BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 35495)
(Xem: 33221)
(Xem: 32189)
(Xem: 24635)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Những lời cầu nguyện cho Mùa Xuân Dân Tộc

12 Tháng Giêng 200812:00 SA(Xem: 494)
Những lời cầu nguyện cho Mùa Xuân Dân Tộc
52Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
52
Tôi không phải là Giáo dân, cũng không là Phật tử, tôi là kẻ “vô thần” bởi vì bố tôi là cộng sản. Nhưng nói như vậy không có nghĩa là tôi không tin vào thế giới thần linh. Ngày mồng một và ngày rằm tôi vẫn thắp hương.

Tôi tin vào thuyết luân hồi của nhà Phật, tôi tin rằng sẽ có “quả báo”, tôi tin rằng kẻ “gieo gió” sẽ có ngày “gặt bão”, tôi tin rằng “đời cha ăn mặn, đời con khát nước”, tôi tin rằng “ở hiền gặp lành”, tôi tin rằng có thế giới của thần linh, và hôm nay tôi đã tin rằng có Thiên Chúa.

Có lẽ, thời tuổi thơ cắp sách đến trường, với đầu óc non nớt của mình, chúng tôi (những người thuộc thế hệ 6x, 7x) luôn được “giáo dục” rằng Công giáo là một tôn giáo của thực dân và rất “phản động”, luôn chống lại chính quyền (cộng sản) và vì thế chúng tôi nhìn Nhà thờ và giáo dân một cách rụt rè pha lẫn chút sợ hãi.

Cái cảm giác e dè đó theo chân tôi một thời gian dài, thế rồi từ ngày tiếp cận được với nguồn báo chí tự do, trung thực và phi chính thống tôi đã vỡ lẽ ra nhiều điều. Thế nhưng phải đợi đến khi được đọc và được “biết” đến những ngôn sứ xuất sắc của Thiên Chúa thì tôi thật sự đã có cảm tình với một trong những giáo hội lớn nhất Việt Nam và thế giới đó là Giáo Hội Thiên Chúa Giáo.

Những ngôn sứ mang một sứ mạng cao cả của Thiên Chúa là đi rao giảng Tin Mừng, mang niềm tin và hy vọng đến cho những con người cùng khổ mà tôi muốn nói đến là các Linh mục Nguyễn Văn Lý, linh mục Chân Tín, linh mục Phan Văn Lợi, linh mục Nguyễn Hữu Giải và nhiều vị linh mục, giáo dân khác trong giáo hội Công giáo Việt Nam.

Ngày hôm nay đây, cả nhân loại đang sống trong những giờ phút căng thẳng, lo âu nhưng cũng không kém phần hãnh diện và hy vọng khi được chứng kiến những cuộc cầu nguyện của Giáo dân công giáo tại Hà Nội, Thái Hà, Hà Đông cũng như khắp đất nước Việt Nam để đòi lại những tài sản đã bị nhà cầm quyền chiếm đoạt bất hợp pháp hơn nửa thế kỷ qua. Tài sản của Giáo hội dù lớn nhưng cái còn lớn hơn rất nhiều là Hòa Bình và Công Lý.

Cho dù chúng ta có khác nhau về tín ngưỡng hoặc tôn giáo nhưng những quyền cơ bản của con người thì tôn giáo nào cũng cần như nhau. Ước muốn lớn nhất của con người là được sống trong Hòa bình và Công Lý, những ước mong đó không thể có được dưới chế độ cộng sản, nơi mà những người lãnh đạo không được dân bầu, nơi mà quyền tư hữu không được công nhận, nơi mà báo chí không được tự do, các tiếng nói bất đồng với chính quyền đều bị đàn áp.

Nơi đó là bóng tối, là đêm đen. Ánh sáng của Thiên Chúa có xua đi được màn đêm đen đó không? Quyền năng của Thiên Chúa có thể mang lại một tương lai tươi sáng cho hơn 80 triệu người dân Việt Nam đã chịu quá nhiều đau khổ hay không?

Nhìn vào những gì đang diễn ra trên quê hương tôi tin rằng: CÓ!

Đã có lúc tôi thầm trách những vị lãnh đạo của giáo hội Công giáo Việt Nam khi thấy Linh mục Nguyễn Văn Lý bị tù đày mà các vị không lên tiếng, đã có lúc tôi thất vọng vì các vị chủ chăn im lặng khi công lý không còn tồn tại, đạo đức con người băng hoại, người ta sẵn sàng giết nhau chỉ vì vài chục nghìn đồng tiền Việt Nam. Tin Mừng ở đâu? Lòng Bác ái và sự chia sẻ của Chúa ở đâu? Đã có lúc tôi cảm tưởng như là Giáo hội công giáo không còn tồn tại ở Việt Nam nữa.

Tôi đã lầm! Chúng ta đang chứng kiến một khúc quanh của lịch sử, không biết rồi ngày mai sẽ ra sao, nhưng tôi vui mừng và xúc động khi thấy Giáo hội Công giáo xuất hiện trong cuộc đấu tranh “đòi quyền sống” cho giáo hội và cho cả dân tộc Việt Nam.

Từ xưa nay rất ít khi Giáo hội bày tỏ những chính kiến của mình, nhất là từ những vị chủ chăn của giáo hội. Chúng ta chỉ biết nhiều đến những tiếng nói bất khuất của các vị lãnh đạo Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất của Hòa thượng Thích Huyền Quang và Hòa thượng Thích Quảng Độ. Đặc biệt là Hòa thượng Thích Quảng Độ, người đã đấu tranh kiên cường và không mệt mỏi cho sự tồn vong của Giáo hội Phật giáo, một người đã nhiều lần được đề cử giải thưởng Nobel về Hòa bình.

Mọi sự đã không còn như cũ, những cơn sóng ngầm đã biến thành bão tố. Các vị lãnh đạo của Giáo hội Công giáo đã lên tiếng và lên tiếng một cách dứt khoát. Khi Giáo hội Công giáo đã “đứng dậy” thì bão đã nổi lên, không dễ gì nhà cầm quyền có thể đàn áp họ được. Giáo hội Công giáo là Giáo hội có tổ chức chặt chẽ, các giáo dân biết tuân phục bề trên và quan trọng nhất là Giáo dân có một niềm tin rất mãnh liệt vào Thiên Chúa. Niềm tin đó lớn hơn tất cả, lớn hơn cả Đảng, cả nhà tù và súng đạn.

Cuộc đấu tranh của Giáo hội Công giáo chỉ kết thúc nhanh chóng khi nhà cầm quyền nhượng bộ hoặc các vị chủ chăn Giáo hội “đầu hàng” chính quyền, cả hai trường hợp đều khó xảy ra. “Nhượng bộ” không phải là cách hành xử của nhà cầm quyền Việt Nam, vốn luôn dựa vào sức mạnh của bạo lực để đàn áp nhân dân. Còn Giáo hội cũng khó mà “nhượng bộ” chính quyền vì rằng sự việc đã lan truyền khắp thế giới, các vị chủ chăn muốn dừng cũng muộn mất rồi. Điều quan trọng nhất là chính quyền cộng sản quá coi thường và đối xử bất dung với Giáo hội Công giáo.

Tôi có một niềm tin rằng đây là những cuộc cầu nguyện không riêng gì cho Giáo hội Công giáo mà còn là những lời cầu nguyện cho Mùa Xuân Của Dân Tộc. Nếu điều đó xảy ra thì tất cả mọi người Việt Nam đều phải cảm ơn Thiên Chúa.

Những người dân Việt Nam bất hạnh, những dân oan, những kẻ khốn cùng, những kẻ không còn biết dựa và tin vào ai hãy đến với Thiên Chúa, hãy đến với cộng đồng Giáo dân Việt Nam.
Mùa Xuân luôn là mùa của Hy Vọng, Tổ quốc mãi mãi trường tồn. Trong giờ phút lịch sử này tôi rất mong các tôn giáo khác ở Việt Nam như Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam Thống Nhất, Phật giáo Hòa Hảo, Phật giáo Cao Đài, các hệ phái Tin Lành hãy cùng hiệp thông và cầu nguyện với Giáo hội Công giáo.

Mỗi người Việt Nam, không phân biệt tín ngưỡng hãy lên tiếng ủng hộ hành động chính nghĩa của Giáo hội Công giáo Việt Nam. Khi Giáo hội có được Công lý và Hòa bình thì khi đó mỗi người dân Việt Nam sẽ có Công lý và Hòa Bình.

Đảng cộng sản Việt Nam phải trả món nợ lịch sử cho Giáo hội Công Giáo, đối đầu hay đàn áp Giáo hội cũng có nghĩa là tự diệt mình. Bài học từ Balan vẫn còn đó. Giáo hội và Giáo dân Balan đã đứng dậy theo lời kêu gọi của Giáo Hoàng Gioan PhaoLồ Đệ Nhị rằng “Các con đừng sợ hãi”, đảng cộng sản Ba Lan và Đông Âu đã cáo chung sau đó.

Nhân dịp Năm Mới tôi cũng có đọc được một “bản trường ca” là “Bài thơ về gia đình cụ Bá” của tác giả Bạch Tâm-Phạm Hồng Đức trên mạng Đối Thoại. Bài thơ này rất đáng chú ý, đầu tiên là nó rất dài, gồm 3254 câu thơ và đã được viết khá lâu, vào năm 30/10/2000 là năm cuối cùng của thiên niên kỷ thứ hai. Bài thơ này là “một bức tranh toàn cảnh” của xã hội Việt Nam dưới thời cộng sản. Bài thơ đã phản ánh đầy đủ và trung thực sự thối nát, đảo điên của một xã hội được lãnh đạo bởi “đảng cộng sản Việt Nam và quang vinh” thông qua số phận của các thành viên trong gia đình cụ Trần Bá.

Trong bản trường ca này có mấy điều “tiên đoán” khiến ta giật mình. Đó là Đảng cộng sản Việt Nam sẽ “giải tán” vào năm 2009:
Đảng tan năm sửu cung đoài
Rõ là tuổi Bác, đảng thời bằng nhau

Tác giả cũng tiên đoán rằng khi thời thế đã chuyển xoay vẫn có ít kẻ vì quyền lợi và ngu muội nên vẫn cố tình chống lại bánh xe lịch sử:
Nực cười những lũ bàng quan
Cờ tàn lại muốn mưu bàn đấm xe
Thôi ! Thôi! mặc lũ thằng hề
Gió mây ta lại đi về gió mây

Thế nhưng theo tác giả thì sau đấy mọi chuyện sẽ tốt đẹp đâu vào đấy:
Hiệu xưng thiên hạ thái bình
Đông tây vô sự nam thành quốc gia

Một sự kiện trùng lặp khá ngẫu nhiên với những gì đang xảy ra là nhân vật Trần Hồng, con cụ Trần Bá, một người đã từ bỏ tất cả để đi theo Việt Minh. Anh ta trở thành một người cực đoan, luôn hô hào và ca ngợi Đảng cộng sản, sau đó chỉ vì cô em út “chiêu hồi” trong khi xuống thành phố mua thuốc men mang lên rừng mà Trần Hồng bị Đảng bắt và hành hạ suốt bao năm. Trong tù Trần Hồng đã gặp và sống với linh mục Điềm, linh mục Thơ, sau đó là với giáo dân tên Vinh làm nghề thợ xây. Sự mầu nhiệm của Thiên Chúa đã cải hoá con người Trần Hồng, Trần Hồng đã tin nhận Chúa trời. Sau khi tha về thì vợ con Trần Hồng đã bị bố mẹ ruột đuổi đi (vì có chồng đi tù), ông này làm đến bộ trưởng. Vợ Trần Hồng là Hương trong lúc bệnh tật đói khát, lúc sắp chết thì được linh mục Can cứu chữa và sau đó cưu mang cả hai mẹ con. Cuối cùng thì Trần Hồng cũng tìm được vợ con, cả gia đình sống hạnh phúc, cả hai đều trở thành những giáo dân và sống an bình trong cộng đồng Thiên Chúa.

Bài thơ đã dành hàng trăm câu thơ ca ngợi Thiên Chúa và chính Thiên Chúa đã cải hoá con người lầm lạc Trần Hồng. Thiên Chúa đã chiến thắng tất cả để mang lại một kết cục rất tốt đẹp cho gia đình cụ Trần Bá.

Những gì thuộc về tương lai thì đều chỉ là dự đoán, chúng ta hãy cùng chờ xem.

Cuộc cầu nguyện của giáo dân Việt Nam hôm nay có rất nhiều điều tương hợp với bài thơ cụ Bá, nên tôi viết ra đây để mọi người cùng đọc và suy ngẫm.

Tôi tin rằng Thiên Chúa sẽ mang lại mùa xuân vĩnh hằng cho dân tộc Việt Nam.

Xuân Mậu Tý 2008
Việt Hoàng
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn