BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 30215)
(Xem: 29288)
(Xem: 26291)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Bài học cho VN từ Ấn Độ

20 Tháng Bảy 200712:00 SA(Xem: 437)
Bài học cho VN từ Ấn Độ
51Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
51
Nhân chuyến đi của ông Nguyễn Tấn Dũng thử tìm hiểu chánh trị, kinh tế, văn hoá, xã hội Ấn Độ có gì để chánh phủ và dân chúng VN học hỏi suy nghiệm ?

Chính phủ Anh thương thảo trao trả độc lập cho Ấn Độ từ năm 1946. Năm 1946 cũng nổ ra bạo loạn đòi thành lập bang cho đạo Hồi (Muslim) làm chết hơn 2.000 người. Người đạo Hồi di cư về phía Đông Pakistan và người đạo Hindu di cư vào thành phố.

Anh đã quyết định tách Ấn Độ thành hai quốc gia: một có đa số dân theo đạo Hindu là Ấn Độ thủ đô là New Delhi và một có đa số dân theo Hồi giáo là Pakistan. Pakistan gồm hai khối dân cư và lãnh thổ cách xa nhau trên 2.000 km băng qua lãnh thổ Ấn Độ. Sau biến cố không công nhận kết quả bầu cử chung Pakistan tách ra thành hai nước. Phía đông Ấn Độ gọi là Đông Pakistan thành lập nước Bangladesh, phần phía tây gọi là Tây Pakistan thành lập Cộng hòa Hồi giáo Pakistan ngày nay.

Đây là một bằng chứng củng cố cho nhân định: do ông Nguyễn Tất Thành là Cộng Sản mà năm 1945 nước Việt Nam không được trả độc lập .Pháp đã được tái vũ trang chống cộng.

Đài truyền hình VN tuyên truyền, nhắc lại việc Ấn Độ tiếp đón nồng hậu ông Nguyễn Tất Thành năm 1946 và 1958 ở Kolkata. Không ai nhắc lại việc Thủ tướng Jawaharlal Nehru khuyên ông Nguyễn Tất Thành không nên làm cách mạng bằng bạo lực. Ông Nehru là thủ tướng đầu tiên của Ấn Độ, cùng nhà hiền triết Mahatma Gandhi nổi tiếng trong cuộc đấu tranh không bạo động. Hai nhà chánh trị Gandhi – Nehru đồng thời là nhà hiền triết đều có khả năng suy ngẫm quang minh, nên chọn thể chế dân chủ tự do cho Ấn Độ. Tuy chọn đúng chế độ chánh trị cho Ấn Độ và uyên bác về xã hội, nhưng nhà hiền triết Nerhu vẫn sai lầm khi đi theo kinh tế chỉ huy của XHCN, hy vọng nó là chìa khoá thoát nghèo cho một số dân khổng lồ. Nhưng nền kinh tế XHCN đã đưa Ấn Độ đến suy kiệt mất hết tự tin. Ấn Độ đã phải thay đổi theo kinh tế tư bản .

Khi đã được trao trả độc lập, Thủ tướng Nehru tả khuynh nhưng bạo lực cách mạng của CS không phù hợp với tư duy Ấn Độ nhất là ông Mahatma Gandhi từng đấu tranh bất bạo động thành công. Ấn Độ là thành viên sáng lập Phong trào không liên kết là phong trào quốc tế giữa các nước đang phát triển theo tuyên bố chung Havana (the Havana Declaration of 1979) gồm 5 nguyên tắc:
1- Tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau;
2- Không xâm lược lẫn nhau;
3- Không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau;
4- Bình đẳng và hai bên cùng có lợi;
5- Cùng tồn tại hoà bình

Năm nguyên tắc này khá giống ý tưởng “hoà bình vĩnh cửu” của Albert Einstein đề xuất. Từ “không liên kết” được ông Nerhu dùng năm 1954 “Phong trào không liên kết”(The Non-Aligned Movement - NAM) có 100 nước tham gia chiếm 55% dân số thế giới. “Nhóm Năm sáng lập” (“The Initiative of Five”) là năm nhà lãnh đạo quốc gia: Nehru (India), Tito (Yugoslavia), Sukarno (Indonesia), Nasser (Egypt) and Nkrumah (Ghana). Nhóm này có quan hệ về quân sự với cả với NATO và khối liên minh cộng sản Varsava (đã tan rã) năm 1999.

Phong trào không liên kết trãi qua khủng hoảng niềm tin khi bị Liên Xô điều khiển. Thí dụ vì sao Cuba chỉ “liên kết” với Liên Xô mà vào khối “không liên kết”.

Tháng 9 năm 1961, Josip Broz Tito, Yugoslavia, hội nghị lần thứ nhất được triệu tập (có 25 quốc gia tham dự). Tito, Nehru, Gamal Abdel Nasser (Egypt), Sukarno (Indonesia) , Kwame Nkrumah of Ghana. Khối này chia rẽ mạnh khi Liên Xô xăm chiếm Afganistan năm 1979 và Trung Quốc đánh VN cũng năm 1979. Một số nước biện hộ và một số cho rằng không được làm trái tinh thần 1 và 5 của Phong trào không liên kết. Tháng 2-1979 lần đầu tiên Ngoại trưởng Ấn Độ thăm Trung Quốc thì xảy ra chiến tranh biên giới Việt Trung. Ấn Độ phản đối Bắc kinh, Ngoại trưởng Ấn Độ bỏ dở chuyến thăm. Mãi đến tháng 12-1981, hai bên mới có lộ trình gặp gỡ cấp Thứ trưởng, hợp tác trao đổi văn hoá, mậu dịch và khoa học kỹ thuật. Hai bên cũng nhất trí chưa giải quyết vấn đề biên giới Trung-Ấn .

Trung Quốc-Ấn Độ có tranh chấp biên giới giống như VN-Trung Quốc. Ấn Độ và Trung Quốc đang giải quyết tình trạng tranh chấp biên giới kéo dài hàng chục năm qua.

Khi Ấn Độ thử loại hỏa tiễn có khả năng bắn tới nhiều thành phố Trung Quốc và Trung Đông, Trung Quốc đã mau lẹ phản ứng trước vụ thử. Bắc Kinh tuyên bố họ hy vọng Ấn Độ có thể "duy trì và cổ võ hòa bình và tình trạng ổn định trong vùng." Hai bên mở lại hội đàm vào tháng Tư 2007.

Năm 2006 Phong trào không liên kết được triệu tập tại Havana và Fidel Castro được bầu làm chủ tich, nhưng ông không thể đảm nhiệm công việc mà giao cho em là Raúl Castro. Hội nghị chấm dứt với lời tố cáo Israel phản ứng quân sự không cân xứng quá đáng trong việc hai binh sĩ Israel bị Hezbollah của Lebanon bắt cóc, kêu gọi Liên hiệp Quốc quan tâm đến các thành viên nước nhỏ, giúp Iran nắm kỷ thuật hạt nhân và chỉ trích chánh sách ngoại giao của nước Mỹ. Phong trào này cũng tuyên bố danh sách các nước “bảo trợ khủng bố” của Mỹ đưa ra là “một dạng khủng bố chánh trị và tâm lý”. Đến năm 2007 N.A.M có 118 nước thành viên và VN cũng đã gia nhập khối này. Tuy nhiên việc các thành viên quan trọng vẫn tranh chấp biên giới như Ấn-Trung, việc Liên Xô đánh Afganistan, Trung Quốc đánh VN, VN đánh Campuchia (lúc chưa được vào phong trào không liên kết), không qua quyết định chung của Phong trào không liên kết đã làm phong trào này chia rẽ và mất tác dụng.

VN và Ấn Độ đối mặt với hiểm họa Trung Quốc bành trướng, nên cũng phải chi phí cho công cuộc an ninh quốc gia. Can thiệp quốc tế không bảo vệ được, như Phong trào không liên kết không ngăn được Liên Xô đánh Afganistan, Trung Quốc đánh VN. Liên hiệp quốc cũng không ngăn được Iraq đánh Kowet... Công cuộc chống khủng bố cũng là vấn nạn khiến cho con người chưa thể có hoà bình hạnh phúc.

Khối liên minh cộng sản Varsava đã tan rã năm 1999.

Ông Gorbachev đã ký bản hiệp về các lực lượng qui ước, với Hoa Kỳ và NATO, năm 1990. Bản hiệp định được sửa đổi lại năm 1999 sau khi khốiVarshava tan rã, nhưng cả Hoa Kỳ lẫn các thành viên của NATO đều không phê chuẩn những thay đổi đó. 15/7/2007 Nga vừa đình chỉ hiệu lực của Hiệp ước về các lực lượng vũ trang thông thường tại châu Âu (CFE). Lý lẻ của nga cần chấp nhận vì khi khối Varshava tan rã, Liên Xô cũng không còn, Nga gia nhập NATO thì hiệp ước CFE phải thay đổi hoặc không thể tồn tại. Xem ra Phong trào không liên kết cũng không còn tính phù hợp để tồn tại...

Phong trào từng là một thế lực chánh trị cổ vũ hoà bình đứng giửa Liên Xô–Mỹ trong chiến tranh lạnh, chạy đua vũ trang, không thể tồn tại khi các thành viên trong đó đã chia rẽ muốn thành “thế thân” của khối Varshava ...chống Mỹ. Một bộ phận thành viên khác đã không có gì hay hơn để hiệu quả hơn Liên hiệp Quốc! Khối này chỉ có lý do tồn tại trừ phi các thành viên chứng minh sự thành công hơn Liên Hiệp quốc trong tìm kiếm “Hoà bình vĩnh cửu” cho các thành viên tham gia.

So sánh các nhà hiền triết Ấn Độ với các sáng kiến chánh trị xã hội có tầm ảnh hưởng quốc gia-quốc tế và thất bại về kinh tế của Ấn Độ, VN sẽ thấy bài học về người làm chánh trị phải có kiến thức về khoa học chánh trị, xã hội. Quyết định kinh tế phải do các chuyên gia kinh tế chứ không phải là nhà hiền triết thiếu hiểu biết về kinh tế.

Phải biết chối từ quyền lực khi đó là lãnh vực mình không thông hiểu đầy đủ. Bác sĩ không học lái xe không liều mạng mình mạng người mà lái xe! Nhà bác học Albert Einstein với trí tuệ về khoa học, khi được mời làm Tổng Thống Israel đã từ chối và nói rằng ông rất ngây thơ về chánh trị ! Thủ tướng Ben Gourion của Do Thái về làm vườn sau khi Do Thái giành được độc lập, nhường cho người có tài thích hợp dẫn dắt nước họ.

Ông Nguyễn Tất Thành và cả phe CSVN chỉ biết cầm súng, không độc lập tư tưởng, không biết gì cho thấu đáo, nhưng rất tích cực can dự, nghĩ rằng theo sau Mao-Stalin tất phải đúng! Khi Liên Xô Trung Quốc mâu thuẩn trầm trọng, rẽ theo hai đường lối thực hiện XHCN khác nhau thì Ông Nguyễn Tất Thành lúng túng, che dấu thông tin. Ông nhìn mối bất hoà Mao-Liên xô mà không nhìn thấy đó là cuộc đấu tranh tư tưởng đường lối chánh trị. Óc phong kiến cao ngạo của Mao và tầm tư duy Mao hợp với ông Nguyễn Tất Thành hơn. CSVN dù cao cấp nhất cũng không ai được biết gì (theo hồi ký Ông Trần Đăng) một vài người biết thì kẻ theo Mao người theo Liên Xô, tự buộc mình và kềm chế nhau không thoát ra được như Ấn Độ biết làm là do không có khả năng độc lập tư tưởng !

Ông Nguyễn Tất Thành từng theo nhóm Phan Châu Trinh nhưng không hiểu nổi con đường Phan Châu Trinh là con đường chính xác cho VN, hay vì ông biết rõ con đường đó tốt cho dân VN nhưng những người tài hèn đức bạc như ông không thể nào là lãnh tụ ?

Ông Nguyễn Tất Thành không là nhà hiền triết cũng không là chuyên gia kinh tế nên mang cả hai sai lầm vào VN. Mao của Trung Quốc Lenin của LiênXô cũng do những nhà quân sự chọn lựa thể chế chánh trị và đường hướng kinh tế trong sự thiếu hiểu biết về hai lãnh vực đó ! Đến thời ông Mikhail Sergeyevich Gorbachev mới gọi được là “nhà hiền triết” chánh trị. Còn các nhà hiền triết chánh trị VN đã bị CSVN triệt hạ trong “Nhân văn giai phẩm”, còn đâu ! Đông Đức hay Ấn Độ Trung Quốc không sở hữu được Khoa Học Công Nghệ thì mất vai trò nước lớn và chỉ đạt chỉ số ở hàng các nước đang phát triển ! Bao nhiêu người VN, kể cả đảng viên, nhà báo, phải hoan hô, ca ngợi chủ nghĩa Cộng Sản vì sợ như khi bị khủng bố Hồi giáo dí súng bắt con tin Tây Phương đọc kinh Coran ?

Ông Nguyễn Tấn Dũng sẽ được dân, dù không từng bầu ông, vui lòng gọi ông là thủ tướng nếu như ông làm đúng lời nói của mình “ghét nhất là nói dối”. Ông không là nhà hiền triết như Nerhu của Ấn Độ nhưng nếu là người trung thực, can trường, cũng sẽ dẹp tan đám mây mù của những nịnh thần kiểu Hoà Thân “đang bảo vệ đảng” để âm thầm lấy đất của dân, chia công thự... làm nhà riêng, duyệt cho nhau “chính sách trong các liên minh “ma-quỷ” giữa đảng và công chức.

Ông Dũng nên thay đổi quan điểm và học câu nói này của Voltaire: “Tôi có thể không đồng ý với anh, nhưng tôi sẽ bảo vệ đến chết quyền của anh được nói ra ý kiến của mình.”. Không nên cấm ai, nói chỉ cấm nói dối (như báo chí hiện nay là vi phạm luật pháp) ! Giấu giếm thông tin bất lợi cũng là nói dối như Ông Nguyễn Tất Thành giấu cộng sự cấp cao của mình ! Tự do là con đường để chân lý và sự thật nảy sinhvà phát triển ! Nếu CSVN cứ muốn Thông tấn xã “nói dối” thì nhà nước CSVN đương nhiên cần được coi là “ngụy”.

Ông Dũng đã làm được việc củng cố giáo dục bước đầu để “tri thức là sức mạnh – hiền tài là nguyên khí quốc gia” được phục hồi. Nhưng biện pháp tăng học phí của ông Nguyễn Thiện Nhân là biện pháp “nhát” và không khả thi vì quá sức dân và tăng như thế cũng vẫn không đủ. Cần kèm theo các biện pháp khác để người nghèo vẫn có cơ hội đến trường như cho vay học tập. Tuyệt đối không đẩy dân lại rơi vào vòng xoay của bần cùng khổ ải là “dốt-nghèo-đẻ nhiều”. Phải thoát ra bằng nhiều phương cách mà một trong phương cách là giải quyết bộ máy song trùng của Đảng CSVN. VN không phải “đảng trị” mà phải chi tiền cho đảng giống như xứ “thần quyền” phải chi tiền cho giới “tăng lữ” lãnh đạo, tuyệt đối không dùng tiền ngân sách xây lăng mộ tượng đài lễ hội. Và vấn đề dân số phải kinh tế hoá, kế hoạch hoá trước khi một đứa trẻ ra đời.

Sống hạnh phúc trong thiên đường ánh sáng không phải là phút mơ mộng êm đềm về ảo ảnh không vươn tới được mà là một kế sách trí tuệ như “Giấc mơ Mỹ“. Cầm súng để mơ “bạo lực cách mạng” để “chết hay là giàu” nhờ “cướp chánh quyền” chia tài sản dành được để đổi đời là lòng tin ão vào thiên đường mù của người xấu kiểu Mafia. Nhóm Naxalites ở Ấn độ đang là như thế, cũng như CSVN đã từng là như thế !
I
Ấn Độ và VN hãy cùng nghĩ về...”Giấc mơ Mỹ”

Quan quân nắm chánh quyền CSVN nay không phải là “nhà hiền triết“ như Ấn Độ hay có tầm cao trí tuệ tâm hồn biết xây dựng “Giấc mơ Mỹ- American dream” hay “Nước Mỹ một vẻ đẹp - America the beautiful”. Có thể nói “Vẻ đẹp VN” hay “huyền diệu, trầm hương, e ấp VN của Châu Á” không qua nổi chiếc áo dài và nụ cười “cầu tài” có chiếc răng khểnh của cô gái VN chăng ? Không có câu nói nào đáng để vào nhân sinh quan thế giới quan làm người của người VN ! Kiến thức và trình độ tư duy không có để làm lý tưởng sống và biết yêu cái đẹp tâm hồn.

Nét đẹp Mỹ được Katherine Lee Bates viết năm 1893 “Nước Mỹ, một vẻ đẹp” (America the Beautiful) khác hơn một chút với tựa để bộ phim nổi tiếng có chút liên quan đến thế ý nghĩa thế nào là vẻ đẹp Mỹ trong cả cuộc đời không vừa ý là bộ phim “Vẻ đẹp Mỹ” (American beauti) 1999 tức cuối thế kỷ 20. American Beauti (1999) là bộ phim nhận nhiều giải thưởng, nói về bi kịch, bộc lộ khía cạnh lãng mạn của tình vợ chồng cha con, cụ thể hóa vào cuộc sống các khái niệm tự do, vẻ đẹp, tự do cá nhân, sự tự giải phóng, sự hiện hữu. Cuộc kiếm tìm hạnh phúc và gia đình, chống lại sự lạc hậu của dân vùng ngoại ô nước Mỹ hiện đại ...

Bước qua thế kỷ 20 có vẻ nước Mỹ phải đối mặt với thách thức “Tai họa cho nước Mỹ “ với sự kiện khủng bố kinh khủng nhằm vào trí thức đỉnh cao và biểu tượng thành công giàu có của nước Mỹ ngày 11.9.2001. Những nước nghèo Hồi giáo hủ lậu bạo hành sẽ chắc chắn không thể hoàn thành giấc mơ của họ theo cách đó mà chỉ có ...một Iraq hoang tàn ...

Katherine Lee Bates viết năm 1893 ‘Nước Mỹ, một vẻ đẹp’ (America the Beautiful) về ‘lòng yêu nước tồn tại không phôi pha trải qua thời gian’.. Năm 1960 nhà thơ Archibald MacLeish tranh luận “mục tiêu quốc gia’ viết: “Điều tôi biết đó là giải phóng nhân bản, tự do thân thể và tâm linh , là một giấc mơ không hơn ! Họ đúng là thế đó. Đó là giấc mơ Mỹ . Giấc mơ Mỹ, với một số người, là cơ hội đầy căng thẳng. Là sức mạnh sau lưng triết lý cầm quyền, giấc mơ Mỹ được nhiều người diễn đạt như là sự hội tụ của tự do, cơ hội và tăng cường công lý xã hội. (Katherine Lee Bates wrote in 1893 ‘America the Beautiful' of a ‘patriot dream that sees beyond the years.’ In 1960 the poet Archibald MacLeish, debating ‘national purpose,’ said: ‘There are those, I know, who will reply that the liberation of humaniti, the freedom of man and mind, is nothing but a dream. They are right, It is. It is the American dream.’ The American Dream, to some, stresses opportuniti. The phrase defies definition as much as it invites discussion. As a force behind government philosophy, it seems to be interpreted by most users as a combination of freedom and opportuniti with growing overtones of social justice"). “Nước Mỹ, một vẻ đẹp” (America the Beautiful) (1893) khác hơn một chút với tựa để bộ phim nổi tiếng có chút liên quan đến thế ý nghĩa thế nào là vẻ đẹp Mỹ trong cả cuộc đời không vừa ý là “Vẻ đẹp Mỹ” (Ameriacan beauti) của cuối thế kỷ 20

Giấc mơ Mỹ là ý tưởng của nước Mỹ muốn rằng khi cực lực làm việc, có lòng can đảm và kiên định mục tiêu thì sẽ đạt được sự thịnh vượng. Đó lả những giá trị mà người Châu Âu định cư đầu tiên ở nước Mỹ truyền lại cho các thế hệ kế tiếp. Giấc mơ Mỹ sẽ thế nào là câu chuyện còn đang tiếp tục thảo luận. (The American Dream is the idea held by many in the United States that through hard work, courage and determination one could achieve prosperiti. These were values held by many early European settlers, and have been passed on to subsequent generations. What the American dream has become is a question under constant discussion.)

Từ “Giấc mơ Mỹ” được James Truslow Adams dùng năm 1931 trong quyển sách The Epic of America ( Thiên anh hùng ca Mỹ ): “Giấc mơ Mỹ là giấc mơ về vùng đất có cuộc sống tốt hơn giàu hơn đầy đủ hơn cho mọi người, mỗi người đều có cơ hội thực hiện thể theo khả năng hay mục đích của mình. Đây là một giấc mơ khó khăn cho người Châu Âu tầng lớp bên trên thông đạt đủ các ý niệm, và quá nhiều người trong chúng ta đã lớn lên mệt nhọc hay mất lòng tin về điều này . Đó không phải là giấc mơ mua chiếc xe hơi hay lương cao nhất, nhưng là giấc mơ về một trật tự xã hội trong đó mỗi Nam Nữ công dân có thể thể hiện mình và được đánh giá bởi những gì mình làm chứ không do nguồn gốc gia đình sinh ra.”

Giấc mơ Mỹ là giấc mơ khó khăn của Châu Âu vì phải thực thi công bằng xã hội. Giấc mơ Mỹ là giấc mơ khó khăn hơn gắp bội đối với các nước như Ấn Độ nghèo, hủ lậu, phân chia giai cấp. Và Giấc mơ Mỹ là giấc mơ cực kỳ khó khăn của phần thế giới Cộng sản dùng bạo lực cách mạng giết hại, đày đọa, triệt tiêu giai cấp, trong các Gulag (trại lao động cưỡng bức) của Nga, cách mạng văn hoá giai cấp ở Trung Quốc hay CCRĐ và cao điềm là diệt chủng ở Campuchia. CS thiếu óc nhân bản bản nên coi rẻ sự sống, coi trọng quyền uy hơn hạnh phúc và tâm thức hiền triết. Say quyền, say máu, say bạo lực, thiếu óc nhân bản, thế giới CS đã tự tạo ra kẻ thù, nào là giai cấp, nào là phản động, nào là ngụy trên những dân tộc chỉ có chung một thân phận nô lệ nghèo khó của thời Pháp thuộc nô lệ như VN Trung Quốc Campuchia Lào... CSVN cũng như khủng bố Hồi giáo nâng việc giết người lên hàng “nhiệm vụ“ và tạo ra thảm cảnh cải cách, bi kịch cách mạng,“nội chiến” chết chóc, khăn tang, máu đào, xương trắng dọc dài đất nước VN ! Cho đến nay những người mẹ, người vợ, con cái còn rơi nước mắt kiếm tìm những hài cốt vô danh. Xin đừng “đổ vạ” là Mỹ Tây gây ra, đừng “hô hoán” là Mỹ xâm lược mà cần nhận đó là chính người VN sai lầm, tin theo bạo lực cách mạng, đấu tranh giai cấp và vọng ngoại một cách vô cùng lầm lạc do tư duy thấp kém...

Còn Ấn Độ, thời đạo Bà La Môn nói về sự phân chia giai cấp trong Rig Veda cũng đã khẳng định: giai cấp Bà la môn được sinh ra từ miệng của Brahma, hai tay của Ngài tạo thành đẳng cấp Sát đế lợi. Hai bắp đùi của ngài là đẳng cấp Vệ xá. Từ hai bàn chân của Ngài là giai cấp Thủ đà la.

• Giai cấp Brahmin (Bà la Môn): đây là giai cấp cao nhất gồm toàn bộ giới tăng lữ, là những người có khả năng đảm trách tín ngưỡng, lo việc cúng tế, lễ nghi và có quyền thay mặt xã hội giao tiếp với các đấng thần linh. Sở dĩ được coi trọng vì độc quyền học hành .
• Giai cấp Kshatriya (Sát đế lợi): là giai cấp của những người nắm quyền xã hội, thống trị lãnh thổ.
• Giai cấp Vaisya (Vệ xá): gồm các thành phần thương gia, địa chủ…
• Giai cấp Sudra (Thủ đà la): là giai cấp của những người tiện dân, cùng khổ, tôi tớ…. Nếu người sudra mà nghe thánh kinh thì tai sẽ bị điếc, bị đổ chì vào tai. Nếu họ tụng thánh kinh thì sẽ bị cắt lưỡi. Còn người nào học thuộc lòng thánh kinh thì thân thể sẽ bị chặt làm hai.
• Ngoài các giai cấp trên còn có một giai cấp nữa gọi là Paria, là những người nô lệ, cùng khổ. Họ không được phép sống trong cộng đồng của bốn giai cấp trên, họ chỉ được sống ở những nơi bìa rừng hay ở xa làng xóm. Họ cũng không được phép nói chuyện hoặc quan hệ hôn nhân với các người thuộc giai cấp trên.

Nước Anh cai trị đã giúp hình thành giới quan chức gọi là Babu là thị dân giàu có là trí thức, quan chức theo đạo Hindu khác với giai cấp truyền thống trong xã hội Ấn Độ Bà la môn.

Nhà nước CSVN cũng không thể nào biết nổi vì sao nước Mỹ vinh danh bà vợ Ông Martin Luther King từng chống nhà nước Mỹ vì óc phân biệt chủng tộc của cả dân và nhà nước Mỹ. Chánh phủ Mỹ biết nghĩ: Chống nhà nước, nhưng là việc làm cần thiết góp phần để nước Mỹ tốt hơn! Khi bà chọn con đường đấu tranh không bạo động, Tổng thống Clinton và tổng thống Bush đều muốn vinh danh Bà và đều có mặt trong tang lễ bà vợ ông Martin Luther King . Từ đó đã có được Ông Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Colin L. Powell (December 16, 2000), Bà Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ Tiến sĩ Condoleezza Rice đương chức. Thương hại cho các nhà dân chủ VN được cho ăn mắm thối và lời thoá mạ của các hung thần tiểu yêu “giữ kho báu” cho Đảng CSVN, giữ ghế cho quan chức tiêu cực CSVN!

Ba chánh sách chánh trị lớn để lại một đất nước tang thương đói nghèo là Cải cách ruộng đất, Vụ án Nhân văn giai phẩm và nên kinh tế bao cấp đã được công nhận là ...sai lầm ! Do vậy, ông Nguyễn Tất Thành không phải là lãnh tụ tài đức. Ông là người bất kỳ nào đó đảng CSVN cần dùng, để đánh bóng chính đảng CSVN ! Khi Staline-Mao sai lầm thì người học trò Nguyễn Tất Thành, tận tụy làm phiên bản, sao có thể đúng!

Cũng chính các “học giả làm thư lại mang tâm hồn nô bộc” này khiến ông Nguyễn Tất Thành “hết thở” nhưng “không chịu chết” vẫn tiếp tục xài tiền tỉ tỉ hoang phí, lẽ ra phải dành xây trường học cho trẻ con mà còn... ca ngợi phong cách thần thánh “tiết kiệm” cục xà bông “rẻ rề”, ước dành dụm gửi cho nàng sơn nữ Phà Ca tắm thơm của ông Nguyễn Tất Thành ! Học giả ơi là học giả !

Lá cờ búa liềm của đảng CSVN “biểu tượng” sống dựa trên “sức cày thay trâu” “sức búa thay máy” của nông dân công nhân thời khẩn hoang, giữa thời đại liên thông và cục “xà bông ” của CSVN tồn tại nhờ các bài ca ”đường trăng (XHCN) sỏi đá hoá ngọc ngà” của các bậc học giả, hiền triết VN, tầm cỡ thấp đến đau lòng thế này sao ?
II
Ấn Độ và VN trước những lập trường “Chống Mỹ”

“Chưởi Mỹ” là nếp gấp tinh thần “đổ lỗi” của nước Pháp lan truyền sâu đậm trong dân Pháp, chỉ trừ trí thức Pháp từng sang Mỹ học tập. Về khoa học, nước Mỹ luôn được ngưỡng mộ nhưng mặt khác, lợi thế tuyệt đối không vượt qua được này của nước Mỹ làm dấy lên tinh thần chống đối của giới chánh trị vì chua chát. Pháp mang tinh thần “Con Cáo và chùm nho”. Chùm nho chín mọng ngon lành, cáo ta thèm rỏ dãi, nhưng không cách gì với được lên tầm cao để ăn nho, cáo ta bèn nói ầm lên là không thèm ăn vì chùm nho đó rất chua !

Về lý Canada bênh vực Mỹ đúng, nhưng cũng góp ý là tính cách Mỹ quá sòng phẳng quá tự tin thiếu thông cảm sẽ không hợp với tâm lý đầy mặc cảm tự ti. Thái độ coi khinh, cười nhạo nhà giàu Trung Đông văn hoá thấp kém làm bùng nổ ác cảm do tủi thẹn ...

Nước Mỹ không thiệt hại qua cả hai cuộc thế chiến. Tinh thần chủ yếu của hai thế chiến là tranh giành thuộc địa. Các nước Anh Nga Pháp Đức Nhật, Tây ban nha .... coi chiếm thuộc địa bóc lột nước thuộc địa như một phương thức phát triển đất nước mình.

Từ thập niên đầu của thế kỷ 20 chánh trị quốc tế theo cách: Khi tinh thần quốc tế luôn theo nguyên tắc "tối đa quyền lợi cho mình, tối thiểu cho đối phương" nên chiến tranh thế giới lần thứ nhất tất yếu "phải xảy ra” không thể tránh được. Cuộc thế chiến này còn được hỗ trợ bởi sự gia tăng dân số cấp số nhân trong khi kinh tế gia tăng cấp số cộng ! Đến thế chiến thứ hai nhân loại phải suy nghĩ theo kiểu tư duy mới là "cùng tồn tại hoà bình, các bên cùng có lợi". Để nhận thức được như vậy nhân loại phải trả giá gần trăm triệu mạng trong hai cuộc đại chiến và các cuộc chiến khác trong thế kỷ 20. Đó là bài học chính trị quý giá nhất của đại chiến đầy bi thảm, vậy mà bài học “sống chung hoà bình” đó vẫn còn bị "quên".

VNCH không quên nên bị thua bạo lực vì chân lý vẫn phải chịu thua vũ khí . Cái ác dù không có tương lai nhưng vẫn có thể thắng trong một lúc nào đó! Tinh thần chống Mỹ trong khi làm chánh trị cũng lan truyền trong MTGPMN và trí thức học tại Pháp như Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện, Bác sĩ Dương Quỳnh Hoa ít óc suy luận chánh trị... Nếu có nhiều óc suy luận hay có đọc qua về khoa học chánh trị là kiến thức của ngành học phân tích về ưu khuyết điểm của các thể chế chánh trị thì sẽ biết ngạc nhiên vì sao Pháp là cái nôi của Cộng Sản lại không bao giờ là nước Cộng Sản mà chỉ có nhóm cánh tả. Đó là vì Pháp biết coi tư tưởng CS có vài ưu điểm cần phải thay đổi như chủ nghĩa đô hộ của Pháp, nâng cao phúc lợi xã hội tàn dân để bổ sung để cải thiện mô hình dân chủ tư sản. Phá bỏ làm mới hoàn toàn mà không tiên lượng được kết quả là phiêu lưu chánh trị ngông cuồng.

Nước Nga ngưỡng mộ cách mạng Pháp. Thời điếm đó lại có nhà triết học hiện sinh Jean Paul Sartre ca tụng CS vô thần. J.P. Sartre là nhà triết học, nhà hoạt động chính trị-xã hội. Công trình Tồn tại và hư vô đã trở thành thánh kinh với lớp trẻ trí thức Pháp với triết lý con người tự do đánh giá ý nghĩa cuộc đời mình, tự chịu trách nhiệm về những hành động của mình. Không phải Chúa trời muốn hay an bài cho mỗi con người ! Nước Nga đã làm cuộc phiêu lưu chánh trị Cộng Sản ngông cuồng này để cuối cùng công nhận đó là... tai họa!

Ông Jean Paul Sartre tốt khi chống Pháp đô hộ Algérie. Ông ngưỡng mộ CS nhưng đến cuối đời ông thất vọng và công nhận sai lầm. Ông không nhận Giải Nobel Văn học 1964 vì không muốn ảnh hưởng đến các hoạt động. J. P. Sartre nhiệt tình ủng hộ các cuộc đấu tranh giải phóng của nhân dân Algeria, Trung Quốc, Cuba, cùng với B. Russell thành lập ủy ban chống tội ác chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Những năm cuối đời J. P.Sartre bị mù, không viết được nhưng vẫn trả lời vô số phỏng vấn, thảo luận các vấn đề chính trị với bạn bè. Cuối cùng ông công nhận ông biết mà không nói đến chuyện Liên Xô cưỡng bách lao động ở các Gulag vì không muốn giới công nhân làm cách mạng đang hồ hởi đợi chờ một ngày mai ca hát phải mau chóng thất vọng vì thực tế. Biết các cuộc thảm sát của Nga khi chiếm các nước Đông Âu kiểu chủ nghĩa thực dân mới, các trại giam hay cách mạng văn hoá ở Trung Quốc nhưng ông không sớm nói lên sự thật. Đến 2005 người ta lên án đảng CS và lên án cả Jean Paul Sartre việc không nói sự thật xấu này đúng lúc. Lầm lỗi che giấu sự thật quá nặng, cũng như việc chống Mỹ quá đà vì được nuôi duỡng trong môi trường ngộ nhận “người Pháp đẻ ra đã chống Mỹ”. Tất cả đã làm tiêu tan uy tín của nhà triết học Jean Paul Sartre.

Trại tù cưỡng bức lao động, The Gulag Archipelago là quyển sách ghi lại nỗi khổ cực của người tù do nhiều tác giả chứng kiến tận mắt, viết từ 1958-1968 đã tố cáo chế độ Cộng Sản phi nhân của Liên Xô. Sách xuất bản 1973 và ấn bản lậu lưu hành tại Nga cho đến khi được ấn hành chánh thức năm 1989. Quần đão ngục tù được Ngọc Thứ Lang dịch đăng trên báo Sóng Thần của Chu Tử ở Sàigòn và in thành sách vào 1974.

Pháp rất chống Mỹ vì bị Mỹ không ủng hộ chánh sách thuộc địa. CS chống Mỹ vì Mỹ không ủng hộ ông Nguyễn Tất Thành. Với Mỹ ông vừa không đạt về trình độ học thức, uy tín, ông còn là người CS nguy hại được Liên Xô đào tạo và sử dụng, mang nhiệm vụ tình báo Liên Xô. Ông Nguyễn tất Thành theo Mao trạch Đông khi năm 1949 ông Mao Trạch Đông thắng Tưởng Giới Thạch và công nhận chánh phủ kháng chiến Việt Bắc do ông Nguyễn Tất Thành đứnh đầu. Ông Nguyễn Tất Thành quyết biến Mỹ thành “kẻ thù xâm lược”! Tham vọng lãnh tụ thì người làm chánh trị nào cũng có, nhưng để đứng vào phía đúng của lịch sử thì phải có đủ tài năng.

Pháp từng chống Mỹ và muốn thấy Mỹ thất bại ở Việt Nam như Pháp từng thất bại. Pháp không thôi oán trách Mỹ không dội bom cứu Pháp trong trận Điện Biên Phủ. Cuộc chiến chống Pháp của VN dưới danh nghĩa chống đô hộ nên Mỹ không thể ủng hộ Pháp. Chuyện VN sai là sau 1954 miền Bắc thành CS.

Pháp cần minh chứng với dân Pháp nuôi dưỡng lòng tin và ngộ nhận về sức mạnh Pháp không thua Mỹ và văn hoá Pháp hơn Mỹ một cách tuyệt vọng. Trí thức học từ Pháp và MTGPMN đươc Pháp ngầm ủng hộ để đanh Mỹ thay Pháp. Cay đắng vì sau 1975 Pháp cũng chẳng có vai trò gì nên nay đã mở ra kỷ nguyên thôi ...không chống Mỹ của Pháp. Chống Mỹ của Pháp ở Iraq rõ ràng là vì Pháp cho Iraq nợ quá lớn phải bảo vệ con nợ để còn trả nợ. Từ khi đã giải quyết nợ của Câu lạc bộ Paris thì Pháp thôi không chống Mỹ !

Được Hugo Chavez yểm trợ, Ortega một lãnh tụ CS trở lại sân khấu chính trị Nicaragua. Châu Mỹ La Tinh có khuynh chống chính phủ Bush, mạnh mẽ nhất là TT Venezuala Hugo Chavez. Chavez giấu kém cỏi bằng cách ngổ ngáo gọi TT Bush là “ác quỷ” tại Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc. Hugo Chavez thực thi một kế hoạch làm “anh hùng” cung cấp dầu với giá rẻ hoặc trợ cấp tiền mặt cho những gia đình có lợi tức thấp tại nhiều tiểu bang của Hoa Kỳ trong mùa đông năm nay, qua trung gian của hãng dầu Citgo, một hảng dầu của chính phủ Venezuala hoạt động tại Hoa Kỳ.

Cặp bài trùng Ortega - Hugo Chavez và mối liên hệ với chế độ Fidel Castro, khiến Hoa Kỳ và thành phần đối lập với Ortega quan ngại đảng CS Sandinista sẽ đem chủ nghĩa Mác Xít trở lại Nicaragua. Tuy nhiên, Ortega công bố rằng ông ta theo đuổi hòa bình, tình yêu thương và sự hợp nhất. Người gây ảnh hưởng không phải là Karl Marx, mà là Thiên Chúa.

Ortega có phong độ đầy hào khí cách mạng CS Sandinista. Ortega ca ngợi giáo dục và y tế miễn phí, lên án chiến tranh tại Iraq. Xây dựng một nền dân chủ cho Nicaragua và hợp tác với thành phần đối lập. VN từng có y tế và giáo dục miễn phí, bây giờ thì học phí rẻ nhưng chất lượng vô cùng thấp kém. Singapore có y tế giáo dục chất lượng cao và không thể hề có giá thấp.

VN không còn mang ảo tưởng và niềm tin lãng mạn kiểu này nữa ! VN cũng cùng Hoa Kỳ chống khủng bố. “Giấc mơ Mỹ” không phải là giấc mơ dễ chịu đi lượm tiền, mà chỉ có được khi phải cực lực học tập làm việc điều mà người da đen Mỹ đã học được và điều mà các nước khác như Nicaragua, Venezuela, Iran, Iraq, Afganistan... chưa học được !

Vào ngày 14/1/2007, Ortega tiếp đón Tổng Thống Iran Ahmadinejad. Trong cuộc họp báo, Ahmadinejad tuyên bố rằng Iran và Nicaragua có chung một quyền lợi, có chung một kẻ thù và chung một mục tiêu. Cặp bài trùng Ortega-Hugo Chavez có thêm Ahmadinejad Tổng Thống Iran thiếu trình độ làm theo ý chỉ của giáo chủ của đất nước Iran thần quyền nô lệ tâm thức chôn vùi con người trong hủ tục.

Nước Mỹ sòng phẳng đến đau lòng người thấp kém, nhưng để đáp trả thì phải lấp đầy sự thấp kém của mình điều mà Nicaragua, Venezuela, Iran các xứ Trung Đông có điều kiện có tài nguyên tài chánh nhưng không chịu làm. Chống Mỹ chỉ để tự san bằng mặc cảm của chính mình thì có ích gì cho tương lai ?
III
Các bài học từ Ấn độ

Bài học 1: Triết lý cầm quyền tốt

Điều khác VN đầu tiên ở Ấn Độ là các nhà chánh trị là nhà hiền triết như Mahatma Gandhi, Jawaharlal Nehru... Hiện nay Ấn Độ có tổng thống là một nhà bác học, ông Abdul Kalam và nhận định chánh trị của Ấn độ là:
• “Thế giới phải thuộc về người hiền tài.”
• “Ấn Độ mất vai trò nước lớn vì không nắm giử khoa học công nghệ “
• Dân chủ tự do luôn là sức mạnh của Ấn Độ .
• Naxalites ( Cộng sản theo Mao,không chịu đấu tranh nghị trường ) là vấn đề nội bộ lớn nhất của Ấn Độ trên con đường phát triển.

Ở VN tình hình như sau:
• Chánh quyền thuộc về người trung thành với Đảng.
• VN đã được độc lập và hoà bình sau nội chiến, dù sao cũng giàu hơn hồi ở chiến khu nên dân VN ...phải chấp nhận. VN trồng và dung dưỡng loại người “mang đạo đức Bác Hồ” với khả năng từng tự đánh giá “hụt hẫng” đang làm nên các sự cố về giáo dục.
• “Bạo lực cách mạng” và “chánh phủ cực quyền toàn trị” là sức mạnh để đảng tồn tại bất chấp dân chúng phải trả cái giá nào.

Các nhà chánh trị nắm quyền hiện nay ở VN hầu hết đều là nhà quân sự. Nhân sinh quan thế giới quan tất có điều rất khác, đưa đến tình trạng cùng một vấn đề nhưng Ấn Độ có cách giải quyết khác hơn Việt Nam .

Đọc lại lịch sử Ấn Độ các nhà cầm quyền VN phải nhận ra kinh tế cần theo thị trường còn chánh trị cần dân chủ tự do.

VN là thuộc địa Pháp, Ấn Độ là thuộc địa Anh, nhưng người Ấn nhớ rằng đất nước Ấn Độ từng bị họa ngoại xăm từ Trung Quốc và Mông Cổ nên có cái nhìn khách quan và toàn diện hơn về nước Anh. Người Ấn Độ nhìn nhận nhờ có nước Anh mà Ấn Độ tránh họa xâm lăng bành trướng từ phương Bắc.

VN cũng giống Ấn Độ là nhờ các hiệp ước phân chia lãnh thổ Pháp ký với Trung Quốc và việc Pháp công bố cột mốc biên giới, không vấp sự phản kháng nào của Campuchia giúp VN giữ toàn vẹn và ổn định về lãnh thổ suốt thời kỳ Pháp thuộc.

VN có cả thế kỷ dưới sự cai trị Pháp, chính xác là 65 năm. Ngày 8 tháng Ba, 1949, Hiệp Ước Elysée ký kết giữa Tổng Thống Cộng Hòa Pháp Vincent Auriol và Quốc Trưởng Bảo Đại chấm dứt 65 năm thuộc Pháp (1884-1949) không phủ nhận được các giá trị học thuật và văn hóa và khoa học nông nghiệp mà Pháp truyền bá. Không phải cái gì liên quan đến Pháp đều sai, xấu !

Nhưng khác với Anh, ở VN Pháp khai thác nông nghiệp ở VN, lập vựa luá miền Nam và các đồn điền trên cao nguyên. Nông nghiệp không thể giàu, lợi nhuận luôn nằm ở công nghiệp, thương nghiệp.

Ở Calcutta (Kolkata), Anh xuất khẩu tơ lụa và sản xuất thuốc phiện để xuất khẩu sang Trung Quốc. Trung Quốc thời đó ước tính có 10 triệu người nghiện ma túy và thu lợi nhuận cao giúp Kolkota trở thành thành phố của cung điện. Con số này tăng dần đến 100 triệu và lan sang cả VN. Việc xuất khẩu ma túy lậu sang Trung Quốc của các thương nhân Anh đã làm nổ ra cuộc “chiến tranh nha phiến” và kết quả là triều đình Trung Hoa phải nhượng Hồng kông và mở cửa các cảng để Anh giao thương .

Ấn Độ đang cho 120 ngàn người Tây Tạng tỵ nạn và tiếp kiến đức Dalai Lama, cho cả chánh phủ lưu vong đấu tranh bất bạo động. Trung Quốc đã rất phản đối .

Có ba hiền triết Châu Á là thi hào Ấn Độ Rabindranath Tagore (1861-1941), Mahātma Gandhi (1869-1948) và chính vị Đạt-lại Lạt-ma thứ 14 Tenzin Gyatso giải Nobel hoà bình năm 1989 này. Danh hiệu Đạt-lại Lạt-ma được hiểu là Hộ Tín, "Người bảo vệ đức tin" (Defender of the Faith), Huệ Hải, "Biển lớn của trí tuệ" (Ocean of Wisdom), Pháp vương, "Vua của Chánh Pháp" (King of Dharma), Như ý châu, "Viên bảo châu như ý" (Wishfulfilling Gem)... Khi Tây Tạng bị Trung Quốc xâm chiếm, năm 1954, thương thuyết hòa bình với Mao Trạch Đông và những nhà lãnh đạo Trung Hoa Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình, không mang lại kết quả. Trung quốc giết chết hàng triệu người Tây Tạng phản kháng, phá hủy 6 triệu chùa chiền khiến 80.000 người dân Tây Tạng đầu tiên cùng với Đạt-lại Lạt-ma 14 vượt qua dãy Hy Mã Lạp Sơn đến tị nạn tại miền bắc Ấn Độ vào năm 1959. Con số người tỵ nạn nay là 120.000 và còn tăng lên !

Điểm lại lãnh đạo VN thì không có ai là hiền triết. Hiền triết không bị Pháp giết hay quản thúc thì VM giết cho nên chỉ còn lại loại người “nửa người, nửa ngợm, nửa đười ươi” chăng ?
“ Ở đâu cũng có “người hùng”,
Ở đâu cũng có “người khùng người điên” .

Không sai, nhưng VN giết hết người hùng cho nên chỉ còn lại người khùng người điên !

Không phải nói tiếu lâm cho vui, mà buồn cho VN thời mạt vận, đau khi nhìn lại 3,8 triệu cái chết của VN và cả 2 triệu người Campuchia chết vì diệt chủng đã có quan hệ mất thiết với số phận đen, khiến dân VN phải chấp hành tính cách “ba lơn” không nhất quán của ông Lê Duẩn và dân Campuchia bị ảnh hưởng nặng hơn vì bệnh tâm thần của Bà Khieu Ponnary vợ Pol Pot. Ông Trần Quỳnh, nguyên phó thủ tướng ngưỡng mộ Lê Duẩn ông kính cẩn viết về ông Lê Duẩn như bậc kỳ tài mà thế này đây ư?: “Anh Ba luôn suy nghĩ và rất giống Lê Nin thay đổi liên tục... cho phù hợp tình hình”. Lênin một năm thay đổi bốn năm phương thức trọng tâm đấu tranh còn Lê Duẩn, luôn luôn suy nghĩ về cuộc chiến dành chánh quyền miền Nam và: “Sáng nay nghĩ vầy làm vậy, ngày mai nghĩ khác làm khác!”. Còn ông Trần Quỳnh nữa, cũng không thể là “bình thường” khi khen tính cách “ông Lê Duẩn rất giống Lê Nin” ! Diệt chủng Campuchia thì chắn chắn có liên hệ mất thiết đến bệnh tâm thần của Khieu Ponnary vợ của Pol Pot ! Người vợ mà Pol Pot yêu thương quý trọng, cho mang danh phận tối cao : “Bà mẹ sanh của nền cách mạng Khmer đỏ Campuchia “. Sau đó phải đưa đi trị bệnh tâm thần ở Bắc Kinh ! Chưa rõ lý do, nhưng khi lên cơn tâm thần bà Ponnary luôn hoảng hốt và nhất định cho rằng VN sẽ giết Pol Pot giết hết dân Campuchia. Việc này bắt đầu sau chuyến viếng thắm VN và Trung Quốc nên có liên quan đến chiến tranh Việt Nam-Campuchia và việc Pol Pot chống VN theo Trung Quốc !

Ở VN thời 1945 không có hiền triết đã đành mà còn sống trong sự dối trá mạo danh ! Cho đến nay trong hoả mù của mưu tính chánh trị quốc gia và quốc tế nhiều người coi trọng, coi khinh, yêu ghét không chính xác vì ngộ nhận. Ngành tuyên truyền trên Thông tấn Xã VN, trên truyền hình, trên báo chí nói thêm, nói thiếu, cắt bớt lời nên... sai hết sự thật. Cán bộ đảng viên dù trung thực nhưng cứ bị nhét tin tức sai, thêm bị tình cảm hay quá khứ công thần chiến đấu, hoặc đang hưởng đặc quyền lôi cuốn thì suy nghĩ còn ngộ nhận lầm lạc rất dữ !

Cần phải có cuộc về nguồn lịch sử, dù không ích gì việc truy cứu trách nhiệm người chết, nhưng phải làm để sự thật được nhìn nhận và nhất là một tương lai không lầm lạc được bắt đầu...

Thí dụ việc thư lại nô bộc CSVN “thâm tâm” vẫn biết nhưng vẫn biện hộ việc có nhiều tên là bình thường! Đồng ý, nhà chánh trị thời kỳ bí mật có nhiều tên để tránh bị Pháp bắt. Nhưng chuyện lấy tên người nổi tiếng để ăn theo thì khác chứ ! tên Nguyễn Ái Quốc của nhóm cụ Phan Châu Trinh. Ông đã phải trả tên lại vì nhóm này không ủng hộ ông ! Việc lấy tên Hồ Chí Minh của Cụ Hồ Học Lãm và cả tên tổ chức “Việt Nam cách mạng đồng minh hội” thì không thể không gọi là ăn theo là mạo danh chiếm đoạt uy tín giống như vi phạm bản quyền sở hữu trí tuệ trong kinh doanh hiện nay !

Ông Nguyễn Tất Thành đã tham gia và biết rõ uy tín nhóm này nhưng không bao giờ có được đủ tín nhiệm để được bầu làm lãnh tụ cho nên phải về VN lập ra tổ chức khác để mình được làm lãnh tụ sáng lập. Lịch sử có thể nào hiểu khác sao ? Chế tác gọi Việt Cách dành tên Việt Minh của “hai tổ chức cùng tên” là làm việc đánh tráo.
Bà Nguyễn Châu Sa lấy tên cháu ngoại cụ Phan Châu Trinh là bà Nguyễn thị Bình làm biệt danh. Đi đàm phán công khai ở Paris chứ có trốn lánh nguy hiểm gì mà phải đổi tên ? Tung tin rỉ tai cho báo chí tuyên truyền viết đi, viết lại, trích tới trích lui, còn nhân vật được “đồn thổi” vui vui không đính chánh nênthành cháu ngoại cụ Phan Châu Trinh . Y như Lê Văn Tám nhân vật tiểu thuyết thành “người thật việc thật”.Bà Khiêu Ponnary vợ Pol Pot là người phụ nữ đầu tiên của Campuchia đậu Tú tài toàn phần Pháp ở trường Sisowath cùng nơi Bà Bình học . Khieu Ponnary học giỏi hơn Bà Bình của VN chẳng học tới đâu, mà dám không tự trọng nhận làm”bộ trưởng giáo dục” nên mới ra sự thể...

Mốt của các quan chức VN nay là cố tung tin “con rơi cháu rớt” người có công cao chức lớn quyền, để thực hiện thủ đoạn kéo bè lập cánh với người không có uy tín, ông Nguyễn Sinh Hùng được tung tin ngầm là dòng họ “Nguyễn Sinh”, dòng họ mà ông Nguyễn Tất Thành đã chối bỏ. Ông Nguyễn Tấn Dũng được tung tin là “con rơi em rớt” của Tướng nào đó ngoài Bắc, chi vậy? Giá như ông Triết đổi tên là Nguyễn Huệ hay Gandhi, còn ông Dũng đổi tên là Nehru VN là Nelson Mandela VN và nghe dư luận đánh giá coi đó là ... “bình thường” hay là “dở hơi” ?

Dân miền Nam có mối quan hệ lịch sử không suông sẻ với CSVN, cũng không ưa bè phái gì với ai, nhưng cá nhân ông Võ Nguyên Giáp được quý trọng chỉ vì không tự xưng mình là Trần Hưng Đường, Trần Hưng Xa Lộ gì đó, cháu chắc 90 đời vương của... Trần Hưng Đạo, đúng không, các thư lại “học giả” VN ta ? Dân đồng bằng Cửu Long, không tài hoa, cục mịch, không giỏi gì, nhưng chúa ghét ...kiểu “nói dóc tổ” của thư lại học giả CSVN, cả nam lẫn nữ... trên các phương tiện truyền thông và cả báo chí !

Trước đây tôi vẫn mua báo Người Lao Động nhưng đọc bài “nói dóc” về chuyện Ông Triết gặp 1.000 Việt kiều, được cử về từ nhiều nước trên thế giới không nói gì đến biểu tình chống đối thì tôi tẩy chay không mua không đọc báo này nửa vì vừa mất tiền vừa bị gạt vì quá khinh đọc giả là... đồ ngu sao ? Dù đang cơn bĩ cực, nhưng báo chí thà im đi không nói gì, chứ đừng nói dối. Bênh vực cho người nghèo, người yếu thế, người tàn tật đâu được gì cho mình nhưng nhiều báo túng thế phải xoay qua làm từ thiện xã hội ! Như vậy còn chấp nhận được. Nhưng gạt đọc giả là tạo ra “thiên đường mù” như cách nói của nhà văn Dương Thu Hương !

Bài học thứ hai: Bạo lực và đói nghèo

Tại sao lại là Kalkota? Ông Nguyễn Tấn Dũng đi thăm Ấn Độ và đã thăm Kolkata (tên củ là Calcutta thời thuộc địa Anh). Ông Dũng muốn tăng cường quan hệ với Kolkata. Phải hết sức cảnh giác xem quan điểm của ông thị trưởng Kalkota theo nhóm CS nào ? Một Kolkata chưa hết đáng sợ vì là nơi phát khởi của nhóm Naxalites tức là nhóm Cộng Sản Maoist vũ trang, bạo động và khủng bố. Naxalites gồm nhiều nhóm CS, không chịu đấu tranh nghị trường, hiện vẫn còn đang hoạt động khủng bố gây bất ổn lớn cho chánh phủ Ấn Độ từ khi độc lập theo chánh thể dân chủ tự do.

Một nhánh đảng Cộng Sản đang tham gia Quốc Hội như một đảng chánh trị hợp pháp (Communist Party of India Liberation). Nhưng có khi đóng cả hai vai trò là khi thì tham gia chánh quyền và khi thì hổ trợ khủng bố! Tình trang này đang là vần để của nhiều bang nối liền Kolkota. Thành công kinh tế ở do Kolkata là nhờ nghe theo Trung ương không CS. Lãnh đạo theo Cộng sản được bầu cử dân chủ, từ khi đi theo đường lối dân chủ nghị trường như đảng Cộng Sản Nhật Kalkota mới có những bước tiến kinh tế Kolkata ra khỏi tình trạng... “thành phố chết”.

Vấn nạn lực lượng Cộng Sản vũ trang

Naxalites xuất phát từ tên một ngôi làng nhỏ ở Tây Bengal là Naxalbari nơi một bộ phận đảng Cộng Sản Ấn Độ do Charu Majumdar và Kanu Sanyal, dùng bạo lực chống lại nhóm chính thức đang lãnh đạo Đảng Cộng Sản Ấn độ [Communist Party of India (Maoist) CPI (M)] năm 1967.

Hiện nay Naxalites còn hoạt động trong vùng kém phát triển như Chattisgarh và Andhra Pradesh. Đảng Cộng Sản Ấn độ [Communist Party of India (Maoist) CPI (M)] phân thành nhiều nhóm CPI (Maoist), CPI ( Maoist-Leninist) . CPI (Maoist) and và nhiều nhóm khác kể cả các nhóm khủng bố Hòi giáo nổi tiếng như Al Qaeda, Jihad Mujaheedin... Thủ lãnh Majumdar của nhóm CPI (Maoist-Leninist) ngưỡng mộ Mao Trạch Đông của Trung Quốc và khuyến khích dân làng giết hại các chủ đất, nhưng cũng chống lại các giáo sư Đại học, cảnh sát, nhà chánh trị v.v...

Naxalites xuất phát từ Kolkata đang buộc dân làng nông thôn đóng góp, nhân danh đấu tranh cho người nghèo nhưng đang vắt kiệt tài lực nông dân nghèo, ép trẻ con bỏ học cầm súng lao vào chiến tranh vũ trang như du kích VN ngày xưa. Thập niên 1960 và 1970, tình trạng thiếu điện nghiêm trọng, phe tả tổ chức biểu tình và hình thành một phong trào chủ nghĩa Marx-Mao bạo động có tên Naxalites đã phá hủy nhiều hạ tầng của thành phố, dẫn đến một sự đình đốn kinh tế. Kolkata đã từng có biệt danh là “thành phố chết”.

Nhóm Naxalites hoạt động nhằm vào sinh viên ở Calcutta theo cùng cách với MTGPMN trong sinh viên Sàigòn trước 1975. Nhiều sinh viên được khuyền dụ bỏ học theo Naxalites. Bạo loạn xảy ra khi sinh viên theo Naxalites chiếm đại học Jadavpur và chế tạo súng để chống lại cảnh sát. Nhóm này bị cáo buộc ám sát hiệu phó đại học Jadavpur là Tiến sĩ Gopal Sen. Năm 2004 số Naxalites giảm từ 30.000 còn 9,300. Naxalites sở hữu 6,500 vũ khí và nhiều vũ khí tự chế. Theo Judith Vidal-Hall (2006), Nhiều khuôn mặt mới đã làm tổ chức mạnh lên với 15.000 người và kiểm soát 1/5 vùng rừng núi Ấn Độ và 160/604 huyện.

Hiện nay nhiều nhóm đã hoạt động công khai và ứng cử vào quốc hội như nhóm Communist Party of India (Marxist-Leninist) Liberation. Nhưng các nhóm khác như Đảng Cộng Sản Ấn độ Communist Party of India (Maoist) and Communist Party of India (Marxist-Leninist) Janashakti có liên hệ với hoạt động vũ trang.

Từ năm 1971 CPI(ML) chia làm hai vì Satianarayan Singh chống lại sự lãnh đạo của Majumdar. Năm 1972 Majumdar bị bắt và bị cảnh sát tra tấn cực hình đến chết . Sau cái chết của Majumdar lực lượng này nhanh chóng tan rã .

Thập niên 70 Ông Siddhartha Shankar Ray được coi như là người kiên quyết dùng luật pháp và trật tự khi đối mặt hai vấn đề di dân ồ ạt trong chiến tranh chia tách của Bangadesh khỏi Pakistan và hoạt động vũ trang của nhóm Naxalites dấy lên thành cao trào. Ông dùng biện pháp mạnh trấn áp buộc nhóm Naxalites ngừng hoạt động. Theo quan điểm của cảnh sát không thể thương lượng với nhóm không chịu theo phương thức dân chủ đấu tranh nghị trường.

Hiện nay vẫn còn nhiều nhóm Naxalites khác bị chánh phủ Ấn Độ coi là khủng bố, vẫn còn uy hiếp dân làng đòi dân chúng đóng góp lương thực và chổ trú ngụ, tuyển dụng cưỡng bách thiếu niên cầm súng, sử dụng mìn sát thương... Naxalites vi phạm nhân quyền và sát hại dân chúng, khiến cho chánh phủ vất vã bảo đảm an toàn cho dân chúng. Thủ tướng Manmohan Singh mới đây nhận định hoạt động vũ trang Naxal (nhiều nhóm có chánh quyền thiên tả đứng đàng sau) là “vấn đề nội bộ tạo ra thách thức lớn nhất mà nhà nước Ấn Độ phải đối mặt.” (the Naxal movement as the “single biggest internal challenge ever faced by our country.”)

Năm 2006 nhóm khủng bố tấn công khủng bố cho nổ liên tiến vào hệ thống giao thông công cộng làm 200 người chết trong chuyến xe lửa Mumbai Suburban Railway.

Ngày 5.3.2007 Sunil Mahato, một dân biểu quốc hội bị bắn chết bởi nhóm Naxalites khi đang xem bóng đá nhưng thủ lỉnh nhóm Naxalites không nhận trách nhiệm trong vụ ám sát này.

Ngày 15.3.2007 ít nhất 49 cảnh sát bị giết và 12 người khác bị thương...

Nên biết Madras, Kolkata (Calcutta) và Mumbay (Bombay) là ba thành phố lớn theo quy chế thành phố trực thuộc Anh “Presidential cities”. Kolkata là thủ đô của chánh phủ bảo hộ Anh, trước đây có tên Calcutta nay đổi là kolkata, theo chính sách đổi tên thời thuộc địa theo các tên gọi lịch sử địa phương. Kolkata là thủ phủ của bang Tây Bengal Ấn Độ, tọa lạc ở phía Đông Ấn Độ trong vùng châu thổ sông Hooghly. Thành phố có dân số khoảng 11 triệu người với một dân số vùng đô thị mở rộng lên đến 14 triệu người, là thành phố đông dân thứ tư 4 ở Ấn Độ (trước đây là thứ ba nhưng Mumbay đã qua mặt để được xếp thứ ba trước Kolkata)

Richard Wellesley, thống đốc từ 1797 – 1805, là người chịu trách nhiệm phát triển ấn Độ và kiến trúc ở Calcutta thời đó khiến cho nay Kolkata được mệnh danh là “Thành phố của những cung điện“ (The City of Palaces). Thành phố phát triển ngành tơ lụa và kỹ nghệ, cũng như hệ thống đường sắt. Đây cũng là nơi có công ti chế biến thuốc phiện hợp pháp để xuất sang Trung Quốc, vùng đất chiếm đóng của Anh vào thế kỷ 18. Nhờ lợi nhuận khổng lồ do bán ma tuý, thành phố đã xây dựng các cung điện đền đài. Đầu thế kỷ 19, trong niềm tin dân tộc da trắng cao quý hơn, Kolkota chia thành hai vùng vùng Anh và vùng Ấn thường được gọi là “Thành phố đen” ('Black Town'), gây bất bình.

Kalkota dần dà trở thành nơi chống đối khởi đầu bằng phong trào tẩy chay hàng hoá Anh rộng khắp từ 1905. Kolkata do vị trí nằm ở rìa Ấn Độ nên 1911 người Anh dời thủ đô về New Dehli. Cảng Kolkata là hậu phương quân sự trong thế chiến thứ hai của quân Đồng minh chống Phát Xít, bị Nhật bỏ bom hai lần .

Các kho lương thực đã được chuyển sang nuôi quân Đồng Minh, khiến hàng triệu người Ấn Độ đã chết đói trong nạn đói Bengal năm 1943.

Bối cảnh thế giới một thế kỷ trước đây, Trung Quốc được coi là quê hương của hơn 100 triệu con nghiện, chiến tranh nha phiến xảy ra, triều đình nhà Thanh phải nhượng cho Anh các tô giới ở Thượng Hải và thương cảng Hong Kong. Năm 1830, họ có từ hai tới 10 triệu người nghiện. Năm 1838 thương nhân Anh chở vô Trung Quốc 40.000 thùng nha phiến, mỗi thùng non 70 kí lô. Rồi một vụ thủy thủ lên bờ, say rượu, ấu đã một người Trung Hoa bị giết. Lâm Tắc Từ yêu cầu người Anh giao nộp hung thủ cho ông xử tử vì “Sát nhân thường mạng”. Lãnh sự Anh không chịu, bảo theo luật của họ, tội rất nặng cũng chỉ phạt 20 Anh bảng và giam cầm 6 tháng thôi. Lâm tức thì ra lệnh cấm người Trung Hoa buôn bán với Anh. Anh phản ứng lại. Đầu mùa hè 1840, mười lăm chiến thuyền Anh chở 15.000 quân tới Áo Môn (Ma cao). Thế là chiến tranh nha phiến thứ nhất bùng nổ. Kết quả Trung Quốc phải nhượng Hương Cảng (Hongkong) cho Anh, mở Quảng Châu làm nơi buôn bán, bồi thường 62 triệu lạng bạc, về số nha phiến thiêu hủy, 6 triệu lạng nữa về quân phí.

1971 cuộc chiến Ấn Độ-Pakistan khiến cho nhiều người đổ dồn vào Kolkata. Kolkata đã là một căn cứ mạnh của chủ nghĩa Cộng sản Ấn Độ vùng Tây Bengal Hội đồng thành phố do phe cánh tả CPI(M) Communiste Party of India (Maoist) đắc cử trong 3 thập niên đến nay. Kolkata là phần đất mà chính quyền cánh tả theo Cộng Sản được bầu chọn dân chủ, cầm quyền lâu nhất. Nền kinh tế của thành phố Kolkata phục hồi theo chủ trương cải cách kinh tế của Trung ương. Từ năm 2.000 Công nghệ thông tin [Information Technology (IT)] đã giải tỏa bế tắt kinh tế cho Kolkata . Thành phố cũng có kinh nghiệm phát triển các công ti.

Ấn Độ đã độc lập nhờ không Cộng Sản. Anh trả độc lập một phần do cuộc đấu tranh bất bạo động nhưng cũng do sau thế chiến thứ hai nước Anh Mỹ có chánh sách phải trao trả thuộc địa do khuynh hướng thế giới chống chủ nghĩa đô hộ phát xít .

Bài học xa xưa về một nước Ấn Độ không Cộng sản và đấu tranh bất bạo động, ông Nguyễn Tất Thành bỏ qua không nghe theo. Kết quả là VN có đến 3,8 triệu người VN chết, mất cơ hội độc lập ngay sau thế chiến và một nửa dân tộc miền Bắc cùng một bộ phận người Cộng Sản miền Nam theo MTGPMN và du kích quân thấm đẫm văn hoá bạo hành “bạo lực cách mạng“. Cũng như Ấn Độ phải làm với Naxalites, bạo hành được đáp trả bằng bạo hành khiến cho dân miền Nam từng rơi vào bi kịch, không muốn là Cộng Sản cũng không muốn có chiến tranh ! Kolkata là vùng ảnh hưởng nhiều của Naxalites cũng đã và đang có bi kịch nhiều đau lòng như vậy ! VN khác hơn Ấn Độ nên đó chính là bài học. Tai hại nhất là bài học theo CS với niềm tin và biện pháp duy nhất là “bạo lực cách mạng” và “cướp chánh quyền”. Sau độc lập việc CS cướp chánh quyền đã khiến Kolkata từng là thủ đô trở thành ”thành phố chết“ vì phá hủy hạ tầng cơ sở và không phát huy khoa học công nghệ. Khi Kolkata được lãnh đạo bởi nhóm cộng sản hoạt động công khai không vũ trang và chấp nhận đấu tranh nghị trường, phát triển theo kế hoạch kinh tế của trung ương New Dehli không Cộng Sản thì mới hồi sinh và phát triển...
Cho dù ngày nay Ấn Độ không coi đảng CS là ngoài vòng luật pháp có thể tranh cử ở Quốc Hội nhưng nhóm theo CS được gọi là Naxalites vẫn cứ tin theo bạo lực.

Việt Nam không nhìn ra khía cạnh tích cực của thời kỳ đô hộ Pháp là tránh chiến tranh với Trung Quốc như Ấn Độ nghĩ chính người Anh giúp Ấn độ không có chiến tranh với Trung Quốc và Mông Cổ Hy lạp nên hợp tác. Pháp cũng khác Anh ở chổ Pháp tiến hành chánh sách ngu dân, giử nguyên bộ máy quan lại phong kiến của vua quan nhà Nguyễn kém hiệu quả, trong khi còn Anh giúp Ấn Độ thiết kế ra chánh quyền mà giới chức điều hành phục vụ dân Ấn tốt nghiệp ở đại học Anh nên có thay đổi tích cực. Thế giới quan và đối sách bằng tính cách cay nghiệt của Pháp đã không giúp VN có hoà bình như Ấn Độ.

Bài học ba: Phía đúng của lịch sử là không Cộng sản

Nhìn lại lịch sử giai đoạn này để suy nghĩ công bình về ông Nguyễn Tất Thành. E rằng đã có khác biệt một chút đó là người Pháp tham lam khắc nghiệt trong chánh sách đô hộ hơn nước Anh cho nên không lấy gì làm chắc sẽ chắc chắn có hoà bình nếu như ông Nguyễn Tất Thành không là Cộng Sản như người Mỹ vẫn tin. Người Mỹ có thể buộc Pháp trao trả độc lập cho chánh phủ ông Diệm đổi bằng viện trợ như mua lại thì người Mỹ tin là sẽ có hòa bình nếu như không Cộng Sản. Tuy nhiên ông Nguyễn Tất Thành không chủ động được khả năng này nên chọn kháng chiến vũ trang. Nhưng chắc chắn do ông Nguyễn tất Thành theo CS, Pháp được tái vũ trang chống Cộng Sản. Các nước Đồng Minh chưa ủng hộ một VN độc lập theo CS.

Chiến thắng của Mao trạch Đông ở Trung Quốc Để lôi kéo phe cánh Mao Trạch Đông vội vã công nhận Nguyễn Tất Thành 1949 đã khiến ông Nguyễn Tất Thành đang phân vân đứng trước lựa chọn dựa vào Trung Quốc hay tham gia chánh quyền Bảo Đại đã ngả theo con đường chủ chiến theo Mao để được ...làm lãnh tụ. Lịch sử đã không theo chìu hướng tham gia chánh quyền Bảo Đại tiếp tục đấu tranh chánh trị giống như Indonesia Malaysia mà tiến hành kháng chiến vũ trang dưới sự hổ trợ quân sự của Mao Trạch Đông và ít nhiều tác động máu xương vào các nước láng giềng là Campuchia-Lào !

Nhưng cho dù cuộc kháng chiến 1945-1954 là cần thiết các nhóm yêu nước VN đồng ý nối vòng tay lớn kiểu “đánh chung đi riêng” thì việc sát hại các phe nhóm khác, việc sáp nhập đảng Dân chủ vào Cộng Sản vì đảng Dân chủ bao gồm nhiều trí thức miền Nam, thàm sát Mậu Thân ở Huế .. Sau 1975 còn thiếu dân chủ, sợ Miền Nam và MTGPMN đòi không CS là óc CS cực quyền, đáng...không tin, không theo. Sau 1975 còn lộ diện sự thiếu tình dân tộc, lừa dối tái lập các Gulag ngục tù biến dân tộc VN thành giống như Trung Quốc là ly tán, tha hương cầu thực và trốn tránh chánh quyền tàn bạo...

Nền độc lập của Algerie và VN thuộc điạ Pháp khó khăn hơn:

Pháp không trao trả độc lập cho Algerie mà 1954 phải có cuộc kháng chiến vũ trang. Algerie đa chủng tộc và công cuộc chinh phục Algérie của Pháp diễn ra chậm chạp, về mặt kỹ thuật chỉ hoàn thành vào cuối những năm 1900 khi Tuareg (Tuareg: African people: người Châu Phi) cuối cùng bị chinh phục. Pháp đã biến Algérie thành một phần lãnh thổ của mình, tình trạng này chỉ chấm dứt với sự sụp đổ của nền Đệ tứ Cộng hoà 1959. Năm 1954, Mặt trận Giải phóng Quốc gia (FLN) bắt đầu một cuộc chiến tranh giành độc lập cho Algérie; sau gần một thập kỷ chiến đấu cả tại thành thị và vùng nông thôn, họ đã thành công giành độc lập năm 1962. Đa số 1,025,000 người Châu Âu tại Algérie (được gọi là "chân đen" - Pieds-Noirs), cũng như 91,000 người "harki" (người Hồi giáo Algérie ủng hộ Pháp trong quân đội Pháp), chiếm khoảng 10% dân số Algérie năm 1962, đã di cư sang Pháp trong vài tháng giữa năm đó.

Nhìn qua chánh trị các nước trong khu vực có thể thấy do Bắc VN theo Cộng Sản mà Pháp dễ dàng được tái vũ trang . Nhưng nếu nhìn cụ thể vào chánh trị cường quyền của Pháp với Algerie và VN thì chưa thể khẳng định nếu không CS, Việt Nam có thể nào không cần làm cuộc kháng chiến 1945- 1954 không? Liệu các nước đồng minh Anh Mỹ có quyết thúc ép đồng minh Pháp đủ mạnh đủ kiên quyết để trao trả độc lập cho VN không khi Pháp quyết làm mọi cách khôi phục quyền đô hộ ? Người VN chỉ biết đau lòng chứ chưa có câu kết luận cho một sự việc không từng có thể xảy ra.

Các nước không CS dù độc lập cũng từng và đang phải chống nội loạn là dân quân Cộng Sản như MTGPMN ở VN .

Con đường độc lập của Indonesia Indonesia có đảng CS mạnh hơn VN nhưng đã được độc lập ngay sau thế chiến sau khi CS giải thể trở thành phe cánh tả. Indonesia là thuộc địa của Hà Lan bị Nhật chiếm năm 1942 cũng như VN là thuộc điạ Pháp bị Nhật chiếm lại. Hai ngày sau khi Nhật bị bỏ bom nguyên từ tháng 8.1945. Ông Sukarno tuyên bố độc lập. Hà lan cũng như Pháp cố dành lại thuộc điạ nhưng phải công nhận độc lập của Indonesia 1949. Tuy nhiên căng thẳng xảy ra giửa quân đội và đảng CS Indonesia Communist Party of Indonesia (PKI) và chánh biến ngày 30.9.1965 trong đó sáu tướng bị bí mật ám sát. Tổng tư lệnh Suharto tiến hành chiến dịch chống Cộng Sản mạnh mẻ với 500.000-1 triệu người Indonesia đã chết... Tháng 3 năm 1968 ông Suharto nắm quyền khi ông Sukarno mất tín nhiệm. Ông Suharto ký hiệp ước hoà bình với Malaysia, cũng như kêu gọi đầu tư phát triển Indonesia.

Con đường độc lập của Malaysia

Nhật chiếm Malaya thuộc đia Anh và đầu hàng Đồng Minh năm 1945. Liên minh Malaya, được thành lập năm 1946 và gồm tất cả các vùng đất thuộc quyền quản lý của Anh tại Malaya ngoại trừ Singapore, đã giải tán năm 1948 và thay thế bởi Liên bang Malaya, giữ lại quyền tự trị của những vị vua cai trị các bang Malay dưới sự bảo hộ của Anh.

Đảng cộng sản Malaya đã tung ra các cuộc tấn công du kích kéo dài từ 1948 tới 1960, và dẫn tới một chiến dịch chống nổi dậy của quân đội Khối thịnh vượng chung Anh ở Malaya. Chống lại tình hình này, nền độc lập cho liên minh trong Khối thịnh vượng chung đã được trao ngày 31 tháng 8 năm 1957. Malaysia đã nằm dưới sự điều hành của một liên minh đa đảng.

Con đường độc lập của Philippines

Tây Ban Nha nhượng quyền thuộc điạ cho Mỹ Guam, Philippines và Puerto Rico cho Hoa Kỳ để đổi lấy US$ 20.000.000,00 là khoản tiền mà sau này người Mỹ gọi là "quà tặng" cho Tây Ban Nha . Dần dần hòn đảo hoàn toàn nằm dưới quyền kiểm soát của Mỹ và được tổ chức như một vùng lãnh thổ Mỹ. Năm 1935, quy chế của họ được tăng lên thành một nước trong khối thịnh vượng chung của Mỹ, và nhiều kế hoạch được đưa ra nhằm trao lại độc lập cho họ trong thập kỷ sau đó. Cuối cùng, Philippines được trao lại độc lập ngày 4 tháng 7 năm 1946. Việc Nhật Bản đã tấn công và chiếm quần đảo này trong Thế chiến thứ hai, gây ra tình trạng mà một số người gọi là sự chậm trễ trong việc trao lại độc lập. Các du kích thành thị chiến đấu chống lại Nhật Bản quay sang đi theo ý thức hệ cộng sản. Họ được nhiều nông dân ủng hộ khi đưa ra những hứa hẹn về cải cách đất đai. Họ được tổ chức bí mật và tung ra các chiến dịch xúi dục nổi loạn chống chính phủ và các lực lượng chính phủ, tiến hành các hành động khủng bố, gồm cả bắt cóc, thảm sát, ám sát, hãm hiếp và tống tiền. Họ đe dọa những vùng nông thôn, và sau đó là cả thủ đô, Thành phố Quezon, và Manila trong thập niên 1950. 1954, Benigno Aquino Jr được Tổng Thống Ramon Magsaysay chỉ định thương thuyết phục thủ lĩnh Cộng Sản Hukbalahap là Luis Taruc. Sau bốn tháng thương lượng ông thành công giải giáp nhóm Cộng sản. Ông trở thành nghị sĩ năm 1955 ở tuổi 22. Như vậy cuối cùng mối đe doạ Cộng Sản chấm dứt khi Huk supremo Luis Taruc đầu hàng nhà báo trẻ Benigno Aquino Jr.

Bạo lực vũ khí làm sai lạc chân lý, phiá đúng của lịch sử nhiều lúc phải thua bạo lực là nhửng gì khiến loài người không có sự bình an, đất nứơc không hoà bình thành ra đau khổ. Bạo lực thắng sẽ làm cho con ngưòi bị đoạ đày cho nên cứ phải chạy đua vũ trang như một vòng lẩn quẩn.

Bài học thứ tư: Dân chủ là sức mạnh

Về Hiến pháp Ấn Độ, phần mở đầu rất hay vì quy định rất rõ quyền công dân . Hiến Pháp Ấn Độ rất đáng khâm phục vì rất tiến bộ. Lời mở đầu của Hiến pháp Ấn Độ như sau:
Chúng ta những người dân Ấn độ, chính thức thành lập Ấn Độ trở thành một nước Dân Chủ Cộng Hoà và đảm bảo cho tất cả công dân:

-Công bằng về xã hội, kinh tế và chánh trị.
-Tự do về tư tưởng, phát biểu, tín ngưỡng, niềm tin và thờ phụng .
-Bình đẳng về thân thể và về cơ hội và về thăng tiến giửa tất cả mọi người.
-Đảm bảo phẩm giá của cá nhân và thống nhất quốc gia.
-Hội đồng lập hiến của chúng ta ngày 26 tháng 11 năm 1949 đã thông qua và gửi tới cho chúng ta bản hiến pháp này .

So với Hiến pháp Ấn Độ, Hiến pháp VN 1992 hạn chế tối đa các quyền công dân. Công dân bị biến thành thần dân chỉ có chấp hành ! Không có tự do không công bằng bình đẳng về cơ hội về thăng tiến nào cả. Điều 4 Hiến Pháp bao trùm và tất cả chức vụ chánh quyền đều được đảng đề bạt. Giống luật Hồi giáo thần quyền, giống chủ nghĩa phân biệt chủng tộc Apartheid dành đặc quyền cho người da trắng và thực chất là đảng trị.

Những đại biểu quốc hội VN cũng không hề được trang bị kiến thức khoa học chánh trị khi ứng cử để có thể có chương trình hành động, cũng như không có thể tự bổ sung kiến thức sau đắc cử nên biểu quyết trong “mù mờ” vô cùng nguy hiểm, không làm gì hơn người dân thường và không nhớ nổi, không biết hậu quả của các văn bản pháp luật mà mình thông qua !

Đại biểu quốc hội VN là đảng viên thì chờ quán triệt thực hiện chỉ đạo của đảng và đại biểu ngoài đảng, tốt lắm thì giống nhân sĩ địa phương trong UBMTTQVN. Trong khi đó điều tối cần thiết của một đại biểu quốc hội là phải biết ưu khuyết điểm của các thể chế chánh trị trên thế giới để có thể thông qua chính xác một hiến pháp với các thể chế hiệu quả. Phải biết các điều luật thuế kinh tế vận hành ra sao trên thế giới đưa đến hiệu quả kinh tế dự kiến ra sao. Nhà nước toàn là đảng viên làm dự thảo luật và đưa ra quốc hội 90% đảng viên thông qua thì luật pháp đó người dân cần phải có quá trình biết kháng cự chối từ ! Quốc hội không có chổ đóng góp chánh kiến khác phản biện để lên tiếng về điều 4 hiến pháp, về ngân sách đảng quá lớn,về bộ máy nhà nước song trùng chiếm hết ngân sách không còn tiền để chi cho y tế giáo dục...

Tất cả đều xã hội hoá, duy có ngân sách đảng là không xã hội hoá ! Trong khi đó ở các nước ngân sách đảng phải do đảng viên và người ủng hộ đóng góp chứ không phải ưu tiên trích ngân sách như Ông Nguyễn Sinh Hùng từng lập công để hy vọng được để cử... làm Thủ tướng ! Tiền chi cho giáo dục cho dân chúng Đồng bằng sông Cửu Long đồng bằng sông Cửu Long thì ông Nguyễn Sinh Hùng bảo không có, còn chi cho lễ hội lăng mộ tượng đài hay làm đường không có xe đi như đường Trường Sơn theo con đường mòn Hồ Chí Minh thì vô cùng lớn. Đã nghèo còn bất công chi xài hoang đàng vô tội vạ thì dân nào chịu cho thấu ! Người VN dốt nát thì bị bán làm vợ mua làm lao công chứ sao có thể ngẩng cao đầu mà đi thăm con đường Trường Sơn, Ngã ba Đồng Lộc, hay tượng đài Điện Biên Phủ ?

Đường Trường Sơn từ Bác Pó đến Cà Mau, một trong những công trình tố́n kém nhất từ trước tới nay ở Việt Nam, làm trước mới đưa ra quốc hội bàn sau. Theo thẩm tra của Uỷ ban Khoa học Công nghệ và Môi trường của Quốc hội, có đến 19 vấn đề được yêu cầu làm rõ. Kinh phí 33.000 tỉ đồng tổng chiều dài theo quy hoạch xấp xỉ 3.167 km (chưa kể các đoạn tuyến nhánh), gồm tuyến chính dài 2.667 km và nhánh phía Tây dài 500 km. Km 12 tỉ đồng / Km còn gọi là đường Hồ Chí Minh, tượng đài Điện Biên Phủ, ngã ba Đồng Lộc để không có xe cộ lưu thông. Không ai dám bác dự án vì sợ bị quy chụp mủ là không yêu đảng không yêu nước không biết ơn cuộc chiến tranh... Ngay cả việc chánh phủ bố trí 11 ngàn tỉ đồng vốn vay để xây đường là vô cùng lãng phí. Nhưng nhìn lại, thì nguyên do là các công trình làm đường lại băng rừng rút tiền tham nhũng dễ nhất cho nên thông qua dễ nhất ! Làm trường học, nhà thương thì ai cũng lảng tránh vì... ăn ít ! Công an đã phải vào cuộc và phát hiện nhiều sai phạm...

Nếu đã như vậy thì từng trí thức từng nông dân từng nhà chuyên môn phải là đại biểu quốc hội tự nguyện để trước tiên tự cứu nghề nghiệp của mình khỏi gọng kềm của ngân sách hạn chế. Ông Nguyễn Thiện Nhân, bộ trưởng giáo dục, cũng không dám để nghị cắt giảm ngân sách đảng, ngân sách bộ máy song trùng để chi cho giáo dục mà để nghị xã hội hoá, tăng học phí !

Cái gọng kềm ngân sách eo hẹp tạo ra sự bệ rạc và xã hội cứ tự vận hành tự lo dưới mỹ danh “xã hội hóa”. Đảng thì hưởng đặc quyền dưới mỹ danh “chánh sách” một chánh sách cực kỳ bội bạc khi “Mẹ VN anh hùng” được vinh danh được cấp nhà tối đa 20-30 triệu còn chánh sách cho bộ trưởng xài dài dài suốt thời tại chức khi về hưu với nhà triệu đô xe hơn tỉ !

Tuyên ngôn độc lập của CSVN: “Hỡi đồng bào cả nước, Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc". Nhưng Tuyên ngôn độc lập Mỹ còn phần sau rất quan trọng quy định biện pháp thực hiện, đảm bảo quyền bải miễn chánh phủ của công dân thì CSVN không nói đến. Theo hiến pháp Mỹ và các nước Chủ tịch và Thủ tướng không do dân bầu là không có quyền lực với dân. Với tuyên ngôn độc lập bắt chước y nguyên “phần lý tưởng” kết quả mà không tuân thủ “phần biện pháp” thực hiện thì làm sao có được hiệu quả đã đề ra được. Hiến pháp của CSVN thiếu hoàn toàn các thể chế hiệu quả để đạt được các mục tiêu. Không có thể chế hiệu quả thì Tuyên ngôn chỉ là lời hiệu triệu suông. Hiến pháp nói theo Mỹ mà CCRĐ là làm theo Mao thì còn tin được sao ? Việc ông Nguyễn Tất Thành cắt xén mà không có thay thế cũng không hề vô tư mà là để mở thời đại Hồ Chí Minh có hệ thống chánh trị theo Liên Xô -Trung Quốc mà làm. Đến khi làm CCRĐ theo Mao bị Liên Xô rấy mới tỉnh giấc ! Vị trí cần là một hiền triết yêu nước cùng chuyên gia chánh trị và một nhà kinh tế thì Ông Nguyễn tất Thành từng không cần suy nghĩ khi tuyên bố ông Mao, Lênin không bao giờ sai. Bây giờ khi Liên Xô đã tự nhận sai, thì con cừu Panurge VN sao vẫn cứ lao theo con đầu đàn đã chết ... là sao ?

Tuyên ngôn độc lập của Mỹ: “Chúng ta theo đuổi một sự thật hiển nhiên là tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.

Để đảm bảo cho những quyền này chánh phủ được lập ra, chỉ xuất phát từ sức mạnh dựa vào sự tán thành của công dân đối với sự lãnh đạo để bất cứ lúc nào chánh phủ phá hoại mục tiêu này, thì nhân dân có quyền thay đổi hoặc bải bỏ chánh phủ đó !”

Dân chủ tự do luôn là sức mạnh và giúp chọn lựa đúng. Dân Ba Lan căm thù sự hà khắc của chế độ CS đã đưa đến cho Lech Walesa những thắng cuộc bầu cử, nhưng uy tín xây dựng đất nước, sự ủng hộ giảm theo năm tháng.

•1990: 74%
•1995: 48,3%
•2000: 1%
•2005: ông không tham gia

Từ 74% số phiếu cho đến 1% đã nói gì cho những người đi làm chính trị? Từ lãnh tụ cho đến mất ủng hộ chính trị cách nhau chỉ có 10 năm. Dân chủ đã đưa ông Lech Walesa lên tới và cũng đã dùng phương tiện dân chủ khước từ ông. Ông là nhà làm cải cách chứ không là chuyên gia kinh tế hay xã hội. Ông đã thành công trong vai trò chánh trị nhưng trong vai trò phát triển kinh tế chuyển biến xã hội phải có cả một xã hội dân sự tham gia. Các nhà chánh trị quân sự dành chánh quyền thường đặt quá nhiều ước mong vào chánh trị . Trong khi thay đổi xã hội phải là một quá trình chuyển biến chậm chạp, bền bỉ ! Vì sao CSVN không dám cạnh tranh chánh trị công bằng ?

Bài học thứ năm: Hoà nhập thế giới, cạnh tranh, một nền văn minh chung

Ở góc độ ngôn ngữ, chúng ta thấy khuynh hướng rõ ràng hướng tới đồng nhất hoá việc dùng "tiếng Anh toàn cầu " ("globish", viết tắt của global English. Sự phổ cập của tiếng Anh toàn cầu sẽ làm mất đi quyền lực chính trị ở cấp độ thế giới.

Ần Độ nghèo nhưng không chống Toàn cầu hoá. Toàn cầu hoá sẽ tiết kiệm tài nguyên vì không có sản phẩm kém chất lượng từ các nước không chịu coi “tri thức là quyền lực”. Phải tích cực có sản phẩm đặc thù của xứ sở và có chất lượng cạnh tranh là một lo âu của nước nghèo. Thí dụ VN có cá ba sa và tôm vì là quốc gia ít ô nhiễm hoá học, thiên nhiên lại ưu đãi nên giá cả rất cạnh tranh.

Ấn Độ coi khoa học công nghệ là giải pháp mà không coi chánh trị là giải pháp. Các nước mưu dùng các quy chế hạn ngạch làm quyền lực kinh tế, không cho tự do chọn lựa nhập hàng mà buộc chính dân mình hay dân trong khối chánh trị của mình dùng hàng giá cao kém chất lượng. Liên Xô chưa vào WTO vì từng đứng đầu một khối kinh tế. VN khi còn nằm trong vòng ảnh hưởng của khối chánh trị quân sự CS đã phải dùng hàng chất lượng kém như mua thiết bị lạc hậu của Trung Quốc hay phải mua máy bay TU kém chất lượng Liên Xô !

Ần Độ có nhà chánh trị uyên bác nên không đòi cho quốc gia mình có “quyền thấp kém” được hiểu VN hiểu một cách ngộ nhận là... quyền đa dạng khác biệt ...!

Tổng thống Ấn Độ là một nhà bác học nên trọng dụng nhân tài qua câu nói :” thế giới phải thuộc về người hiền tài !”. Tổng thống Ấn Độ là người theo đạo Hindu nhưng Phật giáo nhận được sự ủng hộ cao... Ấn Độ thừa nhận: “Ấn Độ mất vai trò nước lớn là do không nắm được khoa học công nghệ!”, ông chăm lo giáo dục, tiến công vào công nghệ thông tin như Nhật tiến công vào ngành xe hơi cạnh tranh ngang ngửa với Mỹ. Ấn Độ đang là nhân tố khơi mào cho một thế giới phẳng chấp nhận một chuẩn giá trị chấp nhận cánh tranh. Ông đồng thời có niềm tin tâm thức về sự quan trọng của hạnh từ bi và an lạc trong lời tuyên bố chánh trị “thế giới phải thuộc về người hiền tài ”.

Ấn Độ là nước thập niên trước đoạt giải Nobel kinh tế khi là nước nghèo nhưng đã xác định không chống Toàn cầu hoá kinh tế mà đi theo toàn cầu hoá với chiến lược đón đầu công nghệ. Nhưng cũng gặp trở ngại là người nghèo Ấn Độ thường thích những khoản trợ cấp trước mắt hơn là những hứa hẹn của cải cách lâu dài.

Trong phạm vi kinh tế, toàn cầu hoá hầu như được dùng để chỉ "tự do thương mại" Về văn hoá xả hội hình thành ngôi làng toàn cầu và gia tăng không ngừng về các trao đổi ở mức độ cá nhân và sự hiểu biết lẫn nhau cũng như tình hữu nghị giữa các "công dân thế giới", dẫn tới một nền văn minh toàn cầu. Khái niệm toàn cầu hoá khác một chút với khái niệm quốc tế hoá đó là sự mờ nhạt của ý niệm nhà nước hay biên giới quốc gia. Hiện tượng "chảy máu chất xám" diễn ra nhiều và dễ dàng hơn, kéo theo biến tướng là nạn "săn đầu người" nhưng các mối quan hệ giữa các công dân trên thế giới tạo ra cơ hội cho từng người.

Hai hiện tượng này đã góp phần gia tăng khoảng cách giàu nghèo giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển, giữa từng khu vực riêng biệt trong một đất nước.

Bài học thứ sáu về các điều chưa tốt:

1- Bệnh Aids:

Hơn 7.200 người chết vì AIDS trong 2 thập niên qua.Một quan chức cấp cao của Tổ chức Y tế thế giới vừa cho biết, có ít nhất 7.200 người chết vì bệnh AIDS tại Ấn Độ, là quốc gia thứ hai có số người tử vong cao nhất vì căn bệnh này kể từ khi chính thức phát sinh cách đây hai thập kỷ. Thế nhưng, theo Tổ chức kiểm soát AIDS quốc gia của Ấn Độ (NACO), trên thực tế số người tử vong vì AIDS còn cao hơn nhiều. Những ca tử vong đầu tiên vì AIDS ở quốc gia đông dân thứ hai thế giới này xuất hiện vào năm 1986. Còn trên toàn thế giới, hiện đã có khoảng 39 triệu người nhiễm HIV/AIDS, trong đó riêng vùng sa mạc Sahara của châu Phi đã có 25 triệu. Theo NACO ước tính, chỉ riêng trong năm 2004 và 6 tháng đầu năm 2005 tại Ấn Độ đã có 1.114 người tử vong vì AIDS, còn năm trước đó là 1.514 người. LHQ ước đoán, Ấn Độ có khoảng 5,1 triệu người nhiễm HIV/AIDS, chỉ sau Nam Phi. Ông S.Y Qureshi, Giám đốc NACO cho rằng, nếu so sánh về mật độ dân số nhiễm bệnh HIV/AIDS thì Ấn Độ chỉ chiếm chưa đầy 1%, còn Nam Phi là 30%. Song, không vì thế mà chủ quan, cần phải có những biện pháp phòng chống hiệu quả, mạnh mẽ.

2- Hỏa thiêu

VN đang đất chật người đông nên học cách hoả thiêu ở Ấn Độ. Nhưng phải thay đổi bỏ hết các hủ tục như lễ hội sông Hằng. Ấn Độ đã bỏ được tập tục hiến tế trẻ em và tập tục suttee (bị thúc đẩy ép buộc – chịu cho thiêu sống để chết theo chồng), vẫn tiếp tục duy trì cho đến năm 1829. Cho đến nay, bất cứ việc gì, làm lễ cúng tạ ơn hay cầu khẩn rồi sau đó có làm gì thì làm sau ! Tất cả cho thấy Ần Độ không phải thấp kém nhưng khó hiểu. Thành công khoa học kinh tế cho thấy một Ấn Độ bước vào kỷ nguyên khoa học nhưng với vùng nông thôn và thị dân quá nghèo là sự pha trộn lạ lùng của mâu thuẩn .

Tất cả dân Ấn Độ chết được hoả thiêu trên dàn lửa cùng với những vật tuỳ thân. Người ta tin rằng ngọn lửa hoả táng đó sẽ đưa linh hồn của người chết lên trên cõi trời, và rải tro xuống dòng sông thiêng là sông Ganges (sông Hằng). Lễ hội Sông Hằng diễn ra từ tháng 1 đến tháng 2, hàng triệu tín đồ Hinđu từ khắp mọi miền của Ấn Độ tìm cách hành hương về các vùng thánh địa như Bernares, Haridwar, Allahabad để được trầm mình trong dòng nước linh thiêng của sông Hằng. Người Ấn giáo tin chết trên đường hành hương hay “được chết” trên sông Hằng là điều may mắn giúp họ đến với cuộc sống cực lạc ở kiếp sau. Sông Hằng đang ô nhiễm nghiêm trọng từ các nhà máy thuộc da và nước thải sinh hoạt; tục lệ thả xác người, tro hài cốt trên sông Hằng khi vẫn phải sử dụng nguồn nước cho sinh hoạt hàng ngày. Sự sùng bái, muốn gắn mọi sinh hoạt thường ngày với sông Hằng linh thiêng của giáo dân Hindu đã thành mối lo .

3- Vấn nạn dân số:

Đến năm 2004, GDP trên đầu người ở Trung Quốc ước tính khoảng 5,200 đôla, so với 3,000 đôla ở Ấn Độ. Hiện nay, kim ngạch xuất khẩu hàng năm đã lên tới gần 1 triệu tỉ đôla, chiếm tỉ trọng gần 5% của tổng kim ngạch xuất khẩu thế giới, và Trung Quốc đã trở thành cường quốc xuất khẩu đứng hàng thứ tư sau Mỹ, EU và Nhật.

Xuất khẩu đẩy sự tăng trưởng và hiện đại hóa kinh tế Trung Quốc thay đổi bộ mặt của Trung Quốc. Chủ yếu là toàn cầu hóa dây chuyền sản xuất và cung cấp rất nhiều mặt hàng chế biến.

Tỉ lệ tăng dân số cao. Dự kiến dân số Ấn độ sẽ vượt Trung Quốc. Mumbay (Bombay) có tỉ lệ dân số lệch cao nhất là 811 nữ trên 1.000 nam.

Ấn Độ từng nhận định sai về nguyên nhân và giải pháp để thoát đói nghèo, nay nhận định kinh tế tốt thành công trong lãnh vực khoa học công nghệ nhưng chưa đầy đủ về hậu quả tăng dân số vốn ảnh hưởng cực kỳ mạnh lên xã hội, khiến Ấn Độ có chỉ tiêu kinh tế thấp hơn Trung Quốc dù tổng sản phẩm có tăng cao. Hiện nay mức tăng dân số của Ấn Độ vẫn cao ngất ngưỡng là 2,23 % so với 0,8% ở Trung Quốc. Tỉ lệ tăng dân số là 22,32 trẻ trên 1,000 (2,232 % ) là rất cao .

Theo công bố mới đây của chính phủ Nhật Bản, tốc độ tăng dân số hiện nay so với con số đầu năm 2004 là 0,05%. Đây là tỉ lệ thấp nhất trong vòng hơn 50 năm ... tỉ lệ tăng dân số toàn cầu đạt mức 1,2% ( từ 2% trong những năm 1960 xuống còn 1,2% hiện nay) Ủy ban Dân số, Gia đình và Thiếu nhi cho biết tỉ lệ tăng dân số của Việt Nam đã sụt xuống 1,33% trong năm 2005, so với 1,4% trong năm 2004. Dân số VN có ảnh hưởng của lòng tin về tăng sinh con năm Tốt nên sẽ có gia tăng đột biến những năm Tốt.

Từ nhận thức nguy cơ Ấn Độ đó VN phải lo cho con đường phát triển VN.

4- Khoảng cách giàu nghèo

Thu nhập đầu người ở mức $3,400 Ấn Độ là đang cao hơn VN nhiều song mức độ khoảng cách giàu nghèo củng là vấn để gây bất ổn và làm cho nhóm Naxalites có lý do tồn tại...

Dân chủ và phát triển bền vững và chánh sách an sinh xã hội tốt hơn, quy mô dân số nhỏ hơn là là giải pháp chứ không phải chỉ là trấn áp. Nền dân chủ sẽ giúp VN kiếm tìm đồng thuận trên cơ sở phân phối lợi nhuận công bằng.

Ở VN cánh cửa dân chủ chưa mở thì tài nguyên, tài sản quốc gia còn bị cắt xén, tích lũy để giải quyết đặc quyền cho thiểu số cầm quyền là đảng CS. Phúc lợi nầy sẽ không được chia xẻ đồng đều và công bằng theo nhu cầu phát triển của xã hội như giáo dục y tế... Bất công không thể tạo ra cảm hứng cho trí thức tham gia đóng góp mà còn khơi mào cho hướng phát triển không bền vững không ổn định, kéo theo tâm lý “ăn xổi ở thì” cơ hội, không có mối quan tâm dài hạn và hủy hoại môi trường để có thu nhập cao trước mắt là hậu quả .

Ấn Độ cũng có mức giàu nghèo cách biệt và nhiều mâu thuẩn do còn bất công từ dư âm của nhiếu thế kỷ phân chia giai cấp . Hiện nay trợ giúp của chánh phủ tập trung cho người trung lưu để giúp thành giàu có với tác dụng phụ mong muốn theo là tạo ra công ăn việc làm cho người nghèo. Tuy nhiên hiện nay tệ nạn xã hội dùng lao động trẻ em phụ nữ và trả lương thấp còn làm cho xã hội Ấn Độ còn dung chứa quá nhiều nghịch lý.

Bangladesh vùng đất tách ra từ Ấn Độ đã đoạt giải Nobel Chủ tịch ủy ban Nobel Ole Danbolt Mjoes cho hay Yunus và ngân hàng Grameen được trao giải vì "đóng góp của họ trong phát triển xã hội và dân chủ". "Hòa bình vĩnh cửu sẽ không thể nào có trừ khi một số lượng người lớn được cho cơ hội thoát cái nghèo".

5- Quân sự:

Ấn Độ từ lâu đã là nước ủng hộ Liên hiệp quốc, với hơn 55,000 quân thuộc quân đội Ấn Độ và nhân viên cảnh sát từng phục vụ trong 35 chiến dịch gìn giữ hòa bình của Liên hiệp quốc tại bốn châu lục.

VN với kinh nghiệm chiến tranh nay nên tham gia gìn giữ “Hoà bình vĩnh cửu” cho xã hội và tham gia chiến tranh bảo vệ người dân bị áp bức như Ấn Độ trong đội quân mũ nồi xanh gìn giữ hòa bình ! VN cần viết lại quân sử VN.

Kết luận của bài viết này muốn trở lại tình hình VN.

Do việc thắng thua quân sự không hề đánh giá được cao thấp nên nếu ngược dòng lịch sử cũng không nên bi quan.

Biết bao người cảm thông được sự tuyệt vọng của Miền Nam VN khi bị CS cưỡng chiếm. Nhưng nếu ngược dòng lịch sử, khi Mãn Châu chiếm Trung Hoa hay người Hoa kiều ở Xiêm đánh Miến chiếm lại Xiêm (tức Thái Lan), xin sắc phong từ Trung Quốc, nhưng đã để lại một kết cục đẹp đẻ chứ không quá xấu.

Mãn Châu chiếm được non sông một dân tộc khác đất rộng và dân đông ít nhất gấp 50 lần dân tộc Mãn. Nhưng nhờ Trung Hoa có nền văn hóa thuộc bực thầy dân Mãn Châu, nên Mãn Châu làm chủ thời đại Mãn Thanh, giúp dân tộc đó phát triển thêm về lãnh thổ. Nhưng chính người Mãn Châu bị đồng hoá vào người Trung Quốc có nền văn hoá cao hơn này. Học giả Trung Hoa chớ nên cho thua Mãn Châu là nhục nhã. Chỉ trong một thế kỷ, chính Trung Hoa đã đồng hóa người Mãn Châu với người Trung Hoa, khiến Mãn Châu không còn dùng tiếng mẹ đẻ. Còn người Trung Hoa cũng đồng hóa với Mãn Châu; cái đuôi sam mà người Trung Hoa cho là nhục nhã thì lần lần coi là quốc hồn quốc túy, đến nỗi, sau cách mạng Tân Hợi (1911) nhà Thanh bị lật đổ rồi, bọn thanh niên tân tiến Trung Hoa hô hào cắt bỏ đuôi sam đi, thì dân quê nhiều người không chịu.

Miến chiếm Xiêm (Thailan), một người Hoa kiều là Trịnh Chiếu mộ quân đuổi được quân Miến, dời đô về Băng Cốc, dựng lại nước, sai sứ sang cống Trung Quốc (1786) vua Thanh phong làm Xiêm La vương. Từ đó người Trung Hoa qua Xiêm làm ăn càng ngày càng đông, hiện nay thành chỗ phát đạt của Hoa kiều ở hại ngoại. Người Hoa đã đồng hoá vào đông đảo dân Thái Lan không mấy ai còn quan hệ với Trung Quốc. Người Hoa ở Thái cũng giúp dân Thái có nước da trắng hơn xinh đẹp hơn ...

Chuyện Hawaii tự nguyện thành làm một bang nước Mỹ để có sức mạnh đầu tư phát triển cũng có cùng ý nghĩa mà thôi.

Câu nói xem chừng mâu thuẩn mà kết cục sẽ đúng, đó là câu nói : “Muốn thắng CS hãy để CS chiếm nốt miền Nam.” Khi thấy cuộc sống miền Nam tốt hơn, khi nhìn rõ sự thật, thì chính miền Nam sẽ thắng về xã hội vì mang được đến niềm vui về cuộc sống sung túc hạnh phúc tiến bộ . Cái tốt đẹp sẽ tất thắng, sẽ xoá tan cái thắng nhất thời của bạo lực chỉ gợi ra những hung bạo và kỷ niệm đau buồn, không hợp với óc nhân bản và bản chất cuộc sống.

Trần Thị Hồng Sương
20.7.2007
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn