BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 37727)
(Xem: 34366)
(Xem: 33654)
(Xem: 25071)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Bầy Sư Tử Lãng Mạn (Chương 10 --> Hết)

25 Tháng Giêng 201612:00 SA(Xem: 618)
Bầy Sư Tử Lãng Mạn (Chương 10 --> Hết)
50Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
00


Chương 10


Người chấp pháp lắc đầu:


– Em chưa tiến bộ chút nào!


Trí ghẻ đưa tay ra sau lưng gãi xoàn xoạt:


– Tôi thấy chú cũng chưa tiến bộ chút nào! Ba lần rồi, chú gọi tôi làm việc chỉ hỏi mỗi một câu.


Người chấp pháp cười:


– Tại em không chịu thành khẩn. Cứ thành khẩn khai báo đi, sẽ về sớm sum họp gia đình.


Trí ghẻ bỉu môi;


– Gia đình! Gia đình! Gia đình tôi tan nát rồi, chú ạ! Tôi không còn chốn thèm về nên không cần về.


Trí ghẻ nói đúng. Nó không còn gia đình nữa. Cuộc đời nó sẽ là một cuốn tiểu thuyết đầy tình tiết lâm ly hằn rõ dấu tích của thời đại, nếu nó kể cho một nhà văn. Hơn cả David Copperfield của Dickens, Rémy của Malot về hẩm hỉu ấu thời và, dĩ nhiên, Tom Sawyer, Huckle Berryfinn của Twain không được quyền ví với nó. Trí ghẻ, tù danh của Vũ Đình Trí, sinh năm 1958. Nó vừa biết nói thì bố nó đã bỏ mẹ nó đi giang hồ tuyệt tích. Hai tuổi, mẹ nó gửi bà con nuôi nó rồi đi luôn. Sáu tuổi, mẹ nó về dẫn nó đến giới thiệu với một người đàn ông và bảo người này là bố nó. Vậy thì Vũ Đình Trí đã có bố,một ông bố ít nói mà tốt. Nó được cắp sách tới trường. Tám tuổi, Trí đã thấy người ta đảo chính, chỉnh lý, xuống đường, tự thiêu, đàn áp răm rắp. Muời tuổi, nó thấy Việt cộng đánh Sàigòn, người chết, nhà cháy. Riêng những biến cố lịch sử tang tóc ấy đã khiến nó ăn đứt các “nhân vật tuổi thơ” trên thế giới. Qua vụ Mậu Thân, bố nó bị động viên vì bố nó lỡ tự học và đậu bằng tú tài. Cứ để làm anh thư kýquèn ở Thư Viện Quốc Gia lại khỏi phảiđi lích. Thư viện thiếu nhân viên rành việc, mãn khoá Thủ Đức,bố nó được biệt phái về nhiệm sở cũ.


Trí không có em nên bố nó thương nó lắm. Trí được bố dắt vào thư viện chơi. Cậu bé mê không khí thư viện. Ngoài giờ học, Trí đóng đô ở thư viện, đọc sách báo say sưa như một độcc giả lớn tuổi. Nó lén bố, đọc cả những cuốn sách mà nó chẳng hiểu gì. Riết rồi nó bị “tẩu hoả nhập ma”,mở miệng toàn danh từ hóc búa. Nó lây bệnh nghĩa, lầm lỳ như những trang sách. Ngày 30-4-1975, Vũ Đình Trí 17 tuổi. Nó đi xem giải phóng. Nó sợ hãi cờ giải phóng. Và nó cảm giác cái gì thật xót xa khó diễn tà khi nhìn người ta xé lá cờ quen thuộc mà nó gọi là quốc kỳ.


Nửa tháng sau giải phóng, một người đàn ông đội nón cối, mang giép râu, đeo súng lục đến nhà nó, xưng là cha đẻ của nó. Bố nó không chối cãié Mẹ nó không chối cãi. Mẹ nó khóc sưng mắt. Vậy là Vũ Đình Trí có bố Việt cộng. Nó nhất định không tin. Bố nó, mãi mãi, chỉ là ông thư ký thư viện.


Tháng 7-1975, ông bố thư viện của nó đi học tập cải tạo. Tháng 8, ông bố Việt cộng “tiếp thu” nhà nó. Tháng 9, mẹ nó tự tử. Tháng 10, nó bỏ nhà đi hoang, tham gia tổ chức “đánh phá phi trường Tân Sơn Nhất” bị bắt và kết tội “đánh phá phi trường Tân Sơn Nhất”. Bị nhốt ở quận 3 hai tuần, bị đánh đập sưng vù mặt mũi,bị ghẻ lở. Chuyển sang đề lao Gia Định tháng12-1975, ghẻ lở đầy mình. Có tù danh Trí ghẻ. Đã làm bản tự khai. Hôm nay là lần thứ ba làm việc với công an chấp pháp.


– Em nghĩ lại coi, Trí.


– Nghĩ gì?


– Ba em là người chiến sĩ cách mạng. Gia đình em vẻ vang quá.


– Ba tôi là ngụy. Gia đình tôi tan nát vì cách mạng. Tôi không thích làm con Việt cộng!


– Nhưng em vẫn là con em cách mạng.


– Không, tôi ngụy.


– Em ngụy bao giờ nào ?


– Tôi ngụy từ sơ sinh. Trên ngụy địa, tôi là ngụy dân. Ngụy dân hèn mạt vẫn hơn Việt cộng.


– Chắc em giận vì má em chết. Có lẽ, đó là lỗi của ba em, không phải lỗi cách mạng.


– Việt cộng không là cách mạng. Tôi biết đọc sách, đừng tưởng tôi nhóc con ngu đần.


– Theo em, thế nào là cách mạng?


– Giản dị lắm, theo tôi và theo dân chúng Sàigòn, Việt cộng cút về Bắc kỳ hết là cách mạng.


– Em gàn dở quá.


– Vậy đừng gọi tôi làm việc nữa.


– Cách mạng muốn giúp em trở về đời sống bình thường. Do đó cần làm việc với em. Em bị bọn phản động đầu độc nặng nề.


– Tôi tình nguyện đi theo phản động.


– Em chống cả ba em à?


– Ba nào?


– Ba ruột thịt của em.


– Sinh tôi ra,vất tôi sống lây lất là một tội ác, là kẻ thù của tôi, là Việt cộng. Chưa đủ sao, còn bắt bố tôi bỏ tù, bắt mẹ tôi chết. Tôi khước từ ruột thịt với Việt cộng.


– Ba em vì Đảng, vì Cách Mạng, vì Nhân Dân đành tâm bỏ em.


-Bỏ tôi cho ngụy nó nuôi dưỡng tôi, thương yêu tôi hả?


– Ba em sắp đến đây gặp em.


-Tôi không thèm gặp ông ta.


– Em dã man, không tình phụ tử gì à?


– Phụ vô lương thì tử vô tình!


Người chấp pháp xoay qua chuyện khác:


– Em định đánh phá phi trường Tân Sơn Nhất?


Trí ghẻ luôn tay gãi gáy:


-Phải.


Người chấp pháp cười thành tiếng:


– Làm sao em đánh nổi phi trường Tân Sơn Nhất?


Trí ghẻ nhún vai:


– Nếu không bị bắt, tôi đã đánh rồi.


– Mà thắng nổi không?


– Cứ đánh đã, thắng bại tính sau


– Bây giờ thả em ra, em còn nghĩ chuyện đánh phá phi trường Tân Sơn Nhất không ?


– Tiếp tục đánh phá.


– Đánh phá cách nào?


– Cứ thả ra coi.


– Thả thì sẽ thả nhưng em đánh phá với ai?


Trí ghẻ khựng lại. Nó suy nghĩ vài giây rồi nói:


– Tôi đã khai hết. Họ cũng bị bắt một lượt với tôi. Chú có đầy đủ tên tuổi họ mà.


Người chấp pháp gật gù:


– Ừ nhỉ! Em không được thả ra, một mình em ra ngoài, em đánh phá phi trường Tân Sơn Nhất với ai?


Trí ghẻ cười:


– Tôi đi kiếm người đánh. Thiếu gì. Dân Sàigòn đông lắm. Chừng hết Việt cộng mới hết người đánh.


Người chấp pháp ngọt ngào:


– Tôi cho em đi biệt giam em sẽ hết bị lũ phản động trong phòng tập thể rỉ tai nhồi nhét tư tưởng xấu xa. Em phải nhớ em mang giòng máu cách mạng. Máu cách mạng không thể xen lẫn máu phản động hôi hám.


Trí ghẻ về cachot. Nó vừa gãi ghẻ vừa hát nhảm , Những khi nó chán nằm ngủ. Rồi người ta lại gọi nó làm việc. Đây là lần thứ tư . Trí gặp ông bố Việt cộng ngồi ở phòng chấp pháp. Nó tỉnh bơ nói với chấp pháp:


– Làm việc thì tôi làm, gặp ai khác thì tôi về biệt giam. Tôi con mồ côi, mẹ chết, bố đi tù rồi. Tôi chẳng còn liên hệ gia đình gì với ai cả.


Người chấp pháp dụ dỗ:


– Mình làm việc, Trí ạ!


Trí ghẻ nói:


– Tôi định khai báo thêm nhưng chỉ khai báo với riêng chú thôi.


Ông bố Việt cộng buồn bã:


– Ba mang quần áo, thuốc ghẻ, thuốc bổ và quà cho con.


Trí ghẻ nín thinh.


– Ba mong con thành khẩn nhận tội để về sống với ba, ba sẽ săn sóc con. Rồi con sẽ đi Liên Xô học.


Trí ghẻ vẫn nín thinh. Một lát, nó hỏi người chấp pháp:


– Ông này làm việc với tôi hả chú?


Người chấp pháp vỗ vai nó:


– Cháu đừng giận ba cháu nữa


Trí ghẻ hất tay người chấp pháp khỏi vai mình:


– Tôi đã nói với chú, tôi không hề có bố Việt cộng. Bố tôi là sĩ quan ngụy, đi tù rồi. Mười lăm năm tôi sống bằng cơm nước ngụy, thuốc thang ngụy, tình nghĩa ngụy. Ngụy đi tù, tôi đi tù theo. Tôi không cần sự thương hại của Việt cộng.


Ông bố Việt cộng nổi giận:


– Mày dám nói thế sao?


Trí ghẻ tỉnh bơ:


– Tù thì gì mà không dám!


Người chấp pháp yêu cầu ông bố Việt cộng bình tỉnh. Rồi ông mời ông bố Việt cộng ra khỏi phòng. Bắt đầu màn giáo dục luận lý cộng sản.


– Con chim có tình, con chó có tình, em nghĩ kỹ đi.


– Con chim mớm mồi cho con nó, dẫn con nó đi kiếm mồi, chỉ dẫn con nó cách kiếm mồi. Con chó cho con nó bú, bao vệ con nó tới khi khôn lớn. Nó có tinh, dĩ nhiên.


– Ba em vì nhiệm vụ cách mạng.


– Ba tôi là ngụy.


– Là cách mạng!


– Là quốc gia.


– Là ngụy!


– Đúng là ngụy, tôi đã nhận mà!


– Em bị mất trí chăng?


– Tôi tỉnh như sáo sậu,


– Thôi em về, hôm khác làm việc. Mangbị quà của ba em về biệt giam luôn.


– Tôi không nhận quà cáp của Việt cộng.


– Của ba em, của tình thương yêu đấy.


– Không phải! Của Việt cộng, của mua chuộc.


Trí ghẻ về tay không. Người quản giáo xách bị quà theo sau nó. Cửa cachot mở ra. Người quản giáo đẩy bị quà vào trước. Ổ khoá bóp lại. Trí ghẻ đập cửa,báo cáo ầm ỷ .


Cửa cachot vừa hé mở,nó tung cái bị đổ tung toé phía ngoài.


– Tôi không thích thọ ơn Việt cộng!


Nó làm việc lần thứ năm, thứ sáu, thứ bẩy… Thái độ của nó trước sau như một. Đến nỗi chấp pháp tưởng Trí ghẻ nửa điên nửa khùng. Nhưng người ta vẫn không tin mấy thằng nhãi ranh dám âm mưu đánh phá phi trường Tân Sơn Nhất. Người ta nghĩ rằng chúng nó có lãnh đạo hẳn hoi. Người ta muốn khai thác Trí ghẻ. Hễ Trí ghẻ thành thật khai báo là xong hết. Đồng bọn của nó, trước sau, thú nhận làm theo sự chỉ đạo của Trí ghẻ. Vậy tạm coi là Trí ghẻ là kẻ chủ xướng vụ đánh phá phi trường Tân Sơn Nhất. Nó nổi tiếng ở đề lao Gia Định. Trí ghẻ là một triết tai chống lại thuyết…”Lá rụng về cội!” Các nhà nghiên cứu Mác-xít sẽ phải nghiên cứu nó. Và thế giới tự do cũng sẽ phải nghiên cứu trường hợp của nó. Những ông cò kháng chiến chắc chắn sẽ chán nó lắm. Vì nó mới đích thực anh hùng. Còn họ chỉ là những anh hùng tự phong xuôi giòng chiến đấu trên sông Potomac, trên sông Mississipi, trên sông Seine, trên sông Danube và chỉ biết nghĩ đến phương thức đàn áp tuổi trẻ Việt Nam mai này. Lịch sử nào cũng có những người nuôi chí chiến đấu trong ngục tù và, luôn thể, những người nuôi chí trong các hộp đêm hải ngoại. Những người nằm tù thì đói khổ nhưng không hề lên tiếng xin ăn. Những người bên ngoài thì phè phỡn nhưng không quên lạc quyên, xổ số chíến đấu! Sự khác biệt bên ngoài và bên trong ở đó. Và đau đớn hơn một chút, bên ngoài tự do, bên ngoài chưa dám ở lại nhìn rõ mặt kẻ thù, chưa biết nỗi ê chề của những người trong tù mà cứ lên tiếng đánh giá, phán xét, mỉa mai,thị phi, bêu nhục. Không, đó chẳng phải là sự đau đớn. Mà là sự khốn nạn không thể tha thứ. Những người ấy không thể ví với mụn ghẻ của Trí ghẻ. Khốn nạn hơn, hạng người ở lại, cam đành cộng tác với kẻ thù, nhận ân huệ của kẻ thù, hoan hỉ nhận thêm ân huệ chót của kẻ thù là khúm núm cầm miếng giấy xuất cảnh ra đi chính thức rồi cũng vỗ ngực mình căm thù cộng sản và bày đặt thị phi những người khắc khoải trong tù ngục quê nhà. Hạng người này tanh tưởi hơn mùi ghẻ mủ của Trí ghẻ! Có lẽ, phải dùng một pho Xú Thư ghi rõ tên tuổi, hành động của bọn gián đêm để phân biệt rõ ràng người công chính với bọn giả hình trên bước đường tạm dung buồn bã.


Lịch sử, nhất là ở khúc rẻ ghê gớm của nó, thường làm con người lớn lên, khôn ra. Và lịch sử sau 30-4-75 đã làm tuổi trẻ Việt Nam lớn lên, khôn ra. Tuổi trẻ Việt Nam sáng mắt nhìn suốt kính đen của lãnh tụ phù thủy đạo diễn để biết đạo diễn mù mà tự mình quyết định lấy thân phận mình, thân phận dân tộc mình. Buồn thay, bên ngoài quê hương quằn quại dưới gót thù, một số những người tuổi trẻ xa xứ từ lâu; những người tuổi trẻ không hề trực diện chiến tranh Việt Nam 20 năm; những người tuổi trẻ không hề nếm mùi dùi cui,phi tiễn, lựu đạn cay của bọn bảo vệ chế độ đàn áp tuổi trẻ xuống đường đòi hỏi tự do dân chủ, công bình, quyền sống… lại suy tôn, ủng hộ bọn đã đàn áp thế hệ mình nghiệt ngã. Số người tuổi trẻ ấy rất nhiệt tình nhưng họ chưa thể nhìn suốt kính đen của phù thủy để biết mặt phù thủy là mắt cò, mắt cớm! Trí ghẻ còn nhỏ bé, nó đã nhìn suốt kính đen của cộng sản.


Lần cuối cùng, Trí ghẻ làm việc với người chấp pháp từ Hà Nội vào. Ông ta ngụy trang công an. Thực ra, ông ta là người nghiên cứu tâm lý tuổi trẻ Sàigòn. Trung ương Đảng Cộng Sản và Viện Kiểm Sát nhân dân cử ông vô gặp Trí ghẻ.


– Em không muốn về, tại sao vậy?


– Vì tôi không có chỗ về.


– Chỗ nào em mong muốn về?


-Nó ra sao?


– Nó không còn cộng sản!


– Này em, em đừng nuôi ảo tưởng. Với cộng sản, một là em đầu hàng, hai là em nằm mãi trong tù, không ai đánh thắng nổi cộng sản đâu. Mỹ còn phải thua nữa là em.


– Vậy thì tôi cần cố gắng hơn.


– Em đánh cộng sản bằng cái gì?


– Tôi sẽ cho chú biết khi tôi đánh.


– Bao giờ?


– Bao giờ tôi rời đây.


– Không bao giờ cả đâu.


– Có chứ. Đã 30-4-75, sẽ 30-4 sắp tới.


– Ai bảo em thế?


– Trái tim tôi bảo tôi thế. Tôi đánh Cộng sản vì tôi thích. Ngoài ra không vì cái gì cả.


– Những đứa bằng tuổi em đều giống em à?


– Cái đó chú hỏi từng đứa. Tôi chỉ biết tôi thôi.


– Tại sao em chọn phi trường Tân Sơn Nhất là mục tiêu khởi sự?


– Vì lão Việt cộng nhận tôi là con làm việc ở đó!


– Em có nghĩ em sẽ chết trong tù không?


– Sức mấy mà chết. Tôi đi chiến đấu sớm hơn ông hồ chí minh nhiều năm, tôi sẽ về sớm hơn ông ấy.


Cộng sản chịu thua Vũ Đình Trí, tù danh Trí ghẻ. Từ đấy, Trí ghẻ không còn cơ hội nào làm việc với chấp pháp nữa. Nó nằm cachot 14 tháng. Lần cuối, vì Trí ghẻ dám ví mình như hồ chí minh nên nó bị còng cả chân lẫn tay 2 tháng. Sau đó, Trí ghẻ ra phòng tập thể. Nó không tin rằng nó sẽ chết rũ trong tù. Trí ghẻ nuôi mộng đánh thắng Cộng sản. Cộng sản bảo nó nuôi ảo tưởng vì không ai đánh thắng nổi Cộng sản. Trí ghẻ đã khiêm tốn hứa hẹn: Vậy thì tôi cần cố gắng nhiều hơn.


Trí ghẻ giữ đúng lời hứa.


***


Chương 11


Du đãng có thể phục quốc không nhỉ?


Đó là câu hỏi của Dzũng quan tài. Tên thật của nó: Phan Tiến Dzũng. Trong tù nó nói Phan Tiến Dzũng ngon hơn Văn Tiến Dũng. Anh có ở phòng 6 khu C đề lao Gia Định năm 1976 không ? Nếu đã ở đó, anh phải biết Dzũng quan tài. Hoạ sĩ Choé, sau phiên họp phòng cuối tuần, đã mượn bút làm biên bản của thư ký tù, và tặng Dzũng quan tài bức hí hoạ chân dung nó. Dzũng nhỏ con, trông rất thư sinh, nhưng phong cách của nó là tay du đãng xịn , đại ca của nhiều thằng du đãng khác. Ngực nó không hề có xâm quan tài có hình cây nến cháy với giòng chữ :”Chưa thấy quan tài chưa nhỏ lệ”. Nó xác định tên giang hồ của nó vì nó không sợ quan tài.


– Du đãng có thể phục quốc không nhỉ?


Quý dao khó chịu:


– Mày hỏi hoài câu này. Thằng nào mà chẳng phục quốc được. Du đãng phục quốc mới sôi nổi. Việt cộng nó chơi , các bố phục quốc lớn bé chỉ chơi văn. Văn chống võ là kềnh. Truyền đơn thì nhằm nhò con mẹ gì! Phải dùng cái thuật của nhà Mộ Dung.


Dzũng quan tài búng mẩu thuốc văng xa:


– Đúng, lấy AK của nó bắn vô đầu nó. Cám ơn cách mạng, du đãng lại có trò chơi mới hay hơn trò chơi của Trần Đại, James Dean Hùng. Nhưng mà trò chơi nguy hiểm đấy. Nghìn lần chưa chắc có một lần chín. Mày nghĩ sao?


Qúy dao nhổi toẹt bãi nước miếng:


– Bọn tướng lãnh bỏ lính cút hết; bọn thủ tướng, bộ trưởng, nghị sĩ, dân biểu, bỏ dân cút hết; bọn lãnh tụ đảng phái bỏ đảng viên cút hết, du đãng rất nên gánh trách nhiệm đánh cộng sảng cứu nước . Lúc này thằng nào đám phất cờ lạm lại lịch sử thằng ấy mới ngon.


Dzũng quan tài chép miệng:


– Mình vẫn chỉ là du đãng!


Quý dao đưa ngón tay quẹt mép:


– Quan trọng con mẹ gì! Nữa mày có ứng cử tổng thống không mà lo sửa chữa tiểu sử? Biết chọn đường đi thì du đãng là anh hùng hơn cả anh hùng. Đâm thuê chém mướn cho dân tộc cũng là sự nghiệp phi thường. Giết ba cái thằng cường hào ác bá, ăn trộm ăn cướp của dân chúng, in lậu sách của các nhà văn mới được gọi là những trang hảo hán của thời đại thôi. Giết cộng sản, đập nó tan nát sẽ được phong làm Đấng Cứu Thế.


Dzũng quan tài khen bạn:


– Về quân sự, mày lúc nào cũng số một. Vậy mình chơi, chơi thật bạo.


Qúy dao vuốt tóc:


– Dĩ nhiên. Mình chơi cả văn lẫn . Văn với đồng bào. với cộng sản. Dân Sàigòn lao đao hết rồi. Sau vụ đổi tiền, xóm tao nghèo mạt. Nó hốt tiền của dân, mình đòi lại giùm họ. Đấy, văn chương cho đồng bào để lấy điểm và để lẩn trốn dễ dàng. Tao đã nghiên cứu ngân hàng của nó. Ngon hơn ăn hủ tíu Thanh Xuân. Vẫn dùng cái thuật Mộ Dung Cô Tô thôi.


Dzũng quan tài quẹt que diêm châm điếu thuốc mới:


– Chiều nay gom anh em của mình lại.


Qúy dao gật đầu:


– Sống với cộng sản là chờ đi tập trung cải tạo là kể như chết rồi… Chơi bạo chết bạo sướng nhiều. Đồng ý, chiều nay…


Buổi chiều tháng 12 năm 1975, một nhóm thanh niên tụ tập ở căn nhà gần cổng xe lửa số 6, đường Nguyễn Hùynh Đức. Họ đàn sáo, ca hát như thể họ tập dượt để liên hoan chào mừng hai ngày lễ lớn sắp tới. Nhạc cách mạng vang vang lối xóm. Công an khu vực ngang qua, bằng lòng lắm. Phần mở đầu của bản trường ca không đến nổi dở. Dzũng quan tài vỗ tay ba tiếng:


– Qúy dao muốn nói chuyện với chúng mày. Tao cần nói trước , sẽ không có ân oán giang hồ gì giữa anh em nếu thằng nào bỏ cuộc chơi. Tao làm khá mà nói dở. Qúy dao nói giùm những điều tao muốn nói.


Qúy dao nhả khói thuốc:


– Chuyện bình thường thôi. Trước kia mình làm du đãng, bây giờ mình làm anh hùng. Trước kia mình chống cảnh sát, bây giờ mình chống cộng sản . Từ thảo khấu bước lên hàng hảo hán, con đường ngắn xỉn à. Nếu chúng mày đã đọc Thủy Hử, tất chúng mày đều rõ. Vậy đó, chỉ cần dựng lá cờ khởi nghĩa, bọn thảo khấu chống luôn triều đình, vì hạnh phúc của toàn dân, đâu thèm chống ba thằng quan lại địa phương nữa. Bọn cộng sản cũng giống nhu bọn Thủy Hử, cũng biết dựng lá cờ khỏi nghĩa. Cứ đọc tiểu sử của anh hùng cộng sản đi. Hồ Chí Minh là bồi tầu thủy. Tôn Đức Thắng là bồi tầu thủy, khác chi thằng Thiên Thời ăn trộm gà, thằng Trương Thanh bán bánh bao nhân thịt người . Những thằng tài ba lỗi lạc, tư cách đàng hoàng cỡ Trương Xung, Võ Tòng…thì bị cái triều đình thối nát dồn chúng nó lên Lương Sơn Bạc hoặc bị bọn Lương Sơn Bạc bầy mưu bẩn giết hết vợ con người ta, vu vạ triều đình để người ta phải …vô Đảng! Cộng sản rập khuôn Lương Sơn Bạc Cái hay của chúng nó là biết dựng cờ khởi nghĩa. Hễ biết dựng cờ khởi nghĩa thì thằng ăn cướp thành vị anh hùng. Ba cái thằng quốc gia đếch biết dựng cờ khởi nghĩa. Chúng nó chỉ biết vẽ cờ, may cờ, kéo cờ, chào cờ thôi. Do đó,chúng nó chuồn sang Mỹ hết rồi. Cái thế dân tộc hôm nay rơi xuống vai bọn trẻ. Khắp Sàigòn, Phục Quốc nổi lên chống chế độ cộng sản . Mấy em nữ sinh chân yếu tay mềm còn dám đương đầu với cộng sản, du đãng đành uống rượu chửi thề sao? Chiều nay tụ tập ở đây để trả lời câu hỏi ấy.


Hạnh búa nói:


– Tao trả lời ngay đây. Tao đã là Phục Quốc nhưng rắc truyền đơn mà không chết cộng sản, tao thèm chơi búa.


Tâm xích nói:


– Tao khoái siết cổ cộng sản.


Tất cả đồng ý chơi cuộc chơi mới. Qúy dao vê nát cái đầu lọc điếu thuốc đã hút hết:


– Du đãng bị xếp vào tội hình sự, hèn mọn lắm. Vậy nếu dính bẫy nhớ khai tôi chống phá cộng sản, sẽ được xếp vào hàng ngũ tù nhân chính trị. Điều thứ hai: từ nay không chơi dao bút, xích khoá nữa mà chơi bằng đầu và súng. Súng giết cộng sản ít, đầu tiêu diệt luôn cộng sản. Nhưng rất cần súng để hậu thuẫn đầu. Chúng ta cũng cần tiền,không phải để uống rưọu, chơi gái mà để làm sáng tỏ cuộc chơi. Nên, sẽ cướp các ngân hàng nhỏ. Mỗi thằng mày đều có một lô đàn em, hướng dẫn chúng nó trò chơi mới. Chúng ta cần súng. Có tiền tha hồ mua súng của bộ đội vì bộ đội ham radio, đồng hồ… Nếu phải giết người cướp súng thì giết công an, đừng giết bộ đội tốt dỉn khù khờ. Tao sẽ thảo một bức Chiến Thư, in đàng hoàng rồi rắc vung vít thành phố. Thế là du đãng dựng cờ khởi nghĩa vì dân tộc, tổ quốc, tự do, dân chủ mà đánh cộng sản. Có thằng nào phản đối không ? Nếu không thì về sửa Honda cho ngon lành. Châm ngôn của chúng ta: “Xe trục trặc trong cuộc chơi là mình chết”.


Sau này, lịch sử sẽ ghi rõ về buổi chiều tháng 12 năm 1975, buổi chiều du đãng lãnh trách nhiệm đánh cộng sản thay thế bọn tướng tá đào ngũ trước 30-4-75; thay thế bọn dân biểu, nghị sĩ bỏ nước, bỏ đàn em chạy trốn ra ngoại quốc. Và thay thế luôn cả người Mỹ đã đầu hàng tủi nhục.


Chiến Thư của du đãng:


“Hãy nhìn Sàigòn hiện tại, bọn cộng sản xâm lược! Chúng mày bảo Mỹ nó muốn đưa dân tộc ta trở về thời kỳ đồ đá. Chúng mày bảo Mỹ nó tạo dựng phồn vinh giả tạo ở Miền Nam. Chúng mày bảo Mỹ nó đầu độc Miền Nam bằng tư tưởng thực dân mới. Chúng mày bảo Ngụy tay sai gian ác, tiếp tay Mỹ lập ra những nhà tù để giam nhốt các nhà ái quốc, để tra tấn các nhà ái quốc bằng những dụng cụ phi nhân bản. Nói tóm lại, chúng mày đẩy Mỹ Ngụy xuống hầm phân, xã hội Mỹ Ngụy là địa ngục, xã hội chúng mày là thiên đàng. Chúng mày nói nhiều quá vì chúng mày là vẹt. Đủ nghe rồi, bây giờ nghe chúng tao nói.


Từ chúng mày vào Sàigòn thì chỉ có nước mắt và nước mắt. Chúng mày, từ biển máu, sáng tạo ra đại dương nước mắt và Sàigòn đã ngụp lặn giữa đại dương nước mắt sóng gió chủ nghĩa cộng sản. Trong biển máu, con người chết ngon lành bằng viên đạn, bằng lưỡi mã tấu. Giữa đại dương nước mắt, con người chết sặc sụa, chết sợ hãi, chết kinh hoàng, chết tính từng giây. Chúng mày phi nhân bất nghĩa trong bóng tối để đại nghĩa ngoài ánh sáng. Chúng mày cướp nhà cướp của thì nói là tiếp thu, tiếp quản. Chúng mày bắt bỏ tù thì nói đưa đi học tập. Chúng mày bòn rút thì nói thay thế. Chúng mày độc tài, áp bức,x xiềng xích thỉ nói dân chủ cộng hoà, độc lập, tự do, hạnh phúc. Từng ấy tội là tạm đủ, nói rông dài sẽ biến thành bầy vẹt chủ nghĩa.


Chúng tao, vốn là những thằng tuổi trẻ bất mãn cuộc đời vì chúng tao thiếu lý tưởng để làm đẹp cuộc đời nên đành đi hoang và bị cuộc đời ngộ nhận gọi chúng tao là du đãng. Bọn thống trị Sàigòn cũ chẳng ưa gì chúng tao. Chúng nó truy nã chúng tao ráo riết. Tuy nhiên, chúng tao thấy chúng mày tố cáo tội ác Mỹ Ngụy mà chính chúng mày ác độc gấp mười lần Mỹ Ngụy nên chúng tao bốc máu nghĩa hiệp, quyết vì lương dân mà dựng cờ thế thiên diệt bạo.. Ấy là chúng tao cho chúng mày biết Miền Nam hào kiệt cơ man như lá rụng,chưa phải lúc nên chưa vùng dậy thôi, chúng tao chỉ là thứ tốt dỉnh trong rừng hào kiệt Miền Nam..


Báo cho chúng mày, bọn cộng sản xâm lược hay, đấng trượng phu không ưa đánh lén, chúng tao công khai gửi chiến thư. Để đồng bào trong nước , ngoài nước hiểu rõ tấm lòng của du đãng. Để thế giới hiểu rõ rằng, người Mỹ đầu hàng ở Việt Nam không có nghĩa là cuộc chiến đấu tiêu diệt cộng sản ở Việt Nam đã chấm dứt. Sau hết, để chúng mày chuẩn bị giao tranh.


Ngày cuối tháng 12 năm 1975
Nhóm du đãng Bảo Quốc”


Với Dzũng quan tài và Qúy dao không cái gì là không thể làm được. Chiến thư đã sắp chữ, đã ấn loát tại một nhà in nhỏ quốc doanh miệt Phú Nhuận. Chủ nhà in bị trói lại. Công nhân răm rắp tuân lệnh khẩu súng của Hạnh búa. Ngay cửa nhà in, các hiệp sĩ Bảo Quốc canh gác. Chiến thư chở đi sau khi hoàn tất. Ngay buổi tối, Sàigòn, Gia Định, Chợ Lớn đầy chiến thư. Những ngày kế tiếp, truyền đơn ném ngay tại Nhà Triển Lãm Tội Ác Mỹ Ngụy doạ cho nổ cái nhà này khiến Nhà Triển Lãm vắng vẻ. Rồi truyền đơn kết án xử tử bọn Tin Sáng, bọn nằm vùng.. Truyền đơn hẹn ngày giờ đánh phá Sở Công An.. Dân Sàigòn say mê đọc những loại truyền đơn có lửa của nhóm du đãng Bảo Quốc. Hôm trước , một ngân hàng nhỏ ở Tân Định bị cướp, hôm qua đã có truyền đơn loan báo số tiền cướp được trả về cho dân chúng. Công an bị ám sát mỗi đêm. Cửa hàng quốc doanh bị ăn lựu đạn. Xe hàng Thống Nhất từ Hà Nội vào bị đốt cháy. Mật vụ ngoài Bắc vô phối hợp với mật vụ cục R ở đường Yên Đổ và Sở Công An thành phố ráo riết.


Chiến dịch càn quét những người có tiền án, tiền sự về trộm cướp, du đãng bắt đầu.. Tướng cướp Điền Khắc Quang dính mẻ lưới đầu, bị đưa ra Thanh Hoá. Du đãng về hưu, du đãng hết thời, thanh niên vô gia cư, vô nghề nghiệp bị bắt hết. Đại Cathay đã chết lâu, ba đàn em cự phách Tì,Cái, Thế gẫy cánh. Những Hùng phốc, Hùng sư tử, Mậu già..bị quét sạch.. Tất cả bị đưa đi Bù Gia Mập, bị chết dần, chết mòn. Nhưng du đãng Bảo Quốc còn nguyên vẹn vì họ chưa ai có tiền sự, tiền án, vì họ không thuộc hạng du đãng đầu trộm đuôi cướp, tống tiền, hãm hiếp. Chiến dịch cứ diễn tiến, du đãng Bảo Quốc không ngừng chơi.Nhiều truyền đơn của nhiều tổ chức sinh viên, học sinh Phục Quốc tiếp tay Bảo Quốc, ký tên Bảo Quốc mặc dù họ chưa hề quen nhau, gặp nhau. Phục Quốc mong Bảo Quốc rảnh tay chơi bạo hơn nữa. Một sự gắn bó rất âm thầm, rất đẹp. Trong nguy hiểm và vì đại nghĩa thật sự, người ta không phá nhau, không bôi bẩn nhau. Sàigòn phấn khởi, đặt niềm tin vào du đãng. Là đúng. Khi các vị anh hùng, các nhà ái quốc đã rủ nhau cút hết khỏi Việt Nam, kẻ nào dám ở lại chống cộng sản , kẻ ấy là hào kiệt, là vĩ nhân, là cứu tinh của dân tộc, dẫu kẻ ấy là du đãng đê tiện.


Chiến dịch càn quét du đãng thành phố chuyển sang giai đoạn càn quét sinh viên, học sinh không chịu đi học. Không đi học là không chấp nhận mái trường xã hội chủ nghĩa, là chống chế độ. Đến cao điểm của chiến dịch, Qúy dao bàn với Dzũng quan tài tạm ngưng.


– Tạì sao?


– Đó là binh pháp. Lùi ba bước tiến chín bước . Tiến trong lúc địch quyết tử là thua.


– Rồi làm gi?


– Hoạt động tích cực cho Cờ Đỏ,văn nghệ phường, thông tin văn hoá phường. Cái súng nghỉ thì cái đầu làm việc. Nó biết nằm vùg, mình tha gì nằm vùng. Áp dụng đúng thuật Mộ Dung Cô Tô. Mộ Dung Bác hơn hai chục năm nằm vùng ở Thiếu Lâm mưu đồ phục quốc. Tiêu Viễn Sơn hơn hai chục năm nằm vùng chùa Thiếu Lâm mưu đồ phục hận. Nằm đi, nằm chán thì vụt dậy.


– Tùy mày vì mày là cái đầu của anh em.


– Trước hết, mình tự dẹp cái Nhóm Du Đãn Bảo Quốc đi.


– Tại sao?


– Để nó tưởng mình tiêu rồi.


– Sau đó?


– Mình trưng bảng hiệu mới.


Qúy dao soạn Tuyên Ngôn khác cho Nhóm Tuổi Trẻ Chống Cộng Sản. Hai tháng ẩn mình, du đãng Bảo Quốc chơi lại. Đã được “học tập”, nếu bị bắt sẽ chịu đòn mà chối dài Bảo Quốc. Phường khóm không tin nhóm của Dzũng quan tài là du đãng. Chúng nó biết cách chơi. Từ trước ngày cộng sản vào Sàigòn, ở nơi chúng cư ngụ, chúng hiền lành, ngoan ngoãn và thường bị du đãng khu vực bắt nạt. Du đãng xịn là du đãng hoạt động trên đất người. Hoạt động trên đất mình là du đãng hạng bét, du đãng cướp giật.


Cuộc chơi sang giai đoạn thứ hai chỉ có mặt Dzũng quan tài , Qúy dao, Hạnh búa và Tâm xích. Bốn thằng trên hai chiếc Honda 90 xoáy thêm nòng máy. Bốn khẩu AK và đạn trong bốn cái hộp đàn guitare. Ai cũng có thể nghĩ bốn thằng à nhạc sĩ trình diễn. Chúng chạy theo chiếc xe chở tiền phát lương cho công nhân Vicasa ở khu kỹ nghệ Biên Hoà. Qúy dao đã nghiên cứu tình hình kỹ lưỡng. Chúng nó sẽ chơi ở nghĩa trang quân đội. Cách chơi ra sao, bốn đứa đã bàn nhau. Một điều quan trọng Qúy dao chưa hề biết là chiều hôm trước đã xẩy ra vụ bắn nhau giữa công anh tuần cảnh xa lộ với mấy tay hảo hán xa lộ. Hảo hán phóng Honda thoát hiểm. Sở Công An chỉ thị ngăn chặn tất cả Honda 90, kiểm soát giấy tờ, kiểm soát xe, kiểm soát người, kiểm soát hành lý. Gần đến ngã tư Thủ Đức, thấy công an làm hàng rào khám xét dân đi Honda, Qúy dao ra hiệu quay về Sàigòng, bỏ rơi cuộc chơi. Công an nhìn thấy, nghi ngờ, rượt theo.


Đến cầu sông Sàigòn, Hạnh búa bảo Tâm xích chạy chậm lại. Nó nhảy xuống, hô các bạn thẩy đồ chơi đi. Hạnh búa lượm nhanh và vất xuống sông. Nhiều người chứng kiến nhưng công an trên chiếc jeep còn chạy cách đầu cầu quá xa. không thể nhìn rõ sự việc ở giữa cầu.. Hạnh búa may mắn.Những người chứng kiến hành động của nó đều là ngụy dân Các bạn nó bị chặn tại ngã tư Hàng Xanh với những họng súng AK nhắm sẵn. Tâm xích không thèm đếm xỉa những họng súng. Nó rú ga lao đi. Tâm xích bị hạ. Chiếc Honda xoay tròn nhiều vòng trên thân thể đẫm máu của nó.Qúy dao và Dzũng quan tài bị bắt tại trận. Người ta tình nghi hai đứa là tàn quân và đồng bọn có đứa tẩu thoát nên giao chúng nó cho Quân Báo cục R ở đường Tô Hiến Thành Sàigòn khai thác. Qúy dao nhận mình là thủ lãnh Nhóm Tuổi Trẻ Chống Cộng Sản gồm bốn đứa. Dzũng quan tài không chịu khai. Hạnh búa thương bạn không chịu nổi đòn tra tấn nên tự ý nạp mạng. Khai thác chán chê và gom đủ ba đứa, Quân Báo cục R quy định tội của chúng nó là phản động, chống phá cách mạng và thẩy sang đề lao Gia Định. Vì Dzũng quan tài bị đánh gẫy răng, què chân nên nó được ở phòng tập thể. Hạnh búa bị đưa về Đại Lợi. Qúy dao nằm cachot khu B đề lao Gia Định.


Các bạn của chúng nó vẫn hoạt động bí mật bên ngoài . Nhưng không còn đánh lớn. Bởi thiếu cái đầu Qúy dao.


***


Chương 12


– Tớ phải nói thật với cậu là tớ mất công đi tìm Phục Quốc hai ba tuần liền rồi mà chẳng thấy Phục Quốc đâu. Tớ đâm nghi. Người ta bảo tớ rằng có nhiều Phục Quốc giả do sở Công An tung ra làm mồi để câu những anh nào thích chống đối.


 

– Vậy cậu tính sao?


– Tớ muốn thành lập một tổ chức riêng. Như thế, mình vừa giữ được bí mật vừa thực hiện nguyên vẹn đường lối của mình.


– Đường lối của cậu thế nào?


– Giản dị lắm, tớ chống cộng sản đến cùng.


– Tớ tin cậu nhưng những thằng khác nghi ngờ cậu. Mẹ cậu nằm vùng cỡ lớn, đảng viên, phó chủ tịch Hội liên hiệp phụ nữ tỉnh Sông Bé, cậu đi chống cộng sản, ai dám tin.


– Cậu tin tớ là đủ. Cậu đừng nói gì về tớ.


– Bây giờ người ta nghi ngờ hết. Anh nào cũng chống cộng, đến 30-4 mới lộ mặt nằm vùng.


– Tớ con em cách mạng mà chống cộng mới hay.


– Hay mà khó tin.


– Khó tin mà có thật. Không chống cộng, tớ chẳng biết làm gì. Trường mình đã tan nát. Ông hiệu trưởng Nguyễn Sĩ Tế bị bắt, ông giám thị Đặng Lê Kim bị bắt luôn, con gái ông Kim phản động nặng, bị nhốt cả rồi. Chẳng lẽ tớ về Sông Bé làm công an hay đi thanh niên xung phong? Cậu muốn tớ trở thành công an không?


– Không, dĩ nhiên. Cậu chống cộng sản là chống má cậu, chấp nhận à?


– Chống ông nội tớ, tớ vẫn chống, nếu ông ấy cộng sản.


– Tại sao cậu ghét cộng sản vậy?


– Đời sống đổi thay cái rụp làm tớ choáng váng. Họ hàng tớ, bạn bè tớ ở Sông Bé khinh bỉ gia đình tớ ra mặt. Người ta mỉa tớ là con em cách mạng, là đảng viên tương lai, tớ rất xấu hổ. Tớ chống cộng sản, trước hết, để chứng minh tớ là quốc gia thuần túy. Sau hết, cộng sản làm đồng bào mình khổ quá. Tớ thù hận cộng sản vì nó gian ác mà nó cứ nói nó nhân đạo. Má tớ vênh vang lắm, tớ chỉ còn nhìn ra má tớ là một con mẹ đảng viên đắc thời. Tớ đã nói hết lòng tớ. Chơi với nhau, học với nhau mấy năm rồi, cậu phải hiểu tớ. Tớ không về Sông Bé, không trọ nhà chú tớ bên Thị Nghè nữa, tớ lang thang.


– Thì về đây mà sống tạm nương náu cửa Phật!


– Nay mai, cậu sẽ bị đuổi khỏi chùa. Nó sắp quốc doanh chùa. Nó cấm tu hành. Muốn tu thành thượng tọa, cậu phải chống cộng sản.


– Tớ không dám giết người.


– Chống nó bằng tư tưởng. Phật giáo là kẻ thù tư tưởng của cộng sản. Nó bắt vô số thầy chùa, cậu chưa hay à? Nó cho nổ tượng Phật ở biển hồ Pleiku rồi. Tha hồ mà tự thiêu, nó đứng nhìn thầy chùa tự thiêu, cười khanh khách.


– Cậu muốn tớ làm gì?


– Chống cộng sản.


– Cậu dám chống cộng sản mà tớ không dám sao? Chống thì chống, tu hay tù đồng nghĩa. Sống hay chết cũng đồng nghĩa.


Chú tiểu chùa An Lạc cảm khái nói một câu đầy khẩu khí của tráng sĩ chùa Tiêu Sơn. Hai thời đại khác nhau, hai hoàn cảnh càng khác nhau xa. Tiêu Sơn tráng sĩ chống nhà Tây Sơn để phục hồi quyền bính cho Lê Chiêu Thống, biểu tượng của một dĩ vãng ươn hèn, mục rã, tôi đòi. An Lạc tráng sĩ chống cộng sản, ít ra, vì những điều mà người bạn của tráng sĩ, cậu Hoàng Sơn Trường, đã tâm sự với tráng sĩ. An Lạc tráng sĩ, tên khai sinh là Nguyễn Kiến Thiết, pháp danh Thích Thanh Bần, cùng học trường Trường Sơn, cùng chung lớp 12 với Hoàng Sơn Trường.


– Cám ơn cậu đã đứng với tớ.


Hoàng Sơn Trường nói. Chú tiểu Thanh Bần mỉm cười, khuôn mặt chú, tự nhiên, đỏ au. Lòng chú đã dấy lên nỗi khát khao mới.


– Đừng cám ơn. Bây giờ, tớ làm gì?


– Kết nạp người trong gia đình phật tử. Càng đông càng tốt. Người trước việc sau. Mục đích cậu đã rõ, đường lối sẽ phổ biến từ từ. Trụ sở là chùa An Lạc.


– Được rồi.


– Châm ngôn của tớ lấy từ câu nói của Nguyễn Thái Học : “Không thành công tất thành nhân”. Tớ thù ghét cộng sản, tớ thù ghét cả cuộc sống ươn hèn. Tớ không có tham vọng gì cả.


– Tớ tham vọng gì?


– Chúng ta không có tham vọng. Tớ chống cộng để có đời sống bình yên với những kỷ niệm đẹp.


– Còn tớ, để tự do tu hành.


– Chúng ta hoàn toàn đồng ý nhé!


– Ừ.


Thật nhanh và thật đẹp, hai người tuổi trẻ đã kết hợp. Và một tổ chức chống cộng sản thành hình. Không một ly nước trà, không một điếu thuốc lá. Họ thảo luận với nhau ở dưới gốc cây đại sân chùa. Thường thường, để ngồi gần nhau, ở Việt Nam, mưu đồ đại sự đã thiên nan vạn nan. Ngồi gần nhau để tính chuyện kết hợp càng thiên nan vạn nan. Và nếu kết hợp để chiến đấu chống cộng sản thì đã luôn luôn là không tưởng. Dù ăn mặc trịnh trọng. Dù phòng họp điều hòa không khí. Dù rượu champagne mở bốp bốp. Dù thuốc lá thơm ngộp khói. Trong khung cảnh bình yên, cộng sản còn mút mít rừng già. Những phiên họp của không tưởng vẫn sẽ diễn tiến, ở nơi nào đó, ngoài Việt Nam. Và chẳng bao giờ diễn tiến tại Sài Gòn. Bởi vì Sài Gòn không còn cơ hội cho champagne nổ phù phiếm. Bài học kết hợp chiến đấu của học sinh Hoàng Sơn Trường và chú tiểu Thích Thanh Bần dạy những kẻ đầu cơ đại sự một điều khôn ngoan : Khi người ta chiến đấu cho mọi người, không vì tham vọng cá nhân, thì người ta dễ gần gũi, cảm thông, chia sẻ và đoàn kết.


Chùa An Lac ở quận 2, nằm sau đường Phạm Ngũ Lão. Qua mấy chế độ, An Lạc, tên ngôi chùa, đã đủ nói lên sự trầm tĩnh của kinh kệ, của chuông mõ, của nến nhang. Nó không sôi nổi quá đà như Xá Lợi, ồn ào quá khích như Ấn Quang, phô trương qua lố như Việt Nam Quốc Tự. Nó bình thường, không cần gào thét, không cần tuyên bố, không cần thuyết pháp công kích chuyện đời, không đòi hòa bình, không chống chiến tranh. Nhưng An Lạc đã đi vào lịch sử tranh đấu của dân tộc bằng tâm hồn đơn giản và sự thành tâm của chú tiểu Thích Thanh Bần. Tiếng chuông chùa An Lạc, với chú tiểu Thanh Bần, không còn là tiếng chuông mời gọi người về trầm tư mặc tưởng nữa. Mà là tiếng chuông dục ươn hèn thức tỉnh, thúc can đảm phóng lên vì nỗi thống khổ của đồng bào, của chúng sinh lầm than dưới gót phỉ quyền. Tiếng chuông chùa An Lạc gợi tưởng tiếng chuông chùa thời Lý của những thầy tăng mở nước vinh quang.


Chú tiểu Thanh Bần bắt tay vào việc. Thanh niên phật tử say sưa nghe chú thuyết nạn cộng sản. Chú là biểu tượng sáng chói của người tu hành sống đạo giữa đời và biết sống đạo giữa đời. “Tu hay tù đồng nghĩa. Sống hay chết cũng đồng nghĩa”. Câu nói thú vị của chú với Hoàng Sơn Trường làm nhớ nhà sư trẻ Hư Trúc dưới chân núi Thiếu Thất khi nhập cuộc chơi với Đoàn Dự, Kiều Phong. Chú hấp dẫn thanh niên. Chú lôi cuốn thanh niên vào mục đích cao cả. Đâu cần gồng mình chứng minh mình là lãnh tụ mà chú tiểu Thanh Bần đã là lãnh tụ cần thiết của thanh niên phật tử chùa An Lạc.


Một đêm, ở chùa An Lạc, Hoàng Sơn Trường nằm gác chân lên chân Thích Thanh Bần chuyện trò thầm thì.


– Tớ thấy mình phải võ trang bằng tư tưởng.


– Tư tưởng của mình là chống cộng sản.


– Không, chống cộng là mục đích, là lý tưởng thôi. Cha anh chúng ta đã chống cộng ba mươi năm, rốt cuộc thua cộng sản, cậu biết tại sao chưa?


– Chưa.


– À, tại vì họ thiếu tư tưởng hoặc tư tưởng của họ lạc hậu cả rồi. cộng sản nó thắng minh nhờ nó có tư tưởng mác xít, nó có học thuyết hẳn hoi.


– Nó có chủ nghĩa.


– Đúng. Cậu ở chùa được thày dạy thêm, được đọc nhiều sách, vậy tớ hỏi cậu vài câu. Nếu tớ sai thì mộng ước của tớ tiêu tan. Nếu tớ đúng thì tớ ôm ấp hoài bão.


– Hỏi đi.


– Đức Phật xưa có đọc sách nào không?


– Không.


– Khổng Tử, Lão Tử có đọc sách nào không?


– Không.


– Chúa Giêsu có đọc sách nào không?


– Không.


– Vậy mà họ đều lập thuyết, đều bất hủ.


– Ừ, tại vì thời đại tạo ra họ.


– Thế thì tớ có quyền lập thuyết, cậu ạ! Cậu thấy không, dân tộc mình khốn khổ, khốn nạn từ nửa thế kỷ nay vì những học thuyết ngoại lai. Tư bản đã đến. Vô sản đã đến. Cả hai học thuyết này đều bất lực trong sự tìm kiếm hạnh phúc cho dân tộc ta nói riêng, cho loài người nói chung. Cậu có thấy thằng tư bản nào học hành đến nơi đến chốn không? Cậu có thấy thằng vô sản nào đích thị là khố rách áo ôm không? Tinh hoa của tư bản và vô sản toàn là tiểu tư sản cả. Tiểu tư sản thông minh, tài hoa, lãng mạn mà cam đành làm tay sai cho tư bản và vô sản và bị chúng nó khinh bỉ, thù ghét.


– Cậu muốn lập thuyết tiểu tư sản.


– Chứ sao.


– Cậu muốn bắt chước Marx, Engels kêu gào: Tiểu tư sản các nước trên thế giới hãy vùng lên!


– Thuyết của tớ chưa chắc đã hay ho gì nhưng không có học thuyết là không có tư tưởng. Mà đánh cộng sản để thắng nó phải võ trang tư tưởng. Tuổi của tớ và kiến thức chưa cho phép tớ lập thuyết vĩ đại. Tớ kể sơ sơ cậu nghe: Dân mình rất chán vào hợp tác xã, vào công ty quốc doanh. Bản chất của dân mình – tớ chỉ nói dân mình thôi – là khoái tư hữu. Nông dân thèm quyền tư hữu nhất. Ai cũng thích có cái ao cá riêng của mình, thửa ruộng riêng của mình. Vân vân… Công nhân phải bám nhà máy ở thành phố nên đành làm chủ tập thể nhà máy! Bởi vậy, cộng sản nó không ưa nông dân. Đến lượt cán bộ trung cấp của cộng sản khoái tư hữu. Đứa nào cũng muốn cái radio riêng, cái xe Honda riêng, cái nhà riêng… Vậy thì cộng sản sao nổi! Vậy thì muôn năm tiểu tư sản. Thằng nghèo mạt biết thân phận nó không thể giàu bự nổi nên nó thù hận tư bản, bây giờ mình nói thật với nó rằng giàu bự không nổi nhưng giàu vừa vừa thì dư sức, thằng nghèo nó sẽ thù cả thằng vô sản là đứa cứ bắt nó nghèo mạt suốt đời. Đấy, sơ sơ thuyết của tớ. Mình võ trang tư tưởng tiểu tư sản, chắc chắn, sẽ có hậu thuẫn rộng lớn và sẽ tiêu diệt gọn cộng sản.


– Cậu mơ mộng quá.


– Sống là ước mơ.


– Vậy lập thuyết đi.


– Từ từ sẽ lập. Tớ và cậu sẽ là Marx-Engels và chùa An Lạc sẽ là nơi học thuyết tiểu tư sản ra đời. Chúng ta sẽ tuyên ngôn. Người Việt Nam đánh cộng sản bằng học thuyết của người Việt Nam, tạo hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam bằng học thuyết của người Việt Nam. Không, nhất định không có hạnh phúc vĩnh cửu cho dân tộc bằng tam dân chủ nghĩa của Tàu, tư bản chủ nghĩa của Mỹ, cộng sản chủ nghĩa của Đức, của Nga… Sớm mai, cậu nhớ rung giùm tớ hồi chuông cáo phó các thứ chủ nghĩa ngoại lai trên quê hương mình.


– Và thêm hồi chuông báo sinh chủ nghĩa mới, văn minh mới cứu rỗi dân tộc, cứu rỗi nhân loại ra đời.


– Ra đời ở chùa An Lạc.


– Đồng ý.


– Ra đời đúng quá độ tan rã của tư bản và cộng sản.


– Đồng ý.


– Ra đời từ đêm nay.


– Cậu làm tớ mê mẩn, Trường ơi! Này, nhà lập thuyết, tớ không biết hút thuốc lá nhưng bỗng tớ thèm hút. Cho tớ một điếu. Ở chùa suốt đời, dẫu đắc đạo, cũng chỉ tìm ra một thứ hạnh phúc cho riêng mình mà chữ nghĩa gọi là giải thoát. Giải thoát bằng tư tưởng Đức Phật. Chưa chắc kinh kệ đã đúng ý Đức Phật. Nếu đúng, vẫn là của Đức Phật, không phải của chính mình. Tôn giáo và nghi lễ giúp vui của nó đã trở nên vô tích sự trong đòi hỏi tích cực của giải thoát dân tộc. Tớ sẽ bỏ chùa. Nhân loại bên ngoài đi xa rồi mà ở bên trong, nhà chùa và nhà thờ, vẫn lải nhải giáo điều vu vạ là của Phật, của Chúa từ ngót 3000 năm, từ ngót 2000 năm. Tớ sẽ rung thêm hồi chuông báo tử cuộc đời tu hành viển vông của tớ.


Nhà sư trẻ vùng dậy. Nhà lập thuyết trẻ cũng vùng dậy. Trong bóng tối của trai phòng như trong bóng tối mông lung của thế giới hôm nay, một que diêm bật lửa. Đốm lửa nhỏ, đốm lửa tỏa ra đủ một vùng ánh sáng soi rõ hai khuôn mặt vừa lạ lùng vừa ngô nghê của thời đại. Hai khuôn mặt rất người, rất hiện thực. Hai tâm hồn ăm ắp ước mơ, sũng ướt mộng mị. Nhân loại đang hoài vọng thứ ánh sáng dẫn dắt con người về chốn bình yên tâm tưởng. Phải chăng, thứ ánh sáng ấy đã áng lên trong đêm mù mịt việt nam sau hòa bình của chiến tranh ý thức hệ ở chùa An Lạc? Đốm lửa châm hai ngọn đèn kỳ diệu. Đó là hai ngọn đèn nhận đường giữa mù khơi tư tưởng, trên giòng chìm đắm chủ nghĩa ngoại lai. Đó là hai trái tim nằm ở đầu hai điếu thuốc lá.


– Thầy chùa có thể trở thành nghệ sĩ không nhỉ?


– Tại sao không?


– Vậy tớ muốn trở thành người hát dạo. Tớ sẽ soạn ca khúc ca ngợi tình yêu và hạnh phúc của loài người đi hát rong đây đó, như thế hữu ích hơn là ngồi chùa gõ mõ tụng kinh và thuyết giảng con người loại bỏ tham vọng.


– Làm sao con người loại bỏ được tham vọng? Không tham vọng, con người sẽ là cái gì? Tham vọng là cứu cánh của đời sống. Đời sống thiếu tham vọng sẽ vinh quang hiu quạnh như Niết Bàn, nơi có mỗi một mình Thích Ca và Thiên Đàng của Giêsu cô độc. Nhưng, trước khi lên cõi riêng của mình, khi còn bấu víu đời sống, Thích Ca và Giêsu có tham vọng không? Có chứ, họ đã lập thuyết. Thế là họ đã tham vọng. Vấn đề đặt ra là tham vọng tốt hay tham vọng xấu. Còn diệt hết tham vọng thì hết chất người, hết nhân bản. Cậu sẽ chỉ ngộ nếu cậu làm người nghệ sĩ đi tạo niềm vui cho con người. Cứu khổ là tạo niềm vui. Cứu khổ không bao giờ là dọa nạt con người bằng bạo lực hay an ủi con người bằng câu kinh cũ rích. Tiếng chuông chùa và tiếng phong cầm nhà thờ buồn bã quá. Nó đã chẳng còn đủ khả năng giúp dân tộc mình vươn lên phá nát những màng lưới sắt chủ nghĩa khốn nạn chụp bủa, đè chĩu thân phận dân tộc mình. Tôn giáo là để gọi hạnh phúc về với hạnh phúc khi hạnh phúc đi vào bất hạnh. Tôn giáo không tạo nổi hạnh phúc, ít nhất, nó cũng đúng trong thời đại của chúng ta, hôm nay.


Im lặng. Hoàn toàn im lặng. Cậu học trò 18 tuổi tên là Hoàng Sơn Trường, lớn lên đầy tuổi chiến tranh việt nam; có mẹ là cộng sản; có bạn là thầy chùa; có nước việt nam chia lìa, tan nát, thù hận, tù đày, có dân tộc việt nam bất hạnh triền miên; có quê hương việt nam nghèo nàn, buồn bã. Cậu, thoạt đầu, bất bình nỗi cộng sản làm đau khổ đồng bào cậu, muốn chống đối cộng sản. Sau đó, cậu ưu tư về những kinh nghiệm chống cộng sản của cha anh. Và cậu thao thức tìm cách võ trang tư tưởng. Tình cờ, cậu ghé vô trường Văn Khoa, tham dự buổi học tập của trí thức Sài gòn. Cậu nghe người cán bộ hà nội mạt sát tiểu tư sản thậm tệ. Ra về, cậu suy nghĩ… Và cậu phác họa thuyết tiểu tư sản của cậu với chú tiểu Thích Thanh Bần. Người ta sẽ bỉ thử cậu, nếu nghe ai nói rằng cậu đòi lập thuyết. Bọn tư bản, thế kỷ trước, đã bỉ thử Karl Marx. Thế kỷ sau thì họ vỡ mày, vỡ mặt. Khi còn vô danh, việc làm phi thường của một người, thường chỉ bị miệt thị, ngó lơ. Chúa Giêsu, 1975 năm qua, chả từng bị bọn ngu xuẩn đóng đinh trên thánh giá bên cạnh những tội đồ trôm cướp đó sao! Và gần gũi nhất, hồ chí minh bồi tàu thủy đấy. Khi thành “cha già dân tộc” thì ngay ở Sài gòn chống cộng phừng phừng sau 1954, ai dám động tới hồ chí minh, kẻ đó sẽ bị chưởi rủa là đồ hỗn láo!


Vĩ nhân tương lai, dường như, không để ý chuyện thế nhân thời thượng coi rẻ mình. Chú tiểu Thích Thanh Bần ra kéo một hồi chuông khuya, hồi chuông chưa hề nghe từ có chùa An Lạc. Hồi chuông vang trong đêm vắng báo tử cái gì và khai sinh cái gì đây? Nhà lập thuyết Hoàng Sơn Trường gởi hồn mình theo âm thanh một ước mơ thật mới: Mọi người dân Việt Nam đều sẽ trở thành một tiểu tư sản trong xã hội tự do, dân chủ, công bình thật sự.


***


Chương 13


«Vâng, tôi lấy danh dự hứa rằng tôi không nói dối. Cũng chẳng cần phải nói dối vì những người liên hệ với tôi trong tổ chức đã bị bắt hết. Tên tôi là Ngô Tỵ, 19 tuổi, học sinh lớp 12 trường Cộng Hòa. Ba tôi người Minh Hương, má tôi người Việt Nam. Nhà tôi nổi tiếng vì cái bảng hiệu Tám Mập, chuyên bán đồ nhậu ở ngã tư Phan Thanh Giản – Cao Thắng, gần rạp hát Đại Đồng. Tôi có chân trong hội múa lân của bang Triều Châu. Cách mạng vô Sài Gòn, tôi được chị Bí thư chi đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh kếp nạp vào đoàn và được làm phụ tá cho chị ấy, hoạt động tại các trường Régina Mundi, Marie Curie, Lê Quý Đôn thuộc phạm vi quận 3 là những trường của con nhà giầu học, nghiêng về chương trình Pháp. Chị Bí thư cần tôi vì chị ở bưng ra, chữ nghĩa chị rất kém.


Tôi hoạt động tích cực. Chị Bí thư có nhiều cảm tình với tôi, thường biểu dương tôi và khuyên tôi thoát ly gia đình theo cách mạng. Đôi khi, một mình tôi chủ trì những phiên họp ở các trường quận 3. Tôi đã giáo dục bọn học sinh Régina Mundi, Marie Curie, cấm chúng nó viết thông cáo bằng Pháp ngữ, Anh ngữ nặng tính chất chống đối. Tôi bị chúng nó ghét cay ghét đắng. Điều đó không thành vấn đề. Vấn đề là tôi đã đưa chúng nó vào sinh hoạt mới, kỷ luật mới, đời sống mới. Chị Bí thư trao súng K54 của chị cho tôi giữ. Chị dạy tôi cách xử dụng. Đi đâu tôi cũng đeo súng và rất hãnh diện. Tôi tự vẽ cho tôi một tương lai huy hoàng. Tôi sẽ trở thành đảng viên đảng cộng sản Việt Nam quang vinh. Tôi sẽ sang học bên Liên Sô. Tôi sẽ đem hết khả năng của tôi cống hiến đảng và nhân dân. Tôi đã đọc cuốn truyện liên xô, nhan đề: Thép đã tôi thế đấy và tôi rất yêu mến anh Pavel. Anh này đúng là biểu tượng của thanh niên cộng sản. Tôi còn đọc cuốn Ruồi trâu và tôi khinh bỉ Thiên Chúa Giáo. Tôi là ước mơ của bao nhiêu đứa bạn bằng tuổi tôi, được đảng chiếu cố, được đảng ban phát ân huệ để nở mày nở mặt với đời. Đời xưa quen gọi tôi là thằng chệt, thằng ba tàu, thằng hủ tíu…! Đời nay gọi tôi là “đồng chí”, là anh Tỵ. Ba má tôi hồ hởi, phấn khởi. Họ hàng tôi tự cho là có chỗ nương dựa ở xã hội mới.


Nhưng tại sao tôi thay đổi toàn bộ tư tưởng? Một buổi tối tháng 10, thằng bạn tôi là Trần Chiêm Đồng đến rủ tôi đi uống cà phê. Tôi theo nó. Đồng và tôi nói chuyện.


– Tư sản mại bản Chợ Lớn bị bắt nhốt ở Chí Hòa mày biết không?


– Biết. Bị bắt hồi tháng 9.


– Ông bang trưởng Đào Mậu cũng bị bắt.


– Thế hả?


– Ông bang Trần Thành nằm khám luôn.


– Thế hả?


– Các đội trưởng múa lân Quảng Đông, Phúc Kiến, Triều Châu trong Chợ Lớn bị bắt hết.


– Thế hả?


– Các hiệu trưởng trường Tàu vào ấp cả.


– Thế hả?


– Hội Tinh Võ bị giải tán rồi. Tinh Võ Môn bị Nhật Bản nó phá vỡ bảng hiệu! Tiếc rằng không có Lý Tiểu Long.


Trần Chiêm Đồng đưa ra những câu hỏi làm tôi choáng váng. Nó lại nhắc tôi tinh thần yêu nước của người Trung Hoa trong phim Tinh Võ Môn. Tôi cũng là võ sinh của Tinh Võ Môn. Ở hội múa lân là phải giỏi võ vì các hội khác bang thường thách thức thí võ và đánh nhau.


Chúng tôi im lặng một lát. Trần Chiêm Đồng thở dài.


– Đời này làm gì có Lý Tiểu Long.


Nó chưởi thề:


– Mẹ kiếp, bao nhiêu năm ăn cơm, uống nước của người Việt Nam, bây giờ, bảng hiệu Việt Nam bị gỡ xuống, nghĩ rất thẹn vì không có tinh thần Lý Tiểu Long. Cái thân phận Việt gốc Hoa nghìn năm bị khinh bỉ ở đất nước Việt Nam chỉ vì sống theo kiểu gió chiều nào nương chiều ấy. Nay, Việt cộng nó bắt bỏ tù, nó tịch thu tài sản, nó đuổi về vùng kinh tế mới, dám làm gì nó không? Kêu cứu ông Mao Trạch Đông, ông Tưởng Kinh Quốc đi!


Nó hỏi tôi:


– Bao giờ mày được vào đảng?


Tôi đáp:


– Còn lâu!


Nó chản nản:


– Đợi mày vào đảng để cứu các ông bang chắc các ông ấy rũ xác trong tù rồi.


Nó mỉa tôi:


– Năm nào mày đi tố cáo Việt cộng, năm nay mày đeo súng Việt cộng. Kỳ quá, Tỵ à!


Cái vụ này, tôi xin kể: Năm 1970, quán nhậu của ba tôi rất đông lính Cộng Hoà. Có người đến ăn nhậu rồi bỏ lại cái giỏ đỏ. Tôi chạy theo bảo người ấy trở lại lấy bị đồ. Người ấy bỏ chạy nhanh. Sinh nghi, tôi báo cảnh sát bắt người ấy. Rồi tôi về quán báo động. Khách hàng bỏ chạy tán loạn. Nhờ một sĩ quan công binh giỏi nghề chất nổ nên cái giỏ chất nổ để đồng hồ tự động đã bị vô hiệu hóa.


Nó tiếp:


– Nếu chất nổ không được sĩ quan “ngụy” hủy diệt, ba má mày chết hết, mày què cụt, hôm nay mày có theo Việt cộng không?


Tôi cứng họng không trả lời nổi. Nó dọa tôi:


– Việt cộng nó thù dai lắm, tội từ thuở lọt lòng nó còn lôi ra đấy. Mày đừng tưởng bở.


Nó chia tay tôi ở quán cà phê. Tôi về suy nghĩ cả đêm không ngủ. Đầu óc tôi muốn nổ tung. Hôm sau, tôi đến nhà Trần Chiêm Đồng thật sớm.


– Tối qua mày gợi những chuyện ấy với tao nhằm mục đích gì?


– Không nhằm mục đích gì cả.


– Mày cứ nói thật đi!


– Tao không còn tin mày nữa. Bây giờ, tao tự nhận tao là Quốc Gia, còn mày thì đã là Cộng Sản. Quốc Gia không tin Cộng Sản.


– Tao chưa là cộng sản.


– Mày đeo súng hoạt động cho cộng sản, mày là cái gì? Nói thật rồi mày có đi tố cáo thì đi, tao không sợ đâu. Mày lúc này cộng sản không ra cộng sản, ngụy không ra ngụy, mày mình dơi đuôi chuột. cộng sản nó bắt mày hôm nào tao chưa biết nhưng Quốc Gia về thì mày chết trước. Mày tưởng Quốc Gia chết rồi à? Mày tưởng ngụy nhào rồi à? Ngụy nhào, Mỹ cút nhưng Quốc Gia vẫn sống hiên ngang. Quốc Gia sắp về. Mày mù, mày điếc nên không biết gì cả. Mày tự chặt cầu rồi, mày, mày… Tội nghiệp mày quá!


Tôi bần thần, ngồi đưa tay bưng mặt khóc. Trần Chiêm Đông vẫn nói trong tiếng khóc của tôi:


– Tao rất sợ sự phẫn nộ của quần chúng khi Quốc Gia trở về. Mày gây thù hận ở các trường quận 3 khiếp quá.


Tôi nức nở:


– Mày cứu tao! Mày là bạn thân nhất của tao, Đồng ơi!


Nó nói:


– Mày tự cứu lấy.


– Tao tự cứu tao bằng cách nào?


– Làm sao tao biết được!


– Mày nói mày là Quốc Gia. Quốc Gia mới hay Quốc Gia cũ?


– Quốc Gia mới.


– Tao có thể là Quốc Gia mới không?


– Tự mày hỏi mày đi. Mày nên về suy nghĩ kỹ lưỡng. Mày cần nhìn rõ cộng sản đã.


– Tao suy nghĩ kỹ rồi.


– Chưa đâu. Người Quốc Gia mới không đùa với cộng sản bằng truyền đơn vớ vẩn. Tao chắc mày đánh giá người Quốc Gia mới như mấy anh Phục Quốc. Không. Phục Quốc là mặt nổi, mặt chìm của người Quốc Gia mới là đồ chơi sẽ đẩy chủ nghĩa cộng sản xuống hố thẳm của thời đại.


Tôi đâm ra nể sợ Trần Chiêm Đồng. Về sau, tôi phục nó, yêu mến nó hơn và mãi mãi tôi yêu mến nó. Bởi vì nó đã dẫn tôi đi trên con đường lạ lùng của tuổi trẻ ước mơ. Nó có vẻ không cần tôi vội vã. Nó bắt tôi suy nghĩ để tôi khỏi ân hận. Một tuần lễ sau, tôi lại tới nhà Trần Chiêm Đồng.


Nó hỏi tôi:


– Mày nhìn gì thêm về cộng sản chưa?


Tôi đáp:


– Rồi.


– Kể tao nghe!


– Nó đẩy tao vào đường chết. Nó chỉ thị tao phải cứng rắn với bọn học sinh Régina Mundi, Marie Curie mà nó thì lại ngọt xớt. Con mụ Bí thư chi đoàn nham hiểm thật.


– Nó cho mày giữ súng của nó để mày tự sát đấy.


– Tao sẽ bắn nó.


– Bắn nó đâu có chết chủ nghĩa cộng sản. Bắn chết chủ nghĩa cộng sản thì đảng cộng sản chết, chế độ cộng sản tiêu luôn. Người Quốc Gia mới chỉ cần bắn chết chủ nghĩa cộng sản thôi. Không bắn chết chủ nghĩa cộng sản, mọi việc chống đối, kháng chiến là trò đùa. Người Quốc Gia mới không võ trang bằng súng đạn Mỹ. Họ võ trang bằng tư tưởng. Tư tưởng mạnh hơn súng đạn.


– Ai dạy mày điều đó?


– Người Quốc Gia mới.


– Họ ở đâu?


– Sàigòn.


– Tao gặp được chứ?


– Được. Dù mày có phản bội, họ vẫn chấp nhận mày.


– Tao thật lòng.


– Mày chứng minh sự thật lòng của mày trước đi.


Tôi trả khẩu K54 cho chị Bí thư chi đoàn, báo cho chị ấy biết là tôi nghỉ hoạt động, không nêu lý do. Tôi đến các trường trung học ở quận 3 họp hành, xin lỗi và tuyến bố tự ý rút lui khỏi chức vụ phụ tá Bí thư. Tôi trả thẻ đoàn viên. Trần Chiêm Đồng hứa sẽ giới thiệu tôi với người Quốc Gia mới. Nó giữ lời hứa. Đồng dẫn tôi tới chùa An Lạc. Ngang qua một con hẻm, chúng tôi dừng lại vì công an đang ập vào một căn nhà và dân chúng lối xóm bu quanh đông nghẹt. Có gì lạ thế? Dân chúng nói, ông chủ căn nhà có thằng con trai 10 tuổi. Nó là thiếu niên quàng khăn đỏ tiên tiến, xuất sắc, gương mẫu. Nó đi họp hành tối ngày, người ta giáo dục nó kiểm soát cha mẹ và tố cáo với phường khóm ngay nếu phát hiện tội lỗi của cha mẹ. Hôm nay, thằng thiếu niên khăn đỏ, “cháu ngoan bác hồ” tố cáo cha nó chôn dấu súng với công an phường. Công an đến khám xét.


Chúng tôi tò mò đứng chờ kết quả. Công an còng tay bố thằng thiếu niên lôi đi với khẩu M16 bọc ni-lông dính đầy đất ướt. Thằng bé đã được học tập căm thù để đưa bố nó vào tù. Tôi nhìn rõ mặt thằng bé. Nó cười hớn hở khi ông phường trưởng xoa đầu biểu dương nó. Còn mẹ nó thì khóc sướt mướt. Hình ảnh đó, hôm nay tôi vẫn chưa quên. Tôi cám ơn Trần Chiêm Đồng đã lôi tôi ra khỏi tội ác. Chúng tôi bỏ đi. Lòng tôi dậy lên con sóng phẫn nộ. cộng sản là thế, là con nít cũng không tha đầu độc, hủy diệt tình nghĩa của nó. Tôi vào chùa An Lạc, gặp chú tiểu Thích Thanh Bần. Chú pha trà mời tôi uống và hỏi tôi:


– Anh viếng chùa hay tôi?


Trần Chiêm Đồng nói:


– Anh ấy viếng chú. Tôi đã bảo chú là anh Ngô Tỵ sẽ đến thăm chú.


Tôi nói:


– Hân hạnh quen biết chú.


Chú tiểu cười thật dễ thương.


– Đừng gọi tôi là chú nữa, tôi chưa xứng đáng để anh phải thủ lễ. Anh Đồng là bạn học cũ lại năng viếng chùa, chúng tôi coi nhau như anh em, cùng gia đình Phật tử cả.


Cạn chén trà, chú tiểu hỏi :


– Anh Tỵ gặp tôi là muốn tìm hiểu người Quốc Gia mới phải không?


Tôi đáp :


– Vâng, tôi tha thiết gặp mặt người lãnh tụ.


Chú tiểu lại cười :


– Theo tôi biết thì họ không có lãnh tụ, họ chỉ có người mở đường, người này chưa tiện gặp ai. Anh Đồng cũng chưa gặp.


Trong khi chú tiểu và tôi nói chuyện, Trần Chiêm Đồng ngồi im hút thuốc, uống nước.


– Thỉnh thoảng, người ấy ghé chùa, tôi có dịp nghe người ấy nói về tương lai dân tộc Việt Nam và cái thế tất bại của chủ nghĩa cộng sản. Người ấy quả là con người ước mơ. Anh Tỵ có nhiều mơ ước không?


– Tôi ít ước mơ lắm.


– Tuổi trẻ cần nhiều ước mơ. Ước mơ 10 ngọn núi rồi thực hiện 1 ngọn núi là đủ. cộng sản thật bất hạnh vì họ không biết ước mơ. Họ chỉ biết tạo ra đau khổ và bắt con người phải chịu đựng.


Giọng nói của chú tiểu quyến rũ vô cùng. Tôi nghe chú nói bằng cả tâm hồn tôi. Tôi không ngờ, chỉ bằng tuổi tôi thôi, mà chú ấy quảng bác quá. Chú ấy phân tích những sự sai lầm của chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa cộng sản và chứng minh hai chủ nghĩa này cùng đốn mạt và đã toa rập với nhau hủy hoại văn minh Việt Nam, cày nát quê hương Việt Nam và làm điêu đứng dân tộc Việt Nam. Chú ấy nói về chủ thuyết tiểu tư sản. Tôi ngẩn ngơ. Tôi mê mẩn và tôi chìm đắm vào cái chủ thuyết tuyệt vời đó. Chú ấy bảo cha đẻ của chủ thuyết này là người tôi muốn gặp mặt. Tôi rất tin tưởng vào cái thế tất thắng của người Quốc Gia mới.


Sau hôm đó, tôi thường lui tới chùa An Lạc. Mỗi lần ngồi nghe chú tiểu luận bàn thời thế là mỗi lần tôi vẽ thêm mơ ước. Tôi chưa gặp người mở đường cũng chưa được giao công tác gì. Tôi nghĩ họ còn thử thách tôi. Nếu họ giao công tác, bất cứ công tác nào, nguy hiểm cách mấy, tôi sẽ nhận và thực hiện bằng được. Tôi hơi buồn vì tưởng mình bị thử thách. Lần chót, chú tiểu xua tan lớp mây ngờ vực của tôi :


– Chiến đấu bằng tư tưởng khác với chiến đấu bằng súng đạn. Súng đạn chỉ giải quyết ở chiến trường, không giải quyết được lòng người. Đó là kinh nghiệm chiến thắng của cộng sản. Cuộc chiến đấu của chúng ta sẽ chiến thắng bằng chính tư tưởng của mọi người trong toàn thể dân tộc ta. Khi mọi người đều thấm tư tưởng mới thì vũ khí là trái tim mạnh hơn cả nguyên tử. Bởi vậy, chúng ta phải kiên nhẫn, phải chờ đợi tư tưởng thấm vào hồn.


Tư tưởng mới nằm trong chủ nghĩa tiểu tư sản. Tôi hiểu và tôi cảm thấy có cái gì khác lạ xứng đáng để tôi dấn thân. Sự liên hệ của tôi với Trần Chiêm Đồng và chú tiểu Thích Thanh Bần mới đến thế. Tôi đem những gì nghe được ở chùa An Lạc kể cho bạn hữu nghe, đứa nào cũng khoái và muốn đến chùa. Bạn hữu tôi lại kể cho những người quen thân khác. Và chú tiểu nói như thế là vận động tư tưởng là công tác trọng đại. Rồi, tự nhiên, công an bảo vệ chính trị tới nhà tôi bắt tôi giam nhốt. Tôi hoàn toàn không hiểu tại sao, do đâu tôi bị bắt. Ông bảo tôi khai hết sự thật, tôi đã khai hết sự thật. Chẳng cần dấu diếm làm gì. Tôi đã thấy Trần Chiêm Đồng và chú tiểu Thích Thanh Bần ở cachot đối diện cachot tôi. Họ ra hiệu cho phép tôi nói thật, nói hết. Chiến đấu bằng tư tưởng là chiến đấu đẹp, là chiến đấu cho sự thật, cần chi phải gian dối.


Tôi còn muốn nói thật với ông rằng, không có thứ gì tẩy xóa nổi sự say mê chủ nghĩa tiểu tư sản đã khắc sâu trong tâm hồn tôi. Ông đừng dối lòng ông là ông không thèm làm người tiểu tư sản. Hãy liệng cái xe Honda của ông xuống sông rồi gạ đi chung xe với đồng chí của ông xem sao! À, lúc ấy ông sẽ thấy quyền tư hữu của cộng sản và ông mơ ước làm người tiểu tư sản hào sảng, thông minh, lãng mạn. Cái nôi của loài người không là chủ nghĩa cộng sản đâu. Mà là chủ nghĩa tiểu tư sản. »


***


Chương 14


Đúng 5 giờ sáng, công anh ập vào chùa An Lạc. Từ lúc nào, bộ đội vây quanh khu vực chùa, chắn hết các lối ra vào, không ai biết. Chủ tiểu Thích Thanh Bần chưa kịp rung hồi chuông sớ. Chú vừa nâng cái chày thì họng súng lạnh ngắt đã dí sát sau gáy chú, bắt chú buông tay xuống và đẩy chú trở vô. Chẳng hề sợ hãi, chú tiểu thản nhiên làm theo lệnh công an .Thân chú, chú không lo mà rất lo cho Hoàng Sơn Trường vì đêm qua Trường ngủ ở chùa. Trường định viết những trang đầu của chủ thuyết tiểu tư sản tại đây. Công an đã lùa chú tiểu Thích Thanh Bần vào chính điện, nơi đó, tất cả những người tu hành bị cưỡng bức tới, ngồi co ro một góc. Nhiều mũi súng chỉa sát . Những khuôn mặt lạnh lùng. Một lát, sư cụ được dẫn ra, được mời ngồi ở chỗ ngài ngồi tụng kinh niệm Phật nhưng quay lưng về phía Phật đài.


Công an lên tiếng:


– Ai là Thích Tâm Bình?


Sư bác Tâm Bình trả lời:


– Tôi.


Công an hất đầu:


– Anh đứng lên!


Sư bác Tâm Bình đứng lên. Công an gọi tiếp:


– Thích Giác Ngộ, Thích Chánh Đạo, Thích Giáo Lý, đứng lên!


Ba nhà sư đứng lên.


– Đáp “phải” hay “không phải”, thế thôi. Gọn ngắn và khẩn trương. Thích Tâm Binh, tên thật của anh là Lê Minh Mẫn, phải không ?


– Phải.


– Thích Giác Ngộ, tên thật của anh là Nguyễn Trọng Thu, phải không ?


– Phải.


– Thích Chánh Đạo, tên thật của anh là Phạm Tuấn, phải không ?


– Phải.


– Thích Gìáo Lý, tên thật của anh à Vũ Văn Hiền, phải không ?


– Phải.


– Kể từ phút này, chúng tôi bắt các anh!


Công an còng tay bốn nhà sư lại.


– Các anh nghe đọc “Quyết Định


“Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
Bộ Nội Vụ
Sở Công An Nội Chính thành phố Sàigòn
Quyết Định số….


…….


…….Bắt nhốt những tên Lê Minh Mẫn tự Thích Tâm Bình, Nguyễn Trọng Thu tự Thích Giác Ngộ, Phạm Tuấn tự Thích Chánh Đạo, Vũ Văn Hiền tự Thích Giáo Lý can tội tổ chức bè phái chống phá cách mạng, đe doạ an ninh tổ quốc…”


Công an hỏi:


– Các anh có phản đối gì không?


Bốn nhà sư cùng đáp:


– Không.


Công an lễ độ – thứ lễ độ giả tạo – nói với sư cụ:


– Thưa thượng toạ, chúng tôi rất tiếc đã xúc phạm cửa Phật và thượng toạ. Chế độ ta không hề đàn áp tôn giáo, mọi công dân đều được tự do tín ngưỡng trong pháp chế của nhà nước . Những người bị bắt vì phạm pháp chế của nhà nước, chống phá chế độ nên bắt buộc chúng tôi phải bắt nhốt để giáo dục họ. Đồng thời chúng tôi mời hết các nhà sư về Sở để hỏi thăm vài việc. Chúng tôi sẽ khám xét chùa xem có tài liệu nào làm ô uế thanh danh chùa không , xin thượng toạ tha thứ…


Sư cụ khoan thai:


– Các ông cứ làm nhiệm vụ.


Sư bác Tâm Bình xin phép công an thưa với sư cụ vài lời. Công an đồng ý.


– Bạch Thầy, chúng con thật có lỗi với Thầy…


Sư cụ mĩm cười độ lượng:


– Chúng sinh đầy tội lỗi, riêng gì các con. Tham vọng, tham vọng lạc lối dẫn con người vào cõi u mê.Tự do là tội ác và hình phạt. Tự do là chiến tanh và ngục tù. Các con chỉ có lỗi riêng với thầy là đã dấu diếm hành động riêng tư của các con, không cho thầy biết. Nếu thầy biết, thầy sẽ hoan hỉ vào tù với các con….


Công an khó chịu:


– Đủ rồi, thưa thượng toạ. Nhà chùa không thể là cái ổ phản động và thượng toạ nên tụng kinh gõ mõ để lên Niết Bàn. Nhà tù khác Niết Bàn. Ở đó, thượng toạ không được ăn chay, không được gọt đầu, không được hưởng một tí đặc quyền đặc lợi nào hết. Và theo đúng Nội Quy nhà tù, mọi người phải gọi thượng toạ là anh. Thượng toạ cần sáng suốt để còn được xưng tụng là thầy cho đến lúc lên cõi Niết Bàn.


Công an cứ nói, sư cụ đã vô thiền rồi. Họ lục soát chùa chiền, moi móc đủ chỗ, tự do xúc phạm chốn thiêng liêng. Trước khi giăng lưới bắt bốn nhà sư, họ đã theo dõi bốn nhà sư cả tháng trời. Họ biết những ai hay đến chùa, ngủ lại chùa. Ngô Tỵ, Trần Chiêm Đồng, Hoàng Sơn Trường có tên trong sổ đen công tác của họ. Họ điều tra lý lịch ba người thanh niên này. Họ nắm vững diễn tiến tư tưởng của Ngô Tỵ sau khi Ngô Tỵ ly khai Đoàn Thanh Niên Cộng Sản Hồ Chí Minh.


Dĩ nhiên, họ có địa chỉ của từng người và rõ giờ giấc, địa điểm tới lui của từng người . Họ quyết đoán Tỵ, Đồng, Trường nằm trong tổ chức của bốn nhà sư. Họ không hề biết chú tiểu Thích Thanh Bần và Hoàng Sơn Trường thuộc một tổ chức riêng biệt, độc đáo. Chú tiểu Thích Thanh Bần cũng vô cùng ngạc nhiên. Nhưng chú rất sung sướng. Trường đã tâm sự với chú: “Ở thời của chúng ta, chỉ đánh chết chủ nghĩa cộng sản mới đắc đạo. Không dám đánh cộng sản thì dẫu chẳng nỡ giết con kiến cũng mang tội ác”! Chú tiểu Thích Thanh Bần không bị vướng mắc tâm hồn nữa. Còn nỗi niềm lo lắng trong chú là Hoàng Sơn Trường. Nếu Trường bị bắt, chủ thuyết tiểu tư sản ra sao và đâu là vũ khí tư tưởng võ trang toàn diện cho cuộc chiến đấu tiêu hủy chủ nghĩa cộng sản .


Lịch sử có nhiều bất ngờ hữu hạnh và bất hạnh. Chủ thuyết tiểu tư sản đang nằm trên một sự bất ngờ của lịch sử. Chữ thời luôn luôm đúng cho mọi trường hợp, cho mọi thời đại, cho mọi người . Nó quyết định vận mạng của dân tộc và của nhân loại. Nếu Hoàng Sơn Trường bị bắt, bị chết chưa kịp viết xong chủ thuyết tiểu tư sản thì cái thời của Trường oan nghiệt quá. Người ta chỉ giăng lưới bắt cá nhỏ, không ngờ bắt luôn được cá mập. Chú tiểu Thích Thanh Bần lo lắng, hồi hộp và nuối tiếc.


Công an đã dẫn Hoàng Sơn Trường ra, đẩy cậu ngồi chung với các nhà sư. Mấy trang bản nháp mở đầu cho chủ nghĩa tiểu tư sản cũng bị tịch thu. Giòng cuối còn tươi màu mực: “…Không còn tài phiệ khuynh loát quốc gia, không còn kỹ thuật nô lệ hoá con người , tước đoạt mọi sáng tạo của con người, không còn giáo điều cưỡng bức con người thù hận con người….”


Người công an chỉ huy cuộc vây bắt hỏi Hoàng Sơn Trường:


– Anh thuộc tổ chức sư mô phản động?


– Không.


– Anh đến đây làm gì?


-Thăm bạn tôi là Thích Thanh Bần.


– Thích Thanh Bần là ai?


– Tôi đây.


– Đứng lên… Cả Hoàng Sơn Trường nữa.


Hai người bạn đứng lên.


– Ngô Tỵ và Trần Chiêm Đồng quen hai anh?


Chú tiểu Thanh Bần đáp:


– Quen tôi thôi.


Công an hỏ:


– Bốn anh thuộc một tổ chức khác?


Chú tiểu Thanh Bần nói:


– Chúng tôi không có tổ chức, chưa có tổ chức.


Người công an cầm mấy trang bản nháp, đọc qua, rồi hỏi:


– Ai dám viết chủ nghĩa tiểu tư sản?


Hoàng Sơn Trường trả lời:


– Tôi.


– Nhóc con mà viết nổi à? Ai đã nói với anh về chủ nghĩa tiểu tư sản?


– Tôi suy tư và viết.


– Nói thật đi, rồi về Sông Bé sống với gia đình. Đừng tưởng qua mặt nổi công an. Chúng tôi biết các anh hơn các anh biết các anh nữa. Các anh xui dục Ngô Tỵ ly khai cách mạng, rủ rê Trần Chiêm Đồng cấu kết người Hoa chống chế độ. Ai là tác giả chủ nghĩa tiểu tư sản dơ dáy, ăn bám.


– Tiểu tư sản hào hoa, lãng mạn. Dơ dáy dùng cho chủ nghĩa khác.


– Được rồi. Mẹ anh sẽ ân hận chứ không phải anh, nếu anh không nói ai dạy anh chủ nghĩa tiểu tư sản.


Công an còng tay Hoàng Sơn Trường và Thích Thanh Bần với nhau để phân biệt hai vụ. Nhà lập thuyết và nhà sư chung một còng. Cuộc lục soát vẫn còn, kỷ lưỡng hơn, thận trọng hơn vì chủ thuyết tiểu tư sảnh chạm đúng nọc độc tôn của chủ nghĩa cộng sản . Hai người bạn trẻ có thể nói chuyện thầm thì.


– Chúng ta vô duyên với lịch sử.


– Đừng buồn. Cần tồn tại. Chúng ta không cần sống mà cần ý nghĩa của sự sống của chúng ta tồn tại. Vậy phải biết cách sống. Nhà chùa là sơ khởi, nhà tù là hoàn thành. Hoa nở ở nhà chùa, sẽ kết trái ở nhà tù. Phật xưa không viết. Chúa xưa không viết. Khổng Tử xưa không viết. Môn đồ của họ viết. Môn đệ của họ nghe rồi truyền giảng. Biết đâu, ở tù, chúng ta sẽ gặp người lỗi lạc. Và chủ nghĩa của chúng ta sẽ thăng hoa.


– Cậu vẫn ước mơ?


– Luôn luôn ước mơ.


– Biết bao giờ khai sinh chủ nghĩa tiểu tư sản?


– Cậu đã rung chuông khai sinh nó rồi.


Công an thúc báng súng lên vai chú tiểu Thích Thanh Bần:


– Bàn tán gì thế?


Họ tháo còng ra và còng riêng từng người, bắt mỗi người ngồi một góc. Đến 10 giờ, cuộc lục soát hoàn tất. Công an phát giác nhiều truyền đơn, tài liệu học tập chống phá cách mạng. Họ lợi dụng cơ hội tịch thu toàn bộ kinh sách của nhà chùa . Họ tịch thu luôn “tài sản” của các nhà sư. Họ lập biên bản và đọc cho sư cụ nghe. Sư cụ vẫn thiền, họ lay sư cụ tỉnh và yêu cầu sư cụ ký vào biên bản xác nhận họ đã tới chùa, không gây huyên náo, không xúc phạm cửa Phật, chỉ tịch thu tang vật phản động.


Sư cụ không ký, ngài nói:


– Với Phật tử, cái là cái không, cái được là cái mất, mọi chuyện trên đời ra cái gì đâu mà quý ông bắt tôi ký.


Người công an chỉ huy cười thật đểu:


– Này sư cụ , Phật không dạy thế đâu, sư cụ đừng chơi chữ. Với người cộng sản, được thì chẳng bao giờ mất cả. Sự ưu việt của chủ nghĩa chúng tôi thừa khả năng biến cái vô sắc thành hữu sắc.


Sư cụ lặng thinh. Chú tiểu Thích Thanh Bần tiếp lời Thầy:


– Nhưng các ông không đủ khả năng biến cái vô sản thành hữu sản. Các ông chỉ có tài biến cái vô sản thành cái vô cùng tăm tối.


Người công an chỏ tay về phía chú tiểu:


– Ký sinh trùng ăn bám xã hội, trốn tránh lao động, phản tiến bộ mà cũng dám nói hỗn à?


Chú tiểu bình tỉnh:


– Tôi đã đọc nhiều sách vở về chủ tịch Hồ Chí Minh, thấy chủ tịch nói năng đạo đức chứa chan hơn cả Phật, cả Chúa. Ngôn ngữ và cung cách của ông đối với những người tu hành khiến tôi nghi ngờ cái vĩ đại của Hồ chủ tịch. Ông nên lễ độ để làm sáng danh người cộng sản . Chúng tôi đã đi tu thì đi tù cũng thế và sống hay chết đều vô nghĩa. Người cộng sản hình như , chưa ai dám tự thiêu. Chúng tôi có nhiều người đã dám tự thiêu. Và sẽ có cả tôi, nếu cần.


Người công an bĩu môi:


– Xăng dầu không thừa cho anh dùng vào việc tự nướng cái thân anh . Bọn Mỹ Ngụy xúc động chuyện tự thiêu của các anh chứ người cộng sản thì dửng dưng. Anh tự thiêu, chúng tôi sẽ đánh thuế ngu và bắt thân nhân anh phải nôp. Ở tù, một que diêm cũng bị cấm, nghe chưa?


Chú tiểu nói:


– Khi tôi cần tự thiêu, tôi tự thiêu bằng lửa của trái tim tôi, hiểu chưa?


Sư cụ lên tiếng mắng chú tiểu:


– Thanh Bần, con nói nhiều quá.


Rồi sư cụ vẫy người công an:


– Đưa đây, tôi ký.


Người công an bảo sư cụ giữ một tờ biên bản, đoạn nghiêng mình rất hài hước, xấc láo:


-Nhà nước bảo về chùa An Lạc một thời gian. Từ nay cấm mọi đàn chay, lễ lạc.


Công an dẫn dắt các nhà sư rút khỏi chùa. Chú tiểu Thích Thanh Bần bị đưa về Sở Công An. Hoàng Sơn Trường đi đâu, chú không rõ. Khoảng 22 giờ cùng ngày, ngó qua ô cửa cachot, chú thấy Ngô Tỵ và Trần Chiêm Đồng. Đợi khuya vắng, cai ngục ngủ gà ngủ gật, chú gọi Ngô Tỵ,Trần Chiêm Đồng và dặn dò nên khai báo sự thật, không cần dấu diếm vì dấu diếm sẽ có thể bị khai thác dài dài và làm liên lụy những người khác.


Ngay hôm sau, chú tiểu Thích Thanh Bần được gọi ra làm việc và chú được “vinh dự” với Mai Chí Thọ.


– Nghe nói chú đọc nhiều sách lắm phải không?


– Không nhiều lắm. Tôi nghèo và ít thì giờ.


– Chú đã đọc Tiêu Sơn tráng sĩ chưa?


– Rồi.


– Và chú muốn biến chùa An Lạc thành chùa Tiêu Sơn?


– Ông hiểu lầm đó.


– Chú nghĩ gì về Phạm Thái?


– Tôi yêu nhà Tây Sơn.


– Yêu nhà Tây Sơn mà chú lại noi gương Chiêu Lỳ?


– Phạm Thái và tôi khác nhau đủ thứ, tâm trạng và thời đại, tài hoa và ước mơ.


– Phạm Thái là tên phản động. Tây Sơn là cách mạng, là chúng tôi


– Thư ông, tôi đứng về phía Tây Sơn khi Gia Long đã diệt xong Tây Sơn.


– Tôi không hiểu chú muốn nói gi?


– Khi ấy, Gia Long hạ Tây Sơn xuống hàng…Ngụy!


– Bây giờ thì tôi hiểu chú.


Mai Chí Thọ mời chú tiểu Thích Thanh Bần hút thuốc Lucky. Chú thản nhiên rút thuốc, châm lửa, nhả khói.


– Chú định nghĩa tráng sĩ là gì?


– Là người phù suy.


– Ngụy đã thịnh.


– Lúc này Ngụy suy.


– Thịnh suy là định luật của muôn đời, chú chống nổi chân lý?


– Ngụy chưa hề thịnh. Tôi muốn nói về những người ngụy Tây Sơn thời đại của tôi.


– Tôi lại hiểu thêm chú chút nữa.


– Cám ơn ông.


– Ai đã nói với chú về chủ về chủ nghĩa tiểu tư sản?


– Bạn tôi, Hoàng Sơn Trường?


– Hoàng Sơn Trường?


– Vâng, thần tượng của tôi, nhà lập thuyết trẻ nhất lịch sử triết học cổ kim, đông tây.


– Tôi không tin bạn chú ghê gớm vậy.


– Tại vì hoặc ông kiêu ngạo, hoặc ông chẳng biết cái gì khác ngoài cái miệng giếng chủ nghĩa cộng sản của ông!


Mai Chí Thọ muốn bợp chú tiểu Thích Thanh Bần vài cái. Ngụy quân tử đã nén giận, mĩm cười, lên mặt đạo đức:


– Chú sẽ nên người nếu được giáo dục tốt.


– Cám ơn ông , tôi vẫn được giáo dục tốt.


– Tôi sẽ làm việc với chú vào dịp khác.


Mai Chí Thọ nhấn chuông. Một người công an khác dẫn chú về cachot. Từ lúc này, tay chú bị còng chéo vào chân. Dĩ nhiên, đó là lệnh của giám đốc Mai Chí Thọ.


***


Chương 15


Căn phòng chỉ có hai người: Hoàng Sơn Trường và mẹ cậu. Nhà lập thuyết trẻ tuổi sửa lại cặp kính cận, nhìn mẹ và nhẹ nhàng hỏi:


– Mẹ còn gì để nói với con không ?


Người mẹ ngắm khuôn mặt bơ phờ của con, ái ngại:


– Tại sao con không chịu khai?


 

– Con đã khai hết rồi.


– Khai sự thật cơ.


– Con đã khai đầy đủ sự thật.


– Còn điều cơ bản con dấu diếm


– Ai bảo mẹ thế?


– Các đồng chí chấp pháp.


– Bọn ngu ấy không chịu tin sự thật. Khi con nói thật mà chúng nó chẳng thích nghe, khai báo chi nữa!


– Ai đã xui con, đã dạy con viết cái chủ thuyết tiểu tư sản cực kỳ phản động ấy?


– Sự suy tư của con!


– Con qua mặt cả mẹ à?


– Con nói thật.


– Mẹ không tin.


– Tùy ý mẹ.


– Mẹ sẽ khước từ con, gia đình sẽ khước từ con. Con làm ô danh sự nghiệp cách mạng của mẹ.


– Không phải đâu, con muốn làm rạng danh gia đình. Tuổi trẻ cần lập chí. Chí của con đối nghịch chí của mẹ. Thế thôi. Vì sự nghiệp cộng sản của mẹ, mẹ cứ việc từ con, càng sớm càng tốt.


– Con bằng lòng nằm tù mãn kiếp?


– Vâng.


– Con phá hủy tương lai các em con.


– Mẹ về Sông Bé hoạt động đi! Con không còn gì để trả lời mẹ nữa.


Người Phó chủ tịch Hội Liên Hiệp Phụ Nữ Sông Bé đập bàn đứng dậy, bỏ ra khỏi phòng. Một mình Hoàng Sơn Trường ngồi lại trong sự im lặng của căn biệt thự hoang vắng, căn biệt thự chủ nhân đã di tản, nay biến thành một thứ nhà tù. Cậu ngồi bất động. Thời gian bước chân kiến trên nỗi hiu quạnh. Và nỗi hiu quạnh nhỏ từng giọt xuống hồn cậu.


Buổi chiều đã vướng vất ngoài kia. Tia nắng vàng thoi thóp lọt qua khe cửa. Gói thuốc còn một điếu cuối cùng. Hoàng Sơn Trường cảm thèm ly nước lạnh. Môi cậu khô, cổ họng cậu khô. Khói thuốc làm cậu nhức đầu. Khói thuốc tụ ở mí mắt cậu. Đưa tay dụi mắt, hơi khói vướng mắt và nước mắt cậu ứa ra, ứa ra mãi.


Người công an mở cửa, bước vào phòng đúng lúc ấy. Ngọn đèn néon bật sáng trưng. Trường không có mù-soa lau mắt. Cậu gở kính ra. Người công an hỏi:


– Hối hận hả, cậu tiểu tư sản?


– Ông lầm rồi, ông cộng sản à!


– Tại sao khóc?


– Nếu nói thật rằng khói thuốc khiến tôi cay mắt, ông sẽ không tin. Nhưng nếu bắt chước những anh yêu nước giả vờ nói phét rằng tôi khóc vì thương xót tổ quốc, dân tộc, chắc ông dễ tin hơn. Vậy tôi chọn sự nói phét.


– Cậu đã nói phét?


– Đúng.


– Cậu nói phét là chính cậu định viết chủ thuyết tiểu tư sản?


– Việc này tôi nói thật.


– Nói phét.


Người công an khích Hoàng Sơn Trường. Cậu đâu có ngu.


– Ông muốn thảo luận về tiểu tư sản chủ nghĩa không ?


Người công an hớn hở:


– Tôi rất thích nghe.


– Vậy, trước hết, tôi cần ly nước lạnh.


– Đồng ý. Cậu còn thuốc hút không ?


– Hết.


– Muốn gì nữa. Nhớ rằng, muốn gì cũng được, chỉ cần chịu thảo luận sôi nổi về tiểu tư sản chủ nghĩa.


– Tôi rất muốn thảo luận.


Người công an trở ra. Lát sau, ông ta mang vào một chai nước lạnh, một cái ly cối đầy đá, hai gói thuốc Président, một hộp diêm Samasa. Hoàng Sơn Trường uống liền một hơi cạn hai ly nước. Rồi cậu hút thuốc và bắt đầu nói:


– Để dễ dàng hiểu tiểu tư sản chủ nghĩa của tôi, tôì hỏi, ông trả lờ.


Người công an tròn xoe mắt:


– Can phạm hỏi công an?


Nhà lập thuyết cười:


– Tôi và ông thảo luận về chủ nghĩa mới. Ông tìm hiểu thì ông trả lời tôi cho nó dễ hiểu.


– Đồng ý.


– Mở đầu là câu hỏi nằm trong bản chất con người . Thí dụ: Ông cưới vợ thì vợ ông thuộc về riêng ông hay thuộc về tập thể?


– Dĩ nhiên, thuộc riêng tôi.


– Tức tài sản riêng của ông ?


– Chứ sao?


– Nếu nhiều người khác đòi ngủ với vợ ông, ông tính sao?


– Tôi bảo vệ tài sản của tôi.


– Đó, tài sản của riêng ông tức là tư hữu. Bảo vệ tài sản tức là bảo vệ quyền tư hữu. Ông nặng chất tư hữu, ông giải thích giùm tôi, ông cộng sản chỗ nào?


Người công an gạt ly nước đổ tung xuống nền nhà.


– Bố láo!


Hoàng Sơn Trường chậm rãi:


– Trúng tim ông rồi hả? Ông nên thành thật đi! Người vô sản đòi bảo vệ quyền tư hữu! Khôi hài hay bố láo! Tôi hay ông ?


Người công an nín thinh. Một lát, ông gật gù:


– Cậu có thể viết chủ nghĩa của cậu trên giấy không ?


Hoàng Sơn Trường lắc đầu:


– Không.


– Vậy là cậu nói phét, cậu nghe lỏm ai nói, cậu kể lại chứ gì?


– Ông đánh giá tôi thấp quá. Ông kháy tôi rẻ tiền quá. Nếu ông muốn tìm hiểu chủ nghĩa của tôi, khuyên ông cứ bình tỉnh nghe tôi thí dụ rồi trả lời thí dụ của tôi. Dần dần, ông sẽ vỡ ra và ông sẽ tự hỏi ông còn là cộng sản không.


– Được, nếu thí dụ láo lếu, cậu đừng trách.


– Hoàn toàn đứng đắn. Thí dụ: Ông thích cái xe Honda của riêng ông để lau chùi, o bế, để muốn chở vợ con đi chơi lúc nào thì đi hay thích cái xe Honda tập thể, muốn đi phải đăng ký vài ngày?


– Tôi thích bỏ tiền sắm riêng Honda của tôi.


– Nó vĩnh viễn của ông?


– Nó là tài sản nhỏ của tôi.


– Là của riêng?


– Đúng.


– Của riêng, tiếng Hán-việt gọi là tư sản. Của riêng nhỏ gọi là tiểu tư sản, ông đã là tiểu tư sản rồi mà ông không biết, ông cứ chửi rủa giai cấp của ông, ông cứ nhận phứa ông là vô sản, cộng sản!


– Hay lắm, hay lắm. Nhưng ai mớm cho cậu những thí dụ đó?


– Tôi…tự biên tự diễn.


– Tôi đùa với cậu hơi lâu rồi đấy.


– Ông đừng đùa nữa.


– Ai là thầy cậu?


– Tôi. Ai là thầy của chủ tịch Hồ Chí Minh?


– Lénine vĩ đại.


– Ai là thầy của Lénine vĩ đại?


– Karl Marx và Fiedrich Engels.


– Ai là thầy của Karl Marx?


Người công an thộn mặt ra. Nhà lập thuyết Hoàng Sơn Trường gỡ kính cầm trên tay:


– Ông giận tôi không thèm trả lời hả? Vậy tôi trả lời tôi giùm ông: Tư bản chủ nghĩa đẻ ra Karl Marx, tư bản là thầy của Karl Marx. Cộng sản chủ nghĩa đẻ ra tôi, cộng sản là thầy tôi. Nói rõ ràng, vì sự bất lực của chủ nghĩa cộng sản nên phải có chủ nghĩa tiểu tư sản.


Người công an vỗ vai nhà lập thuyết:


– Cậu có khùng không ?


Nhà lập thuyết đáp gọn:


– Hình như tôi khùng!


Buổi tối, người ta cho Hoàng Sơn Trường ăn một dĩa cơm sường nướng. Cậu là can phạm đặc biệt nên không bị còng tay, còng chân. Tù nhân ở villa, ăn cơm dĩa, hút thuốc Présiden là tù nhân thượng hảo hạng. Ăn xong dĩa cơm sườn ngon lành, Hoàng Sơn Trường nằm dài ở góc phòng hút thuốc lá. Cậu rất sung sướng vì biết đích xác rằng cộng sản sợ hãi vũ khí tư tưởng. Và cậu chẳng còn ngạc nhiên tại sao cộng sản lên lớp chính trị nó coi thứ Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Cao Kỳ như cỏ rác mà lại thù hận nể nang ông Ngô Đình Nhu và chủ nghĩa cần lao nhân vị.


Đến nửa đêm, người ta bịt mắt đưa Hoàng Sơn Trường tới một nhà giam khác. Khi cậu được mở mắt, mở còng, trời đã sáng và cậu thấy mình nằm trong cachot. Người ta đã lấy lại thuốc lá và diêm. Tiêu chuẩn cơm dĩa chấm dứt luôn. Cửa gió cachot gài chốt bên ngoài kín mít. Trường không biết cậu bị nhốt tại nhà giam nào. Cậu ngủ li bì, bất cần thời gian. Cachot nhỏ hẹp, không tồi tệ mấy vì có cầu tiêu và vòi nước chảy ri rỉ.


Một hôm, người ta lại bịt mắt cậu, đẩy cậu lên xe hơi chạy vòng vo những nơi nào nơi nào rồi xe dừng lại. Người ta lôi cậu ra, nắm cánh tay cậu dìu cậu leo thang lầu, đưa cậu vào căn phòng gắn máy lạnh, mở mắt cậu và bảo cậu ngồi xuống ghế bọc da sang trọng trước cái bàn giấy lớn.


Một người đàn ông khoảng dưới 60 tuổi xuất hiện. Tóc ông ta đã bạc nhiều nhưng tướng ông còn quắc thước, nước da đỏ tươi, cặp mắt trong sáng. Hoàng Sơn Trường nhận ra ông ta, hình ông ta thường đăng trên báo ”Sàigòn giải phóng”.


– Cậu biết tôi không ?


– Dạ biết. Ông là ông Mai Chí Thọ.


– Tôi cũng biết cậu qua sự giới thiệu của mẹ cậu và của chú tiểu Thích Thanh Bần.


– Thưa ông , hân hạnh cho tôi quá.


– Học thuyết tiểu tư sản của cậu ra sao mà chú tiểu chùa An Lạc xưng tụng hết lời?


– Thưa ông, học thuyết của tôi gồm toàn thí dụ!


Một người công an đã bảo Hoàng Sơn Trương khùng, cậu muốn đóng vai trò điên khùng để tồn tại, noi gương Tôn Tẩn.


– Học thuyết…thí dụ?


– Vâng, thí dụ và thí dụ rồi vấn đáp.


– Cậu thử thí dụ xem nào.


– Thí dụ của chủ thuyết tiểu tư sản thường hay xúc phạm tới người muốn biết. Tôi sợ ông sẽ không hài lòng.


– Cứ thí dụ đi!


– Thưa ông , cái đồng hồ Rolex ông đeo trên tay của riêng ông hay là thuộc tài sản công cộng?


– Của riêng tôi.


– Nó là tư sản của ông ?


– Tư sản nhỏ mọn, đáng kể gì.


– Thưa ông Giám Đốc, nếu có vị đồng chí nào lột cái Rolex của ông khơi khơi, ông nghĩ sao?


– Xin thì tôi cho, tự nhiên lột thì không được.


– Thì ông phải bảo vệ?


– Tôi bỏ tù!


– Thưa ông , đó là chủ thuyết của tôi.


Mai Chí Thọ phá ra cười. Hoàng Sơn Trường cười theo. Cậu nói:


– Ông nên theo chủ nghĩa tiểu tư sản đi!


Mai Chí Thọ vẫn cười ngất. Người cộng sản ít khi được cười, ít khi dám cười. Họ làm ra bộ nghiêm túc, khắc khổ thật tội nghiệp. Vớ được dịp cười vô tội vạ, Mai Chí Thọ cười như điên.


– Tôi theo chủ nghĩa tiểu tư sản?


– Vâng. Gốc của ông là trí thức tiểu tư sản, dẫu khước từ nó,tâm hồn ông vẫn cứ tiểu tư sản. Tôi xin phép lý luận: Cái đồng hồ Rolex là tư sản nhỏ mọn của ông như ông xác định. Vậy nó là tiểu tư sản. Ông đòi bảo vệ nó là ông đòi bảo vệ quyền lợi tiểu tư sản, ông đòi quyền tư hữu. Mãi mãi ông là tiểu tư sản.


Mai Chí Thọ hết cười. Ông ta đanh mặt lại:


– Cái mặt cậu cũng đòi lập thuyết?


Hoàng Sơn Trường nổi nóng:


– Thế kỷ trước , chắc đã có người khinh bỉ Karl Marx như ông khinh bỉ tôi hôm nay?


– Marx là vĩ nhân, cậu là tép riu.


– Trước khi trở thành vĩ nhân, Marx đã là tép riu. Thưa ông, tôi rất buồn vì người Việt Nam mình nặng tinh thần vọng ngoại. Tại sao một người Việt Nam không thể lập thuyết? Tại sao người Việt Nam suốt đời cứ phải bái tụng các chủ thuyết ngoại lai? Thuyết của tôi sẽ chẳng ra cái gì cả nhưng tôi tự hào tôi đã lập thuyết.


– Thuyết thí dụ?


-Vâng, thuyết thí dụ.


– Thuyết của cậu khôi hài, ngớ ngẩn. Nó sẽ dẫn cậu qua các nhà tù, các trại tập trung mãn kiếp cậu. Cậu chỉ là thằng nhỏ mới lớn lãng mạn và mơ mộng hão huyền, ham danh, thèm tiếng, thứ ngựa non muốn chứng tỏ ta độc đáo, ta khác đời. Thả cậu về cũng chẳng làm nên tích sự gì. Giữ cậu lại để cậu nhìn rõ cậu hơn, chừng nào hết ham luận bàn chủ nghĩa thí dụ sẽ thả. Còn thí dụ, còn nằm tù.


Hoàng Sơn Trường thấy không nên nổi nóng, không nên tự ái, cứ mặc kệ người cộng sản coi thường mình. Như thế có lợi cho sự tồn tại của mình hơn. Tư bản, ngảy xưa, nó bảo cộng sản là cái bóng ma. Cộng sản, ngày nay , nó tưởng tiểu tư sản chỉ là những thí dụ ngớ ngẩn. Nó tưởng thật hay nó giả vờ hay nó thấm đòn…thí dụ.? Mới thí dụ thôi, cộng sản đã nóng mặt. Đi vào toàn bộ tư tường sắp đặt thành hệ thống, cộng sản sẽ chết đứng, sẽ tan rã. Anh còn khoẻ và tôi đang yếu, tôi chưa thể nói hết với anh những điều tôi cần nói. Đợi tôi lớn hơn, từng trải hơn, tôi sẽ cho anh biết sức quyến rũ nam châm của tiểu tư sản chủ nghĩa cuốn hút các thứ chủ nghĩa khác. Và chính tiểu tư sản mới xứng đáng độc tôn. Vì nó thực sự tạo hạnh phúc cho con người .


– Cậu cần yêu cầu gì tôi không ?


– Cám ơn ông , tôi không có yêu cầu gì cả.


– Cậu cần suy nghĩ.


– Vâng, tôi cần suy nghĩ nhiều.


– Suy nghĩ về tương lai của cậu.


– Vâng.


Người ta không bịt mắt Hoàng Sơn Trường nữa và cho cậu về đề lao Gia Định, nhốt cậu trong một cachot đủ ánh sáng và không bị còng. Những câu vấn đáp cuối cùng của Mai Chí Thọ và Hoàng Sơn Trường, mọi người ráng hiểu lấy ý mình.


Hoàng Sơn Trường nằm cachot hai tuần thì được gọi ra viết những ý nghĩ của cậu về ”cái gọi là” tiểu tư sản chủ nghĩa. Cậu cố nhớ lại mấy trang nháp viết ở chùa An Lạc để dẫn vào những thí dụ và thí dụ! Càng bị viết cậu càng thí dụ vớ vẩn. Khi cạn thí dụ, cậu xào lại những thí dụ đã thí dụ. Những trang viết của cậu được báo cáo lên lãnh đạo cấp cao. Người ta kết luận cậu là thằng dở hơi, thằng cám hấp. Tuy nhiên, trong đầu óc cậu chứa chất nhiều tư tưởng phản động cần phải cải tạo dài hạn.


Nhà lập thuyết nằm trong cachot viết chủ nghĩa tiểu tư sản bằng nỗi cô đơn. Cậu bắt đầu lại những trang dẫn nhạp chẳng…thí dụ tí nào: ”Cuộc chiến tranh ý thức hệ giữa tư bản và cộng sản đã chấm dứt từ lâu. Bây giờ chỉ còn là tranh giành quyền lực, quyền làm chủ toàn thế giới của họ. Trong tranh giành quyền lực, họ đã thoả hiệp, toa rập gieo tai vạ xuống những vùng ảnh hưởng của họ, xuống đám tín đồ sùng bái chủ nghĩa của họ…” Hoàng Sơn Trường đã nói với chú tiểu Thích Thanh Bần:”Nhà chùa là sơ khởi, nhà tù là hoàn thành. Hoa nở ở nhà chùa, sẽ kết trái ở nhà tù”. Hoàng Sơn Trường tin tưởng chủ nghĩa tiểu tư sản của cậu sẽ thăng hoa, sẽ mặt trời rực rỡ làm tan bóng tối bất hạnh âm u đang bủa kín trái đất.


Cậu nằm tù hôm nay như Chúa Giêxu bị đóng đinh trên thập giá nghìn xưa. Hạnh phúc đẻ ra bất hạnh. Nhưng bất hạnh tạo ra hạnh phúc, nỗi bất hạnh của những tâm hồn đẹp..Hoàng Sơn Trường là một trong những tâm hồn đẹp của thời đại chúng ta, của thế hệ tuổi trẻ Việt Nam rạng ngời….


***


Chương 16


Tháng 8 năm 1978, hai mươi tù nhân đặc biệt của đề lao Gia Định và khám Chí Hoà được đưa đi lao động cải tạo ở trại Sa Ác. Hai mươi tù nhân của chín, mười vụ khác nhau; của chín, mười tổ chức khác nhau; của chín, mười khuynh hướng khác nhau, đã ngồi chung trên một chiếc xe bít bùng, người tổ chức này dính vào tay người tổ chức kia bằng một cái còng số 8 của Mỹ do Cộng Sản xử dụng. Thân phận của họ dính liền với nhau. tự nhiên họ gần gũi, thân mật, gắn bó mà khỏi cần diễn văn rào đón thăm dò ngớ ngẩn.


Họ đến Sa Ác lúc 11giờ. Đoạn đường từ thị xã Bà Rịa vào Sa Ác gập ghềnh, lồi lõm, cát đỏ mịt mù khiến họ bị nhồi tung và ngộp thở. Sau thủ tục ghi danh nhập trại, khám xét hành lý, người ta dẫn họ vô căn nhà ở góc trại, khoá chặt cửa lại. Họ mệt nhọc, mỗi người tự kiếm chỗ nằm nghỉ ngơi dưỡng sức.


Sa Ác, địa danh không có tên trên bản đồ. Nó là một hòn đảo trong quần đảo ngục tù Xuyên Mộc. Nghe tên đã hãi hùng: Rơi vào chỗ chết, đi qua gỗ! Hàng chục trại tập trung khét tiếng toả nan ở hai đầu quạt Bầu Lâm, Bà Tô… Sa Ác là nơi mút mít rừng già. Nó nằm bên đây rặng Mây Tào, cái chân của dãy Trường Sơn. Bên kia là Hàm Tân. cũng rất phì nhiêu tù ngục, phồn vinh tập trung lao cải. Một giòng sông nhỏ cơ hồ một giòng suối chảy ngang. Hình như nó bắt nguồn từ núi Mây Tào xuôi xuống gặp một nhánh của sông La Ngà. Tên nó là sông Ray. Mùa mưa, sông Ray ngầu đỏ, nước mấp mé sân trại, cuốn xoáy thác lũ. Mùa nắng, cạn khô, xe hơi chạy qua để đi về Long Khánh. Đây vốn là mật khu cộng sản và là vùng oanh kích tự do của không quân Việt Nam . Đây còn là vùng lính Úc thi thố khả năng diệt du kích cộng sản.


Rừng già Sa Ác bị bom Mỹ làm cháy rụi nhiều khu, cây cối ngả nghiêng , hố bom rải rác như những cái ao nhỏ, nước đọng đen ngầu đầy xác lá mục thối. Hầm bí mật chứa vũ khí, lương thực, hầm tránh bom còn nguyên dấu tích. Còn nguyên cả những tấm nhựa plastic tả tơi trên những miệng hầm. Còn nguyên cả những trái bom cắm xuống đất không chịu nổ. Còn nguyên cả những trái mìn của lính Úc gài bẫy cộng sản, để tù nhân cải tạo lãnh đủ. Còn nguyên cả lựu đạn, dao cạo râu, nước ngọt Coca-cola, Sprite chế tạo tại Úc Đại Lợi chôn vùi dưới đất. Còn nguyên, còn nguyên…Chỉ thêm nhà tù, cái kẻng, giây thép gai, công an, tội phạm, đau khổ, thù hận, tuyệt vọng, cam đành tháng tháng, năm năm trên cái địa danh Sa Ác không có tên trên bản đồ nhân văn, kinh tế. Có hàng trăm ngàn địa danh như Sa Ác mà chỉ tù nhân Việt Nam được biết từ khi người Mỹ phủi tay tuyên bố “lịch sử đã sang trang”.


Hai mươi tù nhân đang ngủ ngon bị đánh thức dậy lãnh chiếu, chăn, chén,bmuỗng và cơm nước bữa trưa. Không có màn (mùng) cho tù nhân, dù Sa Ác đầy muỗi và thường xuyên có thứ bệnh sốt rét kỳ quái. Ăn uống xong, họ được vệ binh đeo AK dẫn ra sông ray tắm gội, giặt giũ rồi về học tập Nội Quy, Nếp Sống Văn Hoá Mới, Tiêu Chuẩn Cải Tạo… Họ được lệnh cấm liên hệ với bất cứ một cải tạo viên nào trong trại, giờ nghỉ như giờ lao động. Họ là một đội riêng. Một đội trừng giới. Cán bộ an ninh của trại chỉ định Trần Thế Tưởng làm đội trưởng.


– Tôi không làm đội trưởng nổi.


– Lý do?


– Tôi điếc.


– Anh điếc sao anh nghe rõ tôi nói?


– Tại cán bộ nói lớn.


– Các cán bộ khác cũng sẽ nói lớn.


Cán bộ an ninh chỉ định Đỗ Mậu Qúy làm đội phó kiêm thư ký.


– Tôi không biết ghi biên bản


– Học tập sẽ biết.


– Cán bộ chọn người khác đi.


– Mệnh lệnh đó, vừa học Nội Quy đã quên à, có làm không thì bảo!


– Tôi làm nhưng tôi đã nói trước với cán bộ rồi đấy nhé!


Buổi tối, Đội 37, hiểu với nhau là đội trừng giới, sinh hoạt chia tổ và chỗ nằm. Đội trưởng Trần Thế Tưởng nói:


– Tôi sẽ giả vờ điếc đấy, anh em đừng thắc mắc. Tôi cũng sẽ đóng kịch nữa đấy, anh em đừng thắc mắc. Chúng ta sẽ nói nhiều với nhau khi lao động ngoài bãi. Ở phòng, chúng ta phải im lặng, nó rình rập chúng ta.


Ngày hôm sau, Đội 37 đi lao động ngay, không được nghỉ ngơi một tuần những những trại viên khác mới nhập trại. Khi xếp hàng trong sân, chờ gọi xuất trại, cán bộ giáo dục lên lớp toàn thể trại viên và truyền lệnh cấm không được liên hệ với Đội 37. Như thế, cả trại biết Đội 37 là đội của những tay cực kỳ phản động, ngoan cường, bất khuất. Dù không nói bằng lời, họ đã bầy tỏ thiện cảm và lòng khâm phục của họ bằng mắt với hai mươi người tuổi trẻ.


– Đội 37!


Đội 37 được gọi xuất trại đầu tiên. Đội truởng ngồi. Các trại viên khác cũng ngồi ì vì Đội trưởng chưa ban lệnh đứng lên.


– Đội 37!


Phan Tiến Dzũng đứng dậy:


– Cán bộ hét thật lớn giùm. Đội trưởng của chúng tôi điếc!


Các trại viên cười khúc khích. Cán bộ trực trại nổi nóng, quát lớn:


– Đội 37!


Đội trưởng Trần Thế Tưởng đã nghe rõ, vụt dậy. Người ta đã giáo dục cả nếp sống quân sự hoá ở trại và Đội trưởng thuộc lòng. Thiếu-úy biệt kích, người có giọng sấm sét, biểu diễn màn…quân sự hoá:


– Tất cả… đứng dậy! Nón mũ lột ra. Hai hàng dọc, nhìn đằng trước ..thẳng.! Nghiêm! Báo cáo cán bộ Đội 37 tổng số 20, tham gia đủ 20…


– Tham gia cái gì?


– Tham gia lao động đủ 20. Chờ lệnh cán bộ.


– Cho đi!


Đội trưởng vẫn đứng. Cán bộ trực trại hét:


– Cho đi!


Đội trưởng nhận lệnh:


– Rõ!


Đã được dặn dò, cả đội dậm chân bước như diễn binh. Chẳng người nào của Đội 37 cười nhưng toàn thể trại viên cười quên luôn kỷ luật. Một luồng gió mới thổi vào sinh hoạt Sa Ác. Những họng súng của cai ngục bớt ghê gớm đi. Quyền uy của trực trại giảm vợi. Đội 37 đã diễu cợt Nội Quy, thứ pháp chế thu nhỏ của Nhà Nước xã hội chủ nghĩa. Ngang qua chòi trực, anh cán bộ trực trại hậm hực:


– Miệng thì lớn mà tai nhỏ!


Hai vệ binh và một quản giáo dắt đội ra bãi lao động. Quản giáo phải nói lớn. Đội nhận cuốc, xẻng, búa chim và … xe (miếng vỉ lớn đan bằng tre, hai bên là hai khúc tre, người đi trước , người đi sau khiêng đất). Công tác: Phá gò mối lấp hố bom! Mấy năm bị nhốt trong tù như bầy gà kỹ nghệ, thịt nhão, da mỏng dính, nay hai mươi tù nhân tư tưởng cầm cuốc phá gò mối khươm mươi niên, rắn chắc hơn cả tường gạch xây xi-măng, tay cậu nào cậu ấy rộp da hết.


Hoàng Sơn Trường và Ngô Tỵ khiêng đất gò mối đổ xuống hố bom. Họ đã gặp nhau ở đề lao Gia Định, đã chung phòng, đã trò chuyện. Thoạt đầu, Ngô Tỵ ngạc nhiên về “người dẫn đường” lùn tì, cận thị và đã tỏ ra chán nản. Rồi nghe nhà lập thuyết lùn tì luận về chủ nghĩa tiểu tư sản, Ngô Tỵ bái phục Hoàng Sơn Trường. Đứng trên miệng hố bom, Trường hỏi Tỵ:


– Cậu thấy rõ chưa?


– Thấy gì?


– Tư bản tạo ra hố bom, cộng sản bắt chúng ta lấp hố bom. Đó, hai chủ nghĩa khốn kiếp đó đầy đoạ dân tộc mình. Từ cái hố bom oan nghiệt này, chúng ta có thể suy ra muôn vàn thủ đoạn độc ác của tư bản và cộng sản .


– Chúng ta mở mắt thế giới?


– Không, chúng ta trồng hoa tiểu tư sản trên hố bom tư bản tạo ra và cộng sản bắt chúng ta san lấp.


– Cậu hay thật.


– Nhờ các cậu giúp tớ.


Nguyễn Kiến Thiết và Trần Chiêm Đồng cũng khiêng đất lấp hố bom. Đồng hỏi Thiết:


– Trường còn suy tư về chủ nghĩa tiểu tư sản chứ?


– Luôn luôn.


– Cậu ấy tin tưởng mãnh liệt?


– Mỗi ngày mỗi tin tưởng hơn. Nếu người nào phải chết, xin hãy là tôi, đừng bao giờ là Hoàng Sơn Trường. Một trăm ngàn tù nhân chết chẳng sao cả vì họ sống vô tích sự. Lại đến vượt biên sang Mỹ sang Pháp hưởng thụ và tranh giành nhau đủ thứ. Riệng Trường cần sống để giải thoát dân tộc và nhân loại. Cậu ấy được định giá trị bằng tinh hoa của 4000 năm văn hiến.


Bốn tù nhân phá một gò mối vẫn không đủ đất cho bốn người khiêng. Buổi lao động làm quen, quản giáo chưa thèm giục giã. Giờ giải lao, hai mươi người quây quần bên nhau. Trần Thế Tưởng nói:


– Anh em mình, chắc chắn, còn phải đi nhiều trại. Số phận chúng ta đã gắn lấy nhau chặt chẽ. Chúng ta tự coi chúng ta là bó đũa. Tách riêng ra, nó bẻ gẫy hết anh em ta. Tôi rất mong, có ngày, anh Lương Việt Cương làm Đội Trưởng. Anh Cương lớn tuổi nhất, điềm đạm, từng trải, tôi muốn anh lãnh đạo chúng ta.


Lương Việt Cương nói:


– Cám ơn anh Tưởng. Tôi nghĩ đã là bó đũa thì mỗi chiếc đũa là một lãnh đạo.


Phan Tiến Dzũng nói:


– Cần thiết một đại ca.


Đỗ Mậu Qúy nói:


– Và đại ca có cái đầu. Cứ coi anh Cương là cái đầu của chúng ta đi và anh Tưởng vẫn làm đội trưởng. Cần thiết nhất là chúng ta triệt để tin cẩn nhau, đừng để cộng sản nó tạo ra sự ngờ vực giữa anh em.


Trần Thế Tưởng nói kinh nghiệm bản thân của mình ở đề lao Gia Định và kết luận:


– Nhiều tù nhân còn khờ khạo lắm. Rốt cục, ghét nhau, nói xấu mhau, thù hận nhau vì thủ đoạn chia rẽ của cộng sản.


Hết giờ giải lao, cán bộ ra lệnh:


– Lấy dụng cụ làm việc.


Đội trưởng Trần Thế Tưởng truyền lệnh:


– Thu dụng cụ nghỉ việc!


Anh em thu dụng cụ cất gọn một chỗ rồi xếp hàng. Cán bộ hỏi đội trưởng:


– Tại sao nghỉ việc?


Đội trưởng đứng nghiêm báo cáo:


– Cán bộ ra lệnh thu dụng cụ nghỉ việc.


– Tôi nói : lấy dụng cụ làm việc.


– Tôi nghe không rõ, tưởng cán bộ thấy ngày đầu cuốc gò mối anh em phỏng rộp hết tay cho nghỉ.


– Anh điếc à?


– Tôi đã báo cáo tôi điếc.


– Lần sau nhớ nghe rõ nhé! Thôi, nghỉ thì nghỉ. Tập họp về tắm.


Đội 37 về sông Ray tắm sớm nhất, nhập trại sớm nhất. Anh em hài lòng tài kịch điếc của Trần Thế Tưởng. Buổi chiều làm việc tài tử như buổi sáng. Cung cách lao động này, một nghìn năm nữa chưa lấp hết hố bom tư bản. Buổi tối, Nguyễn Kiến Thiết đề nghị Hoàng Sơn Trường cho anh em biết về chủ nghĩa tiểu tư sản. Phan Tiến Dzũng và Đỗ Mậu Qúy canh gác vệ binh đi tuần rình rập. Với cặp kính cận thật dầy. gọng nhựa, Hoàng Sơn Trường rất triết gia. Cậu nói về sự bất lực của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa cộng sản. Cậu thí dụ tù nhân Việt Nam bị cộng sản bắt phá gò mối lấp hố bom tư bản. Rồi cậu luận về cái hay cái đẹp của chủ nghĩa tiểu tư sản. Anh em say sưa nghe Trường. Họ đồng ý phải võ trang tư tưởng mới đánh thắng cộng sản được. Hai mươi tù nhân phấn khởi. Họ tin rằng họ sẽ làm những việc mà chưa ai làm nổi tử 30 năm nay.


Công việc tạm thời của họ là phá gò mối, lấp hố bom. Được nửa tháng, trong giờ giải lao, Lương Việt Cương nói:


– Tôi muốn thay đổi thái độ lao động.


Vương Huy Dũng hỏi:


– Là thế nào?


Cương giải thích:


– Công việc là công việc. Chúng ta thử cố gắng làm việc đến nơi đến chốn xem sao. Việc nhỏ làm đến nơi đến chốn,việc lớn sẽ làm đến nơi đến chốn. Đừng nghĩ cộng sản bắt ta làm. Hãy nghĩ đó là công việc. Chúng ta cần tập cho chúng ta thói quen làm việc, và phải hoàn thành công việc. Thí dụ đánh cộng sản là phải hoàn thành công việc đánh, là phải thắng. Người khác bảo mình sợ hãi cộng sản, thây kệ họ. Cộng sản tưởng mình khiếp nhược, tiến bộ, thây kệ nó. Anh em nghĩ sao?


Đinh Vượng nói:


– Tôi đồng ý.


Mọi người đồng ý. Đội trưởng đề nghị làm khoán với quản giáo. Quản giáo bằng lòng. Đội 37 làm hết việc là nghỉ, dù sớm hay muộn. Sang tháng sau, quản giáo tăng việc. Đội họp bàn.


– Không làm thêm. Không để nó bóc lột. Trở lại lề lối cũ.


Anh em lại ỳ ra. Quản giáo đành thua, trở về mức khoán đầu tiên. Công tác lấp hố bom chấm dứt, Đội 37 chuyển sang công tác nguy hiểm là đào bom chưa nổ và khiêng xếp một chỗ. Cộng sản muốn hại Đội 37. Hố bom lấp ngàn năm chưa hết, tại sao phải đào bom chưa nổ? Hoàng Sơn Trường lại thấy thêm cái thâm độc của tư bản và cộng sản. Buổi sáng thứ hai, trước khi nhận lệnh xuất trại, các đội tập họp đầy đủ trong sân, chờ cán bộ trực trại mở sổ, Đội trưởng 37 đứng lên báo cáo dõng dạc:


– Báo cáo cán bộ: Đội 37 không đi lao động hôm nay.


Sân trại xôn xao.


– Các anh chống đối lao động hả?


– Chúng tôi chống đào bom, khiêng bom.


– Vậy là chống mệnh lệnh cán bộ.


– Nhà nước đưa chúng tôi đi lao động cải tạo chứ không đưa chúng tôi vào chỗ chết. Muốn giết chúng tôi cứ việc đem ra bắn. Còn khiêng bom thì chúng tôi không khiêng. Trừ phi ông Phạm Văn Đồng đến đây bảo đảm tính mạng của chúng tôi.


– Được, các anh ở nhà làm việc với Ban Giám Thjị.


Cán bộ lật sổ.


– Đội 1.


Đội trưởng Đội 1 đứng lên:


– Báo cáo cán bộ. Đội 1 cũng nghỉ lao động hôm nay. Gải mỉn phá núi rất nguy hiểm, cả đội bị tức ngực, sắp chết rồi.


Cán bộ trực trại bước ra khỏi chòi trực, rút súng lục bắn chỉ thiên ba phát. Vệ binh ào ào kéo tới, súng chĩa thẳng vào các tù nhân đang ngồi trong đội ngũ. Cán bộ trại hăm hở bước tới, cách tù nhân mười thước, y đứng lại:


– Thằng nào sách động đứng lên!


Phan Tiến Dzũng tự Dzũng quan tài vọt dậy, phanh ngực áo ra:


– Tao đấy, mày dám bắn không ?


Đỗ Mậu Qúy cũng đứng lên:


– Tao nữa!


Nguyễn Hữu Hạnh đứng theo:


– Cả tao nữa.


Cả đội 37 đứng lên hết. Cán bộ trực trại sợ hãi. Y lùi dần, lùi dần. Vệ binh lên đạn trấn áp. Giám thị trại đã đến. Nghe trực trại báo cáo, ông ta bước tới giữa sân, khuôn mặt bình tĩnh . Và ông ra lệnh cho vệ binh thôi chĩa súng doạ nạt. Và ông nói:


– Đào bom, gỡ bom không phải là công tác của các anh. Cán bộ chỉ thử thách xem sự tuân hành mệnh lệnh của các anh ra sao thôi.. Nếu các anh cứ chấp hành, cán bộ sẽ chuyển công tác ngay, ai để các anh chết vì bom Mỹ . Đội 37 sẽ được nghỉ lao động một tuần. Các anh phải kiểm điểm lỗi lầm. Đội 1 được nghỉ 5 ngày, chờ cán bộ giao công tác mới. Các đội khác đi lao động thường lệ.


Ba hôm sau, khi các đội đã xuất trại, một chiếc xe vân tải chạy vào sân. Lệnh khẩn trương: Toàn Đội 1 thu dọn hành lý chuyển trại. Đến nửa đêm Đội 37 cũng khẩn trương lên xe chuyển trại. Sa Ác loại trừ mầm mống sách động.


Đó là nghệ thuật của cai ngục!


***


Chương 17


Chuyến xe đêm di chuyển tù nhân có thêm tám người. Tám người này, từ đề lao Gia Định, khám Chí Hoà, ngục Đại Lợi vào Sa Ác đã bốn tháng. Họ còn trẻ và can tội phản động. Bốn người trốn trại. Bốn người chống lao động. Tất cả nằm hầm đá đặc giam hơn một tháng trời. Nhân vụ sách động của Đội 37, trại Sa Ác báo cáo khẩn về cục Quản Lý các Trại Giam thuộc Bộ Nội Vụ và Cục trưởng Cao Minh Chiếm ra lệnh đẩy cả hai đội 1 và 37 đến trại khác, Sa Ác đẩy luôn tám tù nhân biệt giam theo đội 37. Bây giờ họ đủ hai mươi tám người. Người thứ nhất là Đặng Cơ Bản lừng danh đề lao Gia Định mà, hầu hết, hai mươi người của Đội 37 đều biết tiếng. Người ta tưởng Bản đã được thả về, nào ngờ Bản vô Sa Ác nằm hầm đá biệt giam. Người thứ hai là Tư Sơn. Người thứ ba là Huỳnh Nghệ. Người thứ tư là Ngô Cát. Người thứ năm là Phạm Thành. Người thứ sáu là Doãn Lâm. Người thứ bẩy là Vũ Bình Bắc, Người thứ tám là Lê Văn Thu. Trong số tám người thì sáu người là sinh viên, học sinh; hai người cuối Lê Văn Thu – lơ xe đò và Vũ Bình Bắc- phu nhà đòn. Đến giai đoạn lơ xe đò, phu nhà đòn chống cộng sản thì cái thế tất bại của cộng sản gần kề. Con đường nào cũng dẫn tới một trại tập trung, do đó, hai mươi tám người chẳng tìm hiểu phương hướng chiếc xe chở mình đi.


 

Vụ chống công tác đào bom, khiêng bom đã làm thắm thiết tình nghĩa của những người tuổi trẻ và ném xuống mặt hồ cam đành của tù nhân Sa Ác một viên đá lớn. Người ta bỗng thấy giá trị của Dzũng quan tài, Qúy dao, Hạnh búa khi cần thiết. Sự khôn ngoan được phối hợp với lòng can đảm thành sức mạnh chế ngự tất cả. Nhà binh pháp Ngô Khởi, mấy nghìn năm cũ, đã nhìn rõ chất ngọc trong tâm hồn du đãng. Đời sau coi thường du đãng, chỉ khinh miệt họ và xử dụng họ vào việc đâm chém hèn mọn. Nếu Dzũng quan tài không phanh ngực áo đứng dậy thách thức súng đạn cộng sản, Qúy dao chưa đứng , Hạnh búa chưa đứng, toàn đội 37 chưa đứng. Họ thành công . Bài học đánh cộng sản đầu tiên của họ là đứng dậy một lượt, đứng đúng lúc.


Buổi trưa hôm sau, họ rời Rừng Lá, căn cứ số 5 thuộc tỉnh Phan Thiết. Như ở Sa Ác, họ bị đẩy vào căn nhà mái tôn thấp lè tè. Khác một chút với ở Sa Ác là họ bị nhốt đúng bẩy ngày mới được dẫn ra suối tắm giặt. Ngày thứ tám, Ban Giám thị gọi từng người lên làm việc. Từng người được vuốt ve khéo và bị doạ nạt khéo. Trần Thế Tưởng mất chức đội trưởng. Bây giờ, đội mang số 53, và đội trưởng là Đỗ Mậu Qúy. Đội 53 chưa có quản giáo, chưa được giao công tác cụ thể nào đã phải lên xe vận tải chuyển trại. Vẫn ra đi nửa đêm! Chuyến đi này không mấy xa. Gần sáng, họ đã đến trại mới. Ở trại này, Đội 53 cải danh thành Đội Kỷ Luật.


Chế độ dành cho Đội Kỷ Luật rất khắc nghiệt. Họ được ăn ít và bị lao động nhiều. Họ không được viết thư về gia đình, nhận thư của gia đình và nhận quà thăm nuôi. Họ sinh hoạt riêng. Căn nhà của họ bị vây giây thép gai, cô lập họ với các trại viên khác của trại cải tạo Gia Lay. Cứ một tuần đi làm thì một tuần nghỉ. Tuần nghỉ không được tắm giặt, không được đổi máng cầu tiêư. Hơn mọi cực hình là họ bị tịch thu hết thuốc lào, thuốc lá, ống điếu, diêm quẹt. Tuần lễ nghỉ lao động, cửa nhà bị khoá ín, chỉ mở ra hai bữa nhận cơm nước. Mùi phân tiểu hôi thối, khai nồng. Một hôm cuối tuần nghỉ lao động, người ta mở khoá cửa, dẫn Lê Văn Thu đi làm việc. Thu đi từ sáng, xế chiều vẫn chưa về. Anh em thắc mắc.Đặng Cơ Bản nói:


– Không có gì phải thắc mắc về Thu cả, dù nó chỉ là thằng lơ xe đò. Sống với nó ở Sa Ác mấy tháng, tôi hiểu nó. Nếu nó đầu hàng, nó đã đầu hàng công an Hà Nội, khỏi bị tù , khỏi bị tra tấn..Chuyến xe cuối cùng nó ra Bắc, chở toàn sĩ quan công an. Tài xế ra lệnh ngầm cho Thu nhẩy khỏi xe rồi tống xe xuống đèo, tiêu diệt gọn lũ sĩ quan công an đi phép đặc biệt. Người ta đẩy nó sang cả quân báo khai thác nó. Rốt cuộc, tổ chức của nó vẫn tồn tại và nó can tội “tình nghi thủ tiêu cán bộ”. Nó đã trốn trại vài lần, lần nào cũng bị bắt và ốm đòn. Hẫy sống với Thu lâu hơn, các bạn sẽ yêu nó, phục nó.


Nửa đêm, Thu về, mặt mày sưng vù, hai bên mép ứa máu. Cửa nhà khép lại, khoá xong, mấy người công an khoá nốt cổng hàng rào khuất bóng, Thu mệt nhọc:


– Mới thêm chiếc xe đò rớt xuống đèo Hải Vân!


Anh em dìu Lê Văn Thu, đỡ nó nằm từ từ, xoa bóp chân tay, mình mẩy nó. Thiếu nước để ấp mặt Thu. Thiếu cả dầu cù-là. Gần sáng,người ta gọi Phan Tiến Dzũng. Rồi Huỳnh Nghệ. Rồi Trần Thế Tưởng. Tất cả đã trở lại phòng sau khi ăn no đòn tập trung cải tạo.. Lương Việt Cương nói:


– Nó bịp. Hồ sơ bọn mình kết thúc từ lâu. Nó bịa vụ xe đò rớt ở đèo Hải Vân để đánh Thu. Nó dằn mặt chúng ta, lôi Dzũng, Nghệ, Tưởng lên đánh tiếp. Nó còn đánh anh em mình nữa, chuẩn bị chịu đòn đi!


Chập tối,cậu phu nhà đòn Vũ Bình Bắc đi “làm việc”. Khoảng 22 giờ, Bắc trở lại phòng, nói với anh em: – Nó không đánh tôi, không hỏi tôi nửa lời.


Nửa tiếng sau, Đội Kỷ Luật nhận “lệnh khẩn trương”: Chuyển trại. Vũ Bình Bắc lo lắng trên xe. Trần Thế Tưởng trấn an bạn:


– Nó muốn chia rẽ chúng ta đấy. Bị đánh hay không bị đán thì cũng thế thôi. Nếu chúng ta ngu, chúng ta sẽ thù ghét nhau, thanh toán nhau, nhục mạ nhau, tố cáo lẫn nhau. Tôi nói thật, anh em ai chưa nếm đòn thù cộng sản , nên nếm thử, nếm xong coi sụ đấm đá của nó chả ra cái gì cả đâu.


Lần này, người ta chở Đội Kỷ Luật tới nhà lao Nha Trang. Đây là quân lao ngày xưa, nới nhốt lính đào ngũ và nhốt cộng sản Việt Nam . Những nhà tù ở nước Việt Nam từ 100 năm nay, đều do thực dân Pháp, phát xít Nhật, cộng sản Nga, tư bản Mỹ vẽ kiểu, bỏ tiền xây cất để nhốt người Việt Nam và cuối cùng, để người Việt Nam nhốt người Việt Nam .


Hồ sơ của Đội Kỷ Luật đã rõ bút tích phê phán và chỉ thị trừng phạt của ông Cục trưởng Cục Quản Lý Các Trại Giam Phía Nam. Sự có mặt của họ ở nhà lao Nha Trang chỉ là lịch trình lưu đầy của Cục trưởng Cao Minh Chiếm. Hai mươi tám người trong một phòng giam khá rộng, cửa sắt, chấn song sắt. Họ trở vể đời sống đề lao Gia Định, Chí Hoà, Đại Lợi. Cai ngụ Nha Trang tàn bạo hơn cai ngục Chí Hoà. Họ không chế đói, chết khát nhưng thường xuyên đói khát. Nhà lao cho ăn cầm hơi, uống cầm hơi. Một tuần một lần ra ngoài tắm, mỗi lần tắm năm phút đồng hồ. Qua hai tuần, mọi người quen nếp sinh hoạt nhà lao Nha Trang. Và tất cả cùng chung ý nghĩ: Ở tù, đâu cũng thế!


Đình Vượng nói:


– Tôi phải cám ơn cộng sản. Bất cứ lúc nào có tự do, trừ phi tôi chết, tôi sẽ viết cuốn sách ghi những điều tôi biết ơn cộng sản.


Vương Huy Dũng hỏi:


– Tại sao phải cám ơn cộng sản?


Đinh Vượng đáp:


– Tại vì, nhờ cộng sản, tôi biết thưong yêu thắm thiết và thù hận tha thiết; tôi biết hạnh phúc và đau khổ; tôi biết khinh thường vật chất; tôi biết sức chịu đựng của tôi và tôi biết tôi có thể chiến đấu đến hơi thở cuối cùng. Chúng ta đừng mong cộng sản vuốt ve, chìu chuộng . Chúng ta phải cám ơn họ hành hạt chúng ta, đánh đập chúng ta để chúng ta mãi mãi tỉnh táo bằng nỗi thống khố.


Hoàng Sơn Trường nói:


– Tôi cám ơn cộng sản nhiều. Họ đã là cảm hứng để tôi viết chủ nghĩa tiểu tư sản. Có thể trong chúng ta đã có người muốn lập thuyết tiểu tư sản. Tôi hy vọng người ấy còn sống để tôi học hỏi. Hoặc người ấy đã chết thì tôi tiếp nối. Dẫu sao tôi vẫn muốn đi hết các nhà tù, các trại tập trung khổ sai lao động,


Nguyễn Kiến Thiết nói:


– Nếu người nào tình nguyện đi hết các nhà tù Việt Nam để không còn nhà tù ở Việt Nam nữa thì người ấy là tôi.


Ngô Tỵ nói:


– Tôi chỉ mong trở về múa lân. Tôi mơ nhất làm đội trưởng múa lân.


Trần Chiêm Đồng nói:


– Tôi hơi khác, tôi muốn làm lại tâm hồn…khách trú. Không, nước Việt Nam của chúng tôi, chúng tôi sẽ xấu hổ phải làm khách trú.


Mỗi người vẽ ra hình ảnh của ngày mai. Nhà tù, với họ, chẳng còn phải là hoả ngục hủy diệt con người . Mà là lò lửa tôi luyện những thanh thép phi thường cho xây dựng đất nước tương lai.


– Các cậu ạ – Trần Thế Tưởng nói – trong hai mươi tám người mình, chỉ có anh Cương và tôi đã lập gia đình. Tôi đã sáng tác xong một ca khúc, nhan đề Sàigòn mai anh về, tôi hát cho các cậu nghe nhé!


Và Trần Thế Tưởng hát:


Sàigòn ơi, Sàigòn
Mai anh về, em thương
Để em khỏi nhớ
Để em thôi chờ mong
…..
Mai đây anh về
Xin làm cỏ biếc
Vướng chân em đi
Xin làm giọt mưa
Mưa râm rưng rức
Chạy theo bờ mi
….
Anh cầm tay em
Bàn tay khô héo
Anh nhìn mắt em
Gió lùa lạnh lẽo
Anh nhìn lòng mình
Mùa đông vây quanh
Cỏ non mùa xuân
Còn xanh dấu chân
Trăng non mùa hạ
Ướt đôi vai trần
Có xa không nhỉ
Ngày xưa thật gần
Có xa không em
Ngày xưa thật gần
….
Sàigòn ơi, Sàigòn
Em là quê hương
Lòng anh còn nhớ
Lòng anh còn thương…”


Nếu có tiếng lục huyền cầm đệm theo thì tuyệt. Nhưng đã tuyệt rồi. Kẻ thù cộng sản có thể nhìn rõ sự lãng mạn, bay bỗn của những người tù nhân tiểu tư sản. Những kẻ hò hét đâm chém, kêu gào máu trả nợ máu, có bao giờ biết thống khổ. Khi con người ngụp lặn giữa đại dương thống khổ,con người chỉ còn thích nói về thương yêu. Bản tình ca sáng tác trong ngục tù cộng sản . Hãy tìm một động từ giết chóc! Chẳng thể nào có. Hãy tìm một danh từ thù hận! Chẳng thể nào có. Bàng bạc chất thật của con người. Anh đi đánh cộng sản, anh nằm tù vì cộng sản, anh quằn quại vì cộng sản. Anh sẽ đem hạnh phúc cho dân tộc, anh sẽ không giết ai, anh làm cỏ biếc vướng chân em đi. Thế thôi, em yêu dấu


– Tôi cũng có một bài hát, nhan đề Giả sử mai đây khi ta trở lại- Lương Việt Cương nói. Bài tù ca hay tình ca của người tù tôi lẩm nhẩm riết rồi cứ ngỡ hát bài của ai. Tôi hát tặng anh em nhé!


Lương Việt Cương hát:


“Giả sử mai đây, khi ta trở lại trên đường
Gặp tuổi thơ ta cười ròn tan trong nắng
Đuổi bắt trái sao khô xoay tròn khi gió vắng
Ai gọi tên ta mà mùa thu rơi đỏ mặt
Giả sử mai đây ta về trên con phố cũ
Ai thắp lên cho ta những ngọn đèn trong sương
Có đôi mắt nào nhìn ta qua khung cửa kính
Ôi con gấu bông vàng từng dấu mùa kín mười phương
A, cuộc đời đâu có xa, còn y như ngày trước
Những bức tường nghiêng vả những khóm tầm xuân
Ai trèo lên cao mà vừa nghe huýt sáo
Mặt trời hiền dịu ơi, chờ ta qua mấy ngọn thùy dương
Bởi chiếc roi bạo lực chẳng thể vung hoài trong gió
Chú ngựa non reo tiếng lạc sau đồi
Các con ta dưới vầng trăng thuở nhỏ
Với ước mộng xanh như người thả bóng lên trời
Và em nữa, tất nhiên, vẫn là em thời trẻ
Của Sàigòn mở cửa những đêm vui
Em và Sàigòn ăn ô mai ngoài phố
Em và Sàigòn như một vệt son môi
Đã lâu lắm,dường như, ta không còn trẻ nữa
Con chim biếc bay rồi vườn vắng cây khô
Chợt một chiều nghe giòng sông nước chẩy
Gọi ta về thầm kể những đêm mưa
Ta bỗng thấy em đi giữa chiều áo lục
Dẫy phố dài thấp thoáng bóng dù xưa
Em tay bế con mắt nhìn đời rộng mở
Khi nắng hanh vàng mùa đã sang thu
Ôi, giả sử mai đây kh ta trở lại trên đời
Sẽ chẳng còn ai nhớ đến ta,chẳng còn em nữa
Thì trọn kiếp, ta xin làm người nghệ sĩ rong chơi
Đi đọc thơ ta nói chuyện với đời người…”


Âm điệu của bài tù ca vang vọng trong đêm khuya. Vương Huy Dũng thở dài:


– Buồn quá, anh Cương ạ!


Hoàng Sơn Trường cãi:


– Không buồi, phải nói là rất lãng mạn tiểu tư sản. Tôi đ4 nghe bài Sơn La và Côn Đảo của Đỗ Nhuận. Cộng sản họ thích rên siết trong tù. Chúng ta phơi phới. Chúng ta không hùng khí rẻ tiền, không than vản rẻ tiền. Chúng ta thật với tình cảm của chúng ta.


Hôm sau, cả đội bị cúp cơm trọn ngày vì tội hát nhạc đồi trụy. Hôm sau nữa, cả đội bị cúp tắm. Hôm sau nữa, từng người trong đội bị gọi ra, bị ăn đòn. Nhà lập thuyết Hoàng Sơn Trường bị lột kính cận và bị đập nát kính cận!


Ở nhà lao Nha Trang hai tháng, râu tóc rậm rạp, tua tủa như người tiền sử. Bệnh ghẻ tái phát. Sang tháng thứ ba, Đội Kỷ Luật bị đầy vào rừng già. Bây giờ, người ta chỉ định Lương Việt Cương làm đội trưởng và đội vẫn mang tên Đội Kỷ Luật. Ở trại Phú Khánh, như ở Sa Ác, Gia Lai , đội bị biệt giam một khu, lao động không giống giờ giấc các đội khác. Công tác của Đội Kỷ Luật là những công tác đột xuất. Nửa đêm, vệ binh đập cửa gọi thức để ra suối lặn xuống khiêng đá lên bờ. Giữa trưa, vệ binh thúc “khẩn trương” đi vác giây kẽm gai. Tội nghiệp Hoàng Sơn Trường mất kính, mò việc y hệt người mù!


Lương Việt Cương suy nghĩ mãi chưa tìm được cách cho nổ một vụ lớn để được chuyển trại. Ở Phú Khánh, Ban Giám Thị đầy đoạ Đội Kỷ Luật tàn bạo. Họ muốn anh em sưng phổi chết hết nên, mỗi sáng tinh mơ, bất kể mùa đông, họ chế ra trò chơi bắt tù lặn suối khiêng đá. Rút kinh nghiệm Sa Ác, họ không cho Đội Kỷ Luật tập họp chung sân với các đội khác.


Một đêm, Lương Việt Cương bàn với anh em chơi bạo một cú. Vài chiếc quần được cuốn lại thành một sợi giây. Phan Tiến Dzũng tự Dzũng quan tài tình nguyện đóng vai trò của đạo diễn Lương Việt Cương.


– Báo cáo cán bộ, phòng kỷ luật có người tự tử!


Cửa nhà tù bị đập thình thình. Tiếng hò hét loạn cả lên.


– Báo cáo cán bộ, phòng kỷ luật có người tự tử!


– Báo cáo cán bộ, phòng kỷ luật nổi loạn!


Vệ binh chạy rầm rầm về phía phòng biệt giam. Cả trại thức giấc nghe ngóng. Trực trại xuất hiện. Súng lên đạn. Vệ binh vây bên ngoài. Cửa phòng mở. Trực trại quét đèn pin. Dzũng quan tài đang toòng teng trên cây sà ngang, giả vờ há hốc miệng,le lưỡi.. Người ta gấp rút cứu Dzũng quan tài. Rồi bắt Đội trưởng Lương Việt Cương khiêng kẻ chán đời lên trạm xá. Sau vài lần “làm việc” với Dzũng quan tài để nắm vững lý do tự tử, trại báo cáo về Cục. Cao Minh Chiếm quyết định tống cổ cả bọn ra miền Bắc.


Và hai mươi tám con sư tử có mặt ở Nam Hà…


***


Chương 18


Ông Ủy viên trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam gấp cái hồ sơ cuối cùng lại. Trời đã gần sáng. Ông gỡ cặp kính ra, rút khăn lau mặt. Người cán bộ bảo vệ vẫn ngồi ngoài cửa.


– Đồng chí bảo vệ!


Người cán bộ bảo vệ bước vào.


– Thưa đồng chí, tôi chờ chỉ thị.


Ông Ủy viên vươn vai;


– Tôi cần gặp đồng chí Giám thị.


– Rõ.


– Và cốc cà-phê


– Rõ.


Ông Giám thị đã tới. Sau đó là cán bộ cần vụ bưng cà-phê. Uống hết ly cà-phê, ông Ủy viên tỉnh táo.


– Đồng chí giám thị, đồng chí công tác trại giam bao lâu rồi?


– Thưa đồng chí Ủy viên, gần ba mươi năm.


– Tôi có thể biết khái quát quá trình hoạt động của đồng chí không?


– Thưa, được ạ!


– Ta vào ngay đi.


– Sơ khởi, tôi là quản giáo rồi lên trực trại. Tôi đã công tác ở trại Lý Bá Sơn, trại Sơn La, trại Lào Kay. Tôi được điều về đây ngót sáu năm, từ Phó giám thị và hôm nay Giám thị.


– Sự nghiệp cách mạng của đồng chí chỉ quanh quẩn ở các trại giam?


– Vâng.


– Trong gần ba mươi năm công tác, đồng chí đã gặp ca nào giống ca này chưa?


– Tôi chưa hề gặp.


– Trước năm 1975, có ca nào nặng tính chất chống phá trại giam không ?


– Thưa không .


– Từ năm 1975 tới nay có ca nào chống lao động không ?


– Không.


– Tinh thần bọn sĩ quan ngụy từ ngày ở Nam Hà B ra sao?


– Tích cực lao động cải tạo.


– Bao nhiêu ca biệt giam?


– Bốn mươi.


– Lý do?


– Hát nhạc vàng và liên hệ mua bán đổi chác với dân.


– Đồng chí quả quyết chưa phát hiện ca nào chống đối chính trị cả chứ?


– Vâng.


– Tin tức hôm qua lọt sang Nam Hà A chưa?


– Tôi chưa nắm vững.


– Tôi nắm rồi. Nam Hà A chưa biết gì cả. Bọn tướng lãnh, nghị sĩ không đáng quan tâm. Bọn sĩ quan cấp trung tá mới cần đề phòng. Phân loại chúng nó ra. Bọn sĩ quan chiến đấu quan trọng hơn bọn sĩ quan văn phòng. Nhẫy dù, lính thủy đánh bộ, biệt kích nguy hiểm nhất. Đồng chí học tập kinh nghiệm đấy.


– Vâng.


– Cho chúng nó nghỉ lao động một tuần. Bơm cho chúng nó ít hơi hy vọng. Nói nửa kín nửa hở để chúng nó tưởng Mỹ sẽ chuộc chúng nó, đưa chúng nó sang Mỹ với gia đình chúng nó. Như thế, khí thế của chúng nó xẹp xuống, ta đủ thì giờ đối phó.


– Vâng.


– Cho nghỉ lao động, chúng hết dịp gặp dân và ta bảo mật vụ sách động hôm qua.


– Vâng.


– Chuyển công tác mấy đồng chí trực trại đi nơi khác.


– Vâng.


– Riêng hai mươi tám thằng mới đến, đối xử với chúng bình thường.


– Vâng.


– Tại sao đồng chí ra lệnh nhốt ba thằng?


– Tôi muốn dằn mặt chúng.


– Tại sao không cô lập chúng trước? Tại sao để chúng tự do tuyên truyền sách động? Tại sao không rút kinh nghiệm các nhà giam phía Nam? Đồng chí cần kiểm điểm.


– Vâng.


– Bằng mọi giá, mọi cách, bịt lấp tin tức vụ này.


-Vâng.


– Riêng hai mươi tám thằng phản động, cứ mặc xác chúng nó liên hệ với bọn cũ, chờ chỉ thị trung ương. Đồng chí đừng để bọn sĩ quan có đà tiến tới tranh đấu cho lũ nhóc.


– Vâng.


– Đồng chí có nhận ra sự sai lầm của đồng chí Cao Minh Chiếm không ?


– Thưa không ạ!


– Thay vì tách ra, đồng chí ấy lại tụ chúng thành sức mạnh.


– Đồng chí thật sáng suốt.


– Tôi về Hà Nội bây giờ. Sẽ có chỉ thị sau. Nhớ cho chúng ăn cơm trắng suốt tuần với thịt lợn, tiêu chuẩn mỗi ngày một lạng cho một đứa…. Đồng chí cần hỏi gì thêm không ?


– Thưa không .


– Đừng quên các cửa nhà chỉ mở khoá hai tiếng một ngày.


– Còn tắm giặt?


– Vệ binh dắt chúng ra suối, từng đội, hai ngày một lần. Năm mươi vệ binh coi chừng một đội đi tắm.


– Còn thăm gặp?


– Cho nhận quà, không cho gặp thân nhân.


Ông Ủy viên về Hà Nội. Ngay buổi sáng, cán bộ giáo dục tới từng phòng gọi vài người lên Ban Giám Thị làm việc. Giám thị đã cho những trại viên già thuộc sĩ quan văn phòng, những người an phận và cả tin mà y biết chắc là đã ùa vào đám đông chứ không dám đơn lẻ chống đối. Vậy thì năm mươi đại biểu của ba mươi đội được Giám thị mời ngồi ở hội trường, được uống nước trả Thái Nguyên, được hút thuốc Sông Cầu và được nghe Giám thị nói chuyện thân mật:


– Tôi rất tiếc vụ hôm qua. Cán bộ trực trại có khuyết điểm lớn. Nhưng đó là hiện tượng, không phải là bản chất. Tuy nhiên tôi đã ra lệnh điều mấy cán bộ trực trại công tác nơi khác để tránh mọi điều đáng tiếc nặng tính chất cá nhân. Tôi cũng đã ra lệnh cho các anh được nghỉ ngơi một tuần vì kết quả lao động sáu tháng cuối năm rất tốt. Do đó, vinh quang của lao động là một tuần liền, trại phấn đấu để các anh ăn cơm với thịt, tiêu chuẩn hơn cả cán bộ. Sự bồi dưỡng nằm trong chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà Nước. Các anh cứ tin tưởng vào đường lối trước sau như một của Đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh mà học tập tiến bộ để về sum họp gia đình. Gần đây, bọn đế quốc Mỹ đầu sỏ lại vừa tung tin chúng sẽ đổi đô-la lấy các anh đem về Mỹ với gia đình các anh luôn. Làm gì có chuyện đó, toàn tin tuyên truyền nhảm nhí! Giả thử Mỹ muốn đổi tiền lấy các anh, Đảng không bằng lòng thì sao?


Năm mươi trại viên nôn nao quá, không muốn nghe Giám thị rông dài nữa, chỉ muốn về ngay báo tin mừng cho các anh em khác. Nhưng Giám thị thích rông dài:


– Nó tưởng 2500 đô-la của nó mua được một người Việt Nam à? Chế độ ta quý trọng con người vô cùng, do đó, con người vô giá, con người là tài sản của tổ quốc. Nó gây sức ép cách mấy, ta vẫn từ chối.


Giám thị bỏ rơi chuyện Mỹ mua người.


– Việc đáng tiếc hôm qua, khuyết điểm về phía chúng tôi, chúng tôi đã tiếp thu và đã tỏ ra thái độ tích cực. Bốn cán bộ trực trại bị điều đi công tác nơi khác, chúng tôi không trả thù các anh. Về phía các anh, các anh cũng có khuyết điểm và phải nhận khuyết điểm để tiến bộ. Các anh toa rập với những người vừa nhập trại, chống lao động, hát nhạc chỉnh huấn, muốn gây bạo loạn. Trung ương không kịp can thịệp thì quân đội đã đàn áp các anh. Các anh chết, ai thương các anh ngoài vợ con cách anh? Nếu Mỹ nó đưa danh sách trao đổi các anh, chúng tôi gạch tên các anh đi, bảo các anh chết bệnh rồi thì nó làm gì, dám làm gì? Các anh nên tỏ thiện chí. Cán bộ sẽ phát giấy để các anh tự kiểm điểm vụ hôm qua. Có anh nào phản đối không ?


Không ai phản đối. Năm mươi người uống trà, hút thuốc phì phèo. Họ về phòng, mang nguồn hy vọng cho toàn trại. Giám thị ra lệnh cho vệ binh canh gác cẩn mật ngoài hàng rào, bên trong bỏ ngỏ tự do, tù nhân tha hồ luận bàn tin Mỹ chuộc sĩ quan cải tạo giá 2500 đô-la một người.


Tự nhiên, hai mươi tám thần tượng sáng qua bị quên lãng. Trước hết, họ là tù nhân tư tưởng, họ là phản động, không hề là sĩ quan trình diện học tập. Giám thị không xếp họ vào thành phần những người được Mỹ chuộc tiền đưa sang Mỹ. Giám thị ngu nhưng Ủy viên khôn. Các sĩ quan xôn xao suy diễn tin “làm gì có chuyện đó” của Giám thị. Có vẻ ăn khớp với tình hình quá. Giám thị đuổi trực trại đi chỗ khác, bồi dưỡng cải tạo viên cả tuần. Cộng sản nói không là có, có là không. Nó đã nói không , chắc chắn sẽ có.


Lương Việt Cương buồn bã nói với Hoàng Sơn Trường:


– Đàn anh mình mãi mãi ngây thơ.


Trường thở dài:


– Dễ hiểu quá. Họ đi trình diện học tập, còn chúng ta bị bắt bỏ tù. Họ cải tạo chung với nhau, chúng ta bị bắt lẻ tẻ, lưu lạc khắp đề lao, khám lớn, trại tập trung , tự khai mửa máu, ăn đòn rạn tim. Còn họ tự khai tập thể một lần, lao động lè phè, thăm nuôi đều đặn. Không thể so sánh họ với chúng ta. Họ đã thua cuộc chiến cũ. Ta vừa khởi sự cuộc chiến mới. Họ có những trung tá, đại tá đã giải ngũ vì tinh thần văn phòng, cộng sản chưa gọi đã vội đi “trình diện sớm để về sớm” rồi cũng bày đặt thù nặng nghìn cân! Tôi thấy mấy anh già không có đầu, chiến đấu với họ cũng uổng mất chính nghĩa. Niềm hãnh diện của tôi là được đứng chung với du đãng Dzũng quan tài, Qúy dao, Hạnh búa,với lơ xe đò Lê Văn Thu, phu nhà đòn Vũ Bình Bắc, với em bé mồ côi Trần Văn Nam.


Cương nói:


– Họ sẽ vỡ mặt, nếu tin lời cộng sản .


Trường cười:


– Tôi mất kính rồi nhưng tôi có thể nhìn rõ tim họ. Ta nên để họ vỡ mặt vài lần, may ra họ khôn lớn. Tổng thống của họ để lại một câu: “Đừng nghe những gì cộng sản nói mà hay nhìn kỹ những gì cộng sản làm.” Họ đã nhìn kỹ mà họ cứ nghe.


Cường hỏi:


– Cậu có thất vọng về họ không ?


Trường đáp:


– Khi tôi quyết định dấn thân, tôi không hề nghĩ đến họ nên chẳng có gì phải thất vọng. Có điều…


– Điều gì?


– Trong mọi địa hạt, đàn anh mình chết hết rồi!


– Phải thức tỉnh họ.


– Vô ích.


– Tôi cố gắng.


– Anh thử cố gắng xem sao.


Lương Việt Cương đã đến từng phòng, đứng ở cửa sổ, trình bầy với những người sĩ quan cải tạo về thủ đoạn của cộng sản và khuyên họ nên thận trọng về tin tức phóng ra từ miệng cộng sản. Nhiều sĩ quan cấp úy tin Cương. Các sĩ quan già vẫn khư khư lối suy diễn của mình. Lương Việt Cương muốn kể lại hình phạt hai mươi ngày đêm treo hai ngón tay cái bằng giây điện lên cao, mười đầu ngón chân chạm đất cho những ông trình diện học tập nghe. Sợ phí lời và đau đớn thêm, Cương bỏ về phòng.


– Sao? – Trường hỏi.


– Cậu nhận xét đúng. – Cương đáp. Những người trình diện học tập vả những người bị còng tay dẫn đến nhà tù khác hẳn nhau. Họ đầy mặc cảm với cộng sản. Chúng ta thì không. Họ đã cầm súng của Mỹ, lãnh lương do Mỹ viện trợ. Chúng ta thì chưa. Họ còn nhiều thứ để sợ mất nốt. Chúng ta đã chẳng còn gì. Quên họ là vừa.


Hai hôm sau, cả trại bận bịu làm bản tự kiểm cá nhân khuyết điểm với Ban Giám Thị. Hai mươi tám con sư tử không được phát giấy vì không phải là sĩ quan trình diện học tập. Người trình diện có cả trăm ngàn, họ chen lấn nhau xếp hàng ở những địa điểm trình diện. Họ nộp tiền ăn 10 ngày, đem mùng mền, quần áo, thuốc thang, ngồi chầu chực dưới nắng mưa để “đăng ký” một cách trịnh trọng và lễ độ tại bàn giấy của chú bộ đội nhãi ranh. Họ nghỉ ngơi ở các địa điểm trình diện rồi thong thả lên xe về trại học tập cải tạo. Họ làm một tờ tự khai duy nhất. Không ai hỏi cung họ cả. Nếu họ vào biệt giam là vì họ vi phạm Nội Quy, bị kỷ luật. Thế thôi.. Người bị bắt ít lắm. Họ bị còng tay, bịt mắt tống vào nhà lao, vào cachot. Họ bị còng tháng này sang tháng khác. Họ bị cưỡng bách viết tự khai. Họ can tội chống phá chế độ cộng sản sau năm 1975. Họ là những người lính bị chỉ huy bỏ rơi cút sang Mỹ hoặc trốn về chờ trình diện học tập vẫn ngạo nghễ chíến đấu trong rừng già vì danh dự quân đội, vì tổ quốc và đồng bào. Họ không bị xếp vào hàng ngũ “nguỵ quân, ngụy quyền”.


Dzũng quan tài hậm hực:


– Đàn anh vỗ tay hay lắm, vỗ tay khi chắc ăn! Xét cho cùng, du đãng phản động ngon hơn nhiều.


Qúy dao đứng trước một phòng đang cặm cụi tự kiểm, chửi đổng:


– Anh nào cũng đòi ví mình với Hàn Tín! Ông Hàn Tín biết mình có tài, cần bảo vệ mạng sống để thi thố tài năng nên ông ấy không thèm chấp quân đồ tể, lòn trôn cho xong chuyện.! Còn các anh, các anh có tài mẹ gì mà ham sống? Các anh sống như chết rồi. Kệ các anh. Nhưng còn sống, sau này, đi đâu thì nên ngậm miệng và cúi mặt nhé! Tôi không vơ đũa cả nắm đâu, tôi nói một số các anh già sĩ quan văn phòng thôi.


Lương Việt Cương không có tác dụng bằng Dzũng quan tài, Quý dao. Hào khí du đãng phản động bốc ngất trời tù. Các sĩ quan cấp úy chiến đầu không làm tự khai từ đầu. Nhiều sĩ quan cấp tá xé bỏ tự khai làm dang dở. Nửa trại nộp tự khai. Những người không nộp, Ban Giám Thị chẳng có ý kiến gì. Vụ nổi dậy ở trại Nam Hà kể như xong xuôi. Rất đông cải tạo viên tưởng mình đã thắng. Riêng bầy sư tử thì bình thản. Nộp tự khai rồi những ông sĩ quan già ngồi rung đùi suy diễn tin tức Mỹ đòi chuộc cải tạo viên. Tin này đã cũ mèm ở các trại giam miền Nam. Mỹ nó “sang trang lịch sử”, nó ném cả dân tộc Việt Nam vào miệng chó sói cộng sản, nó đứng nhìn chó sói rút ruột dân tộc Việt Nam không mảy may trắc ẩn mà còn tin nó bỏ tiền chuộc vài ngàn anh sĩ quan cải tạo, mà còn hân hoan cám ơ Mỹ thì…khó dùng chữ qua!


Sư tử lãng mạn đã quen cô đơn. Bây giờ sư tử say men cô đơn. Và sư tử chỉ còn tin ở chính mình, ở chính thế hệ tuổi trẻ của mình, thế hệ lập thuyết tiểu tư sản.


***


ĐOẠN KẾT


Tuần lễ bồi dưỡng thể xác và bồi dưỡng tinh thần trôi đi rất nhanh. Người ta muốn ăn cơm trắng với thịt lợn kho dài dài và nghỉ lao động dài dài để mơ mộng cái ngày Mỹ đem trực thăng bốc khỏi trại tập trung. Thế mà đã thứ sáu . Tiếng kẻng đã hết vẻ gầm gừ. Dường như âm điệu của nó thoang thoảng gió đàn ngọt mát. Hai mươi tám con sư tử lãng mạn và cô đơn không muốn rời phòng giam những lần cửa mở. Với họ, nhà tù ấm áp hơn trại tập trung. Nhà tù có nhiều chí lớn. Trại tập trung thì đẩy dẫy kèn cựa, tranh giành và những đầu óc trống rỗng, những đôi mắt cận thị. Ở nhà tù, con người thường xuyên trực diện hình phạt của thù hận, thường xuyên đứng giữa biên giới sống chết nên con người trang trải, cao cả. Ở trại tập trung, con người rên siết vì miếng cơm thiếu, cứ phàn nàn vì việc làm nhiều, thành thử con người hẹp hòi, bé nhỏ. Sư tử chưa biết mình còn phải luân lạc tới những vùng trời phiền muộn nào của quê hương. Thực sự, sư tử chán ngấy vùng trời vừa đến. Nó hào hùng khoảnh khắc. Nó sôi nổi nhất thời. Nó hy vọng ngớ ngẩn. Nó son sắt phút giây. Nó thiếu ước mơ. Nó cây mục. Nó cành khô. Nó lá rữa. Nó không thể kết trái bởi chẳng bao giờ nở hoa.


Ngày thứ bẩy, ông Ủy viên lại có mặt ở văn phòng giám thị. Ông mang chỉ thị của Trung Ương.


– Đồng chí Giám thị!


– Dạ.


– Diễn biến tư tưởng của chúng nó ra sao?


– Thuận lợi cho ta.!


– Chiều nay xe tải vào đây. Chập tối, xe về thị xã Nam Định, chạy thẳng ra ga.


– Bao giờ ban lệnh ạ?


– Ngay bây giờ. Tập trung chúng nó ở sân trại.


Giám thị truyền lệnh cho trực trại.. Một hồi kẻng khua vang. Lúc ây là giờ. Mười lăm phút sau, toàn thể trại viên tập họp từng đội giữa sân, trừ hai mươi tám con sư tử bị nhốt trong phòng. Giám thị nghênh ngang bước qua cổng trại. Vẻ thân mật hôm nào biến mất. Khuôn mặt Giám thị đanh lại nguyên vẹn khuôn mặt một cai ngục chuyên nghiệp, lão thành. Ông ta đứng trước các trại viên. Trực trại điều khiển cuộc chào đón.


– Chú ý, tất cả trại viên đứng dậy!


Qúy vị sĩ quan răm rắp tuân lệnh anh trung sĩ công an.


– Nghiêm.


Trực trại quay lại, giơ tay chào Giám thị:


– Trung sĩ Đỗ Ngọc Tùng, cán bộ trực trại, báo cáo đồng chí thủ trưởng, quân số tập họp đủ, chờ lệnh đồng chí thủ trưởng.


Giám thị vẫy tay:


– Đồng chí cho họ ngồi.


Và trở mặt về phía trại viên, hô lớn:


– Tất cả trại viên ngồi xuống!


Quý vị sĩ quan ngoan ngoãn ngồi xuống. Giám thị nói:


– Lệnh của Trung ương, các anh được về Nam. Từ đây di chuyển xuống thị xã Nam Định bằng xe tải. Từ Nam Định, các anh đi xe lửa vào Nam. Trên đường đi, các anh phải triệt để tuân hành mệnh lệnh của cán bộ chiến sĩ bảo vệ. Hành động chống đối sẽ không được tha thứ. Hành động chạy trốn sẽ bị bắn chết ngay. Các anh về phòng thu dọn toàn bộ đồ đạc và khẩn trương ra sân tập trung. Rõ chưa?


Qúy vị sĩ quan nhất loạt đáp:


– Rõ.


Giám thị rời sân trại. Vệ binh tăng cường vây kín hàng rào trại. Sư tử bám chấn song cửa quan sát cảnh tượng. Hoàng Sơn Trường lên tiếng:


– Đàn anh hố to rồi!


Dzũng quan tài cười hô hố:


– Lát nữa, nó còng hai đàn anh vào một. Còng Mỹ, chứ không phải trực thăng Mỹ bốc đi.


Lương Việt Cương nói:


– Mình cần tiễn đàn anh vị chút tình chứ, các bạn?


Đình Vượng đáp:


– Tại sao không? Mình tiễn đàn anh bằng bài hát tức là cho đàn anh bài học về sự cả tin…cộng sản!


Chú tiểu Thích Thanh Bần lắc đầu:


– Đừng, đừng làm buồn các ông ấy. Mỗi người đều lỗi lầm cả vì mỗi người đều có tâm sự riêng.


Nhiều vị sĩ quan già đã tay xách nách mang hành lý tù ra sân. Ý hẳn tranh thủ ra sớm ngồi xe chỗ tốt! Nửa tiếng sau, sân trại đã đông đủ cải tạo viên với hành lý ngổn ngang đủ thứ: Nồi niêu, xoong chảo, lồng chim, lồng gà, điếu cày, hoa lan, đàn sáo… Trực trại hỏi:


– Ghi tên cách anh ngoài bị hành lý chưa?


– Rồi.


– Tập trung hành lý một chỗ.


– Rõ.


Lộn xộn chừng mươi phút khiêng hành lý xếp đống. Trực trại nói:


– Trưa nay không kịp cơm nước . Buổi tối, các anh sẽ ăn ở Nam Định.


Trời hôm nay nắng dữ. Cải tạo viên sĩ quan trình diện ngồi phơi nắng rất thảm hại. Cái hùng khí bữa nào biến mất. Dzũng quan tài thắc mắc:


– Giá mấy vị tặng mình cây guitare và con gà thì tuyệt. Đàn mang theo thì ôkê, gà mang theo chỉ cho mệt.


Dzũng quan tài ngó Thích Thanh Bần :


– Tham sân si quá hả, nhà chùa?


Chú tiểu mỉm cười, chắp hai tay trước ngực:


– Mô Phật!


Đội cấp dưỡng cũng bị chuyển trại luôn nên sư tử nghỉ ăn cùng với các vị sĩ quan. Họ ngồi phơi nắng, mồ hôi chảy tầm tả suốt mấy tiếng đồng hồ. Đế 14 giờ, xe tải đến và đậu ngoài đường . Trực trại điều khiển chuyến đi. Vệ binh còng tay hai cải tạo viên chung một chiếc còng.


– Đội 1 khuân toàn bộ hành lý lên xe. Các đội khác ngồi tại chỗ.


Đúng 15 giờ, các xe tải quay đầu lại. Trực trại ra lệnh:


– Đứng dậy!


Hai mươi tám con sư tử xích đến gần nhau, cất tiếng hát:


“Đứng vững lên bao thanh niên yêu nước
Tiến về miền Nam miền quê hương ta nắng chói
Theo bước chân người xưa
Ta tiến lên đường ,ôi nắng mưa, sương gió ngại ngùng chi…



Đi về miền Nam, miền quê hương bông lúa tràn ngập đầy đồng
Đi về miền Nam,miền thân yêu đất rộng cùng chung đời sống…”


– Từng đội ra, khẩn trương lên xe!


Tiếng hát mỗi lúc một hùng hồn, tha thiết. Những người chuyển trại ngoảnh lại, vẫy tay chào sư tử. Nước mắt anh em ứa ra. Nước mắt sư tử cũng ứa ra. Nước mắt đã làm trôi đi mọi hiểu lầm, ghét bỏ hôm qua. Nước mắt bây giờ là gần gủi và nuối tiếc một ngày của một đời tù tội.


– Sư tử, ở lại vùng vẫy nhé! Yên chí, từ nay các anh chống tự kiểm.


– Các anh đi, bình yên… Hẹn ngày chiến thắng.


– Sư tử, không được đầu hàng!


Sư tử nghẹn ngào. Sư tử phóng ra lời son sắt:


“Việt Nam, Việt Nam tên gọi vào đời..
Việt Nam hai câu nói trên vành môi….Việt Nam nước tôi…!


Những người chuyển trại hát theo:


“Việt Nam , Việt Nam , Việt Nam muôn đời…”


Nước mắt sư tử vẫn ứa ra. Sân trại trống vắng, buồn tênh. Nỗi cô đơn dàn trải mênh mông. Lần đầu tiên trong lịch sử nhà tù cộng sản, người ta dọn sạch một trại tập trung. Sư tử bám chấn song phòng giam nhìn ra cái khốn cùng của cuộc sống. Và những trái tim rộn rã ước mơ.


Ở phòng giám thị, ông Ủy viên dập điếu thuốc cháy dở:


– Ngay tối nay, đẩy hai mươi tám thằng bất trị xuống hầm đá!


Viết xong tại Ivry Sur Seine
10-10-1984


DUYÊN ANH

 
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn