BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 35744)
(Xem: 33267)
(Xem: 32456)
(Xem: 24689)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Đường ra xứ Bắc (Hồi Ký về Tù Nhân Đỗ Lệnh Dũng)

18 Tháng Giêng 201112:00 SA(Xem: 1450)
Đường ra xứ Bắc (Hồi Ký về Tù Nhân Đỗ Lệnh Dũng)
50Vote
44Vote
30Vote
20Vote
10Vote
44

Phần I


Đã có bao nhiêu người bỏ mạng trên con đường mang tên ông Hồ Chí Minh? Câu hỏi này không có câu trả lời giống như câu hỏi đã có bao nhiêu người chết trong chiến tranh do ông Hồ khởi xướng. Hà Nội chỉ nói đến vinh quang, đến thành tích và bỏ qua những thống kê khác. Tiêu chuẩn “đi ba đến một” đôi khi không đạt nổi vì bom đạn, vì bệnh tật. Những thanh thiếu niên miền Bắc không bao giờ được biết những gì chờ đợi họ trên đường đi Nam ngoài các hình ảnh hào hùng thần thánh. Khi khởi bước cuộc trường chinh từ đèo Mụ Giạ ở cực Bắc mỗi người được phát một ký đường Cuba, một lọ kí ninh, một ít lương khô và được hứa hẹn đi đến trạm là có đủ thứ cần dùng. Họ không bao giờ hình dung nổi mức hung hiểm của núi rừng, của muỗi, của sốt rét, của đói khát. Đấy là chuyện của phía bên kia.

Phía bên này, hai trăm con người bị xích từng chùm ba một cũng không bao giờ tưởng tượng nổi những gì đang chờ đợi họ những ngày tháng tới.

Gọi là Đường Mòn Hồ Chí Minh, gọi là Đường Dây Ông Cụ, gọi là Đường Trường Sơn nhưng thực sự đây là một hệ thống giao thông chằng chịt như mắt lưới bắt đầu từ đèo Mụ Giạ, Thanh Hóa ăn dọc theo rặng Trường Sơn, lúc băng sông, băng rừng già qua đất Lào, đất Miên, lúc phải lội ngược núi ngút ngàn.

Theo ước tính tổng cộng hệ thống giao thông này kể cả các nhánh và phụ lưu dài trên 5000 cây số. Có đoạn đường rộng như quốc lộ, xe có thể tránh nhau, có đoạn hiểm hóc chỉ một người men theo, một bên là vách núi dựng đứng một bên là vực sâu ngút ngàn.

Thiếu úy Nguyễn Bá Quyền xuất thân Võ Bị Đà Lạt được đào luyện chu đáo hơn thứ lính bị động viên, thứ lính trừ bị như tôi nên có một kiến thức rộng và vững chắc về cuộc chiến. Trong khi chờ ở khu rừng thưa để sửa soạn lên đường, ông tỉ tê kể về con đường sắp tới cho tụi tôi nghe. Nó hiện hữu từ cuộc chiến tranh Việt Pháp.

Ông Quyền hỏi tôi có biết bài thơ Tây Tiến không? Tất nhiên là không. Ông lẩm nhẩm đọc: “Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm. Heo hút cồn mây súng ngửi trời. Nghìn thước lên cao nghìn thước xuống...” Ông bảo đoàn quân tây tiến sở dĩ trọc đầu không phải để “nêu quyết tâm” mà chẳng qua đa số bị sốt rét rụng hết tóc nên ông Quang Dũng mới viết “Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc.” Đến đây thì tôi hơi biết một chút vì có nghe bài Đôi Mắt Người Sơn Tây và lần nào nghe Thái Thanh hát bài này tôi cũng có cái cảm giác tê tê lạnh lạnh.

Ông thiếu úy Quyền cười cười bảo “Khi ông Quang Dũng viết: Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy. Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi. chẳng qua là để mô tả bộ đội anh hùng vượt Trường Sơn sang Lào chết như sung rụng.” Tôi nói:

- Thơ ông Quang Dũng hay thật. Thế sau này có bài thơ nào về đường mòn không?

- Theo chỗ tôi biết thì không. Bài Tây Tiến được sáng tác hồi đầu cuộc chiến tranh Việt Pháp, lúc đó tinh thần kháng chiến hừng hực và Cộng Sản chưa lộ diện một trăm phần trăm. Nghe nói sau này ông Quang Dũng bị phê là tiểu tư sản, là ủy mị và đội lên đầu cả chục thứ tội khác vì bài thơ Tây Tiến. Bây giờ là khẩu hiệu, là vè làm gì có thơ. Thơ muốn hay phải có tự do, ông ơi.

Đó là bài học vỡ lòng của tôi về con đường mòn nổi tiếng này. Ông Quyền bảo khi quyết định mở cuộc xâm chiếm miền Nam, Hà Nội có hai việc phải làm cho bằng được. Một là lập ra Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, hai là mở đường dây xâm nhập.

Tháng 5/1959, Hà Nội tung toán tiền thám đầu tiên lần mò tìm cách nối lại con đường mòn hiện hữu từ cuộc chiến Việt Pháp. Chính vì vậy nó còn có tên Đường 559. Mặt Trận Giải Phóng ra đời ít lâu sau đó.

Đại úy Bình vốn ít nói đã hỏi câu hỏi mà hai đứa tôi đều không biết phải trả lời thế nào:

- Đi bộ đường rừng đường núi từ đây ra Bắc mà xích thế này thì làm sao đi và đi bao giờ mới tới?

Tôi nhớ rất rõ sáng hôm đó chúng tôi bị khua dậy từ lúc trời còn tối, chưa nhìn rõ mặt nhau. Cái lạnh ẩm của rừng trĩu nặng như lôi tôi xuống, như muốn xúi tôi nằm lì ra đó. Nhưng lính và cán bộ Bắc Việt vừa hối thúc vừa luôn mồm nhắc:“Nhanh lên kẻo không kịp.” Đây là câu nói chúng tôi sẽ nghe dài dài trên lộ trình đằng đẵng.

Sợi dây xích khóa chúng tôi lại thành chùm ba khiến mọi di động trở thành khó khăn. Từng người một, chúng tôi chia nhau ra ôm chỗ cái khóa ở giữa để nâng ba sợi xích lên mới có thể bước được. Nói thì giản dị nhưng thực tế không dễ dàng. Tôi xung phong đầu tiên nhưng chỉ độ nửa tiếng sau là cánh tay như muốn rụng xuống. Rồi đến ông Quyền, ông Bình cũng không hơn gì tôi.

Nhiều giải pháp được áp dụng trong đó hữu hiệu nhất là tìm cách đeo cái khóa lên bằng một sợi dây choàng qua vai. Nhưng dây ở đâu ra bây giờ? Ông Quyền xoắn tấm ni lông lại luồn xuống phía dưới chỗ khóa, sau đó buộc vòng qua cổ. Sợi xích sắt thòng lọng buộc cuộc đời chúng tôi lại một cách rất hiện thực. Ba đứa tôi không rời nhau quá ba thước. Khi ăn, khi ngủ, khi đi, khi đứng, lúc ốm lúc đau và cả lúc đi cầu! Đừng nghĩ đến chuyện lì mặc cho sợi xích kéo lê trên mặt đất. Thứ nhất là sẽ đi rất khó khăn. Thứ nhì là nếu sợi xích vướng vào đá, vướng vào gốc cây thì có khi cả ba người ngã chỏng gọng. Đấy là trong thời tiết lý tưởng, khô ráo. Nếu bị mưa dầm, lỡ bước vào những quãng bùn lầy thì chỉ có nước khóc. Tóm lại óc sáng tạo của người cộng sản quả đã đạt tới mức tận cùng. Với cảnh xích chùm ba, lũ tù chúng tôi không một ai nghĩ đến chuyện trốn.

Vì bị xích chùm như nô lệ thời Trung Cổ, chúng tôi không thể đi nhanh được. Hệ thống “xa lộ” chằng chịt này đã được bố trí rất hợp lý. Chúng tôi nghiệm ra rằng cứ đi đúng một ngày đường là thế nào cũng đến trạm hoặc đến một nơi có thể nghỉ ngơi, có nguồn nước để nấu nướng.

Mãi đến khi vượt hết đường mòn tôi mới rõ trên con đường đó có cả một đội ngũ giao liên phục vụ và nói theo ngôn ngữ văn minh mà chúng tôi đang làm quen, họ là “chuyên ngành.” Mỗi người giao liên chỉ biết rõ khúc đường mình phụ trách từ trạm này đến trạm khác, biết rõ từ gốc cây đến hòn đá, biết rõ là nếu trời mưa thì nên đi kiểu nào, trời nắng ráo thì đi kiểu nào.

Tôi đã có dịp nói chuyện với một người giao liên trong dịp khuân gạo ở hầm. Điều anh ta thuật lại làm tôi rùng mình. Trông không thể đoán tuổi nhưng sau một lúc anh ta xưng “em” thì tôi biết anh ta còn trẻ lắm mới hai mươi bốn. Anh ta tên Bằng, xung phong vào bộ đội giải phóng lúc mười tám tuổi nhưng trên con đường Sinh Bắc Tử Nam, Bằng không chết mà chỉ bị ốm, bị sốt rét, kiết lỵ và có thể cả chục thứ bệnh khác. Không hiểu sao và nhờ đâu, Bằng vẫn sống và khỏe trở lại nhưng đã lậm quá sâu trên đường dây nên không thể trở về Bắc được. Khi nằm dưỡng bệnh ở trạm, Bằng trở thành giao liên và ở lì đó suốt sáu năm, ngày ngày lo dẫn đường từ trạm này sang trạm kế, đi đi về về suốt từ lúc khỏi bệnh tới giờ này.

Ngồi bên bờ suối, Bằng bảo:

- Các anh là đoàn tù lớn nhất từ trước tới nay qua trạm này. Trước cũng có nhưng chỉ độ ba bốn anh. Tương đối hơn một năm nay an ninh hơn nhiều chứ trước đây...

Bằng ngồi trên tảng đá thõng chân dưới dòng suối nhìn tụi tôi tồng ngồng tắm rửa. Được tháo xích để đi khuân vác và sau đó được tắm rửa là hạnh phúc vô bờ. Nhưng khi nhìn Bằng tôi thấy một nỗi buồn vô cớ tràn đầy. Người thanh niên Hà Nội hai mươi bốn tuổi đó tóc trắng như bông, khuôn mặt gầy guộc do dấn thân với những lý tưởng được tô vẽ hào nhoáng để trở thành giao liên, suốt sáu năm trường chỉ biết có mỗi khúc đường rừng heo hút giữa Trường Sơn. Bằng đăm chiêu nhìn mấy đứa tôi bỗng thở dài:

- Thà như các anh, đời cũng còn có lúc sung sướng, ăn ngon mặc đẹp, gần bố mẹ anh em...

Tôi hỏi:

- Anh nói bây giờ an ninh?

- Chứ gì nữa. Mấy năm trước căng lắm. Bom Mỹ thả ngày đêm, lại còn pháo từ Đệ Thất Hạm Đội. Nhiều lúc đang đi thì nổ sập trời, chết như rạ. B52 bay cao tít mù có nghe có thấy gì đâu mà lo nấp lo trốn. Các anh có biết bom tinh khôn không?

Ông Quyền buột miệng:

- Hàng rào McNamara. Smart Bomb.

- Anh nói gì?

- Không. Thế bây giờ an ninh hơn nhiều?

- Từ ngày có hiệp định Pa-ri và tụi Mỹ lo rút chạy, không có B52, phi pháo gì nữa.

Đây có lẽ là lần duy nhất tôi được nói chuyện cởi mở với một người đích thực của Trường Sơn, phải nói là cởi mở, nhất là so với ông láng trưởng điên khùng.

Nội qui của tù binh rất nhiều điều trong đó cấm liên hệ với bộ đội. Ngược lại, chắc họ cũng bị nghiêm cấm, không được “linh tinh” với chúng tôi. Tù binh đi ở giữa, chia ra độ vài chùm lại có vài bộ đội đi xen vào. Dẫn đầu có lẽ là bộ chỉ huy bộ phận áp giải, đoạn hậu là bộ phận bảo vệ. Chúng tôi không rõ quân số của hai toán này nhưng xem ra khá hùng hậu, có thể lấn quân số tù. Phía bộ chỉ huy hầu như không bao giờ tiếp xúc với tù và những người lính bảo vệ thì chỉ là kẻ bàng quan kháo nhau “đi xem tù” vào những lúc nghỉ ở trạm.

Thông thường, tù được tập trung biệt lập cách chỗ đóng quân của lính Bắc Việt một quãng và lúc nào chúng tôi cũng ở bãi trống để dễ bề kiểm soát. Thỉnh thoảng vào những buổi chiều khi trời còn sáng, tù nằm ngồi la liệt trên bãi đất, bãi cỏ thì bộ đội Bắc Việt ngồi chồm hổm phía xa xung quanh chỉ trỏ. Ông Quyền bảo tôi:

- Ha, tụi mình giống như khỉ trong sở thú đang làm trò cho bọn ngợm xem.

Và những lúc đó, Quyền lại gân cổ lên hát vọng cổ: “Em Hai ôi, anh có tội tình chi mà phải đọa... đày...”

Không ngờ một sĩ quan trẻ tốt nghiệp Võ Bị Đà Lạt lại thuộc và hát vọng cổ hay như vậy. Những người lính ngồi chồm hổm phía ngoài đôi khi nổi hứng quăng thuốc lá cho tụi tôi và có lần một người xông vào giữa đám tù vừa đi vừa chìa bao thuốc quăn queo mời. Anh ta nghênh ngang vừa đi vừa nói:

- Sợ đéo gì. Kỷ luật thì kỷ luật, ông đéo sợ.

Tại sao anh ta dám đưa thuốc lá cho từng người tù và nghênh ngang thách đố là chuyện khó hiểu.

Gần gụi với tù nhất là toán đi chen ở giữa. Dần đà tụi tôi hiểu đây là những lính Bắc Việt được hồi hương về Bắc, có thể vì bị thương, có thể vì chiến trận lâu ngày, có thể vì có gốc lớn. Đây là thành phần tò mò nhất, luôn miệng hỏi chúng tôi về đủ thứ linh tinh. Tôi nhớ có một anh bộ đội tên Nguyễn Minh Hồ khi biết tôi sinh ở Hà Nội than thở:

- Quê tôi ở một làng cách Hà Nội hai mươi cây số mà chưa bao giờ biết Hà Nội ra sao. Đi thẳng một lèo từ làng vào đánh ở Nam bộ bảy năm nay mới được phục viên. Bị thương bốn lần, lần nào cũng tưởng chết đến nơi kỳ này về thế nào tôi cũng lên Hà Nội chơi một lần.

Tôi nghiệm ra chỉ những người lính Bắc trẻ tuổi mới tìm cách “gần gụi” với tù và hỏi những câu hỏi đôi khi rất ngây thơ. Một tháng Mỹ nó phát bao nhiêu lương? Nghe nói Sài Gòn toàn đĩ điếm phải không? Lính ngụy thích ăn gan người, hễ bắt được Việt Cộng là mổ ăn gan tươi phải không? Lính ngụy đi hành quân toàn lùng gái để hiếp?

Từ khi bị bắt thỉnh thoảng tôi vẫn để ý thấy có những người lính Bắc đeo toòng teng một miếng sắt mỏng ở dây lưng quần. Đến bây giờ tôi mới rõ công dụng của nó là để nhét trở lại sợi dây cao su của đôi săng đan làm bằng lốp ô tô. Đôi săng đan có cái tên là dép râu vì phần thừa của những sợi dây cao su khi được nhét xuyên qua phần đế lòi ra như những sợi râu. Dép râu rất khó đi, chỉ cần đạp lên một vũng lầy, nhắc lên có khi tuột phăng một hai sợi. Đạp phải một cục đá nhỏ, trật chân là nó cũng tuột. Anh nào vớ phải đôi dép có cái đế dày dày gặp nhiều rắc rối nhất vì khó nhét sợi dây trở lại. Tù binh chúng tôi vốn quen đi giày, khi phải đối phó với đôi dép nổi tiếng thì quả lúng túng. Đoàn tù phần vì bị xiềng chùm, phần chưa quen với đôi dép nổi tiếng này nên di chuyển rất chậm.

Bây giờ đang là mùa mưa. Những cơn mưa Trường Sơn thật muôn hình muôn vẻ. Trời đang trong bỗng mưa xối xả, mưa như trút, hạt mưa rất to. Nhưng chỉ độ mươi mười lăm phút là tạnh hẳn. Đôi khi mưa như một cơn bão tới tấp xối xả, kéo dài hàng giờ, có khi mưa rả rích cả ngày trời. Nhưng không có chuyện nghỉ tránh mưa mà chúng tôi vẫn phải lầm lì bì bõm tiến tới! Lạnh, ướt, chúng tôi chỉ có một miếng ni lông quấn vào người. Nước mưa thấm áo quần, nước từ đầu từ cổ ròng ròng xuống. Chúng tôi lạnh run lạnh cóng.

Thiên nhiên không phân biệt đâu là tù, đâu là cán bộ. Ngụy hay bộ đội thì cũng ướt, cũng lạnh như nhau. Trên con đường thiên lý đó chúng tôi đã gặp nhiều đơn vị cộng sản đi ngược đường. Họ cũng thảm thương chẳng khác gì tù, chỉ thiếu cái xích. Trông những toán quân cộng sản lũ lượt và ngang nhiên di chuyển không lén lút, không sợ sệt đó, tôi nhớ đến lời của giao liên Bằng “Bây giờ an ninh hơn nhiều ...”

Khi người Mỹ ồ ạt tung quân vào Việt Nam, mục tiêu quân sự hàng đầu là tìm cách chận đứng con đường chuyển quân và tiếp liệu của Hà Nội. Toán Màu tôi từng phục vụ và những đơn vị biệt kích Việt cũng như Mỹ, những toán biên phòng được trang bị hùng hậu chỉ cố chận con đường xâm nhập này. Nhưng có lẽ được cả thế giới chú ý biết đến là hàng rào điện tử McNamara. Đây là kiểu đánh của Hoa Kỳ. Họ thả xuống dọc theo con đường mòn những võ khí, khí cụ điện tử mà cứ theo báo chí tôi được đọc thì hết sức là khoa học và tinh vi. Chẳng hạn phi cơ Mỹ thả xuống những trái bom, có gắn thêm bộ phận “nghe ngóng” hoặc “tầm nhiệt.” Bom thả xuống nằm im đó phục kích. Hễ có một toán người đi gần, dụng cụ điện tử sẽ phát hiện, trái bom nổ tung. Hoặc nữa các dụng cụ điện tử này sẽ báo lên B52 đang ứng trực trên trời hay các chiến hạm đang chờ ngoài khơi.

Khi đọc những bài báo trên tờ Stars and Stripes của quân đội Mỹ về vũ khí loại này tôi vẫn có cảm tưởng như đọc truyện khoa học giả tưởng. Tôi còn nhớ có một bài mô tả cảnh phi cơ Mỹ đánh cầu Hàm Rồng. Cây cầu này nằm giữa hai vách núi hẹp nên rất khó oanh tạc, chưa kể đến phòng không có lợi thế phòng thủ vì vách núi cheo leo. Sau nhiều lần Mỹ đã phải xài tới bom tinh khôn mới hạ được cầu Hàm Rồng.

Lê từng bước gập ghềnh trên con đường khét tiếng này, ký ức khiến tôi càng tò mò quan sát. Ít nhất là hai lần tôi thấy rừng bị sạt, đen thui cả một khoảng lớn. Có thể vì lâu ngày nên cảnh cây cối ngả nghiêng không còn nữa mà chỉ là một vạt rừng lớn đen thui. B52 trải thảm chăng? Bộ đội Bắc Việt luôn mồm cảnh cáo chúng tôi phải đi trong hàng, trên đường đã chỉ định vì loạng quạng là có thể chết vì bom đạn của đế quốc Mỹ bỏ lại.

Một lần khác, tôi thấy một chiếc võng đan bằng sợi dây dù đứt nát chỉ còn toòng teng một khúc phất phơ trước gió. Khi chú ý kỹ thì thấy có một chiếc xương xọ và vài cái xương khác trắng hếu ở dưới đất gần đó. Tôi “bá cáo” với những người áp tải thì một người bảo:

- Các anh thấy chưa, vì ngụy quyền Sài Gòn ngoan cố, vì đế quốc Mỹ ương ngạnh biết bao nhiêu xương máu đã bị phí phạm.

Mấy hôm sau một anh lính Bắc khác tỉ tê cho hay bị bỏ rơi, bị lạc trên đường xâm nhập là chuyện thường. Bị bỏ rơi vì ốm, vì bị thương kể như sẽ chết dập chết vùi giữa rừng núi. Bị lạc hoặc đôi khi mệt quá ngủ quên cũng chỉ có nước chết. Anh lính này nói là ngay khi vừa đặt chân trên đường mòn, họ đã cảnh giác về chuyện này vì “không ai có thể lo cho ai được.” Đói rét bệnh tật, yếu đuối, lo cho mình chưa xong, còn lo cho ai?

Nghe vậy, tôi và hai ông tù nhìn nhau. Chắc chắn tụi tôi không thể chết cô đơn trên đường mòn vì nay chúng tôi đang bị cột dính lại với nhau.

Suốt cuộc hành trình, ba đứa tôi có cái may là được tháo xích ra một lần. Mỗi khi dừng chân, lính canh tù lại gọi độ bốn năm nhóm ra, mở khóa cho họ để đi tạp dịch. Họ sẽ phải lo cơm nước, lo khuân vác...

Tôi nói là may vì chính ra ba người khác được chỉ định nhưng người lính giữ khóa tìm mãi vẫn không thấy chìa khóa đúng để mở xích. Loay hoay một hồi không xong, anh ta cáu bèn chỉ ba đứa tụi tôi đang ngồi bên cạnh đó. Hẳn nhiên là đời tù tội của cả đám chúng tôi chỉ mới bắt đầu, còn mới quá, còn tươi quá. Thứ nữa chúng tôi luôn nhắc nhau rằng dầu sao thì chúng tôi cũng là sĩ quan của quân đội miền Nam. Một điểm nữa không ai nói ra nhưng nó bàng bạc trong lối nhìn, cách xử sự của lính canh và tù. Chúng tôi thấy rõ sự cách biệt giữa chúng tôi và những người lính Bắc về đủ mọi phương diện. Tuổi tác cũng có. Kiến thức cũng có. Ngồi rỉ rả, ông Quyền vẫn bực bội vì sao mình thua còn ông Bình thì lắc đầu tội nghiệp cho bộ đội, cho những người trẻ tuổi miền Bắc bị ném không thương tiếc vào cuộc chiến.

Ngược lại lính Bắc Việt lúc nào cũng nhìn chúng tôi bằng con mắt e dè, và hễ sểnh ra là họ tìm cách thân cận với chúng tôi. Tò mò chăng? Mặc cảm chăng? Tôi chỉ nghĩ họ cố tìm hiểu để so sánh cuộc sống của hai miền Nam Bắc. Thế thôi.

Chính vì những điểm trên, tù chúng tôi khá kỷ luật, không kèn cựa mà còn lo lắng, bảo vệ nhau. Khi ba người bạn bị xích không mở được, họ nhìn tụi tôi cười:

- Ê bon chen được gì nhớ chia nhe.

Ông Quyền vui tính:

- Yên tâm, ông thày.

Lần đó chúng tôi nghỉ ở trạm lớn. Ba đứa tụi tôi được lệnh đi theo một người lính khoảng một trăm thước thì họ bịt mắt chúng tôi lại rồi mới dẫn đi tiếp.

Mò mẫm leo dốc một khoảng chúng tôi được dắt đi xuống một cầu thang. Khi được mở khăn bịt mắt, tụi tôi thấy mình đang ở trong một căn hầm tranh tối tranh sáng tù mù. Hầm có nhiều ngách hàng ngang dãy dọc là kệ gỗ lớn chất những bao gạo.

Tụi tôi hiểu đây là hầm chứa lương thực nhưng không ngờ nó lớn đến như vậy. Cái bất ngờ nữa là thịt. Thịt heo muối từng nửa con khá lớn được bọc trong lớp vải thưa treo toòng teng cả một gian hầm lớn. Khi khiêng, vác được nửa con heo ra khỏi hầm, tôi thấy một lô chữ Tàu màu phẩm xanh hẳn nhiên là thịt heo muối Trung Quốc. Chỉ đến giai đoạn này của cuộc chiến, khi mà người Mỹ đã rút hẳn chân ra và con đường mòn chuyển quân an ninh hơn, quân đội Bắc Việt mới có thể thiết lập những trạm với hầm lương thực đồ sộ cỡ này hay những nơi như thế đã có từ lâu? Tôi thì thầm với hai ông bạn tù. Đại úy Bình bảo cứ theo kiểu xây cất thì có lẽ hầm đã được xây cất từ lâu và được tu bổ nhiều lần. Tôi nhớ là vất vả lắm ba đứa tôi mới khênh được bốn bao gạo và hai thớt thịt heo muối lên mặt đất vì hầm khá sâu. Điều tức cười là đến thì bịt mắt nhưng lúc lên khỏi hầm vì phải khênh vác nên họ đành để chúng tôi thành “người trần mắt thịt.” Tôi nhìn thấy phía trước có mấy căn nhà thì hiểu bộ phận chỉ huy áp giải tù binh sinh hoạt ở đó.

Mãi về sau khi đã trải mùi tù tôi mới thấm hai chữ sinh hoạt, nhưng lúc đó ngay giữa Trường Sơn ngút ngàn, mỗi khi dừng lại, chỉ thấy bộ đội Bắc đều phải sinh hoạt. Những lúc đó số lính canh bớt hẳn đi và đôi khi từ chỗ ngồi, chúng tôi có thể thấy lính Bắc ngồi thành cụm, thành nhóm. Ông Bình bảo tôi:

- Tụi nó kiểm thảo rút ưu khuyết điểm liên miên, chẳng bù với quân đội mình...

Ông bỏ dở câu nói và chúng tôi hiểu rất rõ ông muốn nói gì. Trước đây trong quân đội, chúng tôi ít học tập nhưng nay thì chúng tôi trở thành tổ tam tam, ba người một, chia xẻ nhau từng giờ từng phút. Chúng tôi nói với nhau trên đường đi, lúc nghỉ, lúc sáng sớm dậy, lúc đêm khuya. Ông đại úy Bình tuy to con hẳn so với hai đứa tôi nhưng lại là người gục đầu tiên.

Sau cỡ một tuần trên con đường hung hiểm này, buổi tối sau khi ăn xong, ông Bình kêu “khó chịu quá, như muốn ói!” Nửa đêm ông ngồi dậy nôn thốc nôn tháo, gập người xuống ói. Tôi và ông Quyền mỗi đứa một bên ôm chặt ông, cố giúp ông. Mỗi khi ông ói xong, tụi tôi hai đứa lại dìu ông lê đến một chỗ khác vì mùi xông lên rất khó chịu. Sau đó, ông gần như ngất đi và đến tảng sáng thì ông bắt đầu bị sốt rét. Người ông run bần bật như lò xo. Ông co rúm lại thở không ra. Tôi và ông Quyền lấy hai tấm ni lông của mình quấn thêm vào nhưng ông vẫn run, co rúm. Ông Quyền bảo:

- Tôi và ông thay phiên nhau ôm ông ấy.

Tôi chưa biết đến sốt rét nên rất ngạc nhiên khi thấy cơ thể ông Bình nóng ran trong khi ông vẫn run như cầy sấy. Người ông vã mồ hôi như tắm. Ông Quyền hô hoán và một người lính Bắc Việt cầm đèn pin rọi xuống. Anh ta nhìn chưa đầy một phút đã kết luận:

- Ối, có gì đâu. Sốt rét ấy mà.

Anh ta quày quả bỏ đi và một hồi quay lại đưa cho tụi tôi một gói:

- Ký ninh đấy. Ai mà chả bị sốt rét, bị ngã nước. Thường thôi, vài hôm là khỏi ngay ấy mà.

Đối với lính Bắc thì thường thôi nhưng đối với lính Ngụy thì không có gì là bình thường cả, nhất là chân lại bị xích. Buổi sáng, tôi cố ép ông Bình ăn hết bát cơm. Ông rũ ra như tàu lá ướt, đứng lên là lảo đảo. Nhưng chúng tôi vẫn phải lên đường để vượt một đoạn đường tôi nhớ đời vì trước khi khởi hành, tù được tập họp lại để nghe huấn thị.

- Từ đây đến trạm kế, đường dốc hơi nhiều. Lệnh trên rất rõ ràng. Các anh phải tuyệt đối kỷ luật, phải rất cẩn thận đừng để ngã, không ai cứu được đâu...

Để tăng sự chú ý của tù, lính Bắc Việt chặt chúng tôi thành từng toán nhỏ cỡ mươi mười lăm người một, mỗi toán đều có “bảo vệ” đi kèm. Quãng gần trưa, chúng tôi bắt đầu tiến vào một vùng thưa cây, và cây không cao vì địa thế toàn là đá. Chúng tôi bắt đầu leo dốc, mới đầu là những dốc xoai xoải nhưng rất khó đi vì đá răm lởm chởm, hễ trật chân là có thể bị xước, bị cắt chảy máu. Càng lúc càng lên cao tới một đoạn chúng tôi bắt đầu đi men theo sườn núi. Lối đi có quãng rất hẹp, gần như chỉ có thể đi men, vừa đi vừa bám vào vách núi đá. Tôi thấy rõ những vết đục lam nham ăn sâu vào sườn núi, có lẽ đã được phá bằng xà beng. Những thanh thiếu niên miền Bắc khi đi tới đoạn này, chắc đã phải vừa đi vừa phá núi bằng xà beng. Hình ảnh của họ thoáng trong trí tưởng tượng làm tôi rùng mình. Một bên núi dựng ngược, một bên là vực sâu thẳm, nhìn xuống chỉ thấy ngút ngàn phía dưới sương mù lẩn khuất nơi đọt cây. May mà trời khô ráo, nếu tới khúc này mà trời đổ mưa thì hẳn có người chết. Chúng tôi có lúc gần như bò vì dốc ngược quá, chân lại bị xích. Mặt mũi ai cũng phờ ra, ông Bình thở phì phò, mặt đỏ gay. Vừa dìu nhau, ông Quyền vừa luôn mồm đùa cợt. Hai đứa tôi đều hiểu chỉ cần một chút lơ là, yếu đuối là chúng tôi có thể chết, và chết chùm.

Giữa lúc đang cố leo bỗng ông Quyền hỏi:

- Ông thày có đọc Hán Sở Tranh Hùng không?

Đại úy Bình nhăn nhó:

- Lại dở tích Tàu nữa.

- Ấy, có ông Lý Bạch làm bài Thục Đạo Nan để tôi đọc cho hai ông nghe.

Và ông đọc thật. Tôi không rõ tích Lưu Bang, Hạng Võ cũng không thuộc một câu thơ Đường nhưng nghe ông Quyền đọc thơ trong cảnh này bỗng thấy thấm vô cùng. Lời thơ trúc trắc trục trặc nghe như vừa đi vừa vấp, vừa trèo vừa thở, câu thì ngắn câu thì dài. Sau này tôi bắt ông Quyền chép và giảng bài Thục Đạo Nan. Tôi cố học mãi mà không bao giờ thuộc hết, cứ thuộc rồi lại quên. Nhưng lúc đó cái giọng đọc của ông và bài thơ khúc khuỷu đó đã giúp ba đứa tôi rất nhiều.

Y! Hu! Hi! Nguy hồ cao tai!

Thục địa chi nan, nan ư hướng thanh thiên

Tàm tùng cập Ngư Phù

Khai quốc mang nhiên!

...

Thượng, hữu lục long, hồi nhật chi cao tiêu

Hạ, hữu xung ba nghịch chiết chi hồi xuyên

Hoàng hạc chi phi thượng bất đắc quá

Viên nhiếu dục độ sầu phan viên

...

Kỳ hiểm dã nhược thử.

Ta nghĩ viễn đạo chi nhân

Hồ vi hồ lai tai.

Đường hiểm trở là như thế - thương thay những kẻ đi đường xa - sao lại léo hánh đến nơi đây.

Con đường đất Thục có ghê gớm hơn cảnh chúng tôi đang trải qua chăng? Kẻ đi đường xa của ông Lý Bạch dù cô đơn lữ thứ chắc không hề bị xích bằng lòi tói sắt như tụi tôi. Liệu sau cuộc chiến có ông thi sĩ nào nhỏ nước mắt cho những kẻ lao đao trên đường Trường Sơn?

Đúng là suy nghĩ dấm dớ như kiểu suy nghĩ này vẫn hay lóe trong đầu tôi vào những lúc cùng túng nhất. Nghĩ lại cũng buồn cười.

Lên đã vậy, lúc xuống còn gay go hơn nhiều. Một cụm tù đã té, ba người ôm trùm nhau lăn lông lốc xuống con dốc đá. Hai người tù bị sây xát khắp người. Người thứ ba bị gãy một chân. Họ vẫn không được mở khóa tháo xích. Tôi đã rơm rớm nước mắt nhìn cảnh hai người đồng đội dìu người bị què lê từng bước chậm trên con đường sỏi đá, những sợi xích quấn vào nhau kêu leng keng theo từng bước đi chập choạng.

Giữa lúc đó, đại úy Bình lên cơn sốt rét. Người ông nóng bừng nhưng ông run như cầy sấy, hai hàm răng đánh vào nhau lập cập. Sợ ông cắn vào lưỡi, tôi xé một miếng vải cuộn lại bắt ông ngậm chặt. Mặt ông đỏ gay, mồ hôi tươm ra, cả người nhũn xuống mềm oặt.

Tôi một bên, ông Quyền một bên, hai đứa vừa khênh vừa dìu ông đi. Ông Quyền đã lớn tiếng báo cáo nhưng tới lui một hồi, một người có lẽ là cán bộ đến nhìn chúng tôi rồi nói với giọng rất nghiêm trang:

- Các anh phải phấn đấu, không có chuyện cả đoàn ngừng lại vì một anh bị sốt. Nếu các anh không quyết tâm lo cho nhau, tôi sẽ để ba anh ở lại đi sau.

Phần II


Đây không phải lời dọa xuông. Chúng tôi đã nghe chính những người lính Bắc còn bị bỏ rơi huống hồ tù ngụy. Ông Quyền lâu lâu lại pha trò, lâu lâu lại vỗ vỗ vào vai người huynh trưởng thiết giáp như muốn tăng thêm sức cho người ốm. Mỗi lần như vậy, đại úy Bình lại gật gật cái đầu. Cuối cùng cơn sốt rét dịu dần, nhưng ông Bình thì lả đi. Sức khỏe của tôi và nhất là ông Quyền không hiểu từ đâu ra nhưng rốt cuộc chúng tôi vẫn cùng lôi được ông Bình đến trạm nghỉ.

Buổi tối đó tù xôn xao bàn tán. Không chỉ có mình ông Bình mà còn có hai người khác cũng sốt rét, vài người khác bị kiết lỵ và còn người tù bị què nữa.

Khi cơm nước xong, chúng tôi lại nghe những lời huấn thị rất rõ ràng của một viên cán bộ:

- Đói ăn rau, đau khắc phục. Các anh phải phấn đấu để cùng đi đến nơi an toàn. Các anh phải tự lo cho nhau...

Viên cán bộ nói dài, nói dai và dùng rất nhiều chữ đao to búa lớn, chữ Hán Việt nhưng rốt cuộc cái thông điệp rất rõ ràng. Hễ không đi thì bị bỏ lại giữa rừng. Không đi thì chỉ có chết. Tuy nhiên có hai trường hợp được giải quyết. Họ đồng ý tháo xích cho người bị què để người tù này có thể chống gậy đi một mình. Họ đồng ý để chúng tôi làm cáng khiêng một người bị kiết lỵ vì sức đã quá kiệt.

Anh em mượn một cái dao đẽo gọt làm được một cây nạng cho anh bạn bị què và cái cáng để khiêng anh bạn bị kiết lỵ. Trông anh như một que củi, chỉ còn da bọc xương, hai mắt sâu hoắm trên gương mặt gầy guộc. Tóc anh như đa số tù dài phủ gáy, râu ria lởm chởm. Anh đi đứng không vững, hễ đứng lên là lảo đảo chắc vì trong người đã hết nước. Người anh xông lên mùi xú uế, quần áo thì bê bết khô cứng. Bạn tù đã lấy nhiều tấm ni lông cột chằng cột đụp cuối cùng cũng có được chiếc cáng. Vì tù bị xích chùm nên khi khiêng anh có đến mười hai người, ba người một đầu cáng. Một đám người quần áo tả tơi, đầu tóc rũ rượi bù xù xúm khênh một người bệnh tạo một hình ảnh khó xóa nhòa trong trí nhớ. Hai hôm sau anh kiệt hẳn, đứt hơi vào quãng giữa trưa.

Đoàn tù xôn xao khựng lại nhưng chỉ một lát sau thì có lệnh đi tiếp, đến trạm mới được “giải quyết”. Đến chỗ nghỉ, chúng tôi xin mượn xẻng để đào huyệt thì bị từ chối và được nói chính họ sẽ giải quyết. Hai người lính Bắc Việt đã khênh xác anh đi chôn với lời giải thích:

- Chúng tôi sẽ chôn và đánh dấu ngôi mộ để sau này khi hòa bình cách mạng sẽ báo cho gia đình người chết.

Anh em ngơ ngác nhìn nhau đầy nghi ngờ nhưng nói năng gì bây giờ. Rất nhanh chỉ một lúc sau hai người lính Bắc đã đem trả mấy miếng ni lông làm cáng khiến ông Quyền thì thầm:

- Tụi nó quăng xác vào rừng cho diều tha quạ mổ rồi, hơi đâu mà đào hố cho mệt xác.

Sau biến cố đó mọi người ít nói hẳn đi.

Vào buổi tối đại úy Bình sau cơn sốt quặn người đã nói với tụi tôi bằng một giọng rất bình tĩnh:

- Tôi chắc không sống sót được để đi đến đất Bắc. Tôi biết tôi không chịu đựng được lâu nữa. Nếu tôi có mệnh hệ nào, và nếu các ông còn sống trở về, nhớ nhắn với vợ con tôi là tôi không hối hận gì, không xấu hổ gì vì đã cầm súng chiến đấu.

Tôi hơi ngạc nhiên, trước là giọng nói thản nhiên của ông, sau đó là lời trăng trối. Hối hận? Xấu hổ? Nhất là câu “cầm súng chiến đấu.” Nó mang vẻ cải lương nhưng đầy thành thật phản ảnh suy nghĩ của ngay chính tôi. Ông Bình không nói đến lý tưởng, không nói đến chính nghĩa quốc gia. Ông chỉ nói đến cầm súng chiến đấu. Thiếu úy Quyền nghe lời trối trăn trở nên nghiêm trang hơn:

- Tôi và trung úy Dũng sẽ không bao giờ bỏ rơi đại úy. Nếu phải một mình cõng hai ông đi Bắc, tôi cũng cõng. Nếu cần thì ba đứa chôn chung một hố.

Không ai nói gì thêm. Có nói cũng bằng thừa. Trời cuối năm đen thẫm. Ba đứa nằm ngửa nhìn bầu trời thăm thẳm không một vì sao, nghĩ đến cái hố vùi nông ở đâu đó giữa Trường Sơn với dải xích còn lòi trên ngôi mồ tập thể.

Chúng tôi không hề thiếu ăn. Hình như họ đã tính trước nên khi nào không gặp trạm nghỉ có gạo có cơm thì sáng hôm khởi hành chúng tôi được phát lương khô. So với Ration C của Mỹ hoặc gạo sấy của Việt Nam Cộng Hòa, lương khô Trung Quốc gọn hơn nhiều, đáng nhớ nhất có lẽ là thịt heo chà bông và đậu xanh đóng thành bánh. Thịt chà bông hoặc như người Bắc gọi là ruốc của Trung Quốc ngọt lừ, đôi khi hơi ẩm và vụn quá. Bánh đậu xanh được đóng nén lại thành từng thỏi cứng có lẽ vì có trộn thêm vitamin nên mùi là lạ nhưng ăn vào rồi uống nước no cả buổi. Đòi hỏi gì nữa. Thân phận tù nhưng chúng tôi vẫn được chia khẩu phần giống như bộ đội anh hùng của xã hội chủ nghĩa miền Bắc.

Khi đã thực sự sống đời tù, thực sự chui vào cái xã hội đó, tôi mới hiểu riêng về phương diện ăn uống, chúng tôi được biệt đãi trên đường Trường Sơn. Hay như đại úy Bình nhận xét họ phải cho tù ăn no, ăn đủ may ra mới đủ sức để lê tới đích. Nhưng muỗi mòng và vắt lại là chuyện khác. Khi thắc mắc tại sao mới đi có hơn một tuần mà đã bị sốt rét, đại úy Bình ngẫm nghĩ rồi thở dài:

- Muỗi nó đốt tôi từ hơn ba tháng chứ đâu phải mới.

Muỗi Trường Sơn có con to hai chân sau rất dài. Với cái vốn vạn vật học hồi Trung Học, tôi biết là Anophène chuyên chở vi trung sốt rét Plasmodium, nhưng con muỗi này đốt không đau như những con muỗi khác - chẳng biết tên là con gì - đốt đau hơn nhiều. Có con muỗi bé tí nhưng đốt nhói cả người và để lại nốt đỏ đôi khi to bằng hạt đậu. Có con nữa giống như con ruồi nhưng nhỏ hơn cũng đáng sợ. Rồi còn vắt. Con này đen thui dài cỡ nửa cây tăm có thể búng người tung lên. Mới đầu tù còn la oai oái nhưng rồi ai nấy thây kệ vì không có cách gì đối phó. Nhìn cánh tay lúc nào cũng mẩn đỏ, tôi nhớ những lọ thuốc xoa chống muỗi của bố mẹ gửi cho. Liệu ông cụ bà cụ có biết tôi đang lê cùm vượt núi? Dung nữa. Giờ này Dung đang làm gì? Những người thân yêu của tôi hẳn đều yên trí tôi đã bỏ mạng trong trận Đồng Xoài.

Tôi không có đầu óc nào để nghĩ ngợi. Thể xác tôi rã rời. Tinh thần chỉ còn lo đối phó với những gì đang xảy ra. Sợi xích sắt oan nghiệt khiến chúng tôi không có lấy một phút riêng tư. Khi đại úy Bình thấy một người từng cùng đơn vị ở Sư Đoàn 5, ông muốn đến hỏi han thì hai đứa tôi cũng phải ôm xích đi theo và ngồi chầu rìa nghe hai ông bạn cũ hỏi thăm í ới xem ai còn ai mất.

Rút kinh nghiệm, chúng tôi đồng ý là ráng cùng tiểu và đại tiện một lúc và lo việc quan trọng này vào lúc trời còn sáng. Sở dĩ như vậy vì có lần nửa đêm tôi quặn bụng quá đành lôi hai ông bạn đi ra một chỗ khuất. Có lẽ vì mệt mỏi, và buồn ngủ, ba đứa tôi kéo lê sợi xích và nó vướng vào một bãi của ông bạn tù nào đó vừa phóng uế trước. Suốt đêm đó mùi phân xộc lên thật khó chịu.

Sốt rét chỉ lên từng cơn và thường là cách nhật. Đại úy Bình sa sút thấy rõ, mắt vàng hẳn, hai má xọp xuống nhưng ông không hề than nửa lời. Chúng tôi cứ thế vừa lê vừa bước nhưng rõ ràng chúng tôi di chuyển quá chậm so với dự trù của cán bộ. Họ hối, họ thúc nhưng không chửi tụi tôi. Phải chăng có một cái gì đó giữa những người lính với nhau cho dù lính ở hai chiến tuyến đối nghịch khiến họ còn giữ lời ăn tiếng nói với chúng tôi chăng?

Cứ thế chúng tôi lê bước kéo xiềng trên đường rừng núi có lẽ cả tháng trời. Lúc đầu chúng tôi ở Miên, sau đó chúng tôi đến Lào. Ngó lên là trời, ngoảnh sang bên là rừng già, là sườn núi, chúng tôi chỉ còn biết cúi đầu đi tới. Đám sĩ quan ngụy nay đâu còn bản đồ, còn PRC, còn địa bàn gì nữa để định vị trí, tọa độ như trước đây. Nhưng ít nhất hai lần đoàn tù đã hạ trại ở gần bản của người Lào. Một lần chúng tôi thấy bộ đội Bắc Việt hí hửng kháo với nhau họ được ăn cơm nếp, khiến đại úy Bình chép miệng:

- Giá mà có cơm nếp chấm muối vừng thì có khi khỏi cả sốt rét.

Tôi nhớ một hôm đám cai tù có vẻ nhộn nhịp hẳn và tù cũng lao xao vì tin sắp rời khỏi đường mòn. Quả nhiên sau một buổi sáng gần như toàn đi đường xuống dốc, quang cảnh dần dần xem ra có khác. Rừng thưa hẳn đi và không khí như thoáng hơn, thơm hơn, dịu hơn. Đến quá trưa vào quãng hai giờ, chúng tôi thấy mình đang ở trên quốc lộ số 1. Không nhìn thấy nhưng chúng tôi biết phía tay mặt là biển vì cạnh quốc lộ rất nhiều rặng phi lao và đụn cát. Đại úy Bình quay sang hỏi ông Quyền:

- Ông binh thư làu thông có biết Dãy Phố Buồn Thiu

Ông Quyền cười:

- Ông thày ơi, vụ đó xảy ra từ xưa rồi, chiến tranh Việt Pháp lận. Bây giờ là Đại Lộ Kinh Hoàng. Cả chục ngàn người chết trong vụ rút lui khỏi Quảng Trị vào mùa hè đỏ lửa, ông thày nhớ không?

Gió từ Lào thổi xuống mang cái lạnh núi rừng theo tụi tôi. Những cây phi lao như nghiêng về phía biển rung rinh. Quốc Lộ không bóng người. Thỉnh thoảng chúng tôi còn thấy một chiếc T54 cháy rụi nằm nghiêng bên lộ. Trong cái âm vang của quá khứ còn tươi rói của cuộc chiến, vẳng đâu đây như có lời thơ của Đoàn Thị Điểm:

Hồn tử sĩ gió ù ù thổi

Mặt chinh phu trăng rõi rõi soi.

Đang là xế chiều, mặt trời đã bị những rặng núi che khuất và những kẻ chinh phu như đám tù ngụy chúng tôi thì đang thất thểu trên con đường nhựa lỗ chỗ bom đạn.

Tối hôm đó chúng tôi được dồn vào một khoảng trống khá rộng ở dưới một quả đồi. Trời tối rất mau và không trăng nhưng từ phía xa nghe như có tiếng sóng biển vọng về. Lâu lắm cho tới tối nay tôi mới ngủ một lèo mà không bật dậy nửa đêm vì muỗi mòng Trường Sơn.

Chúng tôi bị khua dậy cỡ hai ba giờ sáng. Trời lạnh vô cùng và những cơn gió như luồn vào da thịt, thấu đến xương tủy. Trời còn tối nhưng chúng tôi vẫn phải mò mẫm để lên đường. Quốc lộ 1 còn nguyên tuy thỉnh thoảng mặt đường bị cày lên có lẽ vì xe tăng thiết giáp hoặc lõm xuống vì bom đạn. Phía bên phải toàn là đụn cát và phi lao nhưng phía trái bắt đầu thấy có ruộng ngập nước. Mùa gặt hình như đã qua vì chỉ thấy gốc rạ bị cắt còn nhô lên.

Lầm lũi như những con ma chơi, đoàn tù di chuyển chậm chạp trên quốc lộ cho đến lúc sáng hẳn. Khi vài tia nắng lóe lên từ phía đông, sự sống mới xuất hiện.

Tiếng động cơ quen thuộc nghe rõ dần và đó là một chiếc xe lam ba bánh. Xe đầy người, có hai người gần như đánh đu ở phía sau. Những người nông dân này đi đâu? Hẳn chỉ ít lâu trước đây họ là ngụy dân nhưng trong cảnh tranh tối tranh sáng này, họ nhìn và nghĩ gì về những người lính chúng tôi?

Ông Quyền thì thào hát nhỏ: “Cờ bay cờ bay trên thành phố thân yêu. Vừa chiếm lại đêm qua bằng máu... Ta ôm nhau mắt lệ nghẹn ngào, quỳ hôn đất thân yêu...”

Thành phố Quảng Trị thân yêu hẳn nằm đâu đó gần đây nhưng dân thì không thấy. Họ đâu rồi? Vào quãng trưa trời bắt đầu mưa nhỏ hạt, loại mưa phùn. Những hạt nước li ti như bụi đọng vào quần áo, vào râu tóc và dần dần thấm vào da thịt khiến ai nấy lạnh run.

Tôi và ông Quyền lo đỡ đại úy Bình lẹt đẹt ở phía sau đoàn người thì nghe ở phía trước lao xao:

- Bến Hải. Bến Hải.

Đại úy Bình lúc nào cũng nhỏ nhẹ, nói:

- Vậy là mình sắp đặt chân lên đất Bắc.

Suốt đời tôi, tôi chỉ quanh quẩn ở Vùng Ba Chiến Thuật và nơi xa Sài Gòn nhất mà tôi từng đặt chân tới là Đà Lạt và Nha Trang. Những địa danh như Đà Nẵng, Huế, hay xa hơn như Đông Hà, Quảng Trị là những ý niệm mù mờ, những hình ảnh của phim thời sự, của báo chí, của những người dân lễ mễ chạy loạn. Hiệp định Genève 1954 đã chặt Việt Nam ra làm hai khúc ở vĩ tuyến 17 và đẩy tôi xa Hà Nội từ tấm bé. Tôi chỉ biết Bến Hải qua một bài hát được nghe hoài hủy trên radio:”Đây Bến Hải là nơi chia cách đôi đường... Những ai lạc hướng mau quay về đây...”

Hồi mới lớn tôi nghe đã có nhiều người vượt tuyến bằng cách bơi qua sông Bến Hải. Nhưng không hiểu vì sao lòng tôi rộn hẳn lên, cùng với hai ông Quyền, Bình bước có vẻ nhanh hơn. Bầu trời trong cơn mưa phùn mờ mờ ảo ảo tạo một không khí như có như không, như mơ như thật.

Ông Quyền reo lên:

- Cái cột cờ kìa!

Chúng tôi đang ở phía Nam của vĩ tuyến. Ngày xưa - ngày xưa của thời tổng thống Ngô Đình Diệm - có một vùng được gọi là Phi Quân Sự ở ngay vĩ tuyến 17 được ghi trong hiệp định Genève. Không được đánh nhau bằng súng đạn bằng xe tăng đại pháo thì chúng tôi đánh nhau bằng mồm. Hai bên bờ của sông Bến Hải, mỗi bên đặt loa và thi nhau phát thanh. Mỗi bên cố dựng cột cờ cao hơn bên kia. Không rõ cái cột cờ ông Quyền chỉ trỏ có phải là cột cờ còn lại từ xửa từ xưa? Bom đạn suốt bao nhiêu năm liệu nó còn đứng vững đến giờ này chăng?

Cột cờ khá cao và lá cờ đỏ sao vàng rũ xuống ảm đạm trong cơn mưa trông thật buồn. Khi bước chân lên chiếc cầu sắt long lở, đã được hàn gắn đôi chỗ bằng những tấm bửng sắt có lỗ, loại thấy nhan nhản ở các phi trường quân sự lòng tôi bâng khuâng. Cái tên nghe thật hiền, nghe như muốn gợi lên lòng yêu thương đó đã là chứng tích của bao nhiêu đổ vỡ. Đang đi trên cầu, đại úy Bình nhỏ nhẹ:

- Các ông đang đi trên lịch sử. Nhớ để mai mốt nếu còn sống về kể cho con cháu nghe.

Chỉ có điều đáng tiếc là ông đại úy Thiết Giáp đã không có dịp để thực hiện cái ước muốn nhỏ nhoi đó.

Tôi đứng giữa cầu ngoảnh lại nhìn về phía Nam. Giã từ nửa mảnh giang sơn đã ấp ủ tôi, nuôi nấng tôi. Giã từ Dung bởi trong đáy lòng tôi, tôi biết kiếp này khó gặp lại nhau. Tôi thấy nước mắt mình tự nhiên trào ra và trong cảnh mưa phùn gió bấc này, hai người bạn có chú ý thì cũng chẳng thể thấy đâu là nước mắt, đâu là nước mưa. Hay trời cũng đang khóc cùng tôi.

Qua khỏi cầu Hiền Lương, chúng tôi nhìn rõ cái cột cờ của phía Bắc. Nó cao hơn thật và lá cờ lớn hơn nhiều nhưng cũng như lá cờ ở phía Nam, nó rũ xuống thành dải trong cơn mưa phùn.

Quang cảnh đìu hiu tê lạnh của đất Bắc khiến đoàn tù như chùng xuống. Nỗi hớn hở được đặt chân lên phần đất đã bị cắt lìa của quê hương chỉ thoáng lên trong chốc lát và sau đó là tò mò quan sát. Đường đi vốn tráng nhựa nhưng đã lở lói, nhiều khúc bị sạt lở, không còn đá xanh lót và lớp nhựa đã long đi đâu mất.

Một đoàn công voa nhà binh chở đầy lính đi ngược về phía Nam. Vài người bộ đội nhô ra khỏi xe. Dăm ba tiếng ê, a vang lên cùng với vài cánh tay đưa ra vẫy vẫy. Chiến trường miền Nam đang cần thêm tay súng. Nhưng điều làm tôi sững sờ nhất là hình ảnh của ba người dân xã hội chủ nghĩa miền Bắc chúng tôi gặp lần đầu. Hai người đẩy một người kéo, họ đẩy một chiếc xe mà sau này tôi mới biết là xe cải tiến chất đầy những bó củi. Họ mặc áo tơi lá, nón đội sụp xuống, chân đi đất. Họ cong người trong cơn mưa đẩy chiếc xe khiến tôi như bị lôi trở về quá khứ của bao nhiêu năm trước.

Tôi nhắm mắt lại, nhớ đến bố tôi trong những buổi tối ngồi với lũ con kể chuyện miền Bắc dưới thời Pháp thuộc. Tôi là đứa lớn nhất trong nhà, còn loáng thoáng trong đầu những kỷ niệm của Hà Nội và cũng đủ lớn để hiểu bố chỉ muốn những đứa con hiểu cảnh đọa đày của người dân khi sống dưới ách đô hộ của người Pháp. Một cách gián tiếp, bố cố nuôi dưỡng tinh thần yêu nước trong đầu óc non nớt của lũ con. Những hình ảnh bố cố vẽ ra nay đang sờ sờ trước mắt tôi. Nó hiện thực đến quặn lòng và tôi nhớ đến chiếc xe lam ba bánh ở bên kia bờ phía Nam. Bao lâu nữa thì người dân miền Nam sẽ biết đến xe cải tiến?

Đêm đầu tiên trên đất Bắc, chúng tôi được dồn vào căn nhà khá lớn ở ven một ngôi làng nhưng không hề thấy bóng dáng một người dân nào. Tôi nghĩ là họ đã cố tình không để dân chúng nhìn thấy chúng tôi. Trời vẫn mưa không ngớt hột, lũ tù loi ngoi lóp ngóp, quần áo ướt sũng ngồi chịu trận cho đến sáng thì có xe tới. Tôi đếm tổng cộng tám nhưng chúng tôi chỉ được dành cho ba chiếc. So với lúc đầu thì rộng rãi chán, có lẽ vì chúng tôi đã quen với xiềng xích, vì bớt đồ đạc lỉnh kỉnh hay vì chúng tôi đã gầy đi chăng?

Xe chạy trên quốc lộ nhưng khá chậm vì nhiều ổ gà và đôi chỗ khi gặp sông phải đi phà. Cầu đa số đã bị bom Mỹ đánh sập từ lâu. Dọc đường chúng tôi gặp toàn xe nhà binh chở lính đi ngược chiều và không hề thấy một chiếc xe dân sự nào, kiểu xe đò của miền Nam.

Lắc lư cho đến gần nửa đêm, đoàn xe rẽ vào thị trấn Vinh để tù đi xe lửa. Họ tránh không để tù lên xe ngay tại ga mà lùa vào ba toa ở một chỗ trống khá vắng vẻ. Trong đêm, những toa xe thẫm màu lù lù đầy đe dọa và khi đã ở trong toa mùi khai nồng nặc. Toa xe hẹp vì đường rầy vẫn là loại 80 centimetre hồi tiền chiến nhưng có ghế hẳn hoi, dù là ghế gỗ. Tù ngồi thoải mái không phải chen chúc như khi di chuyển bằng xe Molotova.

Xe chạy độ nửa tiếng thì đậu lại ở Vinh. Toa chở tù nằm cuối đoàn tàu nhưng từ cửa sổ chúng tôi cũng thấy cảnh chen lấn xô đẩy của đám đông lố nhố với quang gánh, hòm xiểng. Đa số đều đội mũ hay đội nón và tiếng gọi, tiếng chửi vang lên rõ mồn một. Đón khách ở Vinh độ hơn một giờ sau, tàu lại lăn bánh.

Ngoài kia trời bắt đầu hửng nắng. Những tia nắng từ phía đông soi nghiêng xuyên qua cửa kính mờ đục.

Tôi nhìn bạn bè ủ rũ, hốc hác sau hơn hai ngày bị nhồi xóc. Ai nấy bơ phờ, ngủ gà ngủ gật, chẳng còn hơi sức nào để quan sát đất Bắc hay bàn tán gì nữa. Xe lửa thỉnh thoảng lại hú còi và mỗi lần như vậy tôi để ý thấy xe đi qua xóm làng hay thị trấn gì đó. Nhà cửa đa số lợp tranh, lớp lá và đôi khi lợp tôn nhưng thấp lụp xụp.

Đây là xe tốc hành vì chúng tôi chỉ thấy ngưng một lần ở Hải Phòng. Cũng như ở Vinh, bộ đội đứng chặn ba toa cuối không để dân chúng đến gần. Có ai trong đám dân lao xao ở ga biết ba toa cuối chở toàn lính ngụy?

Khi tàu sắp chuyển bánh, một cán bộ xuất hiện:

- Chúng tôi đã cố tránh không để các anh lộ diện vì e ngại phản ứng của dân chúng. Các anh là tội đồ, các anh đã phản bội tổ quốc, các anh là tay sai của đế quốc...

Anh ta nói thao thao nhưng tóm gọn lại là nếu dân đất xã hội chủ nghĩa nhìn thấy là chúng tôi lãnh đủ. Anh ta không nói trắng ra nhưng ngụ ý dân chúng sẽ xông vào đánh đập, ném đá và có thể xé xác lính ngụy. Lòng căm thù của quần chúng đối với ngụy đã khiến Đảng phải tìm cách bố trí cho họ không thấy chúng tôi. Nhưng như lời anh ta, chúng tôi sẽ phải chuyển xe ở Hà Nội và dân chúng Hà Nội đã biết và đang tụ tập, mít tinh ở ga Hàng Cỏ chờ đợi. Tù nhìn nhau không nói gì, nhưng tận đáy lòng, niềm lo sợ khiến ai nấy đăm chiêu. Hình ảnh của phi công Mỹ bị trói giật cánh khuỷu, bị dẫn đi diễu giữa phố phường Hà Nội làm tôi lạnh gáy. Viên cán bộ hạ lời cuối:

- Các anh liệu thần hồn...

Thuở nhỏ tôi ở Hà Nội nhưng chưa bao giờ đến ga Hàng Cỏ vì bố mẹ tôi bảo chỗ đó toàn du côn du kề, toàn thứ trèo me trèo sấu, du thủ du thực. Đám con nít tụi tôi đều xanh lè mắt khi nhắc đến du côn ga Hàng Cỏ. Do đó tôi không biết ga này có khác xưa không.

Khi tàu đậu lại, cả một rừng người tụ tập. Rất nhiều lính áo vàng nón cối dép râu đeo AK mà mãi sau này tôi mới biết đó không phải là lính mà là công an. Họ đứng thành hai ba lớp chận ngang đám đông lố nhố. Rất nhiều biểu ngữ hoan hô đả đảo và điều làm tôi ngạc nhiên hơn cả là hình ông Hồ, rất nhiều, được trương lên trong đám đông. Ít nhất tôi cũng đã đủ lớn để nhìn thấy cảnh biểu tình nhưng dù dưới thời vua Bảo Đạo, thời Ngô tổng thống và sau này các ông Thiệu - Kỳ, chưa bao giờ tôi thấy hình ảnh của họ xuất hiện như hình của ông Hồ Chí Minh. Tôi huých ông Quyền:

- Nó bảo là cuộc mít tinh tự phát, dân chúng tự ý đến “dàn chào” tụi mình ...

Ông Quyền cười tủm tỉm:

- Ối, ông ơi, nó nói gì kệ nó. Ông ráng mà lấy tay che đầu. Đá xanh trúng là bể gáo.

Rồi cũng đến lúc phải đương đầu với hiện trạng. Tù được dẫn xuống để đổi toa. Những tiếng hò hét được điều khiển bởi hai cái loa vang lên vang rền. Dăm ba viên đá ném về phía tụi tôi nhưng có lẽ vì xa quá nên không tới.

Tôi căng mắt nhìn người dân Hà Nội. Đa số đều mặc áo màu xám tro. Mấy em nhỏ co ro vì lạnh ngồi xổm ở hàng đầu chỉ trỏ cười nói. Tôi nhìn lại anh em đồng đội. Họ như người rừng, rũ rượi tả tơi xơ xác hoặc như lời giễu cợt của ông Quyền “Trông chúng mình không giống con giáp nào.” Những người đứng phía dưới đường kia nhìn tụi tôi dám nghĩ là những đứa kỳ hình dị dạng này đúng là hình ảnh tiêu biểu của quân đội Việt Nam Cộng Hòa của ngụy quân, những tên lính chuyên moi gan người ăn sống và cắt tai Việt Cộng xâu thành chuỗi đeo ở cổ. Họ có thể nghĩ như vậy lắm chứ.

Việc chuyển tàu ở ga Hàng Cỏ nếu làm nhanh gọn có lẽ chỉ kéo dài độ một giờ nhưng đã được tính toán cho trở thành dềnh dàng hơn để dân Hà Nội có dịp nhìn kỹ hơn lũ ngụy ác ôn tụi tôi. Nói gì thì nói, chúng tôi không ai bị trúng đá xanh hoặc bị con nít dùng súng cao su bắn cả. Họ chỉ trỏ cười nói nhiều hơn và “lòng căm thù” như lời đe dọa của viên cán bộ không thấy lộ ra.

Rời Hà Nội, tụi tôi xuống xe lửa ở trạm cuối Việt Trì và ở đó may quá dân chúng không tự phát đi tới ga chào đón chúng tôi.

Đoàn tù được đưa về một nơi tôi thấy đề biển màu vàng chữ đỏ Hợp Tác Xã Quyết Tiến 1. Đó là một dãy nhà khá rộng, trống lỗng, chỏng trơ hai bàn gỗ dài và một lô ghế cũ kỹ đôi cái đã long đinh. Không có nhân viên nào của hợp tác xã xuất hiện. Nhưng sáng hôm sau trước khi được chất lên xe để đi tiếp thì có chừng hai ba chục người đứng bên lề đường ngó, nhìn tù chỉ trỏ.

Tôi nhớ mãi khi vừa lên xe sắp sửa chạy thì có một người tất tưởi chạy tới, vừa đi vừa nói oang oang:

- Có anh nào ở Tiểu Đoàn 9 Dù không?

Anh ta xồng xộc chạy tới bám vào xe hỏi đi hỏi lại:

- Có anh nào ở Tiểu Đoàn 9 Dù không?

Khi biết không có 9 Dù, anh ta toe toét:

- Mấy bố khiếp lắm, đánh giỏi lắm. Hễ gặp ai ở Tiểu Đoàn 9 Dù cho thằng này gửi lời thăm. Mấy bố bắn khiếp.

Một người lính áp tải đến can thiệp thì anh ta văng tục liền:

- Địt mẹ, làm đéo gì thế. Ông mày đi B đánh nhau với Dù thừa sống thiếu chết, chưa sợ thằng nào đâu !

Không hiểu sao tôi vẫn nhớ người bộ đội phục viên đó và câu chuyện trên sau bao nhiêu thăng trầm của cuộc đời. Có thể vì cái giọng oang oang hoặc cũng có thể yếu tố bất ngờ của câu chuyện chăng?



Phần III


....

Ì ạch, lúc nghiêng lúc ngả rồi chúng tôi cũng tới nơi họ muốn chúng tôi tới. Lúc đó vào quãng xế trưa nhưng cuộc đời tù tội của tôi mới chỉ ở cửa trại.

Họ bắt đầu mở khóa tháo xiềng cho tù và công việc dễ dàng này bỗng trở nên vô cùng lỉnh kỉnh do khóa được thu mua từ nhiều nguồn khác nhau, cái lớn cái nhỏ, cái dày cái mỏng, không cái nào giống cái nào. Những cái khóa đó sau một thời gian mưa gió dãi dầu đã có cái rỉ sét, có cái lỗ khóa tắc tịt vì bùn đất. Ngay cả khi tìm đúng chìa thì mở được khóa cũng khá gay go. Đôi khi có chùm tù phải tự loay hoay cố tìm cho đúng cái chìa định mệnh.

Kết quả là có sáu chùm không tháo được khóa.

Phải hai ngày sau trại mới triệu được ông thợ rèn đến chặt mấy sợi xích oan nghiệt để giải phóng cho họ.

Tù được sắp thành hàng ngang đối diện với một dãy bàn dài trên đó từng chồng quần áo màu đỏ. Từng người một tiến tới và được lệnh cởi hết quần áo. Trần truồng, tồng ngồng, tù trút bỏ lớp y nhung cũ kỹ sương gió của miền Nam, của núi rừng để tròng vào người bộ quần áo màu đỏ. Ông đại úy thiết giáp Bình nay không còn dây mơ rễ má gì với ông thiếu úy Quyền và trung úy Dũng nhưng vẫn đứng sát tụi tôi nhỏ nhẹ:

- Chính ra tụi nói phải xịt DDT mới đúng sách vở.

Chỉ một điều chúng tôi biết là thân phận tù binh trong đệ nhị thế chiến thỉnh thoảng thấy trên màn ảnh ciné không thể so với tù binh dưới xã hội chủ nghĩa được. Mục tiêu lớn nhất của vụ vất bỏ quần áo không phải vì sợ sốt chấy rận, không phải vì vấn đề vệ sinh. Những cái đó ăn thua quái gì. Vấn đề chủ yếu là an ninh, là không để bất cứ tù nhân nào có dịp giấu giếm bất cứ thứ gì trước khi nhập trại. Tôi nhớ đến lượt tôi trong bộ quần áo thuở lọt lòng mẹ đưa tay ra thì có tiếng hô:

- Đỗ Lệnh Dũng, H6347.

Đó là số tù của tôi.

Tôi lẩm nhẩm “số bù” và ngạc nhiên với chính tôi. Hỡi ơi trong cảnh này sao tôi lại nghĩ như vậy hay linh tính cho thấy cuộc đời tù tội của tôi đã xui ngay từ ngoài cửa trại tù với con số bù 6347 và cái chữ H có thể đọc là Hốc Hác, là Hỏng, là Hết?

Dẫu sao thì lúc này tôi cũng giàu có hơn khi nằm trong cái hố giữa chiến khu D vì đã được hữu sản hóa với hai bộ quần áo màu đỏ có in số ở sau lưng, một manh chiếu cói và một cái chăn. Với gia tài đó tôi bước vào một cuộc đời khác.

Thế là tôi đã đổi xác thêm một lần nữa.

Lần trước tôi trút bỏ bộ quần áo thư sinh tròng vào người bộ đồ trận, ba lô mũ sắt để từ anh sinh viên Luật mơ mộng thành người lính dầu sương dãi gió trong mười năm chinh chiến.

Nay một lần nữa tôi lại tròng vào người bộ quần áo có chữ ở phía sau lưng để bước vào quãng đời khác dài không kém.

Cuộc đời tù tội.

Lê Thiệp
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn