Ngày mai kéo súng đi trực xạ,
Hồn lính mơ thành An Dương Vương.
Nỏ thần trăm phát bay trăm ngả,
Quét sạch quân thù cứu nước non.”
-Donry Nguyễn-
•
Quốc lộ 19 đoạn từ đèo Mang Yang đến quận lỵ Lệ Trung dài khoảng 50 cây số, quanh co uốn khúc qua các vùng rừng núi hoang sơ, những nương rẫy của đồng bào thiểu số sống rải rác trong các buôn làng khuất sâu sau tầm mắt. Chỉ có hai khu vực dân cư nằm sát quốc lộ là thấy xuất hiện trên bản đồ quân sự. Ấp Phú Yên gần căn cứ 94, và buôn Suối Đôi gần căn cứ 93. Hai căn cứ này cùng nhiều căn cứ khác từ đèo Mang Yang trở xuống, nằm trong chuỗi liên hoàn các lực lượng bảo vệ an ninh cho lộ tuyến huyết mạch dài 167km nối liền Duyên hải và Cao nguyên Trung phần, xuất phát từ Cầu Bà Gi ở quốc lộ một và kết thúc ở thị xã Pleiku.
Quốc lộ 19 đoạn từ đèo Mang Yang đến quận lỵ Lệ Trung dài khoảng 50 cây số, quanh co uốn khúc qua các vùng rừng núi hoang sơ, những nương rẫy của đồng bào thiểu số sống rải rác trong các buôn làng khuất sâu sau tầm mắt. Chỉ có hai khu vực dân cư nằm sát quốc lộ là thấy xuất hiện trên bản đồ quân sự. Ấp Phú Yên gần căn cứ 94, và buôn Suối Đôi gần căn cứ 93. Hai căn cứ này cùng nhiều căn cứ khác từ đèo Mang Yang trở xuống, nằm trong chuỗi liên hoàn các lực lượng bảo vệ an ninh cho lộ tuyến huyết mạch dài 167km nối liền Duyên hải và Cao nguyên Trung phần, xuất phát từ Cầu Bà Gi ở quốc lộ một và kết thúc ở thị xã Pleiku.
Góc cua Tử thần mà tôi muốn nói đến trong câu chuyện này nằm ở quãng giữa chặng đường từ đèo Mang Yang đến Lệ Trung . Quốc lộ 19 khi qua đây thì gặp một dãy núi đá chắn ngang, nó bèn bẻ sang trái một góc cua mềm mại trước khi trườn mình chạy tiếp về hướng Tây.
Núi non vùng Cao nguyên Gia Lai vốn được hình thành từ thời kỳ địa chất tiền Cambri nên hầu hết đều là núi già, độ cao thấp so với mặt bằng, sườn đồi thoai thoải. Riêng những ngọn đồi vùng này thì lại vun nhọn, trên đỉnh có nhiều đá tảng chồng chất, tạo thành những hang hóc kín đáo, ăn luồn sâu tận bên trong.
Chính địa hình này đã tạo điều kiện cho “các đồng chí của bác” ẩn núp, đặt súng máy bắn xuống những chuyến xe qua lại. Tấn công các đoàn công-voa thì các chú không dám, nên chỉ ăn hiếp các chuyến GMC đơn độc hoặc xe dân sự.
Đã có nhiều vụ bắn cháy xe đò làm chết hoặc bị thương không ít người dân vô tội. Cho nên tọa độ này đã được ghim dấu đỏ trên bản đồ của các đơn vị chung quanh và được đặt tên là Cua Tử Thần.
Cuối năm 1973, Pháo đội tôi được lệnh hành quân lên đèo Mang Yang bắn yểm trợ cho các đơn vị bạn trong khu vực.
Ban ngày chúng tôi kéo súng ra các vùng lân cận, ban đêm kéo về đỉnh đồi nằm trong căn cứ do một đại đội Địa Phương Quân trấn giữ. Đi về bất tiện, mất thời gian gióng súng, điều chỉnh phương giác xác định tọa độ, nên sau đó Trung đội tôi được tách ra đưa vào đóng luôn trong căn cứ 95, nằm dưới chân đèo. Căn cứ khá kiên cố nằm giữa bốn bề rừng không mông quạnh.
Ban ngày nắng đổ chói chang, còn ban đêm sương lam mờ mờ phủ xuống mang theo cái lạnh tê người.
Ở đây cách biệt xóm làng, muốn mua một gói thuốc cũng phải lội bộ rất xa nên hầu như chúng tôi không bước chân ra khỏi căn cứ lần nào. May mắn tôi gặp lại một người quen cùng quê, chuẩn úy Nguyễn Tỵ, anh cũng bị động viên mùa hè đỏ lửa 1972, ra trường về Tiểu khu Pleiku, phiên chế vào tiểu đoàn Địa Phương Quân đóng ở đây, hai anh em chuyện trò cũng vơi đi niềm tâm sự của đời lính xa nhà.
Hai tuần lễ sau, lại có lệnh rút lên căn cứ 93, cũng nằm sát quốc lộ 19, cách buôn Suối Đôi khoảng một cây số. Pháo đội trừ thì lại đóng tận Chi khu Lệ Trung, cách Trung đội 2 của tôi khoảng 10 km, ở xa mặt trời thì thoải mái hơn.
Trung đội tôi nằm giữa vòng đai của một tiểu đoàn Địa Phương Quân mà quân số gần một nửa là người Thượng. Những anh lính Thượng này cũng ngộ lắm, có anh chiến đấu rất ngon, nhưng có anh thì đi lính theo mùa. Mùa nắng lên nương rẫy, qua mùa mưa gió lạnh lẽo, chán uống rượu cần chua loét ở nhà, anh ta đăng lính địa phương. Vào quân trường được lãnh áo quần giày vớ đầy đủ, ăn uống no nê không phải lo lắng gì cả. Ra đơn vị được vài tháng vợ nhắn tin về làm rẫy, thế là đào ngũ, hết mùa lại đăng lính tiếp. Phần lớn mấy ảnh không có giấy khai sinh, mỗi lần xung phong đi lính thì khai đại cái tên Y bờ lăn … Y bờ lốc gì đó … đố cha ai mà biết.
Những ngày rảnh rỗi chúng tôi thường thả bộ ra buôn làng mua vài thứ lặt vặt hay ghé thăm các già làng để thắt chặt tình quân dân cá nước. Có cụ già làng vui lắm, hay mời chúng tôi leo lên căn nhà sàn rộng rãi của ông uống rượu cần, loại rượu lên men bằng cách ủ sắn bắp và một loại hạt gì đó có mùi vị ngọt ngọt chua chua. Đủ thời gian rượu tới, cắm 2,3 chiếc cần bằng trúc vào sát đáy ghè, uống tới đâu đổ nước lã vào tới đó, uống no cành bụng. Thứ rượu này tưởng là nhẹ, nhưng ực nhiều cũng say cắm đầu. Một lần ông mời chúng tôi hôm sau đến ăn đám, ông khoe sẽ cúng Dàng 18 con gà, mấy ông lính nếu không thích rượu cần thì có thể mang theo vài lít rượu trắng đến chung vui với gia đình ông.
Khi chúng tôi đến, trên sàn đã bày ra một con gà mẹ với 17 con gà con nướng cháy đen, mùi lông khét lẹt. Thấy chúng tôi ngó nhau cười, ông phân bua:
-Thì gà lớn gà nhỏ cũng là một con mà, đủ 18 con đó, tui nói có sai đâu … sao mấy ông lính cười?
- Người Kinh không ăn gà con, thấy lạ nên cười thôi.
Ông bèn sai vợ nướng cá khô cho tụi tôi nhắm mồi. Đồng bào Thượng thời đó thật thà đến ngây thơ như vậy, nên rất dễ bị việt cộng dụ dỗ nghe theo, che giấu hoặc tiếp tế cho chúng.
•
Những ngày cuối năm âm lịch Quý Sửu 1973 chuẩn bị đón Tết Giáp Dần 1974, trong lúc chúng tôi đang chuẩn bị “Cây Mùa Xuân” thì những tin tức rất xấu ập đến từ góc cua tử thần. Một đơn vị cộng quân chiếm lĩnh ngọn đồi, liên tục bắn xuống bất cứ chuyến xe nào qua lại. Âm mưu của bọn chúng là chặn đường tiếp tế để quân đội VNCH và đồng bào không hưởng được một mùa Xuân trọn vẹn.
Hai đại đội Địa Phương Quân dàn quân xung trận, quyết tâm triệt phá ổ phục kích, vãn hồi an ninh khu vực. Họ đánh bật được các mục tiêu chung quanh một cách dễ dàng; nhưng liên tiếp ba ngày vẫn chưa xóa sổ được ổ kháng cự cuối cùng nằm trên mỏm đá đầu ngọn núi. Địa hình trống trải, trong khi dốc núi gần như thẳng đứng khiến quân ta ở vào thế bất lợi mỗi lúc mở đợt xung phong tiến lên. Địch ẩn núp kín đáo trong hang đá chờ ngớt hỏa lực thì thò họng súng đại liên 12 ly 7 do Liên Xô sản xuất bắn xối xả như vãi đạn xuống chân đồi, khiến thương vong của bộ binh rất lớn. Lệnh từ chi khu Lệ Trung yêu cầu Pháo binh nhập cuộc. Trung đội 2 của tôi ở gần nên được điều động lên đường ngay.
Một khẩu đội ở nhà giữ nhiệm vụ phản pháo, khẩu còn lại mang theo đầy đủ cơ số đạn delay, đạn chống biển người, đạn nổ cao nổ chụp … lên xe trực chỉ chiến trường tham gia trận đánh.
Chúng tôi đến trận địa vào khoảng giữa trưa, nhìn các anh lính Địa Phương Quân đang dìu thương binh ra đường với khuôn mặt tức tối, đỏ bừng dưới cái nắng gay gắt mà thương.
Viên đại úy Địa Phương Quân, tay vịn nón sắt, tay kẹp bản đồ chạy tới trao đổi chớp nhoáng, đề nghị Pháo binh làm thế nào câu lọt một quả vào trong hang đá là xong, vòng ngoài coi như các anh đã dọn sạch rồi.
Trung đội trưởng lập tức cho banh càng súng, tất cả Pháo thủ đi theo đều mặc áo giáp, nón sắt vào vị trí sẵn sàng. Từ mặt đường nhựa nơi chúng tôi đứng cách mục tiêu một khoảng cách an toàn, không sợ Đại liên của chúng quét tới; trong khi Đại bác 105 ly có tầm bắn xa hiệu quả khoảng 11 đến 11,5 km, thì trong chừng mực này tin chắc chắn sẽ dư sức thổi bay ổ kháng cự của địch.
Nòng súng được hạ xuống nhắm thẳng vào miệng hang, khẩu lệnh vang lên sắc gọn:
-Đạn thường, nạp 5, một tràng!
-Nhận rõ!
-Chuẩn bị, bắn!
Tôi đứng ở vị trí giật cò, kéo mạnh giây cơ bẩm, tiếng nổ chát chúa vang lên, khói súng mù mịt, viên đạn 105 ly xé gió lao đi, vút một phát, chúng tôi không ai bảo ai cùng ngước mắt nhìn theo đường đạn bay. Chỉ nghe một tiếng bụp khô khốc cùng tia lửa lóe lên cách miệng hang vài mét kèm bụm khói đen …
Ai đó la lớn:
- Trật rồi!
Trung sĩ Lưỡng, người xạ bảng viên dày dạn kinh nghiệm đẩy tôi ra lao vào, kéo khối cơ bẩm ra sau, ghé sát mặt ngắm nhìn mục tiêu từ cuối nòng đại bác, ước lượng khoảng cách, miệng ra lệnh cho khẩu đội trưởng điều chỉnh độ giạt, tay anh nhúc nhích góc thăng bằng. Ngắm qua ngắm lại xong anh ra lệnh nạp đạn.
-Bắn!
-Ầm!
Phát thứ hai nổ sát mép miệng hang, bên trong đáp trả bằng một tràng đạn tức khắc như chọc giận pháo binh. Trung sĩ Lưỡng cười gằn:
-Đợi đó con ơi!
Anh ngắm nghía điều chỉnh nòng súng một lần nữa, hết sức thận trọng rồi mới cho nạp đạn:
-Bắn!
Phát thứ ba bay đi, cắm phập vào miệng hang với đường kính trên dưới một mét, tiếng nổ bục từ bên trong dội lại một âm thanh rền rĩ, đá vụn bay ra ngoài tá lả. Tiếng reo hò của những người lính Địa phương vang lên:
-Trúng rồi, Pháo binh giỏi quá!
Địa Phương Quân lập tức hô xung phong lao lên chiếm lĩnh mục tiêu, tiếng súng M16, tiếng nổ M79 bay rào rào lên núi. Từ miệng hang không còn tiếng đại liên đáp trả như trước.
Khuôn mặt mọi người giãn ra như vừa trút được gánh nặng trên vai. Trung sĩ Lưỡng cười toe toét, bắt tay mọi người trong niềm vui khó tả. Vậy là chúng tôi đã góp phần khai thông con đường huyết mạch, những chuyến xe sẽ tiếp nối cuộc hành trình mang theo nhu yếu phẩm, thuốc men … cho toàn thể đồng bào trong khu vực cao nguyên.
Chiến trường coi như giải quyết xong, mọi người chúc nhau về ăn Tết vui vẻ, chúng tôi lặng lẽ chất đạn lên xe, xếp càng súng, thu dọn vỏ đạn và thuốc bồi vương vãi. Trước khi rời vị trí trở về căn cứ, chúng tôi còn kịp nghe ông Đại úy Địa Phương Quân trao đổi nhanh với ông Trung úy Trung đội trưởng của chúng tôi:
-Dọn sạch mục tiêu rồi anh, tụi nó rút lui tự hồi nào không biết, bỏ lại hai thằng mặt mũi non choẹt, chân bị xích chặt vào cây Đại liên, chỉ có bắn hết đạn rồi chết chớ không chạy đâu được nữa, đ.m. cái bọn tàn ác ngoài sức tưởng tượng luôn!
Nghe nói, chúng tôi bàng hoàng không tin đó là sự thật, ông Trung đội trưởng của tôi chắc cũng vậy nên hỏi lại:
-Thật vậy sao Đại uý?
-Còn không thật à, mấy đứa con tôi lên lục soát, vừa báo cáo xong đây.
Chúng tôi nhìn nhau lắc đầu ngao ngán, nỗi ám ảnh theo mãi trên đường về.
•
Buổi chiều, khi chiếc xe GMC kéo khẩu đại bác trên đường trở về căn cứ 93, ngang buôn làng Suối Đôi, đã thấy trước sân các căn nhà người Việt đặt bàn hương án cúng tất niên.
Tôi nhìn chăm chú hình ảnh một cụ già mặc áo the đen đội khăn đóng đang đứng lâm râm khấn vái trước lư hương nghi ngút khói, bên cạnh bình bông vạn thọ và khay bánh tét, mấy đứa cháu chắp tay bên cạnh, lòng tôi tràn ngập niềm vui thanh bình, tuy tạm bợ, đã về trên buôn làng thân yêu khi bóng dáng kẻ thù đã bị đánh bật ra khỏi khúc Cua Tử Thần, chận đứng mưu đồ chia cắt Quốc lộ 19 hòng cô lập thành phố Pleiku của chúng.
Mùa Xuân rực rỡ đang về…
-Suối Đôi, Lệ Trung 1974-
Donry Nguyễn
Gửi ý kiến của bạn





