BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 37597)
(Xem: 34241)
(Xem: 33646)
(Xem: 25057)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Bầy Sư Tử Lãng Mạn (Chương 1 --> 9)

22 Tháng Giêng 201612:00 SA(Xem: 1171)
Bầy Sư Tử Lãng Mạn (Chương 1 --> 9)
52Vote
40Vote
30Vote
21Vote
10Vote
43


Truyện này được viết để tặng
một thế hệ tuổi trẻ Việt Nam trưởng thành sau 30-4-1975


… Vẫn còn nguyên băng đạn
Nằm ngang lưng quê hương
Đất đau niềm nắng hạn
Trời sầu nỗi mù sương
Bầy sư tử lãng mạn
Thắp lửa tim nhận đường


DUYÊN ANH


 

THƯ VÀO TRUYỆN


Em Hoàng Sơn Trường,

Anh không biết em còn sống dưới hầm đá biệt giam ở trại Đầm Đùn hay đã chết rồi. Nếu em còn sống, em đang đếm từng ngày trong bóng tối lạnh lẽo. Nếu em đã chết, xác em chôn dưới vùng đất của quê hương, chẳng ai rõ. Chắc chắn trên nấm mồ hiu quạnh của em, thiếu cái mộ bia mơ ước như em thường nói với anh, hồi chúng mình nằm chung xà lim số 7 hôi hám của C1 đề lao Gia Định. Em mơ ước gì nhỉ? Em muốn mộ bia của em khắc Búa Liềm và Còng Mỹ. Và em giải thích rằng, vì Còng Mỹ và Búa Liềm mà em chiến đấu và em hy sinh tuổi trẻ của em. Mơ ước của em thật lạ lùng. Nó cũng lạ lùng như sự dấn thân lãng mạn và cô đơn của em, của bạn bè em, của một thế hệ tuổi trẻ Việt Nam tuyệt vời.

Em nhớ chứ, Trường thân mến, hôm đầu gặp gỡ, anh thử em bằng câu hỏi ngờ vực và bằng sự phán xét kẻ cả về mục đích em theo đuổi, em đã trả lời anh : « Em kính mến anh lắm. Nhưng con đường em đi em tin là chính đạo và lý tưởng. Mong anh đừng bàn tán rắc rối ». Anh phục em từ đó. Chúng ta thân nhau. Trong tù, dĩ nhiên. Em kể anh nghe cái động lực xui em chiến đấu và sự trở về đời sống thảnh thơi, im lặng của em. Thế thôi. Là đã hừng hực mặt trời tuổi trẻ. Là đã vằng vặc mặt trăng tuổi trẻ. Ở tù không hứa hẹn gần nhau lâu, anh bị chuyển xà lim, chuyển dài dài, chuyển phờ phạc. Anh phiêu lưu khắp cõi đề lao. Cuối cùng, anh gặp Ngô Tỵ tại xà lim số 3 C1. Ngô Tỵ nói về em : « Em không hề biết mặt thằng Trường khi em gia nhập tổ chức của nó. Em vẫn tưởng nó phải lớn tuổi, to con, đầy vẻ bí mật. Nằm khu A, buổi sáng, đi đổ rác, em gặp tráng sĩ chùa An Lạc, em hỏi tráng sĩ chứ « đảng trưởng » đâu, tráng sĩ kéo một thằng lùn tì, đeo kính cận ra cửa xà lim khoe em. Em bèn hỡi ơi, « đảng trưởng » của mình nhóc hơn mình ». Anh hỏi Ngô Tỵ : « Bây giờ em còn phục nó không? » Ngô Tỵ cười : « Nó hay thật, anh ạ! » Em đã quyến rũ bao nhiêu bạn bè, em đã quyến rũ anh. Em tuyệt diệu.

Anh gặp thêm Đinh Cường, Đinh Dũng, Đinh Vương, Nguyễn Khánh Long, Đặng Cơ Bản, Đặng Hữu Trí… Rồi lang thang sang khám Chí Hòa, anh gặp vô số những khuôn mặt yêu nước khiến anh lợm giọng. Và anh buồn bã là không còn được sống với các em. Những khuôn mặt yêu nước : những anh già nua thèm danh vọng trải dài đời mình qua các chế độ chưa nắm nổi một địa vị bình thường, những anh thèm thuồng quyền bính đến ngớ ngẩn tội nghiệp đã tụ tập nhau mưu đồ phục hồi dĩ vãng tanh ươn. Họ lập chính phủ, phong cho nhau làm tổng thống, thủ tướng, tổng trưởng. Một xà lim của anh có đến… ba nội các. Và ba vị thủ tướng hết chửi nhau vì quan điểm chính trị lại chửi nhau vì cơm chia không đồng đều, vì chỗ ngủ thiếu ni tấc! Anh gặp những ông quận trưởng vẽ vời chức tước tỉnh trưởng ngày mai. Anh gặp những ông chánh án, dự thẩm vẽ vời món tiền lương « ráp pen » ngày mai. Anh gặp những ông tá vẽ vời sao tướng ngày mai. Anh gặp những ông trung sĩ đang là sư đoàn trưởng hôm nay. Anh gặp những ông tư sản mại bản mơ ước tiếp thu tài sản cũ… Tất cả đều nhận mình chống cộng sản vì tổ quốc và dân tộc… Họ ưa kể lể công lao nằm tù của họ. Nằm tù, với họ, là cái gì thiêng liêng, cái gì đầy đủ đặc quyền đặc lợi khi cộng sản tan rã. Nằm tù, với họ, là sự ngưỡng mộ của toàn dân, mặc dù họ vì vạ miệng, vì sau mèm nói láo, vì ham danh vọng nhào vô, vì tự ý dẫn xác đi trình diện xin ở tù. Các em khác hẳn họ. Các em khiêm tốn. Các em im lặng. Chiến đấu im lặng. Sa cơ thất thế im lặng. Đau khổ im lặng. Và thành công càng im lặng hơn. Mà các em đã làm gì có quyền bính? Mà các em đã hưởng thụ được gì từ quyền bính của dĩ vãng? Anh chợt nhớ một câu văn bất hủ của nhà văn Ngọc Giao trên trang đàu tiểu thuyết Nhà quê : « Con ốc nhỏ trối giạt trên bãi cát, bé nhỏ thế thôi, câm nín thế thôi, thế mà trong lòng nó chứa đựng cả sóng gió của đại trùng dương đấy, bạn ạ! » Em, các em, chính các em là những con ốc nhỏ cô đơn và vĩ đại đang trôi giạt trong lòng dân tộc. Ý nghĩa chiến đấu của em, của các em, anh thấy nó từa tựa tư tưởng của một nhân vật của nhà văn Erich Maria Remarque trong « The night in Lisbon » : khi thế giới còn những bọn dã man tàn bạo và mình còn khả năng chống lại chúng mà không dám chống thì đó là tội ác. Nhân vật này cho giấy thông hành người khác, ông ta khước từ trốn sang Mỹ, ông ta ở lại Âu Châu, gia nhập lính lê dương để chiến đấu diệt phát xít. Các em cũng khước từ tất cả để chiến đấu chống cộng sản vì, dân tộc chúng ta, dân tộc Ba Lan, Tiệp Khắc… đang đầy ngập bọn dã man tàn bạo, đang bị trùm kín bóng tối của chủ nghĩa cộng sản đốn mạt. Một bông hồng nào cho em, Trường thân mến. Anh chỉ mới mừng tuổi em hộp diêm, mùng một Tết 1976 owr đề lao Gia Định. Và em rất thông minh, nói nhỏ : « Vâng, em sẽ mãi mãi giữ lửa »!

Em thừa hiểu, tù nhân như anh em mình, cộng sản chẳng dại gì mà nhốt một chỗ lâu ngày. Họ phân tán dần dần. Sớm gần, chiều xa. Tháng 5 năm 1977, em chuyển trại, các em chuyển trại. Tháng 12 năm 1977 anh sang Chí Hòa. Tháng 11 năm 1978, anh bị đầy vào rừng già Sa Ác. Tháng 2 năm 1980, anh về Hàm Tân. Đầu năm 1981, tù nhân ở trại Nam Hà B được điều về miền Nam. Khoảng 500 người nhập trại Hàm Tân, Z30D. Anh gặp vài anh bạn cũ. Có Vũ Xuân Thông, trung tá, chỉ huy phó lữ đoàn Biệt Cách Dù 801, tài tử cao ráo, bô trai trong phim Người tình không chân dung. Bạn anh kể cho anh nghe một cuộc vùng dậy ở Nam Hà B do nhóm 28 « ông nhóc » dưới sự lãnh đạo của Lương Việt Cương đã thổi lửa vào tâm hồn mấy ngàn sĩ quan từ lâu đã cam đành. Lương Việt Cương, anh nhớ lắm chứ, mắt ốc nhồi, giáo sư toán lý hóa, còn trẻ, hồi làm sinh viên ở Đà Lạt đã chan chứa nhiệt tình, hồi ở đề lao Gia Định đã từ cachot này qua cachot khác. Anh nôn nao quá, vội hỏi : « Nhóm 28 ông nhóc có Hoàng Sơn Trường, Đinh Vượng, Ngô Tỵ, Nguyễn Khánh Long »? Có, có, có… Họ trả lời anh. Vậy là em đã bị lưu đày ra tận miền Bắc. Những địa danh nào đã in dấu chân em?

Cuối năm 1981, anh được tha. Amnesty International đã can thiệp cho anh tận tình bằng một sự trao đổi không lỗ vốn cho cộng sản. Tháng 3 năm 1983, anh vượt biên. Thuyền anh ghé Mã Lai. Ở đảo Pulau Bidong anh gặp Trần Dân Chủ và Nguyễn văn Nhiệm. Hai người này, cựu trại viên Nam Hà B, kể thêm những chi tiết hào hùng của 28 tên phản động vĩ đại. Anh liền nghĩ tới một truyện dài mang tựa đề thú vị Bầy sư tử lãng mạn.

Tháng 10 năm 1983, anh đến Paris. Anh tìm đọc cuốn “Goulag vietnamien” xem anh tù nhân bất đắc dĩ này viết gì về đề lao Gia Định. Cha chả, một cái xó xỉnh đề lao Gia Định thì thấm thía gì với nền tù đày của cộng sản việt nam. Vậy mà người ta dám phóng lên thành thứ goulag khiến độc giả ngoại quốc cứ tưởng đó là đỉnh chót vót của thống khổ ngục tù. Tác giả nằm tù đâu có bao lâu. Ông ta chưa có kịp ghẻ mà. Phi ghẻ bất thành tù… đề lao. Ông ta viết tàm bậy, tàm bạ. Chỉ riêng hai chi tiết anh sắp kể đã đủ liệng cuốn “Goulag vietnamien” của ông ta vào thùng rác vỉa hè. Ông ta bảo cụ Cao văn Diên (phòng 7C1 mình đó, em nhớ chứ?) không phải là phản động và cụ chết ở đề lao. Láo toét, cụ là phản động nặng, bị đầy lên trại Gia Trung, Pleiku và cụ chết bệnh ở Pleiku. Ông ta bảo anh đã chết rồi! Ông ta bảo ông ta lấy được khối chữ ký tù nhân tư tưởng… Trước khi ông ta được tha để leo máy bay sang Pháp, ông ta nằm trong phòng như gà kỹ nghệ, ai mở khóa cho ông ta lang thang khắp trại lấy chữ ký, ai dám ký, ai cho phép ông ta xử dụng giấy bút? Thế mà ông ta nổi tiếng, ông ta dùng cái dĩ vãng tù đầy ân huệ của ông ta để nhảy vào công cuộc… giải thoát dân tộc! Những thứ như ông ta không thiếu gì ở Mỹ, ở Pháp, ở Úc… Anh chạnh nghĩ tới em đang nằm dưới trại Đầm Đùn, và anh bất bình. Luôn luôn, chúng ta thừa thãi bọn tiêu bạc giả. Và bọn tiêu bạc giả cậy mình vô liêm sỉ, dùng bạc giả của chúng khỏa lấp dư luận, bôi bẩn những người công chính. Còn em, còn bạn em, ai biết đến cuộc chiến đấu cô đơn của em?

Anh hiểu em. Anh hiểu em nhiều lắm. Em đi chiến đấu hôm nay như năm xửa năm xưa em xé vở gấp tàu bay đẹp phóng lên trời, gấp tàu thủy xinh thả trôi giòng nước. Em phơi phới. Em chuyền nhảy. Em làm đẹp cuộc đời và không cần cuộc đời biết đến, không bắt cuộc đời nghĩ đến. Có nhiều cuộc đời nhỏ trong một cuộc đời lớn. Cuộc đời lớn không biết đến em vì thật sự không biết hay chưa biết. Nhưng cuộc đời nhỏ, vốn dĩ nó nhỏ, bản chất nó hẹp hòi, nó biết đến em mà nó cứ giả vờ không thèm biết. Nó sợ hãi biết đến em, sợ hãi nói về em với cùng khắp cuộc đời. Nó lo ngại em nổi tiếng hơn nó, em trở thành thần tượng, em trở thành đại thụ còn nó chỉ là cỏ hèn. Nó ghen với em. Và nó tìm cách hãm hại em, cô lập em, bôi bẩn em. Nó không dám chiến đấu bằng con số không thật tròn trong hình vuông thật đẹp đâu. Nó phải bấu víu lấy cái tước vị quá khứ phù ảo và chua ôi làm lý tưởng. Những đứa ghẻ lở, hắc lào rất sợ tắm sông trần truồng. Những đứa vô tài bất tướng lại thích khoa trương, càng ghét những tài năng vàng mười. Vậy thì giữa cuộc đời nhỏ đầy rác rưởi và em đã có một phân cách. Nó chiến đấu để phục hồi dĩ vãng quyền bính cũ. Em chiến đấu để khai phóng tương lai. Nó ngoảnh lại. Em nhìn lên. Nó chiến đấu cho nó. Em chiến đấu cho mọi người. Em trực diện với nghịch cảnh. Nó nằm chiêm bao nỗi khổ. Em chiến đấu bằng nhiệt tình và lòng tự phụ của tuổi trẻ việt nam. Nó chiến đấu bằng tiền quyên góp phè phỡn. Em không cần nó biết đến em là em xứng đáng, em được quyền kiêu ngạo.

Trong truyện dài Sỏi đá ngậm ngùi anh đã viết rằng nỗi thống khổ là văn phạm của đời sống, sự cô đơn là ánh sáng soi rõ đất trời. Em, các em, chiến đấu trong thống khổ và cô đơn, trong im lặng và thầm kín. Các em đang làm tác phẩm lớn cho đời sống, đang cố gắng để lại những dấu ấn vàng son trên sinh đạo mà các em đã một lần vượt qua. Anh, các anh, những nhà văn, nhà thơ, những nghệ sĩ sáng tạo cũng mang nỗi thống khổ và cô đơn như các em. Các anh đã, đang và còn làm tác phẩm cho đời sống. Phải nói một cách khẳng định rằng, chỉ có nghệ sĩ sáng tạo mới biết làm đẹp đời sống, chỉ có nhà văn, nhà thơ mới đủ tài năng và thẩm quyền làm đẹp đời sống của những ai làm đẹp đời sống. Chúng ta đau khổ, chúng ta cô đơn, chúng ta im lặng chịu đựng. Bởi vì chúng ta làm việc để làm việc, chúng ta không làm việc để phô trương. Hình như chúng ta vẫn chưa yên thân. Chúng ta vẫn bị cái thứ cuộc đời nhỏ rình rập nghi ngờ. Thứ cuộc đời nhỏ gồm một lũ thích ngồi trong xó tối giả giọng chó sủa gây khó chịu cho người đi ngoài ánh sáng. Thứ cuộc đời gồm một lũ chẳng thích làm gì mà chỉ sợ người khác làm hơn mình. Cái thứ ấy, trong Thuyền nhân, anh viết: “Bao giờ biết nổi giận? Bao giờ trời gầm thét? Bấy giờ, vòng tròn bao la sẽ là cõi mịt mù và con thuyền vượt biên ngoi ngóp trong cái cõi mịt mù khốn cùng đó. Và con người lại càng hiểu giá trị làm người của mình không bằng tấm mảng mục. Con người sẽ sợ hãi, sợ chết. Con người sẽ khóc lóc, than van. Con người sẽ biến mất những ích kỷ hèn mọn, những ghen tuông đê tiện, những phán xét ngu muội. Con người, bấy giờ, bỗng thèm sống và tự hứa với chính mình, nếu sống sót sẽ cố sống ra vẻ một con người. Những kẻ thích thị phi người khác, thích nghị luận những lầm lỗi mơ hồ của người khác, thích phán xét người khác bằng những điều đồn đại, vu khống, thích nằm chiêm bao nỗi khổ, chằng khi nào được vinh dự chìm đắm giữa mù khơi, ngoi ngóp trong nỗi sợ. Những kẻ ấy, những kẻ giả hình ấy, chỉ cần một phút chênh vênh trên đường chết, năm phút nhức nhối tinh thần, mười phút quặn đau thể xác là gục xuống cúi lạy cái quyền uy có thể ban phát cho chúng kiếp sống cỏ dại. Chúng sẽ khả ố, bỉ ổi gấp triệu triêu lỗi lầm của những người bị chúng phán xét oan ức. Bất hạnh cho bọn giả hình, Thượng Đế đã không bố thí cho chúng một miếng ân sủng nhỏ về nỗi cô đơn và niềm thống khổ. Do đó, một đời tẻ nhạt chúng đeo đuổi, chúng chỉ loay hoay trong cái vòng tròn nhỏ bé đánh đai bởi những ý nghĩ bẩn thỉu của kèn cựa, tranh giành, vu khống, chụp mũ, nói xấu, bôi bẩn và nhục mạ người vắng mặt. Chúng ngu dốt, không biết định nghĩa hai tiếng cao thượng. Chúng hèn nhát, không dám đối mặt người công chính. Chúng lầm lũi như bọ hung. Chúng chẳng thể hiểu thế nào là tồn tại, là sự phục sinh của nỗi chết. Việc làm của người công chính, ý nghĩa tốt đẹp của người công chính để lại cho đời sống sẽ phục sinh cái chết của người công chính. Tác phẩm để đời của nhà văn, nhà thơ, họa sĩ, nhạc sĩ… phục sinh cái chết của họ và cho phép họ tồn tại vĩnh cửu. Bọ hung không để lại cho đời sống cái gì. Chúng chỉ để lại vết tích ô nhục trong gia phả của chúng cho con cháu chúng tưởng niệm xót xa. Người công chính đã được tuyên dương xứng đáng trong Thánh Kinh. Chúa đã dành cho họ phần thưởng trên Thiên Đàng. Dưới cõi thế, họ vẫn can đảm sống, vẫn làm đẹp đời mình, đời người khác. Vì, họ biết, đời sống chỉ có một số bọ hung, một số Lý Thông gian ác. Còn rất đông Thạch Sanh và công chúa cổ tích”.

Trường, em hiểu tại sao Lý Thông cứ muốn Thạch Sanh nằm mãi dưới hang không? À, Thạch Sanh lên đời thì Lý Thông xuống lỗ. Thạch Sanh có cây đàn muôn điệu. Lý Thông chỉ có cái đàn miệng với bài duy nhất “Người đi đường và con chó”. Vậy nó không biết đến em, nó rình rập em, nó nghi ngờ em vì nó sợ nó là lãnh tụ giả mà em là lãnh tụ thật. Nó muốn độc tôn. Nó muốn chỉ có nó quốc ngoại. Nó không muốn có ai quốc nội. Anh viết về các em, anh nhận các em là lãnh tụ cao quý, anh minh, vĩ đại của anh, nó sẽ chán lắm, cái cuộc đời nhỏ ấy mà, nó sẽ hăm he anh, nó sẽ lập tòa án (!) xử anh, nó sẽ ghi tên vào sổ đen! Ồ, chấp chi. Anh già rồi. Năm mươi tuổi rồi. Mệt rồi. Thừa thãi danh tiếng rồi. Anh không cần ai khen anh, cũng chẳng sợ ai chửi anh. Với đất nước, anh đã có 50 tác phẩm văn chương và hơn 200 số báo Tuổi Ngọc. Với đất nước, bọn đi đường và con chó không có gì. Không có gì cả. Với cong sản, anh đã đi vào “văn học sử” của họ bằng những pho sách “Những tên biệt kích trong mặt trận tư tưởng, văn hòa miền Nam”, “Văn nghệ Sài gòn dưới thời Mỹ Ngụy”, “Vụ án hồ Con Rùa”… vân vân và hàng trăm bài viết đào cha bới ông anh ở báo Hà nội, báo Sài gòn; hàng trăm bài nói nguyền rủa anh trên vô tuyến truyền thanh, truyền hình; hàng trăm buổi học tập mạt sát anh ở đại học, trung học, tiểu học, ở quận, phường, xã, ấp. Anh sừng sững cả trên “Xã luận” của báo Nhan Dân. Đến nay anh vẫn là đối tượng, vẫn còn là bia hứng tên thù cộng sản. Với cộng sản, bọn đi đường và con chó không đáng được đề cập, dù nửa chữ, nửa lời! Cuộc đời lớn còn rất đông Thạch Sanh và công chúa cổ tích. Riêng anh, còn độc giả của anh. Độc giả trong nước thương anh hơn xưa. Độc giả Hà nội say mê tiểu thuyết của anh như độc giả Sài gòn. Người ta lén lút đọc anh, chuyền tay nhau đọc anh. Độc giả ngoài nước mong đợi tiểu thuyết mới của anh, tuổi trẻ việt nam ở Âu châu còn thèm nghe điệu kèn harmonica của Chương còm, thèm xem tài bắn súng cao su của Dzũng Đakao, thèm hoan hô đường bóng của Bồn lừa… Anh có thể kết luận: bọn đi đường và con chó chỉ đủ khả năng giết chó mà không thể hãm hại được chúng ta. Vì, không có khí giới nào giết nổi tài năng đích thực và những tâm hồn ngọc. Và anh vẫn còn nơi nương tựa vững chắc. Là cuộc đời lớn bao la, rộng mở, công bình, hào sảng.

Anh sẽ tiêu pha không tiếc gì chữ nghĩa vàng son để bọc lấy những tấm lòng thơm ngát của các em, của những người tuổi trẻ việt nam chiến đấu trong thống khổ và cô đơn. Bầy sư tử lãng mạn ở quê nhà, hãy yên tâm sống và yên tâm chết. Lịch sử sẽ thay đổi. Phải thay đổi. Đó là chân lý. Và chân lý ấy phóng lên bầu trời quê hương ngút ngàn thù hận bằng cung cách sống, chết dưới hầm đá trại Đầm Đùn. Sống làm thăng hoa yêu thương, rực rỡ tình người. Chết làm phục sinh tự do, dân chủ và nở rộ hoa nhân ái trên còng tư bản, trong ngục vô sản. Cung cách sống chết khai sinh một kỷ nguyên mới của những người tiểu tư sản lãng mạn, hào sảng và ước mơ…

Thế nhé, em yêu dấu!



Chương 1


Một buổi sáng không giống những buổi sáng khác, ở trại Nam Hà B. Tù nhân đã xếp hàng đông đủ, từng đội, từng đội. Họ ngồi im lặng giữa sân tập họp, chờ đợi tiếng kẻng, chờ đợi điệu kèn xuất quân, chờ đợi hồi chuông cáo phó: thời gian cơ hồ ngừng lại. Và không gian giăng mắc sương mù. Tiếng kẻng có là cái gì đâu! Thoạt đầu, âm điệu oan nghiệt của nó mở lối cho con người đi vào thù hận. Rồi đến răn đe, dọa nạt, nhắc nhở con người hình phạt của thù hận. Con người, vốn khinh thường tiếng kẻng khi chưa gặp nó, chưa nghe nó trên sầu đạo hệ lụy, đã choáng váng, lợm giọng, buồn ói bởi âm điệu chát chúa, hụt hẫng của nó. Tiếng kẻng tù. Nó gợi tưởng muôn vàn bất hạnh, tăm tối và thê lương trong thương xót của những người xa xăm, bên ngoài hàng rào kẽm gai tập trung, bên ngoài tường cao cổng kín nhà tù. Nó gợi tưởng muôn vàn cay đắng, rã rượi và vô đơn trong nhớ nhung của những người đêm đem trở giấc lưu đầy gửi hồn mình về gia đình êm ấm. Rồi nó cũng biến thành cái gì tẻ nhạt, đều đều như củ khoai lót lòng bữa sáng, bát sắn lưng dạ bữa chiều, như chân lý của chủ nghĩa, như hạnh phúc của nhân loại, như niềm trắc ẩn của thế giới, như giọt nước mắt của cá sấu, như tất cả nhỏ mọn tanh ươn của đời sống thường hằng. Hơn mọi tiếng kẻng tù từ khai thiên lập địa, tiếng kẻng tù của thời đại chúng ta, tiếng kẻng tù cộng sản, tiếng kẻng tù của hòa bình hòa giải dân tộc còn được phổ thêm thứ âm điệu ma quái làm mê hoặc loài người, làm ngờ vực tù nhân với tù nhân, làm sáng danh cai ngục. Khi những tên đồ tể thọc dao vào cổ tù nhân, nó cười ngất hả hê nhìn máu chảy và nó bảo nó giáo dục tù nhân tư tưởng. Thì loài người bảo cõi tập trung khổ sai lao động của đồ tể là trai học tập cải tạo! Khi những tên đồ tể ném cho tù nhân những trang giấy, khích lệ phê bình và tự phê bình để tiến bộ, ban cho tù nhân này chút ân huệ và bắt phải nhận, đồng thời, trừng phạt nhiều tù nhân khác để tạo dựng ngộ nhận, chia rẽ. Thì tù nhân quên mất thủ đoạn của đồ tể, xúm lại gấu ó nhau, hành hạ nhau, nói xấu nhau. Và đồ tể hãnh diện buông lời đạo đức: các anh không thương nhau, còn ai thương các anh! Tiếng kẻng tù, ở trong đó hết.

Tại sao hôm nay, những người đã mòn vẹt thể xác, đã tê cứng tâm hồn vì tiếng kẻng tù sau nhiều năm cam đành, lại chờ đợi nó? Người ngoài cuộc, và ngay cả người việt nam không bị tù đày, thường phán xét tù nhân việt nam bằng những đôi mắt cận thị. Đã không có một thỏa hiệp, một quy chế nào cho cải tạo viên. Ở các nước xã hội chủ nghĩa không có nhà tù! Sĩ quan của chúng ta không được đối xử như tù binh. Bởi vì, họ không hề bị bắt ở chiến trường. Họ bị đẩy vào chiến tranh để làm lợi cho Mỹ và làm giầu cho bọn tướng lãnh ngu xuẩn, bọn tư sản mại bản tham lam, bọn thư lại tham nhũng. Cộng sản thôn tính miền Nam, họ phải giã từ vũ khí sau khi bọn tướng lãnh, bọn đại tá sừng sỏ đã đào ngũ chạy trốn. Và họ bị dồn vào con đường cụt của anh hùng thất thế. Ngó trước. Tiếng súng đã ngưng. Ngó sau. Tiếng súng đã ngưng. Ngó phải. Tiếng súng đã ngưng. Ngó trái. Tiếng súng đã ngưng. Bốn bề hiu hắt vắng lặng. Mà khí thế ban đầu của kẻ thù hừng hực. Nhân gian lơ láo. Đồng minh dọa dẫm biển máu, biển máu, biển máu! Người đi cải tạo tuyệt vọng. Ngày về, ở miền Nam, đã xa. Ngày về ở miền Bắc còn xa hơn. Với nghệ thuật đầy đọa thể xác và thu nhỏ cái dạ dầy lại, kẻ thù đã biến họ thành những người mệt mỏi thường xuyên, sợ hãi lao động, sợ hãi tù đày và chỉ thèm ăn, thèm ngủ. Báo chí ngoại quốc hèn nhát không dám đòi “cải thiện chế độ lao tù” và mù lòa không biết những biệt giam hôm nay rùng rợn nghìn lần chuồng cọp Côn Sơn. Đừng thiển cận so sánh cải tạo viên với tù binh cộng sản. Ngày xưa, họ bị chúng ta bắt, họ được hưởng quy chế tù binh xác định rõ rệt quyền lợi và bổn phận trong những thỏa hiệp quốc tế. Họ dám yêu sách, dám chống đối vì chúng ta nhân đạo, vì họ tin tưởng đồng chí của họ đang chiến đấu, vì họ có hậu thuẫn của báo chí Mỹ và chính phủ Mỹ! Chúng ta không có gì. Không có gì cả. Ngoài những tin đồn tự an ủi mình và lừa dối người khác. Ngoài ngọn cờ Nhân Quyền tung bay trong một ngày nắng hiếm hoi của mùa đong ảm đạm. Ngoài Hội Ân Xá Quốc Tế chỉ đủ khả năng cứu giúp những tù nhân tư tưởng, trí thức, nhà văn, nhà thơ, nhà báo. Cho nên, cải tạo viên cam đành và đau lòng chờ đợi sự khoan hồng của kẻ thù! Và, sáng nay, họ chờ đợi tiếng kẻng báo giờ lao động, chớ đợi một cái gì sắp xảy ra mà họ được loan báo từ đêm qua.

Kẻng tù đã khua vang. Một hồi ba tiếng. Mỗi tiếng kẻng là mỗi tiếng đập mạnh của từng trái tim lâu ngày chưa được đập mạnh, hồi hộp, mơ ước. Cửa điếm gác sát cổng trại đã mở. Người công an trực trại đang dở từng trang sổ công tác. Vệ binh, súng AK đeo vai xếp hàng ngoài cổng. Quản giáo, súng lục đứng bên trong chờ dẫn đội ra hiện trường lao động. Tù nhân im lặng. Tuyệt đối im lặng. Hàng nghìn con mắt hướng về chỗ ngồi của đội mới gồm hai mươi lăm người tuổi trè vừa được điều từ Sài gòn ra đây. Họ bị kết tội chống phá cách mạng, bị xếp vào thành phần không thể cải tạo ngắn hạn. Có nghĩa là họ bị cải tạo trường kỳ. Năm người lớn nhất: trên ba mươi. Những người khác: chưa quá hai mươi lăm. Họ không tỏ ra vẻ sợ hãi, lo lắng. Cũng không tỏ ra kiêu căng, bất cần. Họ mỉm cười với những người nhìn họ.

Công an trực trại bắt đầu làm việc:

– Đội 7!

Đội trưởng đội 7 ngồi nguyên tại chỗ. Anh không đứng lên, bỏ mũ, báo cáo quân số lao động như sáng hôm qua. Công an trực trại hô lần nữa:

– Đội 7, báo cáo quân số lao động. Điếc hả?

Đội 7 bất động. Cán bộ trực trại lờ đi, tiếp tục làm việc.

– Đội 2!

Đội 2 không nhúc nhích. Cán bộ trực trại nổi giận:

– Hôm nay các anh chống đối lao động hả?

Người đội trưởng mới nhất đứng lên. Tù nhân hướng hết về phía anh ta. Cao quá thước rưỡi, trán cao, mắt ốc nhồi, nước da xám đen, người đội trưởng mới đứng nghiêm, giọng nói dõng dạc và lễ độ:

– Báo cáo cán bộ không có ai chống đối lao động cả. Chúng tôi sẽ hồ hởi phấn khởi đi lao động ngay, sau khi cán bộ giải quyết xong vấn đề giam nhốt ba anh em của chúng tôi dưới hầm biệt giam mà không có quyết định. Chính sách của nhà nước luôn luôn sáng tỏ, chúng tôi yêu cầu cán bộ làm sáng tỏ chính sách.

Cán bộ trực trại ra khỏi điếm gác. Y đứng ngay ở thềm lát gạch, mặt vênh váo:

– Thi hành mệnh lệnh trước, khiếu nại sau.

Người đội trưởng vẫn đứng nghiêm:

– Làm sáng tỏ chính sách của nhà nước là vấn đề quan trọng.

Cán bộ trực trại xỉa xói:

– Anh học nội quy chưa?

Người đội trưởng đáp:

– Rồi.

Và anh ta đọc:

– Điều thứ ba mươi sáu: trại viên được phép nêu thắc mắc lên ban giám thị. Nếu ban giám thị không giải quyết ổn thỏa, thắc mắc sẽ chuyển lên lãnh đạo cấp trên.

– Làm gì có điều ấy, bố láo!

– Có. Ở nội quy đề lao Gia Định

– Nội quy trại này không có.

– Nhưng trại nào cũng thê, kỷ luật trại viên phải đọc Quyết định. Không đọc Quyết định của ban giám thị là cán bộ trả thù riêng tư, sai chính sách khoan hồng của đảng và nhà nước.

Cán bộ trực trại quét mắt khắp sân trại. Y hằm hè:

– Các anh nhất định chống lao động hả? Chống đối lao động là vi phạm nội quy. Nội quy là pháp chế của nhà nước. Chông nội quy là chống nhà nước.

Người đội trưởng nói:

– Cán bộ đừng nâng cao quan điểm, đừng chụp mũ bừa bãi. Tôi thành thật cho cán bộ biết, chúng tôi đã nằm tù nhiều nơi rồi, nơi này là cùng đường, là chỗ chết của chúng tôi.

Anh quay nhìn các đàn anh sĩ quan:

– Sống tự do ở cái chế độ cộng sản là điều sỉ nhục thì chết ở nhà tù là một niềm hãnh diện. Tôi tuyên bố chống đối chế độ, một mình tôi đòi hỏi được xử bắn ngay.

Hai mươi bốn người tuổi trẻ của đội mới nhất loạt đứng lên:

– Bắn luôn cả chúng tôi!

Một người cảm khái:

– Sống đã là chết hèn thì chết là sống hùng!

Tự nhiên, tù nhân vụt dậy như biển đang phẳng lặng cuồn cuộn sóng lớn trong giông bão. Cán bộ trực trại và bọn quản giáo bỏ chạy ra ngoài cổng. Ổ khóa bóp lại. Vệ binh bên ngoài lên đạn AK. Những họng súng chĩa vào. Ba phát đạn bắn chỉ thiên báo động. Mặt trời le lói chút nắng sớm. Sương mù dần tan loãng. Thiếu một lá cờ. Nếu có lá cờ treo lên. Thì đã chiếm hoàn toàn tự do, dù tự do một phút, một giờ, một ngày. Hai mươi lăm người tuổi trẻ thành thần tượng của hàng ngàn tù nhân. Tuổi trẻ đã bắn thẳng vào kẻ thù những phát đạn tuyệt diệu của nhiệt tình và lòng tự phụ. Những phát đạn ấy cũng đã làm sống lại hào khí cũ những cuộc đời cam đành. Người ta vỗ tay. Người ta reo vui. Người ta hỏi han nhau. Người ta chia sẻ tâm sự. Rồi người ta trở về đội ngũ, hết sức trật tự, hết sức im lặng như chuẩn bị cuộc chiến mới. Chúng ta chưa thua. Chúng ta không hề thua. Chúng ta vừa khởi sự cuộc chiến của chúng ta, cuộc chiến của những trái tim trong thống khổ và cô đơn, hào hùng và lãng mạn.

Người đội trưởng mới khoanh tay trước ngực, giữa đám đông:

– Xin cám ơn các anh!

Những lời đồng nhất:

– Các anh phải cám ơn các chú. Các chú đã giúp các anh ngẩng mặt lên.

Người đội trưởng mới khẽ lắc đầu:

– Các anh quá khen.

Hai mươi tám người, hai mươi tám vì sao mới mọc trên bầu trời việt nam, từ Phú Khánh miền Trung mới bị đầy ra Nam Hà miền Bắc sau những năm quằn quại ở sở Công An, đề lao Gia Định, khám lớn Chí Hòa, Kontum, Lao Bảo… Họ đi với hồ sơ cá nhân của họ trong tay những kẻ còng họ dẫn độ lưu đày. Họ tới Nam Hà, ở riêng một nhà thuộc trại B, bị cô lập hoàn toàn. Tù nhân mới nhập trại đều bị cô lập. Vừa ăn xong một bữa cơm tù Đầm Đùn, ba người trong bọn họ bị công an chấp pháp xích chân lại, nhốt dưới hầm đá biệt giam tối tăm, lạnh lẽo. Để dằn mặt cả bọn bất trị, những con ngựa chứng trong xã hội chủ nghĩa, những con cua chỉ thích bò ngang mà không thèm tiến nhanh tiến thăng theo chế độ. Họ bàn tán, hoạch định đường lối giải thoát bạn của họ. Ngày thứ sáu, họ được ra khỏi nhà. Họ đã phân tán mỏng tới gặp các đội trưởng cũ và các tù nhân sĩ quan. Họ chỉ xin tù nhân khước từ lao động buổi sáng hôm sau và ngồi im để tự do hành động, tự họ chịu hết trách nhiệm. Nhiều ý kiến tiêu cực và tích cực được nêu ra. Cuối cùng, nhờ sự quả cảm của tuổi trẻ, họ đã lay động nổi cái bóng tối cam đành phủ kín lên thân phận tù nhân vô vọng, họ đã thắp lên một ngọn lửa tim soi sáng cuộc chiến đấu mới, họ đã tạo niềm hy vọng ở bên kia biên giới tuyệt vọng.

Một tù nhân hét lớn:

– Các chú không cô đơn. Có anh trong các chú.

Nhiều người khác hô vang:

– Có anh. Có tất cả. Chúng ta là một. Sống, chết chỉ nên có một định nghĩa.

Sân tù ồn ào, sôi nổi. Trật tự là cái gì? Im lặng là cái gì? Hãy để đất lệch. Hãy làm trời nghiêng. Hãy biển động… Chúng ta lấy khí thế. Nào hát đi! Cờ bay, cờ bay huy hoàng trên thành phố thân yêu vừa chiếm lại đêm qua bằng máu… Nhạc chính huấn rền vang một vùng trời miền Bắc. Ai về Đồng Tháp, hỏi thăm cây cỏ lá hoa. Quân cọng tàn phá… Mấy năm rồi mới được hát, mới dám hát. Nhạc của ta hay quá. Hát vỡ tung lồng phổi đi nào, anh em! Giặc cọng từ Bắc vô Nam, bàn tay nhúng máu anh em… Hãy hôm nay của lịch sử trang mới. Không ngày mai của vọng về di tản thụ hưởng, của những thằng tướng hèn bán rượu bệ rạc, của những thằng tá đào ngũ đội lốt thi sĩ nham nhở tặng hoa cho gái đẹp dự thi. Hãy đau khổ để khôn lớn. Không sung sướng để ngu muội. Hãy định nghĩa sự sống bằng cách chết. Hỡi kẻ thù, chúng tao là sĩ quan quân lực việt nam cọng hòa, chúng tao là lính chiến, chúng tao có tổ quốc và chúng tao yêu tổ quốc của chúng tao, chúng tao có phẩm cách và danh dự làm người, chúng tao không biết đầu hàng, chúng tao vẫn chiến đấu. Bây giờ chúng tao thực sự biết chiến đấu. Không cần Mỹ phản phúc, không vì huy chương, không vì lon lá, không vì ai cả. Mà chính vì dân tộc, tổ quốc và hạnh phúc của con cháu chúng tao.

Người đội trưởng của đội hai tám vì sao vỗ tay:

– Xin các anh im lặng, tuyệt đối im lặng.

Tiếng hỏi:

– Tại sao phải im lặng nhỉ?

Người đội trưởng đáp:

– Vì cộng sản chỉ sợ im lặng. Nó không thể đo nổi niềm im lặng của biển cả. Nó không thể biết chúng ta sẽ còn làm gì. Để nó biết tức là biểu lộ thái độ, tức là giương nanh vuốt. Nó sẽ dẹp tan chúng ta. Chưa đến lúc giương nanh vuốt. Có một thời lên tiếng và một thời im lặng như có một thời chiến tranh và một thời hòa bình, một thời thù hận và một thời thương yêu, một thời đau khổ và một thời hạnh phúc, một thời tù ngục và vĩnh cửu tự do… Sức mạnh không cần tiêu pha một lượt, các anh phải nuôi dưỡng sức mạnh cho mai này. Việc nhỏ mọn hôm nay, xin phép các anh để chúng em gánh vác.

Vậy thì tất cả lại im lặng. Người đội trưởng mắt ốc nhồi mỉm cười sung sướng. Bên ngoài cổng và chung quanh trại, vệ binh súng gắn lưỡi lê canh phòng cuộc nổi dậy của tù binh. Người ta khuân ra cả đại liên bố trí ở con đường duy nhất dẫn ra ngoài thị trấn. Trong khi, loa phóng thanh của trại ra rả giọng người cán bộ giáo dục: “Yêu cầu toàn thể trại viên tôn trọng nội quy. Các trại viên phải nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, phải tích cực lao động và tỏ rõ thiện chí cải tạo thì mới tiến bộ để sớm hưởng sự khoan hồng của đảng, nhà nước và nhân dân trở về xum họp gia đình.” Mặc kệ máy phóng thanh nhai sự khoan hồng như trâu bò nhai cỏ, như chó đói gặm xương khô, tù nhân ngồi im lặng. Mỗi người có một suy nghĩ. Nắng đã lên cao và sương mù tan biến.

***


Chương 2


Sự việc chưa có gì thay đổi. Kẻ thù nghĩ rằng họ còn nhiều thì giờ. Tù nhân nghĩ rằng nên kéo dài cuộc chơi, càng lâu càng tốt. Những họng súng bên ngoài vẫn chĩa vào. Đạn đã sẵn sàng. Chỉ chờ lệnh bắn. Bên trong, tù nhân giữ một thái độ hết sức đứng đắn. Họ ngồi theo đội ngũ. Tù nhân yêu sách. Tù nhân đòi hỏi làm sáng tỏ chính sách nhân đạo của nhà nước. Tù nhân không nổi loạn. Không nổi loạn thì không có lý do đàn áp. Đàn anh chịu đàn em lắm. Bọn trẻ đã khôn lớn. Ngày xưa chúng nó xuống đường bạo động gây khó chịu cho mình gian khổ nơi chiến trường. Bây giờ chúng nó trầm tĩnh, chúng nó tự nhận chúng nó là biển cả có niềm im lặng ghê gớm và khôn cùng. Đàn anh chiêm ngưỡng đàn em. Rồi nhiều câu hỏi được đặt ra: tại sao chúng nó chống phá chế độ, tại sao chúng nó dám mưu đồ chuyện nước cnon bằng trái tim của chúng nó, chúng nó dấn thân làm gì, cho cái gì nhỉ? Và đàn anh ngậm ngùi thương xót thân phận mình. Cái lý tưởng chiến đấu của mình trước đây chỉ là thứ lý tưởng chắp vá bởi gấm vóc mục nát. Nó bị trao đi đổi lại qua hết tay anh lãnh tụ này đến tay anh lãnh tụ khác. Và anh lãnh tụ nào cũng là tay sai của quyền lực ngoại quốc núp sau những nhân danh tham vọng, phản phúc. Đàn anh trôi theo cái giòng lý tưởng buồn tênh đó. Rốt cuộc, đàn anh đã biến thành Trần Cung chịu vết chém ngang lưng của Tào Tháo. Đàn em hôm nay hoàn toàn khác. Đàn em sáng tạo ra lý tưởng, sáng tạo ra chìa khóa để tự tay mở cửa giải thoát dân tộc. Với dĩ vãng trăng sao vằng vặc, với hiện tại mặt trời rực rỡ, đàn em đi chiến đấu không vẩn sợi khói đen mặc cảm thụ hưởng phè phỡn, dựa dẫm ngoại bang, đào ngũ chạy trốn. Do đó, sự dấn thân đã là một tuyên ngôn tuyệt vời, một cương lĩnh ngời rạng mà kẻ thù được quyền căm phẫn nhưng không dám coi thường. Người tuổi trẻ hôm nay đã ngẩng mặt lên nói với thế giới rằng, chúng tôi chưa bao giờ là phỉ, chưa bao giờ là ngụy. Phỉ quyền hà nội và ngụy quyền sài gòn đã làm tan nát quê hương yêu dấu của chúng tôi, đã bắn nát hạnh phúc của dân tộc tôi bằng bom đạn Nga sô, Trung quốc, Tiệp khắc, Hoa kỳ; đã đầy đọa đồng bào tôi bằng thuốc khai quang và trại tập trung khổ sai lao động. Thế giới đã chọn nước Việt Nam làm sân chơi chiến tranh, làm diễn đàn chống đối chiến tranh, làm con mòng tội nghiệp của lương lính Đại Hàn thô bạo, của rắn rết Thái lan, của kangourou Úc đại lợi, của cu ly Phi luật tân… Rồi thế giới ngoảnh mặt phủi tay, ngoảnh mặt với luôn cả thuyền nhân việt nam chơi vơi trên mặt biển! Cái thế giới mù lòa, câm điếc lương tri, cần tỉnh táo một phút thôi, để suy nghĩ về những người tuổi trẻ việt nam hôm nay đang chiến đấu cho tự do, dân chủ, hạnh phúc và thương yêu của dân tộc họ không cần súng đạn tư bản, không cần hỏa tiễn vô sản. Họ mơ ước xa hơn, rằng, nỗi thống khổ và niềm cô đơn của họ trải dài trên sầu đạo quê hương của họ. Và rồi, từ sầu đạo đó như sầu đạo Thích Ca, Jesus đã qua, một nền văn minh nhân bản sẽ nở rộ hoa thơm ngát thắm nghĩa tình người thay thế cho văn minh tư bản, văn minh vô sản đã bất lực trong mưu cầu hạnh phúc nhân loại.

Mặt trời đã cao bằng đỉnh đầu. Nắng gay gắt dành cho một ngày gay gắt. Tù nhân bị cúp bữa cơm trưa. Đội cấp dưỡng được chỉ thị ngưng bếp núc. Anh em ra ngồi giữa sân nắng tỏ tình chiến đấu. Nón mũ đội hết lên đầu. Nước đã có sẵn trong lon guigoz của mỗi tù nhân. Thuốc lào. Điếu cày. Lửa. Những hơi rít đẫy đà. Nước điếu reo vui. Khói nhả bay. Thoải mái. Loa phóng thanh không ngớt nhắc nhở tù nhân tôn trọng nội quy. Rồi im tiếng. Nó cần ăn. Nó đói. Tù nhân chẳng thiết ăn. Tù nhân no nê niềm vui. Đến hai giờ, nó lại phóng thanh. Nó yêu cầu tù nhân cử đại diện lên gặp ban giám thị. Tù nhân bàn tán.

Đội trưởng mắt ốc nhồi hỏi:

– Các anh nghĩ sao?

Một đội trưởng cũ hỏi lại:

– Chú nghĩ sao?

– Nếu các anh cho phép, xin để chúng em đối phó.

– Các chú đối phó đi.

– Vậy chúng ta không gặp ai, không có đại diện gì cả.

Đội trưởng mắt ốc nhồi trình bày:

– Có đại diện là có tổ chức. Có tổ chức là có âm mưu từ lâu. Họ sẽ đàn áp chúng ta thẳng cánh. Chúng ta coi vụ này… đột xuất. Dẫu bị đàn áp, chúng em lãnh hết. Nếu cử đại diện lên gặp họ, họ sẽ nhốt luôn. Chúng em chịu hoàn toàn trách nhiệm vụ này.

Ba giờ, cán bộ giáo dục tới sát cổng trại:

– Tôi cần gặp đại diện của các anh.

Đội trưởng mắt ốc nhồi ra gần cổng:

– Thưa cán bộ, không có ai là đại diện của ai cả. Tù nhân không có tổ chức, không có lãnh đạo.

– Các anh muốn gì?

– Muốn làm sáng tỏ chính sách đối với tù nhân của đảng và nhà nước.

– Ai làm sáng tỏ, các anh à?

– Ban giám thị.

– Vậy các anh phải gặp ban giám thị để thảo luận.

– Tôi mong mỏi gặp ban giám thị ở sân trại này.

– Ban giám thị không thèm tới đây!

– Thế thì tôi không thèm lên.

– Anh chống đối, hả?

– Dĩ nhiên, không chống đối sao bị tù?

– Anh không sợ kỷ luật à?

– Chết không sợ, sợ gì kỷ luật.

– Anh muốn chết sẽ được chết.

Hai mươi bốn người tuổi trẻ xông tới cổng, phanh ngực ra, nhất loạt:

– Có giỏi bắn đi! Chúng tôi đang thèm chết. Chúng tôi chết cho hàng triệu tuổi trẻ miền Nam vùng dậy.

Tù nhân cũ reo hò, vỗ tay và buông những lời thách thức ngạo nghễ. Cán bộ giáo dục hoảng sợ, bỏ chạy. Bốn giờ, xe tăng ngoài thị trấn bò vào. Trại xây dựng từ thời nô lệ. Thực dân nó bắt nhốt những nhà ái quốc ở đây. Nó hiểm độc tạo ra một nhà tù trên một cái đầm lầy, rộng. Tù nhân khó lòng vượt trại. Một độc đạo nhỏ từ trại dẫn ra lộ lớn. Dọc độc đạo này là những đồn canh nghiêm mật. Cộng sản cướp quyền thống trị, họ tuyên bố phá tan cùm xích, lao tù, nhưng Đầm Đùn vẫn là Đầm Đùn như Sơn La, Côn Lôn, Phú Quốc, Lao Bảo, Lào Kay…, vẫn là ngục tù dữ dội giam nhốt người yêu nước. Điểm khác biệt là, hôm nay, chế độ ngục tù đốn mạt hơn và thực dân cai ngục là cách mạng cai ngục! Không ai nao núng vì xe tăng xuất hiện. Tù nhân cũ đứng cả lên:

– Chúng ta, tất cả chúng ta, không riêng lẻ nữa!

Đội trưởng mắt ốc nhồi – bây giờ là lãnh đạo – xin mọi người ngồi xuống và giữ trật tự. Anh ta nói:

– Sự im lặng chế ngự mọi đàn áp. Đây mới là trận đầu. Mong các anh nghe em như các anh đã cho phép em toàn quyền đối phó.

Tất cả lại yên lặng. Xe tăng đậu trước cổng trại, quay mũi súng vào. Tù nhân không nói, không hát, không hút thuốc, uống nước. Vũ khí của đàn áp của kẻ thù bỗng trở nên lố lăng, hài hước. Loa phóng thanh kêu gọi đội cấp dưỡng về bếp nấu cơm. Tù nhân nói không cần ăn. Đội cấp dưỡng ngồi ì. Năm giờ, loa phóng thanh yêu cầu tù nhân về nhà nghỉ ngơi, ban giám thị sẽ cứu xét trường hợp ba người bị kỷ luật biệt giam. Tù nhân không nhúc nhích. Bạo lực bắt đầu sợ hãi sự bất bạo động. Vũ khí tư tưởng luôn luôn ghê gớm. Súng đạn không thể bắn chết tư tưởng. Nhưng tư tưởng đã dẹp tan súng đạn. Ngục tù không thể hủy hoại được tư tưởng. Nhưng tư tưởng đã cảm hóa cai ngục. Chúng ta thù hận chủ nghĩa, thù hận móng vuốt của chủ nghĩa, thù hận giáo điều của chủ nghĩa xúi dục con người ghét bỏ nhau, xa cách nhau, chém giết nhau. Chúng ta không thù hận con người. Chúng ta, bằng tư tưởng nhân bản khai phóng, cố gắng đánh thức lương tri của con người bị che lấp bởi bóng tối của chủ nghĩa phi nhân, chúng ta mời gọi gần gũi, cảm thông và yêu mến. Chúng ta đã như thế. Chúng ta mãi mãi như thế. Chúng ta không thích kiếm hạnh phúc cho loài người trên những xác chết.

Sáu giờ, giám thị xuất hiện. Ông ta đeo quân hàm và phù hiệu công an. Sau lưng giám thị là một tiểu đội vệ binh kè kè súng tiểu liên. Cổng mở khóa, đẩy rộng lối. Tù nhân ngồi theo đội ngũ nghiêm chỉnh.

Giám thị nói, giọng thân thiện:

– Có chuyện gì thế, các anh?

Con chó sói khi không rút ruột nổi con mồi, nó ngọt lời ve vãn:

– Tôi hoàn toàn không biết. Chẳng ai báo cáo với tôi cả.

Giám thị khiển trách cán bộ trực trại:

– Tại sao đồng chí không giải quyết, cũng không báo cáo?

Cán bộ trực trại ấp úng:

– Báo cáo đồng chí…

Giám thị khiển trách:

– Làm việc sai nguyên tắc. Đồng chí phải tự kiểm để rút kinh nghiệm.

Các kịch sĩ cộng sản nhỏ chơi hài kịch. Giám thị xoa tay.

– Chuyện gì nào, tôi giải quyết tại chỗ.

Đội trưởng mắt ốc nhồi đứng dậy, nghiêm trang:

– Thưa ông giám thị, chuyện rất nhỏ. Ba người anh em của chúng tôi bị xích chân tống dưới hầm đá biệt giam mà không hề có Quyết Định thi hành kỷ luật. Chúng tôi thắc mắc và chúng tôi đòi làm sáng tổ chính sách sáng suốt, khoan hồng của nhà nước. Cán bộ trực trại nâng quan điểm lên thành một cuộc nổi loạn chống đối.

Giám thị ngó đội trưởng chằm chằm:

– Anh ở nhóm 28 người vừa từ miền Nam ra?

Đội trưởng đáp:

– Phải.

– Anh lãnh đạo cả nhóm?

– Không. Tôi lãnh đạo tôi.

– Anh đã lường nổi hậu quả của hành động của anh chưa?

– Rồi.

– Như thế nào?

– Phơi xác trên hàng rào kẽm gai về tội… trốn trại!

Sân trại im lặng đến nỗi nghe rõ từng bước chân của chiều về. Giám thị cười:

– Anh bi quan quá. Chế độ của ta không hủy diệt con người.

Đội trưởng cười theo:

– Vâng, chế độ ta chỉ quản lý con người thôi.

– Thôi, sẽ làm việc với anh sau. Bây giờ các anh muốn gì?

– Làm sáng tỏ vụ bắt nhốt ba người tù.

– Tôi sẽ ra lệnh tha ngay ba người đó. Các anh cũng sẽ phải về ngay nhà, chuẩn bị cơm nước, đi ngủ và sáng mai lao động.

Giám thị mỉa mai:

– Trò chơi xuống đường, tuyệt thực, đêm không ngủ của các anh lạc hậu rồi. Nó không thích hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, càng không thích hợp ở trại cải tạo. Các anh hãy tự hỏi các anh đi: các anh là ai, ở đâu, đang làm gì? Sự khoan hồng chỉ dành cho người tiến bộ, không dành cho bọn ngoan cố. Nuôi các anh rẻ mạt, chúng tôi nuôi các anh suốt đời được! Đừng tưởng chúng tôi sợ hãi các anh mà không dám bẽ gãy âm mưu của các anh. Chỉ có một lối mở cho ngày về của các anh thôi: lao động cải tạo tốt, gột rửa sạch tư tưởng xấu xa cũ để tiến bộ. Thế đấy…

Đội trưởng lãnh đạo cắt ngang lời giám thị:

– Đừng tưởng chúng tôi sợ chết. Đừng hòng gột rửa tư tưởng của chúng tôi. Thể xác sẽ tan rã nhưng tư tương tốt đẹp sẽ tồn tại, sẽ đẩy chủ nghĩa cộng sản xuống huyệt sâu của thời đại.

Giám thị gật gù:

– Anh sẽ có nhiều cơ hội sợ chết!

Rồi ban lệnh:

– Dẫn ba anh ở biệt giam ra đây!

Cán bộ trực trại nhận lệnh bằng tiếng rõ cộc lốc. Lát sau, ba người trong nhóm hai mươi tám người được dẫn ra trước đám đông. Giám thị tuyên bố:

– Tôi tha ba người rồi, yêu cầu các anh xếp hàng về nhà!

Tù nhân đứng dậy hết, từng đội, lần lượt về nhà. Họ cho rằng đã vừa thắng cộng sản trận đầu. Ý chí được đánh thức. Tinh thần bất khuất sống lại. Một ngày thật đẹp của những người tù biệt xứ. Bắt đầu từ nay là hết cam đành, là khởi sự cuộc chiến đấu mới. Họ xôn xao về hai mươi tám tên phản động tuổi trẻ và họ phong cho hai mươi tám tên phản động một danh xưng mỹ miều: Bầy sư tử lãng mạn.

Trong khi, tù nhân hân hoan niềm vui chiến thắng thì, ở văn phòng giám thị, một ủy viên trung ương đảng cộng sản, chức sắc cao cấp của bộ nội vụ đang nhả khói thuốc suy tư. Ông ta ở hà nội vào đây lúc xế trưa. Ông ủy viên đem chỉ thị cấm đàn áp tù nhân của trung ương tới và ra lệnh thả tù nhân bị kỷ luật, xoa dịu không khí chống đối, có thể, sẽ biến thành nổi loạn bạo động giây chuyền. Như thế, bọn bá quyền Trung quốc, bọn đế quốc Mỹ và bọn phản động quốc tế sẽ lợi dụng để bôi nhọ chế độ trên báo chí, truyền thanh và diễn đàn Liên Hiệp Quốc.

Ông ủy viên dập điếu thuốc:

– Đồng chí giám thị đánh giá cuộc chống đối này ra sao?

Giám thị khúm núm:

– Kính thưa đồng chí ủy viên, mấy thằng nhãi ranh ấy sẽ không thể làm gì nữa.

Ủy viên lắc đầu:

– Đồng chí mắc bệnh chủ quan rồi. Do đó, đồng chí đã dằn mặt chúng quá sớm, tạo cho chúng cơ hội phê bình chính sách. Những đứa dám tìm kẽ hở của chính sách là những đứa nguy hiểm. Hai mươi tám thằng vừa đến là hai mươi tám trường hợp quan trọng. Chính chúng nó mới là kẻ thù của ý thức hệ. Chúng nó đã khiến ta phải nghiên cứu tâm lý tuổi trẻ miền Nam. Hai mươi tám thằng đó đã lãnh đạo hàng ngàn thằng sĩ quan ngụy cấp tá.

Ông ủy viên rít qua kẽ răng:

– Tôi cần nghiên cứu hồ sơ của chúng nó.

Giám thị gọi cán bộ hồ sơ. Mười phút sau, cán bộ hồ sơ mang đến một chồng. Lý lịch của Bầy sư tử lãng mạn, từng cậu, trong cái bìa đỏ chói. Ông ủy viên bật đèn, mang kính, ngồi nghiên cứu thân thế, sự nghiệp, huyết thống của sư tử. Mỗi cuộc đời của mỗi người tuổi trẻ việt nam hôm nay được soi chiếu kỹ lưỡng bằng kính hiển vi của chủ nghĩa cộng sản quang vinh và tội nghiệp…

***


Chương 3


Cachot này ghê gớm nhất. Nếu ví nhà tù là khách sạn và nỗi khổ là sao thì Chí Hòa, khách sạn mười tám sao. Khu FG cực kỳ sang trọng đánh giá bằng kỷ luật thẳng thừng và sự tối tăm phát sợ. Và biệt giam tầng cao nhất FG, những phòng đặc biệt dành cho những khách tù đặc biệt. Trần Thế Tưởng, 32 tuổi; sinh quán Quảng Trị; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú Làng Báo Chí, quận Thủ Đức, Sài gòn; nghề nghiệp lính ngụy biệt phái nhật báo Tiếng Nói; đơn vị gốc Pháo binh; can tội tổ chức chống phá cách mạng; nhiệm vụ ấn loát truyền đơn, báo chí; bị bắt ngày 5 tháng 11 năm 1975, đang ngồi bó gối ở góc cachot khu FG Chí Hòa.

Trần Thế Tưởng, người tù duy nhất đã nằm hết cachot của sở công an, của đề lao Gia Định. Một năm có 365 ngày thì Tưởng ở cachot đủ 300 ngày. Chàng coi thường cachot đề lao. Khi người ta đưa chàng ra phòng tập thể, chàng kiếm chuyện vi phạm kỷ luật để được đi biệt giam. Dáng dấp to con, giọng nói trọ trẹ mà ham nói nhanh, nói nhiều, Tưởng ưa tranh luận và ưa gây lộn. Tính tình thẳng thắn, nóng nẩy. Nổi danh ở đề lao Gia Định vì dám chỉ tay thẳng mặt tên cai ngục C2 sỉ nhục : « Anh và chế độ của anh dã man, vô nhân đạo ». Cai ngục báo cáo với chúa ngục Hai Phận. Chúa ngục gọi Tưởng lên làm việc (1)

– Anh dám bôi bác chế độ hả?

– Đúng.

– Tại sao?

– Vì lâu quá tôi không được gặp vợ con tôi.

– Sẽ cho anh gặp.

– Bao giờ?

– Mai.

Hai Phận giữ lời hứa. Hắn dẫn Trần Thế Tưởng ra hàng rào đề lao. Vợ con Tưởng bên ngoài, Tưởng bên trong. Sau mười lăm phút gặp gỡ Hai Phận đưa Tưởng vào, mời Tưởng uống nước trà, hút thuốc Vàm Cỏ.

– Chế độ còn dã man không?

– Còn.

– Tại sao?

– Vì đứng ở hàng rào dã man, vô nhân đạo hơn là không gặp.

– Sẽ cho anh gặp lại.

– Bao giờ?

– Cuối tuần.

Cuối tuần, can phạm Trần Thế Tưởng gặp vợ trong phòng thăm đàng hoàng. Chuyện trò kéo dài nửa tiếng.

– Chế độ còn dã man không?

– Còn.

– Tại sao?

– Vì nói chuyện có nửa tiếng chưa nói hết chuyện.

– Sẽ cho anh gặp vợ con nữa.

Lần thứ ba, Tưởng tha hồ tâm sự với vợ con. Trọn nửa ngày, Hai Phận không ngồi ám. Hắn cũng chẳng khám quà nuôi Tưởng đem vô phòng. Anh em bảo Tưởng khùng, Tưởng liều và Hai Phận thì bốc đồng. Từ đó, Hai Phận chiếu cố Tưởng tận tình. Trước ngày nuôi, hắn đưa dao cạo cho Tưởng cạo râu. Sáng sớm ngày nuôi, hắn đưa bánh mì cho tưởng ăn, sợ ra khiêng quà tù vất vả, mau đói. Hắn tặng Tưởng hai bộ quần áo tù và, thỉnh thoảng, bồi dưỡng trứng gà tươi. Hắn còn thi ân lao động ngoài phòng cho Tưởng. Sáng sáng, đích thân hắn mở cửa mời Tưởng lên y tế bào chế thuốc dân tộc. Chiều chiều, đích thân hắn ôm vai đưa Tưởng về. Tưởng gây gỗ đánh ai, Hai Phận xử hòa. Người khác sẽ bị kỷ luật. Tưởng được ưu đãi quá khiến anh em ngờ vực, sợ hãi rồi rỉ tai nói xấu. Thần tượng hôm qua sụp đổ. Hôm nay là thằng antenne hèn mọn, đê tiện. Cọng sản lại chơi quốc gia một cú ngoạn mục. Mày nổi tiếng, mày thuyết phục, mày kết hợp được, mày dám chống đối, tao không hành hạ mày, hành hạ mày để mày trở thành anh hùng, thành đại bàng à! Không, tao nuông chiều mày, tao mượn tay những đứa sùng bái mày hạ bệ mày, ghê tởm mày, hết tin mày, con ạ!

Không chịu nổi sự ngộ nhận của “chiến hữu” ngu xuẩn và để thanh minh tâm hồn trong sạch của mình, một buổi sáng, khi Hai Phận vừa mở cửa phòng, Trần Thế Tưởng phóng trái đấm đắng cay vào mặt Hai Phận. Chúa ngục lảo đảo, bị xô bắn sang cửa biệt giam đối diện. Tưởng nghiến răng, nói với anh em:

– Hãy cố mà sống lâu. Kẻ nào sống, kẻ ấy sẽ biết. Đoạn cuối của đời tôi sẽ có một kết luận đúng nhất.

Phản ứng của Hai Phận bình thường. Buổi trưa, Trần Thế Tưởng dọn hành lý rời phòng. Chúa ngục tuyên bố nhà nước khoan hồng thả Tưởng về. Nhưng Tưởng bị đưa qua Chí Hòa và bị nhốt ở cachot khu FG. Chàng đang ngồi bó gối suy nghĩ về cái thủ đoạn khốn kiếp của cọng sản. Cọng sản gian manh và giỏi lắm. Cọng sản không phải là những anh nhóc bộ đội nói ngọng và những cậu công an khu vực mê gái sài gòn đâu. Cọng sản có chủ nghĩa. Và chủ nghĩa của nó tua tủa móng vuốt. Và chúng ta mãi mãi hôn mê trong hờn giận, ghen tuông, ngờ vực và bêu xấu lẫn nhau.

Tưởng đưa tay rờ mép. Máu vẫn còn ri rỉ. Chàng bị lũ công an quản giáo FG trói lại đánh đập tàn bạo. Chúng giáng những nắm đấm tình nghĩa,(2) những cú đá khoan hồng (2), những cái đạp nhân đạo (2) vào mặt chàng, vào bụng chàng, vào ngực chàng. Chúng quần thảo cho đến khi chàng nằm bất động, mắt nhắm lại và máu miệng ứa ra (3) . Chưa tha, chúng dựng đứng chàng dậy, bồi tiếp những trái cách mạng (2) vĩ đại. Rồi chúng khiêng chàng, liệng vào cachot, chẳng cần quan tâm chàng sống hay chết. Tưởng tỉnh dần, tỉnh dần. Chàng không hiểu mình đã thiếp đi bao lâu. Chàng tỉnh nhờ bóng tối âm u, nhờ mùi hôi khai tỏa ra từ cái xô phân tiểu lâu ngày chưa đổ, nhờ sự ẩm ướt của phòng biệt giam. Thế là chàng chưa chết. Để có dịp so sánh cachot FG Chí Hòa với cachot đề lao Gia Định.

Dựa lưng vào tường, thả dài chân cho thoải mái, chàng cảm thấy thèm một hơi thuốc lá hơn là môt ly nước dẫu cổ họng chàng khô cháy. Tưởng mơ ước một vũng nước, một vũng nước của thời niên thiếu. Được nhảy xuống, đầm mình, ngoi lên, da thịt lại tươi ngon, nỗi đau sẽ tan biến và ý chí sẽ gang thép. Tự nhiên, Tưởng muốn truy nã cái thân phận của chàng từ dĩ vãng đến hiện tại. Chàng muốn làm một bản tự khai tâm cảm cho chính chàng…

Quê hương chàng, quê hương “đất cày lên sỏi đá”. Con nhà nghèo, thật nghèo. Bố chàng xưa, học hành vớ vẩn, đi lính gác quận đường. Năm chàng lên sáu, bố bệnh hoạn trở về làng. Cậu bé không được đi học và thường xuyên đói rách. Tội nghiệp cậu, bố cậu đến một ngôi chùa, ký thác cậu cho sư cụ trụ trì để cậu ăn cơm thừa cửa Phật. Cậu bé có pháp danh Thích Tâm Ổn. Đầu gọt nhẵn, mặc áo cà sa, đi chân không, chú tiểu Tâm Ổn theo thầy đi khuyến giáo đây đó. Chú thích nhất đám ma. Vì đám ma thì có đàn chay, gõ mõ cả đêm và ăn uống thỏa thuê. Ăn căng bụng là ước mơ của chú tiểu Tâm Ổn. Chú nảy sinh ý nghĩ độc ác, mong mỗi ngày một người chết. Để chú khỏi lo đói. Sự nghiệp đi tu không kéo dài hết đời chú Thích Tâm Ổn. Năm chú lên mười, bố chú ra tỉnh, gặp sếp cũ nay là tỉnh trưởng. Nhờ ông tỉnh trưởng giúp đỡ, chú Tâm Ổn cởi áo cà sa, vô tuốt Vũng Tàu học trường Thiếu Sinh Quân. Một chân trời mới mở ra cho cậu Trần Thế Tưởng. Chăm chỉ, ngoan ngoãn, chịu khó nhờ các anh lớp lớn kèm thêm, cậu theo kịp bạn học cùng lứa tuổi với số chữ nghĩa học ở nhà và học thầy chùa. Mười tám tuổi, cậu tình nguyện vào trường Bộ Binh Thủ Đức. Vì là tình nguyện, tốt nghiệp, sĩ quan Trần Thế Tưởng phục vụ ở binh chủng biệt kích. Hai năm sau, cậu mang lon thiếu úy, chỉ huy một toán quân chuyên nhảy lên đầu cọng sản ở rừng già heo hút. Thiếu úy Tưởng gan dạ, lập nhiều chiến công nhưng không có huy chương. Biệt kích không được phép phô trương, chiến công của họ nhường cho các binh chủng bạn. Tưởng có nhiều kỷ niệm buồn bã về nhảy toán. Những buổi chiều mưa hiu hắt ngồi chờ trực thăng bốc đến địa điểm nào đó mà mình chẳng hề biết trước. Những đồng đội bị thương nặng không thể mang theo, không thể để sống chờ chết, phải kết thúc họ bằng chính dao găm biệt kích. Nước mắt đã nhỏ nhiều trên những xác chết đòi đoạn ấy.

Khi chiến tranh chỉ còn là trò chơi giết nhau vô tích sự, người biệt kích chán nản. Chàng uống rượu. Chàng mê gái. Chàng đốt ngày tháng sầu muộn viển vông: người biệt kích bỗng hối hận mình đã không có căn tu. Rồi chàng si mê cô ca sĩ. Chàng đào ngũ vì nàng. Nàng không yêu chàng. Chàng biến thành gã lang thang, về Sài gòn đêm đêm kéo màn cho gánh cải lương hát đình bệ rạc. Cuối cùng, quê hương là nơi chốn êm đềm nhất. Nhưng mà đói rách, chàng đành dùng căn cước của anh họ, đăng lính pháo binh Sư đoàn I. Vì ngang bướng, vì không tôn trọng mệnh lệnh, binh nhì Trần Thế Tưởng đã không kéo chướng ngại vật cho thiếu tá chỉ huy trưởng đơn vị lái xe vào trong cơn say mèm. Vị thiếu tá ban lệnh rồi vị thiếu tá dẫm chân lên lệnh. Và đòi bắn binh nhì Tưởng. Binh nhì Tưởng bị đầy đi làm “đề lô” trên một ngọn núi hết tháng này sang tháng khác. May mắn, sếp cũ bị thuyên chuyển, sếp mới thay thế, chú ý trường hợp của Tưởng. Ông ta gọi Tưởng về, Tưởng trình bày hoàn cảnh của mình: sếp yêu mến người sĩ quan biệt kích cũ, dành cho Tưởng nhiều ân huệ, Tưởng quanh quẩn ở đơn vị.

Quảng Trị sục sôi lửa đạn. Bọn phóng viên nhiếp ảnh ngoại quốc không dám lao vào chiến trường. Họ đưa máy cho Tưởng, thuê Tưởng chụp, mỗi cuốn mười ngàn đồng. Sếp của Tưởng không chịu. Rẻ quá. Ông sắm máy ảnh cho Tưởng. Tưởng bỗng nhiên thành phóng viên nhiếp ảnh chiến trường, bán phim cho các hãng thông tấn ngoại quốc và báo chí việt nam. Rồi Tưởng được nhận làm phái viên của nhật báo Tiếng Nói, được đổi vào Sài gòn, được biệt phái về ngành báo chí. Tiếng tăm chàng nổi dậy. Tiền bạc chàng nhiều. Chàng cưới vợ và trở về làng cũ xây cho bố mẹ một căn nhà khang trang. Còn trẻ, thiếu thủ đoạn nghề nghiệp, chàng say máu sự nghiệp, làm tất cả những gì mà đàn anh ở tòa báo sai bảo. Và chàng đã dính líu vào vụ bắn chết một ông chủ báo đối nghịch với Tiếng Nói tại đầu đường Bùi Chu. Cuộc đời không dừng lại ở đó, nhà báo Trần Thế Tưởng vẫn hung hăng tiến lên. Đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 thì sự nghiệp báo chí của chàng chấm dứt.

Cơn hốt hoảng qua mau, phái viên Trần Thế Tưởng sắm cái xe ba bánh chở đồ mướn. Nghề chở xe ba bánh thiếu hấp dẫn, Tưởng bán xe ba bánh mua xe xích lô. Chàng thả dài khắp đường phố Sài gòn, giải sầu bằng đạp xe và chỉ cần đủ một gói Lucky. Trần Thế Tưởng đã gặp Vương Huy Dũng trong dịp này. Dũng, dưới ba mươi tuổi, chưa vợ con, sĩ quan báo chí quân đoàn 4, khước từ trình diện học tập cải tạo. Họ tìm đường vào chiến khu.

– Mày bắt liên lạc gì với tụi bạn biệt kích cũ chưa?

– Chưa. Tao thả dài các phố, quán cà phê nào cũng ghé mà chẳng gặp thằng nào.

– Bọn nó về rừng cả rồi.

– Mình phải tìm đường. Tao để địa chỉ liên lạc ở quán chị em Quỳnh Như, Hoàng Nga.

– Vợ mày ra sao?

– Sắp đập bầu.

– Mày vất vợ mày lại à?

– Không, tao đi làm cuộc đời cho các con tao. Cuộc đời chúng mình hỏng rồi. Mình tiêu pha đời mình láo lếu qua. Tao thương cuộc đời thơ ấu khốn nạn của tao. Con tao sẽ khốn nạn như tao ngày xưa. Tao ngỡ đã có thể quên mình mà gầy dựng hạnh phúc cho con mình. Bây giờ thì hỏng. Thì phải làm lại. Thì phải chiến đấu. Chiến đấu vì cái gần gũi trước nhất.

– Đúng. Bây giờ mới đích thực là chiến đấu. Tao muốn được chiến đấu như một hiệp sĩ một mình một ngựa. Tao chán làm guốc cho lãnh tụ rồi, tao phải làm mũ đội lên đầu tao. Tuổi trẻ của tao còn nguyên vẹn tao cần đi từ đầu. Từ đầu đường mới đến tương lai. Tao ghê tởm cái cũ. Cái cũ vất bỏ.

Mỗi đêm, hai người bạn đều chờ đợi một chuyến vào chiến khu. Hình như không có chiến khu. Hình như chiến khu chỉ là ảo tưởng, là nơi chốn nương dựa của tuyệt vọng. Vương Huy Dũng và Trần Thế Tưởng tìm đến cụ Phan Vô Kỵ. Già và trẻ gặp nhau. Cụ Vô Kỵ chỉ dẫn Dũng và Tưởng những kinh nghiệm của cụ với cọng sản. Họ hoạch định chương trình hoạt động. Tổ chức, ngày đầu, chỉ có Dũng và Tưởng. Tuần lễ sau đã quyến rũ được hàng chục thanh niên, thiếu nữ. Nam Sơn, vua các biển quảng cáo đường Vũng Tàu, Lục tỉnh nhập cuộc chơi. Phan Vinh, phó giám đốc khách sạn Palace dâng hiến tiền bạc. Nơi liên lạc: Các quán cà phê vỉa hè. Nơi hội họp: Phòng 4, lầu 3, khách sạn Palace. Dũng và Tưởng viết truyền đơn, viết báo. Nam Sơn ấn loát bằng roneo, bằng máy in. Sinh viên học sinh phổ biến. Tổ chức thiếu cảnh giác và kết nạp người theo nhiệt tình. Tên luật sư Đỗ Hữu Cảnh, bạn học của Dũng đã lọt vô. Nó là thằng trí thức nằm vùng, đeo quân hàm trung úy công an, bí danh ba son. Nó giăng một mẻ lưới. Tổ chức bị tóm gọn. Đối diện Mai Chí Thọ, Dũng và Tưởng không nhận tội. Chiến đấu cho tự do, dân chủ, hạnh phúc của dân tộc không bao giờ là tội lỗi cả.

Hai chàng bị xếp vào hồ sơ đen, bị còng chân, còng tay nằm dài dài trong các thứ cachot của các kiểu nhà tù. Hai chàng từ chối làm việc với công an chấp pháp và không viết tự khai. Tuy vậy, công an vẫn điều tra đầy đủ lý lịch của hai chàng cọng thêm những chống đối của hai chàng ở các trại giam.

Tiếng đập cửa thình thình làm Trần Thế Tưởng giật mình.

– Mày khát nước chưa?

Cai ngục hỏi.

– Tôi khát lắm.

Tưởng đáp.

– Ký vào tờ giấy tự kiểm nhận hết tội lỗi với cách mạng, mày sẽ được uống nước và đưa xuống phòng tập thể. Rồi mày có thể về nhà luôn.

Cai ngục rọi đèn pin qua miếng cửa cachot. Ánh sáng soi rõ cảnh tượng ghê gớm của cái quan tài xi măng nhốt tù nhân. Cuộc đời nhỏ đấy, phóng lớn thì nó là cuộc đời xã hội chủ nghĩa rất trung thực. Cai ngục tắt đèn.

– Mày nghĩ kỹ đi.

– Tôi nghĩ rồi.

– Ký hả?

– Không phải tôi nghĩ thế.

– Mày nghĩ sao?

– Tôi nghĩ có ngày tôi sẽ tha thứ anh, dù anh đã đánh đập tôi không tiếc thương.

– Đ. m., vậy lát nữa tao đánh thêm mày!

Cai ngục bỏ đi. Trần Thế Tưởng cố đứng dậy, mò mẫm tới cửa, đặt miệng vào ô hở cachot, hét lớn:

– Mày không đáng trả thù, mày chỉ đáng tha thứ…

(1) Chấp cung, hạch hỏi, dọa nạt đối với cộng sản đều là… làm việc.

(2) Danh từ nghiêng: Cộng sản luôn luôn nói với tù nhân như thế

(3) Trận đòn Tưởng chịu đựng ở Chí Hòa với Vương Huy Dũng tháng 12 năm 1978

***


Chương 4


Bản tự khai của Đặng Hữu Trí


Sơ yếu lý lịch


Họ và tên: Đặng Hữu Trí
Năm sinh: 1960
Nơi sinh: Sài gòn
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 214B/5 Gia Long, Sài gòn
Nghề nghiệp: Học sinh
Bị bắt ngày: 7-11-1975
Can tội: Xử tử bác hồ.


 

Chúng tôi gồm ba đứa: Nguyễn Bảo Châu, Lê Văn Nam và Đặng Hữu Trí, cùng học chung lớp 10 trường Pétrus Ký. Bố của Nguyễn Bảo Châu là đại tá quân lực việt nam cọng hòa. Bố của Lê văn Nam là trung tá. Còn bố tôi buôn bán lặt vặt. Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chúng tôi rất buồn vì nhiều bạn thân của chúng tôi đã chạy sang Mỹ. Rồi bố bạn tôi, anh bạn tôi đi trình diện học tập cải tạo. Nhà nước nói 10 ngày về nhưng nhà nước đã nói dối. Niên học giải phóng, thống nhất tổ quốc, trường của tôi bị đổi tên thành trường Lê Hồng Phong, chúng tôi tức lắm. Thầy của chúng tôi, người di tản, người đi tù, chúng tôi uất ức. Tượng của vị danh nhân mang tên trường tôi dựng ở vườn sao trước dinh Độc lập bị giật đổ nằm gục mặt xuống cỏ trông thảm hại. Ông Trương Vĩnh Ký có tội gì? Ông ấy không phải ngụy quân, ngụy quyền, tại sao cách mạng thù hận ông ấy? Tôi không thích cách mạng. Tôi không thích ai trả thù ai. Tôi thích mọi người sống gần gũi nhau, đùm bọc nhau, thương yêu nhau, tha thứ lỗi lầm cho nhau. Cách mạng chỉ làm xa cách và bắt bẻ tội tình đã qua và bỏ tù người việt nam. Cách mạng thiếu tình đồng bào.


Ở khu phố tôi, mấy thằng mất dạy, nay là Cờ Đỏ, bắt nạt tôi, bắt tôi họp hành tập hát, tập múa và căm thù Mỹ Ngụy. Chúng cứ mở miệng là “bác hồ vĩ đại” khiến tôi cáu sườn. Bác hồ, bác hồ, bạn tôi nói, người đường phố nói, bởi cái anh già râu lơ thơ này mà miền Nam khổ sở. Tôi thấy bác hồ thua ông Trương Vĩnh Ký. Bác ấy chết rồi mà cứ bắt chúng tôi nằm mơ gặp bác ấy, chán lắm, chán lắm. Tôi thương ông Trương Vĩnh Ký, chết thuở nao thuở nào mà còn bị xử tử. Tôi ghét bác hồ. Tôi bàn với Châu:


– Này, tao muốn xử tử thằng già râu. Cách mạng xử tử ông Pétrus Ký, mình xử tử già râu.


Châu nói:


– Muốn xử tử lão ta thì phải lập tòa án.


Nam nói:


– Dùng cả pháp trường cát nữa.


Châu nói:


– Xử bí mật, ba thằng mình xử lão.


Nam nói:


– Cứ rủ thêm mấy thằng con cháu sĩ quan ngụy cho chúng nó tham dự mới vui.


Tôi nói:


– Lập tòa án luộm thuộm vô cùng. Tao đã xem xử án Tòa Sài Gòn. Có chánh án, phụ thẩm, bồi thẩm, công tố viên, luật sư, mõ tòa, nhân chứng.


Châu nói:


– Mình đơn giản đi. Thằng Trí làm chánh an, tao buộc tội, Nam bào chữa.


Chúng tôi nhất trí. Nam nói:


– Cả nước hoan hô bác hồ, mình xử tử bác ấy mình mới ngon.


Châu nói:


– Mình hách hơn bố mình.


Tôi nói:


– Mình trả thù cho dân tộc.


Châu nói:


– Nếu nó biết thì sao?


Nam nói:


– Tao đã đọc truyền đơn của Phục Quốc. Chơi xong, mình đi kiếm Phục Quốc mà dông vô rừng.


Tôi nói:


– Tao chẳng ham sống với Cộng sản. Đời sống bây giờ buồn quá. Tối ngày thủy lợi với kinh tế mới. Mình mất hết kỷ niệm rồi.


Châu nói:


– Bộ đội của nó lỏi dìn. Mình đủ sức cầm súng. Mình chơi súng là Cộng sản đi đái.


Nam nói:


– Tao thề không đội trời chung với Cộng sản.


Tôi nói:


– Tao thề không theo Cộng sản.


Châu nói:


– Tao thề tiêu diệt Cộng sản.


Chúng tôi thề chí tình và tôi cũng khai thật tình. Tôi ghét những kẻ gian dối. Buổi trưa ngày 4-11-1975, chúng tôi đã lập tòa án ở lớp học trường Pétrus Ký. Ngoài ba đứa tôi chủ mưu còn thêm năm đứa toàn con sĩ quan ngụy mà chúng tôi gạt chúng nó vô xem chúng tôi làm trò ảo thuật. Tôi gỡ chân dung bác hồ lộng kiếng treo tường, đặt lên bàn, trên bục giảng. Dưới bàn học trò, Châu móc túi lôi ra sợi giây, con dao nhíp và một hộp quẹt. Hai đứa ngồi hai bàn sát nhau. Năm thằng kia ngồi chung một bàn. Phiên tòa khai mạc.


Tôi nói:


– Đây là phiên tòa bí mật. Vậy tòa yêu cầu mọi người im lặng, nói khẽ, cười khẽ, vỗ tay khẽ.


Một thằng bọn năm đứa nói:


– Xử đứa nào thế?


Nam nói:


– Mày yêu bác hồ không?


Thằng đó nói:


– Không.


Châu nói:


– Vậy chúng tao xử lão già.


Bọn năm đứa vỗ tay. Tôi nói:


– Buộc tội lão đi, Châu!


Châu nói:


– Tao hỏi câu nào, mày nhái giọng ông cụ trả lời nhé, Nam!


Nam nói:


– Ô kê.


Châu nói:


– Già hồ, ra trước vành móng ngựa.


Nam nói:


– Dạ… dạ…


Tôi dựng bức ảnh bác hồ lên. Châu nói:


– Bị cáo từ đâu vô đây?


Nam nói:


– Từ Bắc kỳ!


Châu nói:


– Bị cáo! Già có biết già gây ra bao nhiêu tội ác không?


Nam nói:


– Khô… ô… ng…


Tôi nói:


– Láo! Đồ nói láo!


Châu nói:


– Thưa Tòa, bị cáo già hồ này có một tỉ tội ác. Tôi chỉ kể vài tội vừa mới xảy ra ở Sài gòn thôi. Hắn tên là hồ chí minh, hừ, hồ chí minh con mẹ gì. Đọc tiểu sử hắn, thấy cả lô tên. Nào là nguyễn tất thành, nguyễn ái quốc, lý thụy… chẳng biết tên nào thật tên nào giả nữa. Đích thực, hỗn danh của hắn là minh râu, trùm bọn cướp nón cối. Hắn đã xua quân chiếm Sài gòn, cướp nhà cửa của dân di tản, bắt sĩ quan vào tù, bắt thầy giáo đi cải tạo tư tưởng, đổi tên trường học, phá hủy tượng đài vĩ nhan, anh hùng, xé quốc kỳ miền Nam may quần xà lỏn, đốt sách, giết nhà văn, bắt con nít học tập căm thù Mỹ ngụy, bắt cả nước suy tôn hắn, bắt cụ già gọi hắn là bác, xua người về vùng kinh tế mới, lùa người đi làm thủy lợi vân vân… Nhưng cái tội vĩ đại của hắn là gây ra cảnh cha xa con, chồng mất vợ và chúng tôi chán nản học hành vì thấy tương lai mù mịt. Vậy tôi xin Tòa xử tử hắn để treo gương cho những tên phản dân hại nước khác.


Tôi nói:


– Luật sư cái đi, mày!


Nam nói:


– Thưa quý Tòa, thân chủ của tôi thật sự là hồ chí minh tự anh ba bồi tàu thủy chứ không phải minh râu. Thân chủ của tôi vô tội. Ông ta không hề cầm dao con chó xin tí huyết ai cả. Mà chỉ xui lui cháu ngoan tàn sát nhân dân thôi. Ông ta rất có công với tổ quốc Liên xô, Trung quốc. Vậy xin Tòa giảm án cho ông ta, đổi án xử tử thành án cắt lưỡi. Theo ý tôi, Cộng sản bị cắt lưỡi là nó hết nói phét, hết tuyên truyền láo lếu.


Tôi nói:


– Tòa suy nghĩ một tí.


Châu nói:


– Thưa Tòa, tôi cho phép minh râu chọn ba cách chết. Một: hắn sẽ bị thắt cổ. Hai: hắn sẽ bị đâm ngực. Ba: Hắn sẽ bị hỏa thiêu.


Tôi nói:


– Tòa tuyên án xử tử lão già hồ chí minh, không cho lão chọn lựa, bắt hắn chết cháy.


Bọn năm đứa vỗ tay hoan hô sự sáng suốt của Tòa. Bản án được thi hành ngay. Tôi liệng chân dung bác hồ xuống sàn lớp, vỡ tan. Châu gỡ ảnh ra, xé tan nát, dí chân lên rồi châm lửa đốt. Chúng tôi sung sướng vì đã trả thù cho toàn dân việt nam. Sau phiên tòa, chúng tôi ra về. Tôi không hề biết tên năm đứa tham dự, cũng chẳng quen chúng nó. Chúng tôi không sợ bị bắt. Do năm đứa kể với bạn bè ở trường, an ninh Cờ Đỏ điều tra ra chúng tôi. Và chúng tôi bị công an đến nhà còng tay, bịt mắt dẫn đi. Ở công an phường, tôi bị đánh hộc máu mồm. Về sở công an, tôi hết bị đánh nhưng bị nhốt ở biệt giam hai tháng.


Phiên tòa xử tử bác hồ hoàn toàn do tôi nghĩ ra. Không ai xúi dục tôi cả. Bạn tôi, Châu và Nam ham vui đã a dua tôi. Tôi xin khai thêm: Từ lớp 2 đến lớp 5 tôi học ở trường tiểu học Trần Quý Cáp. Tôi không có nguyện vọng gì. Tôi cũng không xin cách mạng tha tôi. Tôi chẳng hiểu mình làm đúng hay sai nhưng đã làm thì chịu.


Những lời tự khai của tôi là đúng. Tôi chịu hình phạt nếu khai man trá.


Làm tại đề lao Gia Định, 8-3-1976
Ký tên
Đặng Hữu Trí


Bổ sung bản tự khai ngày 8-3-76


Sơ yếu lý lịch


Họ và tên: Đặng Hữu Trí
Năm sinh: 1960
Nơi sinh: Sài gòn
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 214B/5 Gia Long, Sài gòn
Nghề nghiệp: Học sinh
Bị bắt ngày: 7-11-1975
Can tội: Xử tử bác hồ.


Sau nhiều lần làm việc với nhiều cán bộ chấp pháp và được gặp gỡ bố mẹ tôi, tôi vẫn cho rằng những ý nghĩ của tôi đã tự khai là chân thật. Tôi không hề nói dối. Từ khi tôi cắp sách đi học đến khi tôi bị bắt, chưa ai dạy tôi nói dối cả. Bố mẹ tôi hy vọng vào tương lai của tôi: Làm người thật thà, không làm người ian dối, dù thông minh hay xuất chúng. Người thật thà đã nói là thật. Người thật thà không bao giờ cần cải chính những điều mình đã nói.


Tôi ghét bác hồ, tôi nói tôi ghét. Tôi không yêu bác hồ, tôi nói tôi không yêu. Tôi không thể yêu một người mà tôi không hề biết. Bác hồ đã chết, xác ướp trong hòm kính, tại sao bắt tôi phải yêu? Tại sao bắt tôi phải suy tôn xác chết. Bây giờ tôi nói tôi yêu xác chết, yêu bác hồ là tôi nói dối. Mà cán bộ đòi hỏi tôi chân thành khai báo rõ sự thật. Vậy sự thật là tôi không yêu bác hồ, tôi thù ghét bác hồ.


Khi tôi đã ghét khó mà bảo tôi yêu. Khi tôi đã yêu khó mà bảo tôi ghét. Thầy tôi đã dạy tôi thơ của ông Phùng Quán: “Yêu ai cứ bảo là yêu, Ghét ai cứ bảo là ghét”. Tôi vâng lời thầy tôi, vâng lời ông Phùng Quán. Tôi không thích tự khai thêm. Bổ sung, bổ sung hoài thì cũng chỉ tăng thêm lời ghét chứ chẳng có lời yêu đâu. Nhốt tôi ở biệt giam năm tháng hay năm năm, tôi vẫn thế, tôi vẫn là tôi chân thật.


Cán bộ hỏi tôi, nếu thả tôi về với gia đình, tôi sẽ làm gì, có biết ơn cách mạng không, có yêu kính bác hồ không. Biết ơn cách mạng, nhất định tôi biết ơn cách mạng rồi. Ai bắt tôi, rồi thả tôi, tôi cũng mang ơn. Nhưng yêu kính bác hồ thì tôi không yêu kính đâu, vì tôi đã ghét bác hồ, đã xử tử bác hồ. Tôi chỉ biết bổ sung đến đây.


Tôi khai thật, nếu man trá tôi không phải là tôi nữa.


Làm tại đề lao Gia Định, 6-8-1976
Ký tên
Đặng Hữu Trí


Bổ sung bản bổ sung tự khai ngày 6-8-1976


Sơ yếu lý lịch

Họ và tên: Đặng Hữu Trí
Năm sinh: 1960
Nơi sinh: Sài gòn
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 214B/5 Gia Long, Sài gòn
Nghề nghiệp: Học sinh
Bị bắt ngày: 7-11-1975
Can tội: Xử tử bác hồ.


Thêm nhiều lần làm việc với cán bộ chấp pháp, tôi đã trả lời rõ rệt tôi không khai lại bản tự khai lần đầu. Không ai biến đổi sự thật thành sự giả được. Cán ộ dọa rằng, nếu không ăn năn hối cải, thật lòng yêu kính bác hồ thì muốn nằm tù bao nhiêu năm, tôi cũng đã trả lời rồi. Hồi ngụy, người ta ghét Nguyễn Văn Thiệu, người ta uống rượu, giả say, bắn nát hình Nguyễn Văn Thiệu, có sao đâu. Ngụy gian ác mà nó không bắt những người bắn hình Thiệu, đốt hình Thiệu, đem ảnh Thiệu chùi đít, gói tôm, gói cá. Cách mạng quang minh sao nỡ nhốt trẻ con? Cứ nhốt đi, khi nào cách mạng tiêu, tôi sẽ về. Về bây giờ vẫn bị nghe hát suy tôn bác hồ chẳng ích lợi gì. Tôi muốn nằm tù muôn năm.


Làm tại đề lao Gia Định, 7-10-1976
Ký tên
Đặng Hữu Trí


***


Chương 5


 Căn nhà nằm bên số chẵn đường Phan Đình Phùng, cách tòa Lãnh sự Pháp vài bước. Trước cửa trồng hoa giấy. Từ ngày 30 tháng 4 năm 1975, không ai thiết chăm sóc giàn hoa, để nó mọc xum xuê che lấp cả ánh sáng. Vì thế, căn nhà đã cổ kính lại càng thâm u. Nó là biểu tượng của sự phản kháng tiêu cực. Nó chẳng chịu hòa nhập vào niềm vui thống nhất tổ quốc. Nó thiếu cờ lớn, hình như không treo chân dung chủ tịch hồ chí minh, mặc dù, căn nhà thường xuyên phải tiếp những nhân vật quyền quý của chế độ mới: Bộ trưởng ngoại giao của chính phủ lâm thời cọng hòa miền Nam, bà Nguyễn thị Bình và chồng, đại tá Đinh Khang, chánh văn phòng của đại tướng Võ Nguyên Giáp. Trước những năm 70, thời quân phiệt Nguyễn Cao Kỳ, căn nhà phải tiếp Tổng ủy viên thông tin chiêu hồi Đinh Trình Chính. Vậy thì căn nhà còn là biểu tượng đậm nét của thời đại về lòng thù hận huynh đệ, về sự xung đột tư tưởng, về nỗi xâu xé quyền bính gây ra bởi chủ nghĩa và chủ nghĩa, gây ra bởi sự dấn thân mù quáng và sự bon chen hèn mọn.


 

Chủ nhân của căn nhà, ông Đinh Phụng, đứng giữa thù hận và chống luôn cả hai phía thù hận. Mặc nhiên ông cô đơn. Ông tự biến ông thành thứ Kiều Phong trong Thiên Long bát bộ. Người hiệp sĩ kia có đường gươm chém đá, có trái đấm chặt cây, có chút tình oan nghiệt, có bạn hiền, có trời đất, có rượu. Để đi, để khóc, để trút hận sầu. Chủ nhân căn nhà chỉ có một góc tối. Để thở dài. Ông còn người em khác, không màng công danh, không ham phú quý, khinh bỉ địa vị xã hội của Chính, của Khang, sống thầm lặng như một ẩn sĩ ở một xó xỉnh nào đó của phồn hoa Sài gòn. Ông nhiều con cái, dĩ nhiên, nhưng ba đứa con trai của ông đã là sư tử lãng mạn trong lịch sử tranh đấu hôm nay: Đinh Vượng, Đinh Cường, Đinh Dũng.


Ba anh em cùng chung một tâm sự, từ sau 30-4-75. Sống trong một gia đình trung lưu, trí thức, lương thiện, ba cậu con trai được ấp ủ bằng nỗi niềm của bố và của ông chú tài năng ở ẩn. Như tất cả những người tuổi trẻ Sài gòn, ba cậu yêu mến cuộc đời vô cùng. Cuộc đời, với tuổi vừa lớn, cơ hồ một tình nhân mắt xanh thu cổ tích, tóc heo may thần tiên, tim suối đàn miên viễn. Mộng ước của tuổi trẻ là làm hồng môi cuộc đời, làm thơm má cuộc đời, làm xanh tóc cuộc đời, làm rung động trái tim đời. Giấc mơ mới ở đoạn đầu. Cuộc đời thay đổi. Cuộc đời vụt biến. Cuộc đời mất tích. Tuổi trẻ hụt hẫng. Tuổi trẻ thất tình với cuộc đời. Tuổi trẻ tương tư cuộc đời. Tuổi trẻ bơ vơ. Tuổi trẻ hư vô. Một hôm, tuổi trẻ muốn tìm lại cuộc đời, muốn tìm lại kỷ niệm chan chứa và mộng ước dạt dào lỡ trao gởi cuộc đời…


– Chú Lăng không còn cư ngụ ở Trần Bình Trọng nữa, bố có biết chú ấy đi đâu không?


Đinh Vượng hỏi bố. Ông bố thầm lặng đáp gọn:


– Chú ấy đã nhập thế.


– Nghĩa là?


– Chú ấy biết lúc nào chú ấy phải chiến đấu.


– Chú ấy làm phản động?


– Không, chú ấy đi làm lịch sử. Con đã biết rồi đấy, chú con là người lạ lùng. Có lẽ, phải nói, chú con là người Việt Nam chân chính, người quốc gia lý tưởng, người quốc gia cực đoan hiểu theo ý nghĩa đẹp nhất. Có lần, chú con than thở rằng: “Đôi khi, tôi không thấy tôi là người Việt Nam nữa. Người ngoại quốc làm sao nhận diện nổi mẫu người Việt Nam mà họ mong mỏi. Dân tộc chúng ta đã bị phiêu lưu quá xa cội rễ của mình bằng học thuyết, bằng chủ nghĩa, bằng giáo điều…”


Sự thở than của ẩn sĩ họ Đinh không viển vông chút nào. Cuộc phiêu lưu tư tưởng của dân tộc ta khởi sự từ Khổng giáo. Rồi Lão giáo, Phật giáo. Khổng Tử, Lão Tử, Thích Ca không có gì để chê trách. Nhưng giáo điều và sự thêu dệt của bọn truyền giáo đã tạo ra những khe khắt, những u mê trói buộc và làm tăm tối con người, đã xóa bỏ dấu vết tinh thần Văn Lang, tinh thần tuyệt diệu của giòng giống Bách Việt. Những sáng tạo Cổ Loa, Hoa lư kỳ diệu, dần dần, mai một. Những công trình nhà Hồ, lũy Thầy nhân bản chẳng hề thấy nữa. Giáo điều thêu dệt và lễ nghĩa chế thêm của bọn truyền giáo biến dân tộc thành một bầy người cam đành với thân phận hẩm hiu của mình, phó thác định mệnh cho Trời, cho con Trời. Thường thì con Trời quyền uy hơn Trời. Người ta được phép nhục mạ Trời nhưng không dám động đến con Trời. Giáo điều đẻ ra hình phạt. Hình phạt đẻ ra ân huệ dành cho bọn truyền giáo. Rốt cuộc, con người đành an ủi bằng tiêu dao tâm hồn, bằng sự chối bỏ cuộc đời bể khổ để giải thoát cá nhân một cách ích kỷ. Toàn là những thêu dệt của bọn truyền giáo ngu xuẩn. Phiêu lưu mãi, phiêu lưu mãi… Toàn những khuyển nho xu phụ, những thầy cúng đồng bóng, những sư mô đàn chay. Rồi Thiên Chúa giáo, rồi thực dân giáo. Rồi giáo điều thêu dệt, giáo hội chế thêm. Rồi Tin Lành giáo, Bà la môn giáo, Hồi giáo, Sư bút giáo, Bà hai giáo… Rồi khuyển tây, khuyển nhật, khuyển mỹ. Rồi cọng sản giáo, rồi khuyển nga! Một giáo hội đẻ thêm hàng chục giáo hội. Trên đầu người Việt Nam đội nặng… giáo hội: Giáo hội Công giáo, Giáo hội Tin Lành, Giáo hội Giêhôva, Giáo hội Ba ngôi, Giáo hội Phật giáo thống nhất Ấn Quang, Giáo hội Phật giáo thông nhất Việt nam quốc tự, Giáo hội Cổ sơn môn, Giáo hội Hòa hảo, Giáo hội Cao đài, Giáo hội Ba Hai… Giáo hội và giáo hội. Giáo hội trước, tổ quốc sau. Bao nhiêu giáo hội đè lên tinh thần dân tộc. Vậy nên dân tộc mới ngóc đầu không nổi, mới triền miên lầm than, cay đắng, nô lệ, chiến tranh, tù đày, phân cách. Người ta cứ nhận người ta là người Việt Nam, người ta cứ nói về tinh thần dân tộc nhưng người ta không cư xử với nhau như người Việt Nam xa xưa, ít ra, như người Việt Nam thuở ca dao nhiễu điều phủ lấy giá gương, và người ta chẳng còn xúc động với huyền thoại đồng bào. Chắc chắn, để trở về nguồn gốc, trở về hạnh phúc đích thực của mình, mỗi người Việt Nam đều phải truy nã thân phận mình hiện tại.


Cậu Đinh Vượng không muốn biết chi tiết rườm rà của sự lạ lùng của ông chú ẩn sĩ, cậu cắt ngang lời ông bố thầm lặng:


– Chú Lăng đi làm lịch sử ở đâu?


– Ở Việt Nam.


– Chú ấy vẫn còn ở lại Việt Nam?


– Vẫn còn, và mãi mãi. Lịch sử Việt Nam phải do người Việt Nam làm ở Việt Nam. Lịch sử làm từ ngoài Việt Nam đem về là lịch sử của khốn cùng, của sa đọa. Chúng ta đã có bốn lần lịch sử ấy: Lịch sử làm bởi Trần Ích Tắc, Lê Chiêu Thống, Hồ Chí Minh và Ngô Đình Diệm.


– Con muốn làm lịch sử, được không?


– Tại sao không? Bây giờ là cơ hội đẹp của những người Việt Nam chân chính muốn làm lại quê hương của mình.


– Bố không sợ nguy hiểm cho con sao?


– Không. Không ai có quyền sợ hãi cho những người đi làm lịch sử. Gia đình ta có một đại biểu trong phỉ quyền, một đại biểu trong ngụy quyền, rất nên có một đại biểu trong chính quyền tương lai, hoặc đại biểu tranh đấu cho sự kiến tạo một chính quyền tương lai.


– Con sẽ đi một mình?


– Con tự tìm lấy đường đi, đường đi của người quốc gia lý tưởng. Đường ấy gian khổ và cô đơn nhưng nó cho phép con hãnh diện.


Cậu Đinh Vượng hết buồn bã. Tuổi trè của cậu không còn bơ vơ hụt hẫng nữa. Cậu vẫn còn một con đường đi để làm thắm má hồng môi cuộc đời. Và cậu đi. Ngày nào cậu cũng đi. Đi sớm về khuya. Cậu đến trường này, cậu đến đại học nọ. Cậu gặp nhiều người như cậu. Một hôm, lại một hôm, cậu hỏi Đinh Cường:


– Mày dám chơi không?


Đinh Cường hỏi:


– Chơi gì?


Đinh Vượng đáp:


– Chơi cọng sản.


Đinh Cường mỉm cười, khó khăn xoay cái cổ. Cậu là đệ tử của thày Tâm Giác, sáng chói Trung tâm Nhu đạo Quang Trung. Có lần đi đấu võ tranh giải, cậu bị người lớn chơi bẩn, thả lên đài thằng đối thủ đai lớn hơn mà hạ xuống. Nó cho Đinh Cường đo ván với thương tích ở cổ. Đinh Cường nuôi hận, không thèm chữa, cứ để cái cổ ngoẹo một bên.


– Em khinh bỉ những thằng chơi bẩn. Cọng sản là bọn chơi bẩn. Sợ gì nó mà không chơi.


Đinh Vượng nói:


– Trò chơi này khác trò chơi nhu đạo của mày. Nó đòi hỏi cái đầu mày, sự thận trọng và tinh thần chuẩn bị vào tù, ăn đòn.


Mắt Đinh Cường sáng rực:


– Anh tìm
thấy Phục Quốc rồi à!


Đinh Vượng gật đầu:


– Đúng mà không đúng. Tất cả đều có bổn phận phục quốc nhưng chúng tao thấy dùng chữ phục quốc không ổn. Quê hương mình còn đó, ngôn ngữ mình còn đó. Đất nước mình chỉ mới bị thống trị bởi một chế độ khốn nạn. Và bây giờ mình đánh nát cái chế độ khốn nạn này là xong. Khi nào đất nước bị xóa tên bản đồ như Do Thái ngày xưa, như Palestine ngày nay mới dùng chữ phục quốc. Phục quốc nghe nó vời vợi, tiêu cực lắm. Đánh nát chế độ cọng sản tích cực và gần gũi hơn.


– Em hiểu rồi, mình chống cọng sản.


– Không chống. Chúng tao đã bàn nhau. Cha anh chúng ta chống cọng ba mươi năm mà cứ thua dài dài. Chúng ta mở kỷ nguyên mới. Kỷ nguyên đánh cọng sản. Kinh nghiệm đánh còn non nớt thì vừa đánh vừa học cách đánh. Nhất định không chống cọng sản. Đánh thẳng vào mặt cọng sản. Đánh vào tim, vào óc nó. Đánh gục lãnh tụ nó. Đánh chết lãnh tụ nó. Chỉ đánh chết lãnh tụ của nó thôi. Bẻ cùn móng vuốt chủ nghĩa của nó.


– Ngon vậy?


– Chứ sao.


– Anh giao em nhiệm vụ gì?


– Mày dán bích chương và rải truyền đơn.


– Chỉ thế thôi à?


– Bước đầu.


– Bao giờ khởi sự?


– Mày bằng lòng thì “hàng hóa” xong tao sẽ giao.


– Em chơi.


– Tốt.


– Anh rủ thằng Dũng chưa?


– Tao không rủ rê.


– Anh đã rủ em?


– Tao không rủ mày. Tao hỏi mày. Mày có quyền từ chối. Lịch sử không bao giờ làm nên bởi những thằng a dua ngu muội. Đi chiến đấu khác với đi ăn cướp. Chiến đấu kết bạn. Ăn cướp kết bè. Chúng tao không xưng là Tổ chức, Phong trào hay Công ty. Chúng tao có cái tên nho nhỏ: Nhóm Tuổi Trẻ Đánh cọng sản.


Đinh Cường thấm lời đàn anh hơn nó có hai tuổi. Nó gặp riêng thằng em Đinh Dũng nói những gì mà Đinh Vượng đã nói với nó. Đinh Dũng khoái chí:


– Tôi âm thầm đi kiếm Phục Quốc, kiếm hoài không ra, nay các ông cho tôi cơ hội chơi cọng sản, còn gì bằng. Tôi chơi ông chú, bà thím trước.


– Cách nào?


– Đọc truyền đơn của mình.


– Đừng.


– Yên chí, tôi sẽ nhét vào túi ông chú một cái, bà thím một cái, khi họ đến đây thăm bà nội.


Hai tháng 10 và 11 năm 1975, Sài Gòn đầy truyền đơn. Truyền đơn đủ loại. Đánh máy. In Ronéo. Truyền đơn nhét vào xe hơi. Truyền đơn bỏ vào giỏ đi chợ. Truyền đơn nhìn mặt đưa công khai. Truyền đơn ném vô nhà… Truyền đơn hứa hẹn tái chiếm Sài gòn. Truyền đơn dặn dò ngày tấn công. Truyền đơn viết non nớt, ngo nghê, ngớ ngẩn mà nhiệt tình. Vững chãi nhất là truyền đơn của nhóm Tuổi Trẻ Đánh Cọng Sản. Sở Công An Nội Chính ngạc nhiên không hiểu bọn phản động in, rải truyền đơn bằng những phương tiện nào. Họ điều tra. Họ giăng lưới. Đinh Dũng, những ngày chưa chơi nhau với cọng sản, thường rong chơi các khu chợ trời. Cậu mua đồng hồ, radio giùm bộ đội nên quen vài anh bộ đội. Đinh Dũng còn bán xăng ăn cắp giúp bộ đội nữa. Do đó, cậu đã thản nhiên ngồi trên xe dzíp của bộ đội mà rải truyền đơn mỗi tối.


Đinh Cường dán bích chương kêu gọi dân Sài Gòn tẩy chay cọng sản. Cậu dán những khẩu hiệu sôi sục chiến đấu. “Còn cọng sản, còn tù đày, đói khổ”. “Chặt đầu Lê Duẩn, phanh thây Trường Chinh”. “Tống cổ bọn nón cối, giép râu khỏi miền Nam”… vân vân. Ở góc mỗi khẩu hiệu, bích chương đều ghi tắt NTTĐCS. Cái thú của Đinh Cường là, sáng sáng, ra ngắm “tác phẩm” của mình trước khi bị bọn Cờ Đỏ lột đi, lèm bèm chửi rủa bọn phản động với công an phường.


Đinh Vượng làm những việc lớn hơn. Bằng hữu của cậu toan tính gây một tiếng vang lớn ở Sài Gòn. Đinh Vượng không hề nói kế hoạch của cậu cho hai em biết. Đinh Dũng đã nhét được vào túi áo mưa của ông chú Đinh Khang và bà thím Nguyễn thị Bình, mỗi người một cái truyền đơn. Cậu rất buồn vì không thấy phản ứng của hai đảng viên đảng cọng sản. Khi mùa mưa chấm dứt, hoạt động của Đinh Vượng, Đinh Cường, Đinh Dũng cũng chấm dứt theo. Lợi dụng nhiệt tình và lòng ngay thẳng của tuổi trẻ, công an cọng sản đã tung bọn sinh viên học sinh nằm vùng của họ gia nhập các tổ chức phản động. Bọn phản phúc làm việc tận tình, chúng hăng say đánh cọng sản hơn cả Nhóm Tuổi Trẻ Đánh Cọng Sản và các tổ chức chống cọng khác. Chúng mai phục theo chỉ thị, rất công phu và kiên trì. Cuối tháng 11-1975, nhóm Đinh Vượng dính lưới công an hết. Đến cuối tháng 6-1975 thì các tổ chức chống cọng sản của sinh viên học sinh tan rã. Kẻ vào tù, người bỏ trốn về các vùng kinh tế mới, người tình nguyện vào thanh niên xung phong để tạm ẩn thân, chờ đợi cơ hội khác.


Ba anh em Đinh Vương, Đinh Cường, Đinh Dũng bị bắt tại nhà. Công an bảo vệ chính trị áp vô lúc 9 giờ tối. Họ còng tay ba anh em lại, bắt đứng nghiêm nghe họ đọc “Quyết định”. Đinh Vượng không đứng nghiêm. Hai người công an kè cậu đứng dậy. Đinh Vượng thản nhiên nói:


– Một mình tôi dám đánh chế độ cọng sản bằng cái đầu và trái tim. Cả chế độ xúm lại bắt tôi bằng còng, súng đạn và quyền hành. Tôi nhận tội hết. Hai em tôi bị khích động thôi.


Đinh Cường cố đưa cái cổ cao lên:


– Tại sao tôi không nhận tội đã đánh chế độ nhỉ?


Đinh Dũng lây máu đàn anh:


– Và tôi nữa!


Người công an lớn tuổi hỏi ông Đinh Phụng:


– Ông có ý kiến gì?


Ông Đinh Phụng nhìn ba đứa con trai, trả lời công an:


– Đã bao giờ ông thấy sư tử đẻ ra chó chưa? Ông có thể bắt thêm tôi, nếu cần thiết.


Công an im lặng. Họ lục soát lung tung, tịch thu bừa bãi. Hai giờ sáng, ông Đinh Phụng ký vào biên bản. Ba anh em họ Đinh rời gia đình. Tháng 4 năm 1977, Đinh Cường và Đinh Dũng được trả tự do. Ít lâu sau, ông bố thầm lặng mất khi Đinh Vượng, hai tay còng chéo vào nhau, ngồi dựa lưng ở góc tường cachot khu A đề lao Gia Định.


***


Chương 6


Người công an chấp pháp hỏi Đinh Vượng:


– Anh nằm biệt giam bao lâu rồi?


Đinh Vượng vươn vai:


– 18 tháng, tức 540 ngày, 12 ngàn 5 trăm giờ.


 

Người công an xoa cằm:


– Lâu đấy nhỉ.


Đinh Vượng cười nửa miệng:


– Vâng, lâu hơn bất cứ một lãnh tụ Cộng sản nào nằm cachot. Về phương diện nằm cachot, tôi ăn đứt các ông. Tôi nhất định phá kỷ lục cachot.


Người công an vẫn nhỏ nhẹ:


– Anh bị còng chân tay bao lâu rồi?


Đinh Vượng nhìn thẳng vào mắt người công an chấp pháp:


– Ông gọi tôi ra làm việc chỉ hỏi vậy thôi ư?


Người công an gật đầu:


– Phải, chỉ có vậy. Anh bị còng tay bao lâu? Anh cứ thong thả trả lời rồi sẽ đến những câu hỏi mà anh mong đợi.


Đinh Vượng vuốt tóc:


– Tám tháng còng tay.


– Mấy tháng còng chân?


– 8 tháng còng chân.


– Mấy tháng còng cả tay lẫn chân?


– Hai.


– Từ ngày bị bắt là anh đeo dính còng?


– Ông lạ à?


– Lạ chứ. Anh làm việc với bao nhiêu cán bộ rồi?


– Mười, kể luôn ông.


– Anh cảm thấy ra sao khi bị còng quá lâu?


– Cảm thấy mình anh hùng.


– Anh nghĩ gì khi ngồi còng?


– Không nghĩ. Tôi chửi những đứa chế ra còng!


– Anh biết còng còng anh, đứa nào chế ra không?


– Mỹ!


– Anh đã chửi Mỹ?


– Và tôi chửi những đứa chửi Mỹ mà lại dùng còng Mỹ còng tay chân tôi.


Người công an khựng lại. Bỗng ông ta mỉm cười, nụ cười của chó sói. Ông ta bỏ rơi chuyện còng.


– Tại sao anh khước từ sự can thiệp của Bộ trưởng Nguyễn thị Bình?


Đinh Vượng liếm mép:


– Vì tôi không thích mang ơn Cộng sản!


– Còn chú ruột anh, đại tá Đinh Khang?


– Ông ấy cũng là Cộng sản.


– Anh thù hằn Cộng sản hả?


– Dĩ nhiên.


– Cộng sản đã làm gì gia đình anh, đã làm gì anh? Tự anh, anh dấn thân vào tù rồi tự anh, anh không thích được thả. Nếu anh thành khẩn làm tờ tự khai, chúng tôi đâu có còng anh ở biệt giam. Sự còng chân tay anh không phải là một hình phạt, một trừng trị mà chỉ là một đòi hỏi thành khẩn khai báo. Đinh Cường, Đinh Dũng đã thành khẩn khai báo, đã ăn năn sám hối, đã chấp nhận sự can thiệp của chú thím anh và đã về. Họ đang tự do. Còn anh?


– Còn tôi? Tôi không phải là em tôi. Cộng sản đã làm gì tôi à? Đâu cần Cộng sản làm gì tôi. Tôi đi chiến đấu vì mọi người, vì cuộc đời mà tôi muốn nó thật tốt, thật đẹp. Thế thôi. Ông bắt tôi thành khẩn nhận tội, tôi không có tội, nhận cái gì? Ông đánh Mỹ, ông có lý tưởng của ông. Tôi đánh cộng sản, tôi có lý tưởng của tôi. Tôi thua ông keo đầu, tôi cam đành chịu tù đày, cùm xích. Nhận lý tưởng của mình là tội thì không bao giờ. Không bao giờ cả.


– Anh ngoan cường, không, anh cường điệu quá đà đấy.


– Ông có quyền chụp đủ thứ tội. Tôi không xin tha đâu.


– Anh biết tại sao cha anh chết không?


– Chắc ông biết rõ.


– Cha anh chết vì thương nhớ anh, vì giận anh bướng bỉnh.


– Điều này thì ông cường điệu hơi lố lăng. Cha tôi chết vì thấy tôi chưa kịp đánh nát Cộng sản đã sa cơ thất thế.


Người công an mời Đinh Vượng hút thuốc. Thản nhiên, Đinh Vượng rút một điếu Thăng Long, thứ thuốc thơm cao cấp của Hà Nội. Người công an bật diêm cho Đinh Vượng mồi thuốc. Ông ta ngắm nghía cung cách cầm điếu thuốc, hút và nhả khói của Đinh Vượng. Người công an thân mật:


– Đọc kỹ nội quy chưa?


– Rồi.


– Điều xưng hô giữa tù nhân và cán bộ?


– Tù nhân gọi cán bộ bằng anh xưng tôi. Cán bộ gọi tù nhân bằng anh xưng tôi.


– Tại sao anh gọi tôi bằng ông?


– Vì ông có vẻ nhiều tuổi hơn tôi.


– Tôi đề nghị chú gọi tôi là anh cho nó thân mật nhé!


– Để ra đời, dù ông thua và tôi thắng, tôi sẽ gọi ông bằng chú xưng cháu, bằng anh xưng em. Bây giờ giữa ông và tôi có biên giới, không thể thân mật được.


– Cũng tốt thôi. Này nhé, tôi sẽ không còng anh nữa, sẽ đưa anh ra phòng tập thể ngay sau khi ở đây về. Ta sẽ không làm việc luôn, ta nói chuyện mưa nắng thôi.


– Ông lãng mạn quá!


– Hơn cả lãng mạn, tôi chiêm ngưỡng tâm hồn của anh, đảng đang cần những tâm hồn như anh. Đảng viên cũ đã lạc hậu, đảng viên già thì ì ạch, đảng viên trẻ thì suy thoái mất phẩm chất, đảng viên mới thì giá áo túi cơm. Những người như anh rất cần thiết cho đảng trong thời đại mới.


Đinh Vượng dập điếu thuốc:


– Những người như tôi cũng rất cần thiết cho sự khôi phục lại đất nước đã bị bằm vặp nát bấy bởi phỉ quyền và ngụy quyền.


Người công an cau mày:


– Đừng gọi chính quyền Cộng sản là phỉ quyền. Đừng để thành kiến che lấp lương tri. Thế này nhé, tôi tự giới thiệu với chú, tôi mới ở Hà Nội vào, chúng ta sẽ mạn đàm hàng ngày. Anh em mình sẽ hiểu nhau. Tôi rất thông cảm chú, rất dễ dãi với chú, chú thấy đó. Nếu tôi đủ thẩm quyền, tôi chẳng đòi hỏi chú làm bản tự khai làm gì. Đọc những bản tự khai của các bạn chú, cộng thêm sự làm việc của các bạn chú với cán bộ, tôi đã biết hêt, đã nắm gọn vấn đề. Nhưng mà nguyên tắc, cấp trên chỉ thị cho tôi phải có tờ tự khai của chú. Để nghiên cứu trường hợp của chú mà trả tự do cho chú. Để tôi đun nước pha trà mời chú uống. Trà móc câu Thái Nguyên, tuyệt lắm.


Đinh Vượng lặng thinh nghe người công an Hà Nội nói. Ông ta không có thái độ thù hằn Đinh Vượng, không dọa nạt, quát tháo, đập bàn như những người công an đã từng gọi Đinh Vượng làm việc. Ông ta quá ngọt ngào, cởi mở nên Đinh Vượng không có cớ để trút nỗi tức tối bị còng ròng rã 540 ngày đêm. Đinh Vượng chợt nhớ câu mật ngọt chết ruồi. Cậu bỗng giật mình. Được, mày muốn tự khai thì ông tự khai. Ông chán nằm ngủ đeo còng rồi. Nằm ngủ đeo còng chân dính tay như con tôm, ông càng chán. Lâu lắm ông không uống nước trà, ông thèm lắm. Trà móc câu Thái Nguyên à, tốt tốt.


Sau tuần trà, Đinh Vượng về cachot thu dọn hành lý. Người cán bộ Hà Nội giữ đúng lời hứa. Đinh Vượng ra phòng tập thể. Người ta phát cho cậu hai mươi trang giấy, bảo cậu cứ từ từ tự khai ở ngay phòng, nếu hết giấy thì báo cáo cán bộ xin thêm. Mỗi ngày, người ta tặng cậu một ca nước trà và một gói thuốc lá Vàm Cỏ. Đinh Vượng viết tự khai nửa tháng. Cậu nộp tự khai buổi sáng thì buổi chiều rời phòng tập thể vào cachot nằm tiếp. Lần này, hai tay cậu bị còng chéo sau lưng. Còng chỉ mở mỗi bữa ăn mười phút. Lý do: Đinh Vượng chưa thành khẩn khai báo. Tự khai của cậu vỏn vẹn ba trang giấy và không phải là mẫu tự khai của chế độ.


Bản tự khai bất hủ của Đinh Vượng:




“Tôi đã đọc Ngục trung nhật ký của chủ tịch Hồ Chí Minh và tôi thích nhất bốn câu này:


Ở đời trăm sự đều cay đắng
Cay đắng không bằng mất tự do
Mỗi lời mỗi việc thiếu tự chủ
Để chúng dắt đi tựa trâu bò


Thơ của chủ tịch Hồ Chí Minh chẳng ra cái gì cả. Tôi thích vì nó hợp với hoàn cảnh và tâm trạng của tôi hiện thời. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hạnh phúc hơn tôi nhiều. Trước hết, ông nằm ngục bên Tàu. Ông chỉ có mỗi một nỗi cay đắng là không dám tuyên truyền bậy bạ và yêu sách lăng nhăng. Ông cam đành làm kiếp trâu bò để cai ngục dẫn đi đâu thì đi đấy, bắt làm gì ông làm nấy. Ông đã thành khẩn khai báo và làm thơ vinh tôn sự thành khẩn đó. “Để chúng dắt đi tựa trâu bò”, ông hơi hèn. Nhưng ở tù mà hùng thì chết ngu. Nhờ chủ tịch Hồ Chí Minh, tôi hiểu rõ niềm bí mật: Tất cả những vị anh hùng Cộng sản vào tù đều hèn hết. Do đó, đã không vị nào dám phán xét những anh bị nằm tù cả. Bí mật ấy cho tôi hiểu thêm, các nhà cách mạng vào tù biến thành trâu bò để cai ngục dẫn dắt. Vậy đứa nào thoát khỏi cảnh ngục tù mà nói mình làm anh hùng trong nhà tù tức là nó nói phét. Đứa nào không ở tù mà phán xét người ở tù này nọ là đứa vô liêm sỉ. Đứa nào ca tụng hồ chủ tịch rất anh hùng trong nhà tù là đứa siêu vô liêm sỉ. Đất nước ta có khá đông bọn siêu vô liêm sỉ. Lãnh tụ đã thú nhận lãnh tụ làm trâu bò trong nhà tù mà chúng nó cứ hô hoán lãnh tụ vĩ đại, vĩ đại!


Tôi bất hạnh hơn chủ tịch hồ chí minh, dĩ nhiên. Trước hết, tôi nằm ngục ở ngay quê hương tôi, ở quê hương đã sạch bóng quân xâm lược, đã giải phóng, đã cách mạng thành công, đã hòa bình hòa giải dân tộc, đã dân chủ, cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc. Người ta bảo, trong xã hội xã hội chủ nghĩa không có nhà tù. Vậy mà tôi bị nhốt ở đề lao Gia Định vốn là nhà tù của thực dân, đế quốc. Tôi bị còng chân, còng tay nằm khổ sở trong cachot hôi hám, ẩm ướt 540 ngày ròng rã. Nhưng, có điểm, tôi hạnh phúc hơn chủ tịch hồ chí minh. Là mỗi lời, mỗi việc của tôi, tôi đều tự chủ. Tôi không hạ mình làm kiếp trâu bò. Không ai có thể dắt tôi đi tựa trâu bò được. Do đó, tôi khước từ làm bản tự khai.


Tự khai. Tự khai cái gì? Đó là dấu ấn ô nhục hằn lên chủ nghĩa mà người ta tự hào là chủ nghĩa ưu việt, cái nôi của loài người. Tự khai dành cho những thằng ăn cắp, những thằng ăn cướp, những thằng tham nhũng, những thằng hiếp dâm. Tự khai không thể, không được phép dành cho người yêu nước, cho những người làm đẹp đời sống, cho những người bất đồng quan điểm, tư tưởng. Những thằng ăn cướp, ăn cắp nên tự khai tội lỗi của chúng và hứa ăn năn sám hối. Những người yêu nước luôn luôn khước từ khai báo, hô hoán. Những người yêu nước chân chính, thật lòng, ở bất cứ thời đại nào, đều im lặng. Sự vỗ ngực khoe mình yêu nước dành độc quyền cho chủ tịch hồ chí minh và công ty và lũ chính khách chuyên nghiệp múa may và đám thống trị Sài Gòn cùng bầy tay sai cầy cáo. Nếu yêu nước là tội lỗi ngang hàng với tội lỗi của ăn cướp, ăn cắp thì quý vị lãnh đạo đảng và nhà nước phải thành khẩn tự khai nêu gương đầu. Vì quý vị là những người yêu nước nhà nghề, những người đòi độc quyền yêu nước. Nếu yêu nước là bổn phận của mỗi công dân thì sự bắt con người khai báo mình yêu nước ra sao, mình yêu nước bao nhiêu là một sự sỉ nhục không thể tha thứ.


Người cộng sản, cứ mở miệng là đề cao phẩm cách làm người. Con người có phẩmcách là con người biết tôn trọng giá trị của người khác. Giá trị con người của tôi là sự làm đẹp cho đời sống trong im lặng. Bắt tôi tự khai truy nã sự im lặng của tôi là tiêu diệt giá trị con người của tôi. Như thế, phẩm cách làm người mà người Cộng sản hãnh diện chỉ mình có, nó ở chỗ nào? Nó ở sự cưỡng bách tự khai nhận tội? Nó ở cachot hôi hám, ẩm mốc? Nó ở những đêm còng chéo tay vào chân? Hay nó ở trong cái xô phân tiểu đầy giòi ở góc tối biệt giam? Bất cứ một biệt giam nào của đề lao và trại tập trung thời đại khốn khổ này. Hãy hỏi lãnh tụ nằm trong hòm kính xem, thuở nhục nhằn của lãnh tụ ở ngục tù Trung Hoa, lãnh tụ có bị cưỡng bức tự khai không? Nếu có và nếu lãnh tụ đã khai thì lòng yêu nước của lãnh tụ chỉ là lòng yêu nước phường tuồng diễn trên sân khấu, sơn đông mại võ rao hàng ngoài chợ. Nhưng vẫn bỏ qua được, vì lãnh tụ đã nhận mình là trâu bò và cai ngục cưỡng bức lãnh tụ tự khai không phải là người Việt Nam.


Đó, anh muốn biết chính xác về chúng tôi, tôi đã thành khẩn khai báo. Sau hết, vì anh nói “những người như tôi rất cần thiết cho đảng trong thời đại mới” và tôi cũng đã nói: Những người như tôi cũng rất cần thiết cho sự khôi phục lại đất nước bị bằm vặp nát bấy bởi phỉ quyền và ngụy quyền. Tôi giải thích thêm: Từ bamươi năm nay, tuổi trẻ việt nam chưa hề được tự quyết định thân phận mình và thân phận dân tộc mình. Từ ba mươi năm nay, tuổi trẻ việt nam đã tiêu pha hết nhiệt tình và lòng tự phụ cho những âm mưu đê tiện của đàn anh, của lãnh tụ; cho những thủ thuật tranh giành quyền bính thống trị. Tuổi trẻ miền Bắc bị phù thủy Cộng sản gian ác huyễn hoặc thành âm binh lao vào lửa, phóng lên rừng, tụt xuống biển, leo đỉnh núi, giết người, giết người để chết thảm hại, để no đầy tham vọng vĩ đại của lãnh tụ. Tuổi trẻ miền Nam bị đạo diễn mù đeo kính đen xúi dục xuống đường hit lựu đạn khói, hứng phi tiễn, ăn dùi cui của bạo lực và bị bạo lực đẩy vào cuộc chơi chiến tranh vô tích sự. Rốt cuộc, tuổi trẻ đầy thương tích sống sót nhìn quê hương thoi thóp, rã rượi.


Hôm nay hoàn toàn khác. Cuộc đổi đời đã làm một dâu biển trong tâm hồn chúng tôi, tuổi trẻ thế hệ sau 30-4-1975. Trước đây, chúng tôi nhìn rõ ngụy quyền, nhìn rõ tư bản, nhìn rõ một nửa trái đất. Bây giờ, chúng tôi nhìn rõ phỉ quyền, nhìn rõ Cộng sản, nhìn rõ nửa trái đất bên kia. Chúng tôi tự hào nhìn rõ cả trái đất. Chúng tôi giành toàn quyền quyết định thân phận chúng tôi và thân phận Việt Nam. Chúng tôi chiến đấu không để khôi phục dĩ vãng buồn thiu và quyền bính tôi đòi nhơ nhớp mà chiến đấu cho ngày mai của Việt Nam rạng rỡ, Việt Nam thật tươi, thật mới, Việt Nam toàn chân toàn thiện toàn mỹ, Việt Nam hạnh phúc, thương yêu chan chứa, vĩnh cửu.


Và đó, chúng tôi dấn thân.


Đề lao Gia Định, ngày sinh nhật tôi
Đinh Vượng.”



Trên trang đầu của bản tự khai bất hủ của người tuổi trẻ Đinh Vượng, sinh viên năm thứ hai luật khoa, một hàng chữ bút lông màu đỏ ghi đậm nét: Xếp vào thành phần cải tạo trường kỳ!


***


Chương 7


Như tất cả công an chìm làm công tác tình báo truy lùng, săn đuổi bọn chống phá cách mạng do CIA gài lại Sài Gòn, anh mặc áo sơ mi trắng, quần màu xám tro may tại Sài Gòn. Anh là người Sài gòn, còn trẻ, khoảng 19, 20 tuổi. Không ai nghĩ anh từ rú về. Người ta đoán chắc anh đã hoạt động trong vùng địch và nhiệm vụ của anh khá quan trọng. Vì anh đeo khẩu K54 sau lưng, loại súng ngắn dành riêng cho cấp chỉ huy. Cái nón cối trên đầu, túi xà cột da đen máng vai, đôi giép râu dưới chân, người công an K3 lái chiếc Honda 90 đến phường 2, quận 4 bên Khánh Hội.


Người trưởng đồn công an phường 2 đứng dậy, dơ tay chào. Anh rút tấm thẻ hành sự đưa cho người trưởng đồn.


– Đồng chí cần chúng tôi giúp việc gì? Người trưởng đồn hỏi.


– Người các đồng chí bắt sáng sớm nay còn ở đây không? Anh hỏi.


– Thưa đồng chí còn.


– Hoàn tất hồ sơ của hắn chưa?


– Dạ, rồi ạ!


– Báo cáo lên quận chưa?


– Thưa chưa.


– Lên Sở chưa?


– Chưa. Thưa đồng chí, khai thác thêm, chúng tôi sẽ dẫn nó lên quận với hồ sơ và quận sẽ báo cáo lên Sở.


– Anh công an K3 thở phào nhẹ nhõm:


– Tôi muốn xem hồ sơ.


Người trưởng đồn tưởng thộp được tên gián điệp, mừng ra mặt. Y ngỡ mình sắp được biểu dương. Y trịnh trọng lấy từ ngăn keo bàn ra một tập hồ sơ đựng trong tấm bìa đỏ. Người công an K3 xem xong, mỉm cười:


– Dẫn hắn ra đây!


Trưởng đồn sai thuộc hạ. Can phạm vừa ở phòng nhốt dưới nhà đi lên, người công an K3 đã vụt đứng dậy, bắt tay vồn vã và hỏi:


– Đau không?


– Sắp ốm đòn.


Người trưởng đồn công an ngơ ngác. Cả công an phường ngơ ngác. Người công an K3 nói:


– Người của ta. Các đồng chí bắt lầm. “Can phạm” muốn thử tài các đồng chí. Sở sợ các đồng chí mạnh tay nên chỉ thị tôi đến lãnh ra gấp.


Trưởng đồn tỏ vẻ lo sợ. Người công an K3 trấn an:


– Nội vụ kể như không có. Tôi đốt hồ sơ nhé!


Người công an K3 châm lửa đốt hồ sơ. Anh bình tĩnh ngồi nhìn ngọn lửa thiêu hết lý lịch của can phạm rồi mới bắt tay người trưởng đồn:


– Sẽ gặp lại đồng chí. Có dịp lên Sở, ghé văn phòng tôi nhé!


Người trưởng đồn công an phường 2 niềm nở:


– Vâng, mong gặp lại đồng chí.


Trưởng đồn tiễn hai đồng chí của mình ra tận đường. Y líu ríu quên xin lỗi sự bắt lầm, đánh lầm đồng chí. Honda 90 rồ máy. Nó phóng ra đường Trịnh Minh Thế rồi hướng về phía Cầu Quay. Đến chợ trời Hàm Nghi, xe rẽ vô con hẻm nhỏ. Lát sau, hai người tuổi trẻ đã có thể chuyện trò.


– Thẻ hành sự của mày đâu?


– Bị móc túi mất chiều qua.


– Bỏ mẹ. Đồ dỏm để mất phiền lắm. Lọt vào tay công an, nó điều tra là vở ổ.


– Tại sao mày biết tao bị vồ?


– Thằng Tài loan báo. Nó thấy công an phường vồ mày ở quán bà Tư. Mày cứ ngồi ì một nơi, đúng giờ giấc, nó nghi là đúng. Bây giờ mày phải né miệt Khánh Hội. Mỗi lần “cứu bồ” là mỗi lần tim tao muốn phóng ra khỏi lồng ngực.


– Mày bình tĩnh ghê.


– Không bình tĩnh nó nghi là… lúa! Tui công an ngày càng cáo. Mai mốt nó thay thế hết Bắc kỳ thì gián điệp màn ảnh cũng thua luôn. Mày nghỉ ngơi xoa bóp đi, tao dzọt đây.


Chiếc Honda 90 đã lăn bánh trên đường phố Sài gòn. Người lái xe là cậu Nguyễn Khánh Long. Bỏ túi xà cột, bỏ súng, bỏ giép râu, bỏ nón cối, cậu trẻ măng, khác lạ đến nỗi nếu gã trưởng đồn công an phường 2 quận 4 gặp cậu đi bộ cũng sẽ khó lòng nhận ra cậu. Mười bảy tuổi, học sinh trường Nguyễn Trãi, nhờ to xác và cao, lại mang dáng dấp nông dân nên cậu già dặn hơn tuổi của cậu và mọi người đều tưởng cậu phải cỡ hai mươi. Gia đình Nguyễn Khánh Long ở Phú Xuân, Nhà Bè. Cha mẹ cậu làm ruộng. Từ lớp 6, cậu thi vào trường Nguyễn Trãi, đạp xe từ Phú Xuân lên Khánh Hội mỗi ngày. Anh cả của Nguyễn Khánh Long đi kháng chiến khi cậu chưa ra đời. Lớn lên, nghe cha kể Thanh niên tiền phong đánh thực dân Pháp bằng gậy tầm vông ở Sài Gòn, cậu thích lắm. Cậu hình tưởng anh trai cậu, 18 tuổi, tham dự các trận Cầu Quay chống liên quân Anh Pháp Ấn, trận Rạch Đỉa, Bình Xuyên… A,một thời hào hùng của tuổi trẻ đi làm lịch sử. Cậu rất tiếc mình không trưởng thành trong tiếng súng Nam bộ. Cậu ao ước có ngày gặp gỡ anh Hai. Và, như cha mẹ cậu, như họ hàng cậu, như những người miền Nam chân thật còn nhấp nhổm hào quang kháng chiến, cậu vọng tưởng xa xôi, cậu mong Mỹ sớm cút, Ngụy sớm nhào.


Mỹ đã cút năm 1972. Ngụy đã nhào năm 1975. 30 tháng 4 là ngày vui ở gia đình Nguyễn Khánh Long. Cậu chờ anh Hai cậu về. Tháng 5. Tháng 6. Tháng 7, một người anh họ của cậu về. Người này tập kết ra Bắc năm 1954 cùng anh Hai của Nguyễn Khánh Long. Anh ta xâm nhập miền Nam năm 1966 và hoạt động ở cục R. Anh ta là cán bộ cấp cao của ngành công an tình báo.


– Anh Hai tôi không về được.


Nguyễn Khánh Long kể chuyện với một người tù ở phòng 3 khu C1 đề lao Gia Định.


– Tại sao? Người tù hỏi.


– Anh họ tôi bảo anh tôi không có đường về, không bao giờ có đường về nữa. Anh tôi đã ly khai hàng ngũ tập kết, chống lại đảng và nhà nước từ năm 1958. Hiện nay, anh tôi đang chiến đấu ở miền thượng du Bắc bộ và được đồng bào sơn cước nuôi dưỡng. Anh tôi đã muốn về từ năm 1958, bây giờ, anh tôi còn muốn về. Anh tôi phải chiến đấu để về. Anh tôi bị lừa gạt niềm tin. Anh tôi trở thành kẻ thù của đảng và nhân dân! Anh họ tôi nói thế.


– Rồi sao nữa?


– Rồi tôi cũng bị lừa gạt niềm tin. Cả nhà tôi bị lừa gạt niềm tin. Cả nước bị lừa gạt niềm tin.


– Và đó là lý do em chiến đấu?


– Vâng. Tôi chiến đấu để có đường cho anh tôi vê, cho nhiều người về.


– Em khai với công an như thế?


– Vâng. Có sợ gì mà không khai sự thật. Mình người đàng hoàng mà, anh!


– Công an tỏ thái độ gì khi nghe em khai?


– Nó đánh tôi thừa sống thiếu chết ở quận Nhà Bè. Nó đưa tôi lên Sở Công An thành phố, tống tôi vào cachot, còng tay treo tôi hai ngày đêm. Rồi nó bịt mắt dẫn tôi tới đề lao Gia Định. Tôi nằm cachot 11 tháng liền.


– Làm cách nào em có K54 và giấy giả?


– Tôi đã toan tính trước nên tôi lợi dụng lúc anh họ tôi ngủ, tôi cuỗm cả súng lẫn túi đựng giấy tờ của y. Y là kẻ thù của anh tôi, của tôi, chưa giết y là phúc cho y rồi. Cuỗm xong, tôi chuồn luôn, không về nhà nữa. Tôi sang Sài Gòn sống với bạn. Chúng tôi tổ chức Phục Quốc. Nhóm tôi có thằng khắc con dấu tài tình, có thằng mạo chữ ký thật giỏi, có thằng làm nghề in. Chúng tôi in thẻ hành sự của công an tình báo, thẻ đảng viên, giấy công tác và thẻ phục quốc. Chúng tôi còn định in bạc giả nữa.


– Tổ chức của em đã hoạt động những gì?


– In truyền đơn tố cáo sự lừa bịp của cọng sản, rải khắp Sài Gòn.


– Gì nữa?


– Chúng tôi mặc quần ao công an, xông vào trụ sở phường khóm, đốt hết hồ sơ, tài liệu của chúng nó. Chúng tôi rình bộ đội, công an đi lẻ phố vắng, cướp súng và đánh chúng ngã gục. Nếu cướp được nhiều súng đạn, chúng tôi sẽ tấn công Sở Công An.


Người tù vấn cho Nguyễn Khánh Long một điếu thuốc rê Vĩnh Hảo. Dựa lưng vào tường, Long nhả khói thuốc nhớ những thằng bạn sống chết của mình chẳng biết trôi giạt đến nhà tù nào. Thằng thứ nhất có cái tên nghe đã… huy hoàng: Nguyễn Chiến Thắng. Biệt tài của thằng này là nghiên cứu chữ ký trên giấy tờ thật rồi ký trên giấy tờ giả y như thật. Nó đã ký hàng trăm chữ ký của Cao Minh Chiếm giúp các sĩ quan trốn học tập có giấy tờ học tập ba ngày của lính để tạm dung chờ vượt biên. Bực nỗi bố di tản bỏ lại gia đình, công an tịch thu nhà nó làm trụ sở, đổi cho mẹ con nó căn nhà nhỏ xíu trong hẻm, nó hận thù cọng sản và theo Nguyễn Khánh Long. Theo rồi nó mê say. Nó trách bố nó đánh giặc dở, bị đuổi chạy văng cả vợ con. Nó chán ngán cảnh sống tạm bợ không ngày mai. Lý tưởng đánh cộng sản hợp với nó. Và nó nhập cuộc. Nó luôn luôn đi đầu mỗi vụ cướp súng đạn. Nó khoái chơi tiêu trụ sở công an đồn trú nhà nó. Nguyễn Chiến Thắng bị công an quận 3 đánh gãy hai răng, vẫn ngậm miệng chịu đòn. Thằng thứ hai là Lê văn Chí. Miệng nó loe ra như miệng loa nên có hỗn danh là Chí loa. Bố nó có cái nhà in nhỏ ở quận 2. Nhà in đã bị kiểm kê, chờ tịch thu hoặc vào công ty quốc doanh. Anh nó đi cải tạo rồi. Chưa có tin tức về. Bố nó bảo anh nó muôn năm ở trại tập trung thôi vì anh nó là sĩ quan chiến tranh chính trị. Chí loa có một tương lai đầy hứa hẹn. Đậu tú tài xong, nó sẽ du học bên Mỹ về ngành ấn loát. Tốt nghiệp, nó sẽ về nước khuếch trương nghề in tồi tàn, sẽ xuất bản sách báo. Nó ôm mộng làm báo. Giai phẩm cuối năm của lớp do Chí loa viết, trình bày, sắp chữ và in một mình. Cuộc đời thay đổi cái rụp, mộng của Chí loa tan tành. Nó cay lắm, cay đủ thứ. Được Nguyễn Khánh Long “kết nạp”, nó nhận lời ngay. Nó muốn tạo dựng cuộc đời khác, nơi đó, ước mơ của nó không dang dở. Chí loa bí mật in thẻ, in truyền đơn. Khi nó bị bắt, công an tịch thu luôn nhà in của bố nó và bắt cả bố nó nữa. Thằng thứ ba là Phạm Tài, rất mả về nghề khắc dấu. Nó và Nguyễn Chiến Thắng là cặp bài trùng. Dấu đúng mà chữ ký không đúng là vất đi. Tài bị đuổi khỏi trường. Bố nó làm chức lớn trong ngành cảnh sát đặc biệt, bị bắt ngay đêm 30-4. Tự nhiên người ta dồn Tài vào con đường chống đối. Và nó đã chống đối. Nó bị bắt cùng với Nguyễn Chiến Thắng.


Bốn đứa: Nguyễn Khánh Long, Nguyễn Chiến Thắng, Lê văn Chí, Phạm Tài là bốn cái đầu của một tổ chức Phục Quốc. Bốn cái đầu chui vào tù hết, mỗi cái một nhà lao. Tới nay, hơn một năm rồi, bốn đứa chưa hề trông thấy mặt nhau. Nguyễn Khánh Long dập điếu thuốc. Cậu nhìn người tù lớn tuổi:


– Anh nghĩ gì về chúng tôi?


Người tù cười:


– Nghĩ gì? Với các em, tôi lạc hậu rồi. Một người lạc hậu thì không có quyền nghĩ gì cả.


– Nếu anh bằng tuổi tôi?


– Tôi sẽ theo em.


– Anh nói thật chứ?


– Thật.


– Anh muốn nghe chuyện tôi nữa không?


– Muốn quá.


– Tôi không biết kể, anh hỏi tôi trả lời nhé!


– Ừ.


– Anh hỏi đi!


– Tại sao em bị công an Nhà Bè đánh? Em bỏ nhà đi hoạt động rồi mà.


– Thằng anh họ tôi lấy tôi từ quận Tân Bình về. Hình ảnh, lý lịch tôi nó gởi cùng khắp các quận, phường. Nó đánh tôi kỹ nhất. Nó đánh tôi một trận đoạn tình nghĩa.


– Tại sao bị bắt ở Tân Bình?


– Tôi đi cứu một thằng trong nhóm. Nó khai tùm lum, tôi bị dính liền. Kế đó, ba đứa thân thiết của tôi dính. Rồi cả lũ. Anh thấy chưa, chúng tôi hăng saynhưng khù khờ dễ sợ.


– Khi em bỏ nhà ra đi, em có nghĩ rằng em chiến đấu cô đơn không?


– Còn ai dám chiến đấu nữa mà mình không cô đơn. Nhưng vào tù thì hết cô đơn.


– Tại sao?


– Vì gặp nhiều người giống mình. Anh thừa biết, tội phản động rặt bọn nhóc chúng tôi. Người lớn toàn tội cũ kỹ, tội vượt biên, tội trốn cải tạo, tội tư sản mại bản…


– Nếu họ thả em ra, em làm gì?


– Đó là vấn đề.


– Vấn đề?


– Phải. Nó quản lý tôi chặt chẽ, tôi hết cục cựa. Nó tống tôi vào thanh niên xung phong, tôi phải theo nó. Tôi sẽ buồn lắm. Vì thế, tôi rất sợ nó thả tôi. Tôi mong nó sớm cho tôi đi lao cải thật xa. Tôi không thể về bây giờ. Về bây giờ quê chết. Tôi thà ở tù suốt đời hoặc là về vinh quang. Họ hàng tôi đầy dẫy cách mạng, giải phóng, tôi không về để chúng nó chế nhạo tôi. Tôi muốn về để dẹp chúng nó.


Người tù vấn cho Nguyễn Khánh Long điếu thuốc rê thứ hai. Anh ta quẹt diêm cho Long mồi thuốc. Rồi anh pha nước chanh mời Nguyễn Khánh Long uống.


– Lần đầu tiên tôi biết một người tù không muốn về. Tôi rất xấu hổ vì tuổi trẻ ngày qua của tôi rỗng tuếch. Em đã nhìn rõ, rất nhiều thằng tù nằm thở dài suốt tháng, suốt năm. Ngày thăm nuôi, gọi tên nó có quà, mắt nó sáng rực, nó chạy nhảy loăng quăng. Quà vào, nó lục tung khoe khoang, ngồi ăn ngấu ăn nghiến, khinh bỉ người không ai thăm nuôi. Những thằng ấy thèm được tha lắm. Và ra ngoài chúng sẽ nói phét đã từng làm anh hùng trong tù và chửi người này hèn, người kia ăng ten. Em nhận xét đúng, tội của chúng nó đâu được phép phán xét ai. Tôi thành thật quý trọng em. Tôi nghĩ, với tâm hồn em, em sẽ về vinh quang. Nhưng mà cuộc chiến đấu còn dài lắm, còn gay go lắm. Nếu bốn mươi năm nữa mới có vinh quang, liệu em dám chờ để về không?


Nguyễn Khánh Long dốc cạn ca nước chanh, đáp ngọt:


– Tôi chống gậy trở về.


– Nhỡ ngày mai có vinh quang, trở về em làm gì?


– Đi học.


– Không ra ứng cử dân biểu, nghị sĩ à?


– Thứ đó không phải mục đích của tôi.


Những người tuổi trẻ của thế hệ biết đau niềm đau bị lừa gạt niềm tin đều không ham quyền bính. Họ hiểu lúc nào họ cần tiêu pha nhiệt tình của họ và tiêu pha cho mục đích gì. Sự liều lĩnh, gan dạ của Nguyễn Khánh Long khác hẳn sự liều lĩnh của những tay giang hồ đâm thuê chém mướn. Đó là cung cách hành hiệp của hiệp sĩ, không phải dễ tìm thấy, dễ nhận ra. Thời đại nào cũng đầy dẫy đạo tặc và hiếm hoi hiệp sĩ. Giá trị tột đỉnh của người hiệp sĩ là hành hiệp trong cô đơn, là tuốt gươm dưới nắng, dưới trăng, rồi đi vào hiu quạnh. Đạo tặc thì ồn ào và chỉ rình tung ám khí trong bóng tối để ra ánh sáng vênh vang. Rất dễ phân biệt hành động của hiệp sĩ và đạo tặc, của người công chính và bọn giả hình. Nguyễn Khánh Long, Nguyễn Chiến Thắng, Lê văn Chí, Phạm Tài là những hiệp sĩ. Họ đã tuốt gươm, đã mua cho sự cần thiết của người khác trong gian nan, khốn khổ. Khi ấy, quần hào đã tan rã, cao thủ đã phong kiếm quy ẩn và đám ma giáo chạy trốn tới một nơi chốn mà kẻ thù không thể tìm kiếm, huênh hoang thách thức!


Người tù lớn tuổi vỗ vai Nguyễn Khánh Long, thân mật:


– Lịch sử này của các em, đất nước này của các em, hãy làm lại bằng tâm hồn ngọc của các em.


Nguyễn Khánh Long mỉm cười, luôn luôn mỉm cười:


– Anh nói cao xa quá, chúng tôi đâu có nghĩ ghê gớm thế, chúng tôi bình thường thôi.


Người tù lớn tuổi nói:


– Những người tưởng mình bình thường đều đã làm nên những việc phi thường. Bọn tưởng mình phi thường thì chỉ làm nên những việc tầm thường.


Nguyễn Khánh Long im lặng. Cậu thả hồn theo khói thuốc rê. Khói thuốc dẫn cậu bay ra miền thượng du Bắc bộ. Nơi ấy, anh cậu đang tìm một lối về, một lối về đầy ắp ước mơ của đầu đời chiến đấu. Khói thuốc dẫn cậu trở lại một xóm quê Nhà Bè. Nơi ấy, cha mẹ cậu đang đợi hai đứa con cùng về. Rồi cậu sống với hiện tại, hiện tại của đề lao Gia Định, của cái vẻ bệ rạc trong cảnh đời xã hội chủ nghĩa âm u bao trùm khắp quê hương. Tuần lễ trước, công an chấp pháp gọi cậu ra làm việc. Nó dọ dẫm sự diễn biến của tâm hồn cậu. Nó tuyệt vọng vì tâm hồn cậu càng ngày càng khởi sắc. Người hiệp sĩ không bao giờ phải ăn năn sám hối. Người hiệp sĩ chỉ buồn vì chưa diệt hết đạo tặc cho đời sống mà đã bị trói tay. Nguyễn Khánh Long nhớ lời dọa dẫm của công an chấp pháp: “Anh thì cứ nằm đây, 20 năm nữa hãy tính chuyện về”. Cậu lẩm nhẩm: Ừ, 20 năm, có sao đâu.


Và, cậu cười…


***


Chương 8


Bản tự khai ngắn nhất của Lương Việt Cương.


Sơ yếu lý lịch




Họ và tên: Lương Việt Cương
Sinh năm: 1945
Sinh quán: miền Bắc Việt Nam
Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: miền Nam Việt Nam
Nghề nghiệp: Dạy học
Bị bắt ngày: 6-11-1975
Can tội: Yêu tự do, dân chủ.


Từ năm 10 tuổi trở lại, tôi còn bé không biết gì cả. Từ 10 tuổi đến 18 tuổi, tôi vẫn chưa biết gì cả. Từ 18 tuổi trở lên tôi biết nhiều thứ và chống nhiều thứ. Tôi chống chế độ gia đình trị Ngô Đình Diệm; tôi chống bọn tướng lãnh quân phiệt; tôi chống chế độ độc tài Nguyễn văn Thiệu; tôi chống bất công, tham nhũng, áp bức, bóc lột và mọi cơ cấu bịp bợm của chính sách Mỹ và lũ tay sai. Tôi chống chiến tranh, bọn thụ hưởng chiến tranh và bọn làm giàu nhờ chiến tranh. Bây giờ, tôi chống Cộng sản vì yêu tự do, dân chủ và vì tất cả những gì mà tôi chống trước đây.


Đề lao Gia Định, 10-1-1976
Lương Việt Cương



 

Người công an chấp pháp cầm bản tự khai của Lương Việt Cương nhét vào trong tờ bìa đỏ sau khi đọc xong. Ông ta nhìn tên phản động đối diện mình như muốn ăn tươi nuốt sống. Tên phản động tỉnh bơ vấn thuốc rê đốt, hít, nhả khói khét lẹt căn phòng làm việc nhỏ bé ở khu A. Hắn có khuôn mặt hao hao Nguyễn Khánh. Đương đầu với cán bộ chấp pháp, hắn vừa kiêu ngạo, vừa xấc xược. Thái độ của hắn lộ rõ rệt vẻ khiêu khích. Thái độ ấy bắt nguồn từ lòng khinh bỉ kẻ chiến thắng của dân Sài gòn. Trước ngày sang trang lịch sử phản phúc, người Mỹ đã đánh bóng cộng sản quá kỹ và dọa dân miền Nam quá nhiều. Rốt cuộc, nhìn rõ Cộng sản, người ta thấy nó chẳng đáng gì. Và người ta khinh bỉ nó. Người ta khinh bỉ nó ngoài đời. Người ta còn khinh bỉ nó ở trong tù, khi nằm xó tối cachot, tay chân bị nó siết còng.


Vung trái đấm đập bàn cho hả giận, người công an chấp pháp rít qua kẽ răng:


– Anh ngồi làm việc cho nghiêm túc!


Tên phản động liệng điếu thuốc, dùng chân dí mạnh rồi ngẩng mặt nhìn thẳng vào quyền uy của chế độ:


– Tôi đã báo cáo anh rồi, mông tôi đầy mụn ghẻ mủ, tôi không thể ngồi ngay ngắn được.


– Ngồi ngay ngắn. Anh nhớ rằng anh đang làm việc với người đại diện của đảng, nhà nước và nhân dân.


– Đồng ý. Nếu đảng của anh hẹp hòi với cả những mụn ghẻ mủ thì tôi ngồi ngay ngắn. Sự đau đớn ở hai cái mông tôi đánh giá lương tri của chủ nghĩa.


– Tôi cấm anh nói cái giọng điệu đó, giọng điệu của bọn phản động cộng lưu manh.


– Vậy tôi không làm việc với anh.


– Anh tưởng anh ngoan cố nổi mãi à?


– Không ngoan cố gì cả, tôi muốn làm việc với người có học, anh vô học, anh thù hằn cả mụn ghẻ! Anh cứ yên tâm, chế độ của anh cho can phạm cái quyền khiếu nại. Điều này không có nghĩa là chế độ dân chủ đâu mà để kiểm soát xem anh có hối lộ can phạm không, có thi hành sai chính sách không. Tôi sẽ không khiếu nại mà chỉ hỏi cấp lãnh đạo của anh để biết mụn ghẻ mủ có phải là tù nhân tư tưởng, tù nhân chủ nghĩa, tù nhân giai cấp.


Người công an chấp pháp bỏ ra khỏi phòng. Ông ta khép cửa sổ, cửa ra vào kín mít. Một mình Lương Việt Cương ngồi trên ghế gỗ bên trong. Tên phản động trán cao, mắt ốc nhồi thừa hiểu, bên ngoài, mấy thằng công an quản giáo đang canh chừng mình. Đã có chủ ý, tên phản động không thèm đứng dậy, không thèm thay đổi tư thế ngồi liền liền như có mặt công an chấp pháp. Hắn ngồi ngay ngắn, ngồi nghiêm túc. Thoạt đầu, hai mông hắn đau buốt. Dần dần bớt đau vì những mụn ghẻ mủ đã vỡ. Mủ thấm ướt quần và dính lớp nhớp lên mặt ghế, lên bộ mặt của chủ nghĩa Cộng sản. Tên phản động Lương Việt Cương đã chế ngự được nỗi đau tầm thường. Hắn cảm giác thoải mái và vấn thuốc hút lia lịa. Lần đầu tiên, từ ngày bị bắt, chấp pháp gọi hắn ra làm việc. Người ta nhốt hắn ở cachot số lẻ sở Công An thành phố đúng hai tháng. Hắn bị còng chân bằng còng số 8 nhãn hiệu USA. Nhờ bạn tù cachot “phổ biến” cách tự mở khóa, hắn đã dùng que diêm xin cai ngục mồi thuốc lá để nậy chốt an toàn và có những đêm ngủ chân không. Bạn tù cachot, đêm khuya, tỉ tê với hắn rằng, đã tới sở Công An là không lo bị tra tấn. “Nó chỉ tra tấn đầu óc mình thôi”. Ngày 6 tháng 1 năm 1976, hắn rời quán trọ sở Công An sang khách sạn Đề Lao Gia Định. Hắn chớm ghẻ ở cachot sở Công An, qua đây ba ngày thì ghẻ mủ bộc phát nhanh chóng. Khắp mông, khắp đùi toàn những mụn vàng đầu đen. Hôm nay, hắn ra khỏi cachot khu A đi làm việc.


Ở đề lao Gia Định, không một tù nhân nào bị tra tấn bằng đòn công an, cảnh sát cổ điển cả. Nhưng có những thứ còng siết vào cánh tay tính từng giây. Đến giây thứ 50 thì chết. Thường, tới giây thứ 20, can phạm đã gật đầu hứa khai hết sự thật. Đòn tra tấn này dành cho những can phạm lý lịch mơ hồ. Khách hàng của đòn này đa số là nhân viên tình báo không hề ký tên thật trong sổ lương của Tổng Nha Cảnh Sát, của Trung Ương Tình Báo và tàn quân bắt được trong rừng. Những kiểu còng treo người hàng tháng, ở đề lao Gia Định không hiếm. So với khám Chí Hòa, đề lao Gia Định “lý tưởng” gấp bội. Công an chấp pháp không đánh đập can phạm lúc hỏi cung. Can phạm có quyền khước từ khai báo và có quyền xin làm việc với chấp pháp khác. Đã không ai dám khước từ hoặc bướng bỉnh với chấp pháp, trừ những cô cậu sinh viên, học sinh của Sài Gòn can tội phản động và trở thành khách hàng “đắt giá” của khách sạn Đề Lao số 4 đường Phan Đăng Lưu, Gia Định. Tên phản động Lương Việt Cương không sợ bị tra tấn. Hắn đã nếm đòn của mật vụ Dương văn Hiếu, của cảnh sát Mai Hữu Xuân, của cảnh sát đặc biệt các triều đại Nguyễn Cao Kỳ, Nguyễn văn Thiệu. Hắn đã rắc cơ man là kỷ niệm trong các nhà tù việt nam qua các chế độ. Bây giờ, hắn ngồi đây, ngồi làm tan những mụn ghẻ mủ nhớp nhúa trên khuôn mặt của chủ nghĩa ưu việt nhất loài người!


Người công an chấp pháp đã trở lại. Cửa sổ mở tung. Ông ta nhìn tên phản động ngồi nghiêm túc, mỉm cười tự mãn:


– Vậy là chúng ta làm việc được rồi.


Tên phản động lắc đầu:


– Không, tôi không thích làm việc với anh.


– Tại sao?


– Vì anh không đủ tư cách làm việc với tôi.


– Anh biết chấp pháp là gì không?


– Biết. Chấp pháp là “thần tượng” của tù nhân, tha hay nhốt là do chấp pháp. Ở tù lâu hay về sớm là do chấp pháp. Nhưng chấp pháp của ăn trộm, ăn cắp, lường gạt thôi. Đã không có chấp pháp của tôi. Tôi hả, người có thể tha tôi, có đủ tư cách tha tôi chỉ là sự giải thoát dân tộc toàn diện sắp bùng nổ.


– Khi ấy anh ở đâu?


– Ở nhà tôi với vợ tôi, với bạn bè tôi hoặc tôi ở dưới mộ.


– Được, anh thích xuống mộ thì anh sẽ xuống mộ. Anh tạm về biệt giam suy nghĩ thêm.


Lương Việt Cương từ từ đứng dậy. Hắn nghe rõ một thứ âm thanh như âm thanh băng keo scotch lột ra khỏi thùng carton. Hắn nhìn người công an chấp pháp, chỉ tay vào mặt ghế:


– Đó, cái đó cũng là một dấu ấn của thời đại mà con người thù hằn cả mụn ghẻ.


Lương Việt Cương theo tên công an quản giáo về cachot. Hắn được hưởng chế độ còng rất hiện thực xã hội chủ nghĩa. Tên phản động nằm dài, hai chân luồn vào hai khoen còng có móc luồn ra ngoài tường cachot. Hai gót chân hắn chạm sát tường bên trong. Người ta khóa phía ngoài. Với kiểu còng cộng sản, tên phản động đành nằm trên bục xi măng suốt ngày đêm, không trở mình cũng không ngồi dậy được. Hai bữa cơm, người ta mở còng cho hắn ăn uống, đi ỉa, đi đái vào cái thùng đạn đại liên Mỹ khoảng mười lăm phút mỗi lần. Không có ống nước dẫn vào cachot loại nhốt thứ bất trị nên không có tắm rửa. Không có luôn thuốc ghẻ lở. Không có gì cả. Lương Việt Cương bị đầy đọa, bị hình phạt của thù hận của chủ nghĩa biến thành một con chó ghẻ lở nhầy nhụa máu mủ tanh tưởi trên bục xi măng nhà tù cách mạng, nơi mà không ai dám đòi “cải thiện chế độ lao tù”, không ai dám ví nó với chuồng cọp Côn Sơn. Nơi ấy, bút mực của bọn nhà báo Mỹ diễn tả như một lớp học phục hồi phẩm cách làm người. Nơi ấy, thiên kiến và sự khờ khạo của thế giới đã giết chết lương tri của họ. Nhưng, nơi ấy, một người Việt Nam vì chiến đấu cho quyền sống con người, cho tự do, dân chủ đang can đảm chịu đựng âm thầm và kiêu hãnh. Cái gì sẽ nở rộ từ máu mủ khô quánh đũng quần người tù nhân tư tưởng việt nam? Chưa ai biết. Chắc chắn, sự can đảm chịu đựng trong cô đơn của anh ta đã định nghĩa con người và phẩm cách của nó.


Hai tuần lễ sau, người ta mở còng cho Lương Việt Cương, dẫn hắn đi tắm gội, liệng cho hắn cục xà phòng và bộ quần áo tù màu cháo lòng. Người ta đưa thuốc ghẻ cho hắn bôi, cho hắn uống. Rồi người ta làm việc với hắn bằng cung cách mới. Công an chấp pháp già dặn hơn, nhã nhặn hơn, nồng nhiệt hơn.


– Anh bớt ghẻ chưa?


Người chấp pháp ân cần hỏi. Ông ta đặt gói thuốc Phù Đổng và hộp diêm Thống Nhất trên bàn, khẽ đẩy sát phía Lương Việt Cương.


– Anh hút thuốc đi. Tôi đã nhờ quản giáo pha cà phê mời anh.


Ông ta cầm lại gói thuốc, tự tay bóc, chiêu đãi tên phản động:


– Mời anh. Xin lỗi nhé, tôi không biết hút thuốc! Tôi nghĩ đến anh nên mua thuốc biếu anh.


Tên quản giáo bưng hai ly cà phê vào.


– Uống đi cho tỉnh táo, anh Cương.


Lương Việt Cương nhìn người chấp pháp mới, mỉm cười:


– Cám ơn anh.


Rồi hắn thản nhiên nhấm nháp cà phê “cho tỉnh táo” và nhả khói thuốc thơm Phù Đổng.


– Lát nữa, anh chuyển sang biệt giam khu C1. Anh ghẻ lở, nên ở biệt giam cho mau khỏi. Tôi đã ra lệnh rồi, mai quản giáo dẫn anh đi cắt tóc, cạo râu. Anh được hưởng tiêu chuẩn bồi dưỡng. Anh sẽ được viết thư, nhận thư và được thăm nuôi. Anh có gì cần hỏi không?


– Không.


– Vậy uống cạn cà phê đi, rồi về chuyển phòng nghỉ ngơi.


Người ta tặng Lương Việt Cương gói thuốc, hộp diêm, chuyển cachot và không còng chân tay hắn nữa. Cachot C1 rộng rãi, thoáng mát. Người ta đang lắp ống nước. Hiện thời, mỗi ngày, người ta đưa vòi nước qua ô cửa cachot hai lần để tù biệt giam tắm giặt, xối cầu tiêu. Khi Lương Việt Cương hết ghẻ lở, hắn đi làm việc liên miên, làm việc phờ phạc. Hoạt động của Cương, Cương khai hết, không thiếu sót một chi tiết nào. Bạn bè của Cương đã bị bắt trọn ổ, cần gì phải dấu diếm. Mà cũng khó dấu diếm. Và nữa, chiến đấu cho tự do, dân chủ là việc làm quang minh chính đại, không cần dấu diếm. Vấn đề đặt ra cho Lương Việt Cương như đặt ra cho tuổi trẻ Sài Gòn lại không phải là sự khai báo thành thật mà ở sự thành thật nhận lỗi và hứa ăn năn sám hối tội lỗi. Với Cộng sản, có lẽ, họ nghĩ rằng, những phong trào, những tổ chức chống đối họ không mấy quan trọng, không thể lay chuyển nổi chế độ của họ. Nhưng họ kiêu ngạo, họ muốn tận diệt lòng tự phụ của tuổi trẻ, họ muốn tuổi trẻ ăn năn sám hối và nhận từ họ sự khoan dung, độ lượng. Đã nhận sự tha thứ của kẻ thù thì hết tự phụ, thì chỉ còn là gục mặt cam đành mãn kiếp và hứng đủ sự khinh bỉ của kẻ thù. Do đó, sư tử lãng mạn chọn lựa con đường như họ đã chọn lựa. Biết chiến đấu là biết ngẩng mặt.


– Anh nhất định không nhận tội?


Người chấp pháp thứ ba, thứ tư, thứ năm, thứ sáu, thứ bảy… đều hỏi câu ấy.


– Không, tôi không có tội gì cả. – Lương Việt Cương trả lời.


– Ai đã làm gì anh mà anh chống đối?


– Ai đã làm gì chủ tịch hồ chí minh?


– Thực dân, phát xít, đế quốc đã dày xéo quê hương chúng ta.


– Với chúng tôi, bây giờ là Cộng sản.


– Câm cái miệng phản động hôi hám của anh lại.


– Vậy anh đừng nên hỏi tôi nữa.


Người ta không hỏi gì Lương Việt Cương nữa. Cộng sản không dại gì ban phát cho kẻ thù tư tưởng một cái chết dễ dàng, êm ái. Họ để kẻ thù của họ sống mà đếm nỗi chết từng ngày. Họ bắt kẻ thù của họ thèm chết, khao khát nỗi chết. Lương Việt Cương bị nhốt vào phòng đặc biệt. Người ta buộc giây điện vào hai ngón tay cái của hắn, đẩy hắn úp mặt sát tường. Người ta bảo hắn kiễng hai chân lên. Người ta cột giây điện vô thanh sắt trần phòng. Lương Việt Cương đứng kiễng chân, hai tay dơ cao. Nếu hắn để gót châm chạm đất cho đỡ nhức nhối mười đầu ngón chân thì hai ngón tay cái của hắn đau buốt, chịu không thấu. Nếu hắn rướn người thêm một chút cho hai ngón tay đỡ nhức nhối thì mười đầu ngón chân của hắn đau buốt. Hắn đành bất động, tìm quên hình phạt thể xác bằng thiền đứng và ước mơ. Không ai chịu nổi hình phạt này quá một tuần lễ. Lương Việt Cương đã chịu nổi mười hai ngày đêm. Đừng hòng người Cộng sản ưu việt và đầy nhân cách cởi giây cho anh ăn uống, ỉa đái. Một tù nhân khác cho anh ăn, uống. Miệng anh nốc nước, chân anh vẫn kiễng. Răng anh nhai cơm hẩm, tay anh vẫn dơ cao. Anh đái, ỉa, ngủ, chiêm bao, sợ hãi, đau đớn trong hình phạt. Hãy nghĩ anh ỉa đái lên hình phạt. Và nếu hình phạt của thù hận oái oăm này là biểu tượng ưu việt của chủ nghĩa Cộng sản, của chế độ xã hội chủ nghĩa thì anh đã ỉa đái lên nó. Anh ngờ vực hình phạt và sự chịu đựng hình phạt của con người? Cứ tự do ngờ vực như cái thế giới tự do của anh. Sắp đến lượt Cộng sản nước anh treo anh như nó đã treo Lương Việt Cương. Anh cứ ngoảnh mặt đi. Có ngày anh sẽ tru tréo phân trần: Tôi chẳng có tội gì, tôi chỉ tranh đấu cho nhân quyền. Thưa anh, đòi hỏi quyền làm người, ở thế giới Cộng sản, là tội lỗi phải trừng phạt bằng cách buộc giây điện vào hai đầu ngón tay, kiễng lên với mười đầu ngón chân và treo cao tay lên!


Người ta nghỉ chơi hình phạt này và cho Lương Việt Cương nghỉ ngơi tĩnh dưỡng ít lâu. Rồi có trò chơi khác cho Lương Việt Cương. Khi các thứ trò chơi của chủ nghĩa không làm Cương nhận tội, ăn năn sám hối tội lỗi, người ta xếp Lương Việt Cương vào thành phần “không thể cải tạo”, người ta giả vờ quên Cương. Hai năm sau, người ta gọi Lương Việt Cương ra làm việc. Người ta hỏi Cương có muốn trở về xum họp gia đình không, Cương đáp không, không, không.


– Tại sao?


– Như tổ quốc tôi, thân thể tôi đầy sẹo Cộng sản.


Đó là lần làm việc cuối cùng của Lương Việt Cương, đại biểu của tuổi trẻ việt nam có mặt trong mọi dấy động của đất nước. Những người viết lịch sử sau này sẽ quên tên Lương Việt Cương, thày giáo dạy toán lý hóa. Điều đó chẳng sao và cũng chẳng đáng ngạc nhiên. Bởi vì sử gia của chúng ta đã chạy trốn hết. Và họ đang viết những trang sử ca ngợi sự nghiệp giải thoát dân tộc của các ông trùm công an, các ông cò đã đóng góp nhiều vào các cuộc đàn áp tuổi trẻ việt nam. Hình như Lương Việt Cương chẳng thích ai biết về mình.

***


Chương 9


– Tại sao em chống đối quản giáo?


– Yêu cầu anh tôn trọng nội quy của trại!


– Thằng nhãi ranh hỗn láo, tao đáng tuổi bố mày mà mày dám gọi tao là anh, hả?


– Tôi yêu cầu anh tôn trọng nội quy.


– Nội quy của can phạm, không áp dụng cho cán bộ.


– Anh cần tôi đọc không?


– Được, tao thua mày.


– Tù gọi cán bộ bằng anh xưng tôi. Cán gọi tù bằng anh xưng tôi. Tù gọi tù bằng anh xưng tôi, bất kể già trẻ, lớn bé. Nội quy dán ở cửa phòng, anh cần nghiên cứu. Cách mạng dạy sao, tôi học vậy. Tôi gọi cụ Diên 80 tuổi là anh Diên, cụ ấy không phản đối. Hay cụ ấy là tù yên phận, còn anh là cán bộ anh hách xì xằng? Muốn gọi tôi là mày, xưng tao thì bảo cách mạng sửa lại nội quy đi!


– À, gớm nhỉ?


– Chả gớm gì hết, đây chỉ triệt để thi hành nội quy.


– Tại sao chống quản giáo?


– Chống bao giờ?


– Ăn nói lễ độ.


– Anh trống không thì tôi cũng trống không!


– Tại sao… anh chống quản giáo?


– Tôi không chống, tôi không ăn cơm vì cơm đầy thóc.


– Anh còn nói gì?


– Tôi nói cách mạng nuôi tù tệ hơn nuôi gà.


– Anh sách động cả phòng không ăn cơm. Tuyệt thực, hả? Định làm loạn hả?


– Tại sao anh đánh giá tôi cao tít trời xanh vậy? Nhãi ranh mà sách động được người lớn à? Cách mạng sáng suốt, anh thì tối mò.


– Mày dám…


– Ê, yêu cầu áp dụng nội quy.


Cai ngục muốn bợp tai thằng nhãi ranh này quá. Mặt mũi thằng nhãi câng câng, dễ ghét. Giá nó can tội móc túi thì nó đã ăn đòn rồi. Đàng này nó lại là can phạm chính trị! Bợp nó, nó tru tréo lên phiền lắm. Rồi nó tố cáo với chấp pháp là đàn áp nó, càng rắc rối. Cai ngục Bàng đành chịu lép vế. “Thằng nhãi khốn nạn, mày nghiên cứu nội quy kỹ hơn cả bố mày”!


– Tôi cho anh hai tờ giấy, về phòng làm kiểm điểm.


Thằng nhãi nhún vai rất đểu:


– Không ăn cơm đầy thóc thì thôi, kiểm điểm cái gì?


– Không ăn là tuyệt thực.


– Tôi không tuyệt thực.


– Anh đã không ăn cơm.


– Tôi chỉ… nghỉ ăn thôi. Chiều nay, cơm còn thóc, tôi nghỉ ăn nữa.


– Anh phải làm tự kiểm.


– Tôi không làm.


– Không làm là chống đối đảng và nhà nước.


– Ngon vậy à? Anh xác nhận tôi chống đảng à?


Cai ngục nghiến răng, đập bàn cái rầm :


– Thôi, cút về phòng!


Thằng nhãi cười :


– Về thì về. Khi không gọi lên rồi đuổi về. Bộ thế là… giáo dục can phạm, hả?


Cai ngục đưa nó về phòng, mở cửa đẩy nó vào. Hắn xô cửa thật mạnh để trút nỗi tức giận. Cai ngục đi khỏi, thằng nhãi bi bô :


– Nó thua cháu rồi, các bác các chú ạ! Cháu sẽ chơi nó lên chấp pháp.


Cả phòng khen thằng nhãi :


– Mày bảnh lắm, Năm. Các bác không dám nhúc nhích…


Năm. Thằng nhãi tên là Năm. Trong lý lịch của nó ở nhà tù, nó khai: Trần văn Năm, 15 tuổi, bị bắt ngày 10-6-1976, can tội phản động!


Hôm nó mới vào phòng 5C1, nó đeo cái bị cói, ngơ ngác nhìn mọi người.


Trưởng phòng hỏi nó:


– Em can tội gì?


Thằng Năm phưỡn ngực đáp:


– Chính trị!


Cả phòng cười vang. Năm đỏ mặt. Nó bị chạm tự ái. Nó ngẩng mặt ra dáng nhà chính trị:


– Nhóc con không thể làm phản động được à? Người lớn việc lớn, người bé việc bé.


Khẩu khí của nó khiến mọi người hết dám chế nhạo nó. Cả phòng giúp nó treo bị, lo chỗ nằm cho nó. Người ta biết ngay “thân thế và sự nghiệp phản động” của Trần văn Năm sau đó. Nó kể rất chân thành và giản dị. Trần văn Năm không biết bố mẹ nó là ai. Nó lớn lên ở cô nhi viện, vậy má nó là các bà Phước. Má nó dạy nó học, thương yêu nó và vẽ cho nó một tương lai khi nó rời cô nhi viện. 30-4-75, cách mạng vào Sài Gòn. Người ta giải phóng các viện cô nhi, đuổi các bà Phước, các ni cô và trẻ em ra đường phố. Năm biến thành đứa trẻ lêu bêu. Nó lang thang vỉa hè. Người ta lùa trẻ con vỉa hè đi lao động ở các trại tập trung cải tạo, Năm lẩn trốn. Thế là nó hết nơi nương tựa. Tự nhiên, đời sống đang êm đềm và đang mơ ước bị cuốn xoáy, dạt trôi. Thằng bé mồ côi ngỡ ngàng trong thác lũ cách mạng. Lý lịch của nó trở nên mờ ám. Chế độ mới khu trừ nó. Nó vừa tự mưu sinh vừa né tránh. Chẳng bao giờ nó có thể gặp lại các ma sơ. Năm thèm trở về cô nhi viện. Nơi chốn ấy vô cùng ấm áp. Nhưng nơi chốn ấy đã được cách mạng giải phóng. Năm hết đường về. Ngày kia, một thằng bé đánh giầy lẩn trốn như Năm bảo Năm rằng, mày muốn về cô nhi viện, muốn gặp lại các má nó thì phải “chơi” cách mạng. “Tao cũng muốn có một vỉa hè tự do của tao ngày xưa”, thằng đánh giày nói. “Chắc muốn vậy, tao nên nhận lời mấy ảnh”. Thằng đánh giày dẫn Năm đi tìm mấy anh Phục Quốc. Mấy anh giao công tác rải truyền đơn cho thằng đánh giày và Năm. Đi với thằng “giang hồ vỉa hè”, Năm dạn và học thêm nhiều bài học sáng giá. “Muốn về cô nhi viện phải đánh tan Cộng sản”. Năm chỉ còn một lối đi. Đời sống hiện tại truy lùng nó, nó tìm kiếm đời sống khác. Rồi Năm bị bắt, trong giỏ của nó đầy truyền đơn đả đảo Cộng sản. Thoạt đầu, nó nằm ở nhà tù quận 2. Mấy anh Phục Quốc cưu mang nó, phả vào tâm hồn nó ý chí chiến đấu và lòng tin tưởng. Năm chẳng có gì để sợ hãi. Nó tiến tới vùng vằng, kiêu ngạo. Ít ra, nó đã biết yêu nước và làm lợi ích cho nhiều người.


– Năm! – Một người tù gọi nó.


– Dạ. – Năm thưa.


– Cháu định làm to chuyện thật à?


– Con bà Phước là hết sợ ai, chú ạ! Chiều nay các chú đừng ăn là cháu nổ.


– Đồng ý.


Buổi chiều, cơm vẫn đầy thóc như buổi sáng. Nhãi ranh phản động Năm lãnh đạo cả phòng chê ăn. Nó đặt miệng vào chấn song cửa, hét lớn :


– Báo cáo cán bộ, tôi cần gặp cán bộ chấp pháp Dần!


Nó báo cáo ba lần. Chấp pháp Dần ngồi ở văn phòng đầu dãy nhà khu C1, đi tới.


– Ai báo cáo?


Năm dơ tay :


– Thưa chú, tôi.


– Có việc gì?


– Cơm đầy thóc tôi không nuốt nổi.


– Đã báo cáo quản giáo chưa?


– Thưa chú, buổi sáng đã báo cáo. Quản giáo Bàng gọi tôi ra làm việc, chửi tôi hỗn láo, bắt tôi làm kiểm điểm.


– Đưa cơm xem nào!


Năm đưa ca cơm của nó qua chấn song cửa. Chấp pháp Dần bốc nhúm cơm xem xét.


– Đưa ca cơm khác.


Chấp pháp Dần kiểm soát năm ca cơm rồi bảo can phạm đổ hết cơm vào thùng nhựa lớn. Ông cho gọi quản giáo Bàng, trưởng khu C1.


– Đồng chí cho người ta ăn thế này sao?


Quản giáo Bàng nói :


– Trách nhiệm của quản lý cấp dưỡng không phải của tôi.


– Đồng chí chưa báo cáo ban cấp dưỡng.


– Tôi chưa nắm vấn đề.


– Can phạm Năm đã báo cáo đồng chí buổi sáng rồi mà.


Quản giáo Bàng ngậm miệng. Hắn nhìn nhãi ranh phản động bằng cặp mắt thù hận.


– Tôi yêu cầu đồng chí can thiệp với cấp dưỡng đổi thực phẩm thay thế khẩn trương.


Thực phẩm thay thế : Một thùng nước sôi và mỗi can phạm một gói mì ăn tạm. Hôm sau, cơm hết thóc. Cán bộ cấp dưỡng đến từng phòng hỏi xem cơm còn thóc không. Quản giáo Bàng bị thuyên chuyển. Cai ngục gian ác sang bên Chí Hòa. Chấp pháp Dần biểu diễn quyền uy và đóng kịch nhân đạo của đảng. Nhãi ranh phản động tuyên bố một câu hay ho : “Mình dùng việt Cộng đánh việt Cộng các chú, các bác ạ”! Phòng giam yêu mến Năm lắm nhưng sợ sự bạo mồm bạo miệng của Năm nhiều. Giám thị trại ghét Năm cay đắng. Chấp pháp Dần bênh nó. Năm lợi dụng chấp pháp để coi thường cai ngục. Chấp pháp Dần muốn tha Năm. Ông ta đã nghiên cứu hồ sơ của Năm. Khổ nỗi, tha Năm, chẳng biết Năm sẽ về đâu. Nó tứ cố vô thân. Đưa nó đi cải tạo với bọn trẻ vỉa hè là hợp nhưng Năm lại thuộc thành phần can phạm chính trị. Hội đồng chấp pháp họp phiên chót đưa ra một quyết định rất phù hợp đường lối của đảng : Lý lịch Trần văn Năm mù mờ, can phạm do Thiên chúa giáo đào tạo, y theo tổ chức Phục Quốc phá hoại đảng ta, đợi khi đủ 18 tuổi, cho đi cải tạo với các can phạm chính trị khác! Chấp pháp Dần không dám có ý kiến nữa.


Nhãi ranh phản động Trần văn Năm không hề biết đảng Cộng sản việt nam đánh giá nó là người của Vatican! Và đảng Cộng sản việt nam thì quên khuấy giáo điều của sư tổ Lénine : “Kéo dài thời gian cải tạo là hun đúc lòng căm thù của tù nhân”. Năm càng lớn càng thù hận Cộng sản. Một hôm, người tù chính trị lớn tuổi ngồi tâm sự với Năm chuyện Phục Quốc.


– Em biết chị Nguyễn thị Lan không?


– Cháu không biết.


– Có nghe nói về chị ấy không?


– Dạ, không ạ!


– Chị ấy là học sinh trường Lê văn Duyệt, hoạt động Phục Quốc rất hăng.


– Chị ấy bao nhiêu tuổi?


– Mười tám.


– Hơn cháu ba tuổi.


– Cộng sản bắt chị ấy, bịt mắt chị ấy đem ra bãi bắn xử tử.


– Nó giết chị Lan?


– Ừ. Trước khi chết, chị Lan hô to khẩu hiệu “Việt Nam muôn năm”!


Trần văn Năm run rẩy toàn thân. Nó nắm chặt hai bàn tay lại, rên rỉ :


– Ước gì cháu được là chị Lan…


Người tù vỗ vai Năm :


– Em phải sống để trả thù cho chị Lan chứ?


Năm gật đầu lia lịa :


– Vâng ạ, vâng ạ…


Người tù đã bịa chuyện người nữ phục quốc lên đoạn đầu đài. Ông ta không dè phản ứng của Năm mãnh liệt thế. Từ đó, người tù coi Năm như con, dạy dỗ Năm, chỉ dẫn Năm những điều cần thiết trên bước đường tù đày. Rồi, như mọi tù nhân khác, Năm bị chuyển phòng dài dài. Nó ở đủ bốn khu đề lao Gia Định. Nó đã gặp Đặng Hữu Trí, Lê văn Nam, Nguyễn Bảo Châu, Ngô Tỵ, Đặng Cơ Bản… Nó phục Đặng Hữu Trí sát đất. Đặng Hữu Trí kể nó nghe chuyện Đinh Vượng, Hoàng Sơn Trường… Năm thấy nó chưa đi đến đâu cả. Nó cần ghê gớm hơn thì mới trả thù cho chị phục quốc Nguyễn thị Lan được. Nó, Trần văn Năm, thằng bé mồ côi bị tống ra vỉa hè, bị truy lùng đến nỗi chạy lạc đường vào lịch sử. Nó vô tình làm lịch sử rồi nhiệt tình làm lịch sử. Không hiểu nên đặt nó là biểu tượng của cái gì. Nhưng ở khúc quanh của lịch sử dân tộc, một thằng bé vỉa hè đòi đi làm lại đất nước thì cũng đáng để cho những nhà ái quốc lưu vong, những con chuột ghẻ còn cố giành nhau gặm nhấm cái bức dư đồ đã rách bươm xấu hổ. Và nếu mắt thế giới đã sáng thêm một chút, họ sẽ tự hỏi lương tâm họ : Đến nỗi ấy cơ à, một thằng bé mồ côi vất vưởng cũng phải chống đối Cộng sản đòi quyền sống cơ à? Bây giờ thì Năm là một biểu tượng tuyệt diệu : Biểu tượng của kẻ khố rách áo ôm chống chủ nghĩa vô sản, chủ nghĩa của kẻ khố rách áo ôm! Nghĩ cũng hay, thằng bé xuất viện mồ côi đi làm lịch sử ngay trên những vỉa hè oan nghiệt, đắng cay của quê hương nó. Còn những ông đại đức, những ông linh mục thì lại di tản, vượt biên lập chùa, lập nhà thờ để cầu nguyện vẩn vơ, để phô trương thanh thế, để lấy vợ đẻ con và để buôn bán.


Trần văn Năm gần gũi Chúa Giêxu. Biết đâu chừng nó sẽ trở thành một Đấng Cứu Thế mới của dân tộc nó và của nhân loại. Hiện thời nó đang ước ao. Người công an chấp pháp tên Dần không hiểu nổi nó. Có lẽ, đảng Cộng sản đã hiểu nó. Mỗi năm, người ta đối xử với nó một khác. Mỗi năm, người ta nhìn nó một khác. Nhà tù là cơ hội sáng giá đối với Trần văn Năm. Dần dần, nó thấm thía đời sống. Nó biết kính trọng và biết khinh bỉ. Nó biết yêu thương và biết hận thù. Ba năm lưu lạc đề lao Gia Định, Năm đổi lốt niên thiếu. Nó cơ hồ con cua lột. Cái vỏ nhũn mềm đã rắn chắc và đôi càng của nó nguy hiểm. Một thằng nhóc mồ côi, thông minh, ngoan ngoãn, được một làn gió lạ thổi vào tâm hồn, được bao nhiêu tù nhân người lớn chỉ dẫn, gặp bao nhiêu sư tử lãng mạn, tất nhiên, nó đã là sư tử ra ràng đúng dáng dấp sư tử.


Một buổi sáng tháng 11 năm 1978, chấp pháp của sở công an thành phố gọi Trần văn Năm làm việc.


– Anh có biết anh can tội gì không?


– Biết chứ.


– Tội gì?


– Phục quốc.


– Anh mà cũng đòi phục quốc? Cái mặt anh cũng phục quốc à?


– Cái mặt tôi không phục quốc, mặt nào xứng đáng phục quốc? Dĩ vãng tôi thơm tho, hiện tại tôi thơm tho, tôi sẽ làm được tương lai thơm tho cho mọi người.


Chấp pháp sững sờ. “Nó không còn là thằng bé mồ côi rắc truyền đơn nhảm nhí nữa”. Người ta muốn gặp nó năm 18 tuổi xem thái độ của nó ra sao để tha nó về. Về rồi, nó sẽ vào thanh niên xung phong hay đi bộ đội. Bướng bỉnh nữa thì đi nông trường, công trường. Thế này là hỏng. Tư tưởng nó đã diễn biến không đúng ý muốn chính sách cải tạo.


– Anh muốn ở tù mãi mãi à? Ba năm chưa thấm à?


– Tôi còn muốn chết cho phục quốc nữa.


– Anh sẽ được chết.


– Tôi sợ gì chết.


– Anh sắp chết.


– Tôi mong.


– Nhưng chết từ từ, chết dần chết mòn.


– Sống mòn như các ông không hấp dẫn bằng chết mòn đâu!


Người ta kết thúc vụ Trần văn Năm. Hồ sơ của nó khép lại và thay bìa xanh bằng bìa đỏ. Chấp pháp của sở ghi hàng chữ lớn trên bìa : “Cải tạo thêm 12 năm”. Mỗi mốc của tù nhân là 3 năm. Trần văn Năm sẽ còn phải đi qua 4 mốc trên đường tù gian nan. Nếu nó thoát nỗi chết mòn sau khi qua 4 mốc thử thách, nó sẽ trở về năm 30 tuổi. Và lịch sử phải thay đổi với những người như Trần văn Năm.


(Còn tiếp)



Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn