinh hoa nào ?

Còn những phần hủ bại chưa đào thải hết, hãy còn bị dị ứng trong cơ thể tư duy Việt Nam liệu có nên giữ lại hoặc khuếch trương nữa không ? Người ta xây dựng CNXH mang màu sắc Trung Quốc thì người ta khai thác Khổng giáo và những thứ quá khứ cần thiết cho họ. Đó là công việc của người ta. Ngài Lý Quang Diệu và tất cả những người lãnh đạo khôn ngoan nào khai thác được Khổng giáo, lợi dụng được quá khứ để phục vụ cho giai cấp người ta. Đó cũng là công việc của người ta, là cái "thuật" của người ta. Mình háo hức bắt chước thế nào được. Mình cầu viện quá khứ một cách vô nguyên tắc thế nào được ? Dứt khoát chúng ta không thể chủ trương đóng cửa về mặt tư tưởng, cũng như về mọi lĩnh vực khác. Phải lo mà học lấy cái hay của thiên hạ. Phải nghiêm túc học tập Đức thánh Khổng và mọi đức thánh của thiên hạ, nhưng thử hỏi những bài học của Đức thánh Trần và Đức thánh Hồ và các Đức thánh khác của Việt Nam chúng ta đã học đầy đủ và kỹ lưỡng chưa ? Còn bao nhiêu bài học trị nước và đối nhân xử thế của các vua anh minh thời Lý, thời Trần, thời Lê .... chúng ta đã học nghiêm chỉnh chưa ? Đã bảo nhau vận dụng sáng tạo vào đời sống hiện nay chưa ?

Chúng ta chớ quên rằng mình đang sống trong thời kỳ toàn cầu hóa, đâu người ta cũng có chiến lược toàn cầu cả, không tinh tường thì nguy. Đừng thấy người ta bắt tay, vỗ tay đã vội mừng.

Mình đứng trấn cả một vùng Đông Nam Á, các đại quốc thời nào cũng muốn tràn xuống, muốn mở rộng ảnh hưởng muốn "bình thiên hạ" (ngài Lý Quang Diệu mà không nghiên cứu kỹ cái nghĩa này thì nguy !). Việt Nam mình lúc nào cũng như cái gai trong mắt thiên hạ, như khối đá tảng cản bước tiến "bình thiên hạ" của người ta.

Trung Quốc sắp vào WTO rồi đấy ! Mà đến năm 2003 thì thấy nhau ngay chứ đâu xa. Thôi chuyện AFTA và phải đối phó ra sao sẽ bàn sau.

Trở lại chuyện quyền hạn của Ban tổ chức các cấp bổ nhiệm đủ thứ người, đủ thứ cán bộ mà rồi cũng chẳng chịu trách nhiệm gì cả. Ở nước ta bây giờ lại phổ biến một lối nói : "chúng ta có khuyết điểm buông lỏng lãnh đạo", "chúng ta" đây là gồm những ai ? Buông lỏng là thế nào ? Dân tin anh, Đảng tin anh giao cho anh quyền quản lý đất nước, anh lại "buông lỏng" để cho chúng nó đục khoét ăn cắp đầu ăn cắp đuôi. Để mất hàng trăm, hàng ngàn tỷ lại kêu là "khuyết điểm". Làm cho dân đói khổ, mất cả lòng tin vào Đảng, làm lung lay cả Chế độ lại gọi là khuyết điểm. Theo luật Gia Long thì phải khép vào tội đại nghịch. Chúng tôi kiến nghị Quốc hội ta nên bổ sung vào luật hình sự rồi giải thích cho rõ "buông lỏng" có nghĩa là vô trách nhiệm, là thông đồng với giặc nội xâm. Kẻ giật hụi ở quận 5 cướp trắng 1 tỷ đồng của các tư nhân thì bị kết án tử hình. Vậy bọn làm mất của nhà nước hàng trăm, hàng ngàn tỷ thì phải xử tử chúng bao nhiêu lần cho đạt lẽ công bằng ?

Chúng tôi cũng chẳng chủ trương nên bắn nhiều làm gì. Tiền với người dẫu mất thì cũng mất cả rồi. Vấn đề là đến bao giờ chúng ta bàn với nhau một cách thẳng thắn, nghiêm chỉnh để tìm ra lối thoát khỏi những bế tắc này.

Từ trước, chúng ta vẫn phê phán những người theo chủ nghĩa cải lương, thế mà giờ đây chúng ta lại làm nhiều việc rất nửa vời, rất cải lương. Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước là một chủ trương lớn phù hợp với thực tế, đúng qui luật. Thế mà nhiều người cứ dật dờ không chịu thực hiện. Họ kéo dài ngày nào thì nhà nước tức là Bộ Tài chính bù lỗ ngày ấy. Hãy hỏi các ông giám đốc đang tạ đủ các thứ lý do để trì hoãn, các ông có khả năng bù lỗ không ? Sao lại vì sợ mất chức, mất đặc quyền đặc lợi rồi cản trở ? và cũng xin hỏi luôn hai ông bộ trưởng Bộ Công nghiệp và Bộ Tài chính : lương giám đốc của họ và lương của cả hai ông có đủ để bù lỗ không ? Dư luận cho thấy rằng : tình hình bù lỗ hàng trăm tỉ, hàng ngàn tỉ cho các xí nghiệp làm ăn thua lỗ đã kéo dài hàng mấy chục năm rồi, không được phép tiếp tục kéo dài hơn nữa. Ai tìm cách kéo dài và ai cho phép họ kéo dài, phải chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Lại nói về vấn đề pháp luật. Chúng ta vất vả bao năm mới xây dựng được một nền pháp chế mới, được gọi tên là pháp chế XHCN. Còn nhớ có thời kỳ cứ nói đến nhà nước pháp quyền là nhao nhao phản đối rồi chụp ngay cho người ta cái mũ "luận điệu tư sản", "quan điểm tư sản". Sau khi chúng ta xây dựng xong các bộ luật, thì vẫn những kẻ ấy, lại quay ra cản trở việc thực thi các đạo luật. Tất nhiên, giờ đây họ không dám to mồm nói ngược mà ngấm ngầm chống phá rất tinh vi xảo quyệt. Bằng rất nhiều thủ đoạn khác nhau, họ tìm cách vô hiệu hóa các bộ luật của Nhà nước chúng ta.

Có lẽ một trong những thủ đoạn lớn nhất, công khai nhất và xảo quyệt nhất là thường xuyên mang tình nghĩa đối lập với pháp lý.

- Pháp lý, nguyên tắc là như thế nhưng người Việt Nam mình bao giờ chẳng coi trọng tình cảm, tình nghĩa. Không nên cứng nhắc, máy móc để mang tiếng là cạn tàu ráo máng.

- Các ông cứ làm như ta đang sống ở phương Tây không bằng. Lúc nào cũng giở lý. Người Việt Nam mình bao giờ cũng đặt tình lên trên hết.

Mới nghe thì thấy đúng quá.

Nhưng cũng cần phải ngẫm nghĩ suy xét cho kỹ tại sao người Việt Nam ta lại nặng tình nặng nghĩa.

Cùng là dân quần cộc, dân áo ngắn với nhau, cùng là chân lấm tay bùn, chân dầu tay mỡ, thân cò cũng như thân chim mà còn không biết thương nhau thì thử hỏi mượn ai đến thương hộ đây ? Cho nên bát canh cua cũng đưa qua bờ dậu, bát cơm hẩm cũng chia đôi sẻ ba, tối lửa tắt đèn có nhau, cùng cảnh nghèo hèn thì dựa vào nhau mà sống, chung lưng đấu cật với nhau mà sống, còn gì dư dả nữa đâu ngoài tình nghĩa.

Do đó phải thấy rằng tình nghĩa là sở hữu của những cộng đồng nghèo khổ. Những người nghèo hèn trong xã hội bao giờ cũng thương yêu nhau, an ủi nhau, cố kết với nhau mới có thể tồn tại được.

Tình nghĩa trở thành một phương tiện để tồn tại và cũng là phương tiện dùng để đấu tranh.

Khi chưa đủ điều kiện cầm vũ khí nổi dậy thì còn gì ngoài lời kêu xin : xin thầy lý thương cho; xin quan lớn thương cho; xin ông lớn đèn giời soi xét, giơ cao đánh sẽ; chúng con là phận dân đen con đỏ, xin bệ hạ rủ lòng thương, ...

Nghĩa là bằng mọi cách "mẹ chưa đánh roi nào đã khóc" để tìm một sự độ lượng khó thấy ở giai cấp thống trị, nhưng vẫn có hy vọng hão huyền từ ngàn đời : may ra được ngài thương !

Cái dấu vết xin xỏ hèn hạ đáng thương đó hiện còn đầy rẫy trên các đơn từ gửi đến các "đầy tớ" của mình trong nhà nước dân chủ của ta mà chúng tôi đã nhiều phen đề nghị bằng văn bản, nhưng Quốc hội và Chính phủ ta cũng chưa thấy ra lệnh bãi bỏ. Tuy vậy, chúng tôi cũng chưa bao giờ hết hy vọng rằng một ngày đẹp trời nào đó chữ "xin" sẽ biến hết trên mọi đơn từ giao dịch với cơ quan nhà nước để khỏi gây cho các vị "đầy tớ" trung thành của nhân dân sự ngộ nhận.

Có một điều cũng cần phải giải thích. Vua quan nói chung là tham lam tàn bạo, nhưng trong lịch sử nước nhà lại có nhiều ông vua, ông quan tử tế thương dân đến nỗi cho đến nay vẫn là gương sáng cho những người cầm quyền của chúng ta.

Cũng là do hoàn cảnh Việt Nam mình thôi. Một đất nước thường xuyên phải cảnh giác với ngoại bang phương Bắc cũng như phương Nam, các ông vua Lý, vua Trần, vua Lê khôn ngoan nào mà không cần phải thương dân, sát cánh với dân. Bởi một lẽ rất giản đơn nếu các ngươi không hết lòng chống giặc thì thái ấp của ta cũng như ngai vàng của dòng họ ta đâu có còn mà mồ mả tổ tiên các ngươi cũng mất. Giá như các vua Nguyễn cũng biết nối tiếp truyền thống thân dân của các ông vua khôn ngoan thời Đại Việt trước thì đâu đất nước Đại Nam nên nỗi ! Khi vua đã xa dân, không thương dân, không tin dân thì làm sao có gan dám phát động chiến tranh vệ quốc. Rồi khi biết mình đã sai lầm thì đành đầu hàng nhượng đất. Đồng thời lại vẫn muốn tỏ ra mình là người sáng suốt, thức thời, có đạo đức nên mới có chuyện làm đủ thứ thơ văn, nói đủ lời ngụy biện, viết thay cả giặc ngoại xâm lời dụ hàng nghĩa quân đang nguyện một lòng sống mái với kẻ thù (người xưa có phần đáng trách nhưng mấy ông giáo sư tiến sĩ bây giờ lại còn cứ ra sức bào chữa cho sự sai lầm và nói liều lĩnh rằng "mất nước là tất yếu" mới thực đáng thương. (Xem thư dụ hàng của Phan Thanh Giản và bài Phê phán hội thảo Gia Long của Trần Khuê).

Và có những người còn vẫn cố bào chữa cho các vua Nguyễn và triều đình Huế rằng họ vẫn là những người yêu nước "yêu nước theo kiểu của họ". Cũng là một kiểu ngụy biện thôi. Khi một triều đại đã thoái hóa, chế độ phong kiến đã thoái hóa thì các nhà vua chỉ còn biết yêu cái ngai vàng và quyền lợi của dòng họ mình thôi, làm gì có chuyện yêu nước với thương dân ở đây).

Luôn luôn chống lại nhân dân, nhưng các vua chúa phong kiến khôn ngoan sáng suốt vẫn phải nêu bật lên cái chiêu bài "pháp bất vị thân". Đó là một chân lý mà ngay giai cấp tư sản sau khi lật đổ chế độ phong kiến cũng không dám bỏ nguyên tắc này. Vì thế mới có chuyện bộ trưởng, thủ tướng, tổng thống mà có tội vẫn bị khởi tố như thường. Ta mang tiếng là chủ nghĩa xã hội ưu việt mà có thời kỳ một ông giám đốc xí nghiệp hay một ông bí thư Đảng ủy vi phạm pháp luật mà vẫn không dám động tới họ. Nếu có đồng chí kiểm sát nào có công tâm, cương trực dám ký lệnh bắt, dám khởi tố ra tòa thì chánh án lẫn quan tòa ngồi xử mà lòng dạ không yên, ngó trước ngó sau, nghiêng phải nghiêng trái xem ý cấp ủy Đảng thế nào. Thế là họ có căn cứ vào các bộ luật để xét xử đâu, họ chỉ căn cứ vào mấy đ/c cấp ủy. Gặp đ/c cấp ủy nào thẳng thắn cương trực, hiểu biết pháp luật thì họ bảo thẳng : tòa án cứ theo luật pháp mà xử. Còn gặp những đ/c cấp ủy mà không hiểu luật pháp lại tâm niệm rằng người Việt Nam ta trọng tình nghĩa.Thế là vì một vài lý do tế nhị nào đó, dưới danh nghĩa lãnh đạo Đảng phải chỉ đạo sát sao, toàn diện, thế là cứ can thiệp (thư tay hoặc điện thoại) suốt từ đầu vụ án cho đến cuối vụ án khiến cho các tòa án khốn khổ, hoãn đi hoãn lại, thỉnh thị lên thỉnh thị xuống, lúng túng như gà mắc tóc.

Thực ra, chuyện "tình nghĩa" cũng là một thứ chiêu bài thôi để dễ bề bao che cho người thân, cho phe cánh hoặc cho bọn đút lót. Vụ 51 tấn bột ngọt của ông Nguyễn Thiện Luân mà chúng tôi phải nhắc đi nhắc lại nhiều lần là vì, đó là nỗi nhức nhối của nhân dân TPHCM chứ nó đã thấm gì so với hàng trăm hàng ngàn vụ khác. Vấn đề đáng nói là : 51 tấn bột ngọt gian lận làm tù oan bao nhiêu người lại được trả lời dư luận bằng sự khen thưởng, thăng chức và lấy chuyện "tình nghĩa" mà lờ đi hơn chục năm trời. Nhưng năm cháu thiếu niên dại dột ăn trộm 5 con vịt thì lập tức được mở phiên tòa xét xử ngay và kết án thẳng cánh 5 năm tù. Chuyện vịt thì không thấy nói đến "tình nghĩa" mà chỉ thấy nói đến "nghiêm trị" để giáo dục thế hệ trẻ. Ông chủ hụi "Vườn Tre"chỉ giật hụi lường gạt 1 tỷ của nhân dân thì xử tử, ông Kiểm là Tổng giám đốc Dệt Nam Định làm thất thoát 800 tỷ (trong đó có 200 tỷ đi đút lót cấp trên) thì xử 20 năm tù. Thi hành luật pháp một cách coi thường nhân dân và thách thức dư luận như thế thì làm thế nào để bàn dân thiên hạ có thể "khẩu phục tâm phục" được.

Đáng lẽ mỗi quan tòa của mình phải là một Bao Công mới xứng đáng là quan tòa XHCN. Thế mà cả Trung Quốc lẫn Việt Nam ta, ngàn năm qua vẫn cứ chỉ một Bao Công. Cứ làm như lý tưởng công bằng cao vời vợi, xa vời vợi, hầu như không bao giờ với tới.

Đã mấy chục năm nay, giới lý luận cũng như giới nghiên cứu luật pháp của ta, phần đông vẫn gièm pha chê trách không chấp nhận cái gọi là "tam quyền phân lập" của pháp chế tư sản. Vậy thì ta phải thảo luận với nhau như thế nào để tạo ra được một thể chế, nếu không tốt đẹp hơn thì ít nhất cũng phải tương đương chứ sao lại chịu thua kém được. Dù sao cũng phải công bằng mà nhận định rằng cái thiết chế "tam quyền phân lập" được tạo dựng trên cơ sở bản "khế ước xã hội" (Contrat social của Jean Jacque Rousseau) là một thành tựu, một bước phát triển để đảm bảo quyền sống của con người trong xã hội. Ai dám bảo nó không tốt hơn thiết chế phong kiến ? Tất nhiên, nhiều khi giai cấp tư sản cũng vờ vịt hình thức; nhưng chẳng lẽ ta kế thừa những cái tốt đẹp của nhân loại rồi ta chơi thật, lại không tốt hay sao ?

Nếu giới luật pháp cũng như giới quản lý của ta vẫn kiên quyết cho rằng tình hình luật pháp của ta cứ như hiện nay là ổn định được tình hình xã hội, là tốt đẹp và không cần thay đổi thì xin cứ thế mà tiếp tục, chẳng cần bàn bạc gì cả. Những ai quan niệm và chủ trương như thế thì xin nêu rõ tên tuổi chức vụ để cho con cháu ta, lịch sử ta nhận diện cho chính xác. Và tất nhiên, họ phải chịu trách nhiệm chứ không đổ chung chung cho Dân, cho Đảng, cho tập thể và cho khách quan được.

Theo ý chúng tôi thì tình hình hiện nay như thế là rất không tốt. Nếu không sửa thì hậu quả là rất không ổn định cả về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội.

Chúng ta có bộ phận công an điều tra để bắt bằng được mọi loại kẻ thù có hành vi xâm hại đến quyền lợi của nhân dân và cách ly chúng ra khỏi xã hội. Thế mà có những đ/c công an của chúng ta làm ăn tắc trách, điều tra lớt phớt, bắt giam cả người vô tội rồi lại đánh đập, nhục hình, ép cung, mớm cung thế nào đến nỗi người ta không phạm tội giết người mà phải nhận, ký vào bản cung.

Chúng ta cũng có những đ/c kiểm sát viên và những đ/c thẩm phán mà chúng ta hết sức tin cậy. Nếu chưa phải toàn vẹn về mặt năng lực thì cũng là về mặt phẩm chất. Thế mà chẳng đ/c nào chịu nghiên cứu kỹ hồ sơ để phát hiện ra những tình tiết chứng cứ đáng ngờ, vô lý rồi chất vấn lại bộ phận công an điều tra. Với những người có lương tâm và trách nhiệm đầy đủ còn phải bố trí thời gian gặp người phạm tội để hỏi rõ ngọn ngành và bằng độ nhạy cảm của tâm linh mà tìm ra sự thật rồi giao Tòa án Nhân dân để tỏa ánh sáng công lý cho đời. Cả ba phía gồm công an, kiểm sát, tòa án họp nhau lại nhất trí đồng thanh kết tội : tù chung thân.

Thế là, theo luật sư Lương Vĩnh Kim, đúng vào "một ngày đẹp trời", người bị giết lại lù lù trở về nhà.

Thế là các đ/c công an, kiểm sát, tòa án lại họp lại nhất trí với nhau và đồng thanh tuyên bố : phóng thích. (Lương Vĩnh Kim : Một ngày đẹp trời - Báo Tuổi Trẻ số ......./1998).

Vấn đề gay cấn nhất của chúng ta hiện nay là : mình với ta tuy ba mà một, ta với mình tuy một nhưng vẫn phải là ba. Tuy có một sự lãnh đạo chung nhưng phải nghĩ cách tạo ra một cơ chế vận hành như thế nào để ba anh lập pháp, hành pháp và tư pháp trong khi cùng chung mục đích phục vụ nhân dân vẫn giữ được vị thế độc lập tương đối với nhau, giám sát và kiểm soát lẫn nhau trên cơ sở hiến pháp và luật pháp. Có như thế mới hy vọng thực thi được những chức năng chủ yếu của nhà nước chuyên chính dân chủ nhân dân.

Tất nhiên, cũng không thể mơ hồ rồi lại rơi vào tình trạng dập khuôn. Đừng thấy ông Clintơn ra lệnh đánh hết Irắc lại đến Nam Tư, tiếp tục cấm vận Cuba rồi lại lăm le cấm vận Pakistan, khích hết sắc tộc này đến tôn giáo khác bắn giết lẫn nhau mà tưởng nhầm rằng đó hoàn toàn là ý chí và quyền hành của tổng thống.

Không, các vị tập đoàn lái súng ở hậu trường chính trị chỉ đạo cả đấy thôi. Cũng như vụ Monicagate giải quyết theo hướng nào đâu có hoàn toàn phụ thuộc vào tập đoàn báo chí, hay hạ nghị viện, hay thượng nghị viện, hay tòa án tối cao.

Không, tất cả đều nhận một lệnh từ các vị tài phiệt ở đường phố Wall đấy thôi !

Chúng tôi cũng chân thành nhắn với những ai có dịp xuất ngoại Đông Tây đừng ngỡ rằng nước Mỹ là dân chủ nhất đời, thế giới tư bản là thế giới tự do nhất trên đời. Phải tinh tường, khảo sát cho kỹ và thường xuyên cập nhật. Nhẹ dạ cả tin trong lĩnh vực này là cực kỳ nguy hiểm. Vả lại, lâu lâu cũng nên giở Truyện và ký của Nguyễn Ái Quốc và Bản án chế độ thực dân của Nguyễn Ái Quốc mà học lại để cho kiến thức giữ được cấu trúc hệ thống.

Trước khi đi vào bàn một số vấn đề thực sự nghiêm trọng của đất nước, chúng tôi thiết nghĩ cần nhắc lại một lời chỉ dạy mang tính chất chiến lược của Cụ Hồ :

"Nước được độc lập, nhưng dân không có tự do hạnh phúc thì độc lập ấy cũng chẳng có nghĩa lý gì".

Nhắc lại như thế không phải là chúng tôi nhất nhất cái gì cũng "Cụ Hồ". Khi Cụ Hồ sai cũng được quyền phê bình Cụ Hồ, nhưng khi Cụ Hồ nói ra những điều chân lý thì không vâng theo sao được. Cho nên trong bài "Chỉnh đốn để tồn tại và phát triển", chúng tôi phê bình đ/c cựu Tổng bí thư Đỗ Mười và cả hai Đại hội Đảng lần thứ VII và lần thứ VIII là căn cứ vào những chân lý đó. Cá nhân đ/c Đỗ Mười nhầm còn có thể hiểu được nhưng sao cả tập thể đại hội Đảng lại có thể nhầm theo ? Độc lập đã hoàn thành từ sau ngày đại thắng 30-4-75 lại nói rằng phải nhắm vào mục tiêu phấn đấu cho độc lập rồi lờ đi mục tiêu dân chủ, tự do. Mà đã không có tự do thì lấy đâu ra hạnh phúc ! Cụ thể là được tự do cầy cấy thì đang đói kinh niên lập tức no ấm ngay, thậm chí còn dự gạo bán để làm giàu. Mới ngày nào đề ra chỉ tiêu 21 triệu tấn mà trầy trật không giải quyết nổi, thế mà "tự do" thì 33 triệu tấn giải quyết dễ như chơi. (Còn chuyện khốn khổ vì lúa chất ngập nhà ngập sân mà vẫn khổ thì sẽ bàn sau nhưng có thể nói ngay rằng vẫn là vấn đề "tự do" thôi. Sẽ có nhiều người cãi : so với trước đây thì ta cũng no ấm hạnh phúc lắm rồi, cái gì cũng phải giải quyết từ từ. Vâng, xin từ từ.

Chẳng lẽ dân Thái Bình và một số tỉnh đã có hạnh phúc rồi mà vẫn còn nổi dậy chống đối thì quả là điên thật.

Nhưng dân Thái Bình cũng như dân Việt Nam từ thượng cổ đến nay có bao giờ "điên" ?

Cũng nên có một cuộc trưng cầu dân ý xem có nên hưởng tự do hạnh phúc từ từ không, nếu cần từ từ thì từ từ ở mức độ nào và giới hạn cụ thể ra sao ?

Cứ theo chỗ khảo sát của chúng tôi và những người hiểu biết thì từ từ kiểu ta đang đi bây giờ để đến mục tiêu tự do hạnh phúc là Dân ta không chấp nhận và thời đại cũng không chấp nhận.

Thực tế cũng cho thấy một mâu thuẫn : trong khi khuyên Dân cứ an tâm, cứ từ từ thì họ lại hết sức gấp gáp "hy sinh đời bố, củng cố đời con". Họ cũng thấy cần phải làm giàu nhưng họ lại giữ độc quyền làm giàu. Họ cũng thấy thế hệ thanh thiếu niên là quan trọng nhưng nói phát triển thì lại phải ưu tiên cho "con cháu các cụ". Dân cứ yên tâm xếp hàng chờ đấy !

Cho nên chỉnh đốn về mặt tổ chức, nhân sự là rất quan trọng. Nhưng quan trọng trước hết là phải chỉnh đốn về mặt nhận thức và lý luận. Có như thế mới hy vọng chấm dứt được tình trạng đã tồn tại quá lâu đời trên đất nước ta : quan phủ đi quan tri nhậm. Chấm dứt được lối nói châm biếm, mỉa mai của Dân đã thịnh hành từ hồi chưa khoán :

- Dù sao thì ông ấy cũng ăn no rồi, xây nhà xây sân đủ rồi. Chớ có thay ông chủ nhiệm khác mà thêm rách việc !

Hồi ấy, nhiều người không hiểu lại tưởng Dân ta "sờ đầu gối nói chân thật", e ngại, cam chịu không muốn thay đổi gì. Có biết đâu đó là một lối kêu thật to, thật vang xa "Ới Trung ương Đảng ơi ! Chúng nó đang tham nhũng quá lắm !".

Cũng như gần đây, Dân lại bàn tán : chúng ta nên làm đơn kiến nghị với Trung ương không nên khai trừ các Đảng viên hư hỏng thoái hóa biến chất. Vì cho họ về làm "quần chúng" là Trung ương coi thường Dân. Cứ giữ lại trong Đảng mà giáo dục nhau. Nếu số hư hỏng đông quá thì Trung ương phải kiếm một cái đảo, tổ chức cho họ sống riêng chứ không thể cho họ sống lẫn lộn với nhân dân lương thiện được.

Những người cầm quyền và cả những nhà nghiên cứu văn hóa dân gian nên nghiền ngẫm về cái kiểu : "nói đây nhưng chết cây Hà Nội" của bà con lao động áo ngắn.

Đã đến lúc cần phải nhất trí với nhau rằng : Đổi mới ở ta thực chất là một cuộc cách mạng. Cuộc cách mạng này nên làm từ trên xuống chứ không nên để từ dưới làm ngược lên. Trên phải chủ động để tránh mọi sự hỗn loạn, đổ vỡ. Dứt khoát không được dùng những biện pháp, cải lương cải cách nửa vời. Tuyệt đối không dùng những thủ đoạn chắp vá lặt vặt.

Sở dĩ chúng tôi đề nghị sửa tận gốc chính là với ý nghĩa như thế. Gốc vững thì nước yên, chế độ vững vàng. Có tự do thì có hạnh phúc. Đã no ấm hạnh phúc mà xã hội lại không ổn định thì ai thấy ở đâu có tình hình như thế xin mách giùm !

Còn không có tự do hạnh phúc mà xã hội vẫn ổn định thì mong các sử gia "trong biên chế" cũng vui lòng chỉ giúp : Có thời kỳ lịch sử nào ở nước ta cũng như ở thế giới có tình hình như thế không ?

Đại hội VI yêu cầu toàn Đảng, toàn Dân "nhìn thẳng vào sự thật, nói đúng sự thật, nói hết sự thật" đánh dấu một bước tiến quan trọng về mặt nhận thức.

Nhưng chúng tôi thấy cần bổ sung :

- Còn phải chân thành, dũng cảm, thẳng thắn bàn bạc về sự thật cho ra lý ra lẽ và tìm mọi biện pháp thích hợp giải quyết đạt hiệu quả.

- Ai đã chót tham gia giới lý luận mà thấy mình thiếu dũng cảm, thẳng thắn hoặc thiếu trình độ hiểu biết thì hãy vui lòng tạm rút, dành thời gian trau dồi kiến văn, tôi luyện bản lĩnh rồi hãy tham gia. Không được dựa vào quyền được hưởng tự do ngôn luận mà nói nhảm nhí lung tung được. Tự do phải có giới hạn chứ không thể tự do "quá trớn". Các cụ xưa đã dạy : biết thì hãy thưa thốt, và phải chịu trách nhiệm rõ ràng trước pháp luật.

Thảo luận về những vấn đề lớn lao và quan trọng như : nhận thức và tổ chức lại Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Tòa án các cấp, .... đâu có thể tùy tiện, khinh suất mà được. Phải nghe nhìn cho thấu, suy ngẫm cho suốt, tâm phải thành, trí phải sáng mới có thể bàn chuyện quốc gia đại sự được.

Trước khi bàn cụ thể từng vấn đề và kiến nghị những giải pháp để thực hiện trong thế kỷ XXI, chúng tôi thấy cũng cần phải chỉnh đốn lại một nhận thức đã quá phổ biến và không biết còn đeo đẳng chúng ta tới năm tháng nào trong thiên niên kỷ mới.

Đã sống hơn một nửa thế kỷ trong chế độ dân chủ với một nhà nước dân chủ, hằng ngày hằng giờ hít thở không khí dân chủ, thế mà không hiểu sao, không ai bảo ai lại cùng lưu giữ những thứ cấm kỵ hết sức cổ lỗ. Rồi lại mang đủ các thứ cổ lỗ ấy ra để hù dọa nhau và hầu như ai cũng cảm thấy mình khôn ngoan thận trọng chín chắn khi biết tôn trọng hoặc lánh xa những điều "cấm kỵ".

Chẳng lẽ họ lại mau quên quá khứ đến thế. Xưa thì vua chúa phong kiến, mới gần đây là chủ nghĩa thực dân cũ, lại gần hơn nữa là chủ nghĩa thực dân mới. Ừ thì chuyện tru di tam tộc tạm cho là đã xa lơ xa lắc, nhưng còn chuyện Hỏa Lò Hà Nội, Khám Lớn Sài Gòn, Côn Đảo và nhất là chuyện ông tổng thống tay sai Ngô Đình Diệm kéo lê máy chém khắp một nửa đất nước, tất cả cũng chỉ chung mục đích khiến cho người ta sợ, ngậm mồm ngậm miệng lại để cho chúng dễ bề đè đầu cưỡi cổ. Nhưng dân Việt ta đâu có ngán.

Phải công bằng mà xác nhận rằng về những trò dọa dẫm, bắt bớ, tù đày, tra tấn, thủ tiêu ngầm, nhục hình, bắn giết,... thì các vị phong kiến và thực dân cũ, mới đều đáng mặt bậc thầy cả.

Ta cần gì học tập chúng. Và xuất sắc về những mặt ấy để làm gì ? Nó trái hẳn với bản chất nhân văn, nhân đạo của nòi giống ta. Mà KGB Liên Xô, đại cách mạng văn hóa Trung Quốc cũng đã chơi những trò này rồi. Để đi đến đâu ? Còn đ/c nào của ta do nhận thức sai lầm lại đi học đòi những điều xuẩn ngốc đó thì ta liệu lấy lời hơn lẽ thiệt bảo ban, dạy dỗ, giác ngộ cho họ. Hà cớ gì phải sợ ? Ắn không dám ăn, nói không dám nói. Lúc nào cũng dúm dó, nơm nớp, mất cả tư thế của người chủ đất nước.

Vào sinh ra tử, mấy chục năm liền quyềt sống mái với kẻ thù dân tộc và giai cấp thì không sợ. Cất lên nói dăm ba câu phải trái thì lại sợ. Thế nghĩa là thế nào ? Chẳng lẽ đi theo cách mạng, đi làm cách mạng bằng ấy năm trời để rồi lại tự nguyện cam tâm ôm cái tâm lý tôi đòi để trở thành những nô lệ mới hay sao ?

Thật đáng cười và cũng đáng thương cho những ai cầm bút nghiên cứu khoa học, cầm bút sáng tác văn học nghệ thuật lại ôm ấp cái tâm lý khốn khổ như thế. Dân tộc và cách mạng hẳn phải xấu hổ khi đã sản sinh ra một bộ phận trí thức ươn hèn như thế. Chính những người đó lại mỉa mai rằng chúng tôi lên mặt dạy đời.

Xin thưa rằng chúng tôi quả thật không hề muốn học tập những ai không đáng học tập và cũng không dám lên mặt dạy những ai thấy rằng họ chẳng cần phải học tập gì nữa.

Nghĩ sao nói vậy. Nghĩ sao viết vậy. Ai thấy rằng những điều trò chuyện dài dòng này có ít nhiều ý nghĩa, có thể chia sẻ được thì đúng là tri âm của chúng tôi. Thủy chung, chúng tôi vẫn thấy rằng đức thánh Khổng dạy là đúng : Học không biết chán, dạy không biết mỏi; lời Lênin dạy là đúng : Học, học nữa, học mãi. Và Hồ Chí Minh của chúng ta chỉ riêng về chuyện học cũng đáng là tấm gương sáng cho muôn đời.

Khi chúng tôi nói "Đảng của chúng ta", chúng tôi tự ý thức được rằng lòng mình không hẹp, trí mình không cạn, mà sự thật lịch sử là Đảng này đâu phải của riêng ai.

Ôi ! Chẳng lẽ tất cả những nô lệ Việt Nam và nô lệ trên đời này đã chọn lựa Đảng Cộng sản đều là nhầm lẫn cả chăng ?

Kẻ nào gây ra sự nhầm lẫn, kẻ đó phải chịu trách nhiệm trước Lịch sử !

Khi Mác từ bỏ mọi học hàm học vị của mình, từ bỏ cả một đời sống yên ổn, hứa hẹn nhiều vinh hoa phú quý để chọn đường này; khi F. Engels từ biệt cha mình và giai cấp của mình, vĩnh biệt cả quyền thừa kế thiêng liêng của mình; khi Hồ Chí Minh thuở đó còn mang tên Nguyễn Tất Thành, nuốt nước mắt bỏ lại cha già nơi đất khách, rời quê hương và Tổ quốc yêu quí dấn thân vào con đường đầy chông gai sóng gió, .... và tất cả những ai mang, bản chất người, có gan từ bỏ cả những gì là thân thiết quí giá của đời mình (kể cả sinh mạng) để chọn con đường này, đâu họ có nhầm !

Có thể có khuyết điểm này nhược điểm khác nhưng chúng tôi vẫn có quyền tự khẳng định rằng : chúng tôi không nhầm.

Chúng tôi chân thành chia buồn với những đồng chí nào đã suốt một đời theo cộng sản mà như theo một thứ đạo giáo, giờ đây lại thấy lòng mình "khô đạo", vỡ mộng, sụp đổ lòng tin .... xin các vị vui lòng bớt đi cho những lời chửi đổng hay phàn nàn ca cẩm. Hãy bình tâm "xét lại" xem mình đã từng mộng mị ra sao. Và các vị không được phép quên rằng Nhân dân và Tổ quốc vẫn ghi nhận đầy đủ công lao của quí vị. Phải tin rằng những gì tốt đẹp trên đời được tạo dựng bằng mồ hôi và xương máu không bao giờ có thể trở thành vô ích và bị lãng quên.

Cũng như các vị, chúng tôi thấy chúng ta có trách nhiệm đối với đương thời và các thế hệ đến sau. Chúng ta đừng hướng con cháu chúng ta vào những niềm tin vô căn cứ hoặc chỉ mang lại lợi ích nhất thời. Chức quyền, bạc tiền thì quí thật, không được coi thường, nhưng đó chỉ là phương tiện không nên coi là cứu cánh (mục đích cuối cùng). Sắp bước sang thế kỷ mới mà vẫn giữ quan niệm "bất cần danh lợi" là bảo thủ, thiếu hiểu biết hoặc đạo đức giả.

Danh hư thì không màng, nhưng danh thực thì cần lắm chứ !

Đã mang tiếng ở trong trời đất
Phải có danh gì với núi sông


(Nguyễn Công Trứ)

Lợi bất chính, thì không thiết nhưng lợi chính đáng, sao có thể bỏ qua ?

Cho nên khi Đức Mạnh Tử hỏi có ý trách Lương Huệ vương : nhà vua cứ nói đến lợi làm gì (hà tất viết lợi ?), chỉ nên bàn chuyện nhân nghĩa (nhân nghĩa nhi dĩ hĩ) (Mạnh Tử - Lương Huệ vương). Những lời đẹp đẽ kiểu ấy xưa quá rồi, hỡi các nhà Tân khổng giáo ! - Không theo được đâu !

Phải tiếp tục bàn về nhân nghĩa nhưng không nên vì thế mà quên bàn về lợi ích.

Chẳng phải vì lợi ích, lợi quyền của tất cả những người bị áp bức bóc lột mà cần phải có mặt những người cộng sản trên đời này đó sao ?

Chúng tôi nói cộng sản thứ thiệt để phân biệt rành rọt với thứ cộng sản mỹ ký.

Cộng sản thứ thiệt là những người luôn luôn khuyến cáo nhắc nhở nhau :

"Nếu trên đời còn người nghèo khổ
Chớ thản nhiên sung sướng riêng mình"


(Trần Khuê)

Đâu có thể cứ vỗ ngực ta đây là "Việt minh", "Việt cộng" mà qua mắt được nhân dân.

Một người có thể nhầm nhất thời và nhầm cho đến hết đời. Nhân dân có thể nhầm nhất thời nhưng không bao giờ nhầm mãi mãi.

Điều đáng nói là không hiểu vì sao những "đảng viên thứ thiệt" lại quay ra sợ các "đảng viên mỹ ký". Thậm chí lại mang một tâm trạng bất lực đến nỗi đài chưa báo tin gió mùa đông bắc mà đã vội run lên với nhau cả rồi.

Thế là dựa vào tâm lý này các vị "mỹ ký" tha hồ múa may quay nồm, ăn vụng, ăn cắp, trộm cướp ngay giữa ban ngày. Tỉnh ra thì ôi thôi chúng khuân rỗng cả kho hàng, kho bạc, bán giời chán rồi đến bán đất. Xem chừng lại còn đeo công nợ quốc tế vào cổ con cháu không biết đến đời kiếp nào mới trả xong.

Thế mà khi bàn về việc sửa tận gốc tức là sửa đổi lại Đảng ta thì lại chúng khẩu đồng từ : ấy chết ! đó là việc của Trung ương chứ đâu phải chuyện "gái góa lo việc triều đình", không cẩn thận rồi lại làm mất ổn định chính trị thì gay".

Trung ương bối rối, yêu cầu mọi người nói thẳng nói thật để giúp đỡ, thì mình phải có trách nhiệm góp trí, góp một tay gỡ rối, sao lại có thể làm ngơ được. Không được quyền khinh thường, cũng không được phép sợ hãi. "Nhất ngôn hưng bang, nhất ngôn táng bang", phải nói để tỏ hết trách nhiệm của mình.

Đành rằng trong Đảng, số thoái hóa biến chất không còn là ít nữa nhưng người "cách mạng thứ thiệt" đâu có quyền bi quan. Phải nghĩ ra cách thanh lọc chứ. Và dứt khoát phải bỏ chuẩn cũ nào không thích hợp để định ra những chuẩn mới, cho phù hợp với qui luật và thời đại.

Đảng của thời kỳ xây dựng đất nước, lãnh đạo nhân dân làm kinh tế, làm khoa học kỹ thuật làm sao lại giống y nguyên Đảng thời bí mật, thời cướp chính quyền hay thời kháng chiến được ? Thử nghĩ xem một người được lòng quần chúng (cả tiến bộ lẫn lạc hậu) được lòng cả chi bộ (cả thứ thiệt lẫn mỹ ký) và đ/c Bí thư thì họ thuộc loại người nào mà ta vội "cộng sản hóa" họ ? Đưa những người trung bình và ba phải vào Đảng mà lại mong có một Đảng mạnh thì thật là chuyện hão huyền. Trước đây anh nào yêu nước dũng cảm, trung thành, lý lịch đảm bảo là rõ ngay. Vì anh dám chơi với mật thám, dám sẵn sàng vào Hỏa Lò hay đi Côn Đảo, dám mặt đối mặt với xe tăng tàu bò hoặc dám xẻ dọc Trường Sơn, coi khinh B52 thì mời anh đứng vào hàng ngũ. Cứ nhử kẹo các vị mỹ ký cũng không dám len lách vào đây.

Trong những hoàn cảnh đó cũng không thể khảo kiến thức Mác - Lênin hay lý luận cao xa này khác. Có chuyện thật nhưng cũng không nên lấy đó làm buồn cười. Có vị tỉnh ủy viên nào đó đã viết thư cảm ơn trường Đảng về một thu hoạch quan trọng rằng nhờ các đồng chí mà tôi hiểu được Mác - Lênin là hai đồng chí chứ không phải một. Không sao cả, miễn là cứ "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Đáng lẽ qua mấy cuộc kháng chiến mà may mắn còn sống sót thì lo mà học hành cho chu đáo, chứ cứ đeo sắc cốt đi họp hết ngày này sang tháng khác, động học là ngủ gật thì trở thành "người thật việc thật" trong kho tàng tân tiếu lâm cũng chẳng có gì là lạ.

Chuyện cười ra nước mắt là có những người thuở ban đầu đều có bản lĩnh, thế mà tự gọt bản lĩnh mình thế nào thành tròn trặn đẩy chỗ nào cũng tới. Cấp ủy nào cũng trúng, thậm chí có người còn được đẩy tụt vào Trung ương, 5 năm "không nói không cười" nên được phong là nghiêm trang, thận trọng, chín chắn, đúng mực. Chính chúng tôi đã chứng kiến một đ/c bí thư tỉnh ủy kiêm ủy viên Trung ương Đảng được cả trên lẫn dưới công nhận là người hiền hành đức độ ít nói và biết lắng nghe. Các giám đốc sở các cấp huyện cấp xã, ai báo cáo gì, dù ngắn dù dài, đ/c ấy cũng ngồi yên lắng nghe không ngắt lời ai và cũng chẳng có ý kiến khen ngợi hay chê trách ai. Khi cần đăng đàn huấn thị thì bao giờ cũng phát bài "Ba cuộc cách mạng" mà cách mạng kỹ thuật là then chốt. Cho đến lúc đ/c này về hưu, người ta mới hiểu rằng sở dĩ đ/c ấy không giải quyết được những vấn đề nhằm đưa một tỉnh vốn có nhiều tiềm năng phát triển được, trong phạm vi quyền hạn của mình là vì một phần do thiếu trình độ và năng lực, một phần do ý thức trách nhiệm kém (không dám quyết định vì sợ trách nhiệm, còn tình hình của tỉnh không tốt đã có tập thể tỉnh ủy và cấp trên tức là Trung ương chịu trách nhiệm, một phần nữa do bản tính hiền lành, muốn giữ được đức độ cá nhân, tránh mọi sự va chạm mà trở thành nhu nhược).

Đúng như một nhà thơ đã viết :

"Những kẻ tốt đến yếu mềm chỉ là đồ giẻ rách"

(Việt Phương - Cửa mở)

Đất nước mình tồn tại được vì không phải là môi trường thích hợp cho những kẻ "tốt đến yếu mềm" sinh sôi nảy nở. Đất nước mình là đất nước của những người hiền, nông dân hiền, công nhân hiền, trí thức hiền, thần thánh lại càng hiền. Nhưng hy vọng mọi người chớ quên rằng đây là những "người hiền biết cầm gươm" (ý thơ Trần Đăng Khoa). "Hiền với bụt chứ không hiền với ma", dù đó là ma ngoại xâm hay ma "nội xâm" thì cũng phải tiêu trừ cho sạch bóng trên đất nước này. Kẻ nào khôn hồn thì hàng phục và sám hối để được hưởng lượng khoan hồng. Nói cho bọn "nội xâm" cường hào quan liêu tham nhũng rằng "hàng thì sống, chống thì chết". Chớ có mơ hồ, ỷ lại vào những ô, dù đang độ rách rồi rơi vào tình trạng "chết đuối vớ phải cọc", hối thì đã muộn.

Mong rằng mọi người cách mạng thứ thiệt xúm nhau lại họp bàn để kéo lại, giữ lại bằng được cái bản chất cách mạng của Đảng ta. Tất nhiên là phải nhận diện cho chính xác những kẻ cơ hội. Đó là cái bọn "đi với bụt mặc áo cà sa, đi với ma mặc áo giấy" - chớ có nhìn vào áo mũ, cái ghế hay cái ô tô phải nhìn vào tim gan họ.

Đã đến lúc phải mạnh dạn chia tay với cái nếp khôn vặt, thụ động "gió chiều nào che chiều ấy". Lại phải như ngày nào, giữ thế chủ động xông thẳng vào gió mưa bão táp mà giải quyết vấn đề.

Mỗi người một ý hay góp vào, có nói nhầm nói sai cũng chẳng chết ngay đâu mà sợ. Lòng trong sáng, lo gì tập thể và nhân dân không hiểu mình. Đã yêu nhau thì bao nhiêu chỗ lệch cũng kê cho bằng được hết. Đảng mình có những chỗ sai, chỗ hỏng thì phải góp ý xây dựng để sửa chỗ sai chỗ hỏng chứ lại giữ thái độ "kính nhi viễn chi" sao được.

Như trên chúng tôi đã nói : vấn đề gay cấn nhất của Đảng mình hiện nay không phải là lo sửa chữa những sai sót cụ thể về mặt này mặt khác. Gay nhất là chỉnh đốn lại nhận thức và lý luận. Có thể nhận thức đúng và lý luận đúng, tình hình vẫn không phải lập tức tốt ngay lên. Nhưng chắc chắn tình hình cũng không thể tiếp tục xấu hơn. Câu này của Lênin vẫn là một chân lý : "Không có lý luận cách mạng thì không có phong trào cách mạng".

Khi đã có lý luận đúng thì hành động sẽ đúng và tình hình sẽ dần dần tốt lên và chắc chắn sẽ đi đến thắng lợi cuối cùng. Nếu có thất bại thì cũng là tạm thời thôi chứ không thể đột nhiên tan rã và sụp đổ như Liên Xô và Đông Ấu vừa qua.

C- Theo chúng tôi, vấn đề cấp thiết nhất về lý luận hiện nay là phải hiểu cho chính xác và toàn diện về khái niệm "cầm quyền".

"Đảng ta là một Đảng cầm quyền" (Di chúc Hồ Chí Minh). Thêm một lần nữa, chúng tôi xin nhắc lại rằng : đó là một chân lý, một nhu cầu của Dân tộc và Lịch sử. Và đó cũng là một thực thể chính trị mà mọi lực lượng chống cộng cần nhớ rằng : động đến nó là động đến cả một dân tộc. Chớ có đùa với lửa, chớ có đùa với lịch sử. Nhưng ta với nhau thì lại phải phân biệt cho rõ : thế nào là cầm quyền ? Cầm quyền gì và không cầm quyền gì ? Ở đời có chuyện không cầm mà vẫn giữ được tất cả, ngược lại cầm hết, cái gì cũng cầm thì lại chẳng nắm giữ được gì.

Lại có chuyện cũng là cầm nhưng lại cầm lỏng cầm chặt ở cấp độ nào. Cái gì cũng cầm lỏng cả, thậm chí lại còn buông lỏng, liệu còn giữ được những gì ? Cái gì cũng cầm chặt, khư khư cầm tất cả thật chặt liệu đủ sức không ? Và giữ được bao lâu ?

Lâu nay, giới lý luận của ta hầu như không quan tâm đến vấn đề phân biệt cầm quyền lãnh đạo và cầm quyền quản lý, chỉ mải nhấn mạnh và chỉ lo mọi người quên mất rằng : Đảng phải độc quyền lãnh đạo, duy nhất lãnh đạo. Và trong khái niệm lãnh đạo này, người ta gói trong nội hàm của nó cả quyền quản lý. Họ lại luôn luôn lo sợ rằng hễ chia quyền là mất Đảng, mất CNXH. Do đó, mấy chục năm liền ở ta cũng như toàn phe XHCN, Đảng lãnh đạo tất cả mà cũng quản lý tất cả.

Hãy cứ công nhận tất cả như thế là đúng thì ngay trong cái đúng này cũng đã chứa đựng những sai lầm không thể khắc phục được.

Thử ngẫm xem trên đời này, từ cổ chí kim, từ đông sang tây, từ tế bào vi mô cho đến vũ trụ vĩ mô có cái gì một, chỉ một mà thôi và dứt khoát phải một mà tồn tại được. Tồn tại không xong chứ nói gì đến phát triển.

Độc quyền lãnh đạo, về mặt nào đó, phải coi là một nguyên tắc. Với cái nghĩa đơn giản nhất lãnh đạo là dẫn đường, vậy thử hỏi tất cả các vị, nhu cầu của chúng ta là phải cần mấy người dẫn đường ? Giả thiết có hai vị dẫn đường mà một vị thì chuyên môn hứa hão nhưng lại kiên quyết bảo mọi người rằng : cứ theo ta tất sẽ đến cõi no ấm, cõi vui vẻ; với một người : đi với ta đến cùng, chia sẻ với ta mọi nỗi đắng cay, nhọc nhằn tủi nhục, vui buồn có nhau, nói với ta rằng : con đường hạnh phúc còn xa nhưng quyết đi thì sẽ tới. Vậy thì ta chọn ai là kẻ dẫn đường ?

Chuyện đời nhiều khi nói dài dòng sinh phức tạp chứ thực ra cũng đều là giản dị dễ hiểu thôi. Ai đã từng đi đường trường đều tự biết phải đi như thế nào, phải tìm ra cách đi, sao cho đỡ tốn sức người sức của và đến mau đến được nơi cần đến. Cái khó của chúng ta là đường cách mạng lại là một loại đường quá dài, quá gai góc mà đích của nó lại là một vùng chưa có dấu chân người.

Không thể vừa đi vừa ca cẩm phàn nàn hoặc lại nằm xuống kêu mệt, kêu khổ. Thậm chí lại vừa đi vừa ngoái cổ luyến tiếc những gì đã quen hay bàn nhau vòng lại lối xưa đường cũ. Đi kiểu này hẳn là muôn thuở sau cũng chẳng đến nơi ta cần đến, chưa kể có vị vừa đi vừa mỉa mai châm biếm kẻ dẫn đường.

Đi đường thì tốt hơn cả là nên giắt trong hành trang thơ văn của người xưa, nhất là thơ văn của cụ Hồ thì giữ tâm linh được yên ổn mà đi tới, tránh được chuyện nản lòng thoái chí :

Đi đường mới biết gian lao

Núi cao rồi lại núi cao trập trùng

Núi cao lên đến tận cùng

Thu vào tầm mắt muôn trùng nước non

(Nhật ký trong tù)

Đi đã khó, dẫn còn khó biết chừng nào. Người dẫn đường làm sao dám quên mang theo cẩm nang và vận dụng sáng tạo những điều ghi trong cẩm nang của các vị tiên liệt anh hùng :

- Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng.

- Quần chúng là người sáng tạo lịch sử.

- Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong.

- Dân là gốc nước, gốc vững thì nước yên.

- Dân như nước, chở thuyền là dân, lật thuyền cũng là dân.

- Miệng dân sóng bể. Tức nước thì vỡ bờ.

Và có một nguyên tắc mang tính qui luật sao có thể quên : "Mỗi người đều phải đi bằng chân của mình" không thể đi hộ người khác, càng không thể nghĩ thay làm thay người khác.

Nhân dân đi đường chắc chắn phải biết chọn ai cẩn thận để giữ hầu bao, chọn kẻ nào khỏe mạnh để giữ gươm súng đối đầu với thú dữ trộm cướp và không thể giao gạo cho những ai suốt đời "trên sống dưới khê tứ bề nhão nhoét", càng không thể giao cho những vị ú ớ, ngọng nghịu làm kẻ phát ngôn cho mình hoặc cần đối thoại khi hỏi đường hay giao lưu đổi chác mua bán. Nhất định là không giao vải cho những kẻ chưa cầm vững kéo, càng không thể dán vào trán vài ba học hàm học vị rồi cấp hàng tỉ hàng tỉ nuôi béo các vị cai đầu dài trong khoa học.

Tóm lại là cứ tin ở nhân dân, để cho họ lựa chọn những kẻ quản lý từng công việc, từng lĩnh vực.

Nhiều người tưởng đã độc quyền lãnh đạo thì đồng thời phải độc quyền quản lý. Nhầm to ! Thực tế trên đời này chưa có một đảng nào dù tư sản hay vô sản có đủ năng lực và đủ người dăng khắp mạng lưới quản lý từ chính phủ trung ương cho tới các làng xã địa phương. Càng không thể có đủ năng lực và người để quản lý mọi lĩnh vực của đời sống như kinh tế, giáo dục, văn hóa, xã hội v.v. Liên Xô là một mẫu mực về cố gắng này nhưng đã hoàn toàn thất bại. Chúng ta không thể đi theo vết xe đổ đó. Chúng ta không có đủ số đảng viên có năng lực để quản lý các loại hợp tác xã nông nghiệp cấp cao cũng như cấp thấp. Đơn giản là với một nền sản xuất nhỏ, kỹ thuật canh tác lạc hậu mà lại tổ chức làm ăn theo kiểu "cha chung không ai khóc", "lắm sãi không ai đóng cửa chùa", không thể có năng suất như ta mong muốn. Cho nên dù có lo lắng chủ nghĩa tư bản sẽ tự phát nảy nở hằng ngày hằng giờ trên từng mảnh đất riêng lẻ của nông dân, chúng ta vẫn phải giao ruộng đất cho từng hộ nông dân, từng chủ trang trại để họ quản lý thay cho các ban chủ nhiệm hợp tác xã và các ban giám đốc nông trường do tổ chức Đảng cắt cử.

Ở công nghiệp cũng thế thôi. Mấy chục năm liền chúng ta chấp nhận hai hình thức xí nghiệp quốc doanh và hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp. Không thể có chuyện cá thể hay tư nhân ở đây. Làm ăn dù có giỏi giang hiệu quả như vua Lốp thì cũng phải tìm mọi cách triệt bằng xong (cho đến nay chúng tôi cũng không rõ UBND TP Hà Nội đã trả lại nhà cửa và bồi hoàn thích đáng cho ông vua Lốp này chưa).

Và cho dù chúng ta ghê tởm CNTB và lợi nhuận đến đâu, chúng ta vẫn không dám tiếp tục ôm ấp để bù lỗ cho hàng chục ngàn xí nghiệp quốc doanh. Cho dù về mặt lý luận cũng như thực tiễn, các đ/c giáo điều tăng cường hù dọa chúng ta, vẽ ra đủ các thứ viễn cảnh đáng sợ, cuối cùng chúng ta vẫn phải tiến hành cổ phần hóa xí nghiệp quốc doanh và dò dẫm từng bước tư nhân hóa xí nghiệp quốc doanh. Bộ Công nghiệp cũng đã thử lên tiếng rao bán hoặc cho thuê xí nghiệp quốc doanh, nhưng chẳng thấy ai mặn mà hưởng ứng. Nên mừng hay nên lo ? Mừng là vẫn còn xí nghiệp quốc doanh để chủ động bổ nhiệm người tin cậy đứng ra quản lý, lo là không biết nếu trưng thu tất cả lương bổng và tài sản của bộ trưởng và tất cả nhân viên trong Bộ, cả lương tổng giám đốc, giám đốc quốc doanh có đủ bù lỗ không ?

Nói thẳng ra, ai giữ lại thì người đó chịu trách nhiệm chứ không thể kêu gọi Nhà nước và Nhân dân cùng đóng góp trong chuyện lỗ lã này.

Nói sơ sơ như thế để thấy rằng không thể mơ hồ về lý luận và tiếp tục đùa giỡn với qui luật. Như thế là Trung ương Đảng cũng như Nhân dân ta đều cùng nhận thấy rằng mình phải thoát ra khỏi cuộc khủng hoảng của bản thân đất nước mình càng nhanh càng tốt. Trong cơn bão khủng hoảng tài chính ở khu vực Đông Nam châu Á vừa qua, ta thuộc loại cây thấp nên chịu ảnh hưởng ít nhưng như thế không có nghĩa là có thể tự tin vô lối đến mức bình chân như vại. Cần nhớ rằng lạm phát hay thiểu phát đều tai họa không kém gì nhau. Trong những năm 80 và sang cả đầu thời kỳ 90, chúng ta chống lạm phát có hiệu quả. Do nhiều nguyên nhân nhưng đừng quên một nguyên nhân quan trọng là : lũ "tín dụng" lừa đảo như nước hoa Thanh Hương, Đại Thành, Huỳnh Là .... đã gom gần hết tiền mặt của nhân dân vô tình đã tạo một hệ quả vào việc "chống lạm phát" một cách vô ý thức.

Còn hiện nay lại có tình hình ngược lại, Thủ tướng thấy tình hình giảm phát là nguy hiểm cho nền kinh tế nên kêu gọi và hạ lệnh kích cầu, nhưng mấy ông bộ trưởng Tài chính, Bưu điện, Tổng cục thuế, Ủy ban vật giá chính phủ .... lại ban hành đủ các thứ giá mới, thuế mới trong cùng một thời kỳ nhằm triệt tiêu sức mua của nhân dân.

Đặc biệt việc bán 4.000 tỉ công trái là cách tốt nhất để bảo rằng đừng có mua hàng nữa. Đặc biệt hơn nữa là báo chí ta lại đăng một loạt bài của các nhà nghiên cứu đả kích tâm lý tiêu thụ hàng hóa và khuyến cáo "tiết kiệm".

Tất nhiên, tiết kiệm bao giờ chẳng là quốc sách. Hiện nay, nếu đi nhà hàng mà bảo nhau uống hết két bia này đến kết bia khác, thậm chí còn dội bia lên đầu nhau, hoặc "quan tỉnh" lại cưỡi hàng ngàn con trâu (xe hơi đời mới trị giá tỷ hai) lên vùng cao "thăm nghèo hỏi khổ", hoặc các vị phóng tay duyệt những dự án như "thủy cung Thăng Long", "công viên Thế kỷ", làng văn hóa v.v. thì dứt khoát phải tập trung lũ này lại để tập huấn về bài học Tiết kiệm mà Cụ Hồ đã dạy. Chứ sao lại "dạy dỗ" nhân dân ta phải tiết kiệm. Nhưng cứ giữ chặt tiền tiết kiệm không sắm xe đạp, xe máy, ti vi và không cả uống bia bình thường v.v. thì hỏi sản xuất để làm gì và không bán được hàng thì đẩy mạnh sản xuất làm gì và xí nghiệp sẽ ra sao ? Tiết kiệm vô lối để đuổi các nhà đầu tư nước ngoài về nước và đẩy công nhân ra hè đường chăng ? Ngay nói chuyện lãng phí trong lễ hội hoặc cúng tế, xây từ đường mồ mả .... cũng là do các cán bộ văn hóa và các nhà nghiên cứu văn hóa cổ động mà nên phong trào. Ngay việc cưới hỏi ma chay mà dềnh dang lãng phí cũng là do mấy vị đầu huyện, đầu tỉnh làm gương trước.

Trách dân thế nào được !

Nói chuyện thực tế thì không biết đến bao giờ mới dứt được. Vấn đề là ta phải giải quyết trước hết về nhận thức, lý luận thôi. Có một điều có thể khẳng định được là Đảng chỉ có thể độc quyền lãnh đạo chứ không thể độc quyền quản lý.

Cần giải quyết một nhận thức chứa đựng mâu thuẫn và từ bỏ tính đồng bộ : ta đã không độc quyền quản lý về kinh tế, giáo dục, y tế và nhiều lĩnh vực khác, vậy thì tại sao hầu hết cán bộ lý luận của ta lại nói : dứt khoát ta phải độc quyền quản lý tư tưởng, báo chí và xuất bản.

Độc quyền mà đạt hiệu quả tốt trong việc củng cố chế độ và phát triển đất nước thì ta cứ việc tiếp tục độc quyền, chẳng cần phải bàn bạc gì. Nhưng thực tế cho ta thấy điều gì ?

Chúng tôi có dịp nói chuyện với đ/c Tổng biên tập báo Sài Gòn giải phóng Cao Xuân Phách :

- Tại sao anh không đề báo của anh là "cơ quan ngôn luận của Đảng bộ TPHCM" mà lại đề là "tiếng nói của nhân dân TPHCM" ?

Anh Cao Xuân Phách vặn lại :

- Thế anh thử đếm xem ở trên báo của chúng tôi có bao nhiêu ý kiến của bạn đọc ?

- Nhưng ý kiến bạn đọc lại do các anh duyệt, quyền đăng hay không lại ở trong tay các anh. Giả thiết bạn đọc tố cáo kẻ tham nhũng mà kẻ ấy lại có quan hệ gia đình họ hàng hoặc bạn bè đồng chí của anh hoặc của bất kỳ một người nào trong tòa soạn, liệu anh có đăng không ?

Đó là chúng tôi chưa kể những kẻ hư hỏng như phóng viên Minh Diện nhận tiền lót tay của bọn tiêu cục thoái hóa, quan liêu dối trá, lừa đảo, tham nhũng rồi viết bài rước chúng lên, lừa dối Nhân dân và Trung ương đến mức mọi người tưởng chúng làm ăn chân chính, có thành tích thực sự nên cứ để chúng mặc sức đục khoét, thậm chí còn nhầm lẫn đến mức thăng chức tăng lương hoặc còn tặng huân chương lao động cho chúng và cấp kinh phí cho chúng mở hội mừng công.

Đấy ! Tên Kiểm ở dệt Nam Định, lũ Tamexco, lũ Tân Trường Sanh, Phạm Nhật Hồng, Lê Minh Xư, Minh Phụng là thế đó. Chẳng lẽ tên Kiểm ở dệt Nam Định làm thất thoát hàng 600 tỉ (trong đó có 20 tỷ là tiền mua "quà cáp biếu xén" các cấp, các phóng viên báo Đảng ở Trung ương về thường trú và các phóng viên báo Đảng địa phương lại không biết gì chăng ? lại không hề sơ múi gì chăng ?

Của đau con xót, đáng lẽ mất 100 triệu, hay nói quá đi là 1.000 triệu đã phải tri hô ầm ĩ cho làng xóm và bà con hàng phố biết chứ, cho cấp dưới cấp trên biết chứ, sao lại để mất đến hàng ngàn tỉ, thậm chí 8.000 tỷ (vụ Epco Minh Phụng) mà các phóng viên cứ im như thóc ? Những chuyện sai trái tai hại này không phải chỉ công an kinh tế có phần trách nhiệm mà giới báo chí của ta cũng phải liên đới chịu trách nhiệm. Giao trách nhiệm cho các anh làm tai, làm mắt, làm miệng của nhân dân mà các anh lại giả đui giả điếc và không giả câm, nói năng viết lách tung hỏa mù làm mờ mịt cả tình hình, các anh có tội với Nhân dân không ? Có tội với Đảng không ? Điều chất vấn này chúng tôi xin dành cho Ban tư tưởng văn hóa Trung ương, Bộ Văn hóa và Hội Nhà báo Trung ương trả lời. Chúng tôi chưa thấy ai tự phê bình về sai lầm khuyết điểm này trên báo chí.

Ở đây, chúng tôi không muốn nói đến các Ban thanh tra nữa vì trong bản "Chỉnh đốn để tồn tại và phát triển", dựa trên tình hình thực tế chúng tôi đã kết luận : Các đoàn thanh tra của chúng ta đã bị vô hiệu hóa và trở thành tê liệt. Chúng tôi cũng đề nghị nên giải tán một tổ chức mang tính hình thức là các ban Thanh tra nhân dân. Chúng tôi rất mừng thấy đ/c Tổng bí thư Lê Khả Phiêu cũng nhất trí với nhận định của chúng tôi. Trong bài diễn văn bế mạc Hội nghị Trung ương lần thứ 8 vừa rồi, mọi người được xem truyền hình trực tiếp và nghe rõ ý kiến đ/c Lê Khả Phiêu nói thêm ngoài văn bản, đại ý thanh tra về cơ sở nào cũng được đánh chén và được nhận phong bì, như thế làm sao phát hiện được vấn đề.

Hiện nay, chúng ta có khoảng 650 báo hàng ngày, hàng tuần, nguyệt san, bán nguyệt san, các loại phụ san, tạp chí từ địa phương đến Trung ương. Mới nhìn qua, thật là một lực lượng hùng hậu. Nhưng thử rà soát lại xem có bao nhiêu kẻ vô tích sự hoặc cam tâm làm bồi bút cho bọn tham nhũng ?

Có một cái nếp không tốt và có lẽ người ta quan niệm phải như thế để giữ được tình đoàn kết trong nội bộ giới báo chí - nghĩa là ai sai mặc ai, không báo nào góp ý phê bình báo nào cả. Do đó, ngoài nội dung sai lầm hoặc nhạt nhẽo thì việc dùng từ sai, đặt câu sai, sửa mo-rat cẩu thả thành phổ biến và kéo dài.

Tình hình tăng về số lượng và sút kém dần về chất lượng không phản ánh đúng năng lực thực chất của giới cầm bút ở Việt Nam. Người có năng lực không sử dụng vào việc quản lý, người có gan viết sự thật không có đất dụng võ. Múa bút duyệt bài trong các ban biên tập hiện nay phần lớn là đám "bi ve" không hề có cái gọi là bản lĩnh của một nhà ngôn luận. Ngoài số người thận trọng muốn yên phận giữ ghế, làm việc theo kiểu tắc trách sự vụ, còn lại là những kẻ nghĩ đủ mưu mẹo câu khách kiếm tiền. Lại còn một số kẻ táng tận lương tâm thì hù dọa người, tống tiền các doanh nghiệp hoặc cơ quan "có vấn đề". Còn một ít người viết báo chân chính, giữ vững lương tâm của người cầm bút, thì gặp đủ mọi sức ép từ nhiều phía : cơ quan thì lo ảnh hưởng đến nồi cơm của anh em, những địa chỉ có vấn đề thì tìm cách xua đuổi hoặc hãm hại. Họ mượn chiêu bài bảo vệ cơ quan Đảng và cơ quan Nhà nước mà thực chất là bao che cho bọn cường hào tham nhũng để phê phán những người cầm bút này thiếu tính Đảng, tàn bạo hơn thì ghép cho tội cầm bút "chống Chế độ". Phùng Gia Lộc là một điển hình trong những nạn nhân điển hình của lối truy chụp và hãm hại này.

Đáng thương cho các cháu vừa mới tốt nghiệp các khoa báo chí. Trông gương các đàn anh như thế nên cũng uốn éo ngòi bút như thế nào để tồn tại. Một số bảo nhau trau giồi không phải kỹ năng viết mà là kỹ năng lách.

Chúng tôi ngờ rằng các đ/c ở Ban Tư tưởng - Văn hóa Trung ương cũng như các đ/c có trách nhiệm ở Bộ Văn hóa chưa nhận thức hết được sự nguy hiểm cho Chế Độ và Đất Nước do tình trạng xuống cấp về chất lượng viết và nhân cách của một số đông trong giới báo chí.

Vậy, những đồng chí nào chủ trương báo chí quốc doanh phải giữ độc quyền ngôn luận có đủ khả năng biện hộ cho tình hình này không ?

Ở lĩnh vực kinh tế cũng như nhiều lĩnh vực khác, chúng ta đã nhận thức được chơi kiểu một mình một chợ là không thể phát triển được nên ta buộc phải bỏ trò quốc doanh độc quyền. Vậy ở lĩnh vực báo chí và xuất bản có chơi trò độc quyền được không ?

Nếu cho rằng độc quyền độc diễn là tốt thì ta cứ tiếp tục, chẳng ai cấm được ta. Nhưng nếu tiếp tục làm trì trệ Đất nước và làm lâm nguy Chế độ thì chớ tìm cách chạy tội trước Nhân dân và Lịch sử.

Chúng ta nên bỏ cái tâm lý và một nếp nghĩ thiếu tự tin, lúc nào cũng lo sợ những phần tử xấu lợi dụng, địch lợi dụng. Lỡ nó lợi dụng quyền tự do ngôn luận, quyền ra báo tư nhân để phá ta thì sao ? Đúng là kiểu thần hồn nát thần tính.

Những đ/c chủ trương độc quyền ngôn luận, độc quyền báo chí quên mất rằng ta đang sống trong thời đại thông tin toàn cầu hóa. Ngăn chặn thông tin trong thời buổi này cũng vô lý như là bảo nhau đừng thở nữa. Lỡ không khí có bụi và vi trùng thì sao ? "Nhân cường tật nhược" mình khỏe thì sợ quái gì vi trùng, thần trí sáng suốt thì sợ quái gì ma quỉ. Vả lại ta có cấm nổi báo chí ngoại quốc viết về ta không ? (trong đó có cả các vị lưu vong mất gốc bán hồn cho quỉ, chỉ rình rập mang lửa về quê hương). Ngay các đài BBC, VOA, RFI. . . cứ ra rả hàng ngày hàng giờ xuyên tạc một cách kiên trì hàng nửa thế kỷ, ta đâu có ngán, dân ta đâu có bị mê hoặc.

Tóm lại, địch phá ta đâu có sợ bằng chính Ta phá Ta. Càng bưng bít thông tin thực tế chỉ càng có lợi cho bè lũ tiêu cực, thoái hóa tham nhũng. Càng bịt mồm bịt miệng nhân dân thì bọn cơ hội càng dễ bề lợi dụng. Và chính kẻ địch lại lợi dụng bọn cơ hội này để phát ngôn thay cho chúng và hướng dẫn dư luận đi chệch hướng.

Đánh phá trực tiếp vào chủ nghĩa Mác Lênin thì hàng thế kỷ nay các vị chống cộng đã từng thử sức rồi và cảm thấy phải sửa chữa và khắc phục tình trạng bất lực của mình.

Cái này sáng lên, cái khác tự nhiên phải mờ đi. Đánh phá kiểu cũ là lỗi thời rồi.

Giới sử học của ta bình chân như vại trước tình hình thiên hạ hô hoán, viết lách nhằm phục hồi triều Nguyễn, thậm chí có những vị học giả, giáo sư còn phụ họa theo biểu dương công nghiệp và chạy tội cho các vua nhà Nguyễn. Hàng loạt cuốn sách, bài báo và các bài tạp chí thi nhau ca tụng các ông vua bà chúa, ca tụng từ luật lệ, thiết chế chính trị, giáo dục, văn hóa xã hội, đạo đức cho đến cả các món ăn, lối sống cung đình, lễ tống táng và mồ mả của vua chúa nhà Nguyễn. Thậm chí có những vị còn trắng trợn bào chữa cho tội "cõng rắn cắn gà nhà" và tội làm mất nước của triều Nguyễn. Thế mới là đổi mới tư duy sử học, thế mới là "thoáng" chứ !

Đành rằng, nếu chúng ta có sự đánh giá nào khắc nghiệt và bất công với triều Nguyễn, chúng ta có trách nhiệm phải điều chỉnh, phải hối lỗi để đảm bảo sự công bằng đối với lịch sử. Nhưng đối với sự thật lịch sử thì tuyệt đối không ai được phép xuyên tạc.

Không thể có chuyện trong thực tế lịch sử và trên sách sử kể cả Quốc sử quán triều Nguyễn đã ghi chép rằng vua Gia Long đã khéo léo xua đuổi các thuyền buôn nước ngoài (có cả thuyền buôn của người Pháp) mà người nghiên cứu khoa học lại dám bịa ra rằng : nhà vua có chiếu chỉ phát triển thương nghiệp và tàu bè nước ngoài ra vào buôn bán tấp nập (tham luận của Nguyễn Cẩm Thúy tại Hội thảo Gia Long). Lại còn ca tụng vua Gia Long có công mở mang kinh tế miền Nam và đã biết làm "cơ chế thị trường" (tham luận của GS Trần Quốc Vượng, của tiến sĩ Lê Hồng Liêm ...). Và còn gợi ý ta nên biết ơn học tập truyền thống "cơ chế thị trường" đó.

Trong khi sử sách ghi chép rằng vua Quang Trung có chỉ dụ cấm quân đội Tây Sơn không được cướp bóc, đốt phá thì sao lại dám viết tham luận bịa ra chuyện quân đội Tây Sơn đốt phá thành Thăng Long, thậm chí còn đốt phá cả thị trấn cổ Hội an (vẫn tham luận của Trần Quốc Vượng).

Trong số 50 tham luận, có nhiều tham luận viết theo những giọng điệu đó nhằm đề cao vua Gia Long một cách vô nguyên tắc, hạ thấp và xúc phạm đến anh hùng Quang Trung và nghĩa quân Tây Sơn. Chúng tôi viết bài phản đối sự xuyên tạc lịch sử đến trao tận tay đ/c Trịnh Gia Ban, đại diện Tạp chí cộng sản ở phía Nam. Đ/c Ban yêu cầu chúng tôi đừng nêu tên các giáo sư, học giả đã nói sai vì "tạp chí của chúng tôi" đã qui định không phê phán các cá nhân một cách cụ thể, chỉ nên nói : "có ý kiến nêu rằng". Như thế là những người xuyên tạc lịch sử thì có quyền viết cụ thể rằng vua Gia Long thế này, vua Quang Trung thế khác. Còn người viết phản đối sự xuyên tạc lịch sử thì lại không được nói động đến một cách cụ thể : Ông Nguyễn Đình Đầu, ông Trần Quốc Vượng, ông Vũ Ngọc Khánh, ông Lê Hồng Liêm .. Tất nhiên, chúng tôi phải mang bài về và gửi đến Báo Nhân Dân - cơ quan ngôn luận của Trung ương ĐCSVN - Báo Nhân dân cũng không đăng. Chúng tôi cũng chẳng ngạc nhiên.

Nhưng đáng ngạc nhiên là khi ngay trên báo Nhân Dân đăng những bài, theo chúng tôi, có những quan điểm sai lầm, chúng tôi viết bài tranh luận gửi đến cũng không đăng. Theo những thông tin mà chúng tôi nắm được thì có những đ/c trong ban biên tập đề nghị nên đăng, nhưng đ/c Hồng Vinh - Tổng biên tập hạ lệnh không đăng. Đáng lẽ, ai đúng ai sai đều phải đăng cả lên để công luận phân xử, phán xét. Như thế là vừa kích thích được tư duy nghiên cứu vừa có dịp thẩm định để uốn nắn những lệch lạc, hướng dư luận đi theo cái đúng có lợi cho khoa học và sự phát triển của đất nước. Cứ cho ăn thuần một món, cho nghe thuần một chiều mà lại còn kêu rằng dân trí chậm phát triển, hỏi lỗi tại ai ? Xin phép hỏi đ/c Trịnh Gia Ban và đ/c Hồng Vinh :

- Các đ/c làm báo cộng sản mà lại gắng giữ sự an toàn cho bản thân nhằm thăng tiến hoặc hạ cánh an toàn, như thế có xứng đáng không ?

- Thử hỏi Nguyễn Ái Quốc, Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, Nguyễn Văn Nguyễn, Nam Quốc Cang và bao nhiêu nhà báo cách mạng khác cũng làm báo theo kiểu các đ/c thì dân tộc này sẽ ra sao ? Mình là người làm báo cách mạng mà lại ngại hy sinh, lúc nào cũng dụt dè sợ hãi, không có gan bảo vệ chân lý, bảo vệ sự thật lịch sử dân tộc, không bênh vực quần chúng bị áp bức đau khổ, không đóng góp vào tiến trình phát triển của đất nước thì có đáng hổ thẹn với các bậc tiên liệt hay không ?

Chúng tôi chưa hỏi đến chất cộng sản trong người các đ/c, hãy nói đến sứ mệnh bình thường của người làm báo thì ngay nhân dân ở các nước tư bản cũng không chấp nhận chứ đừng nói đến nhân dân ở nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ta.

Vì vụ hội thảo Gia Long không giải quyết dứt điểm nên mới nẩy nòi ra hội thảo Việt Nhật. Sự xâm lược của phát xít Nhật lại biến thành "sự hiện diện của người Nhật". Hai triệu người chết đói năm 45, cả thế giới đều biết, mà chính các sử gia chân chính của Nhật Bản phải viết thành sách để xác nhận và tố cáo tội ác này. Và chính một giáo sư Nhật - giáo sư Furuta Moto - đã hợp tác với giáo sư Văn Tạo bỏ ra mấy năm liền đi điều tra thực địa, khảo sát 314 hồ sơ tội ác để viết thành 1 cuốn sách 732 trang về "Nạn giết hại 2 triệu người Việt Nam, xảy ra ở thế kỷ XX này, đó là một nỗi nhục của nhân loại" (Trích thư tay của giáo sư Furuta Motoo).

Những người nghiên cứu khoa học có lương tâm, có ý thức tôn trọng lịch sử và chân lý thì nghiên cứu và viết như thế đó !

Thế mà ông giáo sư Mạc Đường - lúc bấy giờ là Viện trưởng Viện KHXH tại TPHCM lại định hướng và chỉ đạo cho ông tiến sĩ Đinh Văn Liên - giám đốc Trung tâm Sử học cùng với một số giáo sư, học giả, tổ chức hẳn một hội thảo cấp quốc tế để hóa phép hơn hai triệu đồng bào chết đói thành còn "hơn một triệu" Viện trợ của Nhật cho ngụy quyền Sài Gòn lại biến thành viện trợ nhân đạo cho nhân dân miền Nam Việt Nam, cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước lại được phù phép thành "cuộc nội chiến".

Chúng tôi đã viết bài phê phán hội thảo Việt Nhật (bài "Không được phép xuyên tạc lịch sử"). Tất nhiên, đ/c Trịnh Gia Ban và đ/c Hồng Vinh cũng không đăng. Đặc biệt là một người được lệnh đăng cũng không đăng. Đó là giáo sư tiến sĩ Trần Trọng Đăng Đàn - Tổng biên tập Tạp chí KHXH của Viện KHXH tại TPHCM. Xin tóm tắt sự việc xảy ra như sau : Ngay trong hội thảo Việt Nhật, dư luận đã xôn xao về sự xuyên tạc lịch sử trắng trợn, thể hiện cụ thể trên hai tập kỷ yếu phát trước cho các đại biểu. Sau đó, dư luận càng xôn xao bàn tán về sự kiện này. Chúng tôi viết bài "Không được phép xuyên tạc lịch sử !" với nội dung chủ yếu là phân tích, lên án sự xuyên tạc và yêu cầu Quốc hội chất vấn đại biểu Nguyễn Duy Quí về việc dung túng cho những người tổ chức hội thảo Gia Long và hội thảo Việt Nhật.

Khi nghe chúng tôi báo cáo, đ/c Huỳnh Vân bấy giờ là Bí thư Đảng ủy Viện yêu cầu chúng tôi hãy khoan gửi cho Quốc hội để đ/c thỉnh thị Trung tâm KHXH và NVQG ở Hà Nội đã. Đ/c Trần Trọng Đăng Đàn sau khi xem bài viết cũng động viên chúng tôi :

- Bài viết phê phán này đúng lắm. Lần này dứt khoát tạp chí chúng tôi phải đăng. Anh thông cảm, bài phê bình hội thảo Gia Long tôi không đăng vì chưa được bật đèn xanh. Kỳ này ông Quí đã bật đèn xanh thì không ngại gì cả. Ông Quí còn yêu cầu đăng cả bài tự kiểm điểm của ông Mạc Đường và của Đinh Văn Liên.

Chúng tôi cũng như mọi người trong Viện đều không tránh khỏi ngạc nhiên trước thái độ khẩn trương sốt sắng của đ/c Nguyễn Duy Quí. Sau khi nhận được liên tiếp hai bản fax của đ/c bí thư Huỳnh Vân và đ/c Tổng biên tập Trần Trọng Đăng Đàn, đ/c Quí liền cử ngay đ/c Đỗ Hoài Nam - phó giám đốc TTKHXH và NVQG bay vào họp gấp những người đã tham gia tổ chức hội thảo Việt Nhật và Ban biên tập tạp chí để truyền đạt chỉ thị của đ/c Nguyễn Duy Quí. Mọi người xì xào bàn tán : thế mới xứng đáng là ủy viên trung ương, là đại biểu quốc hội chứ ! Có người còn khen đ/c Quí : ông Quí thấy được tầm quan trọng của vấn đề nên có cử ông Hồ Ngọc Hải vào đâu mà lần này cử hẳn một ủy viên trung ương ! Sau khi lên chế bản bài báo "Không được phép xuyên tạc lịch sử !", sau khoảng gần 10 buổi làm việc với ông Đàn và ông Huỳnh Vân, theo tinh thần công văn chỉ đạo của Trung tâm KHXH+NVQG do ông Nguyễn Duy Quí ký, ông Đàn nói :

- Chưa đăng ngay bài này được vì còn chờ hai bài kiểm điểm của ông Đường và ông Liên.

Đùng một cái, ông Đàn cho biết bài này không thể đăng được.

Ngay tối hôm đó, chúng tôi gọi điện thoại đường dài ra Hà Nội tới nhà riêng đ/c Nguyễn Duy Quí hỏi lý do, đ/c Quí trả lời chúng tôi : để đ/c hỏi lại anh Đàn chứ tôi không ra lệnh thôi đăng bài của anh.

Chúng tôi gặp ông Huỳnh Vân và hỏi ông :

- Vừa rồi anh Mạc Đường chiêu đãi anh với anh Đàn ở nhà hàng Phú Thọ, bàn bạc với nhau ra sao mà ông Đàn lại bảo không đăng bài Việt Nhật nữa ?

Ông Huỳnh Vân trả lời ngay :

- Ông Đường có mời nhưng tôi không đi. Còn việc tại sao không đăng tôi cũng không rõ.

Sau khi họp hội thảo quốc tế Việt Nam học ở Hà Nội về, chúng tôi thông báo cho ông Đàn biết :

- Vừa qua, chúng tôi đã gặp anh Quí và nói với anh Quí rằng : như thế là anh Đàn đã cơ hội thỏa hiệp vô nguyên tắc, chống lại lệnh của anh. Đó là điều nguy hiểm nhưng không nguy hiểm bằng anh Đàn đã chống lại chúng tôi. Chúng tôi lại nói thêm với anh Đàn (có cả mọi người trong phòng tạp chí nghe rõ) :

- Đăng hay không là quyền của anh, nhưng chúng tôi cũng giữ cái quyền công khai thông báo cho dư luận cả nước biết về thái độ cơ hội thỏa hiệp của anh.

Do mắc bận viết bài "Chỉnh đốn ..." do đ/c Triết đặt hàng nên chúng tôi tạm lơ vấn đề Việt Nhật.

Nhưng chúng tôi thật sự kinh hoàng khi nghe tin họ rục rịch tổ chức Hội thảo Việt Nhật lần thứ hai với nhiều đại biểu quốc tế hơn.

Chúng tôi tự hỏi : chẳng lẽ phía Nhật đã thay đổi quan điểm lập trường, tài trợ cho hội thảo Việt Nhật lần thứ hai là nhằm ca tụng VN và giúp đỡ cho VN phát triển. Chúng tôi tự rút ra kết luận : trên đời này không ai cho không ai cái gì cả, thiên hạ bỏ tiền ra tài trợ cho các hội thảo khoa học không phải làm chuyện từ thiện mà không thu được lợi gì. Nhiều nhà khoa học tự nhiên của chúng ta đã hớ trong việc này, vô tình hoặc hữu ý trở thành người cung cấp các thông số, các dữ kiện kinh tế, tự nhiên, môi trường (Thậm chí những tham số thuộc bí mật quốc gia) với giá rẻ mạt. Còn nhiều nhà khoa học xã hội của ta làm việc kiểu hội thảo Việt-Nhật, mọi người đã thấy rõ. Điều nguy hiểm là hội thảo kiểu này, một mặt người ta phản khoa học,trắn trợn xuyên tạc lịch sử, mặt khác còn đâm lưỡi dao vào lưng các nhà khoa học chân chính Nhật Bản và làm trò cười cho giới khoa học quốc tế.

Điều nguy hiểm sâu xa đáng sợ hơn là nếu ở bộ phận biên soạn sách giáo khoa lịch sử, của Bộ giáo dục tưởng đây là những phát hiện mới được các nhà khoa học quốc gia và quốc tế công nhận rồi cập nhật vào sách giáo khoa phổ thông và giáo trình đại học thì hậu quả di họa đến bao đời ?

Vì ở ta làm gì đã có thông lệ như ở Nhật để có thể kiện Bộ Giáo dục yêu cầu rút những kiến thức sai lầm ra và thay kiến thức chính xác vào. Và ngay ở Nhật một vị giáo sư đáng kính cũng đã phải kiên trì kiện Bộ Giáo dục Nhật 20 năm liên tục mới đưa được cụm từ "phát xít Nhật" và "tội ác xâm lược" đối với nhân dân châu Á vào sách giáo khoa.

Vì người ta không giải quyết dứt điểm : phê phán đúng mức và xử lý kỷ luật thích đáng đối với những người có trách nhiệm trong việc tổ chức hai hội thảo Gia Long và hội thảo Việt Nhật nên họ lại âm thầm tiến hành hội thảo Việt Nhật lần thứ hai. Lần này, họ tỏ ra khôn ngoan bằng cách lôi kéo thêm những người như : ông Trần Trọng Đăng Đàn, ông Nguyễn Công Bình vào Ban tổ chức hội thảo, lại lôi kéo thêm một số giáo sư chưa bao giờ nghiên cứu về quan hệ Việt Nhật viết bài như giáo sư Nguyễn Văn Hạnh. Đúng là họ làm khoa học theo kiểu tư duy và tác phong tiểu nông, cứ kéo càng đông càng tốt. Chúng tôi có hỏi giáo sư Nguyễn Văn Hạnh :

- Tại sao anh đã thấy hội thảo Việt Nhật lần thứ nhất như thế mà anh còn tham gia viết bài cho hội thảo này ?

- Tôi cũng viết cho vui.

Đấy ! Hiện nay chúng ta đang ở trong một tình trạng tổ chức hội thảo tràn lan la liệt. Họ lôi kéo mời mọc bằng được những giáo sư này những tiến sĩ nọ để cho đông vui, cho oai. Còn các giáo sư tiến sĩ nhà ta dù chẳng thuộc lĩnh vực mình nghiên cứu cũng nhận lời viết bài tham gia. Người thì tham gia cho vui, kẻ thì vì một vài cái phong bì, kẻ thì cũng chẳng cần gì cả ngoài việc hy vọng được giới thiệu trân trọng, được nghe vỗ tay và thiên hạ nhớ được học hàm học vị của mình. Hầu hết các tham luận của giới KHXH hiện nay rơi vào tình trạng sao chép, lý luận kinh viện. Rất hiếm tham luận phát hiện được vấn đề, giải quyết những vấn đề bức xúc của đời sống theo một định hướng đúng. Chúng tôi vì ý thức trách nhiệm nên viết thư báo cáo với địa phương và trung ương, cả hai hội thảo kể trên đều xuyên tạc lịch sử và xúc phạm đến tình cảm thiêng liêng của dân tộc. Nếu các đ/c cho phép họ tiếp tục tổ chức, các đ/c phải chịu trách nhiệm. Chúng tôi cũng thẳng thắn phê phán ý thức tổ chức kém cỏi, thái độ cơ hội của ông Trần Trọng Đăng Đàn và thái độ làm lơ vô trách nhiệm của ông Nguyễn Duy Quí.

Trong bản thư kiến nghị, chúng tôi cũng đã nêu rõ nguyên tắc : hội thảo khoa học phải nhằm phục vụ cho sự phát triển của đất nước. Chúng ta mở cửa giao lưu kết bạn với tất cả các nước, sẵn sàng tiếp nhận mọi nguồn đầu tư, tài trợ của bè bạn quốc tế nhưng không được quên phương châm tự lực cánh sinh, không được bán hồn cho quỉ. Tuyệt đối không được để các nguồn tài trợ chi phối chủ quyền đất nước, chân lý lịch sử và lương tâm chúng ta.

Chúng tôi hoan nghênh sự đồng tình của lãnh đạo thành phố và mệnh lệnh kịp thời của Trung ương đình chỉ cuộc hội thảo Việt Nhật lần thứ hai.

Có một số người thiếu hiểu biết hoặc bị tổn hại đến quyền lợi riêng lại chê trách chúng tôi là cứng rắn, bảo thủ, cản trở khoa học phát triển. Chê hay khen là quyền của họ. Còn phê phán sai lầm và đề ra hướng sửa chữa là trách nhiệm của chúng tôi cũng như tất cả những người có lương tri muốn đối xử tử tế với lịch sử, với chân lý và dân tộc.

Gần đây, chúng tôi được tin, phía Nhật đã gửi công văn yêu cầu Viện KHXH tại TPHCM hoàn trả 17.000 USD (mười bảy ngàn đô la Mỹ). Dư luận trong Viện, ngoài Viện xôn xao bàn tán về chuyện ông Mạc Đường - cựu viện trưởng - được chia 16 triệu, ông Nguyễn Thế Nghĩa - tân viện trưởng - được chia 8 triệu, còn ông Đinh Văn Liên và đồng bọn chia chác nhau bao nhiêu thì hiện nay chưa rõ.

Chuyện ăn chia của họ hoặc lót tay cấp dưới cấp trên thực hư như thế nào, chúng tôi không cần quan tâm. Chỉ biết rằng liệu bảo nhau gom lại cho đủ mà trả lại đủ cho người ta. Đừng có để nhục đến quốc thể. Và cấm không được phép lấy tiền ở quĩ Viện cũng như bất cứ quĩ két nào của nhà nước, không được bắt nhân dân trả nợ đậy cho họ.

Nhân đây, chúng tôi cũng xin nói thêm về vấn đề hội thảo trong thời kỳ đổi mới hiện nay. Trước hết xin được phép nhắc lại : đổi mới là nhu cầu của dân tộc và thời đại. Không ai được quyền bàn lùi. Cũng không được đổi mới vô nguyên tắc. Cái đúng, cái tốt sao lại có thể bỏ đi được, sao lại có thể thay thế được với lý do vì nó đã cũ. Người ta chỉ có thể bỏ cái cũ nếu nó hủ bại lỗi thời. Nực cười cho những người ngụy biện này trong khi tìm cách phỉ báng, hủy bỏ cái ĐÚNG, cái TỐT lại lục ra cái HỦ BẠI, cái LỖI THỜI rồi tô son trát phấn cho rằng làm như thế mới là "nối tiếp truyền thống", giữ gìn được bản sắc dân tộc.

Đổi mới kiểu này thử hỏi sẽ đưa nhau đi đến đâu ? đến được định hướng nào ?

Lại nói đến cái MỚI. Mới mà đúng, mà tốt, mà tiến bộ không theo sao được ? Nhưng thử hỏi MỚI mà lố lăng, lai căng, mất gốc thì có theo được không ?

Chúng tôi nói đến hội thảo Gia Long và hội thảo Việt Nhật cũng là nhằm mục đích để tất cả chúng ta - giới lãnh đạo, giới quản lý, giới nghiên cứu và giới báo chí - xem xét lại toàn bộ vấn đề nằm gọn trong bốn chữ TỰ DO NGÔN LUẬN đã được ghi ngay trong Hiến pháp năm 1946. Sau Cách Mạng Tháng Tám, căn cứ vào Hiến pháp, Bác Hồ cũng đã ký một sắc lệnh cho phép ra báo tư nhân. Tất nhiên, trong thời gian kháng chiến chúng ta không áp dụng nữa. Vì tất cả cho "trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi" và sau này là "tất cả cho cuộc kháng chiến chống Mỹ thắng lợi". Không ai có quyền nói ngang bàn ngang làm ảnh hưởng đến cuộc kháng chiến. Trong 30 năm kháng chiến, chúng ta chỉ có báo Nhà nước, không có báo tư nhân. Áp dụng luật thời chiến như thế là hoàn toàn đúng.

Nhưng còn thời bình, khi chúng ta đi vào làm kinh tế, làm khoa học kỹ thuật, có nên giữ nguyên vẹn tình hình như thế không ? Có nhiều người vẫn nghĩ rằng không thể tự do báo chí và xuất bản theo kiểu tư sản được. Ngay bà luật sư Ngô Bá Thành (đại biểu quốc hội) và một số vị trí thức đã từng hoạt động trong thời Mỹ ngụy tạm chiếm cũng nói rằng "không nên" vì họ cho rằng tự do báo chí của ngụy quyền cũng chỉ là hình thức, không có thực chất. Do đó ta không thể cho phép ra báo tư nhân hoặc nhà xuất bản tư nhân để tránh bị địch lợi dụng. Cảnh giác như thế là đúng.

Nhưng đã đến thời kỳ tất cả chúng ta phải bình tâm xem xét lại tình hình thực tế của đất nước để nếu cần thì điều chỉnh lại hiến pháp, chủ trương chính sách và mọi thứ luật lệ, sắc lệnh của chúng ta.

Phải thẳng thắn mà nói rằng đã nhiều năm ta duy trì một nếp nghĩ không đúng và không tốt mà ta thường gọi là lối suy nghĩ giáo điều, duy ý chí, bao cấp v.v. nghĩa là có những cái chỉ đúng trong một thời nhưng chúng ta lại cố giữ lại và áp dụng cho muôn thuở. Không ai dám nghĩ khác và cũng không cho ai nghĩ khác, nói khác. Nếp nghĩ này gây ra sự trì trệ. Cuối cùng, chúng ta vẫn phải thay đổi vì nếu trì trệ mãi thì chết. Nhưng cứ gần chết mới chịu thay đổi. Và chúng tôi cũng đã từng phê phán cái lối nói xu nịnh của giới báo chí và giới lý luận của ta : Đúng thì khen ngợi là sáng suốt đã đành. Sai cũng khen ngợi. Rồi khi người ta sửa sai đáng lẽ phải phân tích cho ra lý ra lẽ để làm bài học kinh nghiệm lịch sử, nhưng không làm thế, lúc nào cũng vỗ tay khen ngợi, ca tụng.

Đảng thì dứt khoát là sáng suốt rồi. Nhưng từng Ban chấp hành, từng ủy viên trung ương thì cũng là người thường cả thôi, có lúc đúng lúc sai, lúc sáng suốt lúc kém sáng suốt, phải chân thành mà khen ngợi hay phê phán cho khách quan công bằng, giúp đỡ nhau tiến bộ. Cớ gì cứ làm ầm ĩ lên khiến cho những người lãnh đạo hoặc quản lý bối rối không còn biết mình đúng sai ra làm sao.

Khi biết ra được thì thường là quá muộn, xảy ra những tổn thất nặng nề không đáng có.

Không nói ra ai cũng biết rằng những lực lượng chống lại CHXH hay nói khác đi chống lại cái tiến bộ là tồn tại thường trực trên hành tinh này và chúng cũng chưa vội biến mất trong một vài thế kỷ tới. Việc gì phải sợ, việc gì phải thần hồn nát thần tính để tự mình lại làm tổn hại nguyên khí, thần khí của mình. Chẳng khác gì các vị bác sĩ non gan lúc nào cũng nghĩ đến vi trùng với vi rút rồi bản thân mình cũng như vợ con không còn dám ăn uống làm việc vui chơi một cách bình thường.

Đáng lẽ những đài báo thiếu thiện chí của nước ngoài xuyên tạc tình hình thực tế của ta, ta nên tổ chức những bộ phận nghiên cứu phân tích và luận chiến đàng hoàng. Đó là cách giải độc tốt nhất đối với những bộ phận bị nhiễm độc. Cần gì phải bưng tai bịt mắt, giấu giấu giếm giếm giữ thái độ A.Q. lỗi thời : "Mày chửi ông cũng như mày chửi bố mày". Cần nhớ rằng chúng ta đang sống trong một thời đại thông tin với đủ các phương tiện hiện đại, đâu phải như cái thời chơi ga-len bán dẫn ngày nào.

Thử hỏi mấy chục năm qua họ thường xuyên phản tuyên truyền, dùng đủ luận điệu và thủ đoạn xuyên tạc chống phá ta thì đã làm gì nổi ta chưa ?

Xin thưa rằng : chống phá ta mà đạt hiệu quả lại chính là các vị ở trong chăn của chúng ta đó.

Đáng lẽ khi Dân đã kêu, dư luận đã bàn tán về những kẻ cường hào, tham nhũng, quan liêu thì ta phải nghiên cứu xem nguyên nhân tại đâu và có đối sách kịp thời. Nhưng ta còn mải đi điều tra, chụp mũ cho những người phát hiện tình hình rồi gọi ngay là những phần tử "lợi dụng tự do, dân chủ", "chống lãnh đạo", "chống chế độ". Vậy, người tố cáo bọn tham nhũng và bọn tham nhũng : ai là kẻ chống Chế độ ?

Chính vì một thời gian dài chúng ta chỉ lo trù dập những cán bộ trung thực và làm tình làm tội những người dân lương thiện, đồng thời "buông lỏng" hay nói thẳng ra rằng dung túng, bao che cho bọn tham nhũng nên mới trở thành quốc nạn (ngay vừa qua, tại Tòa án nhân dân TPHCM phúc thẩm vụ Tân Trường Sanh mà ông chánh án còn cắt lời bị cáo khi họ khai ra tội lỗi của ông Phan Văn Dĩnh và đoàn thanh tra của Tổng cục Hải quan) thì đủ hiểu cái nếp bao che nó ăn sâu vào máu sâu sắc nhường nào.

Tóm lại, cứ để cho Dân nói, Dân kiểm soát mọi việc và kịp thời tố giác công khai thì tất cả sẽ trở nên tốt đẹp.

- Anh tố cáo sai phải không ?

- Anh xuyên tạc vu cáo phải không ?

- Anh bôi nhọ chế độ phải không ?

- Anh đả kích cán bộ, đả kích lãnh tụ phải không ?

Không cần biết anh là ai (dân thường hay phản động, gián điệp), xin mời anh ra tòa.

"Xuyên tạc lịch sử" là một tội danh hẳn hoi được ghi trong điều 22 của Bộ luật Báo chí và xuất bản, thế mà các ông Hồng Vinh, Trịnh Gia Ban, Trầ n Trọng Đăng Đàn v.v. lại xúm vào bênh vực chúng, thử hỏi các ông là loại người nào ?

Viết đến đây, chúng tôi lại thấy cần phải kính cẩn nghiêng mình trước hương hồn thiếu tướng Tô Ký. Hồi anh Ba Tô Ký còn sống và đang giữ chức chủ tịch Hội cựu chiến binh thành phố, đọc xong bài phê bình hội thảo Gia Long, anh đã nói ngay với đ/c Trần Viết Tá - Tổng biên tập báo Cựu chiến binh thành phố :

- Tôi không quen biết tác giả bài này, nhưng đây là một bài viết tốt có quan điểm đúng, anh cứ cho đăng rồi ta gặp tác giả sau.

Khi nhận được báo biếu và tiền nhuận bút, chúng tôi ngạc nhiên liền hỏi số điện thoại và nói chuyện với Thiếu tướng Tô Ký :

- Thưa anh, chúng tôi không gửi bài đến tòa báo mà anh lại ra lệnh cho đăng. Đó là một việc làm sai nguyên tắc, nhưng các anh đã sai nguyên tắc một cách rất đáng yêu. Nếu ai cũng "sai" được như các anh thì tình hình đỡ quá. Xin cảm ơn các anh.

Đấy, những người cách mạng và cộng sản thứ thiệt đều nhạy cảm với chân lý khoa học và có ý thức bảo vệ lịch sử, bảo vệ dân tộc như thế đó. Đúng là cái máu Vân Tiên, Tử Trực của bà con Nam Bộ. Máu "nghĩa sĩ Cần Giuộc", Nam Kỳ khởi nghĩa, Nam Bộ kháng chiến cũng là cùng một thứ máu này đây.

Như thế là đăng hay không đăng, đăng cái gì hay không đăng cái gì, thật là một tình trạng hết sức tùy tiện. Tình hình xuất bản cũng tương tự.

Ở TPHCM, tháng 10 vừa qua, xảy ra một vụ án hiếm có : tác giả kiện nhà xuất bản. Giám đốc NXB là ông Đinh Quang Nhã, một nhà văn Nam Bộ nổi tiếng. Tác giả đi thưa kiện là ông Lương Vĩnh Kim, luật sư, con nhà liệt sĩ, dân tập kết đã được miền Bắc XHCN nuôi dưỡng đào tạo. Trước khi đến NXB Văn Nghệ để ký hợp đồng liên kết xuất bản, ông Kim đã đưa tác phẩm của mình đến hai nhà xuất bản - NXB Cà Mau và NXB Trẻ. NXB nào cũng đưa giấy phép rồi lại tìm cách rút lại. Đến NXB Văn Nghệ, ông Kim mới được ông Nhã giao giấy phép cho in. Sách đang in thì ông Nhã đòi lại giấy phép. Ông Kim không trả lại giấy phép và cứ đưa sách ra thị trường. Thị trường tiếp nhận, sách bán chạy, ông lại in tiếp. Ông Nhã liền ký quyết định thu hồi sách của ông Kim. Sở văn hóa thông tin cũng phối hợp với NXB Văn Nghệ ra công văn nội bộ yêu cầu các cơ sở phát hành quốc doanh không nhận phát hành sách của ông Kim. Sau khi nhận đơn kiện của ông Kim, Tòa án dân sự TPHCM hoãn đi hoãn lại khoảng 4 lần mới mang ra xét xử. Tình tiết vụ án thì có nhiều nhưng có hai vấn đề mà những người dự phiên tòa và dư luận quan tâm là :

1. Ông giám đốc Đinh Quang Nhã có thẩm quyền ký quyết định thu hồi sách hay không ?

2. Giấy phép xuất bản cho in 1000 cuốn, ông Kim có quyền in thêm không ?

Tất nhiên, dù biện bạch kiểu nào thì việc ông Đinh Quang Nhã ký quyết định thu hồi sách vẫn là sai pháp luật. Luật báo chí và xuất bản đã ghi rõ thẩm quyền này thuộc ông Bộ trưởng Bộ Văn hóa hoặc ông Chủ tịch UBND thành phố. Còn ông Kim thấy sách của mình bán chạy, muốn in thêm thì phải xin phép, như thế cũng là sai pháp luật.

Nhưng Tòa sẽ kết án và phạt ông Nhã hay ông Kim như thế nào, điều đó chúng tôi không quan tâm nhiều lắm. Vấn đề chủ yếu mà chúng tôi muốn nói đến là có nên để cho các NXB cản trở việc các tác giả chân chính đưa sách của mình ra thị trường hay không ? Luật xuất bản ghi rõ nước ta không có chế độ kiểm duyệt nhưng thực tế một vị sử gia kiêm cách mạng lão thành đã nhận xét : hiện giờ ta còn kiểm duyệt khắc nghiệt hơn thời Pháp thuộc.

Chúng tôi thấy vừa khắc nghiệt vừa chẳng khắc nghiệt gì cả. Nếu kiểm duyệt khắc nghiệt sao vài chục năm qua, sách vụ án, tình dục, bạo lực, sách cổ động quảng cáo cho vương triều Nguyễn, cổ động cho Nho giáo, hương ước, bói toán, dịch số ... và ngay hiện nay thì sách Tam tông miếu, tử vi ... cứ in và phát hành tơi tới. Chưa kể các vụ băng đĩa in lậu và bán công khai trên đường phố.

Còn một cuốn tiểu thuyết hay một tập thơ phải viết dăm ba năm mới xong, một tập sách nghiên cứu phải viết hàng chục năm mới xong, đưa đến cho các NXB, vị nào cũng lắc đầu : sách tốt, nhưng phải cái kén khách khó bán lắm ! Họ chỉ chấp nhận loại sách tốt nhưng với điều kiện tác giả nộp tiền "quản lý phí" cho họ (nói nôm na là mua giấy phép và trả công biên tập cho họ, tiền nộp tỷ lệ nghịch với mức độ khắc nghiệt), và tác giả phải tự bỏ tiền túi ra mà lo liệu từ A đến Z.

Cái hay là sách xấu ra đời tràn lan nhưng chưa một vị giám đốc xuất bản, một vị giám đốc Sở Văn hóa Thông tin hoặc Cục trưởng, Vụ trưởng, Thứ trưởng, Bộ trưởng Văn hóa nào bị đưa ra tòa.

Sách làng nhàng nhạt nhẽo, vô thưởng vô phạt bao giờ chẳng chiếm số đông và cũng chẳng cần ai chịu trách nhiệm về nó.

Chỉ thương cho số phận những cuốn sách tốt và các tác giả của nó long đong lận đận trong cuộc đời. Họ chỉ còn biết nuôi hy vọng ở hậu thế.

Một câu hỏi được đặt ra : chúng ta có đặt quyết tâm tha lôi tình trạng này sang thế kỷ mới hay không ?

Hẳn các vị đang hưởng đặc quyền đặc lợi trong lĩnh vực báo chí và xuất bản sẽ đưa ra đủ thứ lý lẽ lỗi thời và ngụy biện đủ kiểu để chứng minh rằng phải giữ nguyên trạng độc quyền báo chí và xuất bản mới có thể bảo vệ được chế độ và định hướng XHCN.

Vâng, nếu quả các vị đúng và các vị tiếp tục thắng thế thì chúng tôi đành nhường quyền cho lớp con cháu đến sau phân xử ?

Chỉ biết rằng báo chí và xuất bản chơi kiểu vừa qua là kém hiệu quả chưa kể có những trường hợp còn gây ra tai hoạ. Cụ thể là nếu báo chí ta từ trung ương đến địa phương làm ăn tử tế , xử lý thông tin kịp thời, thảo luận vấn đề cho ra môn ra khoai và hiến kế cho trung ương đầy đủ thì đâu đến nỗi có những vụ như vụ Thái Bình gây kinh động dư luận toàn quốc, làm gì có những vụ tham nhũng khủng khiếp như dệt Nam Định, rừng Tánh Linh, Tamexco, Tân Trường Sanh, Eỉpco- Minh Phụng,.. Làm gì có các vụ hội thảo Gia Long, hội thảo Việt Nhật. Và thử hỏi còn biết bao vụ việc nữa ta chưa được biết.

Thế mới biết, khi báo chí là phương tiện thông tin đã biến thành phương tiện bưng bít và cản trở thông tin thì nguy hại biết chừng nào. Còn nhìn ra thế giới chẳng lẽ hằng trăm nước họ cho tự do báo chí và xuất bản, chế độ của họ đều sụp đổ cả chăng ?

Dù có nhiều người không hài lòng, chúng tôi cũng xin phép được nói thẳng một sự thật là tự do báo chí theo kiểu của ta hiện nay thực ra chỉ là trao quyền tự do cho những kẻ cơ hội tham lam và dối trá. Trong tình hình tự do như thế này, những người cầm bút chân chính bị bịt miệng, bó tay, không thể thực thi sứ mệnh của mình : cầm bút như cầm một thứ vũ khí để bảo vệ Nhân Dân, bảo vệ Cách Mạng và Công Lý. Người cầm bút nào quên sứ mệnh cao cả, thiêng liêng này, nên đọc lại truyện ngắn "Bút máu" của nhà văn Vũ Hạnh. Nỗi lo lắng của chúng tôi là nếu không chỉnh đốn thực sự tình hình báo chí và xuất bản hiện nay thì thế hệ cầm bút trẻ kế cận sẽ không sao tránh khỏi bị ô nhiễm, học tập các đàn anh, đàn chị cơ hội mà trở thành hư hỏng. Cũng nên nói thẳng với các em, cái cháu rằng : nếu chỉ đặt mục đích cuộc đời một cách bình thường là lo kiếm cơm và làm giàu thì chớ lựa chọn nghề cầm bút. Cuộc đời, dù chấp nhận bao cấp hay cơ chế thị trường tác oai tác quái vẫn có những nghề cực kỳ cao quí, đòi hỏi nhiều kiên trì, nhẫn nại và hy sinh. Nghề giáo, nghề y, nghề luật, nghề văn, nghề nghiên cứu ... là những nghề như thế. Đặc biệt nghề cầm bút, dù anh viết báo, viết văn hay viết nghiên cứu cũng phải vì chân lý, công lý và sự phát triển của dân tộc mà viết.

Mới nghe qua thì có vẻ như lý thuyết cao xa, quan trọng hóa vấn đề, nhưng nếu không hiểu đúng như thế thì người ta lý giải sao được tình cảm quí trọng của Nhân Dân dành cho những người cầm bút. Quyền gì đâu, chức gì đâu mà lại được trọng thị một cách thật đặc biệt. Chỉ cần nhắc đến tên những người đã từng xông pha nơi trường văn trận bút như Tản Đà, Nguyễn An Ninh, Phan Văn Trường, Nguyễn Ái Quốc, Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Thị Minh Khai, Vũ Trọng Phụng, Vũ Bằng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Hải Triều v.v. là mọi thế hệ đều cảm thấy ấm lòng, tin yêu thêm cuộc đời và vững lòng tiến bước.

Thử hỏi nếu những người cầm bút Việt Nam không kế thừa xứng đáng những ngọn bút Chu Văn An, Lê Cảnh Tuân, Ngô Thì Nhậm, Hồ Xuân Hương, Tú Xương, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Nguyễn Trường Tộ, Phan Đình Phùng, Huỳnh Mẫn Đạt, Bùi Hữu Nghĩa, Học Lạc v.v. thì giá trị của họ sẽ ra sao ? Đất nước này sẽ ra sao ?

Không thể viết mơ hồ như nhà văn Hoàng Lại Giang : "Phan Thanh Giản nghĩ rằng : Dân ta còn thì nước ta còn" (Phan Thanh Giản - nỗi đau trăm năm). Cũng chẳng khác, ông Phạm Quỳnh từng hô hoán : "Truyện Kiều còn - tiếng ta còn, tiếng ta còn - nước ta còn".

Vấn đề là còn như thế nào chứ ?

Còn trong cảnh rạng rỡ sạch bóng quân thù và làm người tự do, hay còn trong cảnh đất nước đầy vết giày đinh quân xâm lược và làm thân trâu ngựa ?

Nếu quan niệm còn theo kiểu các ông Phan Thanh Giản và Phạm Quỳnh thì hóa ra các ông Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Thủ Khoa Huân, Phan Trung, Nguyễn Thông, Hoàng Hoa Thám, Nguyễn Thái Học v.v. và tất cả những người đã dẫn dắt nhân dân vùng dậy chống ngoại bang xâm lược đều là kém thức thời, ngu tối, dở hơi, hiếu chiến cả hay sao ? Phải công bằng mà đánh giá rằng anh Hoàng Lại Giang là một ngòi bút tài năng và đã viết được một số tác phẩm tốt, nhưng chúng tôi không hiểu vì sao khi viết về Phan Thanh Giản anh lại nhầm lẫn nghiêm trọng đến thế ! Viết tiểu thuyết lịch sử mà anh hư cấu một cách vô nguyên tắc. Anh lại cho nhân vật Phan Thanh Giản của anh đọc Binh thư yếu lược của Trần Hưng Đạo, ngẫm nghĩ về thơ Nguyễn Trãi rồi trăn trở suy tư hết hồi này đến hồi khác về DẤN, về NƯỚC; rồi nhân vật của anh lý sự về địch mạnh ta yếu nên cần phải ký nhượng ba tỉnh Nam Kỳ rồi bị kẻ địch đánh lừa mà mất nốt ba tỉnh miền Tây còn lại; rồi nhịn ăn 15 ngày, rồi uống thuốc độc tự tử. Rồi anh lại hư cấu thêm một nhân vật là Phan Dĩ Thử, một người gần như tâm huyết tri kỷ của Phan Thanh Giản, cảm phục quá, thương cảm quá, cũng uống thuốc độc tự tử theo. Và thế là tác phẩm kết thúc. Tư tưởng chủ đề gần như được đúc kết trong câu : Lá cờ ba sắc không thể phấp phới ở nơi mà Phan Thanh Giản và Phan Dĩ Thử còn sống.

Anh Hoàng Lại Giang thử hình dung xem nếu đồng bào Nam Bộ hay nói rộng ra là đồng bào cả nước ta lại suy nghĩ, sống và hành động theo kiểu Phan Thanh Giản thì đất nước Việt mình sẽ ra sao ? Và nhà văn Hoàng Lại Giang thử nằm mơ gặp các cụ Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Phan Văn Trị rồi thuật lại cho bạn đọc chúng tôi xem các cụ phán bảo ra sao ?

Thấy tác phẩm của anh bán chạy, tái bản đi, tái bản lại mấy lần, chúng tôi cũng mừng cho chuyện thu nhập của anh nhưng quả thật là lo lắng nhiều hơn.

Những người hiện được cử đi giao lưu hợp tác liên doanh, liên kết mà mang cái tâm thế Phan Thanh Giản thì nguy hiểm biết chừng nào ! Họ mạnh về vốn, về kỹ thuật và công nghệ, ta yếu đủ thứ, phải tỏ ra biết người, biết mình chứ. Thế là bảo nhau thức thời thỏa hiệp vô nguyên tắc.

Họ có biết đâu rằng khi cần thỏa hiệp thì Cụ Hồ vẫn thỏa hiệp, nhưng không bao giờ Cụ bỏ nguyên tắc. Thỏa hiệp hay nhân nhượng mà vi phạm đến chủ quyền đất nước là không thể chấp nhận được.

Vậy, "nỗi đau trăm năm" là thế nào ? Đó là nỗi đau của một người, một nhà hay là nỗi đau của cả dân tộc ? Kỹ thuật viết trong tác phẩm này là khá cao nhưng hình như càng cao tác phẩm lại càng hỏng.

Chúng tôi cũng chân thành chia buồn với nhiều nhà văn nhà thơ hiện nay chạy theo kỹ thuật mà làm hỏng tài thơ tài văn của mình.

Chúng tôi cũng lấy làm lạ cho giới nghiên cứu lý luận và giới phê bình của ta. Đối với những cuốn sách hư hỏng như cuốn "Phan Thanh Giản - nỗi đau trăm năm", hai tập kỷ yếu của hội thảo Việt Nhật và một số cuốn khác thì họ im lặng không phê phán (riêng cuốn truyện danh nhân Phan Thanh Giản còn được giáo sư Hoàng Như Mai, chủ tịch Hội nghiên cứu văn học và giảng dạy - tổ chức và thân chinh đứng ra giới thiệu và cổ động coi như một cuốn tiểu thuyết lịch sử chân chính. Tháng 12 vừa qua, trong một cuộc trả lời phỏng vấn báo Tuổi Trẻ , nhà văn Hoàng Lại Giang còn nhấn mạnh ý chúng ta "không nên quá khắt khe với cha ông". Chúng tôi thấy anh Hoàng Lại Giang đặt vấn đề như thế không đúng.

Lớp hậu sinh chúng ta làm gì có quyền khắt khe hay không khắt khe với tiền nhân. Nghiên cứu khoa học cũng như sáng tác văn học nghệ thuật đều rất cần tình cảm nhưng dừng lại ở cảm tính sao được. Không thể theo lẽ phải thông thường "yêu nên tốt ghét nên xấu" hoặc "yêu nhau củ ấu cũng tròn, ghét nhau bồ hòn cũng méo". Từ cảm nhận phải nâng lên cấp độ thức nhận với những tiêu chí chuẩn mực rõ ràng mới có khả năng đánh giá người và việc.

Chúng tôi đã từng nêu rõ một chuẩn mực hết sức quan trọng của dân tộc ta là :

- Giặc đến thì đánh. Đánh có thể thắng, có thể thua. Không có chuyện hòa. Càng không có chuyện hàng (*1).

Chúng tôi cũng đã làm hai sự so sánh :

- Trương Định quan nhỏ, chức thấp (quản cơ, lãnh binh) học vấn tầm thường nhưng dũng cảm lãnh đạo nhân dân chống giặc, chết nhưng vẫn thành bất tử mà lưu danh thơm muôn thuở.

- Phan Thanh Giản quan to chức trọng (khâm sai đại thần) học vị cao (tiến sĩ) nhưng gan thỏ đế, vâng mệnh triều đình dâng đất cho giặc nên lưu tiếng xấu muôn đời (2).

Chúng tôi cũng so sánh Phan Thanh Giản với Nguyễn Tri Phương và Hoàng Diệu.

- Hoàng Diệu chiến đấu đến cùng và chết theo thành.

Sao lại có thể xếp cùng loại với cái chết của Phan Thanh Giản.

Dứt khoát không thể đánh đồng sự hy sinh hoặc tuẫn tiết của những người có trách nhiệm với dân với nước và cái chết của những người vô trách nhiệm.

Chúng tôi cũng xin nhắc lại : cần phải công bằng đối với Phan Thanh Giản. Về mặt phẩm chất cá nhân, ông là một người học giỏi, làm thơ hay, làm quan thanh liêm và giàu lòng nhân ái ... Về trách nhiệm đối với lịch sử, cũng không thể dồn hết tội lỗi cho ông. Dù làm đến cơ mật Viện đại thần, ông vẫn chỉ là người thừa hành. Chịu trách nhiệm chính phải là người ra lệnh tức là vua Tự Đức.

Cũng chính do không nắm vững chuẩn mực nên giáo sư, tiến sĩ Trần Hữu Tá đã viết hẳn một công trình nghiên cứu khẳng định ông Trương Vĩnh Ký là người yêu nước và là nhà văn hóa lớn của dân tộc (Kiến thức ngày nay số ........).

Thế nào là danh nhân văn hóa ?

Ở phần trên, chúng tôi đã nêu cái nhầm của giáo sư Hoàng Như Mai và tiến sĩ Mai Quốc Liên khi hai ông khẳng định các vua Minh Mệnh, Tự Đức là những ông vua văn hóa, những nhà văn hóa. Không thể căn cứ vào việc người này sáng tác một số tập văn, tập thơ hoặc biên soạn công trình này công trình khác, người kia thì bỏ công của xây dựng một số cung điện, lăng tẩm, hoặc đôn đốc quốc sử quán biên soạn bộ Thực lục này, bộ Hội điển khác mà coi họ là nhà văn hóa được.

Chúng ta đã nhiều lần phải nhắc nhau phân biệt cho rõ khái niệm văn hóa và học vấn. Anh học nhiều hay học ít, đỗ cao hay đỗ thấp, uyên thâm hay thiển cận, đó là thuộc trình độ học vấn của từng người hoặc từng nhóm xã hội. Trình độ văn hóa của một người không phải lúc nào cũng phụ thuộc vào trình độ học vấn hoặc tỷ lệ thuận với trình độ học vấn. Nhiều người có trình độ học vấn bình thường nhưng lại có trình độ văn hóa rất cao, ngược lại có những người trình độ học vấn rất cao nhưng trình độ văn hóa lại rất thấp. Người có nhân cách văn hóa là người biết thương yêu đồng loại và giúp cho đồng loại phát triển.

Chúng tôi đã có vài dịp trình bày với giới nghiên cứu một cái định nghĩa về bản sắc văn hóa dân tộc. Đó là toàn bộ nếp cảm, nếp nghĩ và nếp sống của dân tộc trong quá trình phát triển. Còn toàn bộ y phục, ẩm thực, lễ hội, tập quán phong tục, tác phẩm văn học nghệ thuật, công trình kiến trúc v.v. chẳng qua là sản phẩm, là kết quả cụ thể của nếp cảm, nếp nghĩ và nếp sống đó.

Cho nên nói kế thừa truyền thống văn hóa hay bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, trước hết và chủ yếu là kế thừa bảo vệ, phát huy nếp cảm, nếp nghĩ, nếp sống tốt đẹp của dân tộc. Tất nhiên, nếp nào, thói nào, tục nào đã hủ lậu, lỗi thời thì cũng nên đào thải, như thế mới phát triển được.

Có những người làm lý luận không tinh, nghiên cứu văn hóa không tinh, lại hô hào phục hồi đủ các thứ hủ bại lỗi thời. Rồi bản thân mình thân danh là bí thư huyện ủy, tỉnh ủy mà lại đi tổ chức ma chay cưới xin, sinh nhật rình rang tốn kém làm gương xấu cho mọi người. Cho nên người thì thật lòng muốn khôi phục truyền thống tốt đẹp bị đứt đoạn, lãng quên, kẻ thì cũng dựa vào danh nghĩa bảo vệ bản sắc dân tộc, dùng toàn một giọng mị dân tộc. Như thế là họ muốn cho dân tộc phát triển theo kịp với anh chị em trong khu vực và thế giới hay họ muốn cho dân tộc giậm chân tại chỗ và suy thoái.

Cho nên khi nói đến nhân cách văn hóa của một ai đó chính là người ta tính đến nếp cảm, nếp nghĩ, nếp sống có phù hợp với sự phát triển của dân tộc hay không chứ đâu có dừng lại ở phạm vi hạn hẹp ăn uống, ăn mặc hội hè, lễ lạy ra sao. Ắn canh cua, cà pháo, mắm tôm là một đặc điểm của Việt Nam, nhưng đâu có phải không biết ăn cà pháo, mắm tôm thì không thành người Việt Nam.

Có mấy ông thi sĩ viết được dăm ba tác phẩm kha khá thế là khủng khỉnh làm cao rồi lại đem thơ dán lên mẹt đem triển lãm, cứ tưởng thế là dân tộc.

Dân tộc là phải từ trong máu, trong não chứ có đâu phải là hình thức bề ngoài. Đâu có phải cứ khăn đóng áo dài, sì sụp lễ lạy, đình đám xôi thịt tưng bừng tốn kém mới là dân tộc. Cũng không phải cứ cầm bút viết văn, làm thơ, làm nghiên cứu là tự nhiên có nhân cách văn hóa.

Chúng tôi cũng không hiểu giáo sư Hoàng Như Mai, giáo sư Trần Hữu Tá khi mở trường dân lập Trương Vĩnh Ký thì sẽ giáo dục học sinh học tập truyền thống của "danh nhân văn hóa" này ra sao ? Chẳng lẽ lại giáo dục các cháu học sinh rằng : khi giặc ngoại xâm đến cứ thức thời cộng tác với giặc hoặc viết thật nhiều sách phục vụ cho mục đích đô hộ của giặc. Chớ có dại dột chống lại kẻ địch mạnh hơn mình như các ông Trương Định, Thủ Khoa Huân, Nguyễn Trung Trực. Chính bản thân ông Trương Vĩnh Ký cũng đã phải viết : "Cuốn sổ bình sinh công với tội".

Chúng ta thông cảm với lòng ăn năn hối hận của ông và đánh giá đúng những gì mà ông đã đóng góp được cho văn hóa nước nhà, dù là vô tình. Ông Trương Vĩnh Ký trong thư từ giao dịch với bọn ngoại xâm Pháp lúc bấy giờ cũng đã ý thức được rằng mình soạn sách chữ Quốc ngữ là để giúp cho bọn thực dân thống trị thực hiện việc đồng hóa theo nền văn minh chữ La tinh, tìm cách cắt đứt truyền thống với văn hóa chữ Hán, cắt đứt hẳn ảnh hưởng của văn minh Trung Hoa mà các nho sĩ ta đã thấm nhuần trong nhiều thế kỷ.

Trong giới nghiên cứu chúng ta thường hay có sự nhầm lẫn giữa mục đích và hệ quả : các giáo sĩ Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Pháp .. làm ra chữ Quốc ngữ với mục đích truyền đạo cho nhanh, mở nước Chúa cho rộng (thực chất là mở rộng thị trường cho CNTB phương Tây). Họ đều lợi dụng tôn giáo để phục vụ cho bọn tư bản, thực dân để nô lệ hóa dân mình. Còn sau này ta lợi dụng chữ Quốc ngữ để làm phương tiện phát triển văn hóa của mình, đó là sự khôn ngoan của dân mình. Phải coi đó là một hệ quả tất nhiên chứ không được lẫn với mục đích của người sáng tạo ra những thứ đó. Do vậy, việc gì mình phải hội thảo để tưởng nhớ công ơn ngài Alexandre de Rhode, rồi lại bàn nhau dựng lại tượng và đặt tên đường phố để kỷ niệm công ơn của ngài.

Nếu thế thì tại sao lại có chuyện "nhất bên trọng, nhất bên khinh" được ? Sao không hội thảo về ngài Sĩ Nhiếp rồi cũng dựng luôn tượng và đặt tên đường để ghi nhớ công ơn ngài về việc ngài có công phổ biến chữ Hán và văn hóa Hán tộc. Và cả các ngài thái thú Nhâm Diên, Tích Quang nữa chứ. Các cụ hủ nho xưa đã nhầm, đã dạy dân là phải biết ơn "công khai hóa" của các ngài, và tôn ngài Sĩ Nhiếp là "Nam Giao học tổ" Bao thế kỷ trước các vị hủ nho đã nhầm, bây giờ cuối thế kỷ 20 lại có các vị hủ Mác cũng nhầm. Nghĩ mà thấy sợ ! Thật chẳng khác gì một ông chủ nhà sau khi đánh đuổi được bọn cướp rồi nhặt được con dao sắc do chúng cuống cuồng bỏ chạy đánh rơi lại, rồi dùng dao vừa thái thịt, vừa chặt củi, vừa tấm tắc : May quá, nhờ nó bỏ lại mới có con dao tốt này ! Rồi lại dặn con cháu phải biết ơn bọn cướp. Đứa nào cãi và vạch ra mục đích của bọn trộm cướp thì lại qui ngay cho là : vong ân bội nghĩa. Thật là ngớ ngẩn !

Tượng Hai Bà Trưng, tượng Lý Thường Kiệt, tượng Bà Triệu, tượng Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Tú Xương, Nguyễn Đình Chiểu, Phan Văn Trị, Thủ Khoa Huân, Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Tôn Thất Tùng, Đặng Văn Ngữ ... và bao nhiêu danh nhân lịch sử, danh nhân văn hóa Việt Nam khác không lo dựng mà đi lo mấy việc tá ơm. Đúng là "việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng".

Xin phép trở lại vấn đề sách xấu, sách tốt. Sách xấu thì lờ đi không phê phán, không thu hồi, nhưng cứ có quyển sách tốt nào, vừa thò mặt ra thì hò nhau xúm đánh làm cho tác giả thất điên bát đảo, bại hoại gân cốt.

Tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài tuy có khuyết điểm này, sai lầm khác, nhưng vẫn là những tác phẩm hay, đánh dấu một giai đoạn phát triển mới của văn xuôi Việt Nam.

Cuốn "Cơ hội của chúa" của Việt Hà cũng là một tiểu thuyết hiện thực có giá trị. Gần đây, phần văn xuôi của Trần Đăng Khoa được đông đảo bạn đọc ưa thích, vì trong cái giọng văn bình dị sáng sủa của anh đã chứa đựng một loạt vấn đề có khả năng kích thích và thúc đẩy sự phát triển của tư duy xã hội.

Thế mà người ta cứ làm ầm ĩ như sắp sập trời sập đất, rồi kéo nhau xúm lại đánh đòn hội chợ, phang đập túi bụi. Trường hợp cuốn "Cơ hội của chúa" thì lại sinh ra một tiền lệ mới : Sở Văn hóa Thông tin TPHCM lại triệu tập cả Ban Tư tưởng văn hóa thành ủy, P.A.25, Hội liên hiệp văn học nghệ thuật TPHCM và một số đại biểu khác họp bàn và nhất trí làm công văn kiến nghị với Bộ Văn hóa Thông tin yêu cầu thẩm định lại giá trị cuốn sách.

Thế là, trong khi cuốn tiểu thuyết được dư luận tán thưởng và được những cây bút phê bình đứng đắn khen ngợi thì cơ quan phụ trách văn hoá của thành phố lại phản đối.

Dư luận lại được một phen xôn xao bàn tán và nhiều người, trong đó có chúng tôi, thực sự tỏ ra phân vân về một loạt vấn đề mang tính nguyên tắc:

- Phải chăng trình độ thẩm định tác phẩm của Sở Văn hóa Thông tin địa phương ?

- Phải chăng mọi người - kể cả Bộ Văn hóa - nên nghe theo ý kiến của ông Lê Hồng Liêm - giám đốc Sở VHTT, ông Trần Văn Tạo - trưởng Ban Tư tưởng văn hóa thành ủy, đại biểu phòng P.25, ông Bảo Định Giang - chủ tịch Hội LHVHNT TPHCM và những người khác ..., tất cả đều là không có thời gian, không có điều kiện hoặc không có trình độ để chuyên tâm nghiên cứu lý luận văn học và cập nhật về lý luận văn học, hay nên nghe theo ý kiến của những nhà phê bình chuyên nghiệp, làm ăn đứng đắn tử tế như các ông Hoàng Ngọc Hiến, Lại Nguyên Ấn, Vương Trí Nhàn ... ?

- Phải chăng cứ có dư luận quần chúng hoặc dư luận của giới lãnh đạo xôn xao về một tác phẩm nào đó, là ta hoảng hốt đến mức mất cả tỉnh táo sáng suốt, trông gà hóa cuốc, giặc chẳng bắt lại đi bắt thầy tu. Các cụ xưa đã dạy : người ba đấng, của ba loài. Dù là quần chúng hay lãnh đạo cũng cần phân loại cho rõ. Nghe theo ý kiến bộ phận tiên tiến chứ nghe theo ý kiến bộ phận trung bình và lạc hậu sao được ?

Nhớ lại ngày nào, người ta căn cứ vào ý kiến của một vài cá nhân lãnh đạo và một bộ phận quần chúng chưa phải là tiên tiến rồi xúm vào đánh dập đánh vùi Con nai đen, Nguyễn Trãi ở Đông Quan của Nguyễn Đình Thi; Sắp cưới của Vũ Bão, Phở của Nguyễn Tuân, Đống rác cũ của Nguyễn Công Hoan, Vào đời của Hà Minh Tuân, Con chó xấu xí của Kim Lân, Phá vây của Phù Thăng, Cây táo ông Lành của Hoàng Cát, Chín mươi chín chân dung nhà văn của Xuân Sách. Đặc biệt trong vụ đánh tiểu thuyết Cù Lao tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn, ông Trần Bạch Đằng huy động cả một đội ngũ thủ túc ở TPHCM và cả mấy tỉnh đồng bằng sông Cửu Long nhất tề xông tới lấy thịt đè người. Cũng may lý lịch và nhân thân của tác giả thuộc loại tốt và tác phẩm thuộc loại lành mạnh, tốt, nên cả Nguyễn Mạnh Tuấn và anh Hà Mậu Nhai - giám đốc NXB Văn Nghệ TP đều thoát hiểm. Chúng tôi nhớ mãi lời khuyến cáo của anh Hà Mậu Nhai khi duyệt xuất bản tập thơ Gửi nhà thơ quên sứ mệnh : " Ông còn làm ăn lâu dài ở đất này nên tránh mặt họ ra", do đó chúng tôi vui lòng rút đi một khổ thơ sau đây :

Nhà thơ hỡi !

Anh không căm phẫn chăng ?

Khi anh em nhà Tư Hoan

đang hè nhau cắn xé Cù Lao Tràm

ngậm máu phun vào tác giả.

(Trần Khuê - Gửi nhà thơ quên sứ mệnh)

Nghĩ lại một thời ấu trĩ, đọc lại những bài được gọi là "phê bình" của các ông Hoài Thanh, Vũ Đức Phúc, Lê Đình Kỵ, Hà Xuân trường, Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ v.v. và một số cây bút khác, thi nhau bốc thơm tác phẩm này, vùi dập tác phẩm khác mà không tránh khỏi rùng mình. Mượn danh nghĩa bảo vệ đường lối văn nghệ của Đảng, người ta thản nhiên làm thui chột biết bao tài năng, hủy hoại biết bao trí tuệ của dân tộc. Chúng tôi cũng thông cảm và dư luận cũng thấy cần phải thể tất với ông Hoài Thanh khi nghe tin lúc sắp từ giã cõi đời, ông đã tỏ ra ân hận và chỉ mong ông Xuân Sách sửa lại cho một chữ trong bức chân dung của mình để đúng với hoàn cảnh thực tế hơn. Đó là chữ phải thay cho chữ lại trong câu :

Vị nghệ thuật mất nửa đời

Còn lại nửa đời lại vị người trên

Đ/c Tố Hữu trước sau vẫn xứng đáng là ngọn cờ đầu của thơ ca cách mạng nhưng đồng chí có phải chịu trách nhiệm gì không trong thời kỳ đ/c làm Trưởng ban tuyên huấn của Trung ương Đảng, trực tiếp chỉ đạo đánh hết vụ này đến vụ khác ? Đ/c Tố Hữu cũng như tất cả những người phụ họa có khi nào cảm thấy lương tâm mình bị cắn rứt không ? Chẳng lẽ khi nghĩ đến những văn nghệ sĩ suốt cả một đời đi theo Đảng, phục vụ cách mạng, phục vụ dân tộc mà bỗng chốc vì bị "xưng xuất" điều này điều khác mà đến nỗi phải treo bút ba chục năm liền, có những người chết mòn trong đói khổ nhục nhã, oan khuất mà không ai có một chút động tâm nào chăng ?

Cần nhớ rằng mọi chuyện xảy ra trên đời này đâu phải chỉ có ta với ta trong hiện tại mà còn con cháu chúng ta nữa chứ, khinh thường bia miệng thế gian sao được !

Muộn còn hơn không, nếu ai trong chúng ta đã trót lầm lỗi mà biết sám hối hẳn có thể thanh thản ra đi và hưởng được sự khoan dung của cuộc đời.

Ông Đặng Tiểu Bình được Trung Quốc coi là một người có công lao lớn và là một nhà lý luận hiện đại, trước lúc sắp qua đời còn nói được một câu tỏ ra ân hận về vụ đàn áp ở Thiên An môn. Trung Quốc. Những người có lương tri trên thế giới này chỉ càng thấy đáng quí trọng ông hơn mà thôi.

Ông Khơ-rut-sốp quyền lực tót vời, đã một thời dọc ngang trời đất, khi thất thế vẫn còn biết tỏ ra ân hận vì đã ra lệnh đàn áp những người chân chính như nhà văn Patesnak. Và ông cũng chân thành thú nhận rằng ông chưa hề đọc tác phẩm "Bác sĩ Zivago" (một tác phẩm văn học được coi là chống chế độ Xô Viết). Chỉ thế thôi cũng đủ cho nhân dân và lịch sử thể tất cho Khơ-rut-sốp.

Có thể nói, đây là một nếp rất xấu trong lề lối suy nghĩ và hành động của những người lãnh đạo cao cấp trong các đảng cộng sản ở phe XHCN trước đây. Kẻ thù giai cấp của chúng ta khi làm sai còn biết cử nhau lên đài truyền hình để công khai xin lỗi công chúng, ta thì không. Họ xin lỗi đấy nhưng rồi họ vẫn tiếp tục làm sai vì đó là thuộc bản chất của họ. Còn ta sao ta lại có thể tiếp tục cũng làm sai như họ. Mà làm sai mấy chục năm liền, không cho ai nói động đến. Nói thì vu cho đủ tội rồi ra tay trấn áp với danh nghĩa tưởng như rất đúng đắn : trấn áp kẻ thù giai cấp để bảo vệ nhân dân. Nhưng thực chất là họ đang trấn áp nhân dân và làm lâm nguy chế độ. Chúng tôi quan niệm rằng những người trí thức chân chính là tinh hoa của dân tộc, là đại diện chân chính của nhân dân ở bất cứ thời đại nào. Đàn áp họ chính là đàn áp nhân dân. Và bất cứ lực lượng nào đã đàn áp nhân dân thì phải sụp đổ. Đó là qui luật tất yếu không một giai cấp thống trị nào thoát khỏi.

D- Chúng ta phải tỉnh táo mà tránh những vết xe đổ của Liên Xô và Đông Ấu.

Ông Lê Hồng Liêm và ông Trần Văn Tạo không hiểu rằng đâu có phải cứ đàn áp Nhân văn giai phẩm, đàn áp những người văn nghệ sĩ chân chính, những trí thức tâm huyết mà xã hội ta phát triển được ?

Chúng tôi phải thẳng thắn chỉ ra rằng việc các ông muốn đàn áp những tác phẩm tốt như tiểu thuyết "Cơ hội của chúa" và tác giả của nó là hết sức sai lầm. Đó là một nếp nghĩ "ngựa quen đường cũ" rất lỗi thời, hoàn toàn không phù hợp với đường lối hiện đại hóa của Đảng. Và cũng không nghiêm chỉnh thực hiện lời dạy của Lênin trong lĩnh vực sáng tác văn học nghệ thuật cũng như trong lĩnh vực khoa học : phải biết tôn trọng ý kiến cá nhân.

Các ông thử nghĩ xem, một đất nước nếu không ai buồn nghĩ, buồn nói gì nữa, chỉ còn biết nghĩ theo nói theo nhau, chỉ còn biết sao chép của tiền nhân hoặc của người nước ngoài thì đất nước đó sẽ đi tới đâu ? đến được định hướng nào, mục đích nào ?

Nhiều người cứ ngộ nhận bản thân mình hoặc phe cánh của mình đang trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin và đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Đảng. Phân tích ra mới thấy là họ đang chống lại tất cả mà không tự biết. Cái nguy là Trung ương ta cứ tin vào những người như thế rồi giao phó đủ các thứ quyền hạn cho họ và yên chí rằng họ là những người trung thành bảo vệ chế độ. Trung thành theo kiểu như thế là cực kỳ nguy hiểm.

Chúng tôi cũng đề nghị từ nay (tức là từ năm 2000 trở đi) đừng ai nói nữa rằng : nhân dân giảm sút hoặc sói mòn lòng tin đối với Đảng.

Không có chuyện đó đâu ! Đảng là một bộ phận máu thịt của Dân Tộc, do chính Nhân Dân đẻ ra và nuôi dưỡng, che chở, làm gì có chuyện không yêu với không tin. Trên đời này có ai lại không tin yêu bản thân mình.

Nên nói thế này thì đúng hơn : Nhân dân không thể tin yêu cái lũ đảng viên tiêu cực thoái hóa biến chất và cả những kẻ bao che cho chúng. Nếu thực sự Đảng này không tốt thì Dân này cũng sẵn sàng từ mặt mà "đuổi" đi lâu rồi. Con sâu bỏ rầu nồi canh, huống chi còn để cho sâu mọt tham nhũng nhung nhúc phát triển thì ai chịu nổi.

Còn những người cộng sản chân chính thì không phải người ta chỉ tin yêu kính trọng mà muôn đời sau vẫn biết ơn họ, thờ cúng họ.

Cứ nên nói thẳng ra rằng : nếu còn theo được cái đức khiêm tốn của Bác Hồ thì Trung ương Đảng ta nên nghiêm khắc tự phê bình về cái khuyết điểm không tin Dân của mình.

Những đồng chí nào không tin Dân, không biết kính trọng Dân thì đừng vội vã thanh minh, hãy bình tâm suy nghĩ về thực tế vừa qua thì thấy ngay. Tin gì mà Dân kêu ầm trời đất về nỗi oan khuất của mình mà lại lờ đi coi như không nghe thấy. Hàng tấn đơn khiếu tố của Dân gửi đi khắp các cơ quan Đảng và Nhà nước mà nhắm mắt lại coi như không thấy gì. (riêng Thủ tướng Phan Văn Khải đã than phiền mỗi tuần nhận đến 15 ký đơn).

Lúc nào cũng chỉ lo Dân bị lợi dụng, bị kích động. Đi cùng với Dân mấy chục năm liền mà bây giờ lại quay ra lo hão lo huyền.

Dân nói không nghe, những người trí thức chân chính, văn nghệ sĩ chân chính, những lão thành cách mạng nói cũng không nghe.

Lúc nào cũng lo bọn phản động nước ngoài lợi dụng, còn bọn "phản động" ngay trong Đảng, trong bộ máy Nhà nước thì mất cảnh giác, Dân có phát hiện thì lại tìm cách bao che cho nhau rồi tìm cách trị Dân. Hỏi làm gì mà không tan cửa nát nhà, tanh bành sự nghiệp. Mất hàng trăm tỷ, hàng ngàn tỉ mới hoảng lên, thử hỏi hơn chục tỉ đô la nợ nước ngoài thì nó vào những lỗ hà nào ? Và rồi ai sẽ nai lưng ra kéo cày trả nợ đây ?

Chỉ có "hiền quá hóa ngu" mới không biết phẫn nộ trước một tình hình đất nước như thế. Mà Dân ta đâu có hèn có ngu mà để cho cái lũ cường hào tham nhũng, hoành hành ngang ngược bằng ấy năm trời, lại còn tìm cách chống chế để hoành hành tiếp.

Những vụ như vụ Thái Bình, Bộ Chính trị thấy lo, đ/c Tổng bí thư thấy lo, thế mà các cấp địa phương cứ nhởn nhơ coi như không xảy ra chuyện gì. Vẫn còn có những kẻ bàn nhau dám ăn cả vào quĩ xóa đói giảm nghèo, ăn vào tiền cứu trợ, rồi loanh quanh lại vẫn xếp nhau vào "đảng viên loại 1". Thật vô liêm sỉ !

Phải nói rằng Dân tin Đảng đến chừng nào nên mới kiên trì chờ đợi như thế. Cho nên khi thấy đồng chí Lê Khả Phiêu học lại bài học Dân vận của Bác Hồ, mọi người mừng xiết bao !

Khi chúng tôi lo lắng đề nghị với Bộ Chính trị sửa tận gốc của tình hình là với ý nghĩa đó. Nếu chúng ta không sửa lại cơ chế, tổ chức lại Đảng, Quốc hội, và nói chung là bộ máy Nhà nước ta thì nguy cơ sụp đổ là không tránh khỏi. Chúng ta có mang xử tử dăm chục đứa hay dăm trăm đứa cũng thế thôi.

Chế độ phong kiến sở dĩ không tồn tại được, dứt khoát bị lịch sử đào thải vì không thể trông cậy vào một vài vị minh quân hoặc dăm ba chục ông quan thanh liêm mà củng cố, trở nên tốt đẹp được.

Không thể trông vào vài ông quan thanh tra mang theo kiếm thượng phương tiền trảm hậu tấu mà diệt hết được lũ tham quan ô lại ở mỗi địa phương. Nghiêm khắc đến như thế còn chẳng ăn thua gì huống các Ban thanh tra của ta hiện nay.

Ta có một cái hết sức tệ hại là làm sai nhưng không cho ai động đến. Ai nói động đến là xúm nhau vào bắt bớ, giam cầm, đánh đập. Cái gì cũng nói là : Trên biết cả rồi. Biết thì phải ra tay hành động chứ biết để đấy thì biết làm gì. Cũng là đảng viên cả mà Bùi Minh Quốc vừa viết một bài thơ có câu :

Trong Đảng ta có những thằng đểu

thì vội vàng bắt bớ, khai trừ, quản thúc. Còn ông Cao Sĩ Kiêm làm thất thoát hàng chục ngàn tỉ đồng thì lại được an toàn thuyên chuyển từ Thống đốc ngân hàng sang làm Phó ban kinh tế trung ương. Kiến nghị mãi mới đưa ra để cảnh cáo. Thế là công bằng hay bất công. Đáng lẽ phải xem lại mình, kiểm tra xem trong Đảng có thằng nào là thằng đểu thì loại ra để bảo vệ sự lành mạnh, tốt đẹp của hàng ngũ Đảng, rồi ghi công phát hiện cho Bùi Minh Quốc.

Phương ngôn có câu : Anh hãy nói cho tôi biết anh chơi với ai, tôi sẽ nói cho anh biết anh là hạng người nào. Chúng tôi cũng xin hỏi thẳng Bộ Công an : Hãy cho biết các đ/c ký giấy bắt những ai, chúng tôi sẽ nói cho các đ/c biết các đ/c có còn là bạn của Dân nữa hay không ?

Bác Hồ nói Công An là bạn Dân. Tình cảm bạn bè quí trọng nhau mấy chục năm trời ai cũng biết. Lâu nay ta nói nhiều đến thành tích của bộ đội Cụ Hồ anh hùng và chưa nói được đầy đủ đến thành tích của Công an nhân dân anh hùng. Chỉ tính riêng thành tích các đ/c công an ta đánh sâu vào trong lòng địch, nằm vào tận ruột phủ tổng thống ngụy để chuẩn bị cho những chiến dịch lớn thì công lao của công an ta lớn chừng nào trong công cuộc góp phần vào ngày đại thắng của ta. Cho đến hiện nay còn biết bao đ/c đang chiến đấu thầm lặng và thầm lặng hy sinh, có khi Tổ quốc và Nhân dân chưa kịp biết tên tuổi và thành tích.

Nhìn bề nổi, chỉ nói riêng TPHCM suốt 25 năm sau ngày giải phóng, kẻ thù không gây nổi một tiếng nổ nào, giữ được an ninh đến mức đó thật tuyệt vời biết bao ! So với cảnh sát nước Mỹ, nước Pháp và nhiều nước khác đã để xảy ra bao vụ đánh bom, mới phần nào thấy được tài năng và tầm vóc của công an nhân dân Việt Nam (ngoài ra còn hàng ngày hàng giờ xả thân bắt cướp, cứu dân, kịp thời xóa các băng nhóm giật dọc, ma túy ... mới thấy hết công lao và sự hy sinh cao quí của anh chị em công an).

Nói cho đầy đủ thì cũng chớ nên chỉ nhìn vào mấy chú công an phạt liều bắt oan, nhận lót tay, hay buôn ma túy hoặc thông đồng với nhóm Tân trường Sanh hoặc Epco Minh Phụng ..., mà đánh giá oan toàn bộ phẩm chất tốt đẹp của công an ta.

Với những đ/c công an trẻ chưa hiểu biết mấy sự đời, chúng tôi cũng thân ái nhắn nhủ : phải học tập các bậc đàn anh, giữ lấy phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ công an nhân dân, đừng quên cái vinh dự lớn : công an là thanh bảo kiếm của Đảng và Dân tộc. Càng không được quên bảo kiếm chỉ lợi hại khi có lá chắn là Nhân dân. Công an nằm vùng bị địch truy bắt chỉ cần chạy vào một con hẻm, vào được với Nhân Dân là an toàn, kẻ thù trở nên bất lực. Hiện nay, nhiều người quên mất lá chắn lợi hại này; nếu như mai kia kẻ thù đâm các chú mà các chú lại thiếu lá chắn này thì các chú đỡ bằng gì ?

Chuyện đời phải suy ngẫm cho kỹ, chớ có hồ đồ. Đừng có ham tiền, ham gái, ham nhậu nhẹt rồi quên đi việc giở lại những trang sử oanh liệt của các vị tiền bối trong ngành. Phải làm đầy tớ cho Nhân Dân. Chớ có hám tiền, hám gái, hám chức tước danh vọng mà đi làm nô lệ cho những kẻ thù của Nhân Dân, những lực lượng chống lại Tổ quốc XHCN và lý tưởng Hồ Chí Minh.

Cũng phải nói thêm rằng trong Đảng ta cũng như trong xã hội ta hiện đang phổ biến một tệ nạn : nhiều người nói theo như vẹt. Thấy trên nói về "ý thức làm chủ tập thể" thế là cũng lặp lại : "cần phải làm chủ tập thể". Nghe nói "ba cuộc cách mạng" cũng lặp lại "ba cuộc cách mạng", nghe nói "đốt cháy giai đoạn" cũng nói theo "đốt cháy giai đoạn". Thực tình họ cũng chẳng cần hiểu trên nói gì và họ lặp lại cái gì. Họ chẳng hiểu ý nghĩa thực sự thế nào là "dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng văn minh", thế nào là "công nghiệp hóa, hiện đại hóa", thế nào là "nội lực". Trên nói sao dưới lặp lại y như vậy và yên trí rằng họ đang trung thành với lời dạy của lãnh tụ, của nghị quyết trung ương. Điều tai hại là trên cũng yên chí như vậy, có biết đâu rằng họ nói dzậy mà không phải dzậy, phần lớn là nói một đằng làm một nẻo.

Không phải nói địa phương vùng sâu vùng xa nào mà nói ngay tại Thủ đô cho nó cụ thể dễ thấy. Nếu ông Bộ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Sinh Hùng và ông Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện Mai Liêm Trực mà thực sự hiểu đường lối hiện đại hóa của Đảng thì đâu có đặt giá mắc điện thoại, thuê bao điện thoại và nhất là giá vào mạng Internet cao đến thế. Các ông chỉ nhìn thấy cái lợi trước mắt, cái gì cũng muốn hoàn vốn thật nhanh chứ quan tâm gì nhiều đến lợi ích lâu dài. Nói riêng việc đặt giá vào mạng Internet cao hơn cả giá khu vực và thế giới (450.000đ vào mạng, 50.000đ thuê bao tháng, 290đ/1phút, gần đây đã rút xuống 200đ/phút nhưng vẫn còn là đắt) thì ông chỉ mong phục vụ các nhà kinh doanh, và thẳng cánh gạt cả một lực lượng nghiên cứu khoa học kỹ thuật và lực lượng sinh viên trẻ ra ngoài. Các ông có biết đâu chỉ cần một nhà nghiên cứu hoặc một cháu sinh viên lôi từ mạng Internet về được một thông tin khoa học kỹ thuật quan trọng có khi đã đáng giá bạc tỷ rồi.

Một tình trạng đáng buồn trong Đảng ta nói riêng và trong xã hội ta nói chung là người ta nói và viết một cách rất khuôn sáo, công thức. Điển hình là tình trạng soạn thảo các văn bản, nghị quyết. Đáng lẽ mỗi nghị quyết mới chỉ cần nêu nghị quyết trước đã thực hiện đến đâu, còn lại phần nào và hiện tại phải giải quyết cụ thể những vấn đề gì (cả cũ cả mới). Nhưng hình như bộ phận soạn thảo nghị quyết cảm thấy không an tâm nếu không lặp đi lặp lại một số vấn đề nào đó. Đặc biệt vấn đề "tăng cường sự lãnh đạo của Đảng", hầu như nghị quyết nào cũng được nhắc với những lý lẽ khô khan, nhàm chán.

Hình như họ quên mất hồi mới giành chính quyền và thời kỳ kháng chiến chống Pháp, có thời gian chỉ có mình Cụ Hồ với hơn 5000 đảng viên, chẳng thấy ai hô "tăng cường lãnh đạo" mà nhân dân cứ làm theo răm rắp, có khi chưa kịp hướng dẫn người ta đã tự nguyện làm rồi. Sau đó mới tổng kết mà phổ biến sáng kiến cho mọi người, mọi địa phương.

Nhớ hồi đầu kháng chiến chống Pháp, Đảng còn rút vào bí mật và lấy tên là Hội nghiên cứu chủ nghĩa Mác, thậm chí người ta cũng chẳng biết ai là hội viên ai không hội viên. Công khai bấy giờ là Mặt trận Liên Việt. Cán bộ Cụ Hồ chỉ thấy toàn những người đầu tàu gương mẫu, bộ đội Cụ Hồ lại càng gương mẫu, chỉ thấy tin yêu quí trọng và bảo nhau sản xuất giết giặc cứu nước. Cán bộ miệng nói tay làm, gặp khó khăn nguy hiểm thì xung phong đi trước. Hằng ngày lãnh đạo là như thế, chỉ thị nghị quyết thì càng vắn tắt càng tốt. Cứ nói năng dễ hiểu theo kiểu Cụ Hồ thì dân hiểu và khó mấy cũng xong. Cụ Hồ và cán bộ Cụ Hồ chẳng ai phải hô tăng cường hay quán triệt. Không tin cứ giở các văn bản thời đó ra mà xem lại.

Sau này cũng nên nghiên cứu xem bắt đầu từ những văn bản nào mà lại sinh ra một lối viết dùng toàn những từ khuôn sáo : trên cơ sở, dưới ánh sáng, quán triệt, tăng cường, tích cực, phải thế này, phải thế kia.

Nói và làm không đi đôi với nhau từ hồi nào vậy ? Bắt đầu từ những ai vậy ? Sự thực đúng là cay đắng và đau lòng, thế mà không bàn nhau để giải quyết trong năm 2000 thì còn kéo dài đến thế kỷ nào ?

Vì uy tín và sự sống còn của Đảng ta đồng thời cũng là sự sống còn của Dân tộc, chúng ta không có quyền chần chừ do dự nữa.

Không để địch lợi dụng để phản tuyên truyền luôn luôn là điều đáng lo đáng cảnh giác. Nhưng đâu có đáng sợ bằng ta lợi dụng ta. Lợi dụng Đảng và Nhà nước giao cho chức quyền mà quan liêu tham nhũng, ức hiếp quần chúng là những kẻ nào ? Thông qua những kẻ này, người ta sẽ đánh giá Đảng ta và Nhà nước ta ra sao ? Có một thời người ta cứ say mê với lối nói : "Cá biệt có một số ít cán bộ đảng viên", "Đó chỉ là hiện tượng chứ không phải bản chất". Đành rằng bản chất chế độ XHCN của ta là tốt đẹp nhưng cứ để cho tham nhũng nảy nở tràn lan thành quốc nạn thì ta sẽ giải thích với Nhân Dân và thế giới ra sao ?

Chúng tôi rất hoan nghênh việc Tổng bí thư Lê Khả Phiêu và trung ương ta bắt đầu thẳng tay qui rõ trách nhiệm. Thủ tướng Phan Văn Khải cũng tuyên bố rõ từ nay ai ký duyệt dự án nào phải chịu trách nhiệm về dự án ấy.

Đúng ! Ai phụ trách Bộ nào, ngành nào, địa phương nào, hay bất cứ công việc gì phải chịu trách nhiệm rõ ràng trước pháp luật. Phải bỏ hẳn cái lối làm hỏng việc lại đổ lỗi cho tập thể, cho tổ chức, cho Đảng. Nếu thấy mình không đủ khả năng đảm đương trách nhiệm thì nên từ chối đi. Chức vụ, quyền hạn thì nhận thế mà khi phạm tội bị đưa ra tòa thì lại đổ lỗi cho tổ chức : Tôi không có đủ trình độ nhưng vì ý thức tổ chức nên Đảng giao tôi cứ phải nhận (!).

Chúng ta phải xây dựng một cơ chế tạo ra được một tâm thế : từ viên chức thấp nhất cho đến viên chức cao nhất của bộ máy nhà nước, từ đảng viên thường cho đến tổng bí thư luôn luôn cảm thấy, như người xưa nói : lúc nào cũng như đang cưỡi ngựa mà cầm dây cương mục hoặc đi trên băng mỏng : "Dư lâm triệu dân, lẫm hồ nhược hủ sách chi ngự lục mã" (ta cai trị muôn dân, lòng luôn lo sợ như cầm sợi dây cương mục mà chế ngự cỗ xe 6 ngựa), hoặc "chiến chiến căng căng như lâm thâm uyên như lý bạc băng" (run run sợ sợ như đứng sát vực sâu như dẫm trên băng mỏng) nghĩa là luôn luôn nơm nớp lo sợ vì không làm tròn trách nhiệm.

Chính giai cấp phong kiến và giai cấp tư sản đã thành công trong việc tạo ra cái tâm thế này. Một Nguyễn Công Trứ tài năng và khí phách, một Nguyễn Tri Phương giỏi giang và được tin cậy, thế mà người thị bị cách tuột xuống làm lính thú, người thì bị án trảm giam hậu. Thử hỏi còn viên quan nào dám lơ mơ bỏ bễ công việc. Từ các viên chức ở một công sở cho đến tổng thống ngự trị trong Nhà Trắng, lúc nào cũng có thể bị đuổi sở hoặc ra trả lời trước tòa, thử hỏi không nơm nớp sao được, không hết lòng vì công vụ sao được ?

Ta thì mới là Tổng cục trưởng Phan Văn Dĩnh được tòa gọi đến làm nhân chứng cũng không thèm đến. Vì sao ông Phan Văn Dĩnh không đến ? Vì trước đó tất cả các Phan Văn Vĩnh đều không đến và đều không hề hấn gì cả..

Nhưng Phan Văn Dĩnh đâu có ý thức được rằng mình đến hầu tòa là mình ra hầu công lý với tinh thần "thượng tôn pháp luật". Pháp luật này thể hiện ý chí của Nhân dân và của chính giai cấp lãnh đạo của mình. Tôn trọng pháp luật hiện nay chính là tôn trọng Nhân dân, tôn trọng Đảng và làm vững vàng thêm Chế độ. Mình là người lãnh đạo mình phải nêu gương trước để nhân dân thực hành theo. Nếu mình cứ hô : phải sống, làm việc theo hiến pháp và pháp luật, nhưng bản thân mình lại không tôn trọng pháp luật thì Dân tin mình sao được ? Đi theo sự lãnh đạo của mình sao được ? Chính mình phá phách, giày xéo lên kỷ cương luật pháp thì còn mong gì lãnh đạo ai ? dẫn đường cho ai ? Nếu còn thực sự trung thành với Dân, với Đảng, chúng tôi mong tất cả những Phan Văn Dĩnh hãy nghĩ lại đi và mau mau sám hối đi. "Quan nhất thời, dân vạn đại", có thể mất các anh chứ mất Dân, mất Nước, mất Chế độ này thế nào được. Xương máu của bao thế hệ, xin các anh chớ giỡn đùa với Nhân Dân, với LỊCH SỬ.

Lại nhớ hồi mới "đổi mới", mấy ông nhà văn và nhà lý luận đặt lại vấn đề "mối quan hệ giữa văn nghệ và chính trị". Lại cho rằng văn nghệ không phát triển được vì phải phục vụ chính trị. Văn nghệ không phục vụ chính trị của một dân tộc hoặc một giai cấp thì phục vụ cái gì ? Một vấn đề đã trở thành nguyên lý và đã thảo luận bao nhiêu năm rồi, thay đổi thế nào được ? Đổi mới tư duy đâu có nghĩa là thay đổi những nguyên lý đúng đắn mà cả ta lẫn kẻ thù tư tưởng của ta đều phải tuân thủ nghiêm túc.

Chúng tôi cho rằng "đổi mới" kiểu ấy thực chất là trở về cái cũ rích. Cái chính cần thay đổi là nhận thức lại cho chính xác : thế nào là phục vụ chính trị ? Anh làm theo ý kiến của một vài ông cán bộ lãnh đạo tuyên huấn, hoặc một vài ông cán bộ cao cấp nào đó trong chính phủ, thế là anh đang phục vụ mấy ông chính quyền hoặc chính khách chứ đâu phải anh phục vụ đường lối chính trị của dân tộc hay của giai cấp.

Ý kiến của từng cá nhân lãnh đạo trong bộ máy Đảng hay bộ máy Nhà nước có thể đúng mà cũng có thể sai. Tại sao cái đúng anh không theo lại đi theo cái sai ? Vừa nghe một ông lãnh đạo tuyên huấn cấp tỉnh hoặc cấp trung ương : tác phẩm này hay đấy ! Thế là chưa biết nếp tẻ thế nào đã vội vàng xúm vào công kênh và bốc thơm lên tận mây xanh. Vừa mới nghe phán một câu : tác phẩm này xem ra có vấn đề đấy ! Thế là chả biết "vấn đề" ra sao cũng xúm vào moi móc, bới lông tìm vết vùi dập xuống tận bùn đen.

Không phân biệt nổi các khái niệm chính trị, chính khách, chính quyền, do đó sinh ra bao tai họa không đáng có.

Mấy năm vừa qua, có một hiện tượng đáng chú ý là hiện tượng Trần Mạnh Hảo và Mai Quốc Liên. Mai Quốc Liên và Trần Mạnh Hảo đã đặt các đối tượng phê bình lên "cái giường Prô-cut" của một thứ lý luận từ thời Timôfiep, Diên An và Nguyễn Lương Ngọc.

Trần Mạnh Hảo thông minh và hăng hái, đó là điều đáng khen ngợi, nhưng làm thơ hay đã khó, phê bình hay càng khó hơn nhiều. Vì cái hay của phê bình đòi hỏi độ chính xác cao lắm, đòi hỏi nhiều tri thức, kiến văn lắm. Không hiểu đầy đủ và sâu sắc đạo Mẫu Việt Nam, văn hóa Đại Việt, văn hóa Champa v.v. đã bàn thế nào được về Chùa Một Cột, về cọc đá Thánh Gióng buộc ngựa, về Man Nương Phật mẫu ...

Không hiểu đầy đủ và sâu sắc tiến trình lịch sử Việt Nam và lịch sử nhân loại đã bàn thế nào được về văn hóa Việt Nam. Không hiểu đầy đủ và sâu sắc mỹ học cổ kim đông tây, mỹ học Lưu Hiệp, mỹ học Hêỉghen, mỹ học Lucát, thậm chí còn lơ mơ cả về Secnưsepski, Biêlinski, Béctôn Brét, .. sao đã dám hạ bút phê bình thơ, tiểu thuyết ? Nói thế thôi chứ cầu toàn sao được. Đợi trang bị đầy đủ thì đã mắt mờ chân chậm còn sức đâu cầm nổi bút để sáng tác hay phê bình. Thôi thì biết đến đâu tâu đến đấy, biết điều gì thưa thốt điều ấy và phải biết cho chắc chắn, chính xác chứ đâu có chuyện vừa sờ vào được chân voi hay đuôi voi đã vội la toáng lên : ta đã chuẩn bị đủ loại roi rồi, mông nào roi nấy. (Trần Mạnh Hảo trả lời phỏng vấn của tạp chí Cửa Việt).

Tất nhiên những điều nói trên đây không chỉ dành riêng cho ông Trần Mạnh Hảo mà cả cho ông Mai Quốc Liên và những người cầm bút hăng hái nhất hiện nay.

Nhà văn Nguyễn Khải đọc sáng tác và lý luận của Kandéra và của một vài nhà hiện đại khác, "ngộ" ra được rằng mình phải thay đổi cách viết. Với những nhà văn tài năng và nổi tiếng như Nguyễn Khải, khi tuổi đã cao, danh đã thành, công đã toại mà vẫn còn nghĩ đến việc đổi mới cách viết của mình, thật đáng mừng và đáng ca ngợi. Thế mà giữa báo Sài Gòn giải phóng, ông Mai Quốc Liên lại hạ bút trì chiết, chỉ trích Nguyễn Khải bằng một giọng khó nghe. Rằng : sao Nguyễn Khải đã từng là một nhà văn cách mạng, một đại tá quân đội nhân dân, lại đi mê lý thuyết phương Tây, đổi mới đến nỗi quên cả cái gốc phương Đông, gốc cách mạng của mình.

Thế mới biết, khi người ta vốn "tiểu khí" mà lại muốn làm "tráng chí thành đại cuồng" thì quả là gay go thật. Đằng sau đó là cái gì thì lại phải nhắc nhau nhớ lại cách xét đoán tâm lý và tìm động cơ của người đời một cách cực kỳ thông minh và sâu sắc của đức thánh Khổng :

"Thị kỳ sở dĩ, quan kỳ sở do, sát kỳ sở an, nhân yên sưu tai ! Nhân yên sưu tai !"

Mai Quốc Liên không hiểu Nguyễn Khải và tất nhiên cũng chẳng hiểu Kandera (nhà cách tân tiểu thuyết người Tiệp Khắc) nên mới chụp mũ Nguyễn Khải một cách vô lối như thế.

Ông Liên cũng chẳng hiểu Trần Quí Cáp, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng và nhiều bậc tiền bối đồng hương với ông nên ông mới hô lên rằng ta bỏ chữ vuông, bỏ khăn đóng áo dài từ mấy chục năm qua là đã cắt đứt với truyền thống.

Trung tâm Quốc học do ông phụ trách lại bỏ công ra in lại Thơ chữ Hán của Nguyễn Du do giáo sư Lê Thước và giáo sư Trương Chính biên khảo hiệu đính và do các nhà Hán học lão thành dịch thuật và nhiều tác phẩm biên khảo dịch thuật khác của các soạn giả đi trước. Việc làm của Trung tâm Quốc học cũng như của Hội nghiên cứu và giảng dạy văn học in lại tác phẩm Tố Tâm và các tác phẩm trước cách mạng đều là những việc bổ ích. Nhưng việc kinh doanh sách - một loại hàng hóa đặc biệt - cũng như mọi loại hàng hóa khác trong cơ chế thị trường đòi hỏi sự minh bạch và sòng phẳng. Mình in lại sách của người khác soạn, thậm chí in cả lại những chú thích sai hoặc dịch sai mà soạn giả xưa đã đồng ý sửa, mà lại dám đề tên mình là chủ biên công trình thì thật là can đảm ! Mình chưa hiểu thế nào là một tiểu thuyết mà dám gọi truyện Thầy Lazarro phiền là tiểu thuyết. Nhà nghiên cứu Phạm Khánh Cao có lý khi phân tích trên Báo Văn Nghệ rằng : truyện Thầy Lazarro phiền chưa đủ tiêu chuẩn để xếp vào hàng tiểu thuyết và càng chưa đủ tư cách là tiểu thuyết Việt Nam đầu tiên viết bằng quốc ngữ. Vinh quang này vẫn thuộc về tiểu thuyết Tố Tâm của Hoàng Ngọc Phách. Chúng tôi thấy ông Mai Quốc Liên nên đọc kỹ bài của ông Phạm Khánh Cao và trân trọng kiến nghị giới nghiên cứu lý luận phê bình văn học nên tập trung thảo luận cho ra môn ra khoai để tránh sự ngộ nhận đối với người đọc hiện nay cũng như con cháu sau này.

Chưa kể trường hợp ông Nguyễn Đình Đầu còn cả gan đề tên mình cạnh tên tác giả Trương Vĩnh Ký ngoài bìa sách và tên dịch giả cỡ chữ lại to hơn cả tên tác giả. Còn với bộ Địa bạ triều Nguyễn thì ông Đầu lại tỏ ra can đảm hơn khi ông gạt toàn bộ tên của các vị dịch thuật lão thành : Vũ Văn Kính, Tăng Văn Hỷ, Đinh Tấn Dung, Trần Văn Mãi, v.v. ra khỏi bìa sách và trần trụi còn có mình tên ông với tư cách nhà nghiên cứu Địa bạ triều Nguyễn. Mà theo các cụ thì ông Nguyễn Đình Đầu chỉ có công in thêm một số bản đồ mà ông đã sưu tầm được và ông có công thống kê số làng xã và số ruộng đất mà các cụ đã dịch ra từ Địa bạ triều Nguyễn. Các cụ và cả dư luận thành phố đã phì cười khi thấy ông trên màn ảnh nhỏ đang soi đi soi lại kính lúp trên từng dòng chữ Hán chữ Nôm y như một dịch giả chính cống (mọi người đều biết ông không phải là người thông thạo chữ Hán chữ Nôm). Có người còn đùa tếu : "Chữ Hán không đầy lá mít cũng chủ biên tới mấy công trình"). Có người còn tếu hơn : ở hội nghị nào cũng chỉ vào ông, giới thiệu ông là "Tả Ao hiện đại" có khi còn ỡm ờ "biểu dương" ông là "nhà nghiên cứu không phải Việt cộng".

Tuy thế còn có người siêu hơn cả ông Nguyễn Đình Đầu tức là ông Trần Trọng Đăng Đàn.

Ông Nguyễn Đình Đầu chỉ nhận tiền tài trợ của ngoại quốc (Nhật Bản - Toyota Foundation) mà ông nói rằng không thể chia cho các cụ được vì "thành phố" giữ. Nhưng hỏi ra thì Sở tài chính, Sở văn hóa thông tin, Hội đồng khoa học xã hội chẳng nơi nào giữ khoản tiền này cả. Ông Trần Trọng Đăng Đàn khéo léo khai thác được cả hai nguồn tài trợ nội địa : một của Viện KHXH (cơ quan trung ương), một của thành phố (địa phương). Ông Đàn cũng siêu chẳng kém ông Đầu trong việc đề tên tác giả. Cầm bộ sách Góp mấy dòng vào văn học dày hơn 700 trang, đề tên tác giả là Trần Trọng Đăng Đàn, người ta không khỏi kinh ngạc khi thấy tới ngót 400 trang sách là hai tác phẩm của hai tác giả người Nga mà ông chỉ là dịch giả. Cũng nên thông cảm với ông Đàn, vì sự xô bồ lộn xộn trong tình hình sách vở hiện nay cũng chẳng còn là của riêng ai.

May mắn thay, dưới đáy hòm Pandor vẫn còn sót một thứ được gọi tên là Hy vọng. Bức tranh nhân thế đâu chỉ có những nét xám xịt mà còn những mảng gam màu rực rỡ đáng cho ta ngưỡng mộ và hy vọng.

Một trong số mảng đó là cuốn sách "Chân dung và đối thoại" của Trần Đăng Khoa. Đã lâu lắm rồi người ta mới được đọc một cuốn sách thú vị như thế. Thú vị chẳng kém gì khi đọc Gamzatop. Viết bình luận văn chương mà hóm hỉnh, sâu sắc và bao quát được cả một thời kỳ văn học rộng lớn một cách rất Trần Đăng Khoa như thế, quả là xưa nay chưa từng thấy. Sai, đúng ra sao cần phải phân tích kỹ lưỡng và "đối thoại" một cách nghiêm chỉnh với tác giả chứ không thể nói khơi khơi dăm câu ba điều những chuyện ngoài cuốn sách như ông Nguyễn Khải và ông Tố Hữu. Trần Đăng Khoa có những nhận xét chưa được trúng lắm về một vài tác phẩm hay tác giả. "Đúng sai thì cũng người ta thường tình". Chẳng có cá nhân, cộng đồng hay tổ chức nào được cấp phép độc quyền về chuyện này. Chỉ biết rằng những sai sót không đáng có cũng chẳng ảnh hưởng gì nhiều đến giá trị của một cuốn sách ngồn ngộn đời sống văn chương, đầy ắp những suy ngẫm về nhân thế. Tất cả được gói gọn, dồn nén trong những con chữ được lọc lựa kỳ khu chẳng thua gì những con chữ của Nguyễn Tuân. Con chữ Nguyễn Tuân người ta còn ái ngại khi bắt gặp những hình hài gầy gò, còm cõi vì thiếu dinh dưỡng tư tưởng. Còn câu chữ của "Chân dung và đối thoại" và cả trong "Thời sự làng tôi" và "Chuyện nhặt ở đảo chìm", nói trộm vía Trần Đăng Khoa, cứ hơ hớ, phây phây, mập mạp cả về tư tưởng và nghệ thuật.

Chúng tôi, lòng tự hẹn với lòng, thể nào cũng phải viết một bài đầy đặn, tử tế về cái món đồ kim hiếm có này. Trong khi chờ đợi, chúng tôi phải gửi đến em Khoa (thực ra đã phải gọi là ông Khoa từ lâu rồi) hai lạy. Theo truyền thống dân tộc thông thường dưới phải lạy trên, thấp tuổi phải lạy cao tuổi ... nhưng vài mươi năm qua bảng giá trị xã hội được sắp xếp lại, ta cũng nên biết tôn trọng trật tự mới với lễ nghĩa hiện đại. Thế mới là thức thời và biết cách tự khẳng định mình một cách có văn hóa !

Chắc có người sẽ thắc mắc : sao lại lạy mỗi hai lạy, hoặc sao lại lạy những hai lạy ? Xin thưa rằng : một lạy là để đền ơn em Khoa vì em đã vô tình thay mặt cho chúng tôi và tất cả những người có lương tri sụp lạy nhà văn Phù Thăng, cha đẻ của tiểu thuyết Phá vây, đã cùng với bao nhà văn, nhà thơ khác bị vây hãm mấy chục năm liền.

Lại nhớ đến Võ Tắc Thiên, vị nữ hoàng đế duy nhất trong lịch sử Trung Quốc vĩ đại, nghe đọc hịch của Lạc Tân Vương vạch tội và chửi rủa mình, miệng vẫn cười tươi, lại còn khen văn hay, lại còn quở trách và cách chức lũ quan địa phương bỏ uổng nhân tài, không biết tiến cử . Đặc biệt, khi Lạc Tân Vương cùng với những người khởi nghĩa bị bắt, chờ ngày ra pháp trường, thế mà, vừa nghe tấu biết Lạc Tân Vương không chỉ viết hịch giỏi mà còn làm thơ hay, vị nữ hoàng đế này đã quát lên :

- Thả ngay ra, ta không thể giết một nhà thơ !

Trọng văn thơ, trọng nhà văn, nhà thơ như thế, hèn chi thiên hạ không nghiêng mình bái phục. Lại có đủ cả : nào là Thịnh Đường, nào là Trung Đường, nào là Vãn Đường, nào là thi thánh (Đỗ Phủ), thi tiên (Lý Bạch). Ôi ! Hàng ngàn nhà thơ với hàng chục ngàn bài thơ để đời hẳn là thành quả vĩ đại đáng tự hào của thi nhân, của những người cổ cày vai bừa nuôi dưỡng các thi nhân, đồng thời cũng là công đức to lớn mà lịch sử ghi dấu son cho những vị hoàng đế biết tôn trọng trí tuệ và thi ca. Buồn thay cho ta, bản thân nhà thơ cũng không biết quí trọng nhà thơ nói chi đến người cầm quyền thiếu hiểu biết tầm quan trọng của thơ ca.

Có những người làm thơ chân chính lại có thêm một người làm thơ chân chính biết bình luận văn chương sắc sảo như Trần Đăng Khoa là may mắn cho cuộc đời này. Mà em Khoa tài thật, tài thật, tài đến thế là cùng, sao chúng tôi lại không cảm phục được ! Em lại còn biết nói chuyện cả với ma. Em nói tiếng Việt giọng người mà khối người Việt đã từng máu mê văn chương còn không hiểu nổi, cứ như ngôn ngữ bất đồng. Thế mà ma lại hiểu. Mà ma cũng thánh thật. Phán chuyện người, chuyện đời, chuyện văn chương cứ như là đã thành người từ lâu lắm rồi. Dẫu ông Azit Nêxin ở Thổ Nhĩ Kỳ có tái thế cũng phải dập đầu tâm phục, khẩu phục.

Em Khoa lại còn dám đối thoại với Hổ mới kinh chứ. Đức thánh Khổng dạy đâu có sai : "Hà chính mãnh ư hổ". Đọc Khoa mới thấy hổ hiền khô chứ chẳng dữ dằn như ta tưởng. Lại còn hiểu thơ Thế Lữ, cao giọng bình giảng rồi ái ngại thay cho tâm sự tác giả và người đời. Cứ y như một nhà phê bình thứ thiệt ! Mới hay trong khi đua nhau học Mỹ ngữ, Anh ngữ, Nhật ngữ ... thiết tưởng những nhà phê bình chưa phải là thứ thiệt cũng nên trau dồi một ít ma ngữ và hổ ngữ mới mong thành danh được.

Cho nên, mặc miệng thế thị phi, người kêu ít, kẻ chê nhiều, chúng tôi cứ xin lạy em Khoa một lạy nữa, gọi là để đáp nghĩa Trần Đăng Khoa. Nhờ em mà nghĩa ma, nghĩa hổ, nghĩa người thêm phần sáng tỏ, lại làm tăng thêm trong chúng tôi nỗi niềm không biết sợ.

Nghĩ tình hình phê bình văn học nghệ thuật nước mình thật đáng buồn. Khen một tí, chê một tí rồi lặp đi lặp lại bằng một kết luận đầy công thức : "giá như thế này, giá như thế khác thì hẳn tác phẩm còn thành công hơn nhiều". Vẫn còn thịnh hành cái lối yêu ai thì bốc tác phẩm người ta lên tận mây, ghét ai thì dìm xuống tận bùn. Không thấy lợi lộc trước mắt thì dù hay dù dở, chẳng ai bảo ai cũng đều lờ đi, coi như không có mặt tác phẩm đó trên đời này. Đặc biệt có những cây bút phê bình kiên trì mai phục, đón gió, đón ý lãnh đạo. Gật một cái "tác phẩm ấy có vẻ được đấy !" thì dù có nồng nặc mùi con thuyền Nghệ cũng cứ là thơm như múi mít. Lắc một cái "tác phẩm ấy nghe có vấn đề đấy !" thế là xúm vào đánh đòn hội chợ, lấy thịt đè người. Thảng hoặc còn dăm ba người thực sự hiểu biết và có tâm huyết thì cũng hè nhau làm thịt. Nhớ ngày nào ông Hoàng Ngọc Hiến vừa đặt bút chê trách mấy người làm văn chương phải đạo. Đáng lẽ cần suy xét, tự nghiêm khắc kiểm điểm bản thân : nếu mình viết "phải đạo" thì lợi hại ra sao, tác lợi tác hại như thế nào đối với nền văn học nghệ thuật, đối với sự phát triển của Dân Tộc, sự tồn vong của Chế độ. Thế mới là phải đạo lý chứ !

Nhưng chẳng chịu phân tích nếp tẻ ra sao, cứ ra lệnh, cứ chấp hành, cứ hò nhau phang đập túi bụi. Buồn thay, ngay những người bạn thông cảm và hiểu được cái đúng và cả cái ý thức xây dựng của tác giả "phải đạo" cũng vẫn đành :

"Vẽ mặt bôi râu làm mặt lạ

Mang gươm vác dáo đánh người quen"

Chưa đến nỗi thuộc hàng tâm địa xấu xa nhưng rõ ràng đó là những người thiếu bản lĩnh. Thấy phải không dám bảo vệ, thấy trái không dám đấu tranh, không thể coi là xứng với phẩm chất của người trí thức hoặc văn nghệ sĩ chân chính.

Lại nhớ hồi nào nhà văn Sơn Tùng vừa chui ra từ khói lửa miền Nam, thương tích đầy mình, bị liệt hẳn cột sống, nằm mấy năm trời chữa chạy mới đỡ, hiện tại trong đầu vẫn còn hai mảnh đạn. Đau nhất cho người viết văn là liệt đúng tay phải, cầm bút không được, bắt tay bạn bè cũng khó. Thế mà không biết kỳ cạch xoay xỏa thế nào mà viết xong được cái "Búp sen xanh" kể về thời thanh niên của Bác Hồ bằng tư liệu gốc do chính anh tìm tòi và kiểm nghiệm. Đặc biệt, trong đó có kể về mối tình của anh Nguyễn Tất Thành và cô Nguyễn Thị Huệ. Đọc truyện của Sơn Tùng, người ta mới vỡ ra nhiều lẽ và cảm thấy càng yêu mến quí trọng Hồ Chí Minh của mình hơn. Đúng là một CON NGƯỜI. Trước khi trở thành lãnh tụ, thành anh hùng dân tộc, danh nhân văn hóa kiệt xuất của nhân loại, Bác đã có một mối tình đẹp và những tình cảm trong sáng tươi đẹp này Bác đã mang theo suốt cuộc đời mình. Nhờ "Búp sen xanh" mà mọi người hiểu thêm được một bí mật trong tiểu sử Bác Hồ. Riêng các cháu thiếu niên nhi đồng đọc "Búp sen xanh" càng thấy Bác gần gũi thân thiết với mình hơn. Viết về Bác Hồ, các cây bút trong nước, ngoài nước viết đã nhiều, nhưng thành công ở cấp độ Sơn Tùng quả là hiếm.

"Búp sen xanh" mang tính nhân bản cao, tính giáo dục sâu sắc vì trong đó người ta gặp hình tượng nhân vật tuyệt vời nhân bản, Người hơn cả mọi loại Người trên đời này. Thật đáng khen cho những cây bút có khả năng, bằng tác phẩm của mình, giúp cho đồng loại tin yêu con người và muốn sống đẹp hơn cho xứng đáng với danh hiệu con người. Đã không khen thì thôi, lại còn hùa nhau vào phang đập túi bụi một tác phẩm đẹp như thế, một tác giả đáng kính trọng như thế. Họ nghĩ một cách thô thiển rằng viết về tình yêu của anh Nguyễn Tất Thành là hạ thấp Cụ Hồ. Và những đấng bậc nào kia mới được quyền viết về lãnh tụ Hồ Chí Minh chứ đâu phải ngòi bút nào cũng "chòi mâm son" mà được. Nhớ lại ngày Bác Hồ mất, cùng là làm thơ văn khóc Bác mà có người ba năm sau mới được đăng, chắc thế giới - kể cả Azit Nêxin cũng không tưởng tượng nổi là văn nghệ Việt Nam lại có cái màn bi hài đến như thế. Đời thuở nhà ai, bố chết mà phải xếp hàng ba năm sau mới được vào khóc.

Sau vụ "Búp sen xanh" và một số buổi nói chuyện ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn Hồ Chí Minh, cuộc đời Hồ Chí Minh, Sơn Tùng được ngầm chăm sóc sức khỏe 24/24, nhưng Sơn Tùng cứ thản nhiên viết hết tác phẩm này đến tác phẩm khác, bạn bè tâm huyết, Nam có Bắc có, nước ngoài có, nước trong có, vẫn đến thăm anh, đàm đạo cùng anh về mọi thứ đạo lý và nghĩa lý trên đời.

Gần đây, Sơn Tùng lại viết được một tác phẩm xuất sắc, tiếp tục ca tụng những khía cạnh mà mọi người chưa biết về Bác Hồ và những người ruột thịt của Bác. Bên cạnh đó lại còn những trang đẹp viết về các chiến hữu và các học trò của Bác. Và độc đáo thay lại còn có những dòng trân trọng khẳng định những người đang sống, những bạn văn thường gặp anh hoặc hàng tuần đến đàm đạo trên chiếu văn, trong cái gian gác thấp bé chật chội của anh ở ngõ Văn Chương, phố Khâm Thiên. Anh đặt tên tác phẩm là "Hoa râm bụt" - thứ hoa ở dậu nhà Bác Hồ và trên khắp làng quê Việt Nam. Nhận được sách tặng gửi từ Thủ đô vào kèm theo thư đề nghị "Viết cho vài lời", trong dịp bay ra Hà Nội họp, chúng tôi phải đến sụp lạy anh và phân trần với các cụ trên "chiếu văn", mong anh Sơn Tùng và chị Hồng Mai thể tất cho. Chúng tôi không dám "viết vài lời" mà dự định viết hẳn một bài trang trọng nhưng chưa viết được. Chỉ xin nêu ngay một đặc điểm hiếm có của tác phẩm này : trong khi nhiều người cứ thích làm sống lại những người đã chết và dìm chết những người đang sống thì Sơn Tùng lại hì hục gia công làm ngời sáng thêm tâm hồn dân tộc, chiêu tuyết cho người oan khuất và làm sống mạnh mẽ thêm những người đang sống.

Sơn Tùng cũng chắp tay vái : "Bất kể người phụ nữ nào đọc thông được 10 chữ Hán, chữ Nôm là tôi cũng xin lạy một lạy. Chị còn minh mẫn thế này mà họ lại cho chị về hưu thì tôi cũng lấy làm lạ !".

Chuyện lễ lạy ở Việt Nam ta lắm lúc nghĩ cũng vui. Cung kính vái lạy trời phật thần thánh đã đành, giờ đây bạn bè đồng môn, đồng nghiệp lại cũng cứ lễ lạy nhau rồi cười vui thoải mái. Thoái mái nhất đối với chúng tôi là thấy các tác phẩm của Sơn Tùng cứ việc tái bản đi tái bản lại. Riêng "Búp sen xanh" thì đã in tới lần thứ 10. Và sau NXB Thanh Niên thì tích cực nhất là NXB Kim Đồng. Ấu cũng là nhờ vong linh Tổ tiên và Bác Hồ ngầm phù hộ cho mà được như vậy.

Đặc biệt giới sử của ta chưa bỏ công nghiên cứu kỹ vai trò của tầng lớp thương nhân Việt Nam để xác định giá trị và tầm quan trọng của họ đối với lịch sử xã hội. Do đó, các nhà thơ, nhà văn, nhà phê bình của ta không hiểu giới thương nhân cũng là lẽ thường tình.

Lần ngược lại lịch sử thì thấy máu kinh doanh của dân ta đã có ngay từ thời Tiên Dung công chúa và Chử Đồng Tử, và Bộ Thương mại của ta có thể đề nghị với Quốc hội công nhận ngài Mai An Tiêm là ông tổ của ngành xuất nhập khẩu, rồi hương khói cho tử tế. Sau Mai An Tiêm còn có những người nổi tiếng khác trong lịch sử thương mại nước nhà : ông Trần Khánh Dư thời Trần, ông Trần Nguyên Hãn thời Lê, cha con ông Phạm Quỳnh thời Mạc, ông Nguyễn Nhạc thời Tây Sơn, ông Lê Văn Khôi thời Nguyễn, ông Bạch Thái Bưởi thời Pháp, và đến thời ta những người kinh doanh giỏi như vua Lốp cũng không phải là hiếm.

Xin quay lại vấn đề lý luận phê bình và sáng tác. Rõ ràng, không có lý luận đúng, không có phê bình đúng thì cũng chẳng có sáng tác hay. Không hề là yêu cầu quá đáng, trước khi là nhà lý luận, nhà phê bình hay nhà sáng tác thì phải là nhà tư tưởng đã. Tư tưởng có thể lớn bé, thấp cao nhưng phải có tư tưởng đã rồi hãy nói chuyện đối thoại với cuộc đời. Và tư tưởng này là của bản thân mình chứ không phải là thứ dập khuôn sao chép của thiên hạ.

Có một thời ta rơi vào một kiểu suy luận rất ấu trĩ. Bên Trung Quốc có Hồ Phong, Đinh Linh, Trần Xí Hà hẳn bên ta cũng phải có ai chứ. Thế là lôi nhau ra "dê lại giết dê". Ta cũng có một cái thứ tính khí cần phải thanh toán là học cái dở của người rất nhanh, học cái hay của người rất chậm chạp. Văn chương, sách vở, phim ảnh người ta hay như thế, không học. Lúc nào cũng chỉ kêu thiếu tiền, thiếu phương tiện. Nhưng thử hỏi giả thiết nếu chính phủ ta có cấp ngay cho các vị hàng ngàn tỉ, liệu các vị đưa ra cho nhân dân những tiểu thuyết nào, những cuốn phim nào, những tập thơ nào có thể là ứng cử viên của các giải lớn giải nhỏ của khu vực và thế giới. Nhà đã nghèo nhưng có đồng vốn nào lại giao cho những đứa con "phả giá chi tử" rồi lại than thở không biết đến bao giờ mới qua được hồi "mạt vận". Một thời chẳng có tỉ nào mà "Chung một dòng sông", "Vĩ tuyến 17", "Chị Tư Hậu", "Cánh đồng hoang" vẫn làm xúc động lòng người. Giờ đây, có khi mất hàng chục tỷ mà không thấy có phim ảnh nào ra hồn, đến nỗi phim Trung Quốc, Hàn Quốc, Hồng Kông ngự trị các đài truyền hình. Rõ thật xấu hổ. Kêu gào mãi, Hội nhà văn ta mới được cấp phát một lúc hẳn 2 tỷ đồng. Vậy mà các vị bàn bạc thế nào lại cấp bình quân cho mỗi đầu hội viên 2 triệu đồng. Đành phải hô to : bình quân chủ nghĩa muôn năm !

Hội nhà văn chơi bình quân, các Hội sáng tác văn học nghệ thuật khác cũng chơi bình quân. Các Viện khoa học, các Sở khoa học cũng bình quân. Từ lĩnh vực sáng tạo đến lĩnh vực hành chính cùng đua nhau bình quân. Đúng là "không sợ thiếu, chỉ sợ chia không đều" (bất hoạn quả nhi hoạn bất quân). Thật đáng thương cho những ông Lê Như Hổ của nghiên cứu và sáng tác cũng chỉ được cho xơi bằng những ông lực điền "sáng tai họ điếc tai cày", làm ăn như "mèo mửa".

Cho nên chúng tôi đề nghị "sửa tận gốc" nghĩa là sửa từ nhận thức, từ suy nghĩ mới có thể bàn tiếp đến chuyện chỉnh đốn lại tổ chức nhân sự, chỉnh đốn lại cả một cái cơ chế chồng chéo rối rắm, kỷ cương đảo lộn, "dưới lộng quyền trên bất lực" chỉ tổ làm mồi cho một lũ cơ hội, tham lam, xảo quyệt.

Việc đời cũng như việc đánh cờ nên người xưa luôn nói đến bàn cờ thế sự, biết đi thì thắng, không biết đi thì thua. Những cái đầu đầy ắp tri thức Tống Nho và Thanh Nho như triều đình Huế làm sao nghĩ được những nước đi hay mà không thua :

"Một bàn cờ thế phút sa tay" (Nguyễn Đình Chiểu)

Một đầu óc tỉnh táo, minh mẫn, dẫu có lâm vào thế bí vẫn có thể tìm được cơ thoát, chuyển bại thành thắng :

Lạc nước hai xe đành bỏ phí

Gặp thời một tốt cũng thành công

(Hồ Chí Minh))

Điều quan trọng trong bàn cờ cũng như trong cuộc đời là phải :

Kiên quyết không ngừng thế tiến công

(Hồ Chí Minh))

Tất nhiên phải "Bàn cho thấu, suy cho kỹ". Đánh cờ mà cứ tính nước một hoặc dập khuôn các nước đi của "Mai Hoa phả", "Quất Trung bí" thì sớm muộn vẫn lâm vào thế bí và thắng sao nổi đối phương. Phải xem lại những ván thắng ván thua của mình. Nghiền ngẫm lại từng nước đi đã qua để rồi nghĩ được những thế cờ mới mà chơi tiếp trong những ván chơi mới.

Ông bà ta xưa đã từng đi những nước cờ tuyệt vời như nước cờ Bạch Đằng, Như Nguyệt, Chi Lăng, Đống Đa, Rạch Gầm Xoài Mút ... Có những nước cờ đặc biệt như nước cờ Bạch Đằng, "đi" đến lần thứ ba mà đối phương vẫn đành bó tay chịu thua cuộc. Lịch sử có khiếm khuyết là chỉ ghi tên Ngô Quyền và Trần Hưng Đạo chứ không ghi tên những người đẽo cọc, vác cọc và cắm cọc trên sông Bạch Đằng, nhưng cũng chẳng ghi tên bà cụ bán hàng trên bến đò Rừng đã mách nước cho Trần Hưng Đạo.

Khi Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung phất lên ngọn cờ chiến thắng là do đâu ?

Hồ Quí Ly là một con người kiệt xuất của lịch sử, thế mà đi nước cờ Đa Bang, nước cờ Thanh Hóa tưởng là vững chắc mà sụp đổ không thể cứu vãn, đành đau đớn nhận ngọn cờ chiến bại. Tự Đức và triều đình Huế mới bị chặt vài cánh quân ở Chí Hòa, Vĩnh Long đã run tay không cầm vững ngọn cờ phất tiếp, vội hạ ngọn cờ ngũ sắc và giương lên lá cờ trắng. Tại sao thế ? Hóa ra những cái gì người ta tưởng là vững chắc lại không phải là vững chắc. Thành ngữ "vững như thành" chẳng phải lúc nào cũng đúng. Tính từ An Dương Vương, Hồ Quí Ly, rồi đến các vua Mạc, các vua Nguyễn, tất cả những người đắp thành giỏi thì sự nghiệp đều ra mây khói. Vương triều Trần không lo việc đắp thành (ngay khu vực các Thái thượng hoàng ngự ở Thiên Trường gồm cung Trùng Hoa, cung Đệ Nhất, cung Đệ Nhị, cung Đệ Tam, cung Đệ Tứ mà giới khảo cổ Nam Định cũng như trung ương không tìm ra được một dấu vết nào của thành trì, và cả ba lần giặc Nguyên tràn sang, ba lần bỏ lại thành Thăng Long cho giặc. Thế là không lo đắp thành mà cũng chẳng lo giữ thành. Vì sao dám đi những nước cờ táo bạo như thế ?

Đơn giản là vì đã có lòng dân. Có Diên Hồng là có tất cả !

Lịch sử nhân loại từng chứng kiến vó ngựa Nguyên Mông giày xéo nát mọi thành trì từ Ấu sang Á thế mà buộc phải quị ngã trước những mái chèo của lòng dân Đại Việt.

Ở Việt Nam cũng như ở trên thế giới, tất cả những giới thống trị nào lo xây thành đắp lũy hoặc xây dựng những công trình kiến trúc vĩ đại đều làm kiệt sức dân, tan rã lòng dân. Sụp đổ là điều không tránh khỏi. Với những trí tuệ sáng suốt như Trần Nhân Tông, Trần Hưng Đạo, lòng dân là một thứ thành trì bất khả xâm phạm, bất khả chiến bại.

Hồ Chí Minh và Đảng cộng sản Việt Nam cũng thấm nhuần chân lý đó nên đã đi được nhiều nước cờ tuyệt hay. Không phải Hồ Chí Minh thì không có nước cờ Tân Trào, càng không có nước cờ xít-mác (6-3-46). Và cũng chỉ có Hồ Chí Minh mới dám quyết định "bỏ Hà Nội, Huế, Sài Gòn và tất cả các thành phố, với một lệnh tiêu thổ kháng chiến triệt để khiến cho giặc phải kinh hoàng. Chỉ khi nào được LÒNG DẤN và TIN VÀO LÒNG DẤN người ta mới dám hành động quả quyết như thế.

Trần Hưng Đạo nếu đánh theo Tôn Ngô binh pháp hẳn không thể tạo ra một trận Bạch Đằng vang dội lịch sử nhân loại. Võ Nguyên Giáp nếu dập theo binh pháp của Hoàng Phố hay Xanh-xia (Sincyr) hoặc khuôn theo ý cố vấn này cố vấn khác thì chắc cũng không có một "Điện Biên Phủ chấn động địa cầu".

Và tiếp sau là những nước cờ: hòa đàm Paris, công kích Buôn Ma Thuột, đột nhập giải phóng Sài Gòn ... đều là những nước cờ tuyệt vời của Đảng ta đưa Việt Nam lên đỉnh vinh quang của thời đại.

Cũng phải nói đến nước cờ Đại hội VI đúng là một nước cờ quyết liệt gỡ được một bàn thua trông thấy. Tạm điểm một ít nước cờ như thế để thấy trí tuệ Việt Nam đâu có xoàng.

Những nước cờ hay đã vậy, còn những nước cờ dở thì sao ?

Thiết tưởng cũng nên điểm lại để rút kinh nghiệm cho thế kỷ mới.

Phải là một dân tộc kiên trì và đầy lòng tự tin nên mới tạo ra những thành ngữ kiểu như "thua keo này bày keo khác". Nhưng tại sao lại cứ phải thua và cứ phải bày lại. Liệu có cách đánh nào để không bao giờ thua để không bao giờ phải bày lại nữa. Với từng cá nhân thì có thể thua hay thắng, đó là lẽ thường tình. Nhưng đối với cả một dân tộc, một đất nước, có thể đặt vấn đề khác đi không ? Hay là cứ lặp lại kiểu suy nghĩ cũ và yên tâm với kiểu suy nghĩ đó : chẳng qua đều là cơ trời, vận nước ! Vậy thử hỏi vai trò của con người ở chỗ nào ? và những con người của một thời đại mới có thể làm gì khác hơn tổ tiên ông bà mình ? Chẳng lẽ một dân tộc như dân tộc Việt Nam mình mãi mãi chỉ có thể tự hào về những chiến công quân sự hay sao ? Còn những thành tích về những mặt khác, đặc biệt là về mặt khoa học kỹ thuật ta lại luôn khuyên bảo nhau phải nhún mình để nhường thiên hạ hay sao ? Theo thống kê mới nhất của liên hiệp quốc thì trong số 55 nước nghèo khổ nhất hành tinh thì ta với ngót 300 USD một đầu người được xếp thứ 48. Ta định giữ cái thứ hạng này đến thế kỷ nào nữa ?

Chuyện thật lạ đời mà lại có thật. Cứ thắng giặc ngoại xâm xong lại quay ra áp bức bóc lột lẫn nhau. Lại sát hại công thần. Lại tù đày chém giết những người cương trực. Lại để cho bọn gian thần, nịnh thần hoành hành tác oai tác quái, lại để cho tiếng than khóc hờn oán vang động hết thôn cùng xóm vắng. Lại đói rách cơ cực. Tóm lại, nghĩa là làm tất cả những trò để tự mình làm hèn yếu mình đi. Rồi khinh miệt nhau, oán hờn nhau. Thử hỏi nếu như mình hùng mạnh thì ngoại bang có dám động đến lông chân mình không ? Khi mình đã hèn yếu thì tha gì mà họ không đến để đè đầu cưỡi cổ mình.

Tỉnh ra thì đã muộn. Lại khóc ra máu. Lại kêu hồn nước. Lại :

"Nỗi diệt chủng bề thương bề sợ

Nòi giống ta biết có còn không"

(Phan Bội Châu))

Mâu thuẫn nội bộ lại phải dẹp lại rồi đồng lòng đánh giặc cứu nước. Thắng giặc xong lại quay lại chu kỳ cũ. Cứ vòng đi vòng lại bao nhiêu đời như thế.

- Nào, ta còn định vòng đến đời nào nữa đây ? Cũng xin nói thẳng với những người vẫn hồn nhiên tin rằng : ta có quân đội mạnh sợ gì ! Ta có công an mạnh sợ gì ! Xin thưa rằng quân đội nhà Hồ, quân đội nhà Nguyễn không phải là thứ quân yếu đâu và bảo kiếm dẫu sắc mà không có lá chắn Nhân Dân thì anh đỡ bằng gì ?

Năm 2000 không thể là năm mơ hồ được nữa đâu. Vì từ năm 2000-2006 có xa gì lắm đâu. Khi AFTA xóa các hàng rào mậu dịch và hàng rào thuế quan là sẽ biết nhau ngay thôi ! Hàng hóa của thiên hạ tràn vào nước ta được không ? Hoàn toàn được. Hàng vừa tốt, vừa rẻ ai dại gì mà không mua. Hàng hóa của ta có tràn vào các nước được không ? Cứ như tình hình hiện nay thì hẳn là không. Vừa qua, ximăng của ta cạnh tranh với ximăng Thái Lan ngay trên đất mình mà cạnh tranh không nổi, nói chi đến hàng chục ngàn mặt hàng khác muốn cạnh tranh trên đất người. Nói thế không phải để bi quan mà phải biết bảo nhau lo dần đi kẻo sau hối không kịp.

Khi sản phẩm nông nghiệp cũng như sản phẩm công nghiệp không tiêu thụ được, thất nghiệp tràn lan, đất đai trở thành hoang hóa thì tình hình kinh tế và tiếp theo là an ninh xã hội, chính trị sẽ như thế nào. Giữ được an ninh chính trị như hiện nay là tốt, nhưng nó lại tốt đến mức sẽ đẻ ra một tình hình cực kỳ không tốt trong tương lai. Ví von một cách có hình ảnh thì ta đang như một nhà hát giao hưởng. Dàn nhạc ngồi biểu diễn rất tề chỉnh, nhạc công nào cũng biểu diễn hết sức mình; chỉ có điều các dàn dây, dàn gõ, dàn hơi không ai chịu kém ai, lờ luôn cả đũa điều khiển của nhạc trưởng. Trông lên sàn diễn thì nhạc trưởng vẫn đang điều khiển nghiêm chỉnh, ai cũng biểu diễn tích cực và nhiệt tình. Nhưng họ nghe theo "nhạc trưởng con" trong bộ phận của họ hoặc làm theo ý bản thân họ. Do đó, khi họ đã trật tự một cách hỗn loạn như thế thì thính giả không còn hiểu họ đang biểu diễn gì, không nghe nổi gì. Như ở phương Tây thì thính giả chắc chắn sẽ huýt sáo, la ó, có khi ném cả trứng thối lên sàn rồi bỏ ra về phản đối. Phương Đông, và nhất là Việt Nam ta thì không thế. Cứ ngồi mà chịu trận, cùng lắm là xì xào bàn tán. Những người không am tường lại tưởng thế mới là nhạc giao hưởng. Những người hiểu biết muốn bỏ về nhưng lại không dám vì không phải chỉ ban tổ chức mà ngay những thính giả cũng chê trách là bất lịch sự và vu cho ý đồ "phá hoại" buổi biểu diễn. Khi các dàn giao hưởng tứ phương đến biểu diễn, người ta mới tá hỏa thế này mới là giao hưởng thứ thiệt. Và người ta không mua vé để xem cái thứ lộn xộn được gọi là giao hưởng nữa. Đáng lẽ thì phải biết tổ chức lại ngay, thiết lập một trật tự mới trong biểu diễn, đúng theo bài bản và nghệ thuật của giao hưởng, nhưng mấy ông quản lý nhà hát lại tuyên bố dứt khoát rằng ta có cách biểu diễn giao hưởng của ta. Của ta dứt khoát không phải giống của Tây. Rồi cũng có đuổi vài anh đánh trống hoặc thổi kèn quá to và yên chí thế là đã có điều chỉnh, có cải tiến. Phiền một nỗi vé không bán được, mà vẫn phải tiếp tục trả lương cho các nhạc công và những nhân viên phục vụ, có tốn thêm một khoản thuê những người vỗ tay. Đành phải đi vay nợ để duy trì nhà hát. Duy trì đến bao giờ thì chưa rõ. Nợ sau này ai chịu trách nhiệm trả lại cũng chưa rõ. Chuyện nghe như bịa mà lại có thật. Cứ xem bản nhạc KÍCH CẨU vừa qua là đủ rõ. Với lối đua nhau tăng giá gas, giá điện, giá nước, giá xăng, giá điện thoại, bưu phẩm v.v. thì đủ thấy các ông Bộ trưởng Tài chính, Bộ trưởng điện lực, Tổng cục Thuế, Tổng cục Bưu điện, Ủy ban vật giá đều tìm cách làm giảm sức mua. Riêng thuế giá trị gia tăng nghiễm nhiên rút bớt 10% lương của toàn thể cán bộ viên chức vốn đã mất đi 30% lương thực tế do chế độ lương điều chỉnh chậm. Đặc biệt chế độ làm việc 5 ngày 40 giờ mới xem thì tiết kiệm được một ít tiền điện nước, tiền điện thoại cơ quan nhưng lại làm khốn khổ hàng chục triệu gia đình có con em đi học mẫu giáo và phổ thông.

Chúng tôi thực sự không hiểu mấy ông Bộ trưởng, Tổng cục trưởng nghĩ như thế nào về mức thu nhập của nhân dân và cán bộ viên chức nước mình mà vấn đề gì các ông cũng đề ra là phải đánh đu với khu vực, với quốc tế. Các ông muốn đồng bộ với quốc tế. Đúng lắm ! Nên lắm ! Nhưng liệu ai có thể đồng bộ với các ông ? Chẳng lẽ các ông lại không hiểu thế nào là "liệu cơm gắp mắm", "liệu bò đo chuồng" hay sao ?

Các ông cứ chơi trò trống đánh xuôi kèn thổi ngược thế này thì định trút hết trách nhiệm lên đầu nhạc trưởng Phan Văn Khải hay sao ?

Cần nhớ rằng khi đã ngồi vào bàn cờ thế sự thì chỉ cần đi nhầm một nước là toàn bộ thế cờ bị xô đổ. Muốn gỡ được thế quân bình phải chống đỡ chối chết và tốn bao mồ hôi xương máu. Đúng là "gỡ ra cho nữa còn gì là duyên".

Một trong những nước cờ đi sai nghiêm trọng là nước cờ Quảng Trị. Ai hạ lệnh quyết giữ thành cổ Quảng Trị năm 1972 bằng bất cứ giá nào ? Lịch sử xác nhận đúng là một quyết định ngu xuẩn đi ngược hẳn lại đường lối và tư tưởng quân sự Việt Nam.

Nước cờ 76 cũng là một nước cờ sai. Sao lại có thể cắt đứt ngoại giao với nước láng giềng Trung Quốc để hợp tác toàn diện và tuyệt đối với Liên Xô. Sao lại có thể hy vọng "lấy nước xa để cứu lửa gần" được.

Nước cờ Nông-pênh (79) nửa đúng nửa sai cũng cần được rút kinh nghiệm một cách nghiêm chỉnh. Nhà láng giềng bị cháy, chạy sang cứu là đúng nhưng ở đấy hàng chục năm làm gì ? Phải nhìn tương quan lực lượng của cả khu vực và toàn cầu chứ. Nó lú nhưng chú nó khôn, đâu phải chuyện chỉ riêng với Khơ-me Đỏ. Việc đưa quân ra ngoài biên giới là người xưa rất thận trọng. Đại thắng như Quang Trung mà cũng chỉ cho quân lính đứng ở biên giới mà hò hét dậm dọa, cho Lưỡng Quảng bay hồn mất mật một phen.

Lực lượng quân sự mạnh như thời các vua Nguyễn mà với Lào, Miên, Xiêm vẫn phải thi hành chính sách "nhu viễn" mềm dẻo khôn khéo. Ở đời, trói thì dễ, cởi đâu có dễ; chiếm thì dễ, giữ đâu có dễ.

Có những nước cờ tay trái chém vào tay mặt như nước cờ cải cách ruộng đất, ta đã nhớ đời rồi. Nhưng điều đáng nói là những thói tố điêu, tố láo, lấy bần - cố làm chuẩn mực cho chân lý và công lý vẫn là những di căn không phải một sớm một chiều đã khắc phục được.

Nước cờ cải tạo công thương nghiệp (đợt 1 năm 1956, đợt 2 năm 1976) đều sai lầm một cách nghiêm trọng. Như phần trên đã nói thì thập kỷ 20, Nguyễn Ái Quốc đã nhận định và so sánh giai cấp địa chủ và giai cấp tư sản ở Việt Nam với giai cấp địa chủ, tư sản ở Châu Ấu và thấy rằng họ chỉ là một đám lùn tịt. Chỉ sở hữu vài chục mẫu thậm chí mới có dăm, ba mẫu Bắc bộ - cũng được xếp hạng là địa chủ (thoát được địa chủ thì cũng được liệt hạng phú nông hoặc trung nông lớp trên). Một cơ sở sản xuất trình độ thủ công với mươi người thợ phần đông lại là con cháu họ hàng trong nhà cũng được qui thành tư sản. Một cửa hiệu vải hoặc đồng hồ với số vốn vẩy ốc cũng được xếp thành tư sản thương mại và cứ thế là kiểm thảo kiểm điểm, truy bức, tịch thu ... còn con cháu thì đừng có mơ tưởng bước vào trường Đại học. Xin đi làm cán bộ, bộ đội đều bị cản trở. Thành phần, lý lịch cứ như một bướu thịt theo suốt cuộc đời không thể cắt bỏ. Cũng do đó mà sinh tệ nạn khai gian thành phần, khai gian lý lịch và tự nhiên phòng tổ chức các cơ quan, xí nghiệp, ban tổ chức các cấp, tập hợp được xung quanh mình một lớp người bợ đỡ xu nịnh, gian lận bất đắc dĩ. Tệ cửa quyền hống hách, tệ hối lộ có đất để nảy mầm và cơ chế quan liêu bao cấp càng là miếng đất màu mỡ cho những tệ nạn này được dịp tràn lan như cỏ mùa xuân.

Nhìn những kẻ đi bằng đầu gối, người ta vừa khinh vừa có phần ái ngại. Có năng lực nhưng lý lịch lại "có vấn đề", không cam tâm quị lụy thì còn biết tiến thân bằng đường nào. Ngay những đồng chí lãnh đạo nào có can đảm và độ lượng, mạnh dạn sử dụng, tiến cử những cán bộ có vấn đề trong thành phần lý lịch cũng luôn luôn bị đặt dấu hỏi về quan điểm lập trường giai cấp. Và đến lượt họ cũng lại ba chìm, bảy nổi, chín lênh đênh.

Có thể nói khi người ta qui thành phần một cách gượng gạo và cưỡng ép như thế và hành xử bằng những chính sách, những "luật pháp nhân dân" một cách tùy tiện đã tạo ra cho xã hội một bầu không khí sợ hãi nghi kỵ, gian lận dối trá. Phải thẳng thắn mà nói rằng nhân cách và đạo lý xã hội đã xuống cấp từ lâu và đến thời kỳ mở cửa nó có thêm điều kiện thuận lợi để xuống cấp nhanh hơn nữa chứ đâu có thể đổ lỗi cho cơ chế thị trường. Nhưng nguy nhất là nước cờ sai lầm này đã đánh một đòn chí tử vào lực lượng sản xuất dân tộc, mặt khác nó chống ngay một nguyên lý chủ nghĩa Mác và một nguyên lý của chủ nghĩa Lênin. Vô tình nó nối dáo cho giặc, để cho các lực lượng chống cộng quốc tế có dịp chế giễu phỉ báng lý thuyết đấu tranh giai cấp và xuyên tạc luận điểm cơ bản "năng suất là nhân tố quyết định sự thắng lợi của chế độ này đối với một chế độ khác". Chủ nghĩa xã hội ưu việt và hấp dẫn như thế, kẻ thù hậm hực và bất lực như thế, thế mà ta giáng thẳng cánh vào cơ sở của CNXH của ta, biến nó thành một hiện tượng lố bịch của nhân loại.

Tội này ai mang ? Nếu không phải là đ/c Stalin, và tất cả những ai đã trung thành với lý thuyết Stalin, trung thành với mô hình XHCN Xô Viết ? Còn chuyện mao-ít hay mao-nhiều chẳng qua là một hệ quả tất yếu ở những nơi ngự trị của cái mà Mác gọi là "phương thức sản xuất châu Á". Tệ hại hơn, nhưng có vững bền hơn. Chính phần vững bền này đã gây ra cho nhiều người làm lý luận sự ngộ nhận : có thể yên tâm triển khai những lý thuyết giáo điều lỗi thời dưới những hình thức mới. Vẫn là hấp dẫn đấy nhưng vô bổ. Còn hậu quả thế nào thì chưa lường hết được.

Điều quái gở là sai rành rành nhưng lại không cho ai nói động đến. Khi có ai nói khác ý mình, khác luận điểm của mình đáng lẽ phải lắng nghe, suy ngẫm, phân tích rồi họp nhau lại mà thảo luận, tranh luận một cách bình đẳng, thiện chí, xem đúng sai, phải trái ra sao, lại chơi trò cả vú lấp miệng em, cậy quyền thế rồi chỉ vào mặt nhau, mạt sát không tiếc lời, chụp vào đầu nhau những cái mũ "xét lại", "chống Đảng", chống "lãnh tụ", "chống chế độ" đến nỗi tận đời con đời cháu cũng không gỡ ra được. Được Đảng và Nhà nước tin cậy, bồi dưỡng cho đi học lớp này trường khác ở trong nước hoặc ngoài nước, đáng lẽ phải nghiền ngẫm về nguyên lý, về chủ nghĩa cho đến nơi đến chốn và luôn luôn tự soi lại mình, không ngừng tự học để nâng cao trình độ và tiếp nhận những cái mới với tinh thần chủ động, sáng tạo, thế nhưng các vị cứ yên chí với một mớ kiến thức chưa kịp tiêu nhận được từ các trường Đảng trung cấp, cao cấp ở ta hoặc ở Nga, ở Đức, ở Tàu rồi tự cho mình là hiểu biết nhất thiên hạ, rồi thi nhau kiêu ngầm hoặc kiêu ngạo ra mặt đến mức không tưởng tượng nổi. Nhìn nhân dân, nhìn tầng lớp trí thức của nhân dân đều bằng nửa con mắt. Miệng thì nói phục vụ nhân dân nhưng tay lại viết ra một thứ lý thuyết "sáng tạo" đến mức tạo điều kiện và cơ sở lý luận cho lũ quan liêu, cường hào, tham nhũng tha hồ đè đầu cưỡi cổ bóp nặn nhân dân. Xin hỏi các vị có biết rằng trước đây mọi hợp tác xã sản xuất nông nghiệp đều có hai phương án, một phương án nổi để báo cáo và một phương án chìm để ăn chia ? Và các vị có biết cái tình hình thực tế : quản trị đi xe đạp trên lưng xã viên hay không ?

Thế mà cứ ai nói động đến Hợp tác xã là coi như họ đang nói động đến CNXH. Bất cứ cái gì khác ý các vị là đều bị buộc vào tội "xét lại" cả.

Đ/c Lê Đức Thọ và một số đ/c lãnh đạo khác căn cứ vào thứ lý luận giáo điều tệ hại đó mà đi nước cờ trừng phạt "nhóm xét lại chống Đảng". Thật là một nước cờ gây rối loạn nội bộ Đảng và làm xấu mặt CNCS ở Việt Nam.

Chưa có một đảng phái nào thanh trừng nội bộ như các Đảng Cộng sản của phe XHCN chúng ta mà đầu tiên là Stalin ở Liên Xô và tiếp theo Mao Trạch Đông ở Trung Quốc.

Cũng may, ta chỉ là bản sao mờ nhạt của chủ nghĩa Mao. Cái lối chơi chữ : "bên kia Mao-ít, bên ta Mao-nhiều" là một lối tếu không có cơ sở thực tế. Thực tế xác nhận rằng tất cả những người bị thanh trừng trong Đảng ta đều tồn tại cả, không ai bị sát hại tàn bạo như ở Trung Quốc. Trừ trường hợp có kết án tử hình vắng mặt đ/c Hoàng Văn Hoan và vài ba trường hợp dư luận bàn tán về sự "thủ tiêu ngầm" như trường hợp tử vong đột ngột của các đ/c Lê Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái, Đinh Đức Thiện ... Nhưng dù mờ nhạt hay đậm đà, Mao ít hay Mao nhiều đều là đi ngược lại bản chất nhân bản, nhân đạo của CNCS. Về mặt lý thuyết, mục đích và lý tưởng, mà các đảng Cộng sản theo đuổi là giải phóng con người khỏi nghèo nàn lạc hậu, áp bức bóc lột, khiến cho con người có thể thực sự là Người được sống trọn vẹn kiếp Người một cách tự do và hạnh phúc. Chính lý tưởng tốt đẹp này đã hấp dẫn hàng trăm, hàng ngàn triệu người, và thực sự đã thành niềm hy vọng của bộ phận nhân loại bị sống kiếp trâu ngựa, đọa đày.

Chúng tôi thấy cái mạnh của chúng ta thì rõ ràng rồi nhưng có những cái yếu, chúng ta lại ít dám nói đến, do đó chúng ta khắc phục những sai lầm khuyết điểm một cách rất chậm chạp. Mỗi sai lầm lớn thường kéo dài hàng chục năm, có khi vài chục năm. Tất cả những ý kiến phát hiện chúng ta đều lờ đi. Khi cần phải sửa thì thường quá muộn, gây quá nhiều tổn thất cho Dân tộc và Cách mạng. Nhưng thường chúng ta chỉ sửa vụ việc chứ không sửa nhận thức. Do đó với nếp nghĩ, nếp hành động như cũ, chúng ta lại mắc những sai lầm mới đồng dạng những sai lầm cũ, chỉ khác nhau về mặt cấp độ.

Một trong những cái yếu mà chúng ta cần khắc phục càng nhanh càng tốt đó là sự thiếu minh bạch trong mối quan hệ giữa Đảng với nhà nước, giữa Đảng và Nhà nước với Nhân dân và ngay giữa các đảng viên trong nội bộ Đảng.

Việc đ/c Hoàng Văn Hoan, ủy viên Bộ Chính trị, bỏ chạy sang Trung Quốc, Quốc hội ta bàn bạc, Tòa án nhân dân tối cao kết án là phản quốc và kết án tử hình vắng mặt. Đó là việc được công bố rõ ràng, cả nước và thế giới đều biết. Nhưng khi ta bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Trung Quốc thì ta lại lờ đi coi như không xảy ra chuyện gì. Chúng tôi đã có dịp chất vấn đoàn đại biểu Quốc hội TPHCM và đề nghị đoàn kiến nghị với Quốc hội :

- Nếu bản án Hoàng Văn Hoan là do yêu cầu của tình hình chính trị nhất thời thì nên tuyên bố hủy bản án để giữ yên lòng người.

- Nếu bản án đó là chính xác thì đề nghị thảo luận với Trung Quốc cho dẫn độ Hoàng Văn Hoan về nước, thi hành bản án để giữ nghiêm phép nước.

Nhiều năm đã qua đi, chúng tôi không được trả lời. Sau này khi đ/c Hoàng Văn Hoan đã gửi nắm xương tàn nơi quê người, chúng tôi có tìm hiểu tiểu sử và hành trạng của đ/c. Sở dĩ chúng tôi vẫn gọi Hoàng Văn Hoan là đồng chí vì suốt đời ông là một chiến sĩ yêu nước, có tinh thần cách mạng kiên cường, ông sống trung thực, liêm khiết, xứng đáng là người bạn chiến đấu, người học trò trung thành của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Chúng tôi không tán thành việc ông lánh nạn và cầu cứu ngoại bang. Vì theo quan điểm của chúng tôi dù trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không được phép đi cầu cứu ngoại bang để đánh lại anh em trong nhà. Hành động này của đ/c Hoàng Văn Hoan là sai lầm và cần được phê phán. Tuy nhiên, cũng phải công bằng mà nhận định rằng do đ/c Hoàng Văn Hoan bất đồng quan điểm với các đ/c Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, cảm thấy không đấu tranh nổi trong nội bộ nên đã bỏ chạy, chứ thực tế trong thâm tâm đ/c không hề phản quốc hay phản đảng.

Cho nên khi kết tội những người bị yếu thế như Hoàng Văn Hoan, Vũ Đình Huỳnh, Hoàng Minh Chính, Đặng Kim Giang, Lê Liêm ... và gần đây nhất là tướng Trần Độ, chúng ta phải hết sức thận trọng không để các lực lượng chống cộng quốc tế cũng như các lực lượng tiêu cực, thoái hóa trong Đảng lợi dụng xuyên tạc, gây nhiễu về tư tưởng và chống phá chúng ta.

Qua tiếp xúc với các đồng chí đã bị kỷ luật, chúng tôi thấy :

- Đ/c Hoàng Minh Chính trước sau vẫn là một đảng viên cộng sản chân chính có khuyết điểm này khác chứ không hề là phần tử chống Đảng, chống Chế độ. Ông đã đấu tranh quan điểm với một số đ/c lãnh đạo ở Bộ Chính trị và Trung ương, nhưng vì không tìm ra được phương pháp tốt và thời cơ thuận lợi nên thất bại. Điều này chắc tự ông đã rút ra bài học kinh nghiệm và chắc ông có thể viết những kinh nghiệm đó ra để làm bài học cho đời sau. Chỉ có thế thôi. Ai không tán thành với nhận định của chúng tôi, xin mời thảo luận. Và tốt hơn hết là hãy văn bản hóa ý kiến của mình.

Có lẽ trường hợp các đ/c Vũ Đình Huỳnh, Đặng Kim Giang, Lê Liêm, Nguyễn Văn Vịnh ... cũng tương tự như thế và cũng nên có cách đối xử công khai minh bạch như thế.

Riêng trường hợp tướng Trần Độ (tên thật là Tạ Hữu Phách), chúng tôi cũng thẳng thắn phê phán ông : "Bác nói những điều tâm huyết mong làm lợi cho Đảng, cho Nhân dân nhưng bác lại chọn lối nói và cách dùng từ như từ "Đảng trị" chẳng hạn mới nghe chẳng khác gì luận điệu bọn chống Cộng. Bác đòi tự do ngôn luận, ý cũng chẳng khác gì ý của đ/c Tổng bí thư Lê Khả Phiêu nhưng bác không hiểu rõ hoàn cảnh của bác. Bác nói ngay khi còn là Phó chủ tịch Quốc hội thì ai dám động đến lông chân bác ?". Như thế là động cơ tốt cũng chưa đủ. Trường hợp các anh Thanh Giang, Hoàng Tiến, Lê Hồng Hà, Bùi Minh Quốc, Hoàng Hữu Nhân, Hà Sĩ Phu, Tiêu Dao Bảo Cự ... có lẽ cũng cần được thảo luận một cách rộng rãi, thấu tình đạt lý để rút kinh nghiệm chung, mới có thể làm yên lòng người.

Nhân đây chúng tôi cũng xin chân thành phê bình Bộ Công an. Do trọng trách nặng nề, phải bảo vệ an ninh cho nhân dân và cách mạng, các đ/c phải thường trực mài sắc tinh thần cảnh giác. Điều đó là toàn toàn đúng và cần thiết. Nhưng cái phương châm của các giai cấp thống trị đời xưa : "Sát nhất nhân, vạn nhân cụ" (giết một người để cho vạn người sợ) không phải lúc nào cũng đúng và dứt khoát không đúng với Nhân dân mình. Nếu vì thế mà sợ thì nhân dân mình, các chiến sĩ yêu nước và các chiến sĩ cách mạng của Việt Nam mình đã "thờn bơn chịu ép một bề" từ lâu rồi. Do đó, theo ý kiến riêng của chúng tôi và hẳn có nhiều người đồng tình : anh em trong nhà dù tức giận nhau đến mấy cũng "chém nhau đằng dọng không ai chém nhau đằng lưỡi". Nhất là không được căn cứ vào ý kiến hay mệnh lệnh của cá nhân vài ba đ/c nắm quyền lực cao trong Đảng hay trong bộ máy Nhà nước để tùy tiện bắt bớ, tù đày những người trong nội bộ Nhân dân hay trong nội bộ Đảng, không đếm xỉa gì đến luật pháp.

Việc bắt bớ dân thường đã phải thận trọng, việc bắt bớ trí thức hay văn nghệ sĩ càng cần phải thận trọng. Không được phép bắt bớ giam cầm hay quản thúc với mục đích khủng bố vì nó không chỉ trái với đạo lý dân tộc, bản chất nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta, đồng thời cũng trái với công pháp quốc tế.

Cần nhớ rằng, mỗi việc làm không đúng của chúng ta, những người đang đứng trên tiền đồn XHCN ở Đông Nam Á, đều làm lợi cho kẻ thù, đều tác hại đến uy tín của CNXH, của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Dân tộc Việt Nam. Chúng ta mở cửa giao lưu và làm bạn với tất cả các nước để tạo một bước phát triển mới cho Dân tộc và Cách mạng, nhưng không ai được phép quên rằng chúng ta đang ở trong một "vòng vây kiểu mới", bên cạnh những lực lượng thương yêu, thiện chí, có cả những lực lượng thù địch với CNXH, thù địch với tất cả những gì tốt đẹp đang diễn ra trên đất nước chúng ta. Chớ có quên những lời lẽ thẳng thắn và hết sức chân thực của Tổng thống Bill Clinton khi bất đắc dĩ phải "bình thường hóa" quan hệ với Việt Nam. Cần nói cho nhân dân rõ và cả những vị trí thức mơ hồ về chính trị nhớ lại rằng năm đời tổng thống trong Nhà Trắng đã huy động mọi phương tiện hiện đại và chi tới 600 tỉ đô la mà không thể khuất phục được Việt Nam ta. Vậy mà ngài Clinton hy vọng chỉ cần dùng khoảng 6 tỉ đô la là có thể giải quyết được vấn đề.

Trong thế kỷ mới, rõ ràng họ thấy chơi ta bằng quân sự là không được nữa rồi. Tình hình thế giới cũng không cho phép người ta xâm lược nhau bằng quân sự. Muối mặt bắn một ít rốc-két và dội một số bom xuống Irắc, Afganistan cũng đã bị la ó phản đối rồi. Kéo cả đàn cả lũ tới Kosovo, tuy có dậm dọa được những người yếu bóng vía hoặc tiêu thụ được một số vũ khí cũ, thử nghiệm một số vũ khí mới, cũng không dễ dàng khuất phục được nhân dân Nam Tư. Không những thế, nó còn khoét sâu mối mâu thuẫn giữa Bắc Mỹ và châu Ấu, nó còn khiến cho Nga, Trung Quốc, Ần Độ thấy cần phải xích lại gần nhau. Lập một trật tự thế giới kiểu Mỹ cũng không phải dễ dàng. Có lẽ đắc sách hơn cả là khéo léo khơi lên các vấn đề sắc tộc và tôn giáo. Mặt khác dùng củ cà rốt mà dứ dứ bốn phương. Đối với một vùng đất, mọi người biết đoàn kết và biết đặt quyền lợi chung của Tổ quốc lên trên hết như Việt Nam ta nên khơi lên vấn đề sắc tộc hay tôn giáo là khó. Đánh ngay không được, họ lại phải chuyển sang lối đánh lâu dài.

Vì thế, ta phải tỉnh táo để thấy hết được cái mạnh và cái hiểm độc của họ. Về kinh tế và tài chính, họ mạnh đến mức mới hơi sổ mũi ở tận Bắc Mỹ mà châu Á đã hắt hơi liên tục, châu Ấu cũng cảm thấy như mình đang bị sụt cân, đồng euro cũng chao đảo. Cái mạnh của họ thực sự đáng sợ nhưng lại chưa đáng sợ bằng cái hiểm. Lại thêm một lần nữa, chúng ta bước vào một cuộc đấu không cân sức. Vậy, lấy gì để trông vào thắng lợi. Vẫn phải trông vào trí tuệ thôi. Vừa qua, họ thua ta, chính họ đã phải xác nhận là thua về sức mạnh trí tuệ, sức mạnh văn hóa. Không phải ngẫu nhiên mà vừa qua họ tập trung đánh vào trí tuệ, đánh vào văn hóa Việt Nam.

Trong kỳ họp Quốc hội vừa qua, chúng tôi cũng như nhiều người theo dõi cuộc chất vấn trên tivi, thực sự kinh ngạc khi thấy Bộ trưởng Bộ Đầu tư và kế hoạch Trần Xuân Giá than phiền về tình hình viện trợ ODA. Hóa ra một nửa số viện trợ là hàng tiêu dùng và các dây chuyền công nghệ lỗi thời, nửa còn lại là để cho các chương trình hợp tác quốc tế, cụ thể là chi cho các hội thảo khoa học, các công trình nghiên cứu và tiền đi lại mời mọc ăn uống khách sạn cho các đại biểu ta xuất ngoại (họp hành hoặc đào tạo).

Như thế là vì sự phát triển, cụ thể là vì quyền lợi của ta mà ta mở cửa giao lưu, còn thiên hạ tiếp nhận sự giao lưu đó và hồ hởi trước sự mở cửa của ta trước hết xuất phát từ quyền lợi của họ. Không nên lưu giữ cái căn bệnh Tào Tháo đa nghi, cái gì cũng ngờ, cái gì cũng ngại, nhìn chỗ nào cũng thấy kẻ địch. Sự dụt dè nghi ngại ấy đã làm hại ta mấy chục năm trời rồi, thậm chí hàng trăm, vài trăm năm rồi. Nhưng ngược lại cũng không thể nhẹ dạ cả tin, "đổi mới" và thoáng đến mức không phân biệt nổi bộ phận thiên hạ tử tế và những bộ phận thiên hạ không tử tế. Họ là phương Tây thật đấy nhưng họ lại thông thạo thậm chí vượt phương Đông về phương châm "phóng tài hóa thu nhân tâm" (phóng tiền bạc để thu phục lòng người). Vừa mới nhận mấy chục ngàn đô đã uốn theo họ mà quên lịch sử thậm chí xuyên tạc lịch sử. Mới nhận có vài trăm ngàn đô la đã vội cất cả quốc huy, quốc kỳ và tượng Cụ Hồ đi. (Chúng tôi kiến nghị tất cả các cuộc hội thảo quốc tế ở Việt Nam nhất là những hội thảo về văn hóa phải bày tượng nhà văn hóa Hồ Chí Minh cho người ta chiêm ngưỡng mà bàn bạc cho đúng đắn). Trên thực tế, trong 15 năm mở cửa vừa qua, thiên hạ cũng đã thành công không nhiều thì ít trong việc mua chuộc một bộ phận dốt nát và tham lam, uy hiếp tinh thần một bộ phận hoặc bạc nhược, hoặc thiếu bản lĩnh chính trị (ở đây, chúng tôi không đề cập đến cái lũ "ngựa thành Troie", phần việc này dành cho các đ/c phụ trách An ninh Quốc gia). Thiên hạ cũng xảo quyệt, đáng sợ. Anh cần bảo vệ văn hóa dân tộc ư ? - Chúng tôi sẵn sàng giúp đỡ. Thật là đáng sốt ruột khi thấy báo chí truyền thanh truyền hình rộ lên tuyên truyền cho việc tu bổ di sản của các vua chúa nhà Nguyễn ở Huế. Ở TPHCM thì bảo nhau đổ bạc tỷ vào việc trùng tu những di tích do người Pháp để lại. Còn cái nhà cổ mà đức Nguyễn Ánh đã tiếp ngài Bá Đa Lộc cũng được nói đi nói lại trên báo trên đài cho là quan trọng lắm, không bỏ tiền trùng tu ngay thì không hiểu gì về văn hóa dân tộc (?) Tất cả tham luận của một hội thảo về văn hóa dân tộc do Viện khoa học xã hội phối hợp với Sở văn hóa và trường Cao đẳng văn hóa phối hợp tổ chức, khi in thành kỷ yếu thì có tới 80% số bài kêu gọi việc trùng tu di tích thời Nguyễn. Các vị ấy cứ làm như văn hóa Việt Nam chỉ có di tích mà lại chỉ di tích gần chứ đâu phải di tích xa. Di tích thành Cổ Loa thời An Dương Vương (cách 2000 năm), di tích khu hoàng thành thời Lý Trần Lê ở Thăng Long, chẳng có gì cần phải vội vã bằng việc phục chế điện Cần Chánh, điện Diên Thọ và sửa sang lăng tẩm các vua Nguyễn (Tất nhiên không phải của các vua Hàm Nghi, Thành Thái, Duy Tân đâu, ngay ở đảo Long Sơn - Vũng Tàu Bà Rịa - còn nguyên mấy bộ bàn ghế và giường ngủ của vua Thành Thái cũng chẳng cần nhắc để cho con cháu nhớ làm gì). Còn nói là gần thì, cái gần của mấy chục năm kháng chiến vừa qua cũng được nhắc đến rất ít (Trần Phú, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai) càng không nhắc đến mấy cụ Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Quyền, Đặng Thai Thân những vị chí sĩ yêu nước đầu tiên bị đày ra Côn Đảo. Gần đây vinh dự được công nhận thêm hai di tích Mỹ Sơn và Hội An lại có dịp rầm rộ nhắc đến phố người Hoa, người Nhật và vương quốc Chămpa. Mới tháng 12-1999 vừa qua người ta lại tổ chức được một cuộc tọa đàm về người Hoa và sự phát triển thương mại ở thế kỷ XIX. Có những tham luận từ Úc, từ Mỹ, từ Nhật lại ngẫu nhiên cùng phát về một vấn đề ở tận thế kỷ XVII : vấn đề "vương quốc Hà Tiên" của người Hoa. (Chúng tôi sẽ có bài riêng phê phán về cuộc tọa đàm mà thực chất là hội thảo này để vạch trần sự xuyên tạc và bịa đặt ra "vương quốc Hà Tiên").

Thế là chỉ nhìn phác qua một cách tổng thể, chúng ta cũng hiểu được tác dụng và hiệu quả của sự giúp đỡ của thiên hạ :

- Chúng ta được cả một bãi thải công nghệ "hiện đại" gồm những dây chuyền công nghệ từ những thập kỷ 60-70.

- Một nền văn hóa Coca-cola hiện đại. Việc tổ chức rầm rộ thi hoa hậu, thi thời trang, ca nhạc, phim ảnh Hoa Kỳ, Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc rồi hội họa ấn tượng, trừu tượng, lại thêm cả các hội chợ khiến các vị lão thành giật mình nhớ lại phong trào Du Couroy vui vẻ trẻ trung xa lắc tận thời Pháp thuộc.

- Nhờ sự tham gia góp phần định hướng và giúp đỡ phương tiện cho chúng ta nên việc phục hưng văn hóa thời Nguyễn và thời Pháp thuộc được phát huy mạnh mẽ. Chúng ta được dịp tổ chức lễ hội linh đình, xây dựng sửa sang nhà thờ họ, sửa sang lăng tẩm vua chúa và mồ mả. Ở các làng xã, tệ nạn xôi thịt, buôn thần bán thánh, bói toán, thờ cúng, đồng bóng, cầu tài, vay nợ bà Chúa Xứ (Nam bộ), bà Chúa Kho (Bắc bộ) được dịp sống lại. Riêng việc chấn hưng Phật giáo, Nho giáo nhờ được quốc tế hóa nên có phần hơn hẳn thời Pháp thuộc và thời Mỹ ngụy.

- Một hiệu quả khác không thể phủ nhận : một bộ phận trí thức nhất là các vị trong biên chế của các viện khoa học nuôi được cái tâm lý cứ ngong ngóng chờ các nguồn tài trợ của nước ngoài, còn con cháu các vị "cán bộ cao cấp" hoặc các nhà giàu sổi thì đều tỏ lòng ái mộ và hướng về Haward. Thanh niên Anh quốc, Nhật Bản thì tự hào được làm tình báo cho Tổ quốc. Thanh niên ta thì hầu như chưa có ý thức đó thậm chí lại có ý thức trở thành những "nô lệ mới". Nô lệ mới thì hẳn là không đến nỗi khổ nhục như nô lệ cũ. Còn nếu thiên hạ có nóng nảy tát vào mặt công nhân ta hoặc phạt phơi nắng hoặc bắt chui qua háng thì đó chẳng qua chỉ là chuyện vặt của đám công nhân thất học chứ có dính gì đến các thanh niên "con ông cháu cha" hoặc các nhà khoa học "quốc doanh". Vả lại trong cơ chế thị thì "khôn sống mống chết", "nóng đến lưng ai người ấy giẫy".

Hơn nữa, vấn đề này liên quan đến người ngoại quốc. Người ngoại quốc đang đầu tư giúp đỡ thì mình phải nể người ta. Nhằm kéo dài thời gian cho bọn tội phạm ngoại quốc có thể tẩu thoát thì họ quay ra hoạnh bà con áo ngắn là chưa đúng thủ tục pháp lý. Đã qua sự hòa giải của cơ sở liên doanh chưa ? Chưa họp được hội đồng hòa giải vì có nhiều nơi chưa thành lập được công đoàn cơ sở. Nơi có công đoàn rồi thì lại cũng nể nang chủ. Trong khi đó thì không hiểu ai cho phép xuất cảnh mà tên tội phạm ngoại quốc đã ung dung qua cửa khẩu trở về chính quốc.

Cứ như thế mọi việc thi nhau chìm xuồng. Còn các nhà khoa học xã hội và nhân văn thì đang bận "nghiên cứu cơ bản" hoặc "nghiên cứu quá khứ" nên không thể có ý kiến về những vấn đề thực tế "vặt vãnh" như thế được. Ngay một số người đang nghiên cứu tình hình thực tế cũng chỉ dừng ở mức "điều tra cơ bản" để cung cấp tư liệu cho các hội thảo hoặc cho các nhà nghiên cứu ngoại quốc theo đơn đặt hàng của họ. Tóm lại, người ta coi những cái tát cũng như những hành vi nhục hình là bình thường.

Dù bất bình bất mãn hay kém hiểu biết đến đâu cũng không ai có gan phủ nhận nước cờ đổi mới tuyệt hay của Đại hội VI. Nhưng nước cờ "văn hóa dân tộc" và nước cờ "công nghiệp hóa" - có kèm phần "ngoại thủy" - đi theo kiểu vừa rồi, nghe ra cũng cần phải tính toán lại mới hy vọng không bị "lạc nước" trong tình thế toàn cầu hóa.

Trước khi hiến những nước đi mới, chúng tôi thấy cần khẳng định và vỗ tay hoan hô nước cờ dân chủ hóa của Tổng bí thư Lê Khả Phiêu. Đây là một nước cờ đẹp và cực kỳ chính xác, cần phải triển khai trọn vẹn để xoay chuyển tình thế. Không được phép bàn ngang hoặc bàn lùi ! Càng không được bàn chuyện cải lương !

Chúng tôi thẳng thắn chỉ ra rằng : bàn theo hướng đ/c Trần Bạch Đằng là không ổn.

Nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng hình như không tập trung nghiên cứu lịch sử văn hóa nước nhà nên không hiểu rõ nếp cảm, nếp nghĩ và nếp sống của dân tộc Việt ta trong quá trình lịch sử. Vì thế, chúng tôi thật sự kinh ngạc khi đọc những dòng sau đây : "Chỉ bằng tấm lòng cư xử giữa người Việt Nam với nhau, những vết thương kia mới mau lành lại và dân tộc mới đủ sức mạnh để vượt qua mọi thử thách. Năm 2000 và rồi đây thế kỷ 21 cùng thiên niên kỷ thứ ba yêu cầu mọi người Việt Nam trong tình thương yêu, đùm bọc, tha thứ, để hoàn thành sứ mệnh lịch sử : giữ vững độc lập, tự do, thực hiện dân giàu nước mạnh. Không một yêu cầu nào thiêng liêng hơn yêu cầu đó".

(T.B.Đằng - Câu chuyện đầu năm - Báo Thanh niên số 3 ngày 5-1-2000)

Thế là sau cái đơn thuốc "tu thân", ông lại kê thêm một đơn mới, đó là phải biết "thương yêu, đùm bọc, tha thứ". Đơn này nhằm trị bệnh cho ai vậy ? Chẳng lẽ mọi người Việt Nam, nghĩa là toàn thể dân tộc ta đều mắc bệnh này ? Vô lý ! Nếu đó chỉ là của một bộ phận thì đó là bộ phận nào ? Chẩn đoán bệnh tật và kê đơn kiểu này thì gay : người lành thì đè ra đổ thuốc, còn kẻ bệnh thì lại yên chí mình vẫn khang cường. Đơn này khiến người ta nhớ đến cái đơn "tình thương" của thầy Thích Nhất Hạnh đã kê hồi nào. Nhân dân thì thừa biết rằng mình không mắc bệnh "thiếu tình thương" nên dứt khoát không uống. Còn những kẻ mang B52 dội bom lên đầu nhân dân và rải chất độc màu da cam lên ruộng đồng miền Nam, đâu có thèm để ý đến đơn thuốc của thầy Nhất Hạnh. Xem ra đơn của thầy Trần Bạch Đằng cũng trị không đúng người, đúng bệnh.

Hẳn là sẽ võ đoán, nếu có ai lại dám nghi ngờ rằng đ/c Trần Bạch Đằng không để tâm nghiên cứu vụ nông dân Thái Bình nổi dậy chống cường hào, tham nhũng. Chính vì nghiên cứu kỹ và thấu hiểu tầm quan trọng của vụ Thái Bình nên đ/c Tổng bí thư Lê Khả Phiêu mới dứt khoát định hướng : Dân chủ hóa để phát triển.

Thiết tưởng, đây mới chính là một yêu cầu "không một yêu cầu nào thiêng liêng hơn". Mọi người đều thấy rằng thực hiện có kết quả yêu cầu này sẽ tạo ra một thế mới nhằm "hoàn thành sứ mệnh lịch sử". Vậy thử hỏi đ/c Trần Bạch Đằng nghĩ thế nào mà lại đưa ra một định hướng khác khiến cho lòng người thêm phân vân ? Chắc chắn là không thể coi cả hai định hướng này đều đúng, đều "thiêng liêng" như nhau.

E- Chúng tôi cảm thấy phải chân thành xin lỗi bạn đọc về cái nhược điểm hay lan man tản mạn của mình. Không được phép lạm dụng lòng ưu ái và kiên nhẫn của bạn đọc nên chúng tôi xin bàn ngay vào mấy nước cờ đi tới trong giai đoạn cách mạng này.

Dù mất lòng, chúng tôi cũng xin nói thẳng rằng chỉnh đốn Đảng như vừa qua là chưa đáp ứng được nhu cầu của giai đoạn cách mạng mới. Con số hơn 98% đảng viên đủ tư cách loại I không nói lên đúng thực chất của vấn đề. Chúng ta có kết nạp thêm được hàng vạn hay hàng chục vạn đảng viên mới cũng chưa giải quyết được vấn đề. Chúng ta có gần dân hơn hay kính trọng dân hơn cũng chưa phải là vấn đề quyết định cho sự phát triển của thời kỳ mới. Xu thế toàn cầu hóa và gần nhất là năm 2003 sắp tới, ta chính thức tham gia AFTA, đòi hỏi ta phải đổi mới về CHẦT chứ không phải chỉ gia tăng về LƯỢNG. Đông và lớn như Đảng Cộng sản Liên Xô, nhỏ và và ít như Đảng Cộng sản Albanie, nếu không biết cách đổi mới thì cũng tan rã và sụp đổ như thường. Chúng ta cũng đã từng có một Đảng Cộng sản chỉ với 1 Hồ Chí Minh + 5000 đảng viên, thế là giải quyết xong vấn đề chính quyền và chúng ta đánh thắng 2 đế quốc lớn một cách vẻ vang. So với việc đánh thắng giặc ở các triều Lý, Trần, Lê, Nguyễn Quang Trung ... thì "con có hơn cha" về LƯỢNG, còn về CHẦT vẫn là : đánh thắng giặc giải phóng đất nước giữ vẹn toàn lãnh thổ.

Các triều đại trước oanh liệt như thế nhưng không tránh được sụp đổ và bị thay thế, chủ yếu là do không biết làm kinh tế và không biết cách phát triển nền kinh tế của đất nước. Hiện nay, nếu ta không biết làm kinh tế thì cũng chỉ như thế thôi. Do đó, muốn đổi mới về CHẦT, trước hết phải đổi mới về nhận thức và lý luận rồi tiếp theo mới là chỉnh đốn về nhân sự, tổ chức, cơ cấu. Tất cả phải giữ được tính đồng bộ và nhất quán. Chúng ta phải thoát nhanh khỏi sự lúng túng về thuật ngữ để đi thẳng vào thực chất của vấn đề và thực tiễn xã hội. Tình trạng trống đánh xuôi kèn thổi ngược ở các bộ, các ngành hiện nay hoặc giữa trung ương và địa phương, phần lớn là do chúng ta chưa thống nhất về nhận thức và lý luận. Khoán ở nông nghiệp, cổ phần hóa các xí nghiệp quốc doanh, tư nhân hóa các trang trại hoặc các doanh nghiệp, đâu có phải thuộc phạm trù cái gọi là kinh tế xã hội chủ nghĩa. Nhưng ta vẫn làm vì nó tốt mà không phải vì làm nó mà mất đi chủ nghĩa xã hội.

Chủ nghĩa xã hội mà ta thực hiện lâu nay là dập theo mô hình chủ nghĩa xã hội Xô Viết của Stalin, ta gọi tránh đi bằng cụm từ "chế độ quan liêu bao cấp". Đó là một thực thể tiên thiên bất túc cần từ bỏ. Từ bỏ mà vẫn luyến tiếc. Luyến tiếc vì quá quen thuộc chứ không phải vì tốt. Khoán thì no và dư gạo để xuất khẩu, nhưng ta lại không biết chế biến và xuất khẩu thế nào cho tốt. Thế là xưa thiếu gạo thì nông dân khổ, nay sản xuất thừa gạo vẫn khổ, càng thừa lại càng khổ. Ủy ban vật giá đặt giá sàn và giá trần đều thấp, thương lái ép giá lại càng thấp hơn. Thử hỏi, cứ tiếp tục lỗ thì nông dân có cần sản xuất lúa gạo nữa không ? Các cây con khác đều ở trong tình trạng chung như thế. Hiệp hội kỹ thuật sáng chế ra được dây chuyền công nghệ chế biến hạt điều với giá thành thấp và tạo cho điều VN có khả năng cạnh tranh với thế giới, nhưng Sở khoa học công nghệ và môi trường ở TPHCM thấy lợi trước mắt vội xuất sang tận Môdămbích dây chuyền công nghệ này để tiếp tay cho thiên hạ cạnh tranh lại với ta. Ai sẽ đứng ra điều tiết cái cơ chế thị trường này đây ? Chỉ biết rằng nếu Sở công nghệ mà thắng Hiệp hội kỹ thuật thì nông dân trồng điều và các doanh nghiệp chế biến điều sẽ bại.

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước cũng thế thôi. Hội đồng quản trị của nó có toàn quyền quyết định vay vốn ở đâu, mua dây chuyền công nghệ nào, thuê ai làm giám đốc, tuyển loại công nhân nào, sản xuất cái gì, định giá và tìm nơi tiêu thụ, khi nào cần nâng giá, khi nào cần đại hạ giá (bán sold), nó không phải chờ ý kiến của Cục,Vụ, Viện hay ngành nào cả để khỏi bỏ lỡ những thời cơ tốt. Nó quyết định tất cả và chịu trách nhiệm tất cả : lời ăn, lỗ chịu. Điều quan trọng là nó phải nộp đủ thuế cho nhà nước. Thế là năng động, là tốt, sao lại vì không nhận thức ra hoặc vì lợi ích riêng mà ngăn trở, chậm chạp, kéo dài. Và tại sao chúng ta lại cứ phải chờ đợi, phụ thuộc vào những ông giám đốc hoặc những ông đảng ủy không nhận thức ra vấn đề. Việc đáng lẽ phải làm xong từ năm 97-98 thì để sang tận năm 2000 cũng chỉ mới là xong về "cơ bản".

Ai cũng thấy làm theo chỉ thị của Trung ương, của Chính phủ là tốt nhưng vẫn có phần e ngại vì thấy nó giống tư bản quá. Thì tất cả những cái đó là đang vận hành theo các qui luật kinh tế tư bản chủ nghĩa, nghĩa là làm đúng theo chính sách Tân kinh tế của Lênin đấy thôi. NEP là gì ? nếu không phải là kinh tế tư bản chủ nghĩa dưới sự chỉ đạo, điều tiết của chính phủ Xô Viết, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Miệng vẫn nói trung thành với Lênin nhưng những điều dạy đúng và tốt của Lênin thì lại không làm hoặc làm ngược lại. Thế là nghĩa thế nào ? Theo Lênin hay chống Lênin ?

Chúng tôi xin nhắc lại : nếu chúng tôi không hiểu nhầm Lênin thì chủ nghĩa xã hội ở nước ta xây dựng ở thời kỳ tiền tư bản chủ nghĩa thực chất là :

Chủ nghĩa xã hội = Kinh tế tư bản chủ nghĩa + Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản + Sự quản lý và điều tiết của Nhà nước Dân chủ nhân dân

Có lẽ nếu ai không nhận thức được vấn đề này thì khó có thể trở thành một người cộng sản Việt Nam chân chính trong giai đoạn cách mạng hiện nay. Nếu đảng viên nào không nhận thức được vấn đề này thì họ đủ tư cách loại 1 ở chỗ nào ? Chúng ta cần có những đảng viên có đạo đức cách mạng nhưng nếu chỉ dừng ở đạo đức cách mạng thôi thì làm sao đưa đất nước phát triển được ? Đã là đảng viên thì dứt khoát không được tham nhũng nhưng không tham nhũng cũng chưa phải là một đảng viên cộng sản, nếu anh không nhận thức được qui luật. Cộng sản là khoa học, là nhận thức được qui luật phát triển. Anh chống lại qui luật, chống lại sự phát triển, dù vô tình hay hữu ý, anh là thứ gì chứ sao gọi là cộng sản được. Gọi anh là tư sản cũng chưa đáng đâu.

Đáng lẽ ta phải thực hành NEP từ sau chiến thắng Điện Biên Phủ, chậm nhất là từ sau đại thắng 30-4-75. Thế mà đến năm 1986, khi Đại hội VI đã quyết định thực hành NEP của Lênin, chúng ta vẫn cứ dật dờ, chần chừ, lại còn cản nhau, phản đối lẫn nhau, người vê tròn, kẻ bóp bẹp, không biết còn chậm trễ đến bao giờ.

Cần nhớ rằng trước đây chậm trễ đã là sai lầm nhưng còn có thể tha thứ được. Nhưng từ năm 2000 mà còn tiếp tục chậm trễ thì trở thành tội ác và lịch sử không tha thứ.

Chính Hồ Chí Minh của chúng ta đã nhận thức ra qui luật nên người mới đặt Tổ quốc lên trên hết, sự nghiệp giải phóng dân tộc lên trước hết, và sau độc lập thống nhất Tổ quốc thì vấn đề Dân chủ là hàng đầu nếu không thì sự nghiệp có hơn gì các bậc tiền bối Nguyễn Huệ, Nguyễn Trãi, Lê Lợi, Trần Hưng Đạo.

Nếu đ/c Lê Khả Phiêu của chúng ta không nắm vững ngọn cờ Dân Chủ hóa thì có hơn gì đ/c Đỗ Mười.

Chúng tôi nghĩ rằng đ/c Tổng bí thư Lê Khả Phiêu chỉ có khả năng hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình nếu đ/c đủ dũng khí bàn bạc với các đ/c tâm huyết nhất ở Trung ương, cải tổ Đảng mình một cách cơ bản và triệt để.

Chúng ta phải có gan thảo luận thẳng thắn để đổi mới lý luận, đổi mới điều lệ Đảng và nhiều thứ khác nữa để giữ vững Đảng ta không chỉ tồn tại mà còn phát triển để đáp ứng được nhu cầu của dân tộc và thời đại. Đây không phải là những lời nói suông hoặc viển vông ảo tưởng. Đây là vận mệnh của Dân tộc và Cách mạng không thể không bàn bạc một cách nghiêm chỉnh. Trong phạm vi bài này, chúng tôi chưa có điều kiện bàn bạc cụ thể và chi tiết nhiều vấn đề bếp núc của Đảng. Xin phép bàn riêng và đầy đủ trong một văn bản khác.

Vấn đề đổi mới Đảng có tốt mới có thể bàn việc đổi mới Quốc hội, Chính phủ, Tòa án, Công an và Quân đội.

Chúng ta chưa cải tổ được cơ cấu nhân sự cũng như cách làm việc của Hội đồng nhân dân các cấp nếu như chúng ta chưa cải tổ Quốc hội. Công cuộc công nghiệp hóa và hiện đại hóa thực sự là một cuộc cách mạng mới từ trên ban hành xuống. Làm khéo thì mọi việc sẽ ổn định và phát triển, ngược lại nếu phải làm lại từ dưới làm lên, tình hình sẽ rất phức tạp. Dân chủ hóa cơ sở là một chủ trương đúng, nhưng các cấp địa phương chỉ có thể dân chủ hóa đạt kết quả nếu chúng ta dân chủ hóa được ở cấp trung ương. Do đó song song với việc hình thành qui chế dân chủ hóa cơ sở cũng cần phải có một qui chế dân chủ hóa các cơ quan ở cấp trung ương. Một lần nữa chúng ta cần suy nghĩ nghiêm túc về cái thành ngữ : "thượng bất chính, hạ tắc loạn" và "nhà dột từ nóc dột xuống". Trên đã ngay ngắn, dưới làm sao dám cong queo, hỗn loạn được. Cái sự ngay ngắn này, xưa kia cũng như hiện nay thường được hiểu giới hạn trong phạm vi đạo đức. Đạo đức là một phạm trù rất quan trọng của xã hội nhưng nó không phải là nhân tố quyết định sự phát triển hay sự trì trệ của xã hội. Vì thế các cụ ta mới nói, bên cạnh việc "đói cho sạch, rách cho thơm", là "đói ăn vụng, túng làm liều".

Chuyện đói rách mà vẫn giữ được sạch thơm là chuyện riêng của một cá thể hay của một bộ phận nào đó của xã hội. Đó là chuyện ngoại lệ, chứ không phải chuyện phổ biến. Đó là một lời khuyên đạo đức cao đẹp mang tính lý tưởng không có khả năng hiện thực đối với toàn xã hội. Chứng cứ cụ thể là : nếu toàn thể bà con nông dân Việt Nam ta đều coi đó là chân lý, có khả năng thực thi thì trong lịch sử làm gì có khởi nghĩa nông dân, việc gì còn có chuyện "nổi loạn" để đi cướp của nhà giàu chia cho người nghèo, và cũng chẳng xảy ra chuyện các triều đại bị lật đổ và thay thế lẫn nhau. Vậy "đói ăn vụng, túng làm liều" mới là chân lý phổ biến. Giải quyết vấn đề xã hội cần có một cái nhìn tổng thể, căn cứ vào cái phổ biến, cái tất yếu chứ không thể dừng ở cái đặc thù, cái ngoại lệ.

Chúng tôi nhớ trong một dịp đến thăm cụ kỹ sư Phạm Minh Nguyệt, người con trai duy nhất của liệt sĩ Phạm Hồng Thái, mở đầu câu chuyện cụ hỏi ngay :

- Thành phố Hồ Chí Minh phát động phong trào xóa đói giảm nghèo giỏi thật, các bạn có biết ai nghĩ ra chuyện này đầu tiên không ?

- Thưa bác, chúng tôi chỉ biết đây là sáng kiến của thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh còn thì không rõ ai là người đề xuất đầu tiên.

Chính sách xóa đói giảm nghèo trở thành phong trào rầm rộ trong cả nước - công đầu thuộc về Thành ủy TPHCM - mới là nằm trong những chính sách hàng đầu nhằm giải quyết tận gốc vấn đề đạo đức xã hội. Ý chúng tôi muốn nói cái "ngay ngắn" của trên trước hết là cái ngay ngắn về đường lối chính sách và nghị quyết. Muốn có đường lối chính sách và nghị quyết đúng, trước hết cần có lý luận đúng. Muốn có lý luận đúng, phải khảo sát đầy đủ thực tiễn. Những người từng phản đối đ/c Kim Ngọc và tỉnh ủy Vĩnh Phú đều là những người có đạo đức, sống trung thực, liêm khiết. Nhưng đạo đức và liêm khiết còn có nghĩa gì nếu không chịu khảo sát thực tiễn nông nghiệp nước ta, không hiểu tầm quan trọng của chính sách "khoán". Bao nhiêu chính sách khác cũng thế thôi. Cứ khi nào ta khảo sát kỹ thực tiễn xã hội là ta có chính sách đúng, có nghị quyết đúng và góp phần thúc đẩy xã hội phát triển. Hiện nay, ai chưa nắm vững chính sách dân chủ hóa của Tổng bí thư Lê Khả Phiêu và Trung ương ta cũng chứng tỏ người đó thiếu hiểu biết thực tiễn xã hội.

Theo chúng tôi, dân chủ hóa là phải thực hiện từ Bộ Chính trị, từ Trung ương ta trở xuống. Đã dân chủ, đã họp bàn thì ta phải thảo luận, phải phát biểu cho thẳng thắn, thật lòng. Có điều gì không tán thành cần nói ngay. Đã tán thành nhất trí thành nghị quyết thì phải hết lòng thực hiện, chết cũng không từ nan. Tối kỵ là miệng tán thành, tay bỏ phiếu thuận nhưng về đến địa phương thì triển khai hình thức, thực hiện lớt phớt, chậm chạp, có khi còn làm ngược lại. Cho nên có thời kỳ chính đ/c Phạm Văn Đồng phải than phiền về tình trạng có hàng trăm chính phủ địa phương. Thói tệ này, nay lại lan tới cả Chính phủ trung ương, nhiều Bộ hoặc Tổng cục chỉ chú ý đến lợi ích của ngành mình, không quan tâm đến toàn cục.

Như trên đã nêu việc các Bộ Giáo dục, Bộ Điện lực, Bộ Giao thông, Bộ Tài chính v.v. và các Tổng cục thuế, Tổng cục bưu điện, Tổng cục xăng dầu ... đều nhất loạt tăng giá hoặc tăng các khoản đóng góp của dân dưới nhiều hình thức làm giảm sức mua, đi ngược lại chủ trương kích cầu của Thủ tướng là một dẫn chứng điển hình.

Cùng nằm trong một khu vực chịu ảnh hưởng khủng hoảng tài chính, thiên hạ bị khủng hoảng nặng mà thoát ra rất nhanh, ta chịu ảnh hưởng nhẹ mà thoát ra rất chậm chạp. Vì sao thế ? Chẳng qua là do ta không chịu chấm dứt nhanh tình trạng "trống đánh xuôi, kèn thổi ngược" mà ta thường dùng những mỹ từ như : "thiếu tính đồng bộ", "chưa quán triệt nghị quyết" hoặc "buông lỏng lãnh đạo" v.v. Thử tưởng tượng xem thời kháng Pháp, kháng Mỹ mà thiếu đủ thứ như thế thì liệu kháng chiến sẽ đi đến đâu ? Xem ra, cứ vin vào cơ chế thị trường, nhiều vị còn nhu nhơ với kỷ luật kinh tế lắm. Chỉ riêng chuyện lương bổng mà phải mất bốn chục năm đấu tranh quan điểm, giờ đây chúng ta mới thống nhất được nhận thức rằng : tăng lương cho công nhân viên chức chính là đầu tư cho phát triển. Còn chuyện tinh giản biên chế nghe ra vẫn còn là chuyện dài nhiều tập. Ngay từ tinh giản mà rất nhiều báo đài vẫn còn nhầm, không hiểu nghĩa nên vẫn viết là tinh giảm.

Đây là hai chuyện cơ bản của bộ máy nhà nước ta mà ngày nào ta chưa giải quyết tốt, ngày đó còn sinh nhiều tệ nạn.

Chỉ cần nhớ rằng đây là chuyện mang tính đặc thù của bộ máy nhà nước ta trong hoàn cảnh một nền kinh tế tiểu nông trải qua 30 năm chiến tranh. Còn bất cứ bộ máy nhà nước nào của giai cấp tư sản mà vướng vào hai vấn đề cơ bản này mà lại cứ lùng nhùng, chậm chạp thì đều phải "tiêu" từ lâu rồi. Tình thế mới (gia nhập AFTA vào 2003 hoặc 2006) không cho phép chậm trễ hơn nữa. Đơn giản là bộ máy nhà nước cồng kềnh của ta thành lực cản sự phát triển sản xuất và thương mại, làm sút giảm sức cạnh tranh của hàng hóa nội địa, đẩy các doanh nghiệp đến phá sản, công nhân thất nghiệp, nông dân đói khổ và ta tự biến đất nước mình thành thị trường tiêu thụ của thiên hạ. "Thuộc địa kiểu mới" chính là thế đó.

Rất mong các vị còn luyến tiếc quan liêu, bao cấp, giáo điều hiểu thấu cho.

Các vị giáo điều tỏ ra hết sức ngoan cường trong việc bảo vệ những điều được gọi là cấm kỵ : cấm không cho ai được nói đến : dân chủ, nhân quyền, đa nguyên, đa đảng, báo tư nhân, nhà xuất bản tư nhân, ...

Dân chủ một cách hình thức như giai cấp tư sản đã chơi ròng rã hai thế kỷ qua, dứt khoát là ta không làm. Nhưng dân chủ hình thức theo kiểu của ta như vài ba chục năm vừa qua có nên tiếp tục duy trì nữa không ? Đó là chuyện phải bàn, bàn một cách nghiêm chỉnh. Theo đ/c Lê Khả Phiêu thì vì thiếu dân chủ nên nội lực của ta không phát triển được. Mà ai cũng biết nếu nội lực của ta không phát triển thì không thể nói chuyện cạnh tranh với thiên hạ trong thế kỷ mới. Rõ ràng đây là vấn đề sống còn của Đất nước, của Đảng và Chế độ, kẻ nào lợi dụng dân chủ, dân quyền, có đủ chứng cứ xin cứ việc đưa ra tòa, truy cứu trách nhiệm hình sự. Còn không nên ngăn cản giới nghiên cứu lý luận thảo luận thiện ý và sòng phẳng về vấn đề dân chủ, nhân quyền. Ta không cho phép những kẻ chống lại nhân dân, thành lập đảng phản động để ngồi trong Quốc hội ta. Nhưng ta cũng phải bàn bạc để xây dựng một cơ cấu mới, một qui chế mới nhằm đảm bảo cho những người đại biểu có ý kiến khác nhau có thể tranh luận thẳng thắn, mạnh mẽ trong Quốc hội mà không phải e dè, nể nang hoặc sợ sệt gì cả.

Một mặt, chúng ta phải kiên trì giải thích cho mọi người hiểu rằng những người đang rêu rao bảo vệ dân chủ và nhân quyền, lại sử dụng vấn đề dân chủ và nhân quyền làm điều kiện bắt ép các quốc gia phải vâng theo ý họ. Họ vẫn muốn đóng vai trò "sen đầm quốc tế" lỗi thời bằng những hình thức mới, thủ đoạn mới, hy vọng lừa bịp được các dân tộc. Trước đây, Bác Hồ luôn luôn giúp đỡ chúng ta tỉnh táo phân biệt thực dân Pháp và nhân dân Pháp, bọn hiếu chiến xâm lược Mỹ với nhân dân Mỹ, bọn phát xít quân phiệt Nhật với nhân dân Nhật. Giờ đây, chúng ta mở cửa giao lưu làm bạn với tất cả các dân tộc, các quốc gia thì lại càng cần tỉnh táo phân biệt cho rõ. Nhân dân lao động ở nước nào cũng tốt. Dân tộc nào cũng có nền văn hóa và những vẻ đẹp riêng của họ. Cần giao lưu, trao đổi, học tập thu hút tinh hoa của nhau để tự bồi bổ và tự hoàn thiện. Quan niệm "ta về ta tắm ao ta" chỉ đúng và thích hợp với một đời sống kinh tế tiểu nông tự túc, tự cấp, khép kín, hoàn toàn không thích hợp với thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Tuy nhiên, trước khi học người cũng phải hiểu người. Hiểu người không dễ nhưng cũng không đến nỗi quá khó. Cứ lấy Bill Clinton làm thí dụ, thời còn là thanh niên, ông đã từng chống quân dịch và phản đối chiến tranh ở Việt Nam. Thế là tốt ! Nhưng khi ông vẫn khăng khăng cấm vận đối với Cuba, Irắc, rồi ông lại cùng với NATO mang bom dội lên đầu nhân dân Nam Tư thì nên coi ông là người thế nào ? Trong khi lên tiếng chỉ trích hết kẻ này đến người khác về dân chủ nhân quyền thì ông vẫn đẩy hàng triệu trẻ em Irắc vào nạn thiếu dinh dưỡng khiến các em chết dần chết mòn mỗi ngày hàng vài trăm trẻ.

Trước tình hình bất đắc dĩ phải bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, ông cũng không ngần ngại gì mà nói thẳng rằng sẽ giúp đỡ các "chiến sĩ dân chủ" lưu vong về giải phóng quê hương. Ông Clinton cũng thừa biết rằng nói thế để trấn an mấy vị lưu vong mất gốc chứ ông còn lạ gì 5 đời tổng thống Mỹ tiền nhiệm đã bất lực như thế nào trước Việt Nam.

Cũng phải thông cảm với ông và tất cả những người cầm quyền lúc còn đang trên sân khấu chính trị, thôi thì cũng phải "hò hét i uông" cho trọn vai tuồng của mình.

Đối với chúng ta, vấn đề là sau các lớp phấn son, mũ mão, giáp trụ ... cần nhìn cho thấu bản chất với những ý đồ, mưu mô của các vị mà nâng cao tinh thần cảnh giác. Tuy nhiên, cảnh giác không có nghĩa là co cụm lại rồi "thần hồn nát thần tính" hoặc chơi trò "đội váy nát mẹ".

Vì ta dè dặt trong việc thực thi dân chủ do đó thiên hạ thì chưa kịp lợi dụng, nhưng lũ tiêu cực trong nội bộ ta đã chớp lấy thời cơ mà hoành hành ngang ngược. Trong khi hù dọa người ta là không được lợi dụng dân chủ dân quyền thì chính chúng lại muốn phục hồi một thiết chế phong kiến từ gia đình đến nhà trường và xã hội để dễ bề hành hạ bóp nặn nhân dân, nhất là bà con nông dân ta, phớt lờ mọi nghị quyết, luật pháp, nhằm thủ tiêu mọi thành quả cách mạng mà Bác Hồ và Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành được sau mấy chục năm hy sinh xương máu.

Hiện nay, mọi người rất vui mừng thấy đ/c Lê Khả Phiêu kêu gọi tất cả phải trở lại với Hồ Chí Minh và Lênin. Rất nhiều người, trong đó có nhiều đ/c đảng viên ta đang có chức, có quyền lại quên mất rằng một trong những mục đích cao cả của cuộc cách mạng vang dội địa cầu ..... là mang lại mọi quyền bính về tay Nhân dân, đưa Nhân dân lên bậc thang cao nhất trong bảng giá trị xã hội. Và cái lỗi lớn nhất của giới nghiên cứu lý luận ở nước ta là không chịu thảo luận thẳng thắn và sòng phẳng về vấn đề quyền lực của nhân dân, đặc biệt không phân biệt sự khác nhau giữa một quốc hội thời bình và quốc hội thời chiến.

Quốc hội thời chiến là một quốc hội toàn quyền hành động, nhân dân cũng không yêu cầu được hưởng mọi thứ quyền tự do đã được ghi trong hiến pháp. Mọi người chỉ yêu cầu được hưởng quyền tự do tăng gia sản xuất, đi dân công, đi "bộ đội cụ Hồ". Đánh giặc để bảo vệ tổ quốc : đó là nghĩa vụ, đồng thời cũng là quyền thiêng liêng cao quí nhất mà mỗi người Việt Nam tự do, tự hào được thi hành. Một chính phủ hết lòng vì dân như chính phủ Hồ Chí Minh, có gì mà phải thắc mắc, chất vấn. Vừa nẩy nòi ra một ông tham nhũng là đại tá Trần Dụ Châu - một trong mấy vị đại tá hiếm hoi do chính Bác Hồ lựa chọn và bổ nhiệm - mà Bác phải hạ bút ký vào bản án tử hình, thật đau lòng xót xa biết chừng nào !

Anh bộ đội Cụ Hồ thì một cái kim sợi chỉ của nhân dân cũng không dám tơ hào, đến đâu cũng chỉ lo giúp dân cuốc đất, gặt lúa, quét dọn nhà cửa cho phong quang, đẹp đẽ. Cán bộ, bộ đội và nhân dân trong tình cá nước, tất cả đều đồng cam cộng khổ, làm gì mà giặc chẳng thua, làm gì mà uy tín chính phủ kháng chiến Hồ Chí Minh không cao vời vợi. Quốc hội không yên lòng sao được khi đã giao toàn bộ quyền bính cho một chính phủ như thế. Một chính phủ tốt đến mức đó nên có đủ tự tin để nói rằng : nếu nhân dân thấy chính phủ không tốt thì nhân dân có quyền "đuổi" đi.

Cho đến nay người ta vẫn không ngớt xúc động khi nhắc lại những lời nói kiểu này. Vậy thử hỏi từ bao giờ, nhân dân gửi hàng chục vạn lá đơn kiến nghị "đuổi" lũ tham nhũng mà chính phủ ta lại lơ đi. Không những thế lại còn có những kẻ đứng ra bao che cho bọn tham nhũng và cường hào ở các địa phương. Cứ như thế làm gì tệ cường hào tham nhũng không nảy nở sinh sôi như ta thấy đó.

Nông dân hơn 200 xã ở Thái Bình và một số nơi khác nổi dậy chống cường hào tham nhũng, phải coi đó là một tất yếu lịch sử. Nếu không biết chống lại bọn cường hào tham nhũng thì còn gì là bản chất nông dân Việt Nam quật khởi kiên cường, lấy gì để chứng minh rằng họ vẫn giữ vững bản sắc dân tộc ? Bản sắc Việt Nam là gì, bản sắc dân tộc là gì nếu trước hết không phải là lòng yêu tự do, chuộng dân chủ và thường trực chống lại mọi áp bức, bóc lột của bọn ngoại xâm cũng như bọn "nội xâm".

Nếu Đảng và Chính phủ còn giữ được bản chất cách mạng của mình thì phải lãnh đạo người ta chống "nội xâm" chứ sao có thể kết án bắt bớ được. Nhân đây chúng tôi đề nghị chỉ nên bắt giam và kết án những kẻ manh động đập phá và nên thả những vị lão thành cách mạng, những đ/c cựu chiến binh và những đồng chí đảng viên đã "cầm đầu" vụ Thái Bình vừa rồi. Đó là những con người đáng kính trọng, đáng khâm phục, vì họ là những người tiêu biểu cho tinh thần cách mạng Việt Nam trong giai đoạn mới. Nếu cần kết án thì phải kết án bọn cường hào tham nhũng và tất cả những kẻ bao che cho chúng.

Nhân dân rất hoan nghênh và ghi công cho đồng chí Lê Đức Anh vì chính nhờ lòng cương trực, lòng thương dân và ý thức trách nhiệm của đ/c mà những vụ việc như rừng Tánh Linh, Thủy cung Thăng Long ... được đưa ra ánh sáng công lý.

Nhân dân cũng hoan nghênh và ghi công cho đ/c Lê Khả Phiêu và Hội nghị Trung ương khóa 8. Lần đầu tiên trong lịch sử, Đảng ta đã ghi vào nghị quyết công khai cảnh cáo hai ủy viên Trung ương là đ/c Cao Sĩ Kiêm - nguyên thống đốc ngân hàng và đ/c Ngô Xuân Lộc - nguyên Phó thủ tướng về tội vô trách nhiệm. "Tội qui vu trưởng", thế là đ/c Lê Khả Phiêu đã đặt ra được một tiền lệ rất tốt : từ nay trở đi tất cả các thủ trưởng lớn nhỏ, từ phường xã cho đến Trung ương đều phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành vi phạm pháp của những nhân viên dưới quyền trong đơn vị mình.

Bác Hồ cũng đã nhắc : cùng mắc sai lầm khuyết điểm như nhau nhưng là đảng viên phải xử nặng hơn.

Cũng nên đề nghị các đại biểu Hội đồng nhân dân và các đại biểu Quốc hội ở Thái Bình và những nơi đã xảy ra vụ việc cần nghiêm khắc kiểm điểm công khai và xin lỗi nhân dân. Ai tự thấy mình không xứng đáng thì không nên tái cử hoặc đã trót được bầu vào thì cũng nên tự trọng rút lui ra khỏi những cơ quan quyền lực của nhân dân. Ai không xứng đáng được Nhân dân giao quyền lực mà vì lẽ nào đó cứ cố tình nắm giữ quyền lực thì thực chất chỉ là kẻ "tiếm quyền" của Nhân dân.

Người giác ngộ và biết trọng danh dự không hành động như thế. Đừng quên rằng từ xưa tới nay, "tiếm quyền" bao giờ cũng là một tội rất nặng. Ta nên bổ sung vào hiến pháp và luật hình sự tội này. Quyền lực của Nhân dân là do bao thế hệ hy sinh xương máu mới giành được, không thể tùy tiện giao cho bất cứ ai, đặc biệt không thể giao cho những kẻ ngu dốt hoặc vô trách nhiệm.

Chúng tôi cũng kiến nghị tất cả những ai đã có công lao với Nhân dân và Tổ quốc thì cần được khen thưởng thích đáng, và tất cả những ai bị oan khuất, hãy phục hồi danh dự và bù đắp những quyền lợi vật chất mà họ đã bị thiệt thòi. Vì theo quan điểm của Marx và Engels trình bày trong tuyên ngôn của Đảng Cộng sản : "Tất cả các giai cấp bóc lột đều lấy quá khứ để thống trị hiện tại, chỉ riêng giai cấp vô sản lấy hiện tại để thống trị hiện tại".

Anh không thể cho mình là con nhà anh hùng liệt sĩ hoặc bản thân có thành tích cống hiến rồi tùy tiện làm bậy. Đến lúc ra tòa anh mới kể nhân thân, kể quá trình cống hiến. Đúng là chỉ gây khó khăn cho người xử án. Chẳng lẽ pháp luật chỉ có thể thực thi đối với những người dân thường thân cô thế cô, còn đối với bọn giặc "nội xâm" lại xử theo một thứ luật không thành văn, tùy tiện co dãn theo áp lực của "ô dù", vây cánh. Thế thì đến đời kiếp nào mới có thể dựng được một xã hội công bằng văn minh ???

Đất nước này còn phải làm bao nhiêu cuộc cách mạng nữa để mọi thứ công bằng công lý không còn nằm trên giấy, để cho các thôn cùng xóm vắng hết được tiếng hờn giận, oán sầu, để cho những người cách mạng chân chính trước khi nhắm mắt không phải than phiền vì vỡ mộng.

Rõ ràng chúng ta phải cải tạo lại Quốc hội, quan điểm cho đúng về một quốc hội thời bình. Một xã hội còn đầy rẫy kẻ nghèo, người giàu, mâu thuẫn bất công chồng chéo, mà không mảy may phản ánh được một mâu thuẫn nào cần đấu tranh, cần giải quyết. Xã hội có bao nhiêu loại người với những quyền lợi khác nhau, thậm chí chống đối nhau, thế mà Quốc hội lại chỉ có một loại đại biểu, đại biểu cho một loại quyền lợi. Liệu có thể tiếp tục như thế mãi chăng ?

Trong kỳ họp Quốc hội vừa qua, một số đại biểu vẫn tiếp tục phát huy được "tinh thần dân chủ" dám chất vấn các bộ trưởng. Có đại biểu còn dám phê phán cả Bộ trưởng nhưng đ/c chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh cũng đã khéo léo nhẹ nhàng nhắc nhở mấy đại biểu hơi quá hăng hái rằng chính các đại biểu là những người chưa thực hiện đầy đủ công việc của các Bộ giao xuống mà không thấy phần trách nhiệm của mình, khuyết điểm đâu chỉ riêng của các Bộ, các Bộ trưởng. Đ/c Nông Đức Mạnh nhắc thế cũng đúng, nhưng chính đ/c lại quên mất rằng khi đứng chất vấn các bộ trưởng là họ đứng với tư cách đại biểu lập pháp chứ đâu phải đại biểu hành pháp.

Bắt các vị chủ tịch tỉnh, bí thư huyện, giám đốc sở này sở nọ hoặc xí nghiệp quốc doanh này nọ trong khi chưa hoàn thành nhiệm vụ lại phải đứng ra chất vấn các bộ trưởng - những thành viên cao nhất của bộ máy hành pháp - nghĩa là phải chất vấn ngay chính mình thì cũng khó thật đấy. Chính các anh, các chị ở trong bộ máy hành pháp mà làm dở thì phải tự kiểm điểm lỗi của mình chứ còn chất vấn ai ?

Qua đó, mới thấy rằng : việc nhập cả ba bộ máy hành pháp, lập pháp và tư pháp vào một cục là không ổn. Chính anh đá bóng rồi chính anh lại thổi còi. Thế là bao nhiêu bàn thua, Dân đều hứng chịu hết. Như thế là không được, vì nó là nguồn gốc của mọi sự mất ổn định.

Từ xưa, đất nước này chỉ một ông vua và một triều đình là đủ. Nếu chúng ta bảo là cần làm theo kiểu Việt Nam thì truyền thống dân tộc đấy. Chỉ cần một Tổng bí thư và một Ban chấp hành Trung ương Đảng là đủ. Các đ/c trực tiếp nắm quyền lực, làm tất cả và chịu trách nhiệm tất cả trước Nhân dân và Lịch sử. Như thế vừa gọn nhẹ, vừa tránh được mọi sự tốn kém vô ích. Còn bảo làm như thế là không được thì chúng ta phải bàn xem phải tổ chức một Quốc hội Việt Nam như thế nào ở thế kỷ XXI ?

Hẳn chúng ta cũng không ai muốn tổ chức theo kiểu lưỡng viện như các nước tư bản. Không theo truyền thống tổ chức triều đình vì nó đã lỗi thời. Cũng không theo hình thức lưỡng viện vì nó là hình thức dân chủ của tư bản. Tổ chức như ta vừa qua : lập pháp và hành pháp nhập làm một thì cũng không ổn. Vậy thì nên như thế nào ? Cần phải bàn thôi. Phải tập trung những người hiểu biết nhất của đất nước mà bàn bạc cho ra lẽ.

Trong khi chờ đợi một hội nghị Diên Hồng kiểu mới, chúng tôi xin trình bày ý kiến riêng của mình để mọi người tham khảo :

1. Trong hoàn cảnh đất nước còn nghèo như hiện nay, ta nên có một quốc hội gọn nhẹ để tránh được lãng phí và tốn kém. Có lẽ quốc hội chỉ cần 200 đại biểu là vừa.

2. Với số lượng 200 đại biểu, ta nên dành cho Đảng lãnh đạo hẳn 50% (100 người) để Đảng tự chọn lựa và cử ra khỏi phải bầu bán lôi thôi. Còn lại 100 đại biểu cứ để nhân dân cả nước thực sự lựa chọn và bỏ phiếu bầu.

3. Nhân dân lập cho 10 nhóm đại biểu, đài thọ cho 10 nhóm đại biểu 10 cái văn phòng có đủ chuyên gia thực sự giỏi về từng lĩnh vực : kinh tế, văn hóa, giáo dục, tin học, luật pháp v.v. Mỗi văn phòng có trách nhiệm nghiên cứu tất cả các dự luật của Ban thường vụ Quốc hội chuyển tới, quan sát mọi hoạt động và nghiên cứu mọi văn bản của các Bộ, các ngành ở Trung ương và nghe ngóng phản ứng của Nhân dân, nghĩa là họ phải chuẩn bị đầy đủ mọi mặt để đại biểu Quốc hội có thể nắm chắc được thực tiễn và lý luận mà đề xuất, kiến nghị, chất vấn, phê phán, bác bỏ đối với các thành viên trong bộ máy hành pháp và tư pháp Trung ương. Khi họ nắm vững nguyện vọng của nhân dân, nắm vững tri thức luật pháp và tình hình thực tế trong nước và thế giới, họ sẽ thông qua được chính xác các đạo luật và định ra được đường lối đối nội, đối ngoại của Chính phủ.

4. Khi đã có một Quốc hội tử tế, chắc chắn chúng ta có một Chính phủ tử tế để điều hành mọi công việc lớn nhỏ của Đất nước.

Hẳn có người sẽ kêu : 200 đại biểu thì ít quá làm sao nắm được tình hình của đất nước. Đừng lo ! Đã có bộ máy truyền thông đại chúng. Tất nhiên không phải chỉ có bộ máy báo chí quốc doanh như hiện nay. Sẽ có một bộ máy truyền thông đại chúng của tư nhân. Cả hai đều phải hoạt động dưới sự kiểm soát của pháp luật. Đây chính là nơi cung cấp thông tin nhanh nhất cho các văn phòng đại biểu quốc hội.

Hẳn chúng ta sẽ không thiếu tự tin đến mức cứ nói đến tư nhân là sợ. Tư nhân trong các lĩnh vực giáo, dục, y tế, kinh tế, ta không sợ thì việc gì ta phải sợ ở lĩnh vực ngôn luận. Ai sợ cứ được hưởng quyền sợ và hẳn rồi sẽ quen dần. Cũng giống như thời kỳ nói đến "khoán hộ" và xí nghiệp tư doanh, nhiều người cứ hoảng lên, thế là mất chủ nghĩa xã hội rồi còn gì !

Chẳng lẽ họ không hiểu rằng chủ trương hành động như Trung ương Đảng ta hiện nay thì chỉ ngày càng xã hội chủ nghĩa nhiều hơn mà thôi.

CNXH là gì nếu không phải là ai cũng có đủ cơm ăn áo mặc và được học hành. Cứ làm theo đ/c Lê Khả Phiêu đang quyết tâm thực hiện đầy đủ Di chúc của Bác Hồ : sau khi thắng giặc lập lại được hòa bình, hoàn thành được độc lập và thống nhất thì ta thực hiện dân chủ. Cứ dân chủ là sớm muộn cũng sẽ giàu mạnh. Đã dân chủ và giàu mạnh thì không muốn có công bằng văn minh liệu có được không ?

Đường lối dân chủ hóa của đ/c Lê Khả Phiêu và Trung ương ta hiện nay là đường lối duy nhất đúng. Dân chủ hóa càng mau thì càng mau có chủ nghĩa xã hội. Không dân chủ hóa thực sự thì không có công nghiệp hóa, hiện đại hóa gì hết. Độc lập chẳng còn, Đảng cũng chẳng còn, Chế độ cũng chẳng còn, tất cả chỉ còn là một bầy "nô lệ mới" cho bọn tài phiệt quốc tế mà thôi.

Muốn thoát khỏi tình trạng nhục nhã đó chỉ còn một con đường dân chủ hóa từ trên xuống dưới mới hy vọng phát huy được nội lực của dân tộc, chống lại được mọi thế lực chính trị kinh tế tài chính của ngoại bang.

Cũng nên thảo luận dứt khoát với nhau về luận điểm tiến lên CNXH không qua giai đoạn phát triển TBCN hãy còn ghi ở nghị quyết Đại hội VI nên gây ra sự lấn cấn cả về lý luận và thực tiễn; cũng là để chấm dứt sự lợi dụng của những kẻ cơ hội chủ nghĩa. Chuyện này bàn thì tương đối dài dòng, ở đây chúng tôi chỉ xin nêu vài điểm để thấy rằng chúng ta không thể dật dờ nửa vời được. Nên thanh toán những sự dè dặt, e ngại một cách vô nguyên tắc và không để xảy ra những tai họa không đáng có.

Khi chúng ta không chấp nhận cái năng suất thấp ở nông nghiệp và buộc lòng phải giải tán các loại hợp tác xã, cho phép khoán hộ, cho phép tư nhân tổ chức trang trại. Thế là ta đốt cháy giai đoạn hay ta tôn trọng qui luật kinh tế TBCN ? Khi ta không chấp nhận năng suất thấp ở lĩnh vực công nghiệp, không thể tiếp tục bù lỗ cho hàng chục ngàn doanh nghiệp nhà nước, chấp nhận cổ phần hóa, hoặc cho thuê hoặc bán các doanh nghiệp nhà nước cho tư nhân, cho phép tư nhân trong nước và cả nước ngoài tự do kinh doanh, tự do sản xuất và xuất nhập khẩu ... thế là chúng ta đốt cháy giai đoạn hay tôn trọng qui luật kinh tế TBCN ?

Ở các lĩnh vực khác như giáo dục, văn hóa, y tế, khoa học v.v. chúng ta cũng cho phép tư nhân hoạt động. Nghĩa là tất cả những lĩnh vực mà trước kia nhà nước giữ độc quyền thì bây giờ tư doanh có quyền hoạt động miễn là phải tôn trọng luật pháp và nộp đủ thuế cho nhà nước.

Điểm lại, nơi nào giữa quốc doanh và tư doanh hoặc giữa tư doanh và tư doanh có sự cạnh tranh lành mạnh thì ở đó phát triển rất nhanh. Nơi nào còn mập mờ nửa quốc doanh nửa tư doanh, hoặc quốc doanh vẫn chơi kiểu một mình một chợ thì nơi đó, lĩnh vực đó vẫn không phát triển hoặc trì trệ một cách đáng sợ.

Nhiều người trong đó có các nhà lý luận đã sợ hãi kêu lên và sẽ tiếp tục kêu ầm lên rằng :

- Nếu không "đốt cháy giai đoạn" thì chúng ta xây dựng CNTB à ? Đi theo con đường TBCN à ?

- Xin thưa với các vị rằng : chúng tôi tôn trọng "thiện ý" bảo vệ CNXH của các vị nhưng xin phép được hỏi các vị : Đảng và Nhà nước ta ra chủ trương và thực thi tất cả mọi việc từ Đại hội VI đến nay thì là đúng hay sai và gọi nó là cái gì ?

- Phải nói thẳng rằng : chúng ta đang làm kinh tế TBCN đấy và cái CNTB mà chúng ta đang xây dựng chỉ khác một điểm cơ bản với các nước tư bản : đó là có sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và sự quản lý của Nhà nước Dân chủ Nhân dân.

Khác nhau nhưng vẫn giống nhau và giống nhau nhưng vẫn khác nhau . Điều này cần phải nhận thức và phân biệt cho rõ để tránh mọi sự nhập nhằng lẫn lộn.

Epco - Minh Phụng là tư doanh thì Đảng bộ và Ủy ban nhân dân Q.3 dính vào làm gì để cho chúng lợi dụng. Mấy ông ngân hàng yên chí đã có ủy ban và đảng ủy Q.3 bảo lãnh, thậm chí còn chỉ đạo bằng nghị quyết nên cứ cho vay vô tội vạ đến nỗi thất thoát đến 5000 tỷ mới tá hỏa lên.

Ở giáo dục, đáng lẽ chỉ cần có hai hình thức : trường công và trường tư, nhưng lại vẽ ra đủ các loại trường : dân lập, bán công, mở rộng ... Do đó mới có trường có tên dài lê thê : "trường Đại học mở bán công" nghe thật lố bịch - nhưng cái nguy là họ cứ dựa vào thế nhà nước để vắt sữa nhà nước và thu tiền của con em nhân dân mà không ai có thể động đến họ. Sao không dứt khoát gọi họ là tư thục rồi có qui chế rõ ràng và kiểm soát cho chặt chẽ kể cả đánh thuế trên doanh thu để họ có nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước.

Các trường tư thục ở các nước tư bản do có qui chế rõ ràng và sự kiểm soát chặt chẽ nên không thể thu học phí và cấp chứng chỉ văn bằng một cách tùy tiện, càng không thể trốn thuế. Chương trình, giáo trình cĩng không được cắt xén tùy tiện.

Hầu hết các lĩnh vực khác cũng có tình trạng nhập nhằng tương tự : điển hình là lĩnh vực xuất bản và báo chí.

Vì sợ bọn phản động lợi dụng nên ta chủ trương nhà nước phải độc quyền về ngôn luận và xuất bản nên về mặt danh nghĩa và trên văn bản, Luật báo chí và xuất bản của ta không cho phép mở nhà xuất bản tư nhân và ra báo tư nhân. Nhưng ta lại qui định tất cả phải tự hạch toán và tồn tại. Do đó, các nhà xuất bản tha hồ thông lưng với các đầu nậu và các tác giả (với danh nghĩa là liên doanh liên kết để xuất bản). Tất nhiên, phần đông tác giả làm ăn đúng đắn thì hầu như không có đủ điều kiện để "liên kết" rồi.

Sách tốt rất khó ra đời. Người viết được sách tốt cũng nản, lớp trẻ muốn làm sách tử tế trông thấy các đàn anh, đàn chị long đong lật đật cũng lắc đầu bảo nhau bỏ chạy. Có thời kỳ sách dở, sách xấu, phim "mì ăn liền" tràn lan trên thị trường. Tình trạng ăn cắp bản quyền, nhất là của các tác giả đã mất hoặc đã xuất ngoại, hoặc đã già cả, trở thành phổ biến một cách đáng xấu hổ.

Ai dám kiện nhau với các vị "đạo văn" và các vị giám đốc xuất bản quốc doanh. Sách tình dục, bạo lực ngang nhiên đi vào trường học và mọi hang cùng ngõ hẻm chẳng có ai phải chịu trách nhiệm. Ai nỡ xử tội các giám đốc xuất bản quốc doanh, toàn là cán bộ đảng viên nhà nước mình cả. Các vị chủ tịch tỉnh hoặc thành phố và bộ trưởng Bộ văn hóa lại càng vô can.

Trên thực tế, báo chí cũng bị ngấm ngầm tư doanh hóa. Nhiều báo ra thêm phụ trương, phụ san ... bằng vốn của tư nhân. Nghĩa là sách có đầu nậu sách, báo có đầu nậu báo. Một bộ phận phóng viên rất đông uốn cong ngòi bút, viết bài phản ánh tình hình phụ thuộc vào nội dung "phong bì". Họ tô vẽ thêu dệt thực tế đến nỗi những cơ sở đã hư hỏng từ lâu như dệt Nam Định (thời Nguyễn Văn Kiểm), Tamexco, Epco - Minh Phụng lại biến thành những đơn vị có thành tích khiến trên khen thưởng nhầm. Xét kỹ sẽ thấy bọn quan liêu cửa quyền tham nhũng lừa đảo hối hộ đang hoành hành hiện nay có báo chí góp phần tiếp tay cho chúng thực hiện tội ác. Số ít tô vẽ và số đông thì im lặng, mà im lặng là đồng lõa. Do đó, chúng tôi đề nghị từ nay buộc các phóng viên cũng phải chịu trách nhiệm hình sự về những bài tô vẽ bậy bạ, còn những báo nào im lặng trước tội ác cũng phải được kiểm điểm phê phán. Tại sao nhân dân lại phải đóng thuế nuôi một đội ngũ nhà báo vô tích sự. Và chúng tôi cũng hỏi luôn trách nhiệm của Hội nhà báo, giống hệt Hội nhà văn, không bao giờ dám lên tiếng bênh vực những cây bút trung thực bị trù dập, ngay cả những người trong Hội của mình. Thật đau buồn khi trong bộ máy chuyên chính dân chủ nhân dân của ta có những hội đoàn hình thức một cách khốn khổ như thế !

Khi công đoàn không dám bênh vực công nhân mình bị đàn áp bóc lột, Hội nhà báo không dám bênh vực những phóng viên bị trù dập. Hội nhà văn không dám bênh vực những nhà văn, nhà thơ bị vu cáo, bắt bớ một cách phi pháp : cái đúng, cái chính nghĩa không được bảo vệ thì làm gì cái phi nghĩa không tràn lan nẩy nở. Rồi đến khi phải dắt hết lũ tiêu cực này đến lũ tiêu cực khác ra tòa thì lại thản nhiên nhẹ nhàng nhận khuyết điểm "buông lỏng". Thế nào là buông lỏng ? Nhân dân đổ xương máu để giành quyền lực rồi giao quyền lực cho anh. Tại sao anh lại dám "buông lỏng" để cho bọn bất lương tác oai tác quái ức hiếp nhân dân, đục ruỗng cả kho tàng nhà nước. Một mặt thì vô trách nhiệm, mặt khác thì la lối om sòm là xã hội xuống cấp đạo đức suy thoái. Đọc báo của ta lắm lúc tưởng như xã hội hỗn loạn sụp đổ đến nơi. Một vài vụ hành hung thầy giáo cô giáo thì làm ầm ĩ. Còn bọn quan liêu, tham nhũng, lừa đảo thì nhởn nhơ ngoài vòng ngôn luận, lông chân không dám động đến.

Tại sao có tình hình như thế ? Chúng tôi chưa thấy Ban tư tưởng văn hóa các cấp hiện nay cũng như các Ban tuyên huấn trước đây công khai tự phê bình, kiểm điểm trước Nhân dân và trước Đảng về những sai lầm và khuyết điểm của mình. Khi chúng tôi nói với đ/c Nguyễn Minh Triết rằng : cần phải sửa tận gốc nghĩa là sửa Đảng ta, tức là đúng như đ/c Tổng bí thư Lê Khả Phiêu lo lắng :

"Nếu không chỉnh đốn tốt thì Đảng ta sẽ mất vai trò lãnh đạo".

Nếu chúng ta không chuẩn hóa lại tiêu chuẩn kết nạp đảng viên thì chúng ta không thể kết nạp được những phần tử ưu tú nhất mà chỉ đưa được những quần chúng làng nhàng vào Đảng. Anh vừa được lòng quần chúng lại vừa đẹp ý được cả đ/c Bí thư lẫn toàn thể chi bộ thì anh thuộc loại người nào ? Sống theo kiểu "ba phải", "mười rằm cũng ư mười tư cũng gật", thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh, sao lại gọi là bản lĩnh người đảng viên cộng sản được ? Thật đáng buồn cho những đảng bộ như đảng bộ hải quan, ngân hàng, quận ba v.v. cả một cấp ủy làm sai mà không một đảng viên nào dám hé răng. Anh không ăn cắp, không tham nhũng nhưng anh im lặng làm ngơ để cho chúng ăn cắp, tham nhũng thử hỏi anh có xứng đáng tư cách người đảng viên loại 1 không ? Do đó, chúng tôi đề nghị đ/c Tổng bí thư và Trung ương xem xét lại con số 98% mà mọi nơi báo cáo về cho các đ/c. Chúng tôi và tất cả những người có lương tri thật sự không thể yên lòng trước con số này. Nếu thực sự chất lượng Đảng ta như thế thì đó là hồng phúc cho Dân tộc. Nhưng nếu không phải như thế mà chúng ta lại yên chí là như thế thì đó chính là nguy cơ của mọi nguy cơ.

Cũng cần nhắc lại để tránh sự hiểu lệch lạc vấn đề : trước sau chúng tôi coi Đảng Cộng sản là một bộ phận máu thịt của dân tộc không thể để cho Đảng suy sụp. Vì nếu để xảy ra tình trạng suy sụp này thì đó là một tổn thất cực kỳ nghiêm trọng đối với tiến trình phát triển của Dân tộc, cho nên chúng tôi cũng không ngần ngại mà nói hết những điều mình suy nghĩ. Và chúng tôi cũng tha thiết mong mỏi tất cả mọi thành viên của Dân tộc trong đó có những thành viên của Đảng còn ý thức được về trách nhiệm đối với vận mệnh Dân tộc trong thế kỷ mới hãy cùng nhau bàn bạc cặn kẽ một cách chân thành và thẳng thắn. Có những vấn đề tự nhiên chúng ta xếp nó vào loại cấm kỵ để không ai được nói động đến. Nhưng nếu chúng ta không giải quyết triệt để và giải quyết ngay những vấn đề đó thì chúng ta không thể phát triển được, ngược lại chúng ta tự hủy hoại nội lực của Dân tộc. Làm bất cứ việc gì người ta cũng có thể mắc khuyết điểm sai lầm, điều quan trọng là phải nhận ra và khắc phục nhanh những khuyết điểm sai lầm đó. Huống chi làm cách mạng mà lại là cách mạng XHCN, chúng ta tránh khỏi sai lầm khuyết điểm sao được. Đảng ta vẫn nổi tiếng là một Đảng dũng cảm dám nhìn thẳng vào sai lầm khuyết điểm và quyết tâm sửa chữa. Riêng điều đó cũng đủ xác nhận rằng Đảng ta là một Đảng thực sự cách mạng. Riêng điều đó cũng đủ cho mọi người có quyền tự hào và tin tưởng.

Nhưng cũng không nên quên thực tế này, chúng ta thường để những sai lầm tồn đọng quá lâu, khi bắt tay vào sửa sai thì thiệt hại đã quá lớn. Trước đó, ai là người phát hiện sớm mà góp ý kiến xây dựng là y như tai họa giáng xuống đầu ngay. Tai họa đối với từng cá nhân dù lớn đến mấy cũng chẳng lấy làm điều, nhưng nguy hiểm nhất là nó tạo ra một bầu không khí sợ hãi bao trùm toàn xã hội, tiêu hủy dần mọi tiềm năng tư duy và trí tuệ của dân tộc. Nó tạo cho những kẻ hèn nhát, cơ hội luôn luôn có dịp mỉa mai chê cười phỉ báng những con người thông tuệ, dũng cảm, trung thực và giàu tâm huyết đối với đất nước. Thật đáng đau lòng nếu trên một đất nước mà sự hèn nhát, cơ hội, dối trá lại được xác nhận là sự giỏi giang, khôn ngoan, chín chắn. Chẳng khác gì xưa kia bọn phù thủy chụp lốt chó, lốt ếch lên các hoàng tử, công chúa, nay chúng cũng chụp lên đầu những phần tử ưu tú của Dân tộc cái lốt Chí Phèo, lốt Đông Ki sốt, Êrostrat ...

Nếu mình đã tự ý thức được mình là người trí thức chân chính, suy nghĩ nói năng hay đặt bút viết là để phụng sự lợi ích của dân tộc và đất nước thì sợ gì những tiếng thị phi, sợ gì tù đày hay chết chóc ?

Chỉ nói cái trăm năm vừa qua, nếu không nhờ những bậc trí thức chân chính như Phan Văn Trị, Nguyễn Đình Chiểu, Phạm Văn Nghị, Thủ Khoa Huân, Tống Duy Tân, Phan Đình Phùng, Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Cao, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, Nguyễn An Ninh, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng, Nguyễn Thái Học, Phạm Văn Đồng, Đặng Xuân Khu, Võ Nguyễn Giáp, Trần Đại Nghĩa, Tạ Quang Bửu, Phạm Huy Thông, Nguyễn Hữu Thọ, Đặng Văn Lung, Trần Quốc Thảo, Huỳnh Tấn Phát, Đặng Văn Ngữ, Tôn Thất Tùng, Lương Định Của, Trần Văn Giàu, Diệp Minh Châu, Mai Thị Lựu, Nguyễn Thị Diệu, Mã Thị Chu, Nguyễn Thị Bình, Võ Thị Thắng ... và hàng trăm hàng ngàn trí thức không thể kể hết thì hỏi dân tộc này làm sao mở mày mở mặt với nhân loại được.

Còn những người trí thức như các ông Tôn Thọ Tường, Trương Vĩnh Ký, Hoàng Cao Khải, Phạm Quỳnh, Nguyễn Liên Phong và cả một bầy viết thuê thì nhất thiết phải làm thơ văn bỉ báng những người "không thức thời" cứ ngoan cố và dại dột chống lại "mẫu quốc" và triều đình. Nhưng vàng ròng đâu có sợ lửa.

Những con người ưu tú của dân tộc từ bỏ đời sống yên bình, mọi thứ quan tước bổng lộc để lao vào con đường chông gai và luôn luôn với tư thế sẵn sàng "quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh". Sống như thế mới là đáng sống và chết như thế mới là đáng chết.

Nhìn lại lịch sử, có thể tự hào một cách chính đáng rằng Dân tộc Việt mình được xếp hàng đầu trong số những dân tộc nhạy cảm với áp bức bất công. Vậy thì tầng lớp trí thức của dân tộc sao lại kém nhạy cảm được. Chúng tôi cũng lấy làm buồn khi thấy có một số trí thức và văn nghệ sĩ hiện nay cũng đã từng nhiều phen vào sinh ra tử, Tây không sợ, Mỹ không sợ, Việt gian phản quốc không sợ, thế mà giờ nhìn thấy đám tiêu cực, quan liêu, tham nhũng lại ớn xương sống, nói toàn giọng thở hắt ra : "Thôi nói đấu tranh nữa làm gì, mệt mỏi lắm rồi, các ông bà ơi !". Ca cẩm, phàn nàn chán, nhẫn nhịn mãi cũng không xong, ức quá quay ra chửi đổng hoặc đánh bài AQ "mày ức hiếp chúng ông thì cũng như ức hiếp bố chúng mày".

Có lẽ đã đến lúc tất cả những người trí thức của đất nước dù cao hay thấp, lớn hay nhỏ phải xác định lại trách nhiệm và vị thế của mình. Mọi giai cấp thống trị (chủ nô, phong kiến, tư bản thực dân, đế quốc) từ cổ chí kim, từ đông sang tây đều đào tạo và sử dụng trí thức như một tầng lớp làm thuê, chỉ trừ một số rất ít minh quân, minh thủ tướng, minh tổng thống, ... mới biết chiêu hiền đãi sĩ, biết trọng trí thức, nhưng dù khinh thị hay trọng thị thì cũng đều nhằm mục đích : "Các người hãy phò ta để cai trị đám dân đen này !". Nhưng bao giờ cũng có một phân số trí thức không cam tâm làm tôi tớ cho giai cấp thống trị bản xứ cũng như ngoại bang để chúng ức hiếp dân lành. Họ luôn luôn đi với nhân dân. Thi sĩ kiêm nho sĩ Cao Bá Quát là một trong những tấm gương tiêu biểu cần được nghiên cứu sâu sắc hơn nữa.

Xưa nay, xem xét đánh giá trình độ một quốc gia, một dân tộc, người ta thường quan sát học phong, sĩ khí ở đó ra sao. Học thì học vẹt, học tủ, chúi mũi vào thi cử bằng cấp, nghiên cứu thì dập khuôn sao chép, lý luận thì tư biện, thơ văn thì èo uột, ca nhạc thì ẽo ượt hoặc gào rống lên, thử hỏi tương lai đất nước sẽ ra sao ? Sĩ khí như thế thì thôi không nói đến nữa !

Đã đến lúc mỗi người trí thức cần ý thức được địa vị chủ nhân đất nước của mình. Danh lợi bản thân là cần nhưng không thể cần bằng tiếng thơm cho đất nước và lợi ích của dân tộc. Quan niệm sống ẩn, sống nhàn, "độc thiện kỳ thân", "độc hành kỳ đạo" chỉ thích hợp với một lớp người và một thời đã qua không bao giờ trở lại. Có lúc lối sống này đã được coi là cao quí vì đó là thái độ phản ứng đối với giai cấp thống trị. Nhưng trong thế kỷ đua tranh, toàn cầu hóa mà vẫn duy trì lối sống đó thì lại tỏ ra là kém hiểu biết và thấp hèn. Và đó còn là một thái độ sống vị kỷ đáng tởm. Lũ bất nhân bất nghĩa thì biết thành lập những liên minh ma quỉ để tàn hại nhân dân, thế mà những người trung chính lại không biết bảo nhau thành lập những liên minh thần thánh để bênh vực, bảo vệ nhân dân thì khờ khạo và ngu dại biết chừng nào !

Đứng ở hội nào, thuyền nào thì phải rõ ràng dứt khoát chứ hai chân hai thuyền thì tồn tại sao được. Sống ba phải, gió chiều nào che chiều nấy, mạnh đâu âu đấy, đâu phải là lối sống xứng đáng với những người trí thức chân chính. Quan tâm đến lợi ích lớn lao lâu dài của đất nước chứ ham hố gì ba cái lợi nhỏ nhen, lặt vặt trước mắt. Có một số bạn bè chân thành và thiện ý hỏi chúng tôi :

- Các vị được lợi gì mà cứ viết hết trang này đến trang kia, nói ai nghe mà cứ cố nói như thế.

Chúng tôi không chú ý đến thắc mắc kiểu đó nhưng cũng cần giải thích rõ quan điểm của chúng tôi :

- Chúng tôi học tập nối gót người xưa nhưng có điểm không giống người xưa vì thời đại đã mang lại cho chúng tôi một vị thế kép mà người xưa không có được. Mình là người công dân thì mình phải biết tuân theo luật pháp và tôn trọng những người cầm quyền. Đồng thời mình là người chủ đất nước thì mình nghĩ gì, nói gì, làm gì là quyền mình. Việc gì ích nước lợi nhà thì mình làm, mình lo lắng với trách nhiệm của người chủ, chứ chờ gì phải "ai đòi ai bắt", ai đôn đốc thúc giục. Việc nhà mình, việc nước mình, mình lo, việc gì phải chờ "đốt lều cỏ đến ba lần mới chịu ra". Người làm chủ đâu cần gì phải cao đạo với đầy tớ của mình hoặc hong hóng "chờ đầy tớ úy lạo, ban thưởng bổng lộc, chức quyền". Đầy tớ phải trung thành với chủ. Đầy tớ không nên không phải thì chủ phải răn bảo. Ắn cắp, ăn vụng thì phải đánh đòn. Khoan dung đại độ mãi mà vẫn không chịu cải tà qui chính thì phải đuổi đi, thế mới thực sự là có tư cách người làm chủ.

Tất nhiên, mình không bao giờ được quên công ơn Bác Hồ và Cách mạng và của tất cả những thế hệ đã hy sinh mồ hôi xương máu để mang lại cho mỗi người dân đất Việt cái địa vị cao quí đó. Mọi hành vi tự do quá trớn, dân chủ quá trớn, cá mè một lứa, cá đối bằng đầu, không biết tôn trọng qui ước của cộng đồng và luật pháp của nhà nước đều là kết quả của một sự kém hiểu biết hoặc hiểu biết không chính xác về quyền làm chủ của mình.

Mình bầu ra Hội đồng nhân dân, bầu ra Quốc hội. Chính Quốc hội thay mặt mình mà đặt ra luật pháp rồi cử ra bộ máy nhà nước. Luật pháp là luật pháp của mình, nhà nước là nhà nước của mình. Mình không biết tôn trọng mình thì còn biết tôn trọng ai ? Một dân tộc không biết tự tôn trọng mình thì còn đòi hỏi sao được các dân tộc khác tôn trọng mình ?

Do đó, việc bầu một Quốc hội mới cho thích hợp với tinh thần của thời đại, tinh thần của thế kỷ mới cũng cần phải bàn cho ra lý ra lẽ mới giải quyết được vấn đề phát triển. Không thể bầu cử theo kiểu cũ được. Bầu cử như bầu cử Hội đồng nhân dân TPHCM vừa qua vẫn là bầu theo kiểu cũ, xem ra có nhiều phần chưa ổn. Nhưng việc đã rồi, ta hãy cứ vui lòng chấp nhận.

Đọc báo Sài Gòn Giải Phóng, báo Tuổi Trẻ hoặc xem truyền hình, thấy ứng cử viên nào cũng hứa hẹn rất hay, nhưng điều chủ yếu lại không thấy ai nói.

Người thì hứa phát triển công nghệ tin học, người thì hứa tăng cường việc bảo vệ pháp luật, người thì hứa bảo vệ văn hóa dân tộc và xây dựng lối sống lành mạnh, người lại hứa đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp, đẩy mạnh quá trình đô thị hóa và quan tâm đến đời sống dân vùng ven ..., người thì hứa đẩy mạnh việc phát triển báo chí tăng thêm trách nhiệm của các phóng viên báo đài ... nghĩa là người ở cơ quan nào hoặc phụ trách ngành nào thì hứa sẽ đẩy mạnh ngành mình, cơ quan mình. Họ cứ làm như nếu không có họ ngồi ở Hội đồng nhân dân thì các ngành nghề đều trì trệ cả.

Tuyệt nhiên không thấy một vị ứng cử viên nào hứa rằng nếu được trúng cử vào Hội đồng nhân dân thì sẽ chất vấn ông giám đốc sở Điện lực : Tại sao ủy ban nhân dân TP giao cho sở ông 500 tỷ đồng để lo đủ điện cho bà con ở hang cùng ngõ hẻm và đặc biệt là bà con vùng ngoại thành. Thế mà đến cuối năm 99 này, nhiều vùng ngoại thành vẫn không đủ điện, phải tự kéo chui nhằng nhợ dây điện và phải mua điện tới 6 ngàn, 7 ngàn đồng 1 KWh. Phóng viên báo, đài hỏi ông tại sao để thừa 250 tỷ ? thì ông lại cho một ông phó của ông lên tivi thanh minh nào là do đường hẻm ngoắt ngoéo khó trồng cột điện (trong khi ở màn ảnh nhỏ lại hiện ra cảnh cánh đồng quang quẻ mà cũng chẳng có một cột điện), nào là chúng tôi cũng đã làm từ thiện và xây công trình phúc lợi chứ không dám tiêu phí gì cả. Cả phóng viên đài lẫn người xem đài đều thấy buồn cười cho tinh thần hiểu biết trách nhiệm của các ông quản lý sở điện.

- Việc của các anh là phải lo đủ điện cho dân, nhất là dân nghèo, anh lại không lo. Ai bảo anh lo việc từ thiện và phúc lợi ? Ai bảo anh ôm 250 tỷ tiền thừa ? (Lại nhớ hồi còn hợp tác xã ở miền Bắc, bà con đã từng vẽ trên cột điện hình ảnh mấy con heo leo cột điện để chế giễu việc phải nộp heo mới có điện).

Cũng chẳng thấy ai hứa rằng nếu trúng cử tôi sẽ chất vấn ông giám đốc sở Thể dục thể thao TP vì sao không cấp tiền, không cấp đủ kinh phí cho các cháu là nhân tài của đất nước đi tranh giải quốc tế lại để cho gia đình các cháu phải tự lo, nếu nghèo quá thì phải tự rút. Cũng cùng ngành mà ở Hà Nội, ông giám đốc sở dám ký giấy phát cho mỗi cháu 1.400 USD mà trong này ông Phạm Văn Khiết chỉ quyết định cấp 200 USD. Ông bảo không có ngân sách, thế thì tại sao sở ông lại thừa ra 400 triệu đồng ? Nhiều người không biết lại cứ trách Đảng và Nhà nước không quan tâm đến nhân tài. Nhưng lỗi này phải chỉ đích danh ông Phạm Văn Khiết chịu trách nhiệm mới đúng.

Và còn bao nhiêu chuyện : chuyện gas, chuyện nước, chuyện đào đường, chuyện tòa án, chuyện bắt người trái phép, xử oan người vô tội, chuyện hành dân, ức hiếp dân, tham nhũng v.v... không thấy ai hứa sẽ chất vấn.

Tóm lại, hầu như không ai ý thức được đầy đủ rằng nhiệm vụ, chức năng và quyền hạn chủ yếu của đại biểu Hội đồng nhân dân là gì ? Phần đông không hiểu rằng mình vào Hội đồng nhân dân là để thay mặt nhân dân giám sát bộ máy hành pháp của thành phố thực hiện cho thật nghiêm chỉnh mọi chủ trương đường lối và những chính sách pháp lệnh của Trung ương để phục vụ việc nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân. Đâu có phải ngồi vào đó để làm việc vỗ tay và giơ tay, thậm chí có người 5 năm liền không phát biểu một ý kiến gì, hoặc có những đại biểu đến kỳ họp thì đi buổi đực buổi cái. Đó là chưa kể có vị phát biểu dài dòng mà chẳng đâu vào đâu. Rõ thật là lãng phí thời gian và tiền bạc, tốn kém của dân một cách vô ích. Nhưng điều nguy hiểm nhất là nhân dân TP không thực hiện được quyền làm chủ của mình. Cho nên đ/c Tổng bí thư có khen thành phố đi bỏ phiếu đông nhất nước cũng là nhằm động viên nhưng chắc chắn đ/c Tổng bí thư chưa được báo cáo trung thực rằng phần đông người ta đi bỏ phiếu cho qua chuyện vì họ ngại tổ nhân dân cũng như phường xã gây phiền hà.

Chẳng lẽ ông Nguyễn Duy Quý và những người lãnh đạo khác của Trung tâm khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia không biết Đào Duy Anh là ai. Chẳng lẽ các ông chưa bao giờ học tập những tác phẩm của Đào Duy Anh và những học giả có tầm cỡ văn hóa lớn như Đào Duy Anh ? Khi các ông không đưa những người có công lao lớn với sự nghiệp xây dựng nền văn hóa dân tộc vào danh sách những người đáng được Nhà nước của Nhân dân tưởng thưởng thì các ông định trút trách nhiệm này cho ai ? Hẳn là sẽ có người cho rằng xúc phạm đến các ông khi bảo các ông đã "nối dáo cho giặc" nhưng sẽ biện bạch như thế nào khi những lực lượng chống lại chúng ta rêu rao rằng cộng sản không biết tôn trọng trí thức. Dứt khoát không thể làm mang tiếng Đảng và Nhà nước. Càng không thể để Nhân dân của một đất nước văn hiến mang tiếng là không biết trọng hiền tài.

Thiết nghĩ, trong đợt chỉnh đốn này các ông nên nghiêm khắc tự phê bình, tự kiểm điểm về những sai lầm trong công tác chỉ đạo và quản lý ngành KHXH của nước ta những năm vừa qua. Không biết tôn vinh những người có công lao như Đào Duy Anh, đồng thời không biết thi hành kỷ luật thích đáng những người có sai lầm trong việc tổ chức các hội thảo Gia Long và Việt Nhật, vậy xin hỏi ông Nguyễn Duy Quý : thưởng phạt thiếu nghiêm minh, thiếu công bằng như thế, liệu chúng ta sẽ làm thế nào để phát triển được "nội lực" của KHXH Việt Nam, đủ sức chống chọi với các "ngoại lực" đang bao vây chúng ta.

Sau vụ Thái Bình, đ/c Lê Khả Phiêu và Trung ương ta lo lắng đêm ngày về vấn đề Dân chủ hóa xã hội để tạo ra những nguồn lực mới làm động lực cho sự phát triển đất nước. Nếu chúng tôi không nhầm thì hầu như không bài viết nào, không một diễn văn nào, không một buổi nói chuyện nào mà đ/c lại quên nhấn mạnh vấn đề dân chủ. Đi thẳng vào một vấn đề nhạy cảm và nóng bỏng như vấn đề dân chủ trong tình hình hiện nay, không thể nói khác, đó là đúng đắn, dũng cảm và có bản lĩnh. Chúng tôi đã hơn một lần nhận định rằng : DẤN CHỦ là vấn đề cốt tử của Di chúc Hồ Chí Minh, đồng thời cũng là vấn đề cốt tử của TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH, của TƯ TƯỞNG VIỆT NAM ở thế kỷ XX này. Mọi thời kỳ lịch sử trước Hồ Chí Minh chỉ mới giải quyết được vấn đề Độc lập Dân tộc, chưa có đủ điều kiện để giải quyết vấn đề Dân chủ. Dân chủ chính là khát vọng ngàn đời của Dân tộc Việt Nam ta.

Chuẩn bị bước vào thế kỷ mới, có dân chủ thực sự sẽ có tất cả. Không có dân chủ thực sự thì sẽ mất tất cả, kể cả định hướng xã hội chủ nghĩa. Đất nước sẽ lại đắm chìm trong nợ nần, lệ thuộc và đau khổ.

Chúng tôi thực sự kinh hoàng khi đọc Tạp chí Triết học của Viện Triết học Việt Nam số cuối cùng của năm 99 (số 6(112) -1999), toàn bộ 20 bài viết của 20 tác giả không có một bài nào tập trung nghiên cứu vấn đề dân chủ hóa hiện nay. Đáng kinh hãi hơn nữa là trong 19 bài đọc đi đọc lại, không tìm thấy một từ dân chủ nào, chỉ riêng có một bài "Tìm hiểu tư tưởng Khổng giáo của Phan Bội Châu qua Khổng học đăng" duy nhất có một từ dân chủ, mà lại là từ dân chủ trích từ câu nói của Phan Bội Châu (trích xong từ dân chủ này, tác giả cũng lướt đi ngay chứ không dừng lại để bàn một ý nào về vấn đề dân chủ). Nếu thống kê toàn bộ 107 bài biết trong 6 số báo của năm 99 thì cũng chỉ có 2 bài bàn về dân chủ, nhưng một bài thì bàn về vấn đề dân chủ ở Đức từ thế kỷ trước nghĩa là lúc Karl Marx và Engels còn sống. Như thế là chỉ còn có một bài bàn về vấn đề dân chủ ở Việt Nam.

Vậy thế nghĩa là thế nào ? Trong khi các tác giả cả trong cũng như ngoài Viện Triết học nghiên cứu đủ các vấn đề triết học cổ đại Ần Độ, cổ đại Trung Quốc, hiện sinh phương Tây, triết học Hégel, triết học Descartes, tâm phân học Freud, rồi vấn đề công nghiệp hóa, hiện đại hóa, học thuyết Marx Lénine, tư tưởng Hồ Chí Minh, v.v.. nhưng không bàn vấn đề dân chủ, kể cả ba bài viết về Di chúc Hồ Chí Minh như chúng tôi đã nêu ở trên. Một điều trớ trêu là số Tạp chí triết học nào cũng có mục "Đưa nghị quyết của Đảng vào thực tiễn cuộc sống" ở ngay đầu Tạp chí. Vậy, nghị quyết VIII của Đảng thiếu vấn đề dân chủ hay các nhà nghiên cứu và các vị lãnh đạo Viện Triết học chưa "quán triệt" Nghị quyết ?

Chỉ có giáo sư - tiến sĩ - viện trưởng Nguyễn Trọng Chuẩn và giáo sư - tiến sĩ - giám đốc Nguyễn Duy Quý mới là những người có đủ thẩm quyền để trả lời vấn đề này.

Bảo rằng các nhà nghiên cứu Triết học của ta thiếu hiểu biết và nhạy bén thì thật là vô lý. Hay họ còn nhát gan trước thực tiễn cuộc sống và thiếu bản lĩnh chính trị ? Thẩm quyền trả lời cũng thuộc về các nhà nghiên cứu lý luận.

Một nghịch lý thực chua chát : đáng lẽ các nhà nghiên cứu lý luận và đặc biệt là Viện nghiên cứu Triết học có trách nhiệm làm tham mưu cho Tổng bí thư và Trung ương ta. Đã không tham mưu thì chớ, khi Tổng bí thư và Trung ương đã phải đề xuất và phát động thành phong trào dân chủ hóa đất nước cũng không nhiệt tình hưởng ứng. Chao ôi ! một thời cố văn sĩ Nguyễn Minh Châu đã phải viết "lời ai điếu" cho một thời kỳ minh họa. Giờ đây, trong tình hình nhân dân còn phải sống "dưới mức nghèo khổ" thì các nhà lý luận của ta lại còn ở "dưới cả mức minh họa". Vậy, ngày mai, Dân ta sẽ sống ra sao và Lịch sử sẽ đi về đâu ? Hỡi sông Hồng và các nhà lý luận !

F- Mấy năm gần đây, Quốc hội ta đã tổ chức được các cuộc chất vấn, thảo luận dân chủ một cách công khai. Đó là một bước tiến bộ rất cơ bản. Nhưng theo dõi những buổi truyền hình trực tiếp, dư luận nhân dân vẫn còn thấy nhiều điều băn khoăn. Một số đại biểu Quốc hội thì chất vấn chưa trúng những vấn đề mà dư luận thấy cần phải chất vấn. Thí dụ, chưa thấy đại biểu quốc hội nào chất vấn bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và bộ trưởng Bộ Thương mại rằng tại sao cả quốc doanh lẫn tư doanh đều bán cho nông dân cả 3 miền những sản phẩm giả hiệu : giống ngô trồng không có bắp, giống vải trồng không có quả, thuốc trừ sâu dỏm, gây thiệt hại cho nhân dân hàng ngàn tỉ đồng. Ai chịu trách nhiệm bồi thường cho nông dân những khoản thiệt hại này.

- Tại sao ốc bươu vàng gây tai họa khiến nông dân thiệt hàng ngàn tỉ đồng mà không ai chịu trách nhiệm ? Ai đã ký lệnh cho nhập ốc bươu vàng trong khi các nhà khoa học đã có khuyến cáo trên báo chí.

- Tại sao ông chủ nhiệm Ủy ban vật giá của chính phủ lại trả lời báo rằng chúng tôi không quản lý giá gas và để cho tăng giá gas một cách tùy tiện ? Tại sao gas sản xuất tại nội địa mà ông tổng cục trưởng tổng cục thuế lại đánh 30% thuế nhập khẩu để cho các công ty gas nội địa dựa vào đó đòi nâng giá gaz theo thị trường khu vực ?

- Tại sao người nông dân chỉ dùng xăng dầu chạy máy trên đồng ruộng của mình mà lại phải nộp thuế cầu đường do Tổng cục Thuế và Tổng cục Xăng Dầu tính vào giá xăng ? Vậy hai ông tổng cục này trả lời ra sao ? Ai chịu trách nhiệm về việc điều chỉnh giá chậm chạp này để làm thiệt hại cho nông dân ?

- Tại sao ông bộ trưởng Bộ Giáo dục không tham khảo nghiêm chỉnh ý kiến của giáo sư Hoàng Tụy để cho tất cả các khoản đóng góp vào học phí, lại để cho các địa phương, thậm chí từng trường tùy tiện bày ra các khoản đóng góp làm khổ hàng mấy chục triệu các bậc cha mẹ học sinh ? Liệu đến bao giờ thì liên bộ giáo dục và tài chính chính thống nhất được chuyện đóng góp này và trả lời công khai trước dư luận ?

- Tại sao đ/c Thủ tướng chưa chọn lựa và bổ nhiệm được một tổng cục trưởng hải quan và một tổng cục trưởng thuế vụ có đủ năng lực chặn đứng được dòng thác lũ hàng nhập lậu để bảo vệ các doanh nghiệp nội địa an tâm sản xuất ? Khi các doanh nhân điêu đứng vì hàng nhập lậu, thì đ/c Thủ tướng và các đ/c Phó thủ tướng có chịu trách nhiệm gì không ?

Còn rất nhiều vấn đề nữa nhưng chúng tôi chỉ nêu mấy vấn đề trên để thấy rằng có những vấn đề mới xem qua là nhỏ nhưng thực chất lại là cực kỳ to lớn. Có thể có những người nghĩ rằng mỗi một thùng gaz tăng dăm ngàn đồng, mỗi một lít xăng tăng có hơn 100 đồng, mỗi học sinh đóng vài chục ngàn xây dựng trường lớp cả năm hoặc vài chục ngàn bồi dưỡng thầy cô dạy thêm thì có đáng gì mà phải quan trọng hóa đặt vấn đề chất vấn ở Quốc hội. Còn chuyện bán hàng giả mạo cho nông dân chẳng qua là một bọn thiếu đạo đức kinh doanh hoặc do tình hình xuống cấp chung của xã hội, có gì đáng phải làm ầm ĩ.

Nói thế thì có khác gì nói rằng khoán hộ hay không khoán hộ thì có gì là quan trọng. Không có vấn đề gì là nhỏ cả vì tất cả đều động chạm đến đời sống của hàng chục triệu dân sống ở đô thị và hàng mấy chục triệu nông dân sống ở nông thôn. Đó là chưa tính đến những vấn đề "lặt vặt" đó còn làm nảy sinh và ảnh hưởng dây chuyền đến hàng loạt vấn đề khác như văn hóa, đạo đức thuần phong mỹ tục, tệ nạn xã hội và an ninh quốc gia.

Nói như thế để thấy rằng việc điều tiết ở cấp vĩ mô quan trọng và lớn lao biết chừng nào đối với xã hội ta hiện nay. Nếu ta "buông lỏng" trách nhiệm điều tiết này thử hỏi ta còn XHCN ở chỗ nào ?

Nghe phần trả lời chất vấn của các đại biểu Quốc hội, chúng tôi trộm nghĩ rằng có một số đ/c Bộ trưởng chưa ý thức được trách nhiệm điều tiết vĩ mô của Bộ mình cụ thể là thế nào. Người ta hỏi một đằng lại trả lời một nẻo, có người thì đọc báo cáo thành tích của bộ mình, có người lại xin trả lời bằng văn bản, có người lại đẩy trách nhiệm sang Thủ tướng và nhường quyền trả lời cho Thủ tướng. Thậm chí có người còn nói : "Chúng tôi chỉ có trách nhiệm giúp đỡ Chính phủ, nên ...". Mình là bộ trưởng, là một thành viên của chính phủ, bản thân mình là chính phủ mà lại nói là "giúp đỡ chính phủ" ?

Thế mới biết dân chủ hóa đời sống trong đó có việc dân chủ hóa bộ máy nhà nước là khó thật. Xem ra thời kỳ tập sự dân chủ cũng không thể rút ngắn, đốt cháy giai đoạn mà được Lênin đã dạy : "Dân chủ XHCN gấp một triệu lần dân chủ tư sản". Mới thực tập một phần triệu mà đã thấy vất vả quá. (Chỉ có điều đáng mừng là Quốc hội ta tuy có sôi nổi nhưng vẫn giữ được hòa khí, ổn định. Chuyện "thượng cẳng chân hạ cẳng tay" như mấy nghị sĩ quốc hội tư sản là tuyệt đối không có).

Chúng tôi nghĩ rằng, bước vào thế kỷ XXI, tất cả những người trí thức chân chính ở trong Đảng cũng như ngoài Đảng đều phải dũng cảm và thật lòng cùng nhau bàn bạc để giúp đỡ Nhân dân và Trung ương ta tổ chức cơ quan quyền lực cao nhất của đất nước một cách hoàn hảo, nghiêm chỉnh, đáp ứng được nhu cầu phát triển của Dân tộc và Thời đại. Ai có năng lực và tâm huyết hãy xung phong ứng cử mà đảm đương trọng trách. Ai thiếu năng lực lại không may bị giới thiệu nhầm thì phải kiên quyết xin rút cho có trật tự.

Tất nhiên, 100 đại biểu mà nhân dân đã bầu ra, dù vẫn trong cảnh thắt lưng buộc bụng nhưng cũng vẫn lo cho các đại biểu thật đầy đủ phương tiện để trau giồi tri thức về luật pháp. Có thể họ không hoàn toàn giỏi về luật nhưng những tri thức cơ bản, tinh thần cơ bản của cổ luật phương Đông, cổ luật phương Tây, đặc biệt là cổ luật Việt Nam, hình luật thời Lý, luật Hồng Đức thời Lê, luật Gia Long thời Nguyễn. Dù không đi sâu, họ cũng phải được các chuyên gia giỏi thuyết trình cho, để nắm được tinh thần cơ bản của hiến pháp và luật pháp của các nước điển hình trong thế giới hiện đại và đặc biệt là phải hiểu được sâu sắc tác phẩm Khế ước xã hội (le Contrat social).

Sau này ban Thường vụ Quốc hội phải tuyển những chuyên gia luật giỏi nhất nước để tham gia ban biên soạn các dự thảo luật.

Bên cạnh đó còn phải lập một Ban ngôn ngữ chuyên duyệt về từ ngữ và câu cú cho thật chính xác trước khi gửi cho các văn phòng của Đại biểu quốc hội nghiên cứu.

Về phía Đảng cũng cần chuẩn bị cho các đại biểu của mình một cách chu đáo. Tất cả chuẩn bị thật tốt để hình thành được một quốc hội thực sự đại diện được cho Nhân dân và cho Đảng, xứng đáng là cơ quan lập pháp của đất nước.

Phải nhìn thẳng vào thực tế để thấy rằng Quốc hội vừa qua mới thực sự đại diện cho Đảng chứ chưa thực sự đại diện cho Nhân dân, vì 20% đại biểu không phải là đảng viên thì cũng không do Dân lựa chọn. Và những người này cũng không dám nói năng gì. Ai có can đảm phát biểu điều gì khác ý thì lập tức khóa sau xin mời ông nghỉ. Cần chấm dứt tình trạng ban soạn thảo dự luật còn để lại trên văn bản những lỗi về từ pháp, cú pháp, logic. Nhiều đại biểu không nắm vững tri thức luật pháp lại phải làm nhiệm vụ giơ tay biểu quyết từng điều trong mỗi đạo luật.

Nước cờ dân chủ hóa chỉ thực sự là nước cờ hay, có thể làm chuyển biến được tình thế theo hướng phát triển tất yếu, nếu chúng ta tổ chức được các Hội đồng nhân dân địa phương và Quốc hội có hiệu lực thực sự, nghĩa là chúng ta thực thi được một điều cốt tử trong tư tưởng Hồ Chí Minh, trong học thuyết Hồ Chí Minh : trao toàn bộ quyền bính về tay Nhân dân và chỉ có thế chúng ta mới giữ vững được vai trò lãnh đạo của Đảng, củng cố được Chế độ và làm cho CNXH trở thành hiện thực trên đất nước ta.

Cho nên, sau nước cờ đổi mới tuyệt vời và cực kỳ khôn ngoan : trước hết là đổi mới tư duy kinh tế, nếu tiếp theo chúng ta chậm chạp trong việc đổi mới tư duy chính trị hoặc chỉ đổi mới một cách hình thức, chúng ta sẽ không tạo ra đủ thế và lực để chuẩn bị cho một trận quyết chiến chiến lược trên mặt trận công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Chúng ta phải bàn với nhau thật kỹ để chuẩn bị những mũi giáp công mới như công nghệ tin học, công nghệ sinh học ...

Vừa qua, Ần Độ đặt chỉ tiêu phần đấu xuất khẩu 50 tỷ đô la phần mềm. Ta thử tính toán xem chất xám của mình sẽ tạo ra bao nhiêu phần mềm để có thể xuất khẩu vào năm 2005 hoặc 2010 bằng 1/100 hay 1/1000 của họ ?

Có lẽ phải khẩn trương tạo ngay những đột phá mới về nền giáo dục để tạo lấy những lớp nhân tài mới cho đất nước. Ai cũng biết muốn có trò giỏi thì phải có thầy giỏi. Muốn có thầy giỏi thì phải tuyển được những học sinh xuất sắc nhất vào sư phạm. Muốn thu hút được những học sinh xuất sắc nhất vào sư phạm thì không thể kêu gọi suông mà phải bằng một chính sách, một chế độ ưu đãi. Các thầy dạy ở Sư phạm được hưởng thang lương đặc biệt, học sinh vào học sư phạm được hưởng chế độ học bổng đặc biệt. Tất cả các thầy các cô từ mẫu giáo đến đại học đều được hưởng lương cao hơn các ngành khác. Và chúng ta phải tạo ra một chế độ thi cử kiểu mới. Vì chính thi cử sẽ quyết định phương pháp giảng dạy. Thi mà chỉ khảo trí nhớ, người ta sẽ chỉ rèn luyện trí nhớ. Thi mà khảo sát về tư duy, người ta sẽ đi theo hướng rèn luyện tư duy (những phóng viên báo chưa hiểu về giáo dục và sư phạm chớ vội dè bỉu những phương pháp giảng dạy mới, chuyện này phải dành cho các nhà khoa học, những chuyên gia về phương pháp giảng dạy, không nên lấy đa số cha mẹ học sinh vốn được học theo phương pháp cũ và chính người viết báo cũng được học theo phương pháp cũ để lấy áp lực của đa số đối với cái mới. Những phương pháp mới như phương pháp của Hồ Ngọc Đại phải được thảo luận lại một cách nghiêm chỉnh cho hoàn thiện, không thể căn cứ vào một vài khuyết điểm, nhược điểm mà dè bỉu phủ nhận tất cả.

Loạt bài của Kiều Phan trên báo Sài Gòn giải phóng mắc sai lầm này.

Đổi mới tư duy chính trị trước khi đổi mới tư duy kinh tế như ở Liên Xô là hỏng. Đổi mới như ta là khôn, nhưng so với Trung Quốc lại là quá chậm chạp. Ta cứ than phiền là trừ diệt tham nhũng buôn lậu khó quá ! Chính người nhà nước ta tham nhũng, chính người nhà nước ta buôn lậu hoặc thông đồng với bọn buôn lậu mà ta lại sai họ đi bắt bọn buôn lậu thì họ bắt ai ? Chẳng lẽ lại bắt chính họ à ? Cũng là do đổi mới tư duy chính trị chậm chạp mà ra. Ta than phiền là không có tiểu thuyết hay, phim ảnh hay, mà ta đâu có thiếu những người viết kịch bản và đạo diễn tài năng. Cũng là do đổi mới tư duy chính trị chậm chạp. Không đổi mới tư duy chính trị thì làm sao đổi mới được tư duy văn học nghệ thuật. Mà không đổi mới tư duy văn học nghệ thuật thì có họp hàng trăm đại hội, có bầu hàng trăm ban chấp hành mới thì tình hình vẫn là giậm chân tại chỗ mà thôi.

Chúng ta cũng nên bỏ cái lối đổ sai lầm khuyết điểm cho cơ chế thị trường. Một thời chúng ta trút hết vào cái bị "phong kiến đế quốc sài lang", một thời thì trút hết vào cái bị "sản xuất nhỏ", bây giờ thì là cái bị "cơ chế thị trường". Thiên hạ cũng làm kinh tế thị trường - tại sao người ta lại phát triển, mình cũng làm kinh tế thị trường - tại sao mình lại trì trệ ? Không phân tích kỹ xem mình sai qui luật ở chỗ nào lại hò nhau đi "tu thân". Thật là hết sức nực cười, cứ làm như Dân mình là thứ dân hư hỏng, Đảng mình là thứ đảng hư hỏng. Thử nhìn lại xem, hàng ngàn năm qua và gần đây là 200 năm dưới triều Nguyễn, tổ tiên ông bà cha mẹ mình bảo nhau tu nhân tích đức, ăn hiền ở lành có giải quyết được vấn đề nghèo nàn lạc hậu không ? Nếu cứ tu thân và tề gia cho giỏi rồi mọi bất công xã hội tự nhiên biến mất, thế thì hò nhau đổi mới làm gì ?

Dân chủ hóa mọi lĩnh vực trong đời sống xã hội, bao gồm nhiều công việc, nhiều công đoạn, đòi hỏi tốn nhiều sức người, sức của và thời gian. Không nên nóng vội nhưng cũng không được phép rề rà nữa. Rất nhiều chủ trương hay nhưng chúng ta thực hiện rất lề mề chậm chạp. Cứ xem mấy việc cải cách giáo dục, cải cách hành chính là đủ thấy đáng sốt ruột như thế nào. Tại sao như thế ?

Đơn giản là vì ta đi nước cờ dân chủ hóa một cách quá chậm chạp mà việc quyết định cho việc dân chủ hóa thành công lại là nước cờ tự do ngôn luận !

Cải cách giáo dục sau ba chục năm loay hoay rồi đi đến thất bại là do chính nguyên nhân này. Bộ giáo dục của ta toàn làm ngược. Đáng lẽ phải cải cách sư phạm trước thì người ta lại đi cải cách phổ thông trước. Đáng lẽ phải cải cách phương pháp giảng dạy trước thì người ta lại đi cải cách nội dung giáo dục trước.

Lại thêm cái bệnh hình thức rất nặng bỏ qua cả những tính toán khoa học và nhiều điều hợp lý tối thiểu trong đời sống. Tự nhiên ai đó có "sáng kiến" nhập cấp I vào cấp II mà không thấy rằng cả bàn ghế lẫn nhiều thứ sinh hoạt khác không thể chung được. Lại thêm một "sáng kiến" nhập các trường Đại học với nhau thành Viện đại học quốc gia. Tất cả mọi vấn đề cải tiến cải cách đều có những ý kiến đóng góp đúng nhưng đều bị bỏ ngoài tai. Ý kiến sai và những ý kiến tung hô ý kiến sai thì được phép tràn ngập trên các phương tiện truyền thông, nhất là báo chí chuyên ngành. Ý kiến đúng thì hoặc bị chìm đi, hoặc không bao giờ được xuất hiện trên mặt báo chí. Ngay những ý kiến của những người tầm cỡ lớn như Tạ Quang Bửu, Nguyễn Cảnh Toàn còn bị gạt đi, huống chi tiếng nói của những người thường. Cái đúng mà không tạo được dư luận làm áp lực đối với cái sai thì sẽ bị cái sai đánh lui rồi lâm vào tình trạng bất lực hoặc thất bại. Khi người ta nhận diện được cái sai, thực tiễn xác nhận rằng đúng nó là cái sai thì thường đã mất đi hàng vài chục năm rồi. Vài ba chục năm là một thời gian không đáng kể đối với xã hội nông nghiệp "con trâu đi trước, cái cày theo sau", một xã hội hoàn toàn dựa vào tự nhiên và kinh nghiệm mà sống, không cần sáng chế phát minh lý sự dài dòng gì cả. Một xã hội như thế chỉ cần theo kinh nghiệm của các lão nông tri điền, chỉ cần hỏi ý kiến các già làng, các bô lão là giải quyết được hết. Đó là một nhịp điệu lững thững, từ từ, "dục tốc bất đạt", "ăn cỗ đi trước, lội nước đi sau".

Còn muốn xây dựng một xã hội công nghiệp hiện đại, người ta phải tính công việc từng năm, từng quí, thậm chí từng ngày, từng giờ và từng phút một. Ngay trước mắt là 2003 ta có vượt qua được AFTA hay không, đó là vấn đề. Mỗi sự chậm chạp sai lầm của hôm nay phải trả giá rất đắt ngay vào ngày mai chứ không xa xôi lâu lắc gì. Sống trong một xã hội thông tin mang tính toàn cầu hóa buộc mọi người, mọi dân tộc, mọi quốc gia phải có kiểu suy nghĩ mới để thích ứng. Thích ứng chậm thì bị đào thải nhanh. Mà muốn thích ứng nhanh thì lại phải nắm bắt được thông tin và xử lý kịp thời. Hiện nay, trên mặt nhiều tờ báo của chúng ta, người ta đưa ra những thông tin không những vô bổ mà còn có hại, vô tình hay hữu ý, người ta gây nhiễu về tư tưởng.

Chúng ta thiếu hẳn những cây bút viết xã luận sắc sảo, có những tờ báo hàng ngày bỏ hẳn mục xã luận, thiếu hẳn những cây bút viết phóng sự sinh tử với nghề. Do đó, có nhiều vấn đề xã hội nghiêm trọng không được điều tra phanh phu kịp thời. Có những ngân hàng, xí nghiệp, công ty quốc doanh cũng như tư doanh thông đồng, lừa đảo lẫn nhau, thua lỗ, ăn cắp, hối lộ, tham nhũng kéo dài hàng chục năm, phổ biến gần như trong toàn quốc, báo chí lại lờ đi coi như không hay biết gì. Ngay cả khi Tổng bí thư và Trung ương Đảng đã phát động phong trào dân chủ hóa cũng chưa báo nào dám cho phóng viên của mình đi làm phóng sự nhiều kỳ về một địa phương hay một ngành xem tình hình mất dân chủ cụ thể ra sao. Đáng buồn là một số bài bình luận viết hưởng ứng lời kêu gọi của Trung ương, cũng trích lời này lời khác của Tổng bí thư nhưng vấn đề dân chủ hóa thì lờ đi. Các từ chỉnh đốn, đoàn kết, phê bình, tự phê bình có đủ cả, riêng cụm từ "dân chủ hóa" thì không thấy. Hình như họ bị dị ứng với vấn đề này và từ ngữ này. Xem như thế mới thấy rằng, thiếu sự cạnh tranh trong lĩnh vực báo chí như hiện nay báo chí quốc doanh chơi một mình một chợ kiểu này là không ổn. Bản thân báo chí đã không phát triển lại còn góp phần vào làm trì trệ xã hội. Cái nguy là họ làm hại cho Trung ương. Nếu nhận được thông tin đầy đủ và phân tích khoa học được tình hình thì làm gì đến nỗi xảy ra những vụ việc đáng tiếc như vụ Thái Bình. Một cái hại khác là những ý kiến hay của Dân, của những trí thức chân chính không được thông tin đầy đủ cho xã hội biết, Trung ương cũng không biết.

Đọc bức thư của đ/c cố vấn Võ Văn Kiệt gửi các đ/c thường vụ tỉnh ủy các tỉnh thuộc khu vực đồng bằng Nam Bô (Sài Gòn giải phóng thứ bảy 15-1-2000), chúng tôi giật mình khi thấy đ/c cố vấn chưa thấy thực trạng của "thực trạng tình hình" vùng đất này.

Đ/c quan tâm đến tình hình ăn ở đi lại, nói chung là tình hình đời sống sinh hoạt vật chất của nhân dân sau 25 năm giải phóng vẫn còn thấp kém một cách đáng buồn. Đ/c cũng quan tâm đến việc kiến tạo các khu di tích văn hóa của vùng và yêu cầu đẩy mạnh hơn nữa việc xây dựng các khu du lịch văn hóa và cải tạo môi trường văn hóa, tự nhiên. Đ/c không khỏi ngạc nhiên khi thấy việc phát triển các khu sinh thái du lịch và việc đẩy mạnh các mặt sản xuất tốt như thế mà đời sống nhân dân lại không được nâng lên. Tại sao có tình hình như thế thì đ/c lại chưa bỏ thì giờ nghiên cứu để thấy hết những nguyên nhân đã tạo ra tình hình đó.

Với tư cách những người nghiên cứu KHXH, chúng tôi đã có dịp khảo sát tình hình của khu vực đồng bằng Nam Bộ từ thời đ/c Kiệt còn làm Thủ tướng và thấy rằng cần phải thấy thực trạng của mọi thực trạng, nghĩa là phải tìm ra những nguyên nhân và bàn cách khắc phục những nguyên nhân đó mới có thể chuyển biến được tình hình. Thí dụ : vì sao nông dân đồng bằng Nam Bộ được mùa mà vẫn khổ, càng được mùa lại càng khổ. Chúng tôi đã đến thăm một số gia đình nông dân ở khu tứ giác Long Xuyên Đồng Tháp vào thời kỳ được mùa. Nhà nào cũng chất lúa đến tận nóc và quây lúa chật cả sân nhưng không thể bán được cho ai. Đến nỗi mừng đám cưới cũng phải mừng bằng thóc và người ta cũng không thể nhận quà mừng của bà con vì bản thân người ta cũng ngập thóc rồi. Nhà nước thì không thu mua, tư thương thì ép giá. Có bán hết số lúa thu hoạch được, người nông dân cũng không thể nào lấy lại đủ vốn để tái sản xuất chứ chưa nói đến chuyện tái sản xuất mở rộng.

Chẳng rõ những ai đã tham mưu cho đ/c Võ Văn Kiệt đặt ra cái "độc quyền quota" và chắc đ/c cũng không ngờ rằng làm như thế là ta đã chuyển cái độc quyền xuất khẩu từ tay nhà nước sang tay tư nhân. Nhà nước độc quyền, dân đã khổ nhưng còn có mức độ, tư nhân mà độc quyyền thì vô hạn độ rồi. Và mọi chuyện trên đời đã độc quyền là hỏng. Do đó giai cấp tư sản quốc tế vốn sính độc quyền mà cũng đã phải "thức thời" bảo nhau ban hành hẳn những đạo luật chống độc quyền.

Cho nên trong văn bản "Chỉnh đốn để tồn tại và phát triển", chúng tôi đã viết " "Chính phủ Võ Văn Kiệt đặt ra độc quyền quota mà Dân phải chịu. Chính phủ Phan Văn Khải bỏ độc quyền quota thì Dân được nhờ".

Không thì ráng mà chịu, chẳng lẽ Dân chống lại đ/c và những người tham mưu cho đồng chí ? Một nhóm người làm sai mà thành ra mang tiếng cả Đảng, cả nhà nước Dân chủ. Dân không tin và không thể theo những người làm sai thì lại trách Dân là không tin Đảng, không chịu phục tùng Chính phủ, phục tục Nhà nước. Chúng tôi xin nhắc thêm một lần nữa : từ nay, không ai được phép nói Dân không tin Đảng hoặc giảm sút lòng tin với Đảng. Và cũng không ai được mượn danh nghĩa Đảng để làm sai rồi cứ đổ lỗi cho Đảng. Dân không chống những kẻ làm sai thì Dân khổ, Dân chết. Mà chống những kẻ làm sai để có thể tồn tại và phát triển thì lại bị qui là tội chống Đảng, chống Chế độ. Thế là nghĩa lý gì ? Thực ra, đ/c Võ Văn Kiệt cũng như tất cả những người cộng sản chân chính trải qua bao nhiêu năm vào sinh ra tử, có ai lại không mong cho Dân được sung sướng. Nhưng tham mưu giỏi thì không nghe, lại đi dùng những kẻ thiếu hiểu biết thì làm gì Dân không khổ.

Vừa qua, chúng tôi được biết đ/c muốn tổ chức 18 hội thảo ở 18 tỉnh và muốn xin Trung ương cấp kinh phí nghiên cứu cho một số công trình. Thế là đ/c có thiện ý, đ/c có cái tâm rất tốt. Nhưng đ/c lại tin và giao việc, giao tiền cho những người như giáo sư Nguyễn Công Bình, giáo sư Mạc Đường, ... thì hậu quả sẽ ra sao ?

Giáo sư Nguyễn Công Bình mười mấy năm làm Viện trưởng Viện KHXH tại TP Hồ Chí Minh từng làm chủ nhiệm vài chục công trình nghiên cứu, trong đó có những công trình nghiên cứu nhiều năm về đồng bằng sông Cửu Long. Thử hỏi ông Nguyễn Công Bình và cả tập thể những giáo sư tiến sĩ do ông chỉ đạo đã thực hiện được một công trình nào có chất lượng để đóng góp cho sự phát triển của khu vực và ngay TP Hồ Chí Minh là nơi Viện đóng ? Từ lâu dư luận cả trong lẫn ngoài Viện đều nhận định rằng trình độ hiểu biết khoa học của ông Bình chỉ chủ nhiệm một công trình còn khó hoàn thành, khả năng đâu mà làm chủ nhiệm hàng mấy chục công trình trên đủ các lĩnh vực.

Lại nói đến giáo sư tiến sĩ Mạc Đường, sau vụ ông Nguyễn Công Bình bị kỷ luật vì đã mắc nhiều sai lầm khuyết điểm (trong đó có khuyết điểm lớn là trù dập nhiều cán bộ khoa học có năng lực) nên ông được lên thay. Năng lực nghiên cứu Dân tộc học của ông thì mọi người đều hiểu cả. Sở dĩ ông nổi tiếng là do :

1. Trong 1 bài nghiên cứu đăng trên báo Sài Gòn giải phóng, ông Mạc Đường đã khẳng định nước ta xưa là một nước nửa thuộc địa, nửa phong kiến (trong khi giới nghiên cứu đã thảo luận và thống nhất từ lâu rằng nước ta là nước thuộc địa nửa phong kiến khác hẳn với Trung Quốc là nước nửa thuộc địa nửa phong kiến). Không kể người quản lý khoa học mà bất cứ người nghiên cứu khoa học nào cũng không được quyền sai về những tri thức sơ đẳng, cơ bản như vậy. Cũng trong bài báo này, ông Mạc Đường còn qui định thành phần cho một số lãnh tụ của ta như Hồ Chí Minh, Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp là thuộc "tầng lớp trí thức đi theo cách mạng". Dư luận TP Hồ Chí Minh và cả Thủ đô nữa xôn xao bàn tán. Đ/c Nguyễn Duy Quý có hỏi chúng tôi về anh Mạc Đường. Chúng tôi nói : đó chẳng qua là do trình độ và sự sơ xuất chứ bản thân anh Mạc Đường không có tâm địa gì.

2. Ông cũng nổi tiếng vì đã định hướng và chỉ đạo những hội thảo lớn ở cấp quốc gia và quốc tế, đặc biệt là hội thảo Gia Long và hội thảo Việt Nhật mà chúng tôi đã có bài phê phán và đến nay mặc dù đã có chỉ thị của giám đốc Trung tâm KHXH và Nhân văn quốc gia mà bản thân ông cũng như người em họ ông là tiến sĩ Đinh Văn Liên - giám đốc Trung tâm Sử học vẫn chưa nộp bản kiểm điểm để ông Trần Trọng Đăng Đàn đăng công khai lên tạp chí KHXH. Khuyết điểm nặng như thế mà cả hai ông đều vẫn là đảng viên đủ tư cách loại 1.

Hiện nay, cũng như ông Nguyễn Công Bình, ông cũng bỏ chuyên môn chính của ông là Dân tộc học để đi tham gia chương trình xóa đói giảm nghèo do Ford Foundation tài trợ. Một số cán bộ khoa học trẻ cũng noi gương ông tham gia những công trình nghiên cứu chẳng có quan hệ gì đến khả năng và trình độ chuyên môn của mình. Miễn có tài trợ là bảo nhau xốc tới.

3. Có lẽ ông nổi tiếng nhất là đã can đảm vô hiệu hóa một trung tâm đang hoạt động có hiệu quả là Trung tâm Hán Nôm (Chúng tôi sẽ có văn bản riêng để trình với Quốc hội và Bộ Chính trị về tình trạng "tuyệt tự" hiện nay của Trung tâm này. Chữ "tuyệt tự" là của ông Mạc Đường dùng trong dịp lễ tổng kết 2 năm hoạt động của Trung tâm Hán Nôm (1993) : "Thay mặt lãnh đạo Viện, chúng tôi xin hứa không để cho Hán Nôm bị tuyệt tự". Cho đến lúc chúng tôi đặt bút viết những dòng này thì Trung tâm Hán Nôm chỉ có duy nhất một nhân viên mới được tuyển vào biên chế. Giám đốc vừa đi hợp tác nghiên cứu ở Nhật về thì được các ông mưu mô cho về hưu ngay (cuối năm 1996). Cho về hưu lần trước không xong thì lần này chính thức cho về hưu (12-1999).

Tóm lại, cả hai ông trong 25 năm qua đều tích cực và chủ động góp phần phá vỡ kỷ cương nghiên cứu của một cơ quan khoa học cấp quốc gia. Nghiên cứu và tranh luận khoa học đích thực thì không quan tâm nhưng tranh luận và kiện cáo nhau về tiền bạc thì có phần sôi nổi do có sự mờ ám và thiếu công bằng.

Lại nói đến người kế cận các ông là tiến sĩ Nguyễn Thế Nghĩa. Có thể các bạn không có thì giờ đọc mấy cuốn sách đầy chất tư biện, lý luận suông của ông. Vậy thì chỉ cần đọc bài viết mới nhất của ông (ngày 10-2-2000) cũng đủ hiểu phẩm chất tư duy và trình độ nhận thức về lý luận và thực tiễn của con người này.

Chú thích : Đọc tại lễ kỷ niệm 70 năm thành lập Đảng và đón nhận huân chương lao động hạng ba, Viện KHXH tại TP Hồ Chí Minh : "Phát triển khoa học xã hội và nhân văn để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước ở các tỉnh miền Nam".

Trong toàn bài diễn văn dài 10 trang khổ A4, ông Nghĩa đã để ra 3 trang ca tụng Đảng với những lời lẽ khuôn sáo mà mọi người đã từng nói và từng viết cách đây ba, bốn chục năm, và nếu như ba, bốn chục năm sau có nhắc lại như thế cũng vẫn đúng. Như thế là ông Nghĩa đã đúng một cách rất sai. Vậy, ông Nghĩa sai ở chỗ nào ?

Ông Nghĩa đã để ra nửa trang để nhắc lại lời của đ/c Tổng bí thư Lê Khả Phiêu, nhưng vấn đề cốt tử mà đ/c Tổng bí thư nhấn đi nhấn lại trong những bài viết gần đây là vấn đề DẤN CHỦ HÓA đất nước thì ông Nghĩa không nhắc đến. Trong toàn bộ bài diễn văn, người ta cũng không tìm thấy cái cụm từ DẤN CHỦ HÓA cực kỳ quan trọng này. Ông Nghĩa cũng không ý thức được rằng trong những ngày chúng ta đang sống hiện nay, trong tình hình thực tế của giai đoạn hiện nay, các đảng viên không được nhấn công ơn của Đảng đối với Nhân dân (công ơn của Đảng thì quá vĩ đại, có ai không thấy mà cứ lặp đi lặp lại một cách vô bổ như thế). Hiện nay, đ/c Tổng bí thư cũng như nhiều đ/c cao cấp của Đảng yêu cầu phải nhấn mạnh công ơn của Nhân Dân đối với Đảng. Thử hỏi một đảng viên, hơn nữa lại là tiến sĩ triết học, được giao quản lý một Viện khoa học cấp quốc gia mà không hiểu thực tiễn, không hiểu vấn đề lý luận này, không nhạy bén với lời dạy của lãnh tụ thì nguy hiểm biết chừng nào ? Như thế là chưa cần các ông bàn rộng hay bàn sâu về lời dạy của lãnh tụ mà chỉ cần nhắc lại và giải thích CÁI ĐÚNG, ông Nghĩa cũng đã không làm nổi, nghĩa là còn dưới cả mức "minh họa".

Tình trạng đáng phàn nàn của ông viện trưởng Viện Triết học Nguyễn Trọng Chuẩn và ông viện trưởng Viện Khoa học xã hội tại TP Hồ Chí Minh, Nguyễn Thế Nghĩa là như thế đó ! Nếu có xếp các ông vào loại "hủ Marx" hẳn các ông lại kêu ầm lên là chụp mũ, oan ức cho các ông.

Thật là đau khổ cho một đất nước khi phải dùng những người như các ông làm lớp kế cận !

Chưa kể khi ông Nghĩa lại còn tự hào rằng Đảng bộ do ông lãnh đạo là một Đảng bộ trong sạch và vững mạnh, 100% đảng viên loại 1. Xin thưa với ông Nghĩa rằng nếu cơ quan ông là một cơ quan quản lý kinh tế thì tạm coi là được đấy. Nhưng cần nhớ rằng đối với một cơ quan khoa học sao lại có thể coi nhẹ vấn đề nhận thức chính trị, quan điểm học thuật và vấn đề phục vụ thực tiễn cách mạng. Đặc biệt là vấn đề tham mưu cho các cấp ủy, chính quyền nơi địa phương mình đóng.

Hóa ra, những đảng viên như ông Mạc Đường, ông Đinh Văn Liên, ông Phan An, ông Huỳnh Lứa v.v.. từng đứng ra chỉ đạo, định hướng hoặc tổ chức những hội thảo mang đầy tính chất xuyên tạc lịch sử như hội thảo Gia Long, hội thảo Việt Nhật lại vẫn đáng mặt đủ tư cách đảng viên loại 1 cả hay sao ?

Và bản thân ông Nguyễn Thế Nghĩa cũng rục rịch tổ chức hội thảo Việt Nhật lần thứ 2 (may mà có lệnh từ Bộ Chính trị bắt đình lại). Ông Nghĩa thử trả lời trước công luận : vì sao đã ra lệnh đình chỉ hội thảo "Phát triển kinh tế trang trại ở Nam Bộ" (mà ông lại ghi vào phần thành tích của viện). Vì sao ông lại nối gót ông Nguyễn Công Bình và ông Mạc Đường để tiếp tục vô hiệu hóa và làm tê liệt hoạt động của Trung tâm Hán Nôm. Cử nhân Hán Nôm Nguyễn Kim Dân đã trúng kỳ thi tuyển công chức của viện, vì sao ông không thu nhận mặc dầu ông đã hứa là nếu ông trúng cử viện trưởng, ông sẽ sửa cái sai của ông Mạc Đường và bà Nguyễn Cẩm Thúy ? 87 cử nhân Hán Nôm do Trường đại học tổng hợp đào tạo (theo thống kê năm 1996) hiện vẫn đang long đong đi xin việc ngoài ngành Hán Nôm của mình. Hơn 100 các vị cộng tác viên của Trung tâm Hán Nôm từ 5 năm nay không được triệu tập sinh hoạt, thế mà trong diễn văn của ông, ông vẫn hô to "Phải quán triệt và vận dụng một cách sâu sắc luận điểm : cách mạng là sự nghiệp của quần chúng". Ông còn cao giọng : "Đảng phải đi sâu sát quần chúng, nắm bắt nhu cầu, nguyện vọng của quần chúng để "việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân ta phải hết sức tránh".

Vậy, việc biểu dương ba hội thảo khoa học và bốn tập kỷ yếu (*1) có giá trị của Trung tâm Hán Nôm trong 5 năm 1991-1995 là "có hại cho dân" nên ông "phải hết sức tránh" chăng ? Việc này ông Mạc Đường đã không làm nổi vì "thiếu tình người" (Lời đ/c Nguyễn Đức Bình và báo Văn Nghệ Trẻ) nhưng nay trong phần tổng kết thành tích của Viện để nhận huân chương, ông Nghĩa cũng không làm nổi.

Cũng nên nhắc để ông Nghĩa nhớ rằng theo nhu cầu của bạn đọc và giới nghiên cứu thì trong 4 tập kỷ yếu đã có 3 tập phải tái bản. Riêng tập kỷ yếu Tuệ trung thượng sĩ với Thiền tông Việt Nam thì tái bản lần thứ hai (việc tài bản kỷ yếu của Trung tâm Hán Nôm) là hiện tượng hiếm có hiện nay.

Hiện tượng các bạn đọc ở trong nước cũng như ở Paris, Canađa, California hồ hởi đón nhận, chứng tỏ những công trình khoa học tập thể này thực sự đáp ứng được nhu cầu của công tác nghiên cứu và đời sống thực tế. Những công trình có giá trị như thế của viện, ông Nghĩa lờ đi không nhắc đến. Ông lại nhắc đến những đề tài mà ông và ông Mạc Đường mới đăng ký như :

- "Vấn đề giảm nghèo trong quá trình đô thị hóa ở TP Hồ Chí Minh".

Chúng tôi chưa rõ trên đã duyệt chưa và cấp cho các ông bao nhiêu kinh phí. Cũng nên nói thẳng rằng nghiên cứu hình thức như các ông chỉ góp phần làm nghèo thêm thành phố và đất nước. Và nếu các ông thực sự quan tâm đến những vấn đề thực tế nóng bỏng của xã hội thì những năm vừa qua các ông đã sốt sắng tham gia nghiên cứu đề xuất để phát hiện tình hình tham nhũng và làm giảm nạn tham nhũng ở thành phố chưa ? Không ! Hình như những vấn đề nóng bỏng như quan liêu, tham nhũng, mất dân chủ ... đều dị ứng đối với các ông.

Còn ông Nguyễn Thế Nghĩa gần đây với tư cách Viện trưởng đi khai mạc hết hội thảo này đến hội thảo khác. Với một giọng khuôn sáo, không tự ý thức được rằng mình đang "đúng một cách rất sai". Nói có sách, mách có chứng, ai không tin xin cứ mở Tạp chí triết học số 4/1999. để đọc một trong những bài nghiên cứu gần nhất của ông về Di chúc Bác Hồ.

Có thể nói không quá đáng rằng đây là bài viết đầy tính chất tư biện không hề đề cập và nhằm giải quyết một thực tiễn nào của xã hội hiện nay. Tất nhiên không thể bất công với ông Nghĩa là chỉ chê riêng bài của ông. Vì bài của ông Nguyễn Trọng Chuẩn - viện trưởng Viện Triết học ( ...) và cả bài của ông Nguyễn Duy Quý - giám đốc Trung tâm KHXH và Nhân văn quốc gia (...) cùng đăng trên số tạp chí đó cũng đều có nhược điểm chung như thế.

Cho nên nghị quyết của Trung ướng Đảng nhận xét và đánh giá rằng : Khoa học xã hội yếu kém và tụt hậu là không có oan. Điều chúng tôi muốn nói ở đây không phải là phân tích yếu kém cụ thể như thế nào (sẽ có bài riêng). Chỉ đáng phàn nàn về sự lãng phí tiền bạc của Nhân dân.

Ngay cái việc các ông in những bài lý luận tư biện, vô bổ trên tạp chí đã là một chuyện lãng phí rồi. Thế mà ông Nguyễn Duy Quý lại còn cử ông Hồ Ngọc Hải - phó giám đốc trung tâm đi máy bay từ Hà Nội vào để đọc một bài như thế. Ông Nguyễn Trọng Chuẩn cũng thế. Công bằng mà đánh giá thì lần này ông Chuẩn có khá hơn lần ông vào dự hội thảo kỷ niệm 150 năm bản Tuyên ngôn Đảng cộng sản, không những đã không có tham luận mà suốt cả một ngày họp, hội nghị trao đổi sôi nổi, nhưng riêng ông thì lặng im không có một ý kiến nào. Thế là mỗi lần các ông bay ra bay vô kể cả tiền máy bay lẫn tiền ăn ở, tiền tham luận và chiêu đãi, quà cáp, biếu xén là tốn hàng chục triệu của Nhân dân. Chắc những người bênh vực các ông sẽ nói : chúng nó còn lãng phí hoặc tham nhũng những hàng ngàn tỉ kia, chứ dăm ba chục triệu thì nghĩa lý gì. - Xin thưa với các ông vẫn là tiền thuế mồ hôi nước mắt của Nhân dân cả đấy ạ !

Nhân dân đâu có tiếc tiền chi cho khoa học, và trong lĩnh vực này, tiền bạc trở thành chuyện nhỏ. Chuyện lớn ở chỗ khi các ông được giao quyền cao chức trọng, giữ những quyền uy trong khoa học mà không làm gì bổ ích cho nhân dân, thì thật là nguy hiểm cho sự phát triển của đất nước : Các ông chiếm diễn đàn, chiếm mặt báo và tạp chí. Ngay mấy cuốn sách mà ông Nghĩa xuất bản gần đây cũng là một thứ vô bổ. Thử hỏi các ông có mắc tội tiếm quyền trong khoa học không ? Nhân dân cần các nhà khoa học chân chính nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đáp ứng những nhu cầu phát triển của xã hội và đất nước. Chỉ nhìn lại riêng 25 năm qua, khoa học xã hội của ta đã đóng góp được những gì ? Và tình hình bê bối khủng hoảng này làm đau đâu những đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, làm cho đời sống nhân dân sút kém cả về vật chất lẫn tinh thần, vậy các ông - những người được giao trách nhiệm lãnh đạo và quản lý khoa học xã hội có chịu trách nhiệm gì không ? Có nên tự trọng nhường chỗ cho những người có thực tài và giàu tâm huyết không ?

Ngay trong hội thảo 30 năm thực hiện Di chúc Bác Hồ, các ông cũng dám làm ngược lại những điều Bác đã dạy : Bác dạy phải thực hành dân chủ, thế mà suốt từ sáng đến chiều, các ông Hồ Ngọc Hải, Nguyễn Thế Nghĩa, Nguyễn Thanh Bình không dành cho hội nghị một phút nào để thảo luận. Ngoài việc các ông đọc tham luận hoặc đọc hộ nhau, các ông lại chỉ định những người ăn cánh lên đọc tham luận, nhiều người dự họp đã than phiền rằng các ông đã biến hội thảo 30 năm thực hiện Di chúc Bác Hồ thành mít-tinh kỷ niệm. Cái nguy là những tham luận có tính khoa học thực sự có phát hiện và đề xuất vấn đề mới thì không được mời lên trình bày. Các ông thì đưa lý do là không có thời gian, nhưng chúng tôi cho như thế là mất dân chủ.

Sinh thời, Bác Hồ rất quan tâm đến quyền lợi của phụ nữ, ngay trong Di chúc, Người cũng dành hẳn một phần nói về phụ nữ, nhắc nhở Đảng và Nhà nước ta có trách nhiệm bồi dưỡng và đưa thêm nhiều phụ nữ có khả năng tham gia bộ máy quản lý. Thế mà 34 bản tham luận của các nhà khoa học nữ (trong đó có 1 bản nghiên cứu về quan điểm của Bác Hồ đối với phụ nữ), tuyệt nhiên các ông không mời một người nào lên đọc. Thậm chí, sau 24 năm, lần đầu tiên Viện KHXH mới có một nhà khoa học nữ được cử làm Phó viện trưởng, các ông không mời lên ghế chủ tịch đoàn, cũng không thèm giới thiệu. Cũng như nhiều nhà khoa học có mặt ở hội nghị hôm đó, chúng tôi xấu hổ thay cho các ông khi các ông thản nhiên tiếp tục coi thường DẤN CHỦ và PHỤ NỮ ngạy tại hội thảo khoa học về Bác Hồ. Đáng buồn hơn nữa khi nữ phóng viên báo Sài Gòn Giải Phóng lại đăng bài ca tụng các ông. Thế mới biết ý thức được thế nào là Dân chủ và Nữ quyền thực là điều khó, khó hơn cả việc tìm đường lên trời !

Như thế là Viện khoa học xã hội tại TP Hồ Chí Minh qua ba đời viện trưởng không ông nào lo đến việc giải quyết những vấn đề nghiên cứu khoa học xã hội nhằm giải quyết thiết thực những vấn đề của TP Hồ Chí Minh. Ông Nguyễn Công Bình lại lo đóng vai trò "cai đầu dài" trong khoa học. Năng lực thì yếu kém mà ông dám chủ nhiệm hàng chục đề tài - thử hỏi riêng đề tài nghiên cứu đồng bằng sông Cửu Long (VIE) kéo dài ngót hai chục năm trời, tốn kém bạc tỉ của nhân dân, ông đã giải quyết được vấn đề gì. Gần đây, nữ phóng viên Hồng Quân lại viết trên báo Sài Gòn Giải Phóng ca ngợi ông Bình là : "nhà sử học nổi danh". Giới sử học chưa thấy ông có một công trình nào xuất sắc, thậm chí ông cũng chưa đề xuất được một vấn đề gì mới về sử học. Vậy, thì ông nổi danh về phương diện nào ?

Chẳng lẽ nữ phóng viên Hồng Quân lại muốn nhắc đến sự nổi danh của ông về vấn đề trù dập ba nhà khoa học của Viện, đã từng được dư luận và báo chí phê phán nên ông đã nhận kỷ luật ? Còn ông viện trưởng Mạc Đường thay ông, sau khi ông bị kỷ luật, lại chỉ lo tổ chức những hội thảo xuyên tạc lịch sử, bây giờ đến lượt ông Nguyễn Thế Nghĩa lại vẫn làm việc theo kiểu ngựa quen đường cũ và chưa nặn Bụt đã nặn bệ. Cả ba ông đều có tội rất lớn đối với văn hóa dân tộc, đặc biệt là đối với công tác nghiên cứu Hàn Nôm. Ông Bình thì sau khi đưa cụ Phạm Thiều về hưu rồi giải thể luôn bộ phận nghiên cứu Hán Nôm. Sau 11 năm bị giải thể, nhờ có giáo sư Trần Văn Giàu và giáo sư Đặng Xuân Kỳ, đơn vị nghiên cứu Hán Nôm mới được phục hồi. Trung tâm Hán Nôm hoạt động được 5 năm có hiệu quả thì ông Mạc Đường lại tìm cách làm cho lụn bại đi và bây giờ thì ông Nghĩa tiếp tục sự nghiệp của ông Bình và ông Đường. Cả một Viện khoa học hơn bảy chục cán bộ nghiên cứu, người có năng lực thì chán nản, kẻ bất tài thì lăng xăng bợ đỡ, chân ngoài dài hơn chân trong, đặc biệt người có năng lực và có thể làm việc tốt thì dứt khoát cho nghỉ, còn những người kém năng lực như ông Bình thì được giữ lại mặc dù đã 69 tuổi. Đúng là "đó rách ngáng chỗ". Đáng buồn hơn là cố vấn Võ Văn Kiệt không biết thực chất của ông Bình nên lại tin dùng. Các ông cùng với báo chí lại rước nhau lên để tham mưu cho cố vấn tổ chức đủ 18 hội thảo ở 18 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Thế là dân ta cứ nai lưng đóng thuế để cho các ông làm những việc vô bổ. Chúng tôi tình nguyện làm người giám sát xem các ông làm ăn ra sao rồi tổng kết để báo cáo cho Nhân dân biết.

Ở nước ta hiện nay có một tình hình đáng sợ là đua nhau tổ chức hội thảo, đua nhau đăng ký các đề tài nghiên cứu. Hội thảo nào cũng đọc những bản tham luận viết vội vã, sáo mòn, hoàn toàn kém chất lượng khoa học. Hội thảo nào cũng kêu thiếu giờ nên không tổ chức thảo luận nghiêm chỉnh. Công trình nào nghiệm thu cũng đều khá hoặc xuất sắc (riêng đề tài Hán Nôm ở Vĩnh Long của Nguyễn Thị Cẩm Thúy vừa qua lại triệu tập những người hoàn toàn không biết Hán Nôm đến họp nghiệm thu). Hầu hết các công trình đã được nghiệm thu ở cấp bộ cũng như cấp quốc gia trong lĩnh vực khoa học xã hội đều không thể phát huy tác dụng đối với cuộc sống. Mà phát huy làm sao được khi mà người ta đã sai ngay từ khi chọn đề tài. (Thí dụ như đề tài "Nghiên cứu và xây dựng CNXH không qua giai đoạn phát triển TBCN"). Chắc mọi người không thể tưởng tượng được rằng có những nhà khoa học nghiên cứu đề tài "chiến lược con người" mà bưng tai ngoảnh mặt làm ngơ trước tình hình thực tế của đời sống nông dân và công nhân hiện nay.

Đã có một nghị quyết của Trung ương nghiêm khắc đánh giá và phê phán những yếu kém của Khoa học xã hội nhưng nhiều người làm KHXH cứ lờ đi coi như không xảy ra chuyện gì. Những người quản lý khoa học ở Trung tâm quốc gia cũng như ở các Viện không thực thi một biện pháp thích đáng nào để thúc đẩy chuyển biến tình hình. Vì lụt thì lút cả làng, chẳng ai phải chịu trách nhiệm gì cả. Một câu hỏi được đặt ra : chúng ta định duy trì tình hình này đến năm nào của thế kỷ mới ? Chẳng cần nghiên cứu sâu sắc gì nhiều, người ta cũng có thể dự báo được rằng khi chúng ta tham gia AFTA 2003 thì tình hình thất nghiệp và đói khổ sẽ ra sao nếu chúng ta không biết lo sửa chữa ngay từ hôm nay ?

Xin chất vấn các nhà nghiên cứu :

- Nếu hàng hóa của thiên hạ ùa vào thị trường ta và tiêu thụ được, còn hàng hóa của ta ngay trên thị trường ở đất nước mình cũng không cạnh tranh nổi thì tình hình xã hội sẽ ra sao ? Không nên cho rằng tình hình quan liêu, tham nhũng, hối lộ, ức hiếp quần chúng đã đến mức trầm trọng như mấy năm vừa qua thì chỉ có các cấp lãnh đạo đảng và chính quyền, của từng địa phương phải chịu trách nhiệm, còn giới nghiên cứu KHXH thì vô can. Không phải như thế, những người nghiên cứu và quản lý nghiên cứu nếu còn lương tâm và ý thức trách nhiệm hẳn phải nghiêm khắc kiểm điểm lỗi lầm của mình đối với tình hình xã hội hiện nay. Chúng ta cũng phải công khai nhận lỗi trước Nhân dân, trước Đảng mới tỏ ra còn xứng đáng là những người nghiên cứu khoa học. Không đấu tranh kiên quyết để loại bỏ những phần tử dốt nát, cơ hội, cai đầu dài, ... trong nội bộ giới mình thì cũng là những tội lỗi không đáng được nhân dân tha thứ. Chúng ta phải biết bảo nhau thanh toán tâm trạng bất lực trước tình thế. Thử hỏi nếu thế hệ con cháu ta lại rập theo cái nề nếp nghiên cứu và đấu tranh như hiện nay thì đất nước này rồi sẽ ra sao ? Không phải chúng tôi quan trọng hóa vấn đề mà thực chất là vấn đề quan trọng như thế !

Tự mình làm sai qui luật, tự mình hủy hoại trí tuệ của mình, mình lại kiêu ngạo thành thần rồi tất cả lại đổ lỗi cho khách quan, cho hoàn cảnh. Trong cái cuộc sống đa đoan phức tạp này, ai mà chẳng "hoàn cảnh". Chẳng lẽ chỉ riêng mình có quyền "hoàn cảnh", còn người khác thì không. Mình "hoàn cảnh" thì yêu cầu mọi người rộng lượng, khoan dung, người khác "hoàn cảnh" thì mình lại xông tới phang đập túi bụi. Thế là công bằng chăng ? Thế là nhằm tiến tới văn minh chăng ? Cho nên trong buổi giao thừa đón năm 2000, lần đầu tiên nghe ông chủ tịch thành phố là đ/c Võ Viết Thanh, thay mặt Thành ủy và Ủy ban công khai xin lỗi nhân dân thành phố, chúng tôi thấy xúc động và hẳn nhân dân thành phố cũng mát dạ hả lòng. Có lẽ từ nay nên hình thành một phong tục mới, một nếp văn hóa mới, tất cả các thủ trưởng từ phường xã cho đến trung ương, bản thân mình làm sai hoặc các nhân viên dưới quyền mình làm sai, gây hậu quả nghiêm trọng thì phải đứng ra xin lỗi nhân dân. Cấp phường xã, quận huyện thì phải ra cuộc họp và đăng báo; cấp tỉnh, thành phố trở lên phải lên truyền hình công khai xin lỗi. Cần nhớ, ở những nước như nước ta, dư luận có sức mạnh rất to lớn. Nếu không tạo cho dư luận đúng một sức ép đủ để trấn áp cái sai thì tình hình sẽ là ngược lại. Vừa qua, có những tờ báo do cách đưa tin làm hoang mang dư luận xã hội. Chỉ cần nêu vài thí dụ điển hình là mọi người đã thấy sự vô lý. Dăm ba con nhà cán bộ có chức có quyền thoái hóa biến chất hoặc mấy đứa con nhà giàu sổi, cậy có tiền có bạc dám hỗn láo với thầy cô thì báo chí làm ầm ĩ lên như là đạo đức xã hội đến chỗ suy sụp, gia đình vô trách nhiệm với con cái. Nhân dân thì quên mất đạo Khổng Mạnh không biết thế nào là tôn sư trọng đạo. Cứ đọc những bài báo của ba vị phóng viên hoặc bỉnh bút này, người ta tưởng như xã hội trở nên đen tối, truyền thống dân tộc, bản sắc Việt Nam hầu như tiêu tán cả. Đất nước này đi theo cơ chế thị trường là khờ dại dễ đánh mất mình như chơi. Đúng là luận điệu hồ đồ bôi đen chế độ mà không tự biết.

Thử hỏi con cái của mấy chục triệu gia đình công nhân, nông dân và cán bộ viên chức tử tế, có ai dám hỗn với các thầy, các cô ? Ai dám không tôn sư trọng đạo ? Đáng lẽ vài chục năm qua báo chí phải hướng dư luận vào việc chống cường hào tham nhũng thì lại hướng dư luận vào những việc không đâu mà có hại như cổ động phục hồi hương ước. Họ tham mưu thế nào đến nỗi Thủ tướng ký một lệnh phục hồi hương ước. Họ không hiểu hoặc vờ không hiểu rằng hiện nay xã hội ta còn hương đâu nữa để mà ước. Xưa kia, hương ước hay còn gọi là lệ làng, là một thứ phương tiện, một thứ vũ khí để chống lại chính quyền Trung ương của giai cấp thống trị phong kiến. Vì thế mới có câu : "Phép vua thua lệ làng". Bây giờ lại bảo nhau đặt ra đủ các "lệ làng" mới thì nhằm chống chính quyền trung ương nào ? Phục hồi và phát huy truyền thống thì cũng tùy truyền thống mà phục hồi mà phát huy chứ. Một xã hội đang cần tập quyền đến cao độ, luật pháp đang cần được tập trung ở mọi lúc mọi nơi. Thế mà mỗi địa phương lại đặt ra lệ riêng, luật riêng thì công nghiệp hóa hiện đại hóa thế nào ?

Trong văn bản trước, chúng tôi đã phân tích và nay xin nhấn lại điều này : đừng tưởng dùng hương ước sẽ ổn định được tình hình nông thôn. Lợi bất cập hại vì nó tạo ra một tình hình lộn xộn về lâu về dài, trước mắt là nó đi ngược lại đường lối dân chủ hóa cơ sở của Trung ương. Các chi bộ dòng họ và các ủy ban xã sẽ làm biến chất Đảng ta và bộ máy Nhà nước ta. Thế là ngài Đinh Bộ Lĩnh phải bao nhiêu vất vả mới dẹp được mười hai sứ quân, những người anh hùng Tây Sơn mất bao mồ hôi, xương máu mới xóa xong ranh giới sông Gianh, rồi Đảng ta cùng với nhân dân 30 năm đổ xương máu mới xóa được tình trạng Bắc kỳ, Trung kỳ, Nam kỳ, xóa được giới tuyến Bến Hải. Thế mà nay ta lại định tạo ra hàng ngàn sứ quân mới. Nghĩ cũng kỳ !

Chúng tôi tin rằng nếu có những cơ quan ngôn luận tư doanh có tiếng nói phản bác lại, thì đấy là những dịp rất tốt để cho chính phủ trung ương cũng như các cơ quan chức năng có thể tham khảo dư luận từ nhiều phía để cân nhắc trước khi ra các thứ sắc lệnh hay chỉ thị.

Chúng tôi cũng xin nhắc lại để các vị nào hay sợ vấn đề "báo tư nhân" được yên lòng : không cho phép những người nào có nhân thân không tốt hoặc mang tư tưởng chống đối nhân dân và chế độ XHCN (thể hiện trong quá trình và nhất là trong bài viết hiện nay). Còn tất cả những ai được cấp giấy phép ra báo mà đăng những bài chống đối lại chế độ và nhân dân, nghĩa là vi phạm pháp luật hiện hành thì cứ việc ra hầu tòa. Chúng ta không bao giờ phải thực hiện dân chủ và nhân quyền đối với lũ người này mặc cho "quan thầy" của họ phản ứng.

Ai chẳng biết đậu mùa và nhiều thứ bệnh khác là nguy hiểm, nhưng khi đã chủng ngừa để tạo ra nội lực đề kháng thì còn sợ gì ? Khi chúng ta có cả quân đội, công an, tòa án, nghĩa là có một bộ máy chuyên chính dân chủ nhân dân cực mạnh và một Nhân dân cực tốt, chẳng lẽ chúng ta lại không đủ tự tin để chơi với đời hay sao, việc gì mà cứ phải e e ngại ngại. Chúng tôi tin rằng nếu tạo được một dư luận tốt rộng rãi trong xã hội, gây thành một sức ép hữu hiệu thì tất cả các vị quan liêu tham nhũng đều cảm thấy phải liệu thần hồn. Khi họ đã chùn tay hoặc đã sám hối để cải tà qui chính thì sao Đảng ta lại không vững, Chế độ ta không mạnh và Nhân dân ta lại không phấn khởi, vui mừng, tin tưởng ? Nếu ai cho quan điểm của chúng tôi là sai là "vẽ đường cho hươu chạy" thì xin mời thảo luận. Còn nếu ta cứ kiên quyết tiếp tục ngôn luận quốc doanh một mình một chợ thì thôi, chuyện đó đành nhường quyền cho qui luật và lịch sử phán xét !

Tóm lại, đối thoại thì dài dòng như thế nhưng chung qui, chúng tôi chỉ muốn nêu mấy vấn đề sau đây để cho những ai là người hiểu biết và có tâm huyết thì tham gia thảo luận :

1. Xây dựng CNXH ở những nước như nước ta - tiền tư bản và phong kiến tiên thiên bất túc - theo quan điểm của Lênin thực chất là xây dựng kinh tế TBCN dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và sự quản lý, điều tiết của Nhà nước dân chủ nhân dân (tuyệt đối không có chuyện đốt cháy giai đoạn hoặc vận dụng các qui luật kinh tế một cách nửa vời, trống đánh xuôi kèn thổi ngược).

2. Phải củng cố Đảng ta thật vững mạnh để đảm bảo cho Dân tộc vững mạnh và Đất nước phát triển. Phải đảm bảo sự độc quyền lãnh đạo nhưng không độc quyền quản lý. Đảng tăng cường về lượng nhưng trước hết phải coi trọng về chất. Như mọi sự vật trên đời - tế bào cũng như thái cực, Đảng phải nghiên cứu để tự tách, tự nhân mình lên để phù hợp với qui luật phát triển.

3. Tiết kiệm là quốc sách. Quốc hội và Hội đồng nhân dân các địa phương cần giảm về số lượng và tăng cường chất lượng. Quốc hội ở một nước có tình hình kinh tế chậm phát triển như nước ta, chỉ nên có khoảng 200 đại biểu. 50% do Đảng cử, 50% do Dân bầu. Những ai đã tham gia bộ máy hành pháp thì không tham gia bộ máy lập pháp. Các đại biểu Quốc hội được tập huấn đầy đủ về tri thức lập pháp và tạo đủ điều kiện, phương tiện để hoàn thành nhiệm vụ lập pháp và giám sát cơ quan hành pháp và tư pháp của mình.

4. Sửa đổi Hiến pháp. Hiến pháp 2001 phải được đổi mới cho phù hợp với yêu cầu phát triển của Đất nước trong thế kỷ mới trên cơ sở phục hồi những tinh hoa truyền thống của bản Hiến pháp 1946 do Hồ Chí Minh và trí tuệ của những trí thức trong Đảng và ngoài Đảng đương thời tạo dựng. Xóa bỏ điều 4 được sao chép từ Hiến pháp Liên Xô năm 1980 sau khi chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời (1969). Lý do cơ bản : vì chính điều 4 này đã làm cho các đảng viên cộng sản Liên Xô ngộ nhận, rồi tự đặt mình lên trên cả Xô Viết tối cao, trên cả Hiến pháp và pháp luật, thoát khỏi hẳn sự kiểm soát của xã hội, do đó điều ghi này trở thành một trong những nguyên nhân chủ yếu làm sụp đổ Đảng Cộng sản Liên Xô và tan rã Liên bang Xô Viết. Đây là một điều hết sức tế nhị : trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, Hồ Chí Minh và Đảng ta thực sự lãnh đạo và quyết định tất cả. Nhưng không bao giờ văn bản hóa để cho các đảng viên của mình tưởng nhầm rằng mình là siêu quyền lực và tự đặt mình ra "ngoài vòng pháp luật".

5. Thực thi nghiêm chỉnh đường lối "dân chủ hóa" mà Tổng bí thư Lê Khả Phiêu và Trung ương ta hiện nay đang xúc tiến. Trên làm trước, dưới làm theo. Đảng viên gương mẫu, quần chúng noi gương và giám sát. Sửa đổi Luật báo chí và xuất bản. Đảm bảo cho tiếng nói trung thực của Nhân dân và những người trí thức chân chính của Nhân dân thấu được tới tai mắt của Trung ương nhằm giải quyết kịp thời mọi vấn xã hội theo hướng đảm bảo an ninh chính trị, quốc phòng, văn hóa và tư tưởng.

Về mặt tâm thế xã hội, đã là người trí thức hoặc văn nghệ sĩ, họ phải được nói ra, viết ra những điều họ nghĩ; người bình thường ít học thì khi có điều bực bội, oan khuất, cũng phải được nói ra, kêu lên hoặc thở than giãi bày, mới thấy lòng mình được nhẹ nhõm, thanh thản. Còn vấn đề có được giải quyết hay không, giải quyết sớm hay muộn thì lại là chuyện khác.

Cấm đoán không cho người ta nói ra, viết ra hoặc viết ra lại cấm không cho người ta đăng báo hay xuất bản đều là mầm mống phát sinh mọi sự phức tạp hỗn loạn. Nếu lại để bùng nổ và thẳng tay đàn áp như ở Thiên An Môn, ở Quang Du thì sự phức tạp càng kéo dài.

Người làm ruộng khôn, người trị thủy giỏi không bao giờ để xảy ra tình trạng "tức nước", chứ đã để đến mức "vỡ bờ", "vỡ đê" thì chuyện lôi thôi lắm !

Có một điều ngẫu nhiên khá thú vị là hai người sống ở hai trời Đông, Tây, lại cách nhau hàng hai thế kỷ, thế mà ông Tổng bí thư Lê Khả Phiêu ở Việt Nam lại gặp đại văn hào Voltaire ở Pháp, và hai ông đều thấy tầm quan trọng của tự do ngôn luận. Vấn đề là mọi người có chịu nhất trí với hai ông hay không. Thế thôi !

6. Triệt để tuân theo chỉ thị của Thủ tướng Phan Văn Khải, chúng tôi trân trọng kiến nghị Tổng cục thống kê trung ương và các Cục thống kê địa phương rà soát và ghi chép cho đầy đủ tất cả mọi khoản tài trợ, viện trợ của nước ngoài. Từng dự án một do cá nhân nào chịu trách nhiệm lời lãi ra sao, nợ nần đọng lại là bao nhiêu ? Riêng các khoản tài trợ lặt vặt dăm ba trăm ngàn đô, vài chục vạn đô (như Hội nghị quốc tế Việt Nam học) hoặc vài chục ngàn đô (như Hội thảo Việt - Nhật) của các tổ chức Toyota Foundation, Japan Foundation, Sumitomo (Nhật), Ford Foundation (Mỹ), Sida (Thụy Điển).

Cũng cần yêu cầu thủ trưởng các đơn vị và cơ quan được tài trợ, báo cáo để thống kê cho đầy đủ, vì tuy trên danh nghĩa là có nhiều khoản viện trợ không hoàn lại nhưng thực tế họ nhằm thực hiện ý đồ gì, cần nghiên cứu tổng hợp mới thấy được. Ai cũng biết trên đời chẳng ai cho nhau không cái gì. Ví như Ford Foundation tài trợ cho Viện Khoa học xã hội tại thành phố Hồ Chí Minh - do ông Nguyễn Quang Vinh làm chủ nhiệm đề tài - thì ngoài "thiện ý" muốn giúp dân ta mau thoát khỏi đói nghèo, có còn thêm "thiện ý" nào nữa không ? Chúng tôi cùng những người làm khoa học chân chính cũng có trách nhiệm giúp đỡ các đ/c thực hiện công việc này một cách cụ thể và chi tiết.

Để làm gì ?

- Trước hết là để phân loại và nhận diện cho chính xác những ai làm khoa học thứ thiệt, những ai làm khoa học giả hiệu, ai thực sự đóng góp vào sự phát triển, còn những ai chỉ là "cai đầu dài". Những ai tổ chức định hướng cho đàn em bán tư liệu, bán mình, bán hồn, bán cả bí mật quốc gia lẫn tổ tiên ông bà ?

- Thứ nữa là giúp đỡ con cháu khi chúng phải kéo cày trả nợ thì nó biết được rõ danh tính "những ai gầy dựng cho nên nỗi này" chứ trả nợ đậy mà cứ ai oán ca cẩm chung chung thì thành vô duyên. Việc cấp phát kinh phí nhà nước cho các đề tài khoa học cũng nên thống kê đầy đủ như thế. Theo chúng tôi có lẽ nên tổ chức cho đăng ký công khai đề tài nghiên cứu và cũng nên tổ chức đấu thầu công khai các dự án để dần dần chấm dứt tình trạng tham lam ôm đồm, độc quyền và dối trá. Không nên kéo dài thêm tình trạng những người làm được thì không được làm, lại phải đi nhận việc lại từ những tay "cai đầu dài" trong khoa học kèm cả về năng lực lẫn phẩm chất.

Phải mạnh bạo thực hiện việc xã hội hóa và tư nhân hóa công tác nghiên cứu văn hóa, khoa học như đã làm với giáo dục và y tế. Chỉ thị của Phủ Thủ tướng thì có rồi nhưng việc chuyển biến nhận thức và thực thi thì còn quá ư lề mề chậm chạp. Những năm tới, nếu ta không đuổi kịp anh chị em trong khu vực về những mặt này hoặc cứ tụt hậu mãi với thế giới cũng phải qui trách nhiệm rõ ràng cho từng cá nhân quản lý và phụ trách chứ không thể đổ lỗi chung cho hoàn cảnh hoặc kêu ca Đảng và Nhà nước thiếu quan tâm. Nói khác đi là phải chấm dứt tình trạng "đó rách ngáng chỗ", "học phiệt", "liên minh ma quỉ" trong khoa học nhằm tạo cho lớp trẻ thực tài có đất dụng võ.

7. Cải cách toàn bộ hệ thống tư pháp. Ngoài việc đào tạo và lựa chọn để dựng lên một đội ngũ thẩm phán và công tố ủy viên có năng lực và phẩm chất thực sự thì việc đổi mới lề lối làm việc là hết sức cấp thiết.

Đảng lãnh đạo việc làm luật. Hiến pháp và các đạo luật đã biểu hiện rõ ý chí và quyền lợi của giai cấp và của nhân dân nên để cho người chánh án (mà ta thường gọi là chủ tịch hội đồng xét xử) và người ủy viên công tố và các luật sư tham gia tố tụng, căn cứ vào luật mà làm việc. Họ cần được chịu trách nhiệm trước cấp trên thuộc ngành dọc và trước Hội đồng nhân dân và Quốc hội. Không nên để việc xét xử phụ thuộc vào ý kiến của một vài cá nhân trong cấp ủy hoặc cấp chính quyền.

Nếu việc xét xử không công minh hoặc vi phạm pháp luật thì cần được phê phán hoặc tố cáo ngay trên phương tiện truyền thông đại chúng. Nếu được giám sát chặt chẽ như thế thì dứt khoát tòa án phải làm việc nghiêm túc hơn và lành mạnh hơn. Nếu ta cứ duy trì một cách hình thức các hội phán nhân dân như tình trạng hiện nay thì các hội thẩm nhân dân (hoặc không thạo luật hoặc thiếu bản lĩnh hoặc thiếu quyền hành) chỉ trở thành cái bình phong "tập thể hội đồng xét xử" để cho người chánh án nhẹ bớt trách nhiệm cá nhân của mình. Nếu người chánh án hiểu rõ ràng mình xét xử sai thì không những bị tố cáo trước dư luận và có thể bị truy cứu trách nhiệm trước pháp luật thì hẳn họ sẽ phải hành xử thận trọng hơn và đúng pháp luật hơn. Chính tự do ngôn luận - gồm cả báo chí quốc doanh và tư doanh sẽ trợ giúp đắc lực cho sự trong sạch hóa xã hội mà trước hết là tòa án. Chắc chắn sẽ xuất hiện nhiều Bao công hiện đại.

8. Vấn đề cuối cùng là vấn đề xử lý di hài của Bác. Nói về truyền thống thì thời Lý Trần coi trọng việc hỏa táng, thời Lê Nguyễn coi trọng việc đào sâu chôn chặt và xây đắp mồ to mả đẹp. Vua chúa đua nhau xây lăng tẩm. Theo Di chúc, Bác lựa chọn truyền thống hỏa thiêu vì Bác cho rằng hỏa thiêu vừa hợp vệ sinh, vừa khoa học, lại tiết kiệm được nhiều mặt. Bác cũng khuyến khích nhân dân nên lập thành một thuần phong mỹ tục mới là hỏa táng và tiến tới điện táng. Trước đây, khi chưa thống nhất đất nước, do đề xuất của một vài đồng chí ủy viên Bộ Chính trị nên Trung ương ta nhất trí bảo quản di hài của Bác nhằm đáp ứng nguyện vọng của đồng bào miền Nam. Nay, sau 25 năm giải phóng Miền Nam, thống nhất Tổ quốc, ta nên bàn bạc xem đã đến lúc cần thực hiện đúng lời di chúc của Bác chưa ? Chúng tôi trân trọng kiến nghị với Trung ương Đảng, Quốc hội và Chính phủ tổ chức một cuộc trưng cầu ý Dân trong cả nước (hoặc riêng với đồng bào Miền Nam cũng được) về việc có nên thực thi lời di chúc của Bác hay không. Bác dặn thiêu xong chia làm 3 hộp, nhưng chúng tôi đề nghị nên chia thành 4 hộp. Một hộp đặt ngay trước cửa lăng Bác cùng với một lư hương lớn để cho đồng bào, bà con Việt Kiều và khách nước ngoài đều có thể ghé viếng Bác và thắp một nén hương tương niệm. Lăng thì nên làm thành khu bảo tàng về Bác. Kinh phí hàng năm chi phí cho Lăng (thường trên dưới 80 tỷ đồng) nên dùng làm quĩ xóa đói giảm nghèo và xóa đi 1000 xã trắng chưa có trường lớp ở vùng cao.

Ngoài ra, chúng tôi trân trọng kiến nghị với Trung ương phát động một phong trào toàn Đảng và toàn Nhân Dân học tập lời Bác để tạo ra một nếp văn hóa mới : hỏa táng hoặc điện táng. Tất nhiên Đảng viên đi trước, làng nước theo sau, nhưng trong nội bộ Đảng thì hẳn là các đồng chí đảng viên cao cấp, nhất là các đ/c ủy viên Bộ Chính trị và các ủy viên Trung ương, cũ cũng như mới khi đến cõi sẽ làm gương trước.

9. Tất cả những vấn đề mà chúng tôi đã đối thoại trên 100 trang là để rút ra 8 điểm trên. Và đề xuất 8 điểm trên là để chúng tôi đi đến điểm thứ 9 này :

Trong tình hình quốc tế hiện nay, bằng mọi giá và bằng mọi cách, chúng ta phải củng cố và tăng cường được nội lực của nhân dân và đất nước ! Đó là điều chúng tôi thực sự tâm đắc với lời kêu gọi của đ/c Lê Khả Phiêu : Dân chủ hóa cũng là nhằm phục vụ cho mục đích cuối cùng này. Phải coi dân chủ là phương tiện và giàu mạnh là cứu cánh. Đã giàu mạnh, đã hùng cường thì ta mới nói chuyện giữ vững được TẦT CẢ. Hiểu đúng được như thế tức là chúng ta đã quán triệt được vấn đề cốt tử của tư tưởng Hồ Chí Minh mà người đã trình bày một cách cực kỳ giản dị và cô đọng trong phần cuối Di chúc của Người. Có một số người - trong đó có đ/c Trần Bạch Đằng - nhận định rằng phần bắt đầu Di chúc là quan trọng và kêu gọi mọi người là nên ôn lại phần bắt đầu (báo Sài Gòn Giải Phóng). Theo chúng tôi, phần kết thúc mới là quan trọng hơn tất cả. Mọi quá trình của đời sống tự nhiên cũng như xã hội đều quan trọng nhất ở phần kết thúc. Đ/c Lê Khả Phiêu hiểu đúng. Chúng tôi hy vọng mọi người cũng sẽ hiểu đúng. Chỉ có hiểu đúng, hành động đúng, chúng ta mới có khả năng đi đến thành công.

Chúng tôi tin vào sự thành công của Dân tộc và Đất nước trong thế kỷ mới là dựa trên cơ sở khảo sát lịch sử dân tộc, lịch sử Đảng Cộng sản và trên những nguyên lý Mác Lênin và nguyên lý Hồ Chí Minh.

Lịch sử đã minh định rằng khi nào Dân tộc - đặc biệt là hệ số cầm quyền mà thông minh, khôn ngoan, sắc sảo thì thắng lợi, ngược lại thì thất bại.

Từ trước tới nay, chúng ta luôn luôn ở vị thế một nước nhỏ nên tổ tiên ông bà ta buộc phải hiểu thế nào là vờ vịt và biết cách vờ vịt. Biết vờ vịt thì thắng, không biết vờ vịt thì bại. Tất cả những người kiệt xuất trong lịch sử đều giỏi vờ vịt về sách lược, giữ vững tính nguyên tắc và trung thực về chiến lược.

Còn biểu hiện được cả sách lược và chiến lược trong một tính thống nhất tuyệt vời như Ngô Thì Nhậm thì thật là hiếm có và con cháu không thể lơ là không tổ chức nghiên cứu một cách nghiêm chỉnh :

"Kính lạy thiên triều, chúng tôi là phận tôi con, không bao giờ dám chống lại thiên triều, nhưng vì quan quân của thiên triều đi cướp phá, chém giết nên dân phu trong nước chúng tôi không chịu được phải nổi dậy đánh đuổi, lại cũng do Tôn tổng đốc vụng việc cầm quân, nên thua trận. Trước sau chúng tôi vẫn một lòng thờ thiên triều, còn nếu thiên triều không cho giữ đạo thần tử thì chúng tôi cũng đành lỗi đạo".

(Biểu tạ tội - Ngô Thời Nhậm)

Hồ Chí Minh của chúng ta thì đã kế thừa một cách xuất sắc truyền thống này nên đã lái được con thuyền Việt Nam vượt mọi sóng gió để cập bờ thắng lợi. (Xin có chuyên đề riêng nghiên cứu về Người).

Trong lịch sử, Dân tộc mình chịu sức ép nhiều nhất là từ hai phía (Bắc và Nam). Nhưng hiện nay đúng là sức ép đủ tứ phía : cả phương Bắc lẫn phương Nam, cả phương Đông lẫn phương Tây.

Có lẽ nào chúng ta lại không cảm thông đầy đủ và sâu sắc với các đồng chí đang gánh vác sứ mệnh lịch sử, cầm lái con tàu Đất Nước vượt mọi thác ghềnh của thời đại để đưa Dân tộc hội nhập thành công với nhân loại.

Chúng ta thừa biết hiện nay thiên hạ đang say mê kinh doanh món hàng dân chủ và nhân quyền, vừa rao bán, vừa ép mua. Ta cần gì phải vội vã lắc đầu từ chối. Cứ "liên doanh liên kết chơi". Biết thừa đó là hàng ngoại dỏm, nhưng khi cần ta cứ nhập. Một mặt ta vận động bà con ta dùng hàng "dân chủ nhân quyền nội hóa", mặt khác, quyền xuất nhập khẩu trong tay ta, khi cần ta lại tái xuất. Đã buôn bán, đã cơ chế thị trường thì phải chấp nhận lời lỗ, rủi ro. Có sao !

G- Nhìn lại một thế kỷ bi tráng của Đất Nước, của Dân Tộc, đã là người Việt Nam, có ai lại không cảm thấy trong lòng dạt dào vui sướng tự hào có xen cả phần ngậm ngùi ai oán. Với những người Việt Nam tâm huyết lại còn canh cánh nỗi lo cho Việt Nam mình bước vào thế kỷ mới với năng lực và khí phách nào đây ? Đua chen với bè bạn ra sao để giành được một vị thế xứng đáng trong đời sống tương lai của nhân loại ? Thua giời một vạn không bằng kém bạn một li !

Cũng nên dự đoán : trên đường đi tới, những vinh quang nào và cả những nhục nhã nào đang chờ ta ? Đã qua đi rồi cái thời ai cũng cảm thấy nghĩ về mình, nói về mình như nghĩ và nói về một cái gì đáng xấu hổ. Nhưng chẳng lẽ ta lại chỉ dừng ở chỗ chỉ biết lo cho lợi ích riêng, lo khẳng định bản thân mình rồi chà đạp lên người khác, quên đi cả lợi ích và danh dự của cộng đồng, của Dân tộc và Tổ quốc ?

Không được phép quên đi quá khứ đau thương và hào hùng của Dân tộc. Nhưng bằng cách nào đây, với từng trang văn, trang thơ, từng khuông nhạc, từng giờ văn, giờ sử ta có thể giúp con em ta sống hòa theo nhịp tim, nhịp thở của Dân tộc trong từng biến cố lớn lao của trường kỳ lịch sử.

Làm thế nào khi đọc lên câu thơ :

"Làm trai đứng giữa đất Côn Lôn

Lừng lẫy làm cho lở núi non"

thì con em ta hình dung và cảm nhận được khí phách của Phan Chu Trinh và thế hệ của Người, và tất cả những thế hệ ông bà, cha mẹ, anh chị nối tiếp theo đều coi trọng đại nghĩa của Dân tộc và coi mọi thứ được gọi tên là hy sinh gian khổ là chuyện nhỏ :

"Gian nan chi kể chuyện con con"

Khí phách của tất cả những người con gái, con trai đất Việt là như thế đó !

Người xưa nói : "tay bẩn thì lấy nước mà rửa, nhưng NƯỚC bẩn thì phải lấy MÁU mà rửa". Máu của ai, nếu không phải là máu nóng của lớp lớp những người con gái và con trai của Dân Tộc. Sau 117 năm phấn đấu hy sinh (1858-1975), ta đã rửa xong nhục mất nước, nhưng còn cái nhục nghèo nàn và lạc hậu ? Cần đến bầu máu nóng của những ai đây ?

Quên quá khứ là không được, xuyên tạc hay phủ nhận sạch trơn quá khứ lại càng không được ! Nhưng bảo nhau đi giật lùi để say sưa ngắm nhìn quá khứ cũng không ổn !

Hoài niệm quá khứ hay ảo tưởng tương lai đều là vô bổ. Quá khứ với những kinh nghiệm quí báu nên thường là cần nhưng vừa phải thôi. Còn ngày mai ra sao chính là phụ thuộc vào cái hôm nay ta đang sống, đang suy nghĩ và hành động. Hiện tại mới chính là thước đo của mọi thứ giá trị trên đời này. Mọi giá trị ở quá khứ chỉ thực sự còn là giá trị khi vẫn thúc đẩy hiện tại phát triển.

Hẳn mọi người chúng ta đều xúc động nhìn hình ảnh Đại tướng - Chủ tịch Lê Đức Anh thay mặt Đất nước đem phiên bản trống đồng của thời Đức Tổ Hùng Vương dựng nước trao tặng cho đại diện của Liên hiệp quốc. Không phải chỉ là trống : đó là ánh sáng trí tuệ và thanh âm hào hùng của dân tộc, một biểu trưng của sức mạnh văn hóa Việt Nam. Phải bằng mọi cách giúp cho các cháu thanh thiếu niên của chúng ta cảm nhận và thức nhận được một cách sâu sắc giá trị cao cả tuyệt vời của cuộc Cách mạng tháng Tám và hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đưa Việt Nam từ thân phận tủi nhục, bị quên lãng lên một địa vị vẻ vang trên trường quốc tế.

Suốt mấy chục năm qua, báo chí và sách vở của ta luôn luôn nhắc đến công ơn của Đảng đối với Nhân dân; bây giờ trong dịp kỷ niệm 70 năm thành lập Đảng, đ/c Tổng bí thư lại nhắc đến công ơn của Nhân dân đối với Đảng. Đây không phải là chuyện nói qua nói lại cho lịch sự, lễ độ mà đó chính là chân lý lịch sử, mang ý nghĩa giáo dục sâu rộng, đối với THANH NIÊN ta, nhất là đối với những đảng viên nào đã chót đặt mình lên trên Nhân dân.

Trong Di chúc, có đoạn Bác viết :

"Tôi mong rằng Đảng ta sẽ ra sức hoạt động góp phần đắc lực vào việc khôi phục lại khối đoàn kết giữa các đảng anh em trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và chủ nghĩa quốc tế vô sản có lý, có tình" ...

Như thế là Bác Hồ của chúng ta đặt "dân tộc" lên trên hết và trước hết nhưng chưa bao giờ Bác quên "quốc tế". Trước khi vĩnh biệt cuộc đời, Bác vẫn không quên nhắc đến nhiệm vụ quốc tế của Đảng ta và cái cặp phạm trù lý - tình rất Việt Nam, rất Hồ Chí Minh này đã để cho giới nghiên cứu lý luận suy ngẫm và thảo luận.

Lý là một từ đa nghĩa nhưng nghĩa quan trọng nhất của nó là cái đúng, cái phải, phù hợp với qui luật và sự phát triển. Người ta thường nói đến thiên lý, vạn lý nhưng dù tranh cãi thế nào thì cuối cùng người ta vẫn phải chấp nhận cái lý của sự phát triển chứ không phải bất cứ cái lý nào khác. Do đó, hai cái lý đối lập nhau thì không thể coi cả hai đều đúng, đều có lý. Không ! Chỉ có một thôi !

Cái tình cũng thế. Thương yêu nhau là để giúp nhau phát triển. Chứ thương yêu để suy thoái thì cái tình ấy còn có nghĩa gì.

Người đời thường nói : "thương hại nó quá". Đúng là thương không phải nhẽ thì chỉ làm hại nhau mà thôi. Như vậy, ngay trong tình đã chưa đúng cái lý của nó rồi. Còn trong lý mà thiếu tình, người ta thường lâm vào tình trạng khô khan, cứng nhắc, máy móc. Có thể vẫn phát triển về mặt nào đấy nhưng lại thiếu đi sự hài hòa cần thiết. Sau hai thế kỷ phát triển nặng về lý, phương Tây đang tỏ ra ân hận và bắt đầu phân tỉnh. Phương Đông, nhất là Việt Nam ta lúc nào cũng nặng tình, về mặt nào đó đạt được sự hài hòa, nhưng lại không phát triển được. Vậy, có cần phản tỉnh không ? Đây là thời kỳ Đông Tây nên bổ sung cho nhau và cần tránh mọi sự kỳ thị. Tây thấy tình nghĩa phương Đông tốt đẹp thì nên học tập. Còn Đông thấy Tây có cái lý phát triển thì cũng nên noi theo.

Theo người xưa thì khó nhất là "thấu tình đạt lý". Rõ ràng, tình không thấu thì lý không đạt, không thể phát triển được. Nếu chỉ dừng lại ở tình, không vươn được tới lý, đạt được tới lý thì cộng đồng xã hội cũng không thể đảm bảo được sự hài hòa, ổn định thực sự và lâu dài. Không những không phát triển mà suy sụp là điều chắc chắn.

Có một số nhà nghiên cứu văn hóa không hiểu điều này, tưởng nhầm rằng ta thiếu tình nên cứ hô hào tăng cường mặt này. Trong thực tế, tình cảm làng xóm, tình cảm đồng bào, tình hữu ái giai cấp không hề thiếu và đó chính là một trong những nhân tố khiến cho mọi kẻ thù phải thua để ta đạt tới cái lý độc lập của ta. Họ không chú ý rằng : tình càng sâu thì lý càng cao, và lý càng cao thì tình càng vững. Do đó, mọi sự đối lập giữa tình và lý một cách thiếu biện chứng đều trở nên vô nghĩa, có hại cho sự phát triển. Điển hình là hiện nay rất nhiều người không xử lý đúng mối quan hệ tình cảm gia đình, họ hàng thân thích, cựu chiến hữu, anh hai - em út, ... nên đã gây ra những tổn thất lớn đối với sự nghiệp chung. Sao lại có thể dừng lại ở mức tình cảm hạn hẹp, cục bộ, để du di, a-dua hoặc bao che cho nhau, không đếm xỉa gì đến kỷ cương luật pháp. Dung túng, bao che để làm sai kéo dài hàng chục năm trời, cuối cùng phải đưa ra tòa án, vào trại giam, đúng là thương nhau như thế thì bằng mười hại nhau.

Nếu nhìn rộng và xa hơn một chút nữa thì cái lý toàn cầu hóa của thế kỷ XXI là không một dân tộc, một quốc gia nào tránh né được rồi. Vậy, ta phải chuẩn bị cái tình nào để đạt đến nó đây ? Riêng cái lý AFTA trong khu vực thì sát gần lắm rồi, chỉ chưa đầy ba năm nữa thôi. Khi đã bước vào vòng tự do hóa thương mại thì hoặc anh có sản phẩm tốt, với giá cả hợp lý, đủ sức cạnh tranh với thiên hạ, anh sẽ tồn tại và tiếp tục phát triển; hoặc anh không tiêu thụ nổi sản phẩm, lần lượt bị đóng cửa xí nghiệp, sập tiệm dần các doanh nghiệp nội địa công nhân thì thất nghiệp, nông dân thì bỏ ruộng đất đi lang thang, đói khổ sinh trộm cướp và các tệ nạn xã hội. Thôi, cứ thử hình dung rồi mỗi người tự rút ra kết luận.

Chuyện đời ai cũng thấy cả, nhưng vấn đề là bảo nhau rúc đầu vào cát chăng ? Bàn ngang, bàn lùi chăng ? Chỉ những kẻ này được quyền bàn, còn những người khác thì không ? Kẻ sai thì được quyền cao giọng, lớn tiếng, còn người đúng thì phải ngậm tăm chăng ?

Hay tất cả cùng lo toan, cùng bàn bạc, công khai và thẳng thắn, tìm ra bằng được mọi kế sách để có thể hội nhập thắng lợi và liên tục ca khúc khải hoàn ?

Vậy thì muốn đảm bảo cái lý hội nhập thắng lợi lại phải giải quyết thật tốt cái tình tự dân tộc. Hiện nay, tình tự dân tộc chưa tốt là do đâu ?

Chẳng qua là chúng ta chưa giải quyết tốt cái lý mà Bác Hồ đã đề cập trong Tuyên ngôn độc lập, trong Hiến pháp 46 và nhất là trong những dòng cuối cùng của Di chúc : "Xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh", và hiện nay chỉ còn lại là : dân chủ và giàu mạnh. Cái lý Hồ Chí Minh, cái lý Việt Nam là như thế đó ! Tất cả mọi thứ tình nào phục vụ cho cái lý này là đúng. Ngược lại, những thứ tình nào làm hại đến cái lý này đều là sai, phải lại bỏ. Xin miễn mọi sự ngụy biện.

Không dân chủ thì không thể giàu mạnh !

Không giàu mạnh thì lấy sức đâu mà chống lại mọi sức ép, nói chi đến định hướng này, định hướng khác.

Xin thưa với các vị trước đây đã phản đối "khoán" và hiện nay lại phản đối "cổ phần hóa" doanh nghiệp và luật tư do kinh doanh và bao nhiêu thứ chủ trương, chính sách hợp lý khác đừng có la lối rằng chúng tôi đang chệch hướng. Tất nhiên số khôn ngoan hơn thì bây giờ phản đối ngầm. Trên bảo bỏ giấy phép con, các vị không chịu bỏ. Các vị cũng thừa biết bỏ thì quản lý có hiệu lực hơn nhưng đồng thời cũng bỏ mất nhiều đặc quyền, đặc lợi. Nhưng luận điệu của các vị : không thận trọng thì thành vô chính phủ, thành TBCN mất !

Không ! Người ta sửa sang lại mọi chuyện là để phát triển và mau giàu mạnh đấy !

Cứ dân chủ là lập tức giàu mạnh !

Đã giàu mạnh thì ai ngăn nổi ta đi lên XHCN ?

Đã nghèo nàn lạc hậu rồi lệ thuộc tức là dậm chân tại chỗ hoặc nằm bẹp đấy. Còn đi nổi đến đâu ? Còn theo được định hướng nào ?

Vậy, vị nào đang "chân thành" phản đối chúng tôi hãy vui lòng bớt gào lên về CNXH đi ?

Cái tình của chúng tôi là nhẹ nhàng khuyến cáo các vị như thế đó. Nếu không, chúng ta lại phải giở lý với nhau thôi.

Ở đời, như các cụ đã dạy : nhẹ không ưa, ưa nặng.

Điều cuối cùng chúng tôi muốn nói rằng : trình bày đủ thứ dài dòng như trên một cách tình cảm cũng là để đi đến hy vọng, tất cả chúng ta thành tâm bàn bạc với nhau để đạt tới cái lý của Cụ Hồ.

Đ/c Tổng bí thư và chúng ta, tất cả những ai đã nắm chắc cái lý của Cụ Hồ, dứt khoát sẽ thắng lợi. Miễn là chúng ta không mất cảnh giác, không xao xuyến hoặc dao động trước mọi sức ép, đi ngược lại lý tưởng Cụ Hồ.

Đạt được lý tưởng Cụ Hồ cũng chính là thấu được tình nghĩa Việt Nam, đảm bảo cho tình nghĩa Việt Nam đã từng tỏa sáng trong lịch sử sẽ tiếp tục tỏa sáng trong thiên niên kỷ mới.

Người xưa nói : "Đạo là bất biến". Hiện nay, ta hiểu ĐẠO mà người xưa quan niệm chính là cái mà ta thường gọi là qui luật. Hiểu như thế thì phải thấy rằng ta phải theo ĐẠO, phục tùng ĐẠO, chứ uốn ĐẠO theo ý ta sao được. Vậy, cái ĐẠO của Hồ Chí Minh là gì ?

Có thì giờ mà bàn theo kiểu hàn lâm thì phải viết hàng tập sách, nhiều tập sách. Nhưng nói gọn lại thì chỉ cần chú tâm tìm hiểu lời già Hồ dặn già Huỳnh trước khi Người xuống tàu sang Pháp (Hội nghị Fôngtenbơlô) để bàn chuyện độc lập của Việt Nam ta : "Dĩ bất biến ứng vạn biến".

Có một cái "bất biến" mà Cụ Hồ đã mang trong mình suốt từ khi rời Bến Nhà Rồng cho đến khi an giấc ngàn thu : đó là cái gì vậy ?

Khoan hãy đi vào lý luận, cứ chịu khó đi ngược dòng thời gian là rõ tất cả thôi.

Vì sao Cụ Hồ đi theo Lênin và Đệ Tam rồi lại khẳng định rằng chủ nghĩa Lênin là đúng nhất ?

- Vì sao khi Cụ nằm trên giường bệnh ở Tân Trào lại dặn đ/c Văn (Võ Nguyễn Giáp) : "dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải giành bằng được độc lập" ?

- Vì sao bản Tuyên ngôn độc lập trở thành một áng văn bất hủ, một văn kiện lịch sử thiêng liêng của Dân tộc ?

- Vì sao năm 46, Cụ phải ra một quyết định đau lòng : giải tán Đảng Cộng sản Đông Dương ?

- Vì sao Cụ phải ngậm bồ hòn làm ngọt để ký hiệp định sơ bộ 6-3 và Tạm ước 14-9 và chua chát cay đắng nói trước quốc dân : "Đồng bào hãy tin rằng Hồ Chí Minh không phải là người bán nước".

- Vì sao sau chiến thắng Điện Biên "chấn động địa cầu", Cụ phải thuyết phục quân dân mình tạm dừng trước sông Bến Hải ?

Và biết bao cái vì sao nữa mà trách nhiệm của chúng ta và thế hệ đến sau phải tìm hiểu để tấy rằng tất cả những vui buồn sướng khổ, phải trái đúng sai trong suốt cuộc đời hoạt động của Cụ cũng chỉ phục vụ cho một cái bất biến : đó là sự nghiệp giải phóng dân tộc.

Cụ vốn là người tôn trọng nguyên tắc thiểu số phục tùng đa số, thế mà có lúc Cụ phải nói : Nghị quyết của Trung ương kỳ này tôi chỉ tán thành 3/4 thôi.

Cũng có lúc Cụ phải bao lưu ý kiến một cách cụ thể, đó là lúc ý kiến của Bộ Chính trị muốn in Hồ tuyển (tương tự sách Mao tuyển bỏ túi bên Trung Quốc) : Các cháu nhỏ còn đang thiếu sách, tôi đề nghị để dành giấy in sách vở cho các cháu học.

Hy vọng một ngày nào đó, mọi người đều được biết tường tận và đầy đủ tất cả những ý kiến bảo lưu của Cụ. Không phải để thể tất mà nhằm cảm thông sâu sắc và đầy đủ với một CON NGƯỜI đã hy sinh cả cuộc đời mình cho Dân tộc và Nhân loại, rồi từ đó rút ra những bài học : cảm thế nào, nghĩ thế nào, sống và hành động như thế nào để thực sự là bản chất NGƯỜI, bản chất VIỆT NAM.

Cái bất biến mà Hồ Chí Minh theo đuổi suốt đời mình cũng là cái bất biến mà Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyễn Huệ ... và bao thế hệ anh hùng liệt sĩ hữu danh hoặc khuyết danh đã vùng dậy và ngã xuống vì nó. May mắn thay, thời đại đã nâng cái bất biến của Hồ Chí Minh, cái bất biến ngàn đời của dân độc lên một tầm cao mới. Việt Nam độc lập nhưng lại phải là DẤN CHỦ CỘNG HÒA. Việt Nam độc lập rồi, thống nhất rồi, nhưng lại phải trở thành một Việt Nam DẤN CHỦ và GIÀU MẠNH.

Còn để dễ hiểu thì Cụ đã nói một cách hết sức dân dã rằng :

"Suốt đời tôi, tôi chỉ có một mong ước tột cùng là Nước ta được hoàn toàn độc lập, Dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành".

Thiết nghĩ đó chính là cái bất biến Hồ Chí Minh, cái đạo Hồ Chí Minh, cái chủ nghĩa xã hội Hồ Chí Minh.

Không thể có chuyện sùng bái cá nhân hay thần tượng hóa, tô hồng hay bôi đen, mặc cảm tự tôn hay tự ti vì thực tiễn bao giờ cũng là thước đo chân lý. Thực tiễn của thế kỷ XX và chắc chắn sẽ là mãi mãi xác nhận rằng Hồ Chí Minh của chúng ta là Việt Nam, là nhân loại, là ánh sáng. Ánh sáng Hồ Chí Minh (một tên gọi khác là tư tưởng Hồ Chí Minh) thực chất là ánh sáng của trí tuệ Việt Nam, của văn hóa Việt Nam. Không phải chỉ có Việt Nam độc quyền thụ hưởng, tất cả những người có lương tri trên hành tinh này đều mong muốn và có quyền được thụ hưởng.

Phất cao ngọn cờ DẤN CHỦ HÓA ĐẦT NƯỚC để phát huy mọi tiềm năng, tiềm lực của Dân tộc chính là phương sách duy nhất và tốt nhất để làm tỏa rạng ánh sáng Hồ Chí Minh, thực thi cái Đạo Hồ Chí Minh, cái chủ nghĩa xã hội dân tộc Hồ Chí Minh.

TP Hồ Chí Minh ngày 25-3-2000

TRẦN KHUÊ - NG.T.THANH XUÂN

Địa chỉ liên lạc:

Trần Khuê
296- Nguyễn Trãi , Quận Năm
Thành phố Hồ Chí Minh

Dt: 084.8.8363825

E-mail: trankhue@hcm.vnn.vn
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn