BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 36387)
(Xem: 33510)
(Xem: 33082)
(Xem: 24831)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Nhìn Lại Những Bến Bờ: Chương 8

14 Tháng Ba 201112:00 SA(Xem: 751)
Nhìn Lại Những Bến Bờ: Chương 8
50Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
00

Chương TÁM


Chiếc xe thổ mộ chở tôi về Trảng Lớn. Tôi muốn gây một sự ngạc nhiên cho Hoàng Văn Bảo, nên đã không ghé vào tòa Tỉnh trưởng Tây Ninh. Ngồi trên xe thổ mộ thưa khách, nhìn người mã phu già buồn bã, ngắm con ngựa ốm mệt mỏi trước giữa trưa nắng, tôi cảm giác nỗi gì đó thật xót xa, bùi ngùi vừa mới len lỏi vào tâm hồn tôi. Cảnh trí miền Đông thê lương lắm.


Đường gập ghềnh con ngựa gầy mệt nhọc
Kéo lê xe thổ mộ vài người
Ở đây ít nói ít cười
Buồn như nắng hoàng hôn
chầm chậm đổ
xuống núi Bà mờ mịt phía trời xa
Giàn hoàng lan gió làm sụp đổ
Tiếng ru con nức nở
nhịp võng đưa
Ù ớ ờ ơ …
Ví dầu cầu ván đóng đinh* …


Tôi thật sự bước xuống cuộc đời bằng những ngậm ngùi. Nỗi ngậm ngùi thứ nhất tính từ đói rách đi làm cách mạng. Đói rách đi làm cách mạng thì lô gích quá rồi. Nhưng không đẹp. Bởi đã có toan tính. Không đói rách, tình nguyện dấn thân làm cách mạng cho những ai đói rách, vì những ai đói rách mới đẹp. Nỗi ngậm ngùi thứ hai là tôi thấy một thứ cách mạng chống Mỹ, chống Nga, chống Pháp, chống Tầu, chống Vatican, chống toàn bộ tay sai của đế quốc, thực dân bằng gạo Mỹ viện trợ qua trung gian tay sai của Mỹ. Mà vẫn đòi tiêu diệt Mỹ và đòi tay sai Mỹ phải … tự sát ! Đám thừa sai của vĩ nhân Lý Đông A đã nhục mạ Lý Đông A. Nỗi ngậm ngùi thứ ba là tôi thấy tôi, chiến sĩ cách mạng Duy Dân, được cử đi học chống cộng lĩnh lương chấm công 50 đồng một ngày do tay sai Mỹ tổ chức và phát tiền. Nỗi ngậm ngùi thứ tư là tôi nhận diện lý thuyết gia chống cộng Trần Văn Thông, bậc thầy chống cộng của những kẻ chống cộng ăn lương của Ngô Đình Diệm. Nỗi ngậm ngùi thứ năm là tôi không được học chống cộng mà vẫn bị nhận bằng tốt nghiệp chống cộng. Nỗi ngậm ngùi thứ sáu là thời gian tôi ở Xóm quốc tế. Nỗi ngậm ngùi mới nhất, là đây, trên chiếc xe thổ mộ ì ạch lăn bánh dọc đường cát đỏ dẫn tôi về làng Trảng Lớn.


Bà mẹ của Hoàng Văn Bảo tiếp đón tôi niềm nở. Tôi cất hành lý rồi ra giếng công cộng múc nước tắm tại chỗ. Bảo chưa về. Buổi trưa nó ở lại sở. Bà cụ nói với tôi rằng bà nuôi hai khách trọ, một làm chung sở với Bảo, một làm ở phòng thông tin xã. Cả hai đều còn trẻ, độc thân. Người khách trọ thứ nhất gặp tôi trước nhất. Anh ta tên là Ngọc, Phan Minh Ngọc, tốt nghiệp khóa huấn luyện cán bộ thông tin 1955 tổ chức ở Khám Lớn. Tôi biết khóa này có Trần Văn Thông. Ngọc được đưa về Ty thông tin Tây Ninh. Ty cử anh ta về coi Phòng thông tin xã Trảng Lớn. Còn Thông, bí danh Trần Học, đang làm thầy chống cộng của Bộ thông tin. Nghĩ cũng bẽ bàng ! Nhờ Ngọc dẫn giải tôi mới rõ, nơi tôi đang có mặt là làng định cư Trảng Lớn, gồm toàn dân di cư theo đạo Thiên Chúa. Cha xứ nắm gọn quyền hành. Hội đồng xã chỉ là bù nhìn.


Làng định cư Trảng Lớn nằm phía tay phải, tính bằng lối từ thị xã Tây Ninh đi lên Bến Sỏi, sát hương lộ. Phòng thông tin bên ngoài lề đường. Nhà thờ tuốt bên trong. Đối diện Phòng thông tin, bên kia đường, là một cái quán bán nhà quê Bắc kỳ: canh bún, canh bánh đa cua đồng, nước trà tươi … Tôi hãy tạm biết thế.


Như mọi căn nhà của dân di cư Trảng Lớn, căn nhà của Hoàng Văn Bảo lợp lá, vách tre trát rơm ngào đất. Hàng xóm của Bảo là ông chủ sản xuất kiêm công nhân đóng quan tài. Xưởng chế sơ mi gỗ của ông ta cách tư thất của ông ta khoảng ba mươi thước. Buổi chiều, Hoàng Văn Bảo và người khách trọ thứ hai, Võ Văn Cư tan sở về. Phương tiện lưu thông của họ là xe đạp. Cư tóc quăn, mắt nâu, mũi cao. Bố anh ta là Pháp chính cống. Mẹ anh ta người Huế, dòng dõi tôn thất. Nhưng Cư không biết họ và tên bố và cũng chẳng hiểu tại sao mẹ anh ta ghép đại cho anh ta cái họ Võ. Chúng tôi quen thân nhau, sau bữa cơm chiều. Nhân Bảo nói tôi biết chơi đàn guitare, Ngọc chạy sang phòng thông tin vác cây đàn về. Tôi biểu diễn vài đường … “éc dẹc xít” của Carulli. Rồi tôi múa may nhiều “ác co”, nghêu ngao bài Đôi mắt huyền của Thông Đạt (tên ký chung của hai nhạc sĩ Mạnh Phát và Ngô Ganh):


… Đôi mắt huyền ơi
Hay chăng tôi yêu say mê nồng nàn
Ngày tháng phôi pha
Cô em hững hờ
Tình tôi bơ vơ …


Võ Văn Cư và Phan Minh Ngọc mê tít thò lò. Hai vị cán bộ xin tôi truyền nghề. Tôi cảm thấy mình sắp cà phê, thuốc lá vung vít rồi đây. Bèn nhận đệ tử. Tôi bảo ra giêng hãy tính. Khi tôi đến Trảng Lớn, Tết Nguyên Đán gần kề. Dân làng chuẩn bị đón chúa xuân rộn ràng lắm. 29 tháng chạp, mẹ con Hoàng Văn Bảo về Sài gòn ăn Tết với đại gia đình. Phan Minh Ngọc, Võ Văn Cư cũng về Sài gòn luôn. Một mình tôi ở lại giữ nhà. Chiến sĩ cách mạng Vũ Mộng Long ăn gạo Mỹ viện trợ, chống tất cả các thế lực vĩ đại trên trái đất, giã từ người yêu Trầm Tư lên đường lý tưởng chông gai để đóng vai “le chien garde la maison”. May cho tôi, em Trầm Tư không yêu tôi vì cách mạng Duy Dân, nếu không, tôi đã can tội lừa gạt ái tình, tước đoạt niềm tin của em. Em ơi, xin em thông cảm, chỉ vì anh đói rách, bất tài vô tướng nên anh đã nói dối em anh ra đi thi hành sứ mạng thiêng liêng của cách mạng. Anh đâu còn dính líu chi tới cách mạng nữa. Cách mạng hết khả năng nuôi anh rông dài yêu em. Anh đành “lê gót chân phong trần tha hương” tới “chiến khu” Trảng Lớn làm chó giữ nhà cho thiên hạ về ăn Tết với gia đình.


Bà mẹ Hoàng Văn Bảo kho nồi thịt, muối hũ dưa để lại. Tôi được phép giết một con gà mái dầu ăn Tết. Tôi mua lít rượu nếp than, hai tút thuốc Ruby, định sẽ uống đêm Giao thừa cho thủng dạ dầy, hút cho đen phổi. Nhưng đêm Giao Thừa, rượu rót đầy ly, tôi nhấp một ngụm đã chuếnh choáng. Nhìn khói thuốc, tôi nhớ gia đình. Nhớ ơi là nhớ. Tôi nhớ bố tôi. Tôi nhớ mẹ tôi. Tôi nhớ các em tôi. Nước mắt tôi ứa ra. Đó là những giọt nước mắt tha phương cầu thực đầu tiên của tôi. Tôi muốn ghi ngay nỗi nhớ chân thành của tôi, nỗi nhớ tôi đang ôm chặt trong cô đơn. Ở Trảng Lớn không có điện. Phòng thông tin chỉ cho cái máy phát điện nhỏ chạy vào những buổi phát thanh. Nhà thờ xử dụng máy phát điện riêng của nhà thờ. Vậy thì tôi lại bàn viết, khêu to ngọn đèn dầu, cầm bút viết một bài tùy bút nhớ mẹ. Tôi đốt thuốc lia lịa, loay hoay hàng tiếng đồng hồ không ra câu văn nào. Tôi chợt nhớ Đoàn Trọng Thu và tôi vỡ lẽ rằng, nỗi đau còn đang tươi rói không thể dàn trải ra văn chương được, phải đợi thời gian dài cho nỗi đau thấm vào máu, vào từng thớ thịt. Tôi nghĩ, câu này không tìm thấy trong bất cứ một cuốn sách nào bàn về nghệ thuật viết tiểu thuyết cả.


Không viết được, tôi uống rượu. Bây giờ, rượu vào bao tử tôi dễ dàng. Tôi quên nhớ, quên văn chương, quên tôi hiện tại, không nghĩ tôi tương lai. Tôi uống rượu. Tôi hút thuốc. Rồi tôi lăn ra ngủ …


o O o


Mồng 3 Tết, căn nhà lại đông đủ khuôn mặt cũ. Tôi sắp xếp chương trình làm việc của tôi.


Buổi sáng: Gánh nước đổ đầy hai phuy cho bà cụ. Tưới vườn cải bẹ xanh, xà lát cho bà cụ. Tôi làm việc để khỏi mang tiếng ăn bám.
Buổi trưa
: Dạy đàn Phan Minh Ngọc.
Buổi chiều
: Lên phòng thông tin đọc sách báo.
Buổi tối
: Dạy đàn Võ Văn Cư.


Gánh nước, tưới rau mất hai giờ. Tôi có khoảng trống từ 9 giờ đến 12 giờ. Khoảng trống buồn tênh này, tôi đem cuốn Carulli ra tập nhuyễn phần thứ nhất. Dạy đàn Phan Minh Ngọc mất một giờ. Tôi ngủ trưa một giờ, tắm gội rồi lên Phòng thông tin đọc báo cũ mèm, tạp chí Thế giới tự do và sách ca ngợi công đức và sự nghiệp của chí sĩ Ngô Đình Diệm và Những nét đan thanh trong lịch sử Hiệp chủng quốc Hoa kỳ. Tôi đọc hai ngày là hết sách báo của Phòng thông tin xã định cư Trảng Lớn. Đọc lại. Đọc đủ mục. Đọc quảng cáo, rao vặt, cáo phó, thông cáo, chia vui, chia buồn. Buổi tối, dạy đàn Võ Văn Cư lâu hơn. Chúng tôi đi ngủ trước 22 giờ. Một hôm, mò vào kho chứa báo phế thải, tôi vớ được bộ Đông Chu liệt quốc và bộ Tây Hớn chí. Đọc Đông Chu liệt quốc, mê ngay. Bèn bỏ rơi Carulli vì phần thứ hai khó nuốt, thiếu thầy giỏi chỉ dẫn, kể như mù. Tôi đem sách ra xưởng chế sơ mi gỗ của ông hàng xóm, kiếm khúc cây làm gối, nằm dài trên nắm quan tài đọc truyện Tầu. Ông chủ, tên là Bá, cứ việc kéo cưa xẻ gỗ, không phản đối. Bản dịch Đông Chu liệt quốc này xuất bản ngoài Hà nội trước 1954, mất trang ghi tên dịch giả, đọc rất dễ hiểu. Tôi đọc quên ăn, khiến bà cụ phải gọi hoài. Đêm tôi thắp đèn đem sách ra xưởng chế quan tài của ông Bá đọc ngấu nghiến. Tôi đọc hết Đông Chu rồi quên hết Đông Chu, chỉ loáng thoáng nhớ Kinh Kha, Tần Thủy Hoàng, Ngũ Tử Tư, Tây Thi, Bao Tự. Sang Tây Hớn chí thì khó đọc vì văn dịch của người miền Nam do Tín Đức thư xã xuất bản. Tuy nhiên Hạng Võ và Lưu Bang tranh hùng đã làm tôi thích thú. Nghĩ rằng loại sách này lâu lâu đọc một lần mới nhập tâm. Do đó, tôi không đọc lại ngay.


- Này Ngọc, ông còn truyện Tầu không ?


- Ra thư viện tỉnh mượn.


- Ông mượn được chứ ?


- Dư sức.


- Vậy ông mượn giùm tôi.


Thế là Ngọc khuân Phong thần, Đông Hớn chí, Tam quốc chí, Thủy hử về. Tôi đọc say sưa. Tôi hiểu lịch sử Trung Hoa mạch lạc từ Phong thần qua Đông Chu liệt quốc, Tây Hớn chí, Đông Hớn chí, Tam quốc chí. Tôi sẽ kiếm Thuyết Đường, Tàn Đường, Tống Nhạc phi … theo nhà xuất bản quảng cáo, để nối tiếp Tam quốc chí. Hiểu lịch sử theo dã sử tiểu thuyết thú vị lắm. Một hôm, vì thư viện cho mượn hết truyện Tầu, Ngọc đem về hai cuốn Kho tàng trong động maPhiêu lưu trên sông ** dịch từ tiếng Anh của Mark Twain. Tôi đã từng mê Anh em thằng Việt, Thằng Việt nghỉ hè, Thằng Còm, Thằng Còm phục thù của Lê Văn Trương; Thằng Kình, Thằng cu So của Nguyễn Đức Quỳnh, David Copperfield của Charles Dickens, Le petit chose của Alphonse Daudet, hôm nay, đọc Mark Twain, tôi mê thằng Tom Sawyer và thằng Huckleberry Finn quá xá. Tôi đọc nhiều lần. Rồi, bỗng nhiên, tôi buồn bã không thiết đọc sách nữa. Tôi nghĩ, lúc này tôi có thể học được, học sẽ vào lắm, học một hiểu mười nếu tôi được đi học và được thầy giỏi dạy. Tôi thèm đi học, thèm đến trường, thèm lên đại học. Nếu tôi không tốt nghiệp đại học, tương lai tôi sẽ mờ mịt và có làm thơ hay như Nguyễn Bính cũng chỉ đến:


Ở mãi kinh kỳ với bút nghiên
Đêm đêm quán trọ thức thi đèn
Làm thơ đem bán cho thiên hạ
Thiên hạ đem thơ đọ với tiền


Tôi hiểu trí tôi đã sáng ra một tí. Đọc Đông Chu liệt quốc rồi đọc loạt bài nhận xét nhân vật Đông Chu của các ông nhà báo, tôi khó chịu cái lối nhận xét khen “phò mã tốt áo”. Nhà báo khen Ngũ Viên, tôi chống lại, cho rằng Ngũ Viên là tên phản quốc. Y thù riêng Sở Bình Vương, đem quân Ngô về tàn sát dân nước Sở. Nhà báo nương truyện, phong Chuyên Chư, Yêu Ly là dũng sĩ, nghĩa hiệp, tôi coi hai thằng này là hai tên giết mướn ngu xuẩn. Tôi chống luôn lời bàn “phò Hán” của Mao Tôn Cương. Với tôi, Tào Tháo mới đáng mặt anh hùng và đại lượng. Ít ra, Tào Tháo đã không giết Quan Công, đã không bắt văn sĩ Trần Lâm đi “học tập cải tạo”, dẫu Trần Lâm, khi theo Viên Thiệu đã viết hịch chử Tào Tháo thậm tệ: “Nó chửi ta chưa đủ, còn đem cha ta ra chửi”, Tào Tháo hận Trần Lâm dường nào !


Chừng tôi thèm học hành chăm chỉ thì bố tôi tận ngoài Bắc, không ai giúp tôi ăn học cả. Mọi sự dở dang. Và cuộc đời không có ai để phần cơm chờ đứa trẻ mồ côi ngang qua cả. Tôi đọc nhiều sách rồi cũng đến gánh nước, tưới rau. Hay có làm cách mạng thì lại “chém tre đẵn gỗ trên ngàn”.


Cho nên chán đọc sách, chán tập đàn. Rồi tôi chán cả dạy đàn, vì đệ tử của tôi vừa dốt lại vừa ngu. Chúng nó không thích học ký âm pháp, chỉ khoái học tủ. Như đệ tử Cư “còm măng” tôi dạy đệm bài Thoi tơ, “chơi van xơ, xô lô một câu”. Nó cóc cần biết “tăng pho” ở đâu, “tăng phép” ở đâu, cóc cần luôn nốt nhạc. Nó học “tay đờn miệng ca” bằng … lời ca thôi.


- Ông giảng dễ hiểu hơn được không ?


- Được.


- Tôi nghe đây.


- Chình chát chát, Chinh chát chát, Chình chát chát, Chinh chát chát … Nhịp “tờ roa ca” chơi thế. Nhanh là “van xơ”, chậm một tí là “van lăng”, thật chậm là “bốt tông”. Chình là “tăng pho”. Pho là mạnh, quại thật mạnh. Chát chát là “tăng phép”. Phép là yếu, quại nhè nhẹ. Hát đi !


- Em lo gì trời gió.


- Tốp. Em quại chình thêm cái chát lo quại chát quại chinh thêm cái chát trời quại chát gió quại chình …


- Chình, Chinh, Chình, Chinh khó phân biệt quá.


- Vậy dễ hơn nhé ?


- Tốt.


- Em là Cam, Gì là bòng, Gió là quýt. Bắt đầu … Cam chát chát, Bòng chát chát, Quýt chát chát, Nho chát chát, Ổi chát chát, Sung chát chát … Cam chát lo bòng chát trời quýt chát chát. Nho chát lo ổi chát trời sung chát chát … Em lo gì trời gió, Em lo gì trời mưa …


- “Mê tốt” số một.


- Nhưng sung chát, đào chua, tớ không nuốt được. Cậu tự học đi !


Không đọc sách, không tập đàn, không dạy đàn, tôi chỉ còn công tác gánh nước, tưới rau và lãnh thêm công tác bổ củi. Thì giờ thừa thãi, tôi rủ mấy thằng nhóc dạy chúng đánh cờ tướng để chúng nó tôn tôi làm sư phụ. Thầy trò tôi ngồi trên quan tài lên xe, xuống ngựa. Tôi đâm ra khoái mấy ông nhô. Thấy chúng nó sấp xỉ 12 mà chẳng đứa nào biết đọc, biết viết, tôi bầy trò dạy nhô con học chữ. Tôi xin giấy bút của Phòng thông tin phát cho nhô con. Chúng nó khoái học nên học nhanh lắm. Ông Bá, chủ nhân xưởng nhà đòn, gạ dạy tôi xẻ gỗ đóng quan tài trả tiền công đàng hoàng. Tôi nhận lời. Thế là tôi thành thợ xẻ, ca bài tủ:


Kéo cưa lừa xẻ
Ông thợ nào khỏe
Được ăn cơm vua
Ông thợ nào thua
Thì về bú mẹ


Tập kéo cưa xẻ gỗ một tuần, tôi hết ê ẩm tay chân mình mẩy và tay nghề tạm được. Ông Bá trả tôi 50 đông một ngày. Tôi ăn ngủ ở nhà Hoàng Văn Bảo, trả nợ cơm áo bằng gánh nước tưới rau, bổ củi. Tôi dậy sớm hơn lo công việc của bà cụ xong xuôi để đúng giờ kéo cưa xẻ gỗ. Buổi trưa, được ngủ một tiếng, tôi bỏ ngủ, dạy học mấy ông nhô. Tôi mong sống ở Trảng Lớn yên ổn vài tháng để có khoản tiền dắt túi đề phòng ngày nào đó phải ra đi. Tôi ngán sự bấp bênh rồi.


Tính ra, tôi “tạm trú” ở Trảng Lớn đã hơn ba tháng. Bà cụ muốn tôi dừng bước giang hồ vài năm. “Cho đến khi Bảo đổi về Sài gòn”, bà cụ nói thế. Tôi chưa vội đi và cũng chẳng biết đi đâu. Ở đây, mỗi sáng tinh mơ, đều có chiếc xe đò nhỏ của người di cư từ Bến Sỏi ghé qua, bóp còi inh ỏi và chú lơ oang oang hỏi “Có ai đi Sài gòn không ?”. Tôi không biết những tiếng còi tầu nào đã réo gọi máu giang hồ của Nguyễn Tuân và đã tạo cảm hứng Một chuyến đi của ông. Nhưng mà nghe tiếng còi xe đò sáng sáng, tôi râm ran những cảm giác phiêu lưu. Đôi khi, tôi muốn quên Trầm Tư. Đôi khi, tôi muốn bay về Sài gòn, ôm gọn nàng trong vòng tay, hôn nàng say đắm và nói thật với nàng cái cuộc đời rách nát của tôi. Tôi nhớ Trầm Tư, tôi nhớ lần đầu tiên làm tình với nàng ở Vũng Tàu tưởng có thể chết vì sung sướng. Chúng tôi lênh đênh. Chúng tôi ngất ngưởng. Tôi sẽ làm gì cho Trầm Tư vui ? Tôi làm được gì ? Vậy tôi đành phải quên nàng. Tôi nên để nàng bình yên mơ ước. Đời sống đã rắc rối. Tình yêu còn rắc rối hơn. Khổ nỗi, lúc tôi bảo tôi quên Trầm Tư là lúc tôi nhớ nàng nhất. Mà lạ thật, tôi chưa hiểu rõ cuộc đời nàng, nàng cũng không thèm hiểu rõ cuộc đời tôi.


Đã nhiều lần tôi viết thư cho Trầm Tư. Rồi tôi xé đi. Vì thư của tôi toàn chuyện dối trá, bịa đặt. Tôi không thể vẽ chiến khu tưởng tượng lừa gạt Trầm Tư. Người chiến sĩ cách mạng, nếu tôi viết cho nàng, sẽ không bao giờ gánh nước, tưới rau, bổ củi, xẻ gỗ cho lý tưởng … bao tử cả. Người chiến sĩ ấy càng không bao giờ nằm trên nắp quan tài đọc truyện Thủy Hử tiêu phí thời gian. Có lẽ, tôi phải nói thật với nàng.


Một hôm, tôi quyết định về Sài gòn thăm Trầm Tư. Tôi đứng ở góc phố Phan Thanh Giản nhìn cổng ngôi chùa quen thuộc chênh chếch bên kia đường. Tôi biết Trầm Tư đang ngồi trong đó, chỗ chúng tôi đã tỏ tình. Tôi cứ đứng ì, hút thuốc lá liên miên, nửa muốn băng sang đường, nửa không muốn. Chợt tôi nhớ Xuân Diệu:


Không gian như có giây tơ
Bước đi sẽ đứt động hờ sẽ tan


Và Hồ Dzếnh:


Đời mất vui khi đã vẹn câu thề
Tình chỉ đẹp những khi còn dang dở
Thư viết đừng xong, thuyền trôi chớ đỗ
Cho nghìn sau lơ lửng tới nghìn xưa


Và tôi bỏ đi. Nghĩ rằng, ngày thay đổi trong vòng 24 giờ, người đổi thay chỉ cần một thoáng qua. Tôi sợ thêm sự bẽ bàng. Hãy cứ hiểu Trầm Tư vẫn yêu tôi, đang nhớ tôi … Tôi ra bến xe miền Đông, trở lại Trảng Lớn ngay buổi chiều.


o O o


Trong bốn thằng nhóc tôi dạy học có thằng tên là Hải thông minh nhất. Tôi không biết nhà nó ở xóm nào thuộc xã Trảng Lớn. Một buổi chiều, Hải dắt một người đàn ông đến xưởng đóng quan tài của ông Bá, lúc tôi đã nghỉ cưa và đang nằm suy nghĩ vẩn vơ trên nắp quan tài.


- Anh ơi, bố em tìm anh.


Tôi ngồi dậy. Bố thằng nhóc Hải lễ phép:


- Chào cậu giáo.


Tôi ngẩn ngơ:


- Không dám, chào ông. Tại sao gọi tôi là cậu giáo ?


- Thưa, cậu dạy cháu Hải biết đọc, biết viết.


- Chuyện nhỏ mà. Nó sẽ đọc thông, viết thạo, làm tính …


- Cám ơn cậu. Cháu nó nói muộn quá, nay tôi mới biết.


- Ông đừng cám ơn tôi.


- Cậu khai tâm cho cháu, tôi biết ơn cậu. Thưa cậu …


- Chi đó ông ?


- Gia đình tôi sửa soạn bữa ăn, xin mời cậu chiếu cố.


- Ông bà bầy đặt quá.


Không thể nào từ chối, tôi phải nhận lời tới nhà nhóc con Hải “dùng tiệc”. Tôi bảo bố thằng Hải về trước, còn nó, nó chờ tôi tắm gội thay quần áo. Buổi tối, tôi vào xóm trong, gần nhà thờ. Người ta thiết đãi tôi một bữa thịt chó thịnh soạn. Tôi cảm động thấy đủ mặt bốn tên học trò và cha mẹ của chúng. Người ta bàn mở một lớp dạy trẻ em trên 10 tuổi chưa biết đọc, biết viết nhờ tôi dạy và trả lương cho tôi. Người ta không muốn tôi xẻ gỗ vất vả.


- Cậu giáo nghĩ thế nào ?


- Tôi sẽ dạy các em mỗi tối, không cần lĩnh lương.


- Chúng tôi không nỡ để cậu làm việc nặng nhọc.


- Vậy các ông kiếm người khác.


Cuối cùng, tôi vẫn kéo cưa xẻ gỗ với ông Bá và tối tối đi đánh giặc mù chữ. Lớp học của tôi có 15 học trò cả trai lẫn gái, mù chữ từ ở ngoài Bắc, vô đây xấu hổ không dám học chung với trẻ nít lớp đồng ấu. Ông già Thành cho mượn gian nhà làm lớp học. Cháu gái ông là học trò của tôi. Cô con gái út của ông già Thành lo đèn dầu, bảng phấn, bàn ghế … Tôi dạy theo phương pháp riêng của tôi, học trò không buồn ngủ và ham học. Một tháng liền, không đứa nào vắng mặt. Chúng nó chăm chỉ và tiến bộ nhìn rõ. Mọi người yêu mến tôi. Tôi trở thành sự cần thiết cho một số người. Và tôi coi đó là hạnh phúc của tôi. Cha sở rất bằng lòng công việc của tôi. Ông thường tặng tôi thuốc lá và khuyên tôi vào đạo. Người bằng lòng tôi nhất là cô Hiên, con gái út ông già Thành. Khi tôi dạy học, cô Hiên đứng cửa lớp nhìn tôi say đắm. Cô gái quê này có vẻ đẹp hồn nhiên, không son phấn, nước hoa.


Một buổi tối, lớp học vừa tan, ông già Thành níu tôi lại ngồi uống trà với ông. Gọi là đàm thoại, thực ra, ông ta muốn phóng xe vận tải vào đời tư của tôi.


- Ngoài Bắc cậu giáo ở đâu ?


- Thái Bình.


- Gia đình di cư vào Nam ở đâu ?


- Tôi di cư một mình.


- Tại sao thế ?


- Bố mẹ tôi cho tôi lên Hà nội học, tôi trượt tú tài không dám về nhà, tôi vào Nam luôn …


Tôi phịa chuyện:


- Vào Nam tôi chán học, đi giang hồ đây đó. Tôi về Trảng Lớn, định chơi với anh Bảo vài tuần, thấy đây vui, ở thêm ít lâu. Vì cần tiền xe cộ cho những chuyến giang hồ sắp tới, tôi xẻ gỗ kiếm chút tiền.


Ông già Thành gật gù:


- Cậu đúng là tay giang hồ. Thôi, giang hồ đủ rồi, dừng bước đi.


Ông ta nhấp ngụm trà:


Tới đây thì ở lại đây …


Ông không dám đọc thêm:


Cùng con gái lão xum vầy thất gia …


Ông già thuộc Lục Vân Tiên và biết áp dụng đúng lúc, đúng người. Ông ta tán tôi giùm cô Hiên.


- Đằng cậu Bảo có tiện không ?


- Tiện ạ !


- Đến tôi ở cho nó rộng rãi.


- Cám ơn ông.


Hết tuần trà tôi cáo từ ra về. Ông già Thành dục con gái út:


- Hiên, con đưa anh về tận nhà đi !


Ông già nhà quê này coi bộ Tây hơn cả Tây. Cô Hiên ngoan ngoãn đưa tôi về. Rồi tối nào cô cũng đưa tôi về. Dân làng quý mến tôi, muốn tôi lấy cô Hiên, không ai xầm xì, dị nghị cả. Kể ra, chiến sĩ cách mạng hơi thất thế. Đang cấp thành ủy tụt xuống cấp xã ủy. Ông già Thành tận dụng chiến thuật “Lửa gần rơm lâu ngày cũng bén”. Mà lửa bén rơm thật. Đi sát cô Hiên tôi đâm ra nghiện cái mùi thơm hoa đồng cỏ nội. Tôi thấy cô như thơ quê mùa Nguyễn Bính.


Có một tối trời đầy trăng, tôi hỏi cô Hiên:


- Cô dám đi chơi khuya với tôi không ?


- Tùy cậu.


- Cô không sợ bố cô à ?


- Bố em đã cho phép.


- Thật chứ ?


- Dạ, thật ạ !


Tôi dẫn cô Hiên đi trên hương lộ hướng ra thị xã Tây Ninh. Một quãng khá xa, tôi cầm tay cô, dắt cô rẽ xuống con đường mòn. Đến cái chuôm, sát vườn cà của người địa phương, chúng tôi kiếm chỗ tốt ngồi nhìn trăng sao trên mặt nước. Tôi đặt tay lên vai cô Hiên. Cô run rẩy.


- Cô sợ hãi à ?


- Không ạ, em không dám ạ !


- Cô không dám gì ?


- Em không dám sợ cậu.


Tôi hôn tóc cô Hiên. Hương tóc cô cơ hồ phảng phất mùi hoa cau, hoa bưởi, hoa lý. Tôi hít hà tóc cô. Tôi hít hà da thịt cô. Cô Hiên hay là Ngây của Tô Hoài ? Tôi hay là Hời của Tô Hoài ? Không, Ngây và Hời đã chết năm 1940. Cô Hiên và tôi đang sống và bây giờ là 1956. 14 năm, nhiều biến cố. Cách mạng và chiến tranh đã biến 14 năm thành 140 năm. Nhiều thứ đã biến hút. Nhiều điều đã nát vụn. Cái tốt chìm lún. Cái xấu mọc cao. Sự rung động của lén lút hẹn hò chẳng còn. Nỗi bâng khuâng giảm sút. Tôi ôm chặt cô Hiên. Cô đẩy tôi nhẹ nhàng, lấy lệ. Tôi hôn má cô. Tôi hôn môi cô. Cô Hiên chưa biết hôn. Tôi dạy cô hôn. Cô học hôn thật chóng. Tôi luồn tay sau lưng cô. Da thịt cô mát rượi.


- Cô Hiên !


- Dạ.


- Cô có yêu tôi không ?


- Em yêu cậu.


- Tại sao cô yêu tôi ?


- Em không biết.


- Cô có sợ tôi không yêu cô không ?


- Em không biết.


- Cô Hiên !


- Dạ.


- Nếu mai đây tôi bỏ đi, cô có buồn không ?


- Em không biết.


- Cái gì cô cũng không biết, vậy cô biết cái gì ?


- Em chỉ biết em yêu cậu.


Tôi đẩy khẽ. Cô Hiên nằm trên lớp cỏ tươi. Cô duỗi thẳng chân chờ đợi dâng hiến. Tôi cúi thấp hôn ngực cô. Rồi tôi kéo cô ngồi dậy, dìu cô đứng lên. Có trăng sao làm chứng, cô Hiên tỉnh giấc hồn nhiên. Vẫn đó, hoa hiền …


o O o


Năm nay mưa hơi muộn. Giữa tháng năm mới thấy trận mưa đầu mùa báo hiệu những trận mưa ủng đất kéo dài đến cuối thu. Tôi ở Trảng Lớn hơi lâu rồi. Kể từ hôm tôi kéo cưa xẻ gỗ cho ông Bá, giữa tôi và sinh hoạt văn nghệ, báo chí Sài gòn hoàn toàn xa lạ. Tôi không đọc báo nữa, dù là báo cũ. Tôi cũng chẳng đọc thêm cuốn sách mới nào. Văn nghệ, với tôi, đã trở thành một thế giới mù mịt, bí ẩn, hoang đường. Có vẻ thiêng liêng nữa. Văn nghệ ví như đất thánh. Mà tôi, kẻ ngoại đạo. Tôi ôm mộng trở thành nhà văn cũng giống những kẻ tưởng mình sẽ câu được trăng sao in hình trên mặt nước. Tôi muốn sống cuộc đời đơn giản thôi. Trước ngày lên Ban mê thuột học triết học nhập môn để đi vào Duy Dân chủ nghĩa, tôi đã hì hục khuân tảng đá văn nghệ. Tôi nghĩ rằng sự hì hục văn nghệ của tôi, của những ai mang tâm sự tôi, chỉ nhắm mục đích lấp đầy cái mặc cảm học hành ấm ớ, nghèo đói. Và vây vo với mấy thằng ngây thơ cùng tuổi. Và hãnh diện với mấy em gái ngớ ngẩn. Ở Ban mê thuột, đàn anh bơm căng tâm hồn tôi: Cách mạng có thừa khả năng đào tạo tôi thành Bộ trưởng hay thành nhà văn lỗi lạc mà khỏi cần bằng cấp cử nhân, tiến sĩ. Bây giờ, tôi nhìn rõ tôi hơn. Sự vất vưởng trên bước đường tha phương cầu thực đã giúp tôi nhìn rõ tôi. “Thôi, giang hồ đủ rồi, dừng bước đi”, tôi nghe lời ông già Thành vậy. Tôi sẽ ở đây, lấy cô Hiên làm vợ. Cô Hiên buôn bán chợ gần hay cô Hiên làm rẫy làm vườn. Tôi nhờ cha sở xoay sở chân hương sư. Tôi sẽ là giáo làng, giáo rỉ suốt đời gõ đầu đám trẻ quê ngô nghê. Tôi sẽ hút thuốc lào, sẽ triết lý quèn … Tam quốc chí diễn nghĩa trong mâm thịt chó rượu đế. Chắc chắn, tôi phải học giáo lý nhà Chúa. Rồi tôi sẽ nghiên cứu Thánh Kinh. Biết đâu, về già, tôi chả trở thành ông trùm họ đạo. Đời sống sẽ bình yên vô cùng.


Tôi ngỏ ý cưới cô Hiên làm vợ với bà mẹ của Hoàng Văn Bảo. Bà cụ tán thành ngay và hứa sẽ đóng vai đại diện đằng trai trong ngày hôn lễ. Ông già Thành bằng lòng quá rồi. Tôi học giáo lý với cha sở. Cô Hiên mừng rỡ lắm. Coi như cô Hiên đã là vợ tôi. Chúng tôi tự do đi chơi với nhau ban ngày, ban đêm. Cũng thiệt thòi cho cô Hiên. Vì những chiều ở Bến Sỏi hay những đêm dạo chơi dưới ánh trăng trên các lối mòn Trảng Lớn, bên cạnh cô Hiên tôi cứ tưởng bên cạnh Trầm Tư. Tôi vẫn yêu Trầm Tư tha thiết. Tôi không phụ bạc Trầm Tư, tôi thèm Trầm Tư vô cùng. Nhưng cái mặc cảm nghèo đói, thất học bắt tôi xa Trầm Tư, xa vĩnh viễn.


Bao giờ bến mới gặp đò
Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau
***


Bến có thể gặp đò. Hoa khuê các thì không bao giờ gặp bướm giang hồ cả. Trầm Tư, em là hoa khuê các, anh là bướm giang hồ, em hiểu chưa ? Nếu trái tim như trái cam, trái tim anh có nhiều múi và mỗi múi tim anh đồn trú một tình yêu. Múi tim này, nơi đồn trú của tình yêu mẹ anh; múi tim này, nơi đồn trú của tình yêu bố anh; múi tim này, nơi đồn trú của tình yêu em anh; múi tim này, nơi đồn trú của tình yêu vợ anh; múi tim này, nơi đồn trú của tình yêu con anh; múi tim này, nơi đồn trú của tình yêu bạn anh; múi tim nay, nơi đồn trú của tình yêu em; múi tim này, nơi đồn trú của tình yêu sự nghiệp anh …


Nhờ cô Hiên, tôi được hưởng những đêm trăng thanh bình của một làng quê Tây Ninh. Thi sĩ Vũ Anh Khanh sinh trưởng ở Tây Ninh đó. Tha La xóm đạo của ông ở Trảng Bàng cơ. Tác giả những tiểu thuyết kháng chiến chống Pháp như Nửa bồ xương khô, Xin phủ mặt tôi bằng mảnh lụa đào. Vũ Anh Khanh làm tôi sảng khoái lối viết bốc lửa và tâm hồn yêu nước mãnh liệt của người Nam bộ. Ông đã chết, chết khi tài năng của ông đang thăng hoa. Thơ của Vũ Anh Khanh truyền cảm xúc động. Để biết ơn người văn nghệ ấy, tôi còn thuộc hai câu thơ của ông nằm trong bưng biền thống trách dân Sài gòn hờ hững với sự nghiệp chiến đấu chống giặc Pháp xâm lược bảo vệ nền độc lập của dân tộc Việt Nam:


Hỡi cô con gái đô thành nội
Ai điểm trang mà em phấn son


Hai câu thơ này vẫn còn giá trị lắm đấy. Nhất là với các ông tuổi trẻ tự hào 12 năm bỏ quê hương Việt Nam, các ông ấy đã “tóc dài, mặc áo rộng, mặc quần ống túm” và các ông phi cầm phi thú đồng ý với “quan điểm” mất gốc. Tôi nói biết ơn thi sĩ Vũ Anh Khanh, tôi nói thêm: Tôi biết ơn tất cả thi sĩ, văn sĩ làm thơ, viết văn trước tôi. Không có họ sẽ chẳng bao giờ có tôi. Những kẻ vô ơn đối với tiền nhân, đối với những người văn nghệ đi trước mình, chắc chắn, không bao giờ khá nổi. Anh có thể hay hơn Trương Vĩnh Ký, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Nhất Linh, Trương Tửu, Lê Văn Trương, Túy Hồng, Nhật Tiến, Lê Tất Điều, Thanh Nam, Văn Quang, Mai Thảo, Đỗ Tiến Đức, Hà Huyền Chi, Dương Nghiễm Mậu …, nhưng anh đừng quên mỗi người tôi vừa kể đã là một bến bờ dọc con sông dài văn học Việt Nam. Dòng sông không bến bờ là dòng sông buồn tẻ. Dòng sông chỉ có một bến một bờ là dòng sông thảm não. Anh sẽ là một bến bờ trên dòng sông đã nhiều bến bờ. Anh không xóa nổi các bến bờ văn học đâu. Thiếu bến bờ cũ sao mà thẩm định giá trị bến bờ mới ?


Tôi thả dài những ngày nghỉ kéo cưa xẻ gỗ, tha thẩn khắp làng Trảng Lớn, lân la làm quen nhiều bà mẹ, nhiều người chị Nam bộ. Tôi thấy vắng vẻ đàn ông, thanh niên ở Trảng Lớn. Hỏi thăm tôi mới rõ đàn ông, thanh niên tập kết ra Bắc sau hiệp định Genève 1954. Cảnh trí buồn bã trong những gia đình có con, có chồng đi tập kết đã găm vào hồn tôi một suy nghĩ mới. Tại sao người ta nỡ bỏ mẹ già, vợ dại, con thơ tập kết ra Bắc ? Tại sao người ta nỡ bỏ mẹ già, vợ dại, con thơ di cư vào Nam ? Kẻ ra mong trở vào. Người vào mong trở ra. Người Việt Nam hai miền sẽ trở lại nơi chôn rau cắt rốn của mình bằng cách nào ? Lúc ấy, tôi chưa đủ kiến thức để hiểu sự tranh chấp quyết liệt giữa các ý thức hệ, các chủ nghĩa đối nghịch nhau tạo ra thù hận dân tộc trên quê hương tôi. Tôi hoàn toàn không có ý niệm gì về chủ nghĩa cộng sản và chống phá chủ nghĩa ấy. Bởi vì, tôi chưa đọc chủ nghĩa cộng sản. Gia đình tôi, kể từ ông nội tôi, không nằm trong đối tượng thù hận cần thiết tiêu diệt của giai cấp vô sản. Tôi đã cố tìm ra những bằng chứng cụ thể, những “kinh nghiệm sống” với cộng sản để biện minh cho “lập trường” chống cộng của tôi. Chỉ thấy hai điều. Một: Hai tên du kích làng Thọ Bi đã hạch sách mẹ con tôi khi mẹ con tôi từ thị xã Tề về làng Tường An gồng gánh ít đồ đạc chưa bị giặc Pháp đốt. Tôi chửi chúng nó. Chúng nó bắt tôi. Mẹ tôi phải xin lỗi chúng nó và nhận rằng tôi đã chửi mẹ tôi, chúng nó hiểu lầm. Hai: Ông chú Phương hen của tôi cả đời chỉ mơ ước được mặc bộ quần áo mới diện Tết và ăn vã một cân giò lụa. Cách mạng 19-8-1945 không mang lại nỗi ước nhỏ bé cho chú tôi. Giải phóng tháng 7-1954, tôi vẫn thấy chú tôi cong lưng kéo xe bò và vợ chú tôi oằn xương sống đẩy xe. Rồi tôi bất mãn thái độ của Đàm Viết Minh, của các nhà văn phủ nhận sự nghiệp cũ, sự nghiệp đã làm tôi say mê, ngưỡng mộ và mơ ước, của những tuần lễ “tiêu diệt văn hóa nô dịch”, của kẻ giải phóng tuyên bố Genève cách đảo Phú Quốc 90 hải lý, của sự bắt người Việt Nam suy tôn Mao Trạch Đông, Malenkov … Người cộng sản sẽ nói: Đó là hiện tượng, không phải bản chất. Vậy tôi đã chống cộng vì hiện tượng. Và đúng thế. Khi tôi thắc mắc người Việt Nam hai miền sẽ trở lại nơi chôn rau cắt rốn của mình bằng cách nào, tôi chưa đoán nổi con đường trở lại ngập tràn xương máu, dằng dặc oán thù và người Việt Nam sẽ xa lạ người Việt Nam hơn, và rồi người ta cũng chẳng trở lại được quê hương mình.


Tôi thương bà mẹ Tây Ninh có con đi tập kết sống hiu quạnh dưới mái nhà lá lụp xụp. Đêm đêm ai thắp cho bà cụ ngọn đèn dầu ? Tôi nghĩ đến mẹ tôi. Tôi nhớ mẹ tôi. Mẹ tôi, ngoài Bắc, đang tưởng tượng đứa con đầu lòng của mình bỏ nhà ra đi để làm chín ước mơ của bố nó. Chắc chắn, mẹ tôi đang cầu nguyện tổ tiên phù hộ tôi sớm trở thành bác sĩ y khoa. Mà tôi thì lêu bêu xó xỉnh Nhà Hát Tây, xó xỉnh Ban mê thuột, xó xỉnh Xóm Quốc Tế, Bầu Sen, xó xỉnh Trảng Lớn. Tự nhiên, tôi không muốn định cư đời mình trong trái tim cô Hiên nữa. Tôi bỏ ngang lớp giáo lý. Thời kỳ này, ông Bá bị đau, tôi được nghỉ kéo cưa xẻ gỗ. Tôi nằm dài trên nắp quan tài ngủ và ngủ. Rồi tôi vác đàn ra xưởng đóng quan tài, nghêu ngao hát:


Mẹ ơi thôi đừng khóc nữa
Cho lòng già nặng sầu thương
Con đi say tình viễn xứ
Đâu có quên tình cố hương …


Tiếng đàn và giọng hát của tôi lọt vào tai một khách giang hồ già. Ông ta khoảng 45 tuổi, có chiếc xe lạ nhất thế giới. Hãy hình dung một chiếc xe chở khách trong phim cao bồi. Nhỏ hơn, thấp hơn nhưng lạ hơn bởi hai bánh cao su bơm căng như bánh xe ba bánh chở hàng hóa. Thay vì ngựa kéo, chiếc xe của khách giang hồ già lôi bằng chiếc xe máy Đức cũ. Cửa xe khóa chặt, tôi không biết trong đó chứa những gì, ngoài con khỉ ngồi ngoan trên mui vải bố. Khách giang hồ già lái xe sát xưởng quan tài, cách lề hương lộ 5 thước. Khách tắt máy xe, bước xuống xe và, như bố ông Khổng Tử, khách ra lệnh:


- Tiếp tục đàn hát !


Tôi ngưng đàn hát, sửng cồ:


- Ông là cái thớ gì mà ra lệnh ?


Khách cười:


- Chú nhỏ, mày hỏi mày xem mày đã là cái thớ gì ! Mày chỉ hơi hơi có thớ từ lúc tao ra lệnh cho mày hát.


Khách nói giọng Bắc. Rõ rệt dân Bắc kỳ … di cư ! Khách ngồi trên đầu nắp quan tài, gật gù:


- Chưa là cái thớ gì mà dám xấc xược thì mày sẽ có thớ, chú nhỏ à !


Khách móc gói Ách chuồn, mời tôi:


- Hút đi, coi như tao xin lỗi mày.


Tôi rút điếu thuốc. Khách bật lửa cho tôi mồi.


- Mày tên gì ?


- Long.


- Họ ?


- Vũ.


- Chữ lót ?


- Mộng.


- Dân Hưng Yên à ?


- Thái Bình.


- Giòng họ Vũ ở Hưng Yên đấy. Vũ Hoàng Chương, chẳng hạn. Mày biết Vũ Hoàng Chương không ?


- Biết. Thi sĩ.


- Thế thì mày khá. Tổ tiên mày vượt sông Trà Lý sang Thái Bình mưu sinh, rồi định cư ở Thái Bình. Mày bao nhiêu tuổi ?


- 21.


- Lớn hơn con trai tao một tuổi. Mày Ất Hợi, “con lợn ủn ỉn mua hành cho tôi”. Mày không phải dân di cư Trảng Lớn.


- Sao ông biết ?


- Ở đây không đứa nào biết Vũ Hoàng Chương, kể luôn ông cố đạo. Mày giang hồ vặt, tứ cố vô thân.


- Sao ông biết ?


- Vì có bố mẹ, mày phiêu bạt tới cái xó xỉnh này làm gì !


- Còn ông, tên ông là gì ?


- Vô Danh.


- Vô Danh là tên ?


- Ừ. Có thằng tên Nguyễn Điểm Danh, có thằng tên Phan Minh Danh, có thằng tên Trần Vinh Danh, có thằng tên Lê Chính Danh … Bố mẹ tao sợ tao mạo danh, ô danh nên đặt tên tao là Vô Danh, họ Lý.


Khách nhìn thẳng mặt tôi:


- Mày tưởng tao điên hả, chú nhỏ ?


Tôi nói:


- Ông lạ lắm.


Khách phá lên cười, cười văng cả điếu thuốc trên môi. Cười hả hê xong, khách trở giọng buồn bã:


- Với mày thì tao lạ, với thiên hạ thì tao điên.


Khách giang hồ Lý Vô Danh xích lại gần tôi:


- Mày thuộc mấy bài hát phổ thông không ?


- Thí dụ ?


- Tao không thèm biết tên bài. Đại khái là “Gánh gánh gánh gánh lúa về”, “Quê hương tôi gió chiều về trong nắng vàng” và “Kìa thôn quê dưới trăng vàng bát ngát”…


- Thuộc cũng dễ thôi.


- Tốt.


- Tốt sao ?


- Chẳng dấu diếm gì mày, tao làm nghề bán thuốc dạo. Tao chuyên bán thuốc trừ giun sán, miền Nam gọi là sán lãi. Trước đây, tao mướn một thằng nhóc đi đánh thanh la quyến rũ khách hàng tới đông. Tao cho con khỉ làm vài trò rồi bán thuốc sán lãi. Tao biết vài trò ảo thuật vớ vẩn. Thằng nhóc không có máu giang hồ, bỏ trốn dọc đường gió bụi. Tao đã quanh quẩn xó này mấy hôm, chú ý mày lắm. Tao nghĩ mày đàn hát giáo đầu hay hơn đánh thanh la, hấp dẫn hơn, lạ hơn. Mày thích giang hồ phiêu bạt không ?


- Không.


- Thế thì mày ngu. Ngu vì mày không bao giờ có dịp biết phong cảnh, người ngợm khắp tỉnh lỵ, thị xã, quận huyện, làng xóm miền Nam. Giang hồ với tao mày sẽ khôn ra, mày có cơm ăn, áo mặc, có tiền để dành. Chừng chán giang hồ, mày có tiền ăn học. “Ba năm lưu lạc giang hồ, Một ngày làm lại cơ đồ cũng xong”. Mày ở đây làm cái gì ?


Tôi chưa kịp kể công việc của tôi cho khách giang hồ già nghe thì cô Hiên tới. Cô ta xách theo một nồi nhôm canh bún nấu với cua đồng, rau rút, nước mầu vàng ửng. Tôi vào nhà lấy bát đũa mời khách giang hồ họ Lý ăn. Khách ăn vui vẻ. Ăn no nê canh bún quà quê và chờ cô Hiên về, khách mỉm cười, ngó tôi:


- Tao đã hiểu tại sao mày không thích giang hồ phiêu bạt. Con nhỏ đẹp đấy, hiền đấy, ngoan đấy. Tướng con nhỏ lại tốt mái. Mày sẽ có cả chục đứa con. Đứa mở quán bán canh bún. Đứa làm ruộng. Đứa buôn bán chợ xa, chợ gần. Đứa đẩy xe nước mía. Đứa đun xe khô mực. Đứa làm lơ xe đò …


Tôi lớn tiếng:


- Đủ rồi, ông Sơn Đông bán thuốc sán lãi ! Ông không phải là cha tôi. Ông lo bán thuốc với con khỉ của ông, để tôi yên.


Khách không giận, giọng trầm xuống, cách xưng hô khác đi:


- Tôi sẽ để chú nhỏ yên phận. Nghe đây …


Khách đọc hai câu thơ cổ:


Vũ vô kiềm tỏa năng lưu khách
Sắc bất ba đào dị nịch nhân


Rồi hỏi:


- Chú hiểu không ?


Tôi đáp:


- Hiểu.


- Đọc Tam Quốc Chí chưa ?


- Rồi.


- Triệu Tử Long nói với Khổng Minh câu nào hay nhất ?


Tôi bắt đầu nể ông Lý Vô Danh, ấp úng:


- Cháu không nhớ, không hiểu câu nào hay nhất.


- “Làm trai, chỉ sợ không lập nên sự nghiệp to lớn. Chứ, đàn bà, con gái đẹp thiếu gì, muốn lúc nào chả có”. Câu hay nhất của Triệu Tử Long đấy, chú nhỏ ạ !


- Cám ơn bác chỉ dạy.


Ông Lý Vô Danh vỗ vai tôi:


- Suy nghĩ rồi ra tìm tôi ở ngoài quán.


Ông ta đẩy xe lên hương lộ. Tôi ngồi trên nắp quan tài đờ đẫng, bâng khuâng. Rồi tôi ôm cây đàn vụt chạy vào nhà. Tôi thu xếp nhanh quần áo, sách dạy học đàn, quên chào bà mẹ Hoàng Văn Bảo, hối hả phóng ra quán. Tôi gặp ông Lý Vô Danh đang uống nước trà.


- Cháu theo bác.


- Tốt.


- Cháu muốn đi ngay lập tức.


- Tốt.


Ông ta nhún vai:


- Còn cây đàn ?


Tôi lắc đầu:


- Không phải của cháu.


- Của ai ?


- Của Phòng thông tin.


- Lấy đi !


- Không được.


- Tại sao ?


- Vì không phải của cháu.


- Tốt.


Ông Lý Vô Danh trả tiền nước, ra xe. Ông mở cửa xe cho tôi ném hành lý vào. Ông đạp máy. Máy xe nổ ròn rã. Tôi ngồi sau ông. Chiếc xe Sơn Đông bán thuốc sán lãi lăn bánh chạy về hướng thị xã Tây Ninh. Giã từ Trảng Lớn. Giã từ núi Bà Đen. Giã từ cô Hiên. Giã từ và xin lỗi … Tôi theo ông khách giang hồ già vào đầu tháng 7-1956.


===============================================


* Bà mẹ Tây Ninh, 1960.


** The adventures of Tom Sawyer và The Adventures of Huckleberry Finn.


*** Nguyễn Bính.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn