BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 35601)
(Xem: 33238)
(Xem: 32301)
(Xem: 24655)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Miền Ký Ức (2)

10 Tháng Mười 201012:00 SA(Xem: 1448)
Miền Ký Ức (2)
58Vote
40Vote
31Vote
20Vote
10Vote
4.89

Phần II:
CUỘC KIẾM TÌM VÀ QUÁ KHỨ CỦA MỘT NGƯỜI ĐÀN ÔNG


Bà Trinh đã vội vàng lên máy bay về Mỹ, bà muốn đích thân kể lại chuyện của Thành cho người trong gia đình. Việc tìm kiếm bây giờ chuyển hết qua cho bà An, vì bà Vân vốn dễ bị xúc động lại không khéo léo nhanh nhẹn như bạn. Bà An phải làm đơn xin nghỉ việc riêng thêm một tháng để chuẩn bị đi với bạn mình.

Trước hôm bắt đầu cuộc kiếm tìm bà An gọi điện thoại cho bà Ngọc, nhờ bà này mua giùm chiếc xe Honda, bà nói với bà Vân:

- Đi xe hơi ngó sang quá, mà không tiện. Lỡ phải đi vô máy đường hẻm thì không được, mà mắc kẹt trong mấy đoạn sình lầy thì khổ cho tụi mình.

Bà Vân lúc nào mà chẳng khâm phục cái sự thông minh tháo vác của bà An, An nói gì mà Vân chẳng nghe, chiếc xe máy đối với bà có đáng gì, cùng lắm là sau khi tìm xong được hay không gì cũng tặng lại cho bà Ngọc, đâu việc gì phải bận tâm.

Hai người đàn bà thuê taxi đi đến nhà bà Ngọc, sau đó cho xe taxi về rồi lấy xe Honda đi theo hướng chỉ dẫn của bà Ngọc.

Suốt từ lúc đó cho đến 3 giờ chiều, bà Vân và bà An quanh đi quanh lại khu vực bà Ngọc chỉ không biết bao nhiều lần, vào nhà nào cũng hỏi thăm nhưng chỉ nhận được một câu không biết. Ăn uống qua loa, lại không quen đi nắng, bà Vân chỉ trong hơn nữa ngày đã mệt lã người. Thấy vậy, bà An quyết định chở bà Vân về lại nhà bà Ngọc. Sau khi nghỉ ngơi một lúc cho bà Vân khoẻ lại, bà An hỏi:

- Bây giờ Vân tính sao? Có đủ sức ngày mai đi tiếp nữa không?

Bà Vân cương quyết gật đầu. Họ nhờ bà Ngọc chỉ giùm một khách sạn hoặc nhà nghỉ. Bà Ngọc cười:

- Ở đây không có đâu. Nếu muốn hai chị phải đi khỏi chỗ này 15 cây số mới có. Thôi hay là tối nay nghỉ tạm nhà tôi một đêm đi rồi ngày mai tính tiếp.

Bà Vân ngần ngại khi thấy nhà bà Ngọc không rộng rãi lắm. Bà Ngọc hiểu ý nói:

- Nếu hai chị ngại thì ra ngoài tiệm sách của tôi nghỉ đỡ. Ở đó trên gác có sẵn một cái giường nhỏ, cũng còn đủ chỗ để kê thêm cái giường xếp nữa.

Bà An quyết định:

- Vậy cũng được.

Tối hôm đó bà Ngọc mang ra tiệm thêm chiếc giường xếp nhỏ. Bà lên gác chuẩn bị chăn màn cho hai người khách. Bà Vân ngại ngùng:

- Thiệt là làm phiền chị quá.

Bà Ngọc cười:

- Mấy khi đâu.

Rồi bà hỏi thêm:

- Mấy chị đi kiếm cách nào?

Bà An nói:

- Tụi tui lấy khởi điểm từ Ủy ban nhân dân, hỏi thăm suốt dọc hai bên đường, cả hai hướng mà hỏi ai cũng kêu không biết.

Bà Ngọc kêu lên:

- Mò kim đáy biển vậy thì biết chừng nào mới tìm ra?

Bà An ngẩn ngơ:

- Vậy chị có ý kiến gì?

Bà Ngọc thở ra:

- Mấy chị quên tôi đã nói là ở đây hồi xưa ít dân lắm mà, bây giờ mới đông như vậy thôi. Mấy chị hỏi thăm nhằm người mới tới đây ở thì làm sao ai biết được.

Bà Vân hỏi:

- Vậy theo chị phải làm sao?

Bà Ngọc nhíu mày:

- Nếu là tôi tôi chỉ tìm hỏi thăm những gia đình đã đến đó trước năm 75, và đặc biệt tôi chỉ đến tìm những nhà làm ruộng rẫy, vì khu vực đó hồi xưa chỉ gần như là rừng, không có ai dám buôn bán gì đâu. Quan trọng là phải làm sao lọc ra được ai đến trước 75, ai sau. Như vậy thì thời gian mới rút ngắn được. Ngoài ra hai chị không nên chỉ tìm kiếm hai bên đường, vì thường thì hai bên đường hiện nay chỉ những nhà có nhiều tiền mới mua được, mà dân làm rẫy thì mấy người nhiều tiền.

Bà An sực tỉnh. Đúng là không có bà Ngọc nhắc nhở thì bà đã không nhớ được điều này. Rõ ràng là suốt ngày nay bà toàn hỏi thăm nhằm những gia đình ngoài miền Bắc mới vào đây năm mười năm, làm gì họ biết được chuyện ba mươi năm trước. Bà An nói với bà Vân:

- Chị Ngọc nói đúng thiệt. Mình ngu quá. Phải rồi, ngày mai mình làm như chị Ngọc nói.

Bà Vân hỏi:

- Làm sao để biết ai ở trước, ở sau.

Bà An lườm bà Vân:

- Đừng có nôn nóng quá mà mất sáng suốt, Không lẽ Vân mà cũng không biết cách nào sao. Ngày mai mình tìm Công an.

Bà Vân hớn hở:

- Đúng rồi. Ngày mai mình gặp Công an.

Bà Ngọc nhắc nhở:

- Nếu công khai không làm được thì nhớ tới thăm nhà riêng.

Bà An gật đầu. Bà Ngọc nói:

- Thôi hai chị ngủ sớm để ngày mai còn đi tiếp.

Đúng như bà Ngọc tiên đoán, khi hai người đàn bà vô trụ sở Công an để nhờ tìm thì gặp ngay những khuông mặt lạnh lẽo. Họ nhanh chóng khách sáo từ chối với lý do hiện nay rất bận và sổ sách từ mấy mươi năm nay đã thất lạc không còn.

Hai người đàn bà tràn trề thất vọng ra về. Bà An nói với bà Vân:

- Phải làm theo lời chị Ngọc thôi.

Trưa đó họ tranh thủ tìm đến nhà người Công an xã, bà An khéo léo trình bày nhẹ nhàng nhờ giúp đỡ kèm theo lời hứa trả công bội hậu. Sau khi than phiền bận rộn đủ điều, anh ta hứa sẽ cho người tìm lý lịch dân trong xã đã đến ở đây trước năm 75 giùm và hẹn sau 2 ngày nữa đến lấy danh sách.

Hai người lần này không trở về nhà bà Ngọc mà chạy xe thêm gần 10 cây số nữa để tìm một nhà nghỉ bình dân. Bà Vân hỏi:

- Chờ hai ngày nữa, hay là mình về.

Bà An cười:

- Không tới hai ngày đâu. Thời đại vi tính này làm lẹ lắm, chẳng qua họ nói vậy để mình thấy họ bận rộn khổ cực vì mình thôi đó mà.

Bà Vân nói:

- Dù sao cũng phải, ai rảnh đâu mà đi làm chuyện không công cho mình.

Bà An nhăn mũi:

- Đừng có kể vụ này với chị Trinh là được rồi.

Bà Vân thở dài:

- Kệ chị Trinh chớ. Đối với Vân tốn kém bao nhiêu đâu có nghĩa lý gì.

Đúng như bà An nói nói, chỉ ngày hôm sau, qua số điện thoại bà An để lại, người Công an xã đã cho bà tên và địa chỉ của 8 hộ dân bà cần tìm, trong đó có một gia đình làm nghề buôn bán.

Bà Vân mừng rở:

- Đúng là chị Ngọc thuộc địa phương này nên rành hơn mình, loại trừ được một số lớn không cần thiết.

Hai người bắt đầu cuộc tìm kiếm lần nữa. Bà Ngọc quả thực đã tiên đoán gần như chính xác. Trừ đi gia đình buôn bán ở hơi gần mặt đường một chút, 7 hộ còn lại đều ở rất xa quốc lộ, đường xá sình lầy,vắng vẻ, nhà cửa tất cả đều đơn sơ và nghèo nàn.

Bà An thở ra:

- Không có chị Ngọc mình đi hỏi thăm tới Tết Ma Rốc chưa ra.

Cả 8 gia đình đều không có dấu hiệu gì biết về người đàn ông mặc thường phục bị thất lạc trong những ngày gần chiến tranh, họ đều nói lúc đó người như vậy thiếu gì, hỏi mù mờ làm sao mà nhớ nỗi. Bà Vân gần như lã người đi vì tuyệt vọng thì người đàn ông chủ nhà trong rẫy, cái nhà cuối cùng, xa nhất mà họ đến chợt nói:

- Tui thì hổng biết nhưng mà ba tôi ai biết ổng có biết chút gì hông. Tại vì hồi đó tui còn nhỏ mà.

Bà An mừng rỡ:

- Vậy bác nhà ở đâu vậy anh?

Người đàn ông lắc đầu:

- Ba tui đi xuống chùa hốt thuốc uống rồi. Mấy bữa nay ổng bị nhức mình nhức mẫy dữ quá.

Bà An hỏi:

- Vậy lúc nào bác về?

Người đàn ông trả lời:

- Sớm nhứt là tối nay. Thôi có gì ngày mai hai chị trở lại coi ba tui có biết gì hông.

Hai người chào rồi ra về. Bà An động viên bà Vân:

- Thôi thì ráng thêm chút nữa nghen Vân.

Ngày hôm sau khi họ trở lại thì không gặp người chủ gia đình đâu nữa, trong nhà chỉ còn lại một ông già lọm khọm ngồi chuốt mấy nan tre. Không đợi hai người phụ nữ trình bày, ông già nói ngay:

- Phải hai cô tới kiếm hỏi thăm cái ông bị lạc không?

Bà Vân mừng rỡ:

- Dạ phải rồi bác.

Ông già gật gù:

- Tui có nghe con tui nó nói rồi.

Bà An hỏi:

- Vậy hồi đó bác có gặp hông bác?

Ông già gật đầu:

- Có.

Bà Vân mừng chảy nước mắt:

- Bác nói giùm con đi bác.

Ông già với tay cầm hòn đá, liếc nhẹ con dao:

- Lâu quá tui cũng quên rồi, mà hồi tối con tui có nói, làm đêm hôm tui ráng nhớ lại, chớ nếu hỏi bất chợt tui cũng chịu thua luôn.

Bà An nói:

- Bác nhớ được tới đâu thì kể tới đó cho tụi con nghe đi bác.

Ông già suy nghĩ một lát rồi kể:

- Hồi đó tui có miếng rẫy ở gần đây, tại vì đói khổ quá mấy cô ơi mới ráng làm liều vậy chớ bom đạn ì ùng tối ngày, mấy ai dám vô đây mà chặt rừng phá rẫy. Hồi đó ở đây lưa thưa có mấy cái chòi mà bữa nào nhắm nhắm yên ổn mới dám vô, vô để thăm bẫy đó mà. Còn hễ bữa nào sáng ra nghe cắc cắc bùm thì ở nhà cho rồi. Bữa đó tui thấy gần 9 giờ rồi mà hổng có gì mới nói với má sắp nhỏ để tui đi coi có con chồn con heo gì không. Vô thăm một vòng miếng rẫy bắt được hai con thỏ, tính đi về thì nghe súng nổ. Sợ quá tui nhảy xuống hầm trốn. Mấy cô biết hông, hồi đó hễ ở đâu cũng phải đào cái hầm nhỏ để hễ khi nghe bắn nhau là chui xuống liền. Xui xẻo rớt trúng hầm thì ráng chịu, chớ bắn chíu chíu ở trên thì mình cũng thoát được hà. Được một hồi êm êm thì tui nghe có toán người đi ngang qua, rồi có người nói:

- Liệng mẹ nó đi chớ hơi sức đâu mà khiêng.

Rồi có ai đó nói:

- Tướng thằng cha này coi bộ ngon, có khi ông gì đây.

Có người cải:

- Ngon sao đi xe lam, chắc chả ăn mặc vậy để đi đám cưới.

Người đầu tiên nói:

- Ngon không ngon gì thì liệng đi, lo rút cho lẹ để lát tụi nó tới bây giờ.

Rồi tui nghe họ liệng xuống đất cái huỵch. Tui than thầm hổng biết cái xác nào đây, mình lại phải lo chôn nữa chớ.

Khi không còn ai tui mới từ từ bò lên, rồi lén lén đi tới ngó mặt ông đó . Sở dĩ mà tui nhớ là vì hồi đó ổng mặc bộ đồ đẹp quá, dân ở đây toàn là quần áo lam lũ, bộ đội với lính thì mặc đồ xanh, con ổng thì mặc áo sơ mi trắng, thắt cà ra quách nữa chớ. Tui tiếc bộ đồ đẹp, đứng ngó hoài. Sao tui thấy ổng nhúc nhích, té ra chả chưa chết. Tui lật đật xốc ổng vô chòi, ngó coi vẻ ổng đau đớn lắm. Tui đổ nước cho ổng, rồi đổ gạo nấu miếng cháo cho ổng. Tới chiều thì ổng khoẻ lại mà chưa nói được gì. Tui biểu ổng ngủ lại đi còn tui phải về nhà để vợ con mong ngóng. Tui đắp mền cho ổng rồi đem hai con thỏ về. Tới nhà cũng không dám kể cho ai nghe, tại vì hổng biết ổng là ai, lỡ là người Quốc gia thì sợ bộ đội kiếm chuyện, lỡ gặp mấy ông giải phóng thì sợ lính, nên tui nín luôn.

Ông già hớp một ngụm nước rồi kể tiếp:

- Bữa sau tui nói với vợ tui là tui vô chòi ở vài bữa mới về, tui đem theo dầu lửa, dầu gió, cá khô với đem thêm mớ gạo. Tính nuôi ổng hết tuần rồi thôi chớ sức đâu mà nuôi cho nỗi. Mình nghèo mà. Tới bữa sau thì ổng nói chuyện được, mà hỏi gì cũng lắc đầu. Tui nghĩ chắc người ta không muốn cho mình biết nên cũng hổng ép. Được hai bữa thì một lần tui đi thăm bẫy về tới nhà thấy ổng đi đâu mất tiêu. Từ đó tới giờ không có gặp lại nữa.

Ông già kể xong, đứng dậy thò tay trên nóc tủ lấy ra một cái hộp gỗ đựng đủ thứ bà rằn. Ông lục lọi một lát rồi đưa ra một cái kẹp cavát nhỏ đã hoen rỉ, ông nói:

- Ổng ra đi hồi nào không biết, còn bỏ quên lại cái này. Mới đầu tui tưởng nó bằng vàng thiệt nên cất kỹ lắm. Cất mà hổng dám đem bán, phần thì sợ lỡ là đồ giả người ta cười, phần thì sợ lỡ đồ thiệt người ta nghi mình trộm cắp . Nghèo như tụi tui lấy đâu ra đồ qúy mà bán. Hổng biết sao mấy năm nay nó xuống màu chớ hồi xưa đẹp lắm.

Bà An đưa tay cầm chiếc kẹp cà vạt ngắm nghía. Đúng là chiếc kẹp có hình con rồng như bà Ngọc đã kể, chỉ có điều qua một thời gian dài không được bảo quản, lớp vàng mạ bên trên đã bị phai mất màu nên nhìn nó xấu xí chớ không còn đẹp nữa. Bà đưa cho bà Vân. Bà Vân bật khóc nức nở.

Đợi cho Vân bớt khóc, bà An lại hỏi ông già:

- Bác ráng nhớ giùm con thêm chút nữa, coi ông đó có nói gì với bác hông?

Ông già trầm ngâm suy nghĩ rồi lắc đầu:

- Không phải là ổng câm điếc đâu, tui biết là ổng có nghe. Tại vì tui biểu ổng quay lại cho tui xức dầu, hay kêu ổng ngồi dậy húp miếng cháo là ổng nghe mà. Nhưng mà tui hỏi ổng tên gì, ở đâu thì ổng lắc đầu không nói, mặt ổng lúc nào ngó cũng ngơ ngơ như người mất hồn. Tui nói chắc ổng mới bị súng đạn lần đầu nên ba hồn bảy vía lạc mất, chớ nếu người tỉnh táo ở hai ba ngày phải hỏi thăm đường về nhà chớ.

Bà An suy nghĩ mông lung rồi hỏi:

- Từ căn chòi của bác có bao nhiêu hướng đi.

Ông già dắt bà An ra cửa, chỉ vềhướng Bắc:

- Hồi xưa cái chòi tui nằm ở chỗ đó, chỗ bây giờ là cái cây cao cao gần cái miễu đó. Chỗ đó có cái ngã ba, cái miễu đó thờ cô hồn chết vô số trong đợt giải phóng thị xã. Ở đó có con đường dẫn ra ngoài lộ cái là một, còn lại một đường dắt vô bản Thượng đi lên hướng trên. Đường phía dưới là đường vô khu người mình ở, là hồi đó chỗ liên lạc với cách mạng đó. Mà tui nhắc cho mấy cô nhớ là ở đây giải phóng sớm lắm nghen. Trước Sài Gòn gần hai tháng lận đó. Mấy cô có hỏi thăm ai cũng phải canh cho đúng thời gian mới dễ kiếm.

Hai người cảm ơn ông già. Bà Vân trân trọng nhét vào tay ông già nắm tiền lớn:

- Con cám ơn ông đã cứu giúp anh con trong cơn khốn khó. Ơn này chị em con không bao giờ quên.

Ông già ngại ngùng từ chối thì bà An đã nói:

- Bác không nhận ơn huệ thì coi như tụi con mua lại cái kẹp này. Bác lấy tiền đó mua lại cái bằng vàng khác mà xài.

Ông già cười móm mém:

- Tui gần đất xa trời rồi còn mua vàng vòng làm chi, mấy cô cho tiền thì tui để dành lúc đau lúc ốm.

Hai người dắt xe ra, bà Vân chợt nhớ liền hỏi:

- Bác ơi, anh con trai bác đâu rồi.

Ông già trả lời:

- Nó đi tỉa đậu rồi cô ơi. Có chuyện gì hông?

Bà Vân cuộn thêm một nắm tiền vào tay ông:

- Bác cho con gởi cái này cho anh để anh mua sắm thêm đồ trong nhà nghen bác.

Ông già cảm động rưng rưng nước mắt:

- Cô cho nhiều quá, thiệt tình cám ơn cô quá.

Bà Vân mũi lòng:

- Cái ơn cứu giúp anh con lúc bị nạn còn lớn hơn bác ơi.

Hai người chạy xe về hướng ngã ba theo ông già chỉ, An hỏi Vân:

- Bây giờ đi hướng nào đây?

Vân nói:

- Chắc là anh Thành thấy ai đó quen nên đi theo, hoặc giả ảnh bị cách mạng bắt không chừng.

An cho xe chạy sâu vào bên trong, đi thêm một đoạn đã thấy có một xóm nhỏ bên trong, nhìn cũng khá sầm uất, lác đác nhà xây, tiệm tạp hoá, vườn cây ăn trái. Hai người xuống xe bắt đầu hỏi thăm. Rút kinh nghiệm lần trước, lần này họ chỉ hỏi những gia đình nào đã ở đây trước 75. Nhưng thật là thất vọng, cả buổi chiều họ chỉ hỏi được hai gia đình, còn lại toàn thể đều là dân ngoài Bắc vào Nam sau giải phóng đến năm hoặc bảy năm. Hai gia đình được giới thiệu ở trước 75 thì đều là gia đình cách mạng, trong đó có một bà mẹ anh hùng. Không may mắn là tất cả mọi người già đều đã lên bàn thờ ngồi, những người còn lại dưới đất còn quá trẻ để không hề biết chút tăm hơi nào về người đàn ông mặc thường phục mất tích trong thời gian đó.

Buổi tối trong nhà nghĩ, An vặn vẹo người cho đỡ mõi. Vân thì nằm vật ra giường chẳng ăn uống gì. An nói:

- Tắm rồi thì phải ăn chút gì chớ. Muốn ngày mai nằm liệt luôn sao?

Vân không nói, nằm đăm đăm nhìn lên trần nhà. Lòng bà đau xót tái tê, cơ thể bà như ai vắt kiệt. Không hiểu do trước đây bà chưa từng vất vả thế này hay áp lực tâm lý làm bà suy nhược. Vân nhớ đến Thành, nhớ câu dặn dò của anh trước khi ra đi. Bà liên tưởng lại những điều đau đớn mà Thành phải chịu qua lời kể của các nhân chứng. Định mệnh éo le để cho bà chờ đợi ba mươi năm mõi mòn không một chút tăm hơi. Anh biến mất đi như cơn địa chấn nuốt trọn vào lòng. Cha mẹ, anh em, người yêu không ai biết lúc mọi người nháo nhác tìm anh ở mọi nơi trên đường phố Sài Gòn thì thể xác anh đang phải đau đớn ở một góc trời xa lạ không một người quen. Ba mươi năm nay anh khốn khổ nơi nào, sao quá muộn màng để bây giờ em mới đi tìm anh. Để mọi sợi dây liên kết về anh gần như đã tả tơi vì sự tàn phá của thời gian. Em biết tìm anh ở đâu bây giờ khi những người khi đó đã mãi mãi ra đi. Sao không là mười, là hai mươi năm trước để em còn lần ra được chút manh mối nào. Bây giờ em biết làm sao đây hở anh? Làm sao mà tìm ra anh giữa nơi xa lạ này, làm sao mà tìm được chút manh mối nào nữa đây?

An buông mùng:

- Không ăn thì ngủ đi, ngày mai còn sức đi nữa.

Vân ngẩn ngơ:

- Đi đâu nữa?

An tròn mắt:

- Chịu thua à? Còn phải tiếp tục chớ?

Vân thắc mắc:

- Nhưng đi đâu? Không lẽ anh Thành vô bản Thượng?

An nằm xuống bên Vân, suy nghĩ một lúc rồi nói:

- Động não chút đi. Nơi đó là ngã ba, một ra đường quốc lộ, một thì hồi chiều mình đã đi, còn một lên làng Thượng. Cả 3 đường đó anh Thành đều có thể đi được khi anh đã khoẻ hơn. Có thể anh ra đường đón xe về, có thể anh trở về lấy chiếc xe mà cũng không thể loại trừ trường hợp anh vào làng Thượng.

Vân ngạc nhiên:

- Anh vô đó làm gì?

An nhăn nhó:

- Ai mà biết đâu. Vân không thể hỏi như thế được. Nếu Vân đã quyết tìm thì hướng nào cũng phải tìm.

Vân hỏi:

- Bây giờ làm sao?

An không trả lời. Bà mở di động gọi cho bà Ngọc. Một lát bà nói:

- Loại bỏ trường hợp anh Thành quay lại lấy chiếc xe, chị Ngọc nói chiếc xe vẫn còn lại qua chiến tranh, sau đó bị hư hỏng dần.

Suy nghĩ một lúc , bà quyết định:

- Ngủ đi, ngày mai vào bản Thượng.

Hôm sau, hai người dậy sớm, bà An buộc bà Vân phải ăn sáng thật no, sau đó hai người tiếp tục đi. Đường vào bản Thượng thật là xa, hai người vừa đi vừa hỏi thăm người qua đường. Đến nơi hai người mới thấy thật là khó khăn vì rào cản ngôn ngữ. Mặc dù đã qua 30 năm, người dân tộc Châu Mạ vẫn chưa kịp hoà đồng với người Kinh, phần đông chỉ bập bẹ được vài tiếng. Một số ít người trả lời mơ màng vì cả hai bên đều không hiểu nhau. Nơi đây mọi vật vẫn còn rất thô sơ, điện chưa được biết đến đừng nói là chút văn minh gì. An chán nãn:

- Kiểu này trở về thôi Vân ơi.

Hai người thất thểu trở về như những người lính bại trận. Đến nhà nghỉ, An nói:

- Chắc phải tìm cách khác thôi.

Họ trả phòng, quay về nhà bà Ngọc. Bà Ngọc đang ở ngoài tiệm sách. Bà vồn vả hỏi thăm, hai người thay nhau kể hết mọi việc. Bà An kết luận:

- Bó tay. Không làm sao tiếp cận được.

Bà Ngọc suy nghĩ một lát rồi nói:

- Để tôi giúp cho.

Cả Vân và An đều ngạc nhiên:

- Chị nói được tiếng Châu Mạ à?

Bà Ngọc lắc đầu:

- Không. Nhưng tôi có một người bạn người Châu Mạ thời còn đi học. Ngày mai tôi đi với mấy chị đi kiếm chị ấy.

Bà Vân mừng quá:

- Vậy ngày mai chị giúp em nghen.

Rồi bà thêm:

- Tiệm sách này chị giao lại được cho ai thì giao, không thì đóng cửa đi, phí tổn trong mấy ngày này em xin trả lại chị.

Bà Ngọc ái ngại:

- Chị đã đưa cho em nhiều rồi.

Bà Vân lắc đầu:

- Không có lời xác nhận của chị về cái tên trên thẻ đeo thì cả đời em cũng không biết được chút tin tức nào.

Tối hôm đó họ lại tiếp tục ngủ lại trên căn gác bé tí hin của bà Ngọc.

Hôm sau bà Ngọc lấy chiếc xe máy của nhà đi cùng Vân, An. Bà không rẻ vào con đường họ đã đi tìm mà chạy thẳng lên hơn 10 cây số nữa rồi bắt đầu vào con đường đất đỏ phía trong. Đường đi khó khăn, gập ghềnh, qua rất nhiều con dốc nhỏ ba người dừng lại trước căn nhà mới xây trong một vườn điều um tùm rậm rạp.

Ngọc cất tiếng gọi:

- Lý ơi . Có nhà không.

Hai con chó ùa ra sủa vang trời, rồi có tiếng bà già đuổi chó. Bà Ngọc ra hiệu cho mọi người vào nhà. Bà đon đả:

- Bác cho con gặp Lý chút ạ.

Bà già người dân tộc đen đúa ốm nhách mặc váy quấn và áo chui đầu như người Kinh ho sù sụ:

- Chờ chút đi. Đương hái điều.

Rồi bà sai thằng bé tóc quăn tít, mặt mày đen nhẽm chạy đi kêu cô Tư. Một lát Lý về. Đó là người phụ nữ dân tộc đẩy đà có nụ cười tươi tắn thân mật vỗ vai bà Ngọc:

- Lâu quá mới gặp. Có việc gì mà tới đây kiếm mình.

Sau khi nghe bà Ngọc kể tóm tắt câu chuyện, bà Lý ôn tồn:

- Cái đó thì mình giúp được mà, nhưng mà phải đợi mình tắm rửa chút đã.

Ba người đàn bà thơ thẩn dạo quanh vườn điều trong khi chờ bà Lý. Bà An thắc mắc:

- Bạn chị Ngọc nói tiếng Kinh giỏi vậy?

Bà Ngọc cười:

- Ba nó hồi trước đi lính, nó ở trong khu gia binh nên nói tiếng Kinh không mà. Chỗ này là sau khi giải phóng nó mới về.

Bà Vân thất vọng:

- Như vậy là chị Lý đâu có biết chuyện hồi đó đâu.

Bà Ngọc gật đầu:

- Tất nhiên là nó không biết rồi. Nhưng nó có thể hỏi thăm người trong bản cho mình, mình là người lạ, lại là người Kinh dễ dàng gì mà họ nói cho mình biết.

Bà An đồng ý:

- Phải đó. Họ không tin người Kinh mình đâu.

Bà nhận xét thêm:

- Người dân tộc ở đây có vẻ phát triển, nhà cửa cũng đàng hoàng đó chớ.

Bà Ngọc phì cười:

- Đây chưa phải là bản làng, với lại bây giờ Nhà nước có chương trình xây nhà cho người dân tộc mà.

Bốn người lên xe, theo sự chỉ dẫn của bà Lý, bà Ngọc chạy vào con đường nhỏ ngược chiều. Bà Lý giảng giải:

- Ở đây có tới 2 bản Thượng lần chớ không phải một đâu, còn lại có một bản mới được Nhà Nước thành lập ở cách đây 5 cây số về hướng nhà Ngọc nữa.

Bà An thắc mắc:

- Tụi em muốn hỏi bản Thượng ở phía dưới kìa.

Bà Lý gật đầu:

- Mình biết. Hồi đó là bản của mình mà, nhưng mà bây giờ người ta không ở túm lại nữa mà dãn rộng ra, ai cũng lập nghiệp lâu dài nên phá rừng làm vườn trồng cây ăn trái. Hồi đó sống du canh nên gom lại để kéo nhau đi cho dễ.

Bà An hỏi:

- Trước năm 75 khu vực này có mấy bản?

Bà Lý chắc chắn:

- Hai bản, bản của em là Châu Mạ, bản kia là Cho Ro.

Rồi bà nói thêm:

- Hai chị đừng lo, em biết rành lắm, tại vì hồi đó nhà em tuy ở khu gia binh nhưng tới ngày lễ cúng thần lửa, ngày lễ Yu Rmul phải quay về bản cúng bái chớ đâu có bỏ đi luôn.

Bốn người vào làng theo sự hướng dẫn của bà Lý, quả thực như lời bà Ngọc nói, trong bản còn nhiều nhà làm bằng tre, nứa, khung gỗ, mái lợp cỏ tranh. Một số nhà có lẽ mới được xây, nhìn hao hao giống nhà tình thương. Bà Lý dẫn họ đến một ngôi nhà sàn dài hơn chục mét nằm lọt phía sau một ngọn đồi nhỏ. Bà giải thích:

- Nhà này có ông già tên Kva Can, ổng lớn tuổi, trí nhớ còn tốt lắm, muốn hỏi cái gì kiếm ổng mà hỏi.

Ông già ngồi phì phèo điếu thuốc to bằng ngón chân cái bên bậc thang cuối nơi cửa ra vào. Bà Vân lo ngại nhìn hàm răng được mài sát của ông và hai bên dái tai rộng hoạc đeo đôi tòng teng màu trắng nhờ nhờ. Bà An ghé tai bà Vân thì thào:

- Tục lệ cà răng căng tai đó mà, nhưng chỉ có ở những người quá già thôi, trẻ như chị Lý làm gì có.

Bà Lý nói một hồi dài với ông, ông suy nghĩ rồi lúc lắc cái đầu. Bà An theo dõi, đoán mò:

- Vô vọng rồi.

Bà Lý vẫn chưa ngừng nói, một lát bà quay lại hỏi bà Vân:

- Chị có mô tả được hình dạng người đó không?

Bà Vân mừng rở:

- Cao, tóc quăn, trắng, đẹp trai, ăn nói điềm đạm.

Bà An khẽ huých vào hông bà Vân, tiếp lời:

- Lúc đi mặc áo sơ mi dài tay màu trắng, quần nâu, giày đen, có thắt cà vạt.

Bà Lý lại tiếp tục phiên dịch. Ông già có vẻ suy nghĩ lung lắm, sau cùng ông nói một tràng với bà Lý. Bà Lý quay lại nói:

- Ông nói lúc gần giải phóng ông không thấy ai tới ở bản này, nhưng về sau ông nói ông có nhớ cái gì đó lạ lắm, biểu mình chờ tới chiều coi ông có nhớ thêm được gì không.

Họ ăn trưa bằng những ổ bánh mì và nước khoáng mà bà Ngọc chu đáo chuẩn bị hồi sáng. Bốn người đàn bà nằm nghỉ trên bộ vạt tre phía sau vườn. Gió thổi vi vu nghe vui tai, mát rười rượi. Bà Lý kể cho mọi người nghe về tập tục của người Châu Mạ.

Dân tộc Mạ chia làm 4 giòng: Ma Ngăn, Mạ Xốp, Mạ Tô và Mạ Krung. Bản làng này thuộc giòng Mạ Krung. Người Mạ sống nhờ vào phát rừng làm rẫy. Rẫy là nơi cung cấp lương thực cho bữa ăn hằng ngày vì chăn nuôi kém phát triển mà săn bắn không đem lại thức ăn thường xuyên. Người Mạ chia rẫy làm 2 loại: rẫy mới và rẫy cũ. Rẫy mới canh tác năm đầu và chỉ trồng lúa, rẫy cũ từ năm thứ hai trở đi, có thể trồng lúa hoặc hoa màu vài năm, sau đó bỏ hoang hoá cho rừng tự tái sinh lại, đó là các năm trước đây, còn bây giờ Nhà Nước cấm phá rừng, nên người Mạ không sống đời du canh nữa.

Công cụ làm rẫy của người Mạ là rìu để đón cây to, dao rừng để phát cành nhỏ, gậy chọc lỗ bằng gỗ dài 3m, bịt sắt ở đầu nhọn dùng để tra hạt, gùi nhỏ để đựng hạt giống. Người Mạ khi xưa suốt lúa bằng tay, cắt lúa nếp mới dùng liềm, bây giờ có cả máy suốt lúa. Quá trình canh tác của người Mạ hiện nay vẫn còn gắn liền với nhiều lễ nghi nông nghiệp để cầu mong cho mùa màng được tươi tốt. Trước khi đốt rẫy thì cúng thần lửa. Lúa sắp trổ đòng thì làm lễ Vu tam nam để ăn mừng và tạ ơn mẹ lúa. Lúa trổ bông thì làm lễ yu rmul. Đó là lễ lớn thứ hai trong chu trình một năm sản xuất. Trong lễ này người ta cúng heo hoặc dê và phải kiêng cữ trong 7 ngày. Lễ này còn có tục lệ dựng cây nêu trên rẫy tượng trưng cho hồn lúa. Khi thu hoạch xong, cây nêu được đem về cắm cạnh kho lúa của gia đình.

Sau khi gieo hạt, người Mạ còn có tập quán dọn ra rẫy ở để chăm sóc cây lúa. Họ đem theo các dụng cụ dùng trong sinh hoạt như lương thực, váy áo, chăn mền, nồi niêu, nông cụ và cả chiêng ché nữa. Giữa rẫy họ dựng một chòi cao để canh rẫy, đuổi chim, họ còn dựng gần đó một nhà sàn thấp để ở, thu hoạch xong họ mới trở về làng.

Chăn nuôi ở vùng này không phát triển, chủ yếu chỉ nuôi những con vật để dùng trong cúng tế. Thủ công tuy là nghề phụ nhưng dệt vải được coi như kỹ thuật cao với phương pháp đan hoa văn. Phổ biến hơn là nghề đan các đồ dùng bằng mây tre.

Nhà của người Mạ được gọi là bon, bao gồm một hay nhiều ngôi nhà dài mà các thành viên trong đó có cùng một ông tổ. Ngôi nhà họ đang ở hiện nay cũng là một bon. Ngoài ra họ còn cất những ngôi nhà sàn nhỏ hơn, một số người hiện nay ở những ngôi nhà do Nhà Nước trợ cấp nhưng hình như người Mạ không cảm thấy thoải mái như khi ở trong nhà gỗ, có lễ họ đã quen với thiên nhiên, quen mùi nắng gió, khó chịu được cảm giác tù túng trong những ngôi nhà xây.

Cuộc sống ở đây đơn giản, ăn uống thường chỉ là cơm tẻ với muối, rau rừng, bầu bí , đọt sắn, đôi khi có thêm chút cá hoặc thịt thú rừng.

Phụ nữ Mạ mặc váy quấn, nam giới đóng khố. Về mùa nóng thường cởi trần, mùa đông choàng thêm tấm mền. Một số đàn ông lớn tuổi thích cà răng và xâu lỗ dái tai để đeo vòng cỡ lớn, có khi rách cả tai. Đàn bà thường mang ở cổ những chuỗi hạt cườm ngũ sắc cùng với đôi vòng đồng ở cổ chân và cổ tay.

Cuộc sống ở đây thân thiện, đơn giản, sự giàu nghèo được phân biệtt qua những chiêng, ché. Tuy mỗi người có diện tích đất canh tác riêng nhưng nếu gia đình này khó khăn có thể đến gia đình kia lấy mà không đòi hỏi phải trả lại. Họ cũng không hay xoi mói cuộc sống của nhau. Hôn nhân trong dân tộc Mạ ngày càng xuất hiện nhiều gia đình nhỏ, đôi khi gia đình họ sống song phương. Tàn dư mẫu hệ và quần hôn vẫn chưa chấm dứt. Thuật ngữ nao ở vùng Mạ được dùng để phân biệt giữa các giòng họ. Người thuộc nao này kết hôn với người thuộc nao kia.

Nói chuyện một lát bà An lăn ra ngủ khò. Bà Vân nói với bà Ngọc:

- Con An nó vậy đó, dễ ăn mà dễ ngủ nữa.

Bà Ngọc cười cười:

- Người ta nói mấy người vậy sướng lắm đó chị.

Bà Vân ậm ừ:

- Chắc vậy đó. Có lo nghĩ gì đâu mà.

Gần 3 giờ chiều, bà Ngọc vươn vai, nóng ruột:

- Không biết ông già nhớ được cái gì rồi.

Bà Lý đứng lên đi vô nhà. Một lát, bà trở ra gặp họ, bà nói:

- Ông ngủ một giấc, tỉnh lại nói là ông không nhớ người nhưng ông nhớ đã gặp một người dân trong bản mặc bộ quần áo giống như mấy chị kể. Đặc biệt là do có cái cà vạt nên ông để ý. Hồi đó ở đây dân nghèo xác nghèo xơ, áo rách còn có người hổng có mặc lấy đâu ra bộ đồ đẹp đó. Ông nói muốn biết thêm thì hỏi người mặc bộ đồ đó coi họ lấy ở đâu.

Cả 3 mừng rỡ, bà An hỏi:

- Vậy người mặc bộ đồ đó là ai? Có còn ở đây không?

Bà Lý nói:

- Ông già nói người mặc bộ đồ đó tên Kva Đăng, nhưng bây giờ ông đó đi rẫy rồi, tối mới về.

Bà An hỏi:

- Ngày mai ông đó có nhà không?

Bà Lý lắc đầu:

- Không biết. Thường thì sáng họ lo đi làm rồi.

Bà Vân thất vọng:

- Không lẽ mình ngủ lại.

Bà Ngọc suy nghĩ:

- Lý vô nói giùm cụ, nhờ cụ tối nay kêu ai đó mời ông Kva Đăng trưa mai tới nhà cụ ăn cơm một bữa, tụi mình sẽ lo bữa tiệc này.

Bà Lý gật đầu:

- Tính vậy được, mấy người này cũng ưa nhậu lắm. Để mình nói cho.

Bốn người quay về nhà bà Lý, bà Lý giữ bà Ngọc lại nhưng bà Ngọc hẹn ngày mai. Ra đến quốc lộ, bà Ngọc gọi điện về nhà rồi cùng ở lại nhà nghỉ với hai người kia.

Tối hôm đó bà Ngọc tìm một quán ăn, bà đặt sẵn một mâm cơm thịnh soạn, gần trưa hôm sau 2 chiếc xe chở thức ăn vào nhà bà Lý. Bà Lý đã chuẩn bị sẵn rượu, tô chén. Họ lại quay trở vào khu làng Thượng.

Người đàn ông tên Kva Đăng da đen nhẽm, tóc tai quăn tít, đã trạc ngoài 50. Có vẻ hớn hở khi được dự một bữa tiệc thịnh soạn với các bà sang trọng người Kinh. Gần tàn buổi rượu, ông già mới lên tiếng hỏi (qua sự phiên dịch của bà Lý).

- Kva Đăng nè, tao nhớ hồi sau giải phóng, mày có tham gia văn nghệ của bộ đội tổ chức phải không?

Người đàn ông cười sảng khoái:

- Già ơi, tui tham gia nhiều lắm, bộ đội khen tui là hát hay nhứt bản này đó.

Ông già gật gù:

- Phải phải, mày hát hay nhứt. Tao nhớ có mấy lần mày lên lãnh giải thưởng gì đó mà.

Kva Đăng khoái chí:

- Đúng rồi, già nhớ dai thiệt. Hồi đó có 2 lần tui lãnh giải thưởng huyện, 1 lần của tỉnh đó nghe.

Ông già tiếp tục:

- Hồi mày lãnh giải của tỉnh thì tao hổng được coi, mà hai lần mày lãnh giải huyện thì tao được Ủy ban mời đi. Tao nhớ bữa đó mày hát cái bài gì nè.

Kva Đăng nói liền:

- Lần trước tui hát Tiếng chày trên sóc Bombo, lần sau tui hát Người đi xây hồ Kẻ gỗ.

Ông già vỗ đùi đánh bốp:

- Phải rồi, hôm hát cái bài đó mày đẹp trai quá chừng, mày mặc bộ đồ người Kinh, đeo cái dây trên cổ, còn mang giày nữa chớ.

Kva Đăng cười ha hả:

- Già là nhớ dai nhứt bản này đó nghe, đúng là bữa đó tui mặc bộ đồ đó, con vợ tui bây giờ nó mê tui luôn từ bữa đó đó.

Ông già bắt đầu cảnh giác:

- Mà tao hỏi thiệt mày Kva Đăng, bộ đồ đó mày mượn của ai?

Kva Đăng tròn mắt:

- Của ai? Của tui chớ của ai?

Ông già lăn ra cười:

- Mày tưởng tao già rồi lẩm cẩm hả? Tao còn sáng suốt lắm, bộ đồ đó không mượn thì làm sao mà có?

Kva Đăng cải:

- Tui có.

Ông già gặng lại:

- Ở đâu mày có. Dân ở đây ai có bao nhiêu lúa tao còn biết nữa kìa. Cả bản này lúc đó có ai có nỗi hai bộ đồ lành lặn đâu, bộ đội thì chỉ có đồ lính thôi. Mày phải mượn một người nào đó hoặc quen biết ở ngoài thị xã, hoặc ở chỗ khác tới chớ làm gì cái mặt mày mà có.

Thấy Kva Đăng sắp nổi giận, bà Ngọc lật đật nhờ bà Lý nói:

- Tụi tui chỉ muốn tìm người mặc bộ đồ đó thôi chứ không có ý gì đâu. Anh biết hồi đó người đó ở đâu, hoặc sống chết ra sao thì làm ơn chỉ giùm tụi tui rồi tụi tui hậu tạ.

Kva Đăng có vẻ dễ chịu hơn, anh ta nói:

- Bộ đồ đó là của tui, nhưng hổng phải tui mượn hay ăn cắp, cũng hổng phải ai cho, mà người ta đổi thì tui lấy.

Bà An hỏi vội:

- Anh kể lại chuyện đó giùm tụi tui.

Kva Đăng suy nghĩ một lúc rồi kể:

Hồi đó Đăng làm mướn cho một người Kinh, công việc hằng ngày của anh là đánh xe trâu đi chở mướn cho chủ. Hồi đó anh nói tiếng Kinh giỏi hơn bây giờ. Bữa đó Đăng được chủ giao chở lúa ruộng cho người ta. Đáng lẽ chở xong Đăng phải quay lại nhà chủ nhưng anh ta đang có ý định dựng một căn nhà cho mình để cưới vợ nên khi ở ruộng anh đã ôm thêm rơm đặt lên xe trâu rồi mới để lúa lên trên. Giao lúa xong Đăng tính đánh xe chở rơm về bản mình trước rồi mới quay lại nhà chủ sau. Đi tới ngã ba thì Đăng thèm thuốc, rờ túi không thấy quẹt, anh nhìn thấy cái chòi gần đó nên lần mò vô xin chút lửa. Trong bếp không có ai, Đăng ngồi đó hút hết điếu thuốc rồi đi ra, mới đi được mấy bước thì đau bụng, anh lật đật kiếm bụi rậm giải quyết. Xong xuôi nhẹ bụng anh lật đật nhảy lên xe trâu cho chạy một mạch vô làng. Tới chòi của mình Đăng mới tá hỏa khi thấy trên xe một ông nằm co rúc lại. Đăng lôi dậy, tính đánh một trận thì thấy ông ta có vẻ bệnh hoạn nên thôi. Hỏi cái gì ông ta cũng không nói, không biết làm sao Đăng bỏ đó đánh xe trâu về nhà chủ, bữa sau thấy áy náy nên xin trở về bản. Tới chòi thấy ông ta còn ngồi trong đó, miệng nhai nhai mấy lá cây, thấy tội nghiệp Đăng nướng củ mì cho ăn. Tới chiều thì ông ta có vẻ khoẻ hơn, Đăng biểu ở lại vài bữa cho khoẻ rồi Đăng đưa về nhà. Mấy bữa sau tình hình chiến tranh bắt đầu bùng nổ lẻ tẻ, Đăng bỏ việc nhà chủ ở luôn trong chòi. Hai người bắt đầu đào hầm tránh đạn, rồi ở chung với nhau trong suốt thời gian chiến tranh thị xã. Do khu đất đó toàn người dân tộc nên không ai thèm quan tâm. Lúc có tiếng súng thì chui xuống hầm tránh đạn, yên ổn lại lần mò ra rẫy kiếm miếng ăn, lần hồi cho tới khi thị xã hoàn toàn giải phóng.

Một thời gian ở chung với nhau, người đàn ông đó do phơi nắng phơi mưa nên cũng đã đen đúa đi nhiều, thêm mái tóc ông ta dài lâu ngày không cắt, lại loăn xoan nên không bao lâu đã hao hao giống người làng. Khi Ủy ban quân quản về làm việc, Đăng khai là anh mình tên Kva Kăng, lúc đó đâu có ai để ý coi có phải anh em thiệt không. Mới đầu Đăng cũng không định sống chung với anh ta nhưng anh ta không đi đâu, cả ngày lầm lũi trong rẫy, hỏi gì cũng không biết nên Đăng đành phải cho anh ta ở nhờ. Với lại dù sao anh ta cũng làm việc không công cho Đăng. Mấy tháng sau anh ta đột nhiên biến mất, từ đó đến giờ không biết đi đâu.

Ông già hỏi:

- Mày ở chung bao lâu mà sao tao không biết.

Đăng trả lời:

- Ổng ở trong chòi trong rẫy không, có đi ra ngoài đâu mà ai biết.

- Vậy còn bộ đồ của ổng thì sao. Ông già hỏi lại.

Kva Đăng cự nự:

- Ổng ở với tui mấy tháng toàn mặc đồ tui không, lúc bỏ đi cũng mặc theo bộ đồ của tui vậy thì tui mặc lại là phải rồi.

An khoát tay cắt ngang câu chuyện:

- Anh ở chung với ổng lâu vậy, ổng có nói chuyện gì với anh không?

Kva Đăng trả lời:

- Tui hỏi mà ổng không có nói, hỏi gì ổng cũng nói không biết hết. Hỏi tên gì, nhà ở đâu cũng hổng biết, tui nói tui đưa ra đường đón xe về nhà cũng không biết đường đi.

Bà Vân khóc nức nở. Bà Ngọc hỏi:

- Anh ở chung với ổng có thấy ổng có đặc điểm gì không?

Kva Đăng suy nghĩ:

- Ổng hay lấy lá cây làm thuốc uống, với lại hay cầm cầm miếng gì đeo trước ngực. Có lần tui coi thử thấy có khắc chữ mà tui hổng biết chữ gì.

Bà An lại hỏi:

- Mấy ông quân quản gặp ổng có nói gì không?

Kva Đăng lắc đầu:

- Hồi mấy ông quân quản đi kiểm tra chòi thì thấy ổng đóng khố đeo gùi, tỉa lúa thì đâu có nói gì.

Bà Ngọc hỏi tiếp:

- Vậy khi anh trở về thấy ổng đi rồi, anh có thấy ổng đem theo cái gì của anh không?

Kva Đăng suy nghĩ:

- Ổng có lấy theo cái mền của tui thôi, còn quần áo của ổng thì ổng bỏ lại.

Bà An chán nãn:

- Vậy thì còn biết dựa vô cái gì mà kiếm đây trời.

Đăng hồi tưởng lại một lúc rồi nói:

- Ổng chỉ còn có cái tấm th? đeo trước ngực thôi, nếu mà mất luôn cái này thì khỏi kiếm luôn.

Mọi người lặng đi trong đau xót. Một lát bà An hỏi:

- Gần đây lúc đó còn có buôn làng gì nữa phải không?

Bà Lý gật đầu, bà An lại hỏi:

- Bây giờ làng đó còn không?

Bà Lý nói:

- Còn, nhưng mà họ nói tiếng Cho Ro, tui không dịch được.

Mọi người trầm ngâm suy nghĩ. Sau cùng bà An quyết định:

- Về nhà rồi tính tiếp.

Bốn người chào ông già và Kva Đăng đi về. Trước khi đi, bà Vân dúi vào tay ông già mấy tờ giấy bạc và đưa riêng cho Kva Đăng một xấp. Khi xe sắp chuyển bánh, Kva Đăng chạy xuống cầu thang, nói với theo:

- Ổng hái lá cây làm thuốc hay lắm đó nghen. Mà trên mặt có một vết thẹo lớn bằng ngón tay nằm sát lỗ tai trái.

Bà Vân hỏi lại:

- Ổng bị hồi nào ?

Kva Đăng trả lời:

- Hồi chiếm đánh thị xã, bị một miểng đạn xẹt qua.

Sau khi thả bà Lý về nhà, ba người đàn bà chạy xe về nhà nghỉ. Bà An nói:

- Chuẩn bị đi, về Sài Gòn.

Cả bà Vân và bà Ngọc cùng ngạc nhiên, bà Vân phản đối:

- Sao lại về, kiếm chưa ra mà.

Bà An im lặng không đáp. Một lúc lâu sau, bà nói:

- Liệu mình có kiếm được không? Càng lúc càng mù mù tăm tăm, dấu vết thì nhạt dần dần. Bây giờ biết dựa vào cái gì mà tìm anh Thành đây?

Bà Vân khóc nức nở. Bà Ngọc mũi lòng:

- Còn nước thì còn tát mà, ngày mai thử vô buôn Thượng bên trong đó coi.

Bà An cắn môi:

- Biết kiếm đâu ra phiên dịch đây?

Bà Ngọc không trả lời. Bỗng di động của bà Vân reo lên, bà Vân cầm máy. Một lúc sau, bà nói với bà An:

- Phải về thôi. Ngọc Lan nói ở Tri Tôn báo lên Công ty, chú Tư mất rồi.

Bà An nhảy nhổm. Chú Tư là người lính già năm xưa đã từng giúp Vân trong khi hoạn nạn, sau này cũng nhờ ông mà Vân nhận lại được ngôi nhà. Để cảm tạ cái ơn ông, Công ty du lịch đã xây một ngôi nhà tặng ông khi ông về hưu và chu cấp tiền bạc cho ông suốt hơn mười năm qua. Bây giờ chú Tư mất, không những chỉ có Vân phải về mà ngay cả An cũng phải tham dự đám tang này. Bà không thể nào không đến chào lần cuối cùng ông Bụt hiền lành năm ấy. Bà An quay sang bà Ngọc.

- Tụi em phải về. Cảm phiền chị ngày mai đến gặp chị Lý gởi lại giùm em chút đỉnh tiền công cho chị Lý. Tiện thể trong lúc tụi em phải đi đám tang, nhờ chị Lý tìm giùm em một người có thể nói được tiếng Cho Ro. Tiền bạc bao nhiêu xin chị đừng quan tâm.

Bà Ngọc gật đầu ra về. Bà An thở dài, chuẩn bị quần áo đi tắm.

Đám tang chú Tư cử hành trang trọng theo nghi thức Nhà nước. Dù sao chú cũng là một Trung tá về hưu. Chú Tư không có con, sống với vợ chồng người cháu ruột kêu bằng cậu. Bà Vân và An trong vai cháu gọi chú than khóc nức nở. Quả thật không họ hàng gì mà họ thương ông già như người thân. Người ta bảo tình cảm đến trong cơn hoạn nạn mới là đáng qúy. Chú Tư đã xuất hiện đúng lúc An và Vân tuyệt vọng nhất, cả hai cô gái nhỏ tuổi đang phải đối mặt trước một thử thách cực kỳ gay cấn và phần thua thì nắm chắc. Vậy mà chỉ một câu nói của ông, mọi sự đã thay đổi hoàn toàn. Sau đó nhiều lần Vân và An đến thăm ông, chú Tư đã tỏ vẻ rất thương yêu hai cô cháu bất đắc dĩ này, đặc biệt là với Vân, vì ông thương cô một thân lạc loài giữa cơn sóng lớn. Đã nhiều lần ông giúp đỡ về mặt kinh tế cho Vân khi thấy cô không làm gì ra tiền, sống hẩm hút chung với An một suất lương do chị Hạnh tài trợ. Thỉnh thoảng chú cũng giới thiệu cho Vân nhận viết thuê một số giấy tờ hành chính hoặc một vài công việc đơn giản thời ấy như dán hộp, tháo ruột xe, kéo sợi … Đồng lương người lính không nhiều, dù ông làm chức vụ cao đi nữa nhưng ông vẫn cố gắng nhín nhúc cho Vân, thỉnh thoảng có tiêu chuẩn lương thực không dùng đến, ông cũng sai người mang cho Vân. Ông thường nói đùa:

- Con An có nhịn đói ba ngày cũng không chết, lo là lo cho con Vân kìa.

Quả thật là An với sự tài trợ của chị Hạnh và một sức khoẻ bền bĩ cộng với một tinh thần sung mãn đã sống thật thoải mái trong cái thời gạo châu cũi quế đó. Mãi đến khi Vân bắt đầu nhận được hàng nước ngoài do mẹ gửi về thì chú Tư mới thôi không lo cho cô nữa. Nhưng không vì thế mà tình chú cháu phai nhạt. Ông vẫn thường đến thăm hai cô cháu nhỏ và coi họ như con. Ngược lại cả hai cũng rất qúy mến ông và để ý đến cái tuổi già của ông hơn.

Có lần An hỏi chú Tư:

- Sao hồi còn trẻ chú Tư không cưới vợ.

Ông già cắc cớ hỏi:

- Sao bây biết chú không cưới ?

An cải:

- Hồi nhỏ không cưới thì bây giờ mới không có.

Ông già hỏi lại:

- Tụi bây biết vậy sao không lo cưới đi.

An gân cổ:

- Con hỏi chú mà.

Trong mắt ông già thoáng một nét buồn, Vân biết ý bấm tay An không hỏi nữa, cô xoay sang chuyện khác:

- Chú ơi, hồi đó chú đi bộ đội hồi bao nhiêu tuổi.

Ông già cười hỉ hả:

- Từ cái hồi tụi bây còn ở trong đầu gối của ba bây.

An phụng phịu:

- Chú toàn nói gì đâu không.

Hỏi vậy thôi chớ lần hồi họ cũng biết được gia đình chú qua lời kể của nhóm bộ đội trong doanh trại. Chú không còn vợ con, người vợ mang bầu của chú trong một lần bị tra khảo đã chết mang theo giọt máu của chú xuống tuyền đài. Chú ân hận vì cho rằng tại mình nên vợ con mới chết. Chú nói giá chú đừng về nhà đêm hôm ấy thì mẹ con nó đã không bị tra vấn đến chết. Chú ân hận vì cái quyết định thăm nhà của mình hôm đó làm mất đi người đàn bà yêu qúy nhất đời. Chú luôn dằn vặt mình mỗi khi ai đó nhắc nhở chú chuyện tìm người bạn đời thay thế. Và chú sống độc thân mãi cho đến cuối đời.

Sau này, khi Vân đã bắt đầu mở được Công ty du lịch thì cũng là lúc chú nghĩ hưu về Tri Tôn ở. Vân và An lập tức về theo chú, bỏ tiền mua đất, xây nhà cho ông. Bà Vân còn gửi hằng tháng một số tiền để ông sống yên ổn lúc tuổi già. Mãi cho đến bây giờ, tám mươi tuổi ông mới vĩnh viễn ra đi.

Đám tang xong, Vân và An trở lại Sài Gòn, bà Vân hối bạn tiếp tục trở lại cuộc tìm kiếm nhưng An lần lữa chần chừ. Bà hẹn Vân vài hôm nữa rồi xách giỏ đi đâu mất biệt. Mấy hôm sau An trở lại, cùng lúc đó nhà Vân đón tiếp gia đình Thành từ Mỹ cấp tốc bay qua. An hớn hở khoác vai thằng bạn mập ú năm nào cười cười nói nói. Công luôn miệng khen An đẹp gái hơn lúc trẻ. Hai người lại không ngớt nhắc chuyện ngày còn đi học.

Bà Anh Tuyết cùng đi trong chuyến này với Lệ Trinh và ông Đạt, Công. Sau ba mươi năm, từ một thiếu phụ thon thả thanh lịch, bà đã trở thành một mệnh phụ bệ vệ sang trọng. Ông Đạt giờ tóc đã bạc quá nửa, nhưng ông vẫn không mất đi vẻ hoạt bát dí dỏm ngày nào. Bà An trêu:

- Anh Đạt trẻ mãi không già thế này chắc làm chị xã không yên tâm.

Ông Đạt ngớ người ra vì từ chị xã mà bà An dùng, nhưng sau đó ông hiểu ra ngay, ông cười hóm hỉnh:

- Bà xã tui nói chỉ cần đừng có để ý An là được rồi.

Cả nhà cười ầm lên, bà An đỏ cả mặt, bà nhớ lại hồi xưa ông già Quốc Trung nghịch ngợm hay trêu bà là con dâu, là người yêu của Đạt. Công bênh bạn:

- Em về kể lại nhỏ An nói nói anh năm phải nhổ hết tóc bạc đi nó mới ngó.

Bà Trinh la:

- Nè nè, gần năm mươi rồi còn nhỏ hả?

Công cười hi hi:

- Về đây gặp lại nó em thấy giống như hồi còn đi học.

Bà Trinh làu bàu:

- Lớp học nào mà dám chứa hai đứa bây.

Cả nhà lại được dịp cười nghiêng ngửa.

Tối hôm đó ăn cơm xong bà Anh Tuyết đề nghị An và Vân kể lại tiến trình việc đi tìm kiếm Thành. Vân khóc nức nở, kể tiếng được tiếng mất. An phải đề nghị để An kể lại cho mọi người nghe. Mọi người lẳng lặng buồn xo khi nghe đến đoạn cuối cùng. Bà Trinh than:

- Tưởng kiếm được tới đó là xong rồi, sao mà lại rắc rối vậy chớ.

Công hừ mũi:

- Chị tư lạc quan quá, nếu dễ như vậy sao anh hai hổng về mấy năm nay.

Ông Đạt thẩn thờ:

- Bây giờ biết dựa vào cái gì mà tìm tiếp bây giờ.

Bà Anh Tuyết hỏi:

- Giờ thì tính sao đây An?

Bà An suy nghĩ rất lâu, sau cùng bà nói:

- Điều này em muốn nói với Vân lâu rồi, mà sợ nó chịu không nổi nên em chưa nói. Bây giờ có mọi người đây, em nói ra ý kiến của em rồi mọi người bổ sung thêm.

Ông Đạt gật đầu:

- An là người ngoài, em bình tĩnh hơn Vân, anh tin em sẽ có ý kiến tốt hơn.

Im lặng một lát, bà An hắng giọng:

- Xâu chuỗi các sự kiện lại, em thấy người mà mình đang đi tìm đúng là anh Thành, dựa vào các dấu hiệu chị Ngọc đã cho biết trước lúc thất lạc. Theo em, anh Thành nhận được một chỉ thị bí mật nào đó phải mặc thường phục đi công tác. Không may chưa đến nơi thì anh bị tai nạn. Sau đó khi chị Ngọc đưa anh đi chữa trị thì hai người lại gặp bom đạn giữa đường, chị Ngọc bị ngất còn anh Thành vì cơ may nào đó mà chưa chết nhưng bị bên Cách mạng đem đi, vì đó mà sau này chị Ngọc và chú Đại không tìm thấy. Họ đem anh Thành đi giữa đường thì tưởng anh chết nên vất lại ngã ba. Ông già trong rẫy cứu chữa cho anh được hai ngày thì trong lúc ông đi vắng, anh Thành thấy chiếc xe trâu của Kva Đăng nên trèo lên nằm, rồi xe chở luôn anh vô buôn của người Châu Mạ, vô trong đó anh mắc kẹt lại do chiến tranh, rồi anh làm rẫy, sống luôn với họ, căn cứ vào bộ quần áo anh bỏ lại lúc ra đi. Nhưng em có 2 điều thắc mắc.

Ngừng lại uống nước, một lát An tiếp:

- Cái thắc mắc thứ nhất là theo lời Kva Đăng kể lại người đàn ông đó thường hay hái lá thuốc uống. Điều này làm cho em nghi ngờ, vì anh Thành là lính, em chắc là anh Thành không biết gì về thuốc Nam, vậy thì liệu người đàn ông này có phải là anh Thành không hay là một người đàn ông khác vì ngoài chị Ngọc ra đâu có ai nhìn thấy bộ quần áo anh Thành mặc lúc đó như thế nào đâu. Mà ba mươi năm sau, bộ quần áo đó không còn để chị Ngọc xác định xem có đúng hay không.

Vẻ mặt mọi người tràn trề thất vọng. Suy nghĩ một lát An tiếp:

- Còn một điều nữa, nếu là anh Thành, tại sao khi ông già ở ngã ba hỏi anh tên gì, ở đâu sao anh không nói. Em cứ đặt giả thuyết là vì anh lúc đó đang đau đớn nên không thể đi được, thì sau này khi đã ở trong rẫy với Kva Đăng, Đăng hỏi anh ở đâu để đưa về sao anh không cho Kva Đăng biết. Lý do gì mà anh không muốn về nhà? Lúc đó anh đã khoẻ mạnh, có thể cuốc rẫy làm vườn rồi mà. Liệu có phải là anh Thành hay là người khác?

Vân khóc rưng rức không thôi, bà Trinh liên tục thở dài, hai người đàn ông ôm đầu suy nghĩ, chợt bà Anh Tuyết lên tiếng:

- Chị không biết người đàn ông đó có phải là anh hai hay không nhưng chị biết một chi tiết mà An nghi ngờ.

Tất cả mọi người đều nhìn về bà Tuyết chờ đợi. Bà Tuyết nói chậm rãi:

- Anh hai có biết về thuốc nam.

Mọi người đều có vẻ bất ngờ, Đạt hỏi lại:

- Chắc hông chị ba, sao em chưa biết.

Bà Tuyết nghiêm mặt:

- Các em đừng quên ông ngoại mình là thầy thuốc Nam. Hồi còn nhỏ anh hai sống ở Huế với ông bà ngoại trong vườn thuốc Nam.

Ba bốn cái miệng cùng à lên. Mọi người có vẻ phấn khởi hơn. Bà An tiếp tục:

- Coi như chuyện thứ nhất đã giải quyết xong. Còn chuyện thứ hai.

Bà ngừng lại một lát rồi tiếp:

- Từ hôm ở trên đó em đã đặt ra một giả thuyết rồi, nhưng em muốn về Sài Gòn kiểm chứng lại. Mấy bữa trước em có đi gặp một số bác sĩ về tâm lý, tâm thần để xin ý kiến của họ. Giả thuyết đó em xin trình bày như sau.

Bà đi đến lấy trong giỏ xách ra một số tài liệu rồi để lên bàn, Công nhanh nhẹn cầm lấy đọc trước. Bà An nói chậm rãi:

- Theo giả thuyết của em, anh Thành đã bị mất trí.

Như một tiếng nổ vang lên, mọi người ngẩn ngơ nhìn An, bà chậm rãi tiếp:

- Em đã hỏi ý kiến của các bác sĩ, dựa theo lời kể của nhân chứng, họ đều nói điều này không loại trừ đã xảy ra.

Chờ cho mọi người bình tĩnh trở lại, bà tiếp tục:

- Theo em, anh Thành bị mất trí vào một trong hai trường hợp. Một là khi bị lật xe, tuy mẹ chị Ngọc đã kiểm tra người anh Thành không có máu, nhưng điều đó không xác định được đầu anh có bị va dập hay không, ngoài ra chị Ngọc chỉ xác định anh chưa chết, còn uống được nước, còn nghe lời chị động đậy tay chân nhưng chị không nghe anh nói tiếng nào. Vậy thì ai biết được lúc đó anh đã bị mất trí hay chưa. Trường hợp thứ hai là khi có tiếng nổ, chị Ngọc bị sức ép văng đi xa, còn anh Thành thì sao? Anh không chết vì không có dấu máu trên xe nhưng ai biết anh có bị sức ép rơi từ võng xuống xe hoặc xuống đường không? Chị Ngọc nói có thấy vài vết máu nhỏ và tờ giấy có tên anh rơi trên đường nhưng có ai biết tình trạng anh lúc đó như thế nào đâu. Những người thấy anh lúc đó là những người khiêng anh đi nhưng bây giờ không ai biết họ là ai, đâu có ai chứng kiến tình hình thương tật của anh lúc đó để cho mình biết đâu. Vậy thì khả năng anh bị đập đầu xuống rồi mất trí là điều có thể xảy ra.

Cả phòng chìm đi trong yên lặng, ngay cả Vân cũng ngừng khóc chăm chú nghe ý kiến của An. Bà tiếp tục:

- Sau đó vì không biết mình là ai, ở đâu nên khi người khác hỏi anh Thành không thể trả lời được. Rồi cũng vì trí nhớ không chính xác nên thay vì nhờ người đưa về anh lại leo lên xe trâu. Từ đây càng ngày anh càng đi xa hơn lối về. Không ai có thể giúp anh vì họ cũng đâu có biết gì về anh. Thay vì đi ngược ra đường thì anh càng lúc càng đi sâu vào trong nên anh không thể tìm được lối về.

Một lúc lâu sau, Công là người có ý kiến đầu tiên:

- Vậy theo ý An, bây giờ chúng ta nên làm gì?

An trầm ngâm:

- Em là người ngoài, tìm nữa hay không là do ý kiến của mọi người. Em chỉ muốn nói cho mọi người biết là từ nay cuộc tìm kiếm sẽ vô cùng khó khăn vì mọi dấu vết đều bị bỏ lại. Ngoài ra người mà ta kiếm hôm nay không còn là một thiếu tá trẻ tuổi đẹp trai như hình ảnh mọi người vẫn mang trong đầu, mà người chúng ta sẽ tìm thấy là một người dân tộc đen đủi, ngây ngô có khi còn tàn phế không biết chừng. Cũng không thể loại trừ là sau ba mươi năm người đó đã lấy vợ, có con rồi. Em cho rằng khả năng không nhìn ra người nhà cũng không thể không xảy ra. Đây là điều em muốn nói từ lâu nhưng sợ Vân chịu không nỗi nên cứ để trong lòng cho tới bây giờ.

Vân bật khóc tức tửi, bây giờ bà mới hiểu tại sao An cứ nằng nặc bỏ dở cuộc tìm kiếm để về nhà. Thì ra An không muốn bà đau lòng nên mặc dù đã tiên lượng trước An cũng vẫn không nói ra.

Bà Anh Tuyết thở dài não nuột:

- Dù anh hai có như thế nào thì cũng vẫn là anh hai thôi.

Ông Đạt mím môi:

- Phải tìm thôi An à, dù bất cứ điều gì đi nữa cũng không thể không tìm.

Công gật đầu:

- Đúng vậy, thà là như bao nhiêu năm nay mình không hay biết gì, còn bây giờ đã có manh mối, không thể bỏ mặc anh hai được.

Bà Trinh hỏi lại:

- Vấn đề là bây giờ ai đi tìm đây, đâu phải là chuyện một ngày một bữa.

Mọi người im lặng, sau cùng Vân nói:

- Vân đi tìm.

Bà Trinh lắc đầu:

- Vân ốm yếu, lại hay xúc động. Chị em mình thì đi xa nhà quá lâu, đâu có biết đi tới đâu phải làm sao được.

Công cãi:

- Nhưng An là người ngoài, đâu phải mọi chuyện cứ giao phó cho An được. Đó là chưa nói An cũng phải đi làm vậy.

Quả là một điều khó khăn cho mọi người. Ai cũng không muốn bỏ dở công việc của mình. Trong số này bà Trinh là rảnh rang nhất nhưng khả năng tìm kiếm của bà Trinh thì rất kém, ai cũng biết bà không có đủ kiên nhẫn cho cuộc tìm kiếm gian khổ này. Cuối cùng cũng vẫn là Vân lên tiếng:

- Em sẽ đi.

An lo ngại:

- Không phải vài hôm đâu Vân. Còn công việc nữa.

Vân quyết định:

- Tạm thời giao lại cho Lan quản lý, nếu không làm được thì Vân đóng cửa luôn.

Công ngăn lại:

- Khoan đã chị Vân. Việc này Vân không cáng đáng một mình nổi đâu.

Vân ngoan cố:

- Coi như Vân quản lý dở, Công ty phá sản.

Công lắc đầu:

- Việc đó không quan trọng bằng nếu một mình Vân đi mà không có kết quả, coi như mọi việc đổ sông đổ biển.

Vân ngoặc lại:

- Không lẽ phải khoanh tay ngồi chờ anh Thành quay trở về như ba mươi năm nay.

Mọi người lại im lặng, không khí u buồn như lan khắp phòng. Ông Đạt sau cùng lên tiếng:

- Anh nói thế này quả là không phải với An, nhưng nếu em không tham gia vô vụ này anh sợ gia đình anh không có cách gì tiếp tục được.

Bà An không trả lời. Ông Đạt nói tiếp:

- Anh biết An còn gia đình, công việc. Nhưng em nghĩ xem, chị Vân thì yếu đuối lại dễ bị xúc động. Chị lại là người trong cuộc, đâu có những ý kiến, những cái nhìn sáng suốt khách quan như em. Gia đình anh thì không thuộc phong thổ vùng này, lại đi xa quá lâu rồi, đâu có ai đủ kinh nghiệm sống ở đây bằng em. Em là người biết khá rõ về anh hai, em lại đủ sức khoẻ, đủ thông minh, tháo vác. Anh cho rằng nếu em bỏ cuộc thì chị Vân dù có đóng cửa Công ty vẫn không thể thực hiện nỗi cuộc tìm kiếm này.

Bà An vẫn lặng im, ông Đạt đốt một hơi thuốc rồi nói tiếp:

- Anh biết An còn đang đi làm, chưa đến tuổi nghỉ hưu nhưng anh muốn dàn xếp thế này. Em xin chuyển công tác về Công ty du lịch với chức vụ Phó Giám đốc cho Vân. Tiền lương của em anh trực tiếp chi trả, em muốn nhận một lần từ bây giờ cho tới năm về hưu hay nhận mỗi tháng là tùy em. Em sẽ phân bổ thời gian cho thích hợp để đi kiếm anh hai giùm gia đình. Trong lúc làm công tác đó em có thể thuê nhiều người để tìm, ngay cả như chị Ngọc, chị Lý gì đó để phụ giúp em. Chị Vân sẽ cùng với An đi nhưng khi nào thấy công việc quá khó khăn hoặc sức khoẻ chị Vân sút kém thì em nên dàn xếp để chị nghỉ ngơi, không nên để chị bị xúc động nhiều. Em nghĩ như thế nào?

An trầm ngâm:

- Em phải bàn lại với anh Bình.

Ông Đạt đồng ý:

- Anh tin là chồng em không phản đối.

Rồi ông quay sang Vân:

- Chị Vân, trước khi gia đình qua đây, đã chuyển vào tài khoản tên chị 100.000 đô la. Chị cứ dùng nó cho mục đích tìm kiếm anh hai, sau này còn thiếu bao nhiêu gia đình sẽ gửi tiếp.

Vân không trả lời. Bà Anh Tuyết thở ra:

- Việc này quả thật là làm khó cho An, nhưng em ráng giúp gia đình chị. Đúng là như Đạt nói, nếu em buông tay thì khó có hy vọng gì tìm được anh hai.

Tối hôm đó, sáu người trong nhà bà Vân ngủ trong 3 phòng, mỗi người một giường và mỗi một ý nghĩ khác nhau.

Bà An tự hỏi mình có nên nhận lời với gia đình họ hay không? Nếu như không có Vân, chắc chắn bà sẽ chẳng thèm quan tâm chút gì . Cái gia đình đó ngoài Công ra, đối với bà tất cả mọi người cũng như nhau, đâu có ai thân thiết gì với bà. Mà cũng kỳ cục, người nhà họ họ không lo đi kiếm mà biểu mình đi, có ai kỳ vậy hông chớ. Nhưng còn nhỏ Vân thì biết ăn nói với nó sao đây nếu mình không nhận lời. Mình với nó hồi nào tới giờ cục kẹo cắn đôi mà cục muối cũng cắn đôi. Tới lúc nó cần mình thế này mà nỡ bỏ nó sao? Mặt mũi nào mà nói với nó: Thôi Vân đi một mình đi, An bỏ cuộc. Ngay cả lúc đói nghèo nhất , bữa cơm có chút bo bo, bột mì hai đứa còn chưa bỏ được nhau nữa là bây giờ tiền bạc rủng rỉnh. Mà nghĩ cho cùng nếu nhận lời mình cũng đâu có thiệt hại chút nào đâu. Vẫn đi làm, vẫn hưởng lương, vẫn muốn gì được nấy. Chỉ có điều là phải xa chồng xa con, nhưng mà chồng thì già con thì lớn rồi, có cần mình phải ở nhà quanh quẩn suốt ngày đâu. Chỉ không biết là anh Bình có bằng lòng không thôi.

Công nằm cùng phòng với Đạt, ông không ngủ được vì lạ nhà, lại cứ thao thức về chuyện hồi tối. Rõ là bây giờ con bạn mình còn xinh đẹp hơn hồi trẻ nữa chớ, già thì dĩ nhiên là ai cũng già rồi, đẹp như Vân mà còn già đi thấy rõ nữa, sém 50 rồi còn gì mà trẻ chớ. Nhưng sao nhỏ An vẫn tưng tửng giỡn như hồi hai đứa còn đi học, hổng thấy nó có chút người lớn nào. Vậy mà tới lúc đụng chuyện nó nói năng bài bản y hệt như chị Ánh luật sư - vợ anh Đạt vậy, ai mà nghĩ nó mới giỡn như con nít tức thời. Hồi đó sao đầu óc mình bã đậu thiệt, sao lúc nhà mình sắp đi mình hổng chạy qua rủ nó đi luôn, có khi bây giờ hai đứa lấy nhau rồi cũng nên. Phải chi mình lấy nó chắc sống vui vẻ hơn sống với con vợ mình hiện giờ, cái bà tối ngày chỉ biết có tiền. Riết rồi mình xấu mặt vì vợ, đụng chuyện gì tới tiền là nó làm um trời. Chuyến này về Việt Nam nó có cho mình đồng nào đâu, toàn là chị ba chi hết. Còn anh năm biểu góp mỗi người hai chục ngàn để làm kinh phí tìm kiếm anh hai nó cũng hổng chịu, mình làm mình làm mẫy hết sức mới kiếm nỗi mười ngàn, anh năm phải chịu khúc còn lại cho mình. Thiệt là thứ đồ vợ con quả báo mà. Hổng biết kiếp trước mình ăn ở làm sao mà kiếp này mình khổ quá hổng biết. May là nhờ mấy chị em mình thương yêu đùm bọc nhau chớ nếu hổng như vậy mình sống sao nỗi với con vợ mình đây hổng biết. Sự đời hổng biết đâu mà nói trước được, hồi đó cưới nó mình đâu có biết cái tánh nó vậy đâu, phải mà biết thì cho dù má có nói nó thuộc giòng Công tằng gì đó mình cũng hổng ham. Cưới một con vợ không thuộc giòng qúy tộc gì hết như con An có khi mà sướng, thoải mái vô tư khỏi phải lo nghĩ gì cho khổ. Qúy tộc như con vợ mình rồi mình có được gì đâu.

Bà Trinh thì thao thức vì nhớ anh, trong mấy anh em bà thương anh hai nhứt. Cũng tại vì vậy nên hồi anh hai yêu Vân bà là người phản đối mạnh mẻ. Trong con mắt bà anh hai phải yêu một người đứng đắn lớn tuổi mới đủ sức làm chị hai của bà. Bà không ưa con nhỏ xinh đẹp mít ướt đó. Một con nhỏ thua bà tới sáu tuổi mà làm sao làm chị bà được chớ. Vậy mà anh hai thương Vân mới ác, dù bà đã nhiều lần làm mai anh hai cho một đống cô giáo bạn của bà. Trinh nghĩ chắc anh hai yêu Vân vì Vân nhỏ bé, mềm yếu mà bản tính đàn ông của anh hai thích che chở, bảo bọc. Mà cũng có khi do Vân cũng giống Yến Chi, mối tình đầu của anh hai nữa đó mà. Tội nghiệp anh hai, mối tình đầu của anh hai kết thúc đột ngột làm anh bị sốc trong một thời gian dài, tưởng đâu anh hai ở ế luôn để tưởng niệm mối tình đầu. Vậy mà sao này anh gặp Vân, rồi yêu Vân. Vân cũng có gương mặt đẹp như Yến Chi, có mái tóc dài đổ xuống lưng thanh thoát và làn da trắng ngần như vậy. Anh hai chắc bị chao đảo vì cái đẹp của Vân và cũng vì dư âm của mối tình đầu nên mặc dù lớn hơn Vân đến một giáp anh vẫn không ngại đến với Vân. Càng nghĩ bà càng thương anh. Tội nghiệp anh hai chuyện tình duyên lận đận. Hồi đó mới ra trường Võ bị Quốc gia Đà Lạt, lớ ngớ thế nào mà quen chị Yến Chi. Trong nhà mới biết phong phanh, má nói mới chỉ có mình Trinh với chị Tuyết là biết mặt nên anh hai hứa dắt về nhà. Hai người hẹn nhau ở đâu đó không biết mà anh hai chờ riết không thấy chị Chi đến, nóng ruột anh hai tìm tới nhà Chi thì mới tá hoả khi biết Chi mới vừa ra đường thì gặp tai nạn giao thông. Chị Chi ra đi vĩnh viễn còn anh hai như người mất hồn suốt một thời gian dài. Sau này khi anh hai yêu Vân, anh hai chiều chuộng Vân như với đứa trẻ nhỏ nên đôi khi làm cho Trinh bất bình. Trinh thấy như anh hai đổ dồn mọi tình cảm của anh hai dồn nén từ ngày chị Chi ra đi hết cho Vân. Trinh có cảm giác anh hai quên mất hai đứa em gái là mình với chị ba. Trinh giận dỗi anh hai, ghét bỏ Vân cho mãi tới sau này, khi mà thấy Vân một một, hai hai nhứt định đợi chờ người đi không về. Lúc đó Trinh mới thấy mình thật là xấu, thật là tệ hại. Như bữa nay đây, An phác một viễn ảnh về anh hai đủ làm cho mọi người giật mình, nhưng Vân vẫn cứ khăng khăng bỏ hết mọi thứ đi tìm anh. Trời ơi. Anh hai mà biết người yêu nhỏ xinh của mình như vậy thì chắc anh hai đứt từng đoạn ruột. Tội nghiệp anh hai, hổng biết có phải sự thật giống như An tưởng tượng không chớ sao thấy An nói sao mà rầu quá. Hổng lẽ anh hai mất trí thiệt, anh hai trở thành người Thượng, người mọi gì đó thiệt sao. Thấy ghê muốn chết, coi trong phim thấy họ nong hai cái lỗ tai ra bự bằng cái ly uống nước, còn răng thì không còn cái nào. Phải gọi là cà răng căng tai không hà? Anh hai mà như vậy thì làm sao ta? Mình có dám chạy tới ôm một ông già tóc tai bạc trắng, đen thủi đen thui, đeo cái vòng tai bự chảng, hút điếu thuốc bự như cẳng cái vậy mà khóc la anh hai ơi anh hai hỡi không. Chắc không dám đâu. Trong tâm tư mình anh hai luôn luôn là người đàn ông bảnh trai lịch sự, ăn nói nhỏ nhẹ hiền lành, hơi dí dỏm nữa . Ngày anh hai ra đi anh hai ngó lại cả nhà, mình còn nhớ bữa đó anh hai mặc đồ lính ủi thẳng băng, đôi giày bốt đánh láng o, lính tâm lý chiến mà, ra trận mạc gì đâu mà bê bối. Anh hai còn cười với má, tính nói cái gì đó rồi thôi, dắt chiếc xe Sprint ra cửa, quay đầu lại nhìn cả nhà lần nữa mới đi. Anh hai thiệt là tội nghiệp gì đâu, có lẽ nào mà anh hai lại có thể biến thành một người Thượng được chớ.

Giường bên kia bà Tuyết lại có những suy nghĩ khác. Bà nhớ anh, hồi tưởng lại những ký ức lúc anh em bà còn nhỏ. Hồi đó gia đình còn ở Huế, anh em bà thường chạy qua nhà mệ ngoại chơi trốn tìm. Lúc đó con Trinh còn nhỏ chút xíu mà hay khóc đòi bồng. Anh hai với bà thay nhau chơi với em, có khi lo chơi để con nhỏ té bầm mặt bị má đánh đòn. Sau này lúc gia đình dọn vô Sài Gòn, má nói bà lớn rồi vô phụ với mẹ coi em, còn anh hai để ở lại chăm sóc ông bà ngoại. Lúc đó nhà mệ ngoại còn vườn thuốc Nam, anh hai ở đó cũng biết được ít nhiều. Thi đậu tú tài hai, anh hai không học nữa mà vô trường Võ bị Quốc Gia Đà Lạt, ra trường rồi là về Sài Gòn ở luôn. Ngôi nhà ở Huế từ ngày ôn mệ ngoại qua đời thuộc về cậu út, vườn cây thuốc Nam cũng bị cậu phá đi để trồng cây kiểng nên về sau này tụi nhỏ không biết nhà mình có gốc thầy thuốc Nam. Có lẽ khi bị thất lạc vô rừng do bản năng sinh tồn mà anh hai có chút gì nhớ lại những giống cây cỏ đã từng quen thuộc với mình. Bộ óc con người ta lạ lắm, khi cần thì có thể chạy lại những đoạn phim đã bị quên đi trong một thời gian dài. Bà tin rằng người đàn ông được đề cập trong câu chuyện là anh hai, bà cũng không lạc quan đến mức tin là sẽ tìm được anh. Năm nay bà năm mươi tám tuổi, anh hai đã sáu mươi mốt, biết anh hai có còn sống đến giờ này không? Nhất là khi phải sống vất vưởng khổ sở với những con người giống như là chưa biết gì đến văn minh của nhân loại. Ngày ngày với một trí óc có thể là không bình thường anh hai phải cuốc rẫy, làm nương, thiếu thốn đủ mọi bề, lại còn phải đối đầu với ốm đau bệnh tật, côn trùng rắn rết; những thứ mà trong những ngày còn ở Sài Gòn anh em bà chỉ được trông thấy trên màn ảnh. Liệu sống như thế anh hai có sống đến tuổi này không?

Bà Tuyết thở dài, trăn trở một mình. Bây giờ anh chị em ai cũng khá giả, như thằng Đạt còn giàu có phong lưu nữa; không lẽ bằng này người mang tiếng Việt Kiều lại để cho ông anh mình chết mất tăm mất tích hay sao. Sống đem về đã đành, chết cũng phải biết mồ biết mã. Ít nhứt cũng đem được hài cốt về với mẹ cha. Ba mươi năm rồi anh đi lưu lạc, cũng tới lúc anh quay trở về nhà thôi. Rồi bà xót xa thương Vân. Tội nghiệp, tóc đã chớm sương rồi mà vẫn còn phải long đong chờ chồng. Cái chuyện này coi bộ còn thê thảm hơn Nguyệt Nga chờ Vân Tiên nữa. Sao mà cái số phận hai người này khổ dữ vậy không biết. Vân thì mới lớn lên gặp được người yêu chưa trọn một năm đã phải mòn mõi đợi chờ ba chục năm. Anh hai thì mối tình đầu chưa đi tới đâu đã phải tiễn người yêu ra mộ, qua mối tình thứ hai chưa kịp cưới hỏi gì thì lật đật ra đi biền biệt. Ai mà có nghĩ con người hào hoa phong nhã như anh lại phải chịu kiếp sống khổ sở của mấy mươi năm sau này. Ai mà đoán được người đẹp như Vân phải chịu cảnh cô đơn chiếc bóng. Tạo hoá khéo trêu người nên đặt để cho họ chịu kiếp éo le. Không biết lỡ như tìm thấy anh hai đã có vợ con đề huề thì Vân sẽ khổ như thế nào đây, quả thật bà không dám nghĩ tới.

Bà Tuyết bỗng chợt nhớ đến chuyện một hôm cả Vân, An đều đến nhà chơi với Công. Lúc đó nhà bà đang có khách là cậu út và ba vợ cậu út ngoài Huế vô chơi. Ông già đó là một thầy tướng số. Hồi đó ông Quốc Trung có nói giỡn là giới thiệu hai đứa con dâu, ý nói Vân và trêu chọc An với Đạt.

Khi hai cô gái ra về ông già trầm trồ:

- Cái tướng cô nớ đẹp chi là đẹp.

Mọi người đều tưởng ông già khen Vân nhưng khi ông nói lại mới hay người ông khen là An. Ai cũng cười ông mắt kém nhưng ông nghiêm mặt:

- Phải mô. Cô mặc áo trắng mới là đẹp. Tướng nớ là tướng có qúy nhân phù hộ, gặp dữ hoá lành. Chớ giàu có chi mô mà xui rủi cô độc thì được ích chi.

Ngẩm lại mà thấy ông già nói đúng. Giàu có mà cô độc như Vân thì quả thật chẳng lấy gì làm sung sướng cả. Nếu trời cho Vân có được gia đình êm ấm như An có lẽ Vân còn hạnh phúc hơn nhiều.

Suy tới nghĩ lui bà thấy cùng anh em mà mình thật là may mắn. Sanh ra trong gia đình giàu có, học hành thi cử tới đâu đậu đó, lấy chồng giỏi giang đẹp trai. Qua Mỹ chỉ có thời gian đầu hơi vất vả chút ít vì chưa quen, mấy năm sau đã yên ổn mọi bề. Người ta đi Mỹ kẻ còn người mất, còn nhà bà cả bên vợ bên chồng đều yên ổn vui vẻ đến nơi. Chỉ tội cho một mình anh hai, cùng anh em cha mẹ sanh ra mà sao anh hai lận đận quá không biết. Tuy hồi còn trẻ anh sung sướng nhưng ai biết được ba mươi năm nay anh sống thế nào. Cầu cho lời tiên đoán của An là sai hoàn toàn. Biết đâu anh hai đang sống vui vẻ với con với cháu, chỉ vì một lý do nào đó mà anh không thể trở về Sài Gòn chớ mà nghĩ đến viễn cảnh An vẽ ra sao bà thấy đau lòng cho Vân quá, ngay chỉ một chi tiết nếu anh hai đã có gia đình khác cũng đủ làm tan nát trái tim Vân. Mà biết sao bây giờ, ba mươi năm rồi. Vân có thể đợi chờ chớ người khác đâu ai cũng được như vậy. Anh hai không phải là trường hợp ngoại lệ.

Bên kia ông Đạt cũng nằm trằn trọc không sao ngủ được. Phần ông lo chuyện làm ăn bên kia, phần lại lo chuyện bên này. Vợ ông là người giỏi giang, tạm thời chuyện bên đó bà có thể thay ông trong thời gian ngắn. Nhưng chuyện bên này ông thấy lúng túng quá. Thiệt là tệ, anh mình mà phải nhờ người khác đi tìm. Có phải anh em không có ai đâu. Nhưng lấy ai mà gánh vác đây. Liệu ông có dám bỏ công việc làm ăn của mình để đi tìm anh không? Chị ba thì già rồi, gần sáu mươi rồi, ngó bệ vệ thôi chớ sức khoẻ đâu có được gì đâu. Chị tư ăn nói không có khiếu, bình thường đã hay có chuyện với người này người nọ rồi. Gặp chị tư mà đi kiếm khỏi nói cũng biết về trắng tay, coi như canh bạc chưa đánh đã thua. Thằng út còn tệ hơn, con vợ nó mà chịu để nó về Việt Nam ở vài tháng chắc ông chết liền. Mà nó làm sao vác nổi cái thân một trăm ký vô chốn rừng thiêng nước độc. Có khi anh hai chưa kiếm ra đã mang họa với nó rồi. Vậy thì còn có mình ông, nhưng ông làm sao dám đi. Tiền bạc ông không thiếu, cần bao nhiêu ông chi bấy nhiêu. Nhưng chính cái sự không thiếu này nó kéo chân ông lại, nó kềm giữ ông từng ngày từng giờ. Đi đâu ông cũng nơm nớp muốn về, lo chỉ số này tuột, lo khu đất kia bị cấm. Đồng tiền quả thật là người đầy tớ trung thành mà cũng là người chủ khó tính, nó níu chân ông như một bà vợ ghen tuông đỏng đảnh, làm cho ông bức rức không rời. Hồi tối ông rất xấu hổ khi phải thú nhận sự bất lực của mình với An. Làm sao mà An không cười chê gia đình mình khi có bốn năm người mà không ai làm được cái điều chỉ mình An làm được. Quả thật như Công nói: xấu thì đi mỹ viện cho đẹp chớ ngốc thì làm sao cho hết ngốc đây. Cái sự sáng suốt trong con người qúy giá hơn vẻ đẹp bên ngoài nhiều lần.

Đạt cũng cảm ơn đất trời đã ban cho ông một bà vợ thông minh sắc sảo mà lại rất biết điều. Không như vợ Công lúc nào cũng bo bo cái túi tiền, Anh tỏ ra là một người đàn bà biết lùi, biết tiến. Hai mươi năm sống với nhau ông chưa phải than phiền về vợ điều gì, mà Anh cũng chưa bao giờ có những xử chỉ khiếm nhã với chồng. Kể cả lần này cũng vậy, dù biết chồng chuyển đi một số tiền không nhỏ Anh cũng vẫn coi như chuyện bình thường. Cũng nhờ thế mà Đạt mạnh dạn đặt vấn đề lâu dài với An, ông biết ở Việt Nam những người lớn tuổi như An khó mà xin việc. Đạt cũng biết mức sống của những người dân bình thường như vợ chồng An không phải là cao với đồng lương hiện tại. Thật là không biết điều nếu cứ bắt An phải lăn vào công việc gia đình ông rồi sau đó khi xong việc thì An phải thiệt thòi. Ông không thể đối xử bất công như vậy được. Nghĩ cho cùng thì An cũng đã sắp năm mươi, sáu năm nữa là đến tuổi về hưu của An. Ông trả cho An sáu năm lương thì trong đó An đã mất đi một nửa thời gian làm việc cho ông, còn lại một nửa là chỗ đền bù thiệt hại cho An chớ có thấm tháp gì đâu. Ông mong sao An chấp nhận lời đề nghị của mình, ông sẽ không biết như thế nào nếu để một mình Vân lao vào cuộc tìm kiếm. Ừ thì Vân là người yêu của anh hai, Vân tham gia là đúng rồi, nhưng cái sức vóc của Vân thì chịu được mấy hôm. Vân làm sao mà có được một sức khoẻ xốc vác, một cái đầu thông minh nhanh nhạy như An, một cái miệng lanh lợi giỏi giang như An được. Tất cả chỉ biết trông cậy ở An, lạy trời cho An nhận lời ông, lạy trời cho chồng An bằng lòng với quyết định của vợ, Đạt sẽ chi trả thẳng một lần tiền lương cho An cất vô ngân hàng, chắc ăn mà toàn tâm toàn ý trong việc đi tìm người thất lạc.

Đạt lại nghĩ đến anh hai. Không hiểu trời xui đất khiến thế nào mà anh hai ra đi một mạch không thèm quay đầu về nhà. Bỏ lại cha mẹ già, một đàn em đứa nào cũng yêu kính anh và cô nhân tình bé nhỏ. Anh không phải là người vô tình, anh lại còn đang trong giai đoạn tình cảm tha thiết với chị Vân. Nếu không có chuyện bất đắc dĩ anh không thể nào quay lưng đi biền biệt như vậy. Giả thuyết của An dù phủ phàng nhưng Đạt cũng đồng ý như thế. Chỉ có thể là anh hai đã mất đi trí nhớ mới không quay trở về nhà, ngoài ra không còn một lý do gì khác hơn cả. Vấn đề là bây giờ làm sao tìm ra anh giữa cái đống bụi mù hoảng loạn đó. Sợi dây và tấm thẻ bài anh đeo biết có còn không? Cái thẹo ở mặt anh theo người dân tộc kia mô tả biết có chính xác không? Nếu có thì nó có nhạt mờ đi không hay anh lại có thêm vài cái thẹo khác nữa đè lên vết cũ. Khó khăn cho người đi tìm lắm chớ đâu phải chuyện đùa. Giữa một đoàn người den đủi cởi trần đóng khố dễ dàng gì mà tìm thấy một người có cái thẹo nhỏ trên mặt mà nhìn. Có khi lại như An nói, nhìn ra rồi mà anh hai không thèm nhận nữa là khác. Thật là khổ tâm nếu như thấy anh hai mà anh hai cứ lắc đầu quầy quậy, một hai nói mình là người Cho Ro, Ê đê gì đó. Nếu như vậy thà anh hai chết rồi còn hơn, anh hai chết rồi còn lấy được hài cốt mà đem về chớ nếu anh hai còn sống mà không chịu trở về thì lại sanh ra rắc rối tiếp. Nhất là nếu khi anh hai lại có đâu 2,3 bà vợ, cả chục đứa con và lít nhít cháu nữa thì bó tay. Ai mà đoán nỗi người dân tộc sống như thế nào? Chế độ đa thê hay mẫu hệ? Chỉ có trời mới biết nỗi. Nếu như vậy thì biết làm sao bây giờ hả trời? Không lẽ lại bỏ anh hai giữa buôn làng rồi quay về, không lẽ đem máy bay tới chở một binh đoàn Thượng hùng hậu về Mỹ.

Bà Vân trằn trọc gần suốt đêm không ngủ trong giường bên cạnh An đã ngáy pho pho. Tính bà từ lâu vẫn thế. Mỗi khi có việc cần suy nghĩ là bà không ngủ được, càng về già thì bệnh càng nặng hơn. Chẳng bù cho An, chỉ một lát thôi là An đã có thể ngủ dễ dàng. Bà tin chắc là chưa khi nào trong đời An mất ngủ, cái người sao mà sướng thế không biết, ăn vô tư, ngủ vô tư y hệt như hồi còn đi học. Mà lạ, người vậy mà sao bình tĩnh sáng suốt khôn ngoan quá chừng, đâu có gì nói An là người vô tâm vô tính đâu. Bạn bè thân thiết với nhau mấy chục năm Vân còn lạ gì An, không gặp chuyện gì thì cười vang thoải mái mà cần phải suy nghĩ thì đầu óc tự nhiên bén nhạy vô cùng, người khác vừa kịp hiểu một chuyện thì An đã hiểu hai, ứng biến lẹ làng kịp lúc. Như sự việc mấy ngày qua chẳng hạn, trong đầu óc Vân hỗn loạn vì những tin tức rời rạc lẫn lộn nhau thì An đã nhanh chóng kết nối thành một câu chuyện mạch lạc có đầu có đũa, đánh giá sự việc một cách khách quan và thật là thông suốt, làm cho Vân vừa cảm thấy đơn đau và cũng vừa tin tưởng vào cái hy vọng mong manh đó.

Nhưng nếu sự việc xảy ra đúng như An phác họa thì đau đớn biết bao nhiêu. Bà không thể nào dám hình dung ra một ngày kia tìm thấy ông Thành mà ông nỡ quay lưng lại với bà. Chẳng phải ba mươi năm nay bà đã héo hon, đã lãng phí cả một đời xuân sắc vì chờ mong ông đó sao. Có lẽ nào bà phải chấp nhận phủ phàng nếu tìm thấy ông trong một gia đình đông đúc hạnh phúc. Tuổi trẻ bà không lẽ được đền bồi bằng những điều cay nghiệt đó sao. Có công bằng cho bà không nếu người bà mong chờ bao nhiêu năm gặp lại chỉ để gật đầu chào hờ hững.

Bà Vân tủi phận khóc thầm, đối với bà ông Thành là tất cả. Bà chấp nhận những viễn cảnh do An vẽ ra, ông Thành có thể bị tàn tật, bị đồng hoá với những con người lạc hậu quê mùa đó. Chắc chắn người mà bà sẽ gặp trong những ngày tới không phải là viên Thiếu tá trẻ tuổi đẹp trai của bà ngày nào. Có thể ông sẽ dơ bẩn đen đúa như Kva Đăng, mà tệ hơn có khi ông còn già lụ khụ, ho khùng khục, phun nước bọt phèo phèo như ông già Kva Can. Hoặc có thể ông chỉ còn một mắt, hoặc một tay, hay là một chân, chiến tranh đâu có từ chối người nào đâu. Hoặc có khi trên làn da đen đúa của ông sẹo chằn chịt khắp nơi hay là tai ông cũng đeo cái vòng đồng to tướng như người trong buôn. Điều gì cũng có thể xảy ra và điều gì bà cũng sẵn sàng chấp nhận. Bà sẽ chấp nhận ông trong mọi việc nhưng làm sao bà chịu nỗi đây nếu như gặp lại ông mà ông không nhìn ra bà, hờ hững quay đi như người xa lạ. Trái tim bà như bị nghiền nát khi nghĩ về điều đó. Không. Điều đó nhất định không thể xảy ra, ông không thể nào được phép quên bà, ông phải nhớ lại người yêu bé nhỏ của ông ngày nào, phải biết bà đã héo hon đợi chờ ông, từ chối hết mọi cơ hội sum họp với gia đình chỉ vì một lời hứa chắc chắn với ông: Dù thế nào em cũng chờ anh. Ôi một lời hứa chắc như đinh đóng vào cột và một tình yêu thần thánh đã trói buộc bà trong cô độc suốt ba mươi năm trời. Ôi làm sao mà ông có thể quên được người mà ông đã từng thề non hẹn biển, yêu thương nồng thắm được cơ chứ. Làm sao ông có thể quên đi lời ông đã dặn Vân trong giờ sắp ra đi: Em nhớ không. Em phải cố chờ anh. Anh ơi, chỉ vì một lời dặn của anh mà em đã đợi chờ trong tuyệt vọng bao nhiêu năm rồi anh biết không, đã phải nếm trải bao nhiêu đoạn trường rồi anh biết không?

Bà Vân trở mình nhìn lên trần nhà. Hai con thạch sùng rượt đuổi nhau chạy lăng quăng trên tường. Tấm ảnh ông Thành treo trên vách nhìn bà cười tươi tắn. Vân làm sao có thể nghĩ đến một ngày nụ cười đó xa rời mình, bà đã sống với nụ cười này trọn một tuổi xuân. Từ khi còn là cô gái mười tám đầy mộng mơ cho đến bây giờ tóc đã điểm sương. Ruột bà quặn thắt vì nhớ Thành. Vì anh mà bà đã từ chối lên tàu vượt biên cùng cha mẹ anh em. Vì Thành mà một mình thân gái bà đã chống chọi lại với những năm tháng bão táp nghiệt ngã trong đời. Cũng vì Thành mà bà đã từ chối bao nhiêu người đàn ông từ xấu xí, thô kệch cho đến phong lưu hào nhoáng. Vì Thành mà bà đã gắng công gắng sức cương quyết bảo vệ và giữ lại ngôi nhà này, chỉ để cho Thành có nơi tìm được khi trở về. Ôi bao nhiêu năm nay trái tim nhỏ bé của bà đã phải cố gắng quá nhiều, cái thân thể gầy guộc héo hon của bà đã mõi mòn mong đợi, cái đầu óc minh mẫn trong bà bỗng như lạc vào vùng khí gió hỗn mang nào đó, cơ hồ như bà sắp gục ngã sau ba mươi năm tưởng nhớ người đã ra đi không thấy quay về. Bà như trái cam đã bị người vắt kiệt nước, chỉ còn chờ quăng vào đống rác. Cái ngày mà An báo trước, sẽ gặp Thành trong sự hờ hững nhạt nhòa có lẽ là lúc cái vỏ cam khô héo này phải vĩnh viễn ra đi. Trước đây bà sống chỉ với một mục đích duy nhất là chờ đợi ông Thành. Nhưng nếu như lời An tiên đoán thì cái sự mong chờ của bà có kết quả gì đây. Có khác gì như treo sẵn cho bà một bản án tử hình, chỉ chờ tới ngày là đem ra bắn bỏ. Sao mà cuộc đời bà lại bất hạnh như vậy? Cha mẹ bà chắc chắn đã không ngờ được đứa con gái yêu của họ lại có thể có cái kết cục thê lương thế này đâu.

Bà Vân nhớ lại gia đình mình hồi bà còn trẻ. Lúc đó bà như con chim sáo nhỏ tung tăng trong cái mái ấm hạnh phúc của mình. Ba mẹ bà là một nhà buôn trung bình nhưng vẫn tạo được cho con cái một cuộc sống sung túc mỹ mãn. Những tháng ngày còn đi học của bà mới tuyệt vời làm sao, ba mẹ bà yêu qúy cô con gái rượu thông minh ngoan ngoãn hiền lành, học tuy không xuất sắc nhưng cũng không phải hạng xoàng. Lớn lên một chút bà trổ mã xinh đẹp và trang nhã như một bông hoa bách hợp. Bà luôn bị những anh chàng trồng cây si trước cổng trường, cổng nhà. Có những anh sinh viên đứng trước cửa trường chỉ chờ bà đến để chào một câu rồi lại buơn bã về Trường Đại học. Không như những cô gái khác lên mặt kiêu căng khi biết mình đẹp. Vân lại càng co mình lại như sợ sự chú ý của người khác sẽ làm đau đớn mình. Cho đến ngày An rủ Vân và Thúy đến nhà Công ăn mừng thi đậu thì Vân mới choáng ngợp trước cái nhìn của người anh cả trong gia đình đó. Từ giây phút đầu tiên bắt gặp ánh mắt của Thành, Vân đã hiểu rằng cuộc đời mình không thể nào có được người thứ hai. Vân đã như trúng phải tiếng sét ái tình hoặc như mũi tên của thần Cupic trong huyền thoại. Trong phút chốc cô như lớn vượt hẳn lên, thoát ra khỏi cái vỏ ốc bao bọc cô từ những năm qua, hoá thân thành nàng tiên cá xinh đẹp chờ người trong mộng. Và Vân đã không nhầm, cũng trong bữa tiệc đó Thành cũng đã yêu Vân ngay từ giây phút đầu tiên nhìn thấy cô, anh cũng ngơ ngẩn như bị ai cướp mất hồn đến nỗi mà mọi người trong bàn tiệc cùng nhìn thấy. Và như đoạn cuối của một cuốn phim kết thúc có hậu, sau bữa tiệc Thành đưa cô về nhà, và khi cánh cổng nhà Vân khép lại, cả hai người cùng đứng thẩn thờ như đã đánh mất một điều gì thân thương lắm.

Những tháng ngày sau đó của Vân là cả một thảm hoa hồng trải xuống. Thành đưa đón, chăm sóc chiều chuộng cô như bất cứ trong một câu chuyện tình cảm cảm động nào. Tuy là Thiếu tá nhưng lính Tâm lý chiến thời đó ở Sài Gòn thuộc vào dạng lính mà người ganh ghét thường gọi là lính cậu - không phải ra chiến trường đã đành mà thời gian thì không mấy bó buộc. Nên trong suốt thời gian yêu nhau, Vân như được che chở trong bóng cây rậm mát, nắng gió không xâm phạm đến. Hơn cô mười hai tuổi, Thành đã là một người đàn ông trưởng thành trong tất cả mọi vấn đề từ công việc cho tới kinh nghiệm sống. Bạn bè Vân thường ganh tỵ cô được sung sướng đủ mọi bề. Đối với Vân, Thành không chỉ là người yêu, anh còn là anh, là cha, là thầy của cô nữa. Anh chăm sóc cô, chiều chuộng cô, che chở giúp đỡ cô từ việc to cho tới việc nhỏ. Đến nỗi mà Vân nghĩ rằng cuộc đời này chỉ cần có Thành ở bên mà cô có thể đi đến bất cứ nơi nào, dù trên núi cao hay tận đáy biển sâu, dù giữa thành phố hoa lệ hay trong hang cũng ngõ hẻm. Cô bệnh đã có Thành đút từng muỗng cháo, ho đã có anh kéo cổ áo kín, quấn lại khăn. Đi với anh thì bàn tay anh đã dìu cô những bước dài vững chãi, mưa nắng thì anh đã chuẩn bị sẵn áo, dù. Bài cô học có anh nhắc nhở, toán giải không ra thì cũng đã có anh, cô không phải nhờ An như trước. Cứ như anh đã chờ cô đến tận tuổi đó để yêu thương chăm sóc cho cô, còn cô thì chỉ việc ngoan ngoãn nghe lời anh dặn dò. Họ là một đôi lứa làm nhiều người thèm thuồng và họ chỉ còn chờ đến khi cô thi đậu tú tài xong là cưới, hai bên cha mẹ đã đồng ý như vậy rồi, dù rằng người em thứ tư của Thành, Lệ Trinh luôn phản đối rằng với anh cô còn quá trẻ.

Nhưng ngày mà cả hai gia đình mong đợi đã không bao giờ tới, ít nhất là ba mươi năm qua nó đã không tới. Thành đột nhiên ra đi biền biệt chỉ để lại cho cô một lời dặn dò duy nhất. Vân nhớ hôm đó là sáng thứ sáu, cô đang bước ra khỏi nhà đi học thì gặp Thành đứng trước cửa. Anh chở cô đến trường bằng chiếc xe quen thuộc của anh. Trên đường đi anh không nói chuyện với Vân như mọi lần, chỉ khi đến trước cổng trường, dừng xe cho Vân xuống anh mới nói:

- Em vô học đi, bữa nay anh đi công tác.

Vân đang hờn anh vì suốt đoạn đường anh không hỏi cô câu nào, nhưng nghe anh nói vậy thì cô ngước nhìn anh hỏi:

- Chừng nào anh về.

Thành nhìn Vân chăm chú. Một lúc anh nói:

- Anh chưa biết, nhưng dù sao em cũng cố đợi anh về.

Vân ngẩn người nhìn anh, cô gật đầu:

- Dù có thế nào em cũng sẽ chờ anh.

Quay xe rồi, Thành vẫn quay lại dặn:

- Em nhớ không. Dù sao em cũng phải cố chờ anh.

Chỉ bấy nhiêu thôi. Rồi từ đó Thành biến đi khỏi cái Sài Gòn hoa lệ này suốt ba mươi năm nay. Rồi từ đó Thành như bị cuốn mất vào một cơn hút vòi rồng nào đó, cuốn tung anh lên trời cao thẳm. Rồi cũng từ đó Vân dằn vặt mình sao cô mãi giận hờn không hỏi anh đi đâu, về đâu, để anh ra đi xa xôi biền biệt mãi.

Vân lại thở dài. Bà biết phải làm sao trong những ngày kế tiếp đây. Nếu An không bằng lòng giúp, một mình bà biết có gánh vác nỗi trọng trách này không? Bà biết đi hướng nào? Hỏi ai để tìm được Thành đây? Dấu vết của Thành ngày càng nhạt mờ mà nước non thì mênh mông vời vợi. Biết tìm nơi đâu đây giữa muôn triệu con ngừơi cái vết sẹo gì đó mù mờ trên mặt và tấm thẻ bài có thể mất đi bất cứ lúc nào. Núi rừng mênh mông bạt ngàn kia có thể ẩn giấu Thành nơi nào? Trong 54 dân tộc có biết bao nhiêu buôn làng, liệu ai đó có thể đủ ngôn ngữ để nghe họ trình bày, kể lể. Rồi còn bao nhiêu khó khăn trước mắt chưa lường nỗi đến. Tìm một con người mờ mờ ảo ảo giữa hơn tám mươi hai triệu con người có phải là một việc mò kim đáy biển không? Liệu còn phải mất thời gian bao lâu, mất bao nhiêu công sức nữa để lần mò ra được thêm một dấu vết? Còn phải gặp gỡ bao nhiêu ngừơi, đi qua bao nhiêu thôn làng ngõ xóm nữa để tìm đây? Liệu bà có còn đủ hơi sức để lần theo những dấu vết đó không? Ở tuổi này lực đã bất tòng tâm, với người có sức khoẻ giới hạn như bà còn trụ được bao lâu nữa. Dù trong tâm tư bà biết bà không thể không kiếm tìm, nhưng bà tự hỏi ông trời có cho phép bà tiếp tục tìm kiếm nữa hay không, hay trời già cố tình trêu người, Thành thì không thấy mà bà đã gục ngã trước rồi. Liệu tiền bạc có cho phép người ta làm mọi điều mình ước muốn không? Có ai đó đã từng nói rằng: "Đồng tiền có thể đem lại một gia đình nh?ng không đem lại một mái ấm, đồng tiền có thể mang lại sức khoẻ nhưng không cứu được mạng sống". Vậy thì những đồng tiền mà bà hiện có đây sẽ giúp ích được bao nhiêu trong cuộc tìm kiếm gay go này.

Bà Vân cứ nằm thao thức mãi cho đến khi trời gần sáng, bà thầm cầu mong đất trời cho bà thêm sức mạnh để bà làm tốt công việc kiếm tìm này. Bà cầu mong cho An nghĩ đến bà, thương bà mà chấp thuận đi với bà. Bà lại càng cầu mong cho cuộc kiếm tìm đạt được kết quả. Mặc kệ cho ông Thành có trở thành người thế nào. Già nua, xấu xí hay tàn tật , điên khùng gì cũng vẫn là ông Thành. Mặc kệ cho ông Thành có bao nhiêu vợ, bao nhiêu con cũng thế thôi, với bà ông Thành vẫn là người đàn ông bà yêu qúy. Bà chấp nhận hết. Chỉ cầu mong cho ông Thành đừng quên bà, chỉ cầu mong cho ông Thành nhớ lại người con gái trước đây ông đã từng yêu say đắm. Chỉ cầu mong rằng trong trí nhớ của ông còn sót lại chút gì tình cảm của hai người, cầu mong ông đừng xoá bỏ hết mọi điều trong bộ nhớ. Bà sẽ đưa ông về, sẽ chu cấp cho những người vợ, người con của ông, đem ông về với đất Sài Gòn hoa lệ này, giúp ông thoát khỏi những tháng ngày tối tăm cực khổ. Để ông lại tiếp tục là ông Thành hào hoa phong độ trong tâm tưởng bà, để ngày ngày ông lại đưa bà đến những nơi đầy ắp kỷ niệm xưa, để những tháng ngày tuổi trẻ lại trở về với họ sau ba mươi năm xa cách. Ôi mong ước của bà chỉ bấy nhiêu thôi mà, có lẽ nào bà lại không xứng đáng được hưởng chút hạnh phúc muộn màng đó sao? Không lẽ nào chỉ một mái ấm tầm thường như những người đàn bà khác mà bà lại không có thể sao? Không có lẽ nào ông trời bắt tội bà phải cô lẽ cho đến ngày nhắm mắt xuôi tay, còi cõi đơn độc một mình như chiếc lá khô cành lững lờ trôi theo giòng đời nghiệt ngã. Không, không có lẽ nào, không có lẽ nào ông trời lại có thể khắc nghiệt với bà đến thế đâu.

Sáng hôm đó bà An quay về nhà, bà đã xa nhà hai tuần nay rồi, bà muốn trở lại cái gia đình yên ấm của mình. Ôi sao mà cái con nhỏ Vân nó khổ dữ vậy không biết, bà chẳng biết phải trả lời cái việc đó như thế nào đây. Thôi thì may rủi coi ông Bình quyết định như thế nào.

Buổi tối ăn cơm bà kể lại mọi chuyện cho chồng nghe, con trai bà đi học trường Đại học Đà Lạt mỗi tháng mới về một lần cũng ngồi nghe chuyện. Ông Bình uống ly nước con trai rót , hỏi vợ:

- Rồi bây giờ bên đó tính sao?

Bà An ngần ngừ:

- Vậy em mới về đây kể cho anh nghe, họ nói em chuyển công tác về Công ty du lịch, trả mức lương Phó Giám đốc nhưng lại phụ trách việc kiếm người nhà cho họ. Em thì anh biết rồi, khả năng thích ứng của em tốt, làm gì cũng không ngại, nhưng em muốn nghe ý kiến của anh.

Ông Bình chần chừ:

- Em lớn tuổi rồi, đi lăn lóc vô mấy vùng đó anh không yên tâm, với lại bỏ nhà đi hoài cũng buồn.

Đứa con trai trêu ba:

- Ý là ba hổng muốn mẹ rời ba đó mà.

Ba nó vênh mặt:

- Mẹ mày rời ba ai nấu cơm cho ba ăn.

Bà An cười:

- Có ai đi luôn đâu, nếu em đi thì tuần đi tuần về nhà chớ sức đâu mà lặn lội trong rừng miết được.

Đứa con trai nghiêm chỉnh:

- Xét về mặt kinh tế thì gia đình mình không thiệt hại gì. Nếu tính đến khía cạnh đóng Bảo hiểm xã hội thì mẹ được an toàn cho đến lúc nghỉ hưu, mà mẹ thì cũng gần hưu rồi. Giả như mẹ làm ở đây lương tháng ba triệu, chắc chắn lương Phó Giám đốc phải cao hơn. Mẹ lại không tốn tiền ăn ở, đi lại, mỗi tháng lại được về nhà tùy thích. Rõ ràng là kinh tế nâng lên rồi. Nhưng khuyết điểm là mẹ phải đi đến nơi rừng thiêng nước độc, chưa kể đến nguy hiểm dọc đường. Còn xét về mặt tình cảm thì mẹ không thể bỏ dì Vân lúc này, thà rằng sau vài tháng tìm kiếm không có dấu vết gì thì mẹ có thể bỏ cuộc, còn bây giờ bỏ dì Vân một mình là bất nghĩa với bạn bè.

Bà An cười cười:

- Xem cậu đi học Đại học về phân tích nghe rõ ràng ý tứ quá hở?

Ông Bình trầm ngâm một lúc, sau cùng ông nói:

- Em suy nghĩ đi, con mình nói đúng đó. Bỏ Vân lúc này là không phải với bạn bè đâu.

Bà An im lặng. Trong đầu bà tất nhiên đã có ý rồi, nhưng bà muốn nghe ý kiến của chồng con, bà không muốn tự quyết định một mình, tính nết bà lúc nào cũng thế, luôn luôn dân chủ.

Ba hôm sau bà An chuẩn bị về Sài Gòn, con trai bà trước khi lên trường đã nhắc đi nhắc lại bà ý kiến của nó. Cái thằng, đàn ông mà tình cảm như con gái. Ông Bình cũng bảo bà nên tham gia cuộc kiếm tìm một thời gian chớ không nên bỏ cuộc dễ dàng như thế. Bà An ngại ngần:

- Em đi cả tuần ai lo cơm nước cho anh.

Ông Bình cười:

- Siêng thì anh đặt nồi cơm, làm biếng thì anh ra quán.

Bà An nhéo cánh tay chồng:

- Đừng có kiếm cớ nghe chưa?

Ông Bình tròn mắt trêu vợ:

- Ôi trời ơi. Bộ em tưởng em hiền lắm hả? Anh mà dám chọc em sao?

Bà An lườm chồng:

- Ai mà biết được.

Ông Bình tưng tửng:

- Vậy thì đừng đi.

Rồi ông nghiêm mặt:

- Nói cho vui thôi chớ em không thể không đi, mặt mũi nào em từ chối Vân. Còn mình thì già rồi em, anh đâu phải là người ham vui. Với lại một hai tuần em cũng phải về nhà chớ có bỏ đi luôn cả tháng đâu mà.

Bà An không nói, bà biết tính ông Bình, ông chỉ tếu táo cho vui thôi chớ chưa bao giờ ông phải để cho bà ghen tuông gì trong suốt mấy mươi năm qua. Bà cứ phơi phới như đứa trẻ trong cái gia đình ấm êm hoà thuận này. Anh Phúc của bà hay đùa là An có số qúy nhân phù hộ, hồi nhỏ thì chị Hạnh phù hộ, lớn lên thì chồng phù hộ. Không giàu có, quan to quan nhỏ gì mà mọi việc cứ thong thả êm xuôi như nước chảy, chẳng bù cho Vân mọi việc cứ lận đận như thế nào đâu. Bà than thầm cho Vân, đến tuổi này rồi mà mọi việc vẫn cứ rối như canh hẹ. Giá như Vân đừng có tìm được chút tin tức gì của Thành lại còn hay hơn. Đó là bà nghĩ như vậy. Thà là Thành cứ bặt tăm như ba mươi năm trước đây. Để tất cả mọi người đều nghĩ rằng anh đã chết, để cho sự mõi mòn trông đợi của Vân cứ êm ả trôi qua ngày ngày cho đến cuối đời. Thà nó như một điều gì đó quen thuộc làm cho người ta không lúng túng. Để như bây giờ đây, có được một chút tăm hơi rồi lại khó xử biết bao nhiêu. Bà không biết điều gì sẽ xảy ra trong những ngày sắp tới. Bà mường tượng người mà mình tìm được sẽ lạ hoắc lạ huơ, sẽ nhăn nheo, phun nước bọt phì phì như ông già hôm nọ, hoặc đen đủi bẩn thỉu, nốc rượu tì tì như Kva Đăng. Bà không biết mình sẽ làm thế nào nếu dắt được một ông dân tộc như thế về Sài Gòn mà chỉ vào đó nói là Thành. Liệu gia đình họ có chấp nhận nỗi một cú sốc tâm lý như thế không? Trong ký ức của họ là một anh hai thông minh lịch lãm, hào hoa phong nhã chớ đâu phải là một người như thế. Mặc dù đã tiên liệu trước cho họ nhưng những con người sang giàu đến từ nước Mỹ xa hoa hào nhoáng đó có chấp nhận nỗi không, Họ có chịu đựng được rằng đó là người anh thần tượng của họ không? Ôi trời ơi sao mà điên cái đầu chớ phải không đâu.

Gia đình ông Đạt quay trở về Mỹ đã một tuần nay. Sau khi được sự đồng ý của An, ông Đạt gọi điện thoại cho vợ chuyển ngay vào tài khoản cho An một số tiền tương đương với mức lương Phó Giám đốc trong 6 năm. Bà An biết họ làm vậy để buộc bà không bỏ cuộc giữa chừng. Nhưng kệ, đằng nào thì bà cũng chấp nhận làm, vả lại có một khoảng tiền lớn trong ngân hàng là điều chắc ăn rồi, ai mà không đồng ý. Vả lại có ai buộc bà phải nhất thiết tìm cho bằng được ông Thành đâu. Chuyện tìm là vẫn tìm còn có tìm được hay không lại là chuyện khác. Có khi đến nơi chỉ còn là một nắm đất không biết chừng. Nghĩ như vậy nên bà An ung dung thoải mái. Đã biểu là con người bà vốn lạc quan mà, có gì làm cho bà phải lo lắng đâu.

Lần đi này bà An chuẩn bị khá bài bản, bà lên kế hoạch đàng hoàng chớ không thuận đâu tìm đó như lần trước. Vì bà Vân cương quyết đi theo nên hai người lấy chiếc xe nhỏ của bà Vân đi, chiếc xe máy lần trước đã để lại nhà bà Ngọc rồi. Tối hôm qua sau khi gọi điện thoại cho bà Ngọc, bà An cho Vân biết bà Lý đã tìm được người nói tiếng Cho Ro. Bà An bảo bà Vân chuẩn bị mang theo nhiều quần áo và mùng mền. Bà Vân ngạc nhiên hỏi:

- Quần áo thôi chớ mùng mền chi vậy An?

Bà An thở dài:

- Vân tưởng ở đâu cũng có khách sạn cho Vân ngủ sao?

Bà Vân ngẩn ngơ. Phải rồi, đâu phải chỗ nào cũng có nhà nghỉ mà trọ, biết đâu họ phải ngủ nhờ nhà ai đó. Bà An nhắc:

- Không đem theo nhiều tiền, chỉ cần đừng quên cái thẻ rút tiền là được rồi.

Hai người cuốn theo một mớ đồ lỉnh kỉnh mà bà Vân cho rằng do bà An quá cẩn thận. Bà An nói:

- Xe chở chớ mình có chở đâu. Có còn hơn không.

Bà Vân phục lăn bạn mình, thực là An càng già càng kinh nghiệm, ngay cả thuốc uống của Vân mà An còn nhắc mang theo. Bà nói:

- Ai mà biết giữa buôn giữa làng có đau ốm gì không chớ.

Bà Vân lý sự:

- Đau ốm thì đã có xe.

Bà An làu bàu:

- An chưa đi học lái xe hơi đâu.

Té ra An vẫn còn thua Vân cái chuyện này, mà phải thôi, An có xe đâu mà cần học lái, chớ nếu có cũng chẳng ai ngăn nỗi An đâu. Nhưng Vân thì khác, Giám đốc Công ty du lịch mà không tự lái xe cho mình được thì ai coi ra gì. Vân cười:

- Đi chuyến này về An phải học lái xe thôi.

An bỉu môi:

- An chưa mua được xe.

Vân cười:

- Hôm nay có người là Phó Giám đốc công ty du lịch rồi, không biết lái xe thì ai đưa khách đi chơi đây.

An không trả lời, bà nghĩ bạn mình nói cũng không sai, nhất định bà phải làm được chuyện này. Dễ thôi, Vân đã làm được thì An không có cớ gì không làm được.

Đường đi loành quành khúc khuỷu. Vân nói:

- Sao lần trước đi Vân không thấy nó khó như lần này.

An cười:

- Lần trước Vân đang trong khí thế hừng hực mà. Đâu có quan tâm đến đường xa đường gần. Lần sau thì lại đi xe taxi, có lái đâu mà biết.

Quả thực trong buổi đi tìm ông Thành trước nhất lòng Vân nôn nao như cô gái trong lần hẹn đầu tiên. Bà chỉ nghĩ đơn giản tìm được người đàn bà tên Ngọc là sẽ kiếm ngay ra được nơi ông Thành ở. Bà không hề nghĩ đến chuyện chiến tranh hay mất mát xảy ra cho ông. Trong đầu bà lúc đó chỉ vẽ ra cái cảnh ông mừng rỡ khi gặp được gia đình và sau đó mọi người cùng quay về sum họp. Bà không hề nghĩ cuộc kiếm tìm lại gian nan khổ ải như thế này, đừng nói đến chuyện phác họa ra những viễn ảnh chua xót như An nghĩ. Sao mà lúc đó bà ngây thơ vậy không biết. Chắc do nỗi vui biết được tin sau ba mươi năm làm cho bà thiếu sáng suốt, thiếu khôn ngoan, suy luận như An. Bà thầm cảm ơn trời đã cho mình một qúy nhân như An để phò hộ bà trong những cơn hoạn nạn suốt bao nhiêu năm dài. Thật lòng, An chính là chỗ dựa tinh thần duy nhất của bà.

Họ đến nhà bà Ngọc cũng đã gần trưa. An bảo Vân tìm một quán cơm ăn trước khi đến thăm Ngọc, bà không muốn người khác phải phiền hà vì những chuyện không đáng có. Bà Ngọc đón tiếp hai người vui vẻ. Hôm qua khi nghe điện thoại của An bà đã đoán trước hôm nay họ sẽ lên. An hỏi:

- Lúc này chị Ngọc có rảnh không?

Bà Ngọc trả lời.

- Đang mùa nghỉ hè, cũng không buôn bán nhộn nhịp lắm.

Bà Vân ngõ lời:

- Chị Ngọc giao tạm cái tiệm này cho ai đó, làm việc cho Vân vài tháng được không?

Bà Ngọc bối rối:

- Để em bàn lại với nhà em.

Bà Vân mạnh dạn:

- Em cần chị và chị Lý để tham gia trong việc tìm kiếm này. Em thuê mỗi chị 5 triệu một tháng, không tính đến ăn ở cơm nước xăng xe. Hai chị có thể trích lại một phần để thuê người làm công việc của mình hiện nay thì cũng vẫn còn dư.

Bà Ngọc suy nghĩ:

- Chị trả thế là cao so với mặt bằng lương ở đây rồi, em có buôn bán giỏi lắm cũng chỉ kiếm được trên dưới 2 triệu mỗi tháng; nếu em thuê người thì chỉ khoảng hơn triệu là cùng. Nhưng đi xa nhà biền biệt thì em không làm được.

An xua tay:

- Không phải đi luôn đâu, An cũng như chị thôi. Đi một tuần hay mười ngày thì phải trở về nhà chớ.

Bà Ngọc bằng lòng:

- Vậy thì để em nói với Lý.

Chiều hôm đó họ lên nhà bà Lý, sau khi nghe bà An thuyết phục, bà Lý bằng lòng ngay vì bà Lý còn chưa lập gia đình, xem ra còn dễ dàng hơn bà An và Ngọc.

Bà An nhắc bà Lý đưa đi gặp người phiên dịch. Bà Lý cười khì khì:

- Phiên dịch nỗi gì, thằng này nó hay vô trong đó buôn bán đổi chác nên nó nói được tiếng Cho ro thôi mà, để em đi kiếm nó.

Bà bươn bã dắt xe đi. Bà Vân hỏi bà An:

- Còn mình đi bằng cái gì?

Bà An nhăn nhó:

- Chờ hỏi thử coi đường đi có chạy xe hơi vô được không, nếu không phải để xe lại nhà chị Ngọc thôi.

Người phiên dịch cỡ chừng ba mươi tuổi, cũng đen đủi và tóc xoăn như những người dân tộc ít người khác. Anh ta hỏi:

- Mấy chị kiếm ai ?

Bà An mô tả theo sự tường thuật của Kva Đăng, anh phiên dịch lắc đầu:

- Tui hổng biết. Để chiều tui dắt vô trỏng coi.

Bà An vội hỏi:

- Đường đi ở đó có chạy xe hơi vô được không?

Anh ta lắc đầu:

- Vô sao được. Phải đi xe máy hay xe đạp thôi. Mà phải cứng tay lái mới chịu nỗi nghe.

Rồi anh ta sực nhớ:

- Xe máy kéo cũng được đó.

Bà Lý lập tức đi thuê một chiếc máy kéo nhỏ, và họ nhanh chóng lên xe đi vào trong buôn.

Đường xá ở đây quả thật còn khó khăn hơn buôn của người Châu Mạ, chiếc xe máy kéo lắc lư qua lại như thuyền tròng trành trên nước. Bà An than thầm cho bà Vân nhưng may mắn thay là suốt đoạn đường đó bà Vân không có vẻ gì là mệt mõi. Tới trong buôn cũng hơn 3 giờ chiều. Kva Y - người phiên dịch mà họ thuê dắt tới từng nhà mà Y quen biết để hỏi chuyện .

Điều làm mọi người không ngờ là có khá nhiều người trẻ ở đây biết tiếng Kinh, Kva Y chỉ phiên dịch cho họ khi gặp phải những ông, bà cụ già. Nhà cửa ở đây xây cất còn khá hơn ở bản Châu Mạ, có nhiều ngôi nhà hao hao giống nhà người Việt, có ba gian và chái bếp để nông cụ, cửa ra vào mở về phía mái. Có một số nhà ngói và nhà xây có vẻ còn mới, nét truyền thống còn được giữ lại qua cái sạp nằm làm bằng tre nứa, chạy dọc suốt chiều dài của ngôi nhà.

Người dân ở đây đàn ông cũng như đàn bà, khi ra ngoài làng ai cũng mang một chiếc gùi bằng lồ ô sau lưng. Họ cũng đeo các loại đồ trang sức như vòng đồng, vòng bạc, các cô gái còn mang cả kiềng, dây chuyền, cà rá. Trong đường làng có nhiều xe máy chạy vèo vèo, cuộc sống có vẻ sung túc chớ không ảm đạm như bà An, bà Vân suy nghĩ.

Cả buổi chiều đó họ đi gần một nửa buôn, vì có nhiều người biết tiếng Kinh nên họ chia nhau ra hai nhóm để hỏi thăm cho nhanh, nhưng đến khi nắng đã tắt, gặp lại nhau trên mặt bốn người đàn bà ai cũng ỉu xìu rõ nét.

Họ quay lại nhà bà Lý lấy xe, bà Ngọc rủ về nhà nhưng An và Vân từ chối, họ muốn ngủ lại nhà trọ. Bà Ngọc đành quay về hẹn ngày mai lên tiếp.

Ngày hôm sau cũng không có vẻ gì khá hơn, đi đến đâu họ cũng chỉ nhận được những cái lắc đầu. Đến 4 giờ chiều hôm đó thì mọi nhà trong buôn đều được bọn họ ghé vào hỏi chuyện, nhưng kết quả thu được cũng vẫn thật thảm hại. Bà An ngồi mệt mõi thở ra, bà không còn biết phải đi hướng nào bây giờ, không ngờ thất bại lại đến với bà sớm vậy. Khi bà Vân gọi lên xe về bà An chợt nghĩ ra một chuyện, bà hỏi người Kva Y.

- Anh có biết thôn làng này thành lập hồi năm nào không?

Kva Y ngớ người ra, anh ta nói:

- Phải hỏi già làng chớ. Tui sao biết được.

Bà Lý chen vào:

- Tui biết hồi trước ở gần bản tui là làng của người Cho ro mà.

Bà Ngọc không đồng ý:

- Phải hỏi lại thôi. Biết đâu có sự thay đổi nào đó.

Bà kéo Kva Y đến một ngôi nhà gần đó, mấy người kia lục tục đi theo. Kva Y hỏi một bà cụ già mồm miệng móm mém. Bà già kia gục gặc cái đầu. Kva Y nói:

- Bả nói buôn này có lâu rồi, từ năm 82 lận.

Bà An mừng rỡ:

- Anh hỏi bã coi trước năm 75 bả có ở đây không?

Kva Y hỏi xong, trả lời:

- Bã nói buôn này Nhà nước lập từ năm 82 còn trước đây không có.

Bà Ngọc hỏi :

- Anh hỏi bã coi bã có biết buôn làng Cho ro nào ở gần đây mà có trước buôn này không.

Kva Y trả lời:

- Bã nghe nói hồi trước có một buôn ở cách đây một khoảng nhưng mà bây giờ không có ai ở đó nữa.

An hỏi:

- Cậu hỏi xem bã có biết tại sao không?

Người phiên dịch trả lời:

- Bã nói nghe nói hồi đó buôn làng bị ma bắt nhiều lắm nên họ đốt làng dọn đi. Sau đó Nhà Nước mới lập buôn này cho dân ở chỗ khác tới.

An lại hỏi:

- Anh hỏi thử coi bã có biết bản làng kia dọn đi đâu không?

Trả lời:

- Bã nói nghe đâu dọn lên cái đèo trên Bảo Lộc - Lâm Đồng gì đó.

An vội vàng cảm ơn rồi bảo mọi người đi về. Vân quay lại nhét vào túi bà già một tờ bạc. Lên xe mọi người tranh nhau bàn luận. Bà Ngọc nói:

- Bản mới hèn chi mà tui thấy nhà cửa giống của người Kinh quá chừng.

Bà An gãi đầu:

- Đáng lẽ hôm qua mình phải để ý thấy là họ nói tiếng Kinh rất giỏi. Nếu là một bản xưa như Châu Mạ thì đã không được như vậy.

Bà Lý ân hận:

- Tui đâu biết bản cũ bị đốt rồi đi như vậy. Chỉ biết ở trong đó là buôn người Cho ro thôi.

Bà Ngọc đỡ cho bạn:

- Lý nói không sai nhưng do họ chuyển đi nên bạn đâu có biết.

Bà Vân an ủi:

- Ít ra mình cũng còn biết họ dọn đi đâu mà lần theo.

Bà Ngọc trầm ngâm:

- Bây giờ mới khó đây, vì theo tôi biết người Cho ro hầu hết ở địa phận Đồng Nai, còn Lâm Đồng lại là nơi có nhiều dân tộc khác sống. Mình lại phải tìm trong một mớ hỗn loạn nữa đây.

Bà An cũng đồng ý:

- Em cũng nghĩ như Ngọc. Lâm Đồng có tới khoảng 10 dân tộc khác nhau sống ở đó, rãi rác trong nhiều vùng. Địa bàn Lâm Đồng lại không chỉ hạn hẹp như từ trước đến nay mình vẫn tìm. Nhưng dù sao đó là địa phương của em, em cũng tìm được cách dễ hơn.

Họ quay lại nhà bà Lý để lấy xe. An trả tiền cho người phiên dịch rồi hẹn Ngọc ngày giờ đi tiếp. Họ chia tay.

o O o

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn