BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 36508)
(Xem: 33523)
(Xem: 33211)
(Xem: 24854)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Đà Nẵng, Tôi Về

02 Tháng Ba 201612:00 SA(Xem: 803)
Đà Nẵng, Tôi Về
52Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
52
Khi biết tôi dự định về Việt Nam vì công chuyện gia đình, tại cà phê Factory, nhà văn Phạm Xuân Đài đưa tôi một trăm đô la và nói, ‘’về VN mà thấy anh em văn nghệ nào trước bảy lăm có đời sống khổ cực quá thì gởi ’’. Khi tôi đi, anh Thành Tôn cũng ân cần căn dặn, ‘’nếu có về Đà Nẵng, nhớ tìm thăm nhà văn Nguyễn Văn Xuân, nghe nói ông già yếu và bịnh hoạn lắm ‘’. Dù biết công việc riêng rất nhiều, nhưng tôi nghĩ phải cố gắng thực hiện hai điều trên.

Đà Nẵng, trong tâm tưởng tuổi thơ tôi, một cậu học trò quận lỵ, là một nơi phồn hoa đô hội, chỉ đứng sau Sài Gòn.

Đà Nẵng, trong giấc mơ tôi, trong những năm tôi học đệ thất, đệ lục, rất xa vời với tôi. Đà Nẵng có bờ sông Hàn, có cổ viện Chàm, có rạp chiếu bóng chợ Cồn, Trưng Vương, Li Đô, Kinh Đô, có trường trung học Phan Chu Trinh, Hồng Đức, Phan Thanh Giản, Sao Mai... Tôi mơ tưởng đến nơi chốn đó trong những giấc mơ đẹp.

Bờ sông Hàn Đà Nẵng


Mãi đến năm tôi thi tú tài phần một, tôi mới bước chân đến Đà Nẵng. Dự thi xong rồi về. Cậu bé học trò nhà quê ra tỉnh, đi đâu cũng sợ lạc đường, nên không dám đi xa. Chỉ biết đi từ nhà trọ đến trường Kỹ Thuật để dự thi, thế thôi, nên tôi chưa biết Đà Nẵng là gì.

Đến khi tôi đi lính, năm 1972, được đổi về làm việc tại Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn I & Quân Khu 1, tôi mới nhìn tận mặt rõ Đà Nẵng. Đà Nẵng to lớn bao nhiêu và đẹp bao nhiêu. Tôi cận kề với bãi biển Mỹ Khê, bãi biển Thanh Bình, cận kề với các rạp chiếu bóng, khiêu vũ trường, các snack bar, cận kề với chợ Hàn, chợ Cồn, cận kề với khu đường rầy xe lửa, khu Đống Đa v.v..mới biết Đà Nẵng thật là muôn mặt.

Tôi rời Đà Nẵng khoảng tháng 1/1975 nên không được nhìn thấy một Đà Nẵng tháo chạy, di tản và hổn quân hổn quan. Tôi nghe các bạn bè kể lại những ngày cuối cùng của Đà Nẵng trước khi mất vào tay công sản, lính Thuỷ Quân Lục chiến đã làm chủ Đà Nẵng với biết bao nhiêu cảnh kinh hoàng đã xảy ra khi Đà Nẵng dẫy chết.

Về Quảng Nam, quê tôi, tôi thích nhất là bài thơ Hai Miền Thương của nhà thơ Tường Linh viết về miền đất điạ linh nhân kiệt nầy, một bài thơ , mà theo tôi, là hay nhất trong những bài thơ viết về Quảng Nam:
Quê Hương tôi bên ni đèo Ải
Nhấp nhô bóng thuyền cửa Đại
Già nua nếp phố Hội An
Ngũ Hành Sơn năm cụm ngắm sông Hàn... (*)

Còn về Đà Nẵng, tôi chưa được đọc một bài thơ nào hay và có sắc thái riêng cho Đà Nẵng. Chỉ nhớ một vài câu, đã lâu lắm rồi, hình như khoảng thập niên sáu mươi, của Yến Nguyên Thanh:
Và Đà Nẵng chiều nay trời trở gió
Con phố buồn hun hút ngã tư, năm.

Tôi nhớ câu thơ đó, có lẽ, Ngã Năm Đà Nẵng là nơi tôi thường đến ăn bánh hỏi thịt nướng, hay ăn bún bò Huế ở đường Lý Thường Kiệt, hay chợ Mới, sát nách Quân Đoàn.

Lần nầy, về thăm Việt Nam, phải đợi đến những ngày cuối cùng tôi mới ghé Đà Nẵng được. Sau khi làm xong mã mồ cho ông bà, cha mẹ, tôi mới đón xe đò ra Đà Nẵng để từ đó vào Sài Gòn.

Tôi đón xe ở bến xe Tam Kỳ. Một chiếc xe đò dừng lại, người lơ xe hỏi tôi, có đi Đà Nẵng không anh ? Tôi nói, đi, bao nhiêu ? Anh cho mười ngàn. Thấy chiếc xe van bề ngoài có vẻ sang, xe du lich tốc hành, tôi bước lên. Khi vừa ngồi an vị, người lơ xe đòi tiền ngay, tôi trả tiền vì nghĩ, trước sau gì cũng trả. Tôi vừa trả tiền vừa hỏi: Xe chạy suốt không anh? người lơ nói, chạy suốt chớ. Nói vậy nhưng tôi nhìn trên xe, chỉ lơ thơ có mấy người khách. Sau đó cũng có khách lên, ai đi Đà Nẵng cũng trả chỉ có tám ngàn, có người còn trả rẻ hơn. Xe còn đón khách đi Hà Lam, Hương An, Vĩnh Điện. Có người khách lên xe cò kè, bớt một thêm hai. Xe chưa đầy khách nên cứ chạy ra, chạy vô nhiều lần. Tôi ngồi phía sau tài xế, hành khách hút thuốc tự do, nhả khói đầy cả xe, mùi khói thuốc nồng nặc, thật khó thở. Tôi muốn nói một tiếng xin họ đừng hút thuốc nhưng sực nhớ, đây là ở Việt Nam chứ đâu phải ở Mỹ. Xe chạy đến Hương An. Xe dừng lại. Nóng. Nóng quá. Xe được gọi là có máy lạnh mà máy lạnh không mở, chỉ kéo kiếng xuống. Nay xe dừng lại, không có gió, nên mùi mồ hôi, mùi hơi người và mùi khói thuốc lá quyện vào nhau tạo nên một mùi rất ngột ngạt. Người lơ và tài xế bỏ xe chạy đi đâu đó, họ hẹn với ai chở hàng hay giao hàng gì đó. Phải đợi cả gần một giờ sau xe mới chạy. Nóng. Nóng. Nóng kinh khủng.

Đi xe đò ở Việt Nam, tài xế chạy tranh giành đường nhau, chạy vun vút, bóp còi tin tin, inh ỏi. Họ qua mặt, chưởi thề, rồi cười nói hỉ hả. Xe chạy lướt như bay trên mặt đường, qua mặt xe đạp, xe gắn máy, xe lam, qua mặt người đi bộ. Tôi nổi da gà trong nỗi sợ. Phải thật sự là tôi sợ. Tài xế trẻ nên lái xe quá ẩu, xe chạy không có luật lệ gì cả, cho nên, báo hằng ngày ở trong nước đã đăng biết bao nhiêu tai nạn xãy ra. Tôi tự trách tôi, tôi dại dột, đem thân nạp mạng khơi khơi, là đã đi xe đò.

Khi xuống xe, bước vào khách sạn Thanh Long, phía trước bến xe liên tỉnh để nghỉ lại qua đêm, người lơ xe còn xin thêm tiền, gọi là tiền bồi dưởng, tôi không biết bồi dưởng gì đây? Nhưng tôi cũng cho, coi như trút được nổi lo đi xe đò chạy ẩu cũng được.

Vào khách sạn thuê phòng xong, tôi liên lạc với Vỏ, thằng em bà con đang làm ở đường sắt Đà Nẵng, nó là kỹ sư, tốt nghiệp Đại Học ngành đường sắt. Tôi điện thoại thăm hỏi nó, nhờ nó có xe gắn máy đến chở tôi đi thăm một vài nơi, cũng như hỏi luôn về nhà văn Nguyễn Văn Xuân:

- Ở đây, em có biết nhà văn Nguyễn Văn Xuân ở đâu không? Anh cần tìm gặp ông ta một chút.

Vỏ trả lời:

- Em không biết Nguyễn Văn Xuân là ai hết.

Tôi nói thêm chi tiết về nhà văn Nguyễn Văn Xuân.

- Thầy Nguyễn Văn Xuân hồi trưóc bảy lăm dạy học ở trường Phan chu Trinh và Đại Học Quảng Đà, ông là nhà văn kỳ cựu, rất nổi tiếng, với các tác phẩm như Hương Máu, Khi Người Lưu Dân Trở Lại. Anh nghĩ ai cũng biết chớ.

- Em không biết. Thôi để em điện thoại hỏi Hội Văn Nghệ Đà Nẵng thử coi.

- Bây giờ em đến khách sạn đón anh đi ăn trưa với anh nhé.

Vỏ nói dạ. Tôi đón Vỏ ở phòng khách khách sạn 10 phút sau đó.

Tôi nói:

- Anh đói bụng rồi, có quán ăn nào ngon ở đây, em chỉ anh và em đến đó ăn.

Vỏ nói:

- Có quán cơm niêu ở đường Hùng Vương, mình đến đó ăn đi anh.

Đây là một quán cơm sang nhất nhì Đà Nẵng. Cơm niêu là cơm nấu trong cái niêu đất, khoảng một người ăn thôi. Ở đây có biểu diễn cơm niêu đập, cũng như cơm niêu nhưng ‘’cơm niêu đập’’ được nấu khô hơn, có một phần cơm cháy bên ngoài, vàng rụm, dòn tan. Người tiếp viên cầm niêu cơm trên tay, xoay xoay và đập mạnh trên một cái mâm nhỏ. Cà cái niêu đất bị vở, cơm được cuộn tròn phía trong không dính một chút mãnh niêu vở nào, trông rất đẹp mắt, cơm cháy ăn rất dòn nếu răng còn chắc.

Khách ăn ở quán cơm nầy phần nhiều là công an và bộ đội, hay là cán bộ gì đó. Họ ăn cơm với đồ ăn thức uống đầy bàn. Họ uống nhiều bia lắm. Có bàn ngồi cả mười người. Vỏ bia Hennecken chất đầy dưới sàn nhà. Tôi nghĩ không biết tầng lớp nầy làm việc gì mà ăn xài dữ vậy. Đây chỉ thuần tuý là quán ăn thôi. Còn những quán nhậu và những nơi chơi bời không biết họ sẽ tiêu xài tới đâu. Họ uống bia nhiều nên mặt người nào cũng đỏ ké. Họ đi ra cửa nhìn tôi trừng trừng, không biết tôi có vẽ gì lạ không, chắc họ không biết tôi từ nước ngoài về, nhưng có lẻ cái thói kẻ cả, mất lịch sự của họ nên nhìn ai cũng trừng trừng vậy.

Buổi chiều tôi một mình ra phố Đà Nẵng, tôi đi taxi xuống Bến Bạch Đằng, đứng nhìn cây cầu bắc sang bên kia An Hải. Cây cầu được coi như là bộ mặt của thành phố Đà Nẵng, là niềm hãnh diện của cấp lảnh đạo thành phố. Một công trình hiện đại, chỉ sau cầu bắc Mỹ Thuận ở miền Tây. Tôi lại nghĩ, đã hơn hai mươi bảy năm, một đất nước không chiến tranh, chỉ xây dựng, thì chuyện xây một cây cầu bắc qua sông như thế nầy đâu có gì mà tự hào. Tôi đi đến trường Phan Chu Trinh, Trường Phan Thanh Giản, trường Sao Mai...Tôi không có cảm giác nào. Tất cả các cửa trường đều đóng im ỉm.

Tôi đi bộ về khách sạn, để tiện ngắm nhìn những nơi quen thuộc ngày xưa của Đà Nẵng một chút. Đi trên đường Ông Ích Khiêm, qua đường Hùng Vương, đi ngang qua chợ Cồn, qua đường Khải Định, một mùi hôi thối từ các cống rãnh, từ ngôi chợ làm vệ sinh không kỹ, những đống rác chất cao để ngoài đường mà xe vệ sinh chưa kịp đến hốt đi, ruồi nhặng bay vo vo đày đặc. Mùi xú uế bốc lên thối cả một khu vực, ai đi ngang qua cũng bịt mủi hay chạy xe thật nhanh. Tôi không chịu thấu nên kêu xe về khách sạn.

Buổi tối, thằng em gọi điện thoại cho tôi, nó nói:

- Em hỏi dưới Hội Văn Nghệ rồi, họ cho em địa chỉ ông Nguyễn Văn Xuân đây. Anh rãnh không em tới chở anh đi đến nhà ổng?

Tôi hỏi lại:

- Em có biết số điện thoại của nhà văn không để anh gọi đến xin phép trước?

- Không có, dưới Hội Văn Nghệ họ nói ổng nghèo lắm, già yếu lắm rồi, ăn còn không đủ làm gì có tiền sắm điện thoại.

- Thôi em đến chở anh đi nhé. Kệ cứ tới thử coi ?

Thằng em đến chở tôi đi. Buổi tối gió mát lồng lộng. Đi lòng vòng một hồi lâu, chúng tôi đến đường Thái Phiên, vào trong một con hẽm sâu mới tìm ra địa chỉ. Căn nhà ở sát tận cùng con hẽm cụt. Nhà vắng quá. tôi bước vào gỏ cửa. Một hai đứa con gái khoảng mười hai mười ba tuổi lấp ló phía trong, tôi hỏi vọng vào:

- Xin lổi đây có phải là nhà giáo sư Nguyễn Văn Xuân?

Tiếng đứa con gái ở trong vọng ra:

- Phải, mà ổng không có ở nhà?

Tôi hỏi tiếp:

- Thầy Xuân đi đâu vậy cháu, bao giờ thầy về ?

Tiếng đáp lại cộc lốc:

- Không biết.

Tôi cụt hứng, quay ra chổ dựng xe thằng em đang chờ. Có mấy người đàn bà đang giặt áo quần ở đó, họ kéo ống nước ra ngoài hẽm và ngồi giặt tự nhiên, họ nói:

- Nhà ông Xuân đó, ổng đi rồi, đừng hỏi mấy người trong nhà, họ không nói đâu.

Tôi hỏi lại:

- Sao vậy chị ?

- Nhà đó khùng hết, ai cũng khùng hết, không ai thương nhau đâu.

Tôi cùng thằng em lên xe .

Tôi nói:

- Thôi mình đi, ngày mai một mình anh tới cũng được.

Thằng em chở tôi chạy vòng vòng thành phố, tôi rũ :

- Mình tìm quán cà phê nào uống đi.

Nó chở tôi đến một quán cà phê ở đường Lê Duẫn, đường nầy mới mở rất rộng. Quán cà phê trên lầu, có máy lạnh. Ngồi trên lầu, nhìn khắp Đà Nẵng, một Đà Nẵng sáng choang ánh điện phía dưới. Thằng em uống ngụm cà phê và hút thuốc. Ở đây tôi thấy ai cũng hút thuốc, hút thuốc tự do, khói thuốc đày đặc cả căn phòng. Thằng em nhìn tôi cười nói:

- Anh muốn đi ‘’xạc vít’’ không?

Nghe lạ, tôi hỏi lại:

- ‘’Xạc vít’’ là gì?

Thằng em cười:

- Là đi chơi gái đó, ở đây có đủ mọi loại hình, mọi loại gái, mọi lứa tuổi. Từ năm chục ngàn trở lên. Bao nhiêu cũng có cả.

- Ở đâu?

- Nhan nhãn khắp thành phố. Từ hồi có chiến dịch bài trừ mãi dâm và thành lập đội 113 di động thì gái thành phố cũng làm ăn di động. Anh thấy đó, mình đi trên đường lúc nào cũng có những chiếc xe gái rà theo. Nếu anh muốn thì mấy cô xáp lại ngay. Thoả thuận nhau vào quán karaokê vừa hát vừa ‘’xạc vít’’, hay vào quán cà phê ‘’chuồng’’ cũng được.

- Cà phê ’’chuồng’’ là gì?

- Là những quán cà phê đèn mờ, làm từng ghế đôi riêng rồi che kín lại. Vào đó uống cà phê chỉ là cái cớ, còn ‘’xạc vít’’ mới là chính, ‘’chuồng’’ là nơi dùng làm bãi đáp đó mà.

Tôi bật cười. Thành phố Đà Nẵng ngày xưa, trước bảy lăm, nơi tôi đã sống và làm việc, đâu có như bây giờ.

Tôi nói:

- Anh không đi đâu, hỏi em cho biết vậy thôi.

Xong chúng tôi ra về.

Chiều hôm sau, sau khi đi thăm Hội An về, tôi đến nhà thầy Nguyễn Văn Xuân.

Hôm nay ban ngày, tôi thấy rõ con hẽm hơn. Con hẽm nhỏ ở đường Thái Phiên, bên trong khách sạn Hàng Không đồ sộ. Tôi đến căn nhà cũ, gỏ cửa. Tiếng người đàn ông vọng ra:

- Ai đó ?

Tôi trả lời:

- Tôi đây, tôi đến thăm thầy Nguyễn Văn Xuân.

Có tiếng người ngồi dậy, rồi tiếng nói:

- Đẩy cửa vào đi, cửa không khóa.

Tôi đẩy cửa vào, vẫn căn phòng hôm qua, bừa bộn những đồ linh tinh trên sàn nhà, trên sofa, nào là giấy, khăn, quần áo, vất bừa bải. Một ông già từ phòng trong lệnh khệnh bước ra. Ông đang mặc áo vào vì ông ở trần, tay ông run run nên ông mặc áo rất khó khăn. Ông bước ra ngoài phòng khách mà chân đi không nổi. Ông đi như lếch từng bước ngắn. Thấy vậy, tôi liền bước vào phòng trong để dìu ông. Tôi vừa dìu ông vừa hỏi:

- Thầy là thầy Xuân?

- Dà.

Tôi biết chắc ông là thầy Nguyễn Văn Xuân nhưng cũng hỏi, vì hồi ở Đại Học Quảng Đà, trước bảy lăm, tôi đã gặp ông một vài lần. Hồi đó, ông còn trẻ, khoảng trên năm mươi, còn phong độ, đi dạy học thầy bận áo sơ mi trắng, thắt cà vạt trông rất chững chạc. Bây giờ, trước mặt tôi là một ông già trên tám mươi tuổi, gầy còm, ốm yếu, bịnh hoạn. Đôi chân ông khẳng khiu, teo lại như chỉ còn 2 khúc xương, không còn chút thịt nào. Đầu tóc ông hói đậm, tóc lưa thưa, răng rụng gần hết. Ông bước đi không được, tôi phải dìu ra ghế. Khi ông đã ngồi trên ghế, tôi suy nghĩ và tính toán : ‘’Ông già quá, bịnh quá, khổ sở quá thế nầy thì mình nên biếu ông chút quà, thêm chút tiền của anh Phạm Xuân Đài nữa cho ông vui ‘’. Nghĩ thế, tôi liền nói với ông:

- Con ở Mỹ về, về thăm Đà Nẵng, ghé thăm thầy, anh Phạm Phú Minh, chủ bút tạp chí Thế Kỷ 21 ở bên đó, có gởi biếu thầy chút đỉnh. Thầy biết anh Pham Phú Minh không?

Thầy Xuân trả lời:

- Không biết, nhưng mà có nghe.

Tôi lấy tiền đưa cho thấy, thầy cầm lấy và kêu vào trong:

- Hải ơi, cầm tiền.

Một người con trai khoảng trên hai mươi tuổi ở trần, ra cầm tiền đi vào trong, không nói một lời nào. Tôi hỏi tiếp:

- Thầy có còn viết lách gì không?

Ông trả lời :

- Già rồi còn sức đâu mà viết, mà lúc nầy bịnh hoạn quá, yếu quá. Nhà phát hành Đà Nẵng có xin phép tôi và cho in Tuyển Tập Nguyễn Văn Xuân. Họ cho tôi 20 quyển bảo tôi bán lấy tiền thay tiền nhuận bút. Tôi bán được rất ít nên còn đó.

Ông lấy một quyển sách ra cho tôi coi, Tuyển Tập Nguyễn Văn Xuân, in dày khoảng trên 500 trang, bìa cứng, bìa có hình ông. Quyển sách trông đẹp, tôi hỏi:

- Mỗi quyển bán bao nhiêu thầy?

- Một trăm ngàn.

- Thầy bán cho con 2 quyển.

Ông gọi vào trong:

- Hải ơi, lấy hai quyển sách.

Người con ông đem ra hai quyển sách, trong lúc tôi đưa tiền cho người con, ông ngồi cặm cụi ghi : ‘’Thân biếu anh TYH với cảm tình của tác giả’’.

Tôi nhận sách và hỏi tiếp:

- Ở đây thầy sống ra sao, Hội Văn Nghệ thành phố Đà Nẵng có gúp đở thầy gì không?

Ông lắc đầu, nói:

- Tôi sống qua ngày, bữa đói bửa no.

Tôi nói tiếp:

- Anh Thành Tôn ở Mỹ có gởi lời thăm thầy.

Ông hỏi lại:

- Thành Tôn qua Mỹ rồi à, thế mà tôi không biết.

- Anh Thành Tôn nói trước khi đi Mỹ có ghé thăm thầy mà.

- Thế hả, tôi quên hết, giờ già rồi có nhớ được gì đâu.

Tôi nhờ người con thầy chụp cho tôi và thầy Xuân bức hình làm kỷ niệm, thầy ngồi trên ghế thấp, tôi phải đứng cúi sát thầy. Thầy cười rất hiền lành, bức hình đó khi rửa xong, tôi thấy thầy ốm quá, thầy bận quần xà lỏn nên thấy rõ đôi chân thầy như hai khúc xương, chỉ có nụ cười là còn tươi.

Tôi rời nhà thầy Xuân mà thấy lòng ngùi bùi vô hạn. Thầy là một nhà văn lớn của Việt Nam, cây cổ thụ của văn học Quảng Nam Đà Nẵng, mà bây giờ đời sống thấy hiu hắt quá. Căn nhà tối om, không quạt máy, trên giường thì treo cái mùng để thòng xuống, trời bên ngoài nóng như đổ lửa, với tuổi già trên tám mươi tuổi làm sao mà thầy sống nổi ? Nhưng với khả năng và tấm lòng tôi, tôi chỉ làm được chừng đó công việc.

Chiều hôm đó tôi dọn đồ đạc để vào Sài Gòn bằng tàu lửa thống nhất. Chị tôi và mấy đứa cháu trong Tam Kỳ ra đưa tôi đi. Tôi mời tất cả đến cái quán trước nhả ga Đà Nẵng để ăn. Quán có món chim cút chiên bơ trông rất hấp dẫn. Tôi kêu bia cho tôi và thằng cháu lớn uống. Khi dĩa chim cút đưa ra. Tôi uống một ngụm bia. Bó con chim cút chiên vô miệng và nhai, có mủi thum thủm. Tôi nhả ra và nói:

- Sao chim cút có mùi gì nghe hôi quá.

Thằng cháu cũng nhả miếng chim cút ra và nói:

- Con cũng nghe hôi quá, chắc chim cút hôm qua bán không hết, họ chiên lại bán cho mình đây, để con đem vô trong đổi lại.

Thằng cháu bưng dĩa chim cút vào trong, một lúc sau nó đi ra, miệng chửi thề:

- ĐM, đã bán chim cút thiu, bảo đổi dĩa khác mà không chịu đổi, còn nói mình ăn rồi thì ráng chịu. Làm ăn gì khốn nạn quá.

Tôi cũng bất mãn ra mặt nhưng không nói gì, vì biết có nói cũng vậy thôi. Tôi bèn kêu tính tiền rồi đi vào trong nhà ga lo chuẩn bị lên tàu. Lên tàu, tôi ngoắc tay từ giả mọi ngưởi. Chị tôi nhin theo khóc.

Xin giã từ Đà Nẵng.

Trần Yên Hòa

Nguồn Xứ Quảng





(*) XQ ghi chú:

Bài thơ Hai Miền Thương của Tường Linh


Quê hương tôi bên ni đèo Ải (Hải vân)
Nhấp nhô bóng thuyền cửa Đại,
Già nua nếp phố Hội an
Ngũ hành sơn năm cụm ngắm sông Hàn
Đêm Đà nẵng vọng về cơn sóng biển
Chùa Non nước trầm tư hương khói nguyện
Bún chợ Chùa thương nước mắm Nam ô
Có ai về Trung phước giữa mùa ngô
Thăm quê ngoại Đại bường (Đại Bình) cam đỏ ối
Sớm Duy xuyên tơ vàng giăng ngập lối
Chiều Điện bàn xe đạp nước thay mưa
Sông Thu bồn chẳng thiếu đò đưa
Bùi khoai Tiên lãng mát dừa Kiến tân.


Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn