BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 26025)
(Xem: 23653)
(Xem: 23581)
(Xem: 20250)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Tuy Hòa, Một Thời Để Nhớ

01 Tháng Hai 201112:00 SA(Xem: 853)
Tuy Hòa, Một Thời Để Nhớ
52Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
52
Sau một thời gian lưu lạc, năm 1970 tôi quay về lại Tuy Hòa.

Tuy Hòa là một thành phố biển, giữa Nha Trang và Qui Nhơn, nằm bên bờ sông Đà Rằng, dưới chân núi Nhạn. Người Tuy Hòa hiền hòa, hiếu khách, đặc biệt rất yêu thơ.

Về đây tôi có dịp gần gũi với những người cầm bút của Tuy Hòa và tham gia các sinh hoạt văn học nghệ thuật của thành phố dễ thương này.

Người tôi gặp gỡ nhiều nhất là anh Trần Huyền Ân, tác giả tập thơ THUYỀN GIẤY, nổi tiếng với những bài thơ đậm đà màu sắc quê hương. Thơ của anh đã từng được dùng trong sách giáo khoa dành cho học sinh bậc tiểu học do ông Bùi Văn Bảo biên soạn. Trần Huiền Ân chơn chất, đôn hậu, nhã nhặn, và khiêm tốn. Anh có khả năng ở nhiều lĩnh vực: văn, thơ, biên khảo, và cả hội họa nữa..Một người luôn sát cánh bên Trần Huiền Ân và tôi là Đỗ Chu Thăng, tác giả tập thơ CHÂN CẦU CŨ. Đỗ Chu Thăng là giáo sư toán thuộc loại giỏi, nổi tiếng là một nhà giáo rất nghiêm khắcvới học trò. Ngoài đời anh là một thi sĩ hiền lành, nhũn nhặn, được nhiều người quí mến và kính trọng. Sáng nào ba chúng tôi cũng gặp nhau ở bãi biển rất sớm để tắm biển, sau đó tỏa ra các trường để dạy học. Cuối tuần chúng tôi thường gặp nhau ở nhà anh Lê Công Minh, bút hiệu Lê Phương Nguyên, ở đó rất nhiều đêm thức trắng, cùng làm thơ, đọc thơ. Lê Công Minh có viết nhưng không nhiều.

Hầu như chiều nào tôi cũng gặp Phạm Ngọc Lư. Phạm Ngọc Lư gốc ở Huế, sau khi tốt nghiệp sư phạm được bổ nhiệm về dạy ở Tuy Hòa. Lư xuất sắc cả văn xuôi lẫn thơ, đặc biệt có tài thổi sáo và rất giỏi chữ Hán. Có một bài thơ của Phạm Ngọc Lư hồi đó tôi thuộc lòng, nghĩ rằng đây là một bài thơ hay, nhưng sau này trong hai tập thơ Lư xuất bản tôi không thấy có bài thơ này.

KỲ HUÊ 

Đêm nay trong cõi tôi về

Ngát hương xuân động Kỳ Huê ra đời

Xin vàng ươm nụ đầu môi

Thếp sơn cành lạ vẽ chồi lộc non

Đêm nay tôi mất hay còn

Gieo tình xuống cát đợi mòn dấu cây

Ơn xin rễ mọc lòng tay

Nâng niu tuổi mọn xuân đầy trong Huê

 (Thơ Phạm Ngọc Lư, 1971)

Một khuôn mặt cũng rất gần gũi với tôi là Mang Viên Long, nổi tiếng với những truyện ngắn sắc sảo và tinh tế. Anh gốc ở Bình Định, vào Tuy Hòa dạy học. Mang Viên Long sôi nổi và năng nổ. Giai đoạn ấy, trong số những cây bút ở Tuy Hòa, Mang Viên Long là người viết khỏe nhất. Đi dạy thì thôi, về tới nhà là cứ ngồi trước máy đánh chữ gõ lọc cọc. Lúc nào cũng thấy anh tất bật với việc viết lách.

Tuy Hòa là nơi sản sinh ra nhiều cây bút viết truyện ngắn xuất sắc. Môt trong những cây bút xuất sắc đó là Nguyễn Lệ Uyên. Nguyễn Lệ Uyên dạy học ở Gò Công, chỉ về Tuy Hòa vào dịp nghỉ hè hay Tết Nguyên Đán. Nguyễn Lệ Uyên mê sách, báo, đọc nhiều, và nắm được nhiều nguồn tư liệu.

Tuy Hòa có một thi sĩ nổi tiếng rất sớm: Hoàng Đình Huy Quan, tác giả tập thơ MỞ CỬA. Lúc tuổi chưa tới hai mươi, Hoàng Đình Huy Quan đã có tên trong ban biên tập của tạp chí VĂN HỌC ở Sài Gòn. Khi tôi quay về lại Tuy Hòa thì Hoàng Đình Huy Quan đã lưu lạc vào nam bộ, thỉnh thoảng mới về gặp gỡ anh em. Thời gian này Hoàng Đình Huy Quan thành lập nhà xuất bản ĐỒNG DAO. Các tập thơ ĐỜI NHƯ MỘT KHÚC NHẠC BUỒN của Phạm Cao Hoàng, CHIẾN TRANH VIỆT NAM VÀ TÔI của Nguyễn Bắc Sơn, NĂM NĂM DÒNG SÔNG THƠ của Trần Huiền Ân, DẠO NÚI MÌNH TA của Hà Thúc Sinh, CHÂN CẦU CŨ của Đỗ Chu Thăng, TRÊN THẢM CỎ XANH ĐỜI của Khánh Linh, GIỮA MUÔN NGÀN LY BIỆT của Quan San... do nhà xuất bản ĐỒNG DAO ấn hành trong những năm ấy là nhờ công sức rất nhiều của Hoàng Đình Huy Quan.

Nhắc đến văn nghệ Tuy Hòa không thể không nhắc đến Khánh Linh, Triều Hạnh, Nguyễn Tường Văn, Phan Bá Chức, Nguyễn Sông Ba, Nguyễn Duy Tẩm. Khánh Linh và Triều Hạnh tôi gặp khá thường xuyên. Còn Nguyễn Tường Văn, Phan Bá Chức, Nguyễn Sông Ba và Nguyễn Duy Tẩm ở Đà Lạt, lâu lâu về nhập bọn, rất vui.

Không gian văn nghệ Tuy Hòa những năm đầu thập niên 70 vô cùng ấm cúng. Trong một lần sinh hoạt chung với anh em văn nghệ Tuy Hòa, nhà văn Duyên Anh rất bất ngờ về sự ấm cúng này. Sau này, Duyên Anh có viết lại kỷ niệm lần gặp gỡ ấy trong bút ký CŨNG GỌI LÀ MỘT CHUYẾN ĐI.  

Văn nghệ Tuy Hòa có số thân hữu lên đến hàng trăm, mà hầu như lúc nào họ cũng có mặt trong những buổi sinh hoạt văn học nghệ thuật và những đêm thơ nhạc do chúng tôi tổ chức. Họ dành cho chúng tôi những tình cảm thân thương, những chia sẻ ân cần, và những khích lệ quí báu. Bên cạnh đó, nhiều cây bút ở các địa phương khác lâu lâu ghé lại làm cho Tuy Hòa ấm áp thêm. Vùng đất Tuy Hòa dạo ấy đã có dịp đón tiếp nhiều cây bút tài hoa: Trần Hoài Thư, Phạm Văn Nhàn, Lê Văn Trung, Tạ Chí Đại trường, Đỗ Toàn, Thế Vũ, Nguyễn Âu Hồng, Nguyễn Sa Mạc, Lê Ký Thương, Nguyễn Việt Nam, Huỳnh Hữu Võ, Nguyễn Lệ Tuân, Tô Duy Thạch, Lê Văn Thiện, Trần Vạn Giã, Nguyên Minh, Võ Tấn Khanh... Riêng Nguyên Minh và Võ Tấn Khanh sau này bám rễ và thành rể Tuy Hòa luôn.

Chúng tôi có nhiều kỷ niệm với hai quán cà phê: cà phê CÂY PHƯỢNG ở gần trường trung học Nguyễn Huệ, và cà phê NHỚ gần ga xe lửa.

Chủ nhân quán CÂY PHƯỢNG là anh Lê Tăng Mính, một người yêu thích văn chương. Sách của chúng tôi gửi ở các nhà sách bán không chạy lắm, nhưng gửi ở quán CÂY PHƯỢNG thì bán được khá nhiều. Trong sân quán có một cây phượng rất lớn. Các áp-phích giới thiệu sách mới xuất bản được treo trên các cành phượng.

Chủ nhân quán NHỚ là cô V, nhân vật đã từng được Duyên Anh nhắc đến trong bút ký tôi đề cập ở trên. Sau này tôi gọi quán NHỚ là QUÁN CỦA NGƯỜI TÊN V. (Thi sĩ Cao Thoại Châu có một bài thơ nổi tiếng, tựa đề QUÁN CỦA NGƯỜI TÊN V(*). Tôi mượn anh Cao Thoại Châu tựa đề này để đặt tên cho quán NHỚ ở Tuy Hòa). Mỗi một người trong chúng ta đều gắn bó với một góc quán, một con đường nào đó . Anh Lê Tăng Mính không còn, nhưng QUÁN CỦA NGƯỜI TÊN V. ở Tuy Hòa thì vẫn còn đó. Nếu có dịp trở lại Tuy Hòa, một trong những nơi tôi cần đến để tìm lại những kỷ niệm của một thời sẽ là QUÁN CỦA NGƯỜI TÊN V.

Tuy Hòa 1970-1972 là những tháng năm đầy ắp kỷ niệm trong tôi. Bước giang hồ tưởng đã dừng lại, nhưng rồi tôi lại ra đi, và lần đi này là biền biệt. Tôi trôi giạt về Đơn Dương, Đức Trọng, Đà Lạt; cho đến một ngày tôi phải làm chuyến đi xa nhất của đời mình. Trong hành trang mang theo ngày tôi rời đất nước có những giọt sương của cao nguyên Lâm Viên, có tiếng sóng biển của Qui Nhơn, có tiếng gió biển của Phan Thiết, và có mây khói của Tuy Hòa mà một thời đã làm nhẹ bước chân tôi.

Phạm Cao Hoàng

2010

 (*) Thơ Cao Thoại Châu

QUÁN CỦA NGƯỜI TÊN V.

 Đường sinh tử một vòng chưa khép

Tạt vào đây quán trọ đời em

Rót cho tôi chai nào cay đắng nhất

Hồn tôi là một chiếc ly không

 

Mái quán em tường xiêu giấy lợp

Hào phóng đời cho mượn ánh đèn

Tôi sẽ thắp giùm em thêm chút nữa

Dẫu chỉ là đom đóm trong đêm

 

Bàn ghế nhựa làm sao rơi loảng xoảng

Rừng ở đâu cho phá đá cưa cây

Em chỉ cho mượn tạm chiếc ly này

Không cho đập lấy gì phóng đãng

 

Chủ quán ơi hôm nay ngày tháng mấy

Nhân loại trừ tôi còn lại được bao người

Mái quán em thành trời cao vời vợi

Để cái nền làm vỡ chiếc ly rơi

 

Trăm cơn sầu đang đổi cơn say

Tôi đốt quán em đừng buồn tôi nhé

Mở giùm tôi chai nào cay đắng nữa

Ly vỡ rồi cứ đổ xuống thân tôi

Cao Thoại Châu
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn