BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 37728)
(Xem: 34367)
(Xem: 33654)
(Xem: 25071)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Đời Thủy Thủ (Chương 11, 12, 13, 14, 15, Kết)

04 Tháng Giêng 201612:00 SA(Xem: 1689)
Đời Thủy Thủ (Chương 11, 12, 13, 14, 15, Kết)
51Vote
40Vote
31Vote
20Vote
10Vote
42

Chương 11


Tin đồn đảo chánh được đăng đầy trên các báo từ những ngày đầu tháng mười. Đến sáng thứ hai của tuần cuối tháng, tàu vừa cặp bến là lãnh trọn cái lệnh cấm trại trăm phần trăm. Người dân thủ đô thì bị giới nghiêm sau chín giờ tối đến bốn giờ sáng. Tuy nhiên, như thường lệ, mỗi lần tàu công tác mới về, ông hạm trưởng “du di” cho một nửa nhân viên đi bờ luân phiên trong hai ngày. Riêng tôi thì bị đóng đinh vào chiến hạm suốt liền ba ngày. Cuối tháng là những ngày tôi bận rộn nhất. Tôi phải đôn đốc và kiểm soát việc thiết lập bảng lương cho thủy thủ đoàn và đồng thời kết toán chi tiêu và mượn nợ của các sĩ quan. Mãi đến trưa thứ năm ngày chót của tháng 10 tôi mới có thể trình hạm trưởng phần việc của tôi hoàn tất. Ông vui vẻ ký cho cái Lệnh công tác đặc biệt 24 giờ với lý do là liên lạc Phòng tài chánh Bộ tư lệnh Hải quân. Thực tế chỉ là tạt qua mất chừng năm phút để nộp bảng lương, sẵn sàng cho ngày mai Hạm trưởng ghé nhận tiền!

Nếu không bị ràng buộc lời hứa cưới Hồng thì chắc chắn tôi sẽ dành hai mươi bốn tiếng công tác đặc biệt này cho… Lưu Ngọc Anh, hoặc cho bà chủ, hoặc cho ai đó ở “chỗ quen biết”. Thật lòng thì tôi nhớ Hồng quay quắt trên đường từ Nha Trang về bến và hình ảnh Hồng lúc nào cũng tràn ngập trong trí não tôi, nhưng rồi hình ảnh dập dìu giai nhân của Sài Gòn gợi tôi nhớ cái thân thể của Lưu Ngọc Anh ngồn ngộn những núi cùng đồi. Một phần khác tôi cũng rất muốn biết nàng có còn “làm” ở đó không. Thế nhưng nhớ nàng thì cứ nhớ, còn thì tôi vẫn không quên tự nhắc mình phải tiến hành thực thi chính sách năm năm… thắt lưng buộc bụng. Đã hết cái thời tôi tỏ ra quan tâm một người con gái bá vơ bằng một sự phí phạm. Tôi chỉ có thể thầm cầu mong Lưu Ngọc Anh không còn phải đến cái chốn xem ra không thuộc về nàng…

Theo dự trù, sau khi ghé Bộ tư lệnh, tôi sẽ cuốc bộ qua công trường Mê Linh, đi dọc theo đường Tự Do, rẽ sang Nguyễn Văn Thinh vào Tôn Thất Thiệp. Ở đó, tôi sẽ ăn một tô hủ tiếu Thanh Xuân rồi ra Mai Hương nhâm nhi một ly cà phê. Rồi sau khi ngắm người chán chê, tôi sẽ tạt qua rạp Vĩnh Lợi để xem một phim, nếu là phim chưa xem. Coi xong, theo đường cũ, đến Pasteur ăn vài cuốn bò bía, thêm một dĩa bánh ướt rồi về tàu viết thư cho Hồng! Tôi có thể viết một thư thật dài, có thể viết suốt đêm vì ngày hôm sau tôi còn phép để ngủ bù. Một chuyến đi lành mạnh như vậy giúp tôi tiếp kiệm ít nhất tám trăm và giúp Hồng hạnh phúc với lá tình thư nồng thắm.

Tôi bắt đầu đi ngang nhà hàng Majestic. Lề đường Tự Do được lót bằng nền xi măng kẻ khối vuông nho nhỏ, bám chút rong rêu, nườm nượp bước chân. Xe hơi đậu không còn chố trống dọc theo lối tôi đi. Lòng đường rực nắng in bóng các tàng cây xuôi ngược đủ loại xe. Dù là ban ngày, tên các thương hiệu vẫn tỏa ánh màu. Hotel Saigon Palace, nhà hàng Maxim, Eden Roc restaurant. Cùng lối chơi đèn màu xanh đỏ của vũ trường Tự Do, một tấm biển nhấp nháy ngay trước mặt tôi với kiểu chữ huỳnh quang bắt mắt: “Hollywood Snackbar”. Tôi biết snackbar là gì nhờ bốn tuần thực tập hải nghiệp trên đệ thất hạm đội. Chiếc USS Procyon ghé hải cảng Sasebo của Nhật ba ngày. Một sĩ quan Mỹ rủ tôi và người bạn cùng khóa vào một snackbar. Đó là một quán rượu với nhiều chiêu đãi viên trẻ trung, xinh đẹp. Mục đích của họ là bằng mọi cách phải chài khách hàng uống càng nhiều rượu càng tốt và chính họ được khách hàng cho uống “Japanese tea” càng nhiều càng hay. Hoa hồng được chia trên số lượng rượu khách uống và tea được coi là tiền thưởng do… cọ quẹt. Dù với tiếng Anh chưa rành, tôi cũng hiểu thêm rằng những cô chiêu đãi viên này chỉ có nhiệm vụ tiếp khách chớ không… đi khách. Đi khách là thỏa thuận riêng của họ với khách hàng và đi sau giờ bar đóng cửa. Rất ít chiêu đãi viên Nhật chịu đi khách. Nếu có thì chỉ vì cảm tình. Tiền bạc tùy hảo tâm.

Tôi đứng dưới bóng mát của một thân cây cao to, sần sùi, ngắm tấm biển nhấp nháy gọi mời. Tôi nhìn đồng hồ. Mới ba giờ chiều. Bụng tôi còn lưng lửng cơm trưa trên chiến hạm. Thời điểm cho một tô hủ tiếu còn quá xa, dư sức cho việc nhâm nhi vài chai bia đủ để thỏa mãn nhu cầu tìm xem “Sài Gòn tea” có gì lạ hơn “Japanese tea”! Lại biết chừng đâu có một cô chiêu đãi dễ thương nào đó nổi hứng thương đời thủy thủ mà tặng cho một đêm không ngủ! Nếu có phải tốn vài trăm so với “chỗ quen biết’ tám trăm thì rõ ràng còn nhiều …tiết kiệm! Vả chăng, số tiền tôi mang theo là phần tồn động của lương tháng trước, nằm ngoài kế hoạch năm năm.

Tôi mạnh dạn đẩy cánh cửa bước vào quán. Thoạt tiên tôi có cảm tưởng như bước vào một căn hầm lờ mờ sáng và rười rượi mát. Mùi thuốc lá thơm ngào ngạt. Điệu nhạc rock mơ hồ như phát ra từ những chấm xanh đỏ rải đều trên trần. Chỉ dăm ba khách ngồi ở quầy được tỏa sáng hơn đang tán tỉnh cô pha rượu. Còn mọi ghế ở các dãy bàn mờ ảo dọc theo tường đều đã có chủ. Bầu không khí thì không khác các snackbar Nhật. Cũng đầy các cô chiêu đãi xinh đẹp trẻ trung má tựa vai kề, ngả ngớn cười cợt với khách hàng. Cũng những tiếng cười dòn của các cô lớn hơn tiếng đàn ông. Càng uống, men rượu càng đẩy khách… lạng quạng và các cô càng được châm nhiều tea. Tôi xề vào một chiếc ghế cao. Cô pha rượu mơn mởn nở nụ cười duyên kèm một câu chào mà tôi tưởng cô nói với người nào khác:

– Hello, my dear! What can I do for you?

Tôi bật cười:

– Do I look like an American?

Cô nhìn tôi, tỉnh bơ:

– You do!

Tôi nhăn mặt khó chịu. Cô muốn đuổi khéo mình chăng? Có thật cô hàm ý quán chỉ tiếp khách Mỹ, miễn người bản xứ yếu địa. Tôi cố nghĩ ra một lời thâm độc tặng cô nàng trước khi rời quán. Cô pha rượu lại nhoẻn miệng cười tươi:

– Không có ý gì đâu nghen. Tại em thấy anh giống tên nhái Mỹ thường vào đây tán tỉnh em.

Tôi ngắm đôi môi sơn đỏ hình trái tim trên khuôn mặt phấn son khéo léo. Có khéo léo gì thì cũng lộ ra cái số tuổi của cô lớn hơn cái tuổi hăm ba của tôi. Nhưng nghe xưng em thì cũng thấy mát lòng. Cô đứng yên cho tôi ngắm từ đầu xuống chân. Chiếc áo đầm một mảnh hở cổ màu tròng đỏ hột gà chạy tới nửa đùi. Tôi khen thầm thật đáng đồng tiền bát gạo!

Giọng nhỏ nhẹ của cô hàng rượu:

– Ông anh uống chi?

Tôi chỉ có bia là sở trường và rượu chát là sở đoản. Nhưng liệu quán này có chịu bán loại rượu giá bình dân không. Tôi ậm ừ hoãn binh:

– Bỏ tiếng ông thì mới uống!

Vừa nói tôi vừa đưa mắt lên kệ rượu. Lối trình bày cũng không khác ở Nhật. Đó là một giàn kệ bằng kính chia thành các ô hình chữ nhật đứng, nằm. Mỗi ô dành cho một loại rượu, mỗi loại có nhiều nhãn hiệu và kiểu chai khác nhau. Ô chứa bia ở cuối hàng thấp nhất. Chai “33” ưa thích nằm ngoài cùng. Bia là thứ rượu tôi quen biết từ thời trung học. Tôi chợt nhớ là sau dạ tiệc chiến hạm còn thừa nhiều “33” và quyết định sẽ cùng Tâm đối ẩm khi về tàu. Còn đã đến đây thì chơi bia Mỹ cho nó điệu nghệ. Cô hàng rượu hạ giọng, tuy có phần châm chọc nhưng cũng biểu lộ thói quen nhẫn nại chiều khách:

– Thưa anh, anh muốn uống gì?

Tôi thấy cần trả đũa và cần dằn mặt là nếu tôi có uống bia thì không hẵn tôi thuộc hạng bình dân:

– A Bud, please!

Cô hàng rượu kêu lên:

– Em mê tiếng please của anh quá. Nó được phát bằng âm điệu lịch sự, ngọt ngào mà em chưa từng được nghe từ khách Mỹ. Còn anh là “mít đặt” mà gọi Bud thì có cho vàng bảo gọi bằng anh, em cũng không dám! Cho em gọi… đại ca!

Tôi thầm khen cô nàng đấu láo không thua gái bán bar ở Nhật. Ở đó họ gọi Bud thay cho Budweiser. Có lẽ tiếng này còn mới mẻ với các snackbar Sài Gòn. Tôi ngây ngất ngắm cô hàng rượu. Em gọi anh là gì cũng OK, nhưng đã trót gọi đại ca thì phải tuyệt đối tuân lệnh đại ca. Tối nay đại ca ra lệnh tiểu muội cùng ngao du qua đêm với đại ca. Cãi lời là đại ca xin tý huyết! Tôi chỉ đùa thầm với mình. Thực tế thì chắc tôi còn phải mở máy tán mệt nghỉ. Tôi bắt đầu bài bản:

– Trên chốn giang hồ, chưa từng có ai được tôn làm đại ca mà lại không biết tên nghĩa muội!

Tôi thấy cô cúi xuống lấy chai bia để dưới quày, môi bậm lại như cố nín cười. Khui nắp xong, cô đẩy chai bia đến trước tôi, giọng trịnh trọng:

– Vô danh đại ca! Tiểu muội được lưu linh giang hồ đặt cho mỹ danh là… Linda sờ nách.

Cô hàng rượu nói xong cười ngất. Tôi cố nín cười, tiếp:

– Đại ca cũng từng ngao du khắp chốn giang hồ, từng lắm phen kết nghĩa đệ huynh nhưng chưa từng được kết nghĩa với một mỹ nữ có Mỹ danh ! Vạn hạnh, vạn hạnh!

Tôi đang hòa tiếng cười sảng khoái cùng Linda thì đôi mắt đang đắm đuối ngắm nghĩa muội bỗng bị hai bàn tay mềm mại bịt kín. Một giọng nói nhẹ như… truyền âm nhập mật rót vào tai bên trái:

– Biết ai hôn?

Tiếng trong trẻo nhưng không thuần miền Tây. Nó có chút gì pha trộn nhưng tôi không thể nhận ra là của ai. Tôi câu giờ:

– Nói lại lần nữa…

– Ông anh biết ai không?

Vẫn giọng rất trong nhưng không thuần âm sắc Sài Gòn. Ai nhỉ? Tôi chưa từng vào và chưa từng quen cô nào làm trong snackbar. Tôi nghĩ đến vài cô bạn của những năm trung học Sài Gòn. Giọng quen quen lại vang lên, vẫn pha chút châm chọc:

– Ông anh nhận ra ai chưa? Thân thiết lắm nghe!

Đúng là giọng của Tuyết. Nhưng đâu lẽ. Quán này đâu phải là chốn thích hợp cho một người con gái sinh trưởng từ đất thần kinh nặng phần danh giá. Tôi lắc đầu:

– Chịu thua!

Lại vẫn giọng châm chọc, đùa dai:

– Quân vương tệ thật! Chả nhớ gì đến tỳ nữ!

Hai bàn tay rời khỏi mắt tôi. Tôi quay nhanh về phía trái và giật thót người kêu lên:

– Tuyết!

Tuyết nở nụ cười tươi:

– Chính tiểu muội đây. “White Snow” của anh đây! Anh thất vọng lắm hỉ?

Tôi xoay ghế và vòng tay ôm Tuyết sát vào người. Tôi muốn biểu lộ nỗi vui mừng lẫn thương yêu đang dâng tràn. Tôi muốn hôn vào môi Tuyết nhưng ngại những cặp mắt đang đổ dồn vào chúng tôi. Một lúc, Tuyết nhích người ra và tôi mở đôi tay. Tuyết nghênh mặt, giọng hờn dỗi:

– Hôm nọ, em nhắn anh Tâm nói anh đến nhà, sao anh không đến?

– Bữa đó anh bận chút việc gấp…

– Em đã rất mong anh đến để xin trả lời một câu hỏi. Nhưng đến nay, lúc em đinh ninh rằng anh đã dứt khoát xa lánh thì bất ngờ gặp lại. Vậy nhân tiện, xin anh cho một lời minh bạch. Câu hỏi của em là… Mà thôi, chuyện dài dòng. Anh ngồi đợi một chút, em sắp xếp rồi đi chơi với anh, có thì giờ bàn bạc cặn kẽ hơn.

Nàng quay sang cô hàng rượu:

– Em đi có chút việc riêng. Chị coi như hôm nay em không đến làm.

Cô hàng xua tay, vui vẻ:

– Không sao! Chúc nhiều hạnh phúc.

Tuyết đi về chiếc bàn trong cùng ngồi lên chiếc ghế trống, xây lưng về phía tôi. Một tên Mỹ nghiêng qua nói vào tai nàng, xong cười hô hố. Nàng đập tay vào vai hắn, thân mật. Tôi quay sang cô chủ. Cô đang nhìn tôi bằng ánh mắt tò mò nhưng ngại hỏi. Tôi cầm ly bia lạnh, cười đùa:

– Old flames! Hôm nay bất ngờ gặp lại.

Cô chủ gật đầu:

– Rõ ràng là vậy. Để chúc mừng, “Holywood” rất hân hoan mở happy hours cho old flames. Thích uống gì cứ uống, bao nhiêu cũng free!

Tôi ra vẻ xông xáo, nốc cạn ly rồi rót cạn chai.Tôi dơ ngón tay trỏ. Cô chủ vui vẻ cúi xuống lấy chai budweiser khác. Tôi nhìn đôi vú căng tròn qua chiếc áo rộng cổ mà thèm thuồng. Tôi biết đó là cái bẫy để câu khách hàng. Phải chi Tuyết đừng làm ở đây thì thế nào tôi cũng sẽ nhiều lần sập bẫy. Quán này vừa có cô chủ hấp dẫn, vừa gần bến tàu đỡ tốn tắc xi, vừa khỏi phung phí bạc tiền. Đã chịu free rượu thì free tình chỉ cách vài chục chai bia! Khi chủ nhân Linda sắp khui chai mới, tôi dơ tay ra dấu bảo đừng.

Cô cười nhạo:

– Sợ say không làm ăn gì được à?

Tôi buộc phải đáp lễ với cùng lối trây trúa:

– Càng say càng dẻo càng dai, chỉ sợ hao bia Linda Sờ nách!

Linda không cười, tia mắt chiếu về phía sau tôi. Tôi quay lui. Tuyết đứng chờ từ bao giờ. Tôi lại lướt nhìn từ đầu đến chân. Nàng gọn gàng, tươi trẻ với chiếc áo dài mà dù mắt đã điều chỉnh độ sáng tôi không chắc nó có màu xanh hay đen. Nhưng chiếc quần thì chắc chắn là màu trắng mà phần lai chạm hờ hững trên các ngón chân thon ngà ngọc. Trông Tuyết như một thiếu nữ Việt Nam mẫu mực. Hèn gì bọn G.I. không mê mệt sao được. Tuyết nói với cô chủ:

– Mai gặp lại chị.

Tôi không biết Linda nói đùa hay thật:

– Giữ cho kỹ kẻo… mất đấy. “He” thuộc hàng lady killer.

Cả hai cười vang. Tôi nhảy khỏi ghế, móc bóp chọn tờ hai mươi đồng. Chưa kịp rút tiền ra, Linda lên tiếng:

– Em nói free là free. Đừng lộn xộn.

Tôi đặt tờ bạc lên quày, nhấc chiếc ly dằn lên:

– Anh đâu có trả tiền bia. Chỉ là tip.

– Tip cũng không! Người nhà cả mà.

Tôi tỉnh bơ trước lời cự nự của cô chủ, bước ra cửa. Cô chủ la to:

– Good night! Enjoy!

Tôi nhìn đồng hồ tay. Mới gần ba giờ rưởi. Chúng tôi lặng lẽ cuốc bộ về phía tòa nhà quốc hội. Được một lúc Tuyết lên tiếng:

– Anh khinh em lắm hả?

– Không!

– Nhất định là anh khinh em!

– Không! Anh yêu em!

– Dốc tổ! Ai mà thương những người làm nghề này!

Tôi không rõ là tôi có khinh Tuyết hay không nhưng có điều chắc chắn là tôi đang tự hỏi lòng mình là tôi có còn yêu Tuyết? Giọng Tuyết đều đều:

– Anh nghĩ về em thế nào cũng được vì em đã chấp nhận số phận. Em hiểu nghề của em bị chê là không đàng hoàng, nếu không muốn nói thẳng là nó hèn hạ, bẩn thỉu…

Tôi nắm chặt cánh tay Tuyết, ngắt lời:

– Tuyết! Cho anh xin. Ông bà ta có câu: “Không có nghề xấu mà chỉ có người xấu”! Nếu em tư cách đàng hoàng, mặc xác thiên hạ. Riêng anh, anh không thấy em làm điều gì xấu. Và anh đang rất hãnh diện được đi lang thang giữa phố đông người với em.

Tuyết nắm chặt cánh tay tôi như tỏ lòng biết ơn. Tôi đưa Tuyết lên lầu quán kem Brodard. Chúng tôi ngồi đối diện nhau qua chiếc bàn dành cho hai người kê sát khung kính trong suốt. Tuyết gọi ly kem ba màu. Tôi chọn cà phê phin đen nóng. Gương mặt Tuyết đẹp rực rỡ mà buồn thảm. Nàng lặng lẽ nhìn về hướng nhà hàng Continental. Tôi cũng lặng thinh ngắm tấm bảng hiệu “Hollywood Snackbar” nhấp nháy xa bên dưới. Một cô gái trâm anh, học giỏi như Tuyết vẫn có thể đi vào chốn xô bồ thế này sao? Giọng Tuyết trầm buồn:

– Em không tự phụ nhưng chắc anh cũng công nhận rằng em có thừa sắc đẹp để câu một ông chồng giàu có dễ dàng? Em có dịp gặp nhiều người. Họ chỉ có thể tỏ cho em thấy sự mê si của họ nhưng không cho em thấy họ… xứng đáng là chồng em! Sống với ông chồng em không kính không yêu thì thà sống một mình! Lại có vài ông sẵn sàng tặng em xe hơi nhà lầu nhưng em không muốn bị tạt á xít! Cám ơn anh nghĩ tốt về nghề của em. Thật ra em chỉ làm tạm bợ một thời gian, cho đến khi em kiếm đủ tiền tiếp tục bậc đại học. Em tính rồi, chỉ cần một vài năm…

Tôi ngắt lời, chua xót hỏi:

– Đừng giận anh. Anh không thể không thắc mắc. Vì sao em phải đi bán bar?

Tuyết không trả lời ngay. Nàng nhìn tôi đăm đăm như đo lường sự thật thà trong ý biểu lộ cảm thông. Tôi giương mắt tiếp nhận, không tránh né. Một lúc sau, Tuyết cúi mặt, nâng muỗng múc kem. Nàng ăn có vẻ ngon lành, khuôn mặt trỏ nên thanh thản. Còn chừng nửa ly, Tuyết buông muỗng, hai tay chống cằm, lại nhìn tôi đăm đăm:

– Vì sao em phải đi bán bar? Thì anh đã biết, bỗng dưng em bị mồ côi. Em chạy trốn Nha Trang. Dù không tin tức gì về anh, em cũng cứ vào Sài Gòn với niềm hy vọng. Và trong lúc tuyệt vọng, em được một người tận tình giúp đỡ. Căn nhà anh đến chơi là do anh ấy giúp em mua, giúp em thiết trí và trang bị mọi thứ. Em sống hạnh phúc được hai tháng thì một hôm, khi em và anh ấy đang ngồi ăn tối thì có một bà gõ cửa rồi xồng xộc xông vào nhà, theo sau một đám lâu la. Anh hẳn đoán được sự việc diễn ra. Em nói với bà là em không biết anh ấy có vợ và hứa là sẽ không bao giờ gặp lại anh ấy. Từ đó, em sống một mình trong sợ hãi cho tới ngày em gặp anh Tâm. Phải em khôn một chút, đừng nôn nóng hỏi han về anh thì không chừng anh Tâm đã hỏi cưới em. Nhưng dù em tỏ ra còn thương nhớ anh, anh Tâm vẫn đến chơi, săn sóc, đùa giỡn giúp em đỡ cô đơn. Có lúc em đã quyết định tự nguyện làm vợ anh ấy, cố tạo điều kiện cho anh ấy tiến xa hơn mà không bị anh ấy coi thường, nhưng đúng lúc đó anh lại xuất hiện. Chính vì không muốn làm một người vợ gian dối, mới đây em đã từ chối thẳng thừng lời cầu hôn của anh ấy. Em biết em chưa thể quên anh.

Tuyết nói một thôi dài, gần như muốn hụt hơi mới chịu ngưng. Nàng cúi mặt, vươn bàn tay trái lạnh ngắt nắm bàn tay phải tôi để xuôi trên mặt vải màu chàm. Tiếng êm ái của Tuyết lại cất lên, đều đều, rành rọt:

– Tất nhiên em cũng có cái đầu biết suy nghĩ! Việc anh không muốn gặp lại em đã là một câu trả lời vô cùng minh bạch và em cũng đã chấp nhận. Nhưng hôm nay ông Trời dung rủi cho em gặp lại anh, em không thể không đặt ra câu em từng muốn hỏi. Em muốn nghe chính lời anh nói. Anh Bằng, có phải thực lòng anh không còn yêu em?

Thốt xong câu hỏi, Tuyết ngẩng mặt, chiếu tia mắt cực sáng vào thẳng hai con ngươi của tôi. Đến lượt tôi cúi mặt. Phải chi Tuyết hỏi tôi có muốn cưới Tuyết làm vợ không thì tôi trả lời rất dễ dàng bởi vì tôi có sẵn các lý do vững chắc. Nhưng tôi không thể nói là tôi không yêu nàng. Tình yêu của tôi nếu gọi là chia đều cho cả ba Hiền, Hồng, Tuyết thì hoàn toàn sai, cũng không thể nói là mỗi người chiếm một phần ít nhiều trong đó. Nói cho đúng thì mỗi người khi gần tôi cũng đều được tôi dành cho trọn vẹn yêu thương. Như giờ đây tôi cảm thấy hết lòng yêu Tuyết. Tôi không mảy may nhớ Hồng, nhớ Hiền. Như tuần trước tôi hết lòng yêu Hồng và bảy tháng trước, tôi hết lòng yêu Hiền.

Tuyết lại lên tiếng:

– Sự im lặng của anh cũng là một lối trả lời minh bạch nhưng em vẫn muốn nghe anh nói. Em muốn tiếng nói của anh đánh động tâm thức của em để lúc nào cũng sẵn sàng xóa tan mọi hy vọng còn rơi rớt. Hãy nói đi anh Bằng, nói là anh không yêu em!

Tôi ngước lên, chấp nhận tia mắt nồng nàn của Tuyết. Tôi thở dài:

– Tuyết à, nếu em hỏi anh có ý định cưới em không thì anh trả lời ngay là không. Nhưng vì em hỏi anh có yêu em không, anh phải xét lại lòng mình. Anh thành thật nhận rằng anh có yêu em, yêu em bằng tình yêu đầu đời và bây giò vẫn tha thiết.

Tuyết nắm chặt bàn tay tôi, mỉm cười rạng rỡ. Nàng hăm hở nói:

– Mình ngồi cũng lâu rồi, đi đi anh!

Tôi ra dấu anh bồi bàn tính tiền. Chúng tôi lang thang chen vào dòng người trên phố Tự Do. Chúng tôi vào xem từng bức tranh trong phòng triển lãm. Rồi tha thẩn bên lề Lê Lợi. Tôi liếc nhanh các tên sách bày bán trên các sạp. Quyển “Ý thức mới trong Văn nghệ và Triết học” của Phạm Công Thiện với cái bìa màu đỏ nổi bật trên dãy sách mới phát hành. Tôi đã quá ngán với các bài vở chuyên nghề, các sách kỹ thuật, các hồ sơ, tài liệu khô khốc suốt trên hai năm qua. Xin từ giả Hải hành, Thiên văn, Khí tượng. Xin chia tay Điện kỹ nghệ, Động cơ nổ. Xin vĩnh biệt Sức bền vật liệu, Hải pháo, Truyền tin… Đã đến lúc tôi tự nuông chiều sở thích. Tôi ghì tay Tuyết dừng lại, nhấc quyển sách đưa cô bán hàng. Tuyết reo khẻ:

– Cuốn này coi bộ hấp dẫn và chắc em cần trong tương lai. Như em nói, vài năm nữa em sẽ vào Văn khoa.

Tôi xăng xái:

– Để anh tặng em một quyển.

– Đừng! Hai năm nữa em sẽ chôm quyển này của anh.

Chúng tôi đến rạp Vĩnh Lợi và không biết tiếp tục về hướng nào. Tuyết gợi ý:

– Mình tìm chỗ nào kín đáo nói chuyện cho đã. Mỗi đêm em vẫn thì thầm nói chuyện với chiếc gối ôm mà em tưởng tượng là anh.

Tuyết nói, ánh mắt nhìn tôi đắm đuối. Tôi hiểu vì sao Tuyết thầm thì như vậy. Trên đường từ Nha Trang về Sài Gòn, tôi cũng đã ôm gối, vừa hôn vừa thì thầm những lời thương nhớ Hồng. Tôi đề nghị:

– Hay là về nhà Tuyết?

Nàng lắc đầu:

– Không! Về nhà em để rồi khi vắng anh, em nhớ anh chịu sao thấu!

Tôi nghĩ đến cái phòng ngủ của khách sạn Lê Lai gần ga xe lửa từng qua đêm với Lưu Ngọc Anh. Không, không thể! Đưa Tuyết vào đó, tôi khó tránh cái mặc cảm đặt Tuyết ngang hàng…

– Hay là mình mướn một phòng ngủ? Em cần cả một đêm để nói hết với anh một lần tất cả những gì em từng muốn nói.

Tôi buông tiếng thở dài. Chọn lựa nào cũng bế tắt. Tôi từ chối sẽ làm tổn thương Tuyết. Tôi vừa xác nhận còn yêu Tuyết thì sao hành động ngược lại? Nếu tôi đồng ý, sẽ tự mình hổ thẹn với Hồng. Tôi đang ở thời điểm thúc bách giải tỏa mà Tuyết chơi cái trò mang mỡ dâng miệng mèo thì trời gầm không nhả chứ mười Tuyết cũng không tránh né được tôi. Mà chắc chắn là Tuyết không tránh né. Nàng đã chẳng ám chỉ qua câu “Về nhà em để rồi khi vắng anh, em nhớ anh chịu sao thấu”. Vấn đề là chính từ tôi. Mong rằng tôi đủ nghị lực chống đỡ cái bẫy sập này nếu thực Tuyết cố ý gài tôi vào chuyện đã rồi với một đứa con.

– Nếu anh không muốn thì thôi, chúng ta cứ lê la quán này sang quán khác cho tới giới nghiêm thì chia tay.

Đồng hồ của rạp Vĩnh Lợi chỉ gần sáu giờ. Còn ba tiếng nữa. Tôi nói:

– Mình kiếm cái gì dằn bụng rồi tính!

Tôi nhìn quanh tìm một nhà hàng. Xéo bên kia là Thanh Thế, cạnh đó là Kim Sơn. Thanh Thế thì không mấy sang. Kim Sơn thì chưa vô lần nào. Tuyết lại lên tiếng:

– Trở lại chỗ em làm. Có một nhà hàng tây gần đó rất ngon và ấm cúng.

Tôi bước cạnh Tuyết như một người máy. Mặt tiền nhà hàng Catina khiêm tốn mà khang trang. Người tiếp viên đưa chúng tôi đến chiếc bàn hai chỗ ngồi đặt sát khung kính nhìn ra đường. Hollywood Snack Bar nhắp nháy bên lề đối diện. Từ trang bìa tờ thực đơn tôi đọc tên nhà hàng Catina Hotel. Vẻ sang trọng, cách bày trí và cách phục vụ như rập khuôn nhà hàng La Frégate. Các món ăn cũng không khác là bao. Tự dưng tôi nhớ Hồng tha thiết và cúi mặt xấu hổ cho lòng dạ bạc tình của mình…

– Anh răng rứa?

Lâu lắm tôi mới nghe giọng Huế của Tuyết. Tôi ráng một câu nhại đùa:

– Có chi mô!

– Anh ăn chi?

Tôi ngước nhìn anh bồi, nói như máy:

– Chateaubiand, hơi chín với khoai tán. Một ly rượu chát pinot noir.

– Tôi giống như vậy.

Tuyết có vẻ hạnh phúc với việc chọn cùng món ăn thức uống. Còn tôi thì… nát cả ruột gan. Tôi nhẫn tâm với Tuyết quá. Tôi đang sống lại những phút giây lãng mạn tuyệt vời bên Hồng. Rượu chát tôi biết uống nhờ quen Hồng và chỉ uống với Hồng.

– Anh có tin rằng em đã … có chồng không?

Tôi tỉnh táo tức thời:

– Hả? Em có chồng?

Tuyết cười mỉm:

– Bộ anh tưởng em không lấy được ông chồng nào sao?

Tôi xoa tay phản đối thì nàng tiếp:

– Sau khi vớ nhầm ông có vợ, em ở hẳn trong nhà. Phần thì sợ, phần xấu hổ. Chừng dăm ba tháng em nguôi ngoai. Một hôm ra ban công, em gặp một bà đang ngồi ở ban công nhà kế. Em chào hỏi, gợi chuyện. Mỗi ngày tâm sự một ít. Khi nghe em than đang thất nghiệp thì bà cho biết chỗ con gái bà làm đang cần người. Em gặp con gái bà. Thế là chúng em đi làm chung.

– Ở Hollywood Snackbar?

– Dạ. Chính ở đó em gặp một thằng Mỹ rất tử tế. Sau vài tháng quen biết nó ngõ ý muốn cưới em mang về Mỹ. Em OK liền! Anh biết vì răng không?

Tôi cười tủm. Tuyết nâng chiếc dao giá giá:

– Nghĩ bậy, em giết anh. Vì những lý do này. Thứ nhất là em vẫn nhớ anh. Thứ hai, em vẫn sợ bị tạt á xít. Thứ ba, em muốn rời xa cái đất nước mang cho em toàn chuyện đau đớn!

Tôi không dám lên tiếng đùa cợt. Việc Tuyết còn ngồi ở đây và cái lối kể chuyện dường như sẽ đưa đến một kết cuộc không vui. Tôi buông dao nĩa, nghiêng người tới gần nàng, chờ đợi, lắng nghe. Giọng Tuyết cười cợt mà như có âm rền rĩ:

– Phải mất gần một năm thủ tục mới hoàn tất. Rồi khi chỉ còn một tuần nữa là lên đường thì nó… chết!

Có lẽ mắt tôi mở to lắm nên lại làm Tuyết hiểu lầm. Nàng lại giá giá con dao:

– Lại nghĩ bậy! Nó chết vì rớt trực thăng!

Tôi vói nắm tay Tuyết:

– Anh thành thật chia buồn.

Tuyết cười:

– Em hết buồn rồi, chỉ sợ. Những người thân yêu của em đều chết vì máy bay.

Tôi xoa tay:

– Thật may! Anh chỉ đi tàu thủy.

– Anh dị òm!

Chúng tôi lặng lẽ ăn. Rượu làm gương mặt Tuyết ửng hồng tuyệt sắc. Tôi chợt nhớ đến đôi má của Hồng khi chiều ý tôi uống cả lon bia đêm dạ hội trên tàu. Tôi đang đắm say nhìn ngắm đôi má của ai đây? Tôi hỏi Tuyết có muốn thêm rượu. Nàng lắc đầu. Tôi gọi thêm một ly cho tôi. Tuyết nói:

– Gần đây, có một thằng Mỹ khác, bạn thân của chồng em, bảo rằng nó cũng thương em từ lâu, nay muốn cưới em và đưa em về Mỹ. Em sợ quá, đành từ chối. Nó vẫn còn đang “dụ dỗ” em…

– Thì cùng lắm là thằng đó chết chứ đâu phải em! Bằng êm xuôi, em qua được xứ Mỹ, hết buồn.

Tuyết nhăn mặt, tỏ vẻ không ưa cách ăn nói của tôi. Bất chợt nàng xoay chiều đột ngột bằng giọng nôn nả:

– Đời em khi xa anh là rứa. Còn anh thì răng?

Câu hỏi bất ngờ làm tôi sựng người. Tôi tìm kế hoãn binh:

– Lần gặp lại em, em nói toàn giọng Sài Gòn. Tối nay em pha nửa Huế nửa Sài Gòn nghe hay dễ sợ! Tiếp tục…

– Đoạn cuối anh đã biết, là sau đó em gặp lại anh Tâm, rồi gặp lại anh. Mà không hiểu sao chuyện em có chồng Mỹ, em dấu không kể với anh Tâm mà bữa ni lại kể với anh. Có thể tại vì em yêu anh Tâm chưa đến cái mức em tuôn hết mọi chuyện…

Người bồi lịch sự nhắc chúng tôi là nhà hàng đóng cửa lúc tám giờ. Chúng tôi còn mười lăm phút để chấm dứt bữa ăn. Tôi nâng ly rượu chát, quét mắt nhìn quanh, chầm chậm đi một hơi cạn ly. Chỉ còn hai chúng tôi là thực khách. Ngoài đường cũng vắng bóng người, chỉ thỉnh thoảng có ánh đèn xe lướt qua. Cũng không thấy chiếc xích lô đạp nào mà mới một tiếng trước đó còn đậu vài chiếc. Trong lúc chờ tính tiền, tôi đề nghị:

– Để anh đưa Tuyết về nhà.

– Quá muộn rồi anh ạ! Em để ý, chả còn thấy chiếc xe tắc xi nào.

Nàng nghiêng mặt về quày tiếp tân:

– Nhờ anh đến mướn cho em một phòng. Rồi anh về tàu. Tàu anh đậu gần đây mà, anh đi bộ về được.

Tôi tự mắng mình thiếu cảnh giác. Tôi đã quá thơ ngây để bị Tuyết dẫn dắt ngay từ đầu. Tuyết thừa biết tôi không thể bỏ Tuyết một mình trong phòng ngủ. Tôi nói thầm với Hồng: “Anh sẽ cố hết sức để giữ thủy chung với em, Hồng thương yêu!”

Nhận phòng xong, Tuyết khóa cửa và đứng tại chỗ ôm tôi, tặng tôi chiếc hôn nồng cháy. Tôi không phản ứng và cố không hưởng ứng. Tuyết buông tôi ra, mỉm cười:

– Em đi tắm trước.

Nàng nhún nhảy về phía buồng tắm, mở toan cửa và không đóng lại. Căn phòng nhỏ, bịt bùng nhưng sạch sẽ, bày biện đẹp mắt và mát rượi. Làn hơi lạnh từ máy điều hòa gắn trên vách sát trần nhà thổi ngang qua chiếc giường đôi cỡ nhỏ trải drap trắng tinh. Hai chiếc đèn chụp ở hai bên đầu giường đang tỏa ánh sáng được tăng cường từ chiếc gương lớn gắn trên vách. Đối diện là một bức tranh hoa huệ màu vàng tươi trông như thật. Có tên tác giả ký ở góc nhưng tôi đứng xa không đọc được. Hẳn cũng phải là một họa sĩ nổi danh nên tranh mới được chụp lại bán ra thị trường. Tôi chợt nhớ tới bức Starry Night của Vincent Van Gogh treo ở căn phòng của “chỗ quen biết”. Tôi lắc đầu cố xua đuổi những động tác của Lưu Ngọc Anh hiện về mồn một…

Tiếng nước xối xả trong nhà tắm vọng ra át cả tiếng máy đều hòa. Tự dưng tôi nảy ra cái ý so sánh đáng phiền trách. Lưu Ngọc Anh và Tuyết có điểm giống nhau. Cả hai đều để cửa mở toang khi tắm. Nhưng lại có điểm trái ngược. Lưu Ngọc Anh xong việc mới tắm, còn Tuyết thì tắm rồi mới…Tôi lại lắc đầu xua đuổi các động tác tưởng tượng đầy quyến rũ của Tuyết. Có thể tôi đang thèm muốn và quá chủ quan. Không khéo tôi bị tát tai như Tâm…

Tuyết hiện ra, tóc xỏa man dại rơi trên chiếc khăn tắm choàng quanh bộ ngực nở nang. Nàng cười bảo:

– Anh đi tắm đi.

Độ mát của căn phòng khiến tôi lười tắm. Tôi đứng lặng ngắm Tuyết. Mắt tôi như nhìn thấu qua lớp khăn choàng dày. Tuyết hờn dỗi:

– Đi tắm đi. Em không chịu nổi mùi mồ hôi…

Tôi cỡi đôi giày rồi ngoan ngoãn lê bước. Tôi trút bỏ quần áo. Hy vọng độ lạnh của nước giúp tôi hạ nhiệt. Tôi đứng thật lâu mặc cho nước xối xả lên mình. Tôi cảm thấy nhớ thương Hồng vô hạn. Tôi ngạc nhiên với chính mình. Đây là lần đầu, tôi gần một người và nhớ một người…

Lau mình xong tôi ngó quanh tìm cái gì đó che thân. Chỉ có bộ đồ vừa cỡi ra, không lẽ lại mặc vào. Và chắc chắn sẽ bị phản đối mùi mồ hôi. Tôi mở tủ, kéo chiếc khăn khô choàng quanh như Tuyết. Ngọn đèn đầu giường bên Tuyết đã tắt. Căn phòng như thêm mát mẻ. Tuyết đang trùm tấm chăn lên tận cổ. Chiếc khăn tắm nằm vắt góc chân giường. Tuyết ra lệnh:

– Bỏ cái khăn đi và chui vào cạnh em.

Tôi thở dài, tuân theo lệnh của nàng. “Hồng ơi, anh sẽ cố gắng chống đỡ. Nếu anh đại bại, hãy thông cảm cho anh một lần, lần này thôi”. Tôi nằm không chạm vào thân thể trần truồng của Tuyết. Nhưng tôi không ngăn được bộ óc đang mở toang thân thể nàng. Tôi từng vượt qua cơn bão tố mà giờ đành bị đắm chìm chỉ vì nhan sắc? Tuyết nghiêng người qua tôi, cười mỉm:

– Em còn trẻ quá, phải không anh, mới hơn hai mươi mốt tuổi. Anh cũng còn quá trẻ, mới hơn hăm hai. Em sẵn sàng chờ anh vài năm nữa.

Tôi lặng thinh. Có ngu lắm thì tôi cũng hiểu Tuyết đang muốn gì! Trời ơi! Phải chi ngày xưa tôi đừng ôm đại Tuyết! Ôm làm gì để bây giờ người ta đòi ôm lại không dám ôm. Giọng Tuyết nồng nàn:

– Nhưng có cần chi phải chờ đợi anh Bằng? Hãy làm chồng em, ngay từ hôm nay! Em hứa là em sẽ mang hạnh phúc cho anh. Hãy sống với em vô điều kiện. Anh không cần cưới hỏi. Nhà đã có sẵn. Em có thể tự nuôi thân với một chỗ làm khác đàng hoàng hơn. Em chỉ cần có anh. Thậm chí giả sử một ngày nào đó anh muốn ra đi, em hứa sẽ không buồn phiền. Hiện tại không có anh, đã là quá sức buồn phiền. Thà có anh một thời gian ngắn vẫn hơn!

Tôi vẫn lặng thinh. Nếu không vì lời trót hứa với Hồng, chắc chắn là tôi đã ôm ghì thân thể Tuyết và chúng tôi trở thành là một. Tôi phải nói gì cho Tuyết cảm thông? Tuyết đã rất chân tình thì sao tôi lại dối trá. Tôi phải nói sự thật. Giọng Tuyết vẫn hăm hở, nhiệt thành:

– Cho dù anh có đang yêu ai khác cũng không làm em buồn phiền hơn. Điều em cần là sự hiện diện thực sự của anh trong đời em và cho dù là sự hiện diện không thường trực.

Tôi xoay người nằm nghiêng, nhìn sâu vào đôi mắt mở to của Tuyết. Khi yêu, người ta có thể khùng đến thế sao? Bằng lòng làm vợ vô điều kiện! Nhưng với tôi, tôi không thể làm chồng kiểu này. Tôi không muốn thiếu thủy chung với Hồng. Tôi muốn sống cuộc đời chồng vợ trong sáng minh bạch và tận tình cho nhau.

– Hay là anh đã có vợ?

Tôi đã ngờ rằng Tuyết sẽ hỏi câu đó. Điều kiện làm chồng quá dễ dãi mà tôi cứ ngậm miệng ăn tiền thì không thể có kết luận khác hơn. Tôi nằm ngửa trở lại, mắt nhìn trần nhà vàng ố. Có cái gì động đậy ở cuối trần, góc bên phía Tuyết. Con thằn lằn. Phòng ngủ của Tây, lại ở ngay thủ đô mà vẫn có thằn lằn…

– Anh Bằng, anh có vợ rồi hả?

Phải nói một lần cho xong. Phải sống thật thà với chính mình. Phải tạo một bức tường giữa hai thân xác đang quá gần gụi. Tôi lựa từng chữ:

– Nói cho đúng thì chưa nhưng rồi sẽ có…

Tuyết buông một tràng cười ròn rã. Mãi một lúc Tuyết mới nói được:

– Anh đùa có duyên ghê! Sống với anh, chắc không bao giờ biết buồn…

– Sự việc không giản dị như em… cười! Hiện tại anh chưa có vợ nhưng mà như đã có…

Tuyết ngưng ngay nụ cười:

– Nghĩa là cô nào đó đang mang trong bụng đứa con của anh?

– Không! Hoàn toàn không. Mà là do một lời hứa.

Tôi thư thả kể hết cho Tuyết nghe sự việc diễn ra giữa tôi và Hồng, trường hợp nào tôi quen nàng và chuyện hứa hẹn trong chuyến công tác Nha Trang vừa rồi. Tuyết chăm chú nghe một cách say sưa. Tôi dứt lời, đúng lúc nước mắt nàng cũng bắt đầu tuôn ra. Rồi nàng khóc nức nở, mặt vùi trong gối, đôi vai rung động. Tôi lại xoay nghiêng, chồm lên hôn nhẹ lên tóc nàng, thì thầm:

– Đừng khóc! Em khóc làm anh muốn khóc theo. Anh tin mọi sự đều do định mệnh. Nếu hôm trước anh đừng tránh né em, được nghe em tỏ ý sớm hơn thì chắc anh đã không tìm gặp lại Hồng. Có thể nói, cho tới mới đây trở lại Nha Trang gặp lại Hồng, anh gần như hoàn toàn quên Hồng. Anh hứa cưới Hồng vì lúc đó anh nghĩ em đã là của Tâm, và vì cái tình của Hồng dành cho anh quá thủy chung. Anh đã hứa bằng tất cả tấm lòng…

Tuyết vẫn tức tưởi. Tôi cố tìm lời lẽ để xoa dịu nỗi đau của nàng. Tôi úp mặt tôi vào má nàng. Nhữn ngọn tóc bay vào mũi nhồn nhột. Mùi da thịt thơm lừng. Tay tôi choàng ngang lưng nàng xoa nhè nhẹ bờ vai. Sự tiếp xúc giữa hai làn da trần trụi xóa sạch mọi lời an ủi vừa hình thành trong trí. Tuyết sửa thế nằm nghiêng, mặt nàng gần chạm mặt tôi, cất giọng rầu rĩ, tủi thân:

– Cám ơn anh đã thố lộ chân tình. Đúng cái số em là số… ăn mày. Em cam phận. Chỉ xin một đặc ân cuối cùng. Nếu số mệnh đẩy đưa anh gặp lại Hồng thì số mệnh cũng đây đưa em kề cạnh anh đến mức thế này. Hồng được may mắn suốt đời có anh. Hãy cho em tận hưởng giây phút còn được bên anh như một may mắn cuối cùng.

Nói dứt, không cần tôi ừ hữ, Tuyết tung chăn, áp nguyên thân nàng lên thân tôi. Nàng hôn tôi tới tấp. Tôi trân người chịu trận. Nhưng tôi không phải là một ông thánh sống. Có là thánh sống thì cũng đầu hàng. Tôi cố nghĩ đến Hồng như một thành trì cuối cùng. Mắt tôi mở to như muốn thấy nàng hiển hiện trước mặt. Nhưng tôi chỉ thấy con thằn lằn lúc này đang rình con thiêu thân. Nó nhích tới thật chậm, nhẹ nhàng.

Tôi cảm thấy hai tay tôi đã vòng ôm lưng Tuyết. Chắc rồi tôi sẽ chẳng còn hơi sức mà chống trả cuộc tấn công đang đến hồi quyết liệt. Thôi thì hãy để cho rũi may định đoạt. Nếu con thiêu thân thoát khỏi con thằn lằn, tôi sẽ tung mình chạy khỏi Tuyết.

Con thằn lằn lại nhích tới, nhích tới. Con thiêu thân vẫn nằm yên như tôi đang nằm. Rồi con thằn lằn cũng nằm yên. Nhưng thế nằm của nó cho thấy nó sắp sửa tung đòn quyết định. Thân hình nó cong lại, cái đầu ngóc cao rình rập, thèm khát. Chợt vụt như tia chớp, con thằn lằn phóng tới. Con thiêu thân biến mất trên nền vôi ngà, chỉ còn cái đuôi ngoe ngoảy đôi lần trước khi mất dạng ở chóp mỏm con vật tấn công…

Tôi lật Tuyết nằm ngửa và đứng thẳng người nhìn chầm chập vào thân thể trần truồng. Tuyết mỉm cười, mời mọc. Người tôi hừng hực nóng. Rồi tôi như con thằn lằn phóng tới con mồi….Tuyết thật cuồng nhiệt, tuyệt dịu, tận tình buông thả. Tôi đã có lúc nghĩ rằng có được một người vợ như Tuyết thì không còn gì ngon lành hơn!

Khi cả hai chúng tôi nằm thở dốc, tôi sực nhớ cái bẫy Tuyết giăng ra. Tôi đùa cợt thăm dò:

– Nhớ ngày xưa mới ôm ấp sơ sơ, em đã hớt ha hớt hãi lo sợ có mang. Bây giờ em dữ hơn sư tử, bất kể trời đất…

Tuyết cười, tràn trề hạnh phúc:

– Xưa khác, chừ khác. Chừ có mang em càng mừng…

Tôi trợn mắt nhìn Tuyết, kêu khổ thầm. Giờ đây chính tôi lại là người lo sợ. Nhỡ ra…

– Đừng sợ mất vui, anh Bằng! Có mang, em cũng dấu cả anh lẫn Hồng. Em thừa sức nuôi con em.

Thật tình, đến thời điểm này có sợ cũng đã quá trễ tràng. Đã trót thì trét. Chúng tôi quần nhau, quấn quít nhau đến gần sáng thì cùng thiếp đi.

Khi tỉnh dậy, tay tôi quờ quạng tìm Tuyết nhưng chỗ nằm của Tuyết trống không. Tôi nhảy khỏi giường lục lạo mọi chỗ. Quả là Tuyết đã biến mất. Trên tấm gương ở bồn rửa mặt hai chữ “Vĩnh biệt” đỏ chói viết bằng thẻ son môi. Tôi nghe đắng ở miệng. Sao lại vĩnh biệt? Tuyết đã chẳng cho tôi những điều kiện dễ dãi để làm chồng nàng. Chẳng lẽ tôi chỉ được làm chồng nàng vỏn vẹn một đêm? Tôi thèm một điếu thuốc lá. Một mảnh giấy đặt đưới gói thuốc. Tôi hối hả mở đọc:

“Anh sẽ chẳng bao giờ gặp lại em và đừng tìm em vô ích. Cám ơn anh đã yêu em hết mình và đã cho em những giờ phút thần tiên. Em đành lòng trả anh về với Hồng vì quả Hồng xứng đáng được như thế. Em từ bỏ ý định tham lam chiếm giữ một phần đời của anh. Em sẽ rất hạnh phúc nhưng anh không hoàn toàn hạnh phúc. Mà nếu anh có phần nào đau khổ thì lại là điều em không muốn thấy. Em có biết Hồng và gia đình Hồng. Đó là một gia đình thế tộc, đạo đức. Bản thân Hồng cũng không có một lời ra tiếng vào từ lũ con trai trời ơi đất hởi của trường chúng mình. Hồng xứng đáng hưởng anh trọn vẹn! Và em ước mong anh cưới Hồng càng sớm càng hay. Em từng chờ đợi nên rất hiểu cái khổ đợi chờ… Một đêm với anh là đủ cho em hạnh phúc suốt đời. Một đêm với anh cũng là mở đường cho tương lai của em. Vĩnh biệt!”

Tuyết không còn khùng mà đã hóa điên. Khi yêu người ta có thể điên đến thế sao? Yêu như điên rồi hoan hỉ nhường trọn người mình yêu cho kẻ khác? Tôi đọc mảnh giấy lần nữa và thở dài. Dù còn ham hố nuối tiếc, tôi cũng đành thầm cám ơn Tuyết đã cư xử quá đẹp. Có lẽ trong đời tôi, tôi cũng không bao giờ quên được Tuyết. Tôi mặc lại quần áo rồi xuống trả phòng, vừa kịp hạn chót 10 giờ. Tôi cuốc bộ đến rã rời về đến tàu nửa giờ sau. Vì còn giờ phép, tôi chui thẳng vào giường và mê man ngủ.

Tiếng còi điện rền vang giật ngược khiến tôi thức giấc. Tôi nhìn đồng hồ trên vách: 13:30. Nhận ra còi nhiệm sở tác chiến nhịp đôi “tích tích, tích tích”, tôi tỉnh hẳn người. Rồi tiếng chân chạy rầm rập. Tôi bật khỏi giường, cùng với Hạm phó, Hải, Tâm mặc vội bộ quân phục. Chúng tôi chạy nhanh vào nhiệm sở. Nhiệm sở của tôi là hai khẩu đại bác 20 ly hữu hạm sân lái. Tôi đeo điện thoại nội bộ. Lệnh từ đài chỉ huy chỉ thị tác xạ hai chiếc phi cơ đang quần trên không trung. Tôi ra lệnh hai khẩu súng khai hỏa. Cùng lúc toàn bộ các khẩu khác của các tàu đang hiện diện nổ đồng loạt. Tiếng nổ ầm ầm dòn tan hòa cùng tiếng nổ lớn hơn nhưng thưa hơn của khẩu 40 ly đôi trước mũi. Vô số đám khói bùng vỡ quanh hai chiếc phóng pháo cơ do các đầu đạn tự hủy khi không trúng mục tiêu. Hai phi cơ càng lúc càng lên cao nhưng không rời khu vực. Các nhân viên còn lại hăng hái chuyển đạn từ hầm đạn lên các ụ súng. Sau chừng mười lăm phút tôi được lệnh ngưng tác xạ. Tất cả các chiến hạm khác cùng đồng loạt tuân hành. Từ phía thành cộng hòa và đâu đó không xa, tiếng đại liên và súng nhỏ vọng về từng loạt. Nửa giờ sau, dù súng trên bờ vẫn nổ, hạm trưởng cho lệnh giải tán, các khẩu súng được bao bọc lại cẩn thận.

Trong bữa cơm chiều ngày 1 tháng 11 năm 1963, hạm trưởng thông báo diễn tiến đảo chánh của Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng. Hải quân thoạt tiên chống đối nhưng sau ủng hộ. Các lực lượng đảo chánh vẫn đang chạm súng với lực lượng phòng vệ phủ Tổng thống. Khoảng chín giờ tối hạm trưởng rời phòng họp sĩ quan vào buồng riêng. Tôi vội vã thót ngay lên giường tiếp tục giấc ngủ bỏ dỡ.

Khi tôi thức đậy, có tin vị Tư lệnh Hải quân đã bị hạ sát vì lòng trung thành với Tổng Thống. Sau đó tôi được thêm tin là chính Tổng Thống cũng bị giết sau khi đầu hàng.

Sau hơn sáu tháng làm người lính biển, tôi ngẩn ngơ trước sự mất mát quá bất ngờ, quá to lớn và quá lạ lùng. Tôi viết thư cho Hồng, nói lên cảm nghĩ của tôi và tôi báo cho nàng là sau lá thư này cho tới chưa biết đến bao giờ tôi không còn lòng dạ nào viết được những lời yêu thương …

***


Chương 12


Từ trên con đường tráng nhựa dẫn xuống cầu bắc, chiếc thiết vận xa đầu tiên quay phải một phần tư vòng, hùng hổ lăn xích ngang qua một thửa ruộng vừa gặt xong, rồi quay trái chín mươi độ tiến về chiếc hải vận hạm đang ủi bãi. Nó chúc mũi xuống bờ sông, xông xáo chui vào đám lau sậy dày đặc để rồi nằm lỳ trong đó. Nó nhìn cái cửa đổ bộ đang mở rộng chỉ còn cách mươi thước mà tức mình vùng vẫy nhưng càng cố gắng càng bị lún sâu.

Hạm trưởng châm điếu thuốc, rít liền mấy hơi rồi khoanh tay nhìn dọc theo bờ sông, những nơi mà suốt một tiếng qua ông đã lần lượt cho chiến hạm ủi vào để thám sát. Cả một đoạn sông khoảng khoát tưởng chắc ăn nhưng nền đất lại quá mềm không chịu nổi sức nặng của chiến xa. Cái nơi trông lý tưởng nhất giờ đây cũng không dùng được. Ông cũng đã ngắm nghía các bãi xa hơn nhưng bên trên lại là vườn xoài vườn mận hoặc đầy những luống rau màu mỡ xanh tươi.

Hạm trưởng nhìn sang chiếc ponton của cầu bắc gần đó, rồi dõi mắt theo dòng nước, rồi ngắm lá cờ đang bay phần phật. Rõ ràng là ông đang ngại ngần. Ngay từ trưa, khi gặp nhau, vị chi đoàn trưởng đã đề nghị ông ủi vào ponton đầu cầu bắc. Ông bảo bắt dân chúng đợi chờ lâu lắt là thất nhân tâm. Hai nữa, không phải dễ gì mà ủi vào đó. Tôi từng được ông hạm trưởng tiền nhiệm nhiều lần huấn luyện cặp cầu với dòng nước ngược và từng được tập dượt ủi bãi với nhiều hướng gió nhưng chưa từng được hướng dẫn ủi vào một ponton nằm lơi khơi ngoài lòng sông. Tuy vậy, khi nhìn những chiếc bắc dềnh dàng đều đều vào ra thong thả, tôi cho rằng với một chiến hạm có cỡ nhỏ hơn ắt hẳn… dễ ăn hơn.

Đột nhiên, hạm trưởng quay lại nói mấy chữ ngắn ngủi nhưng đủ gây cho tôi một ngạc nhiên lớn:

– Đành liều vậy!

“Đành liều vậy”, tôi thầm nhắc lại mà không hiểu sự tình. Tôi cũng không hiểu liệu ông hạm tiền nhiệm có thốt ra câu đó không! Tôi nhìn hạm phó Được. Anh nhún vai, như là một cách đồng ý với hạm trưởng. Tôi thấy nóng mặt nhưng tự khuyên bình tâm, rồi ra sự việc tự nó sẽ phô bày. Tôi thì thấy dễ nhưng hai xếp đều cho là liều. Tôi đang học để chuẩn bị làm hạm phó mà cũng để một ngày trở thành hạm trưởng. Tôi phải kiên nhẫn học hỏi từ cả hai vị này dù không ưa thích cả hai và dù không mấy đặt lòng tin.

Đương kim hạm trưởng về thay ông thi sĩ hạm trưởng đúng hai tuần sau ngày vị Quốc trưởng đăng quang 24 tháng 10 năm 1964. Tân Quốc trưởng là một trong những chính khách được chính chiến hạm này rước về từ Côn Sơn ngay sau đảo chánh thành công. Đảo chánh biến quan nhanh chóng thành tướng và biến người tù thành người lãnh đạo.

Tôi thích ông hạm trưởng thi sĩ qua cách ông cư xử tế nhị, thân tình và qua cách ông tận tâm vui vẻ hướng dẫn hải nghiệp. Còn ông hạm mới về thì khá lè phè kể cả lè nhè. Khác với ông tiền nhiệm thích giữ nề nếp mẫu mực, ông hạm tân đáo cho phép nhân viên mặc áo thung, mang dép bất kỳ lúc nào sau khi tàu rời bến. Mọi người đều thích sự thay đổi dễ chịu này nhưng cái giọng lè nhè ê a của ông đã xóa đi phần nào niềm kính nể dành cho ngôi vị của ông.

Theo dư luận thì ông được xếp vào hàng hạm trưởng giỏi. Ông tốt nghiệp khóa 5, trước tôi sáu khóa. Lên lon thì trung bình nhưng chức vụ thì tiến nhanh. Ông hẳn phải thực sự tài ba mới được Bộ tư lệnh tin tưởng giao quyền chỉ huy liên tiếp hai chiến hạm. Làm hạm trưởng chiếc này có cấp số thiếu tá, thì chẳng mấy hồi cầu vai áo ông rực vàng ba gạch.

Tôi cũng chẳng ưa gì hạm phó Được dù làm việc chung với anh từ khi mới đổi xuống tàu. Anh ít nói, tính tình khắc khe mà tác phong thì lúc nào cũng nghiêm túc. Dùng theo đặc ngữ hải quân thì gọi là hắc ám. Như việc tính tiền ăn và nợ cuối tháng. Tất cả chi tiêu và nợ nần đều được ghi chi tiết trong sổ sách. Với hạm trưởng hay các sĩ quan khác, tôi chỉ trình tổng số chi tiêu và tổng số nợ mượn. Nhưng với hạm phó hắc ám thì phải chép lại đầy đủ vào mảnh giấy có ghi rõ ăn cơm ngày nào, mượn nợ ngày nào…

Trên tàu có hai vị chỉ huy thì tôi không ưa cả hai. Thêm một việc đáng buồn khác là các sĩ quan đàn anh mà tôi quý mến đều đã ra đi: Ông hạm phó Hào, ông cơ khí trưởng Hải, ông bạn thân Tâm. Còn tiếc nuối gì mà ở lại? Tôi cũng đã phục vụ hơn 18 tháng trên chiến hạm này rồi, mọi thứ coi như thành thạo. Đi nơi khác để còn học thêm nữa chứ.

– Thiếu úy Bằng nghĩ sao?

Tôi giật mình khi nghe cái giọng lè nhè bất ngờ nhắm vào tôi. Tôi lúng túng hỏi lại:

– Nghĩ về việc gì, thưa hạm trưởng?

– Thì việc ủi vào đầu cầu bắc.

Tôi nói lên sự thật chính mắt tôi quan sát nhiều lần:

– Thưa hạm trưởng, tôi thấy chiếc bắc ủi vào chiếc poton lần nào cũng đẹp!

Giọng ông có phần gắt gỏng:

– Dĩ nhiên là phải đẹp. Sở trường của họ mà!Anh chịu khó có chút nghĩ suy! Chiến hạm không phải là chiếc bắc và cái cầu đó không làm ra cho chiến hạm ủi vào.

Thấy tôi còn ngơ ngẩn, ông chép nửa miệng:

– Tôi sẽ tuần tự giải thích…

Ông ra lệnh đóng cửa đổ bộ, cho lệnh kéo neo và lùi tàu. Đến giữa sông, ông cho tàu ngưng máy và chậm rãi hỏi tôi:

– Anh thấy nước thế nào?

-Thưa nước ròng.

– Nước ròng thì ai cũng thấy được. Tôi muốn hỏi về cường độ.

Tôi nhìn một đám lục bình trôi lướt qua một thân cây trên bờ:

– Thưa nước ròng mạnh.

– Đúng! Nước đang ròng mạnh. Còn gió thì thế nào?

– Thưa gió rất mạnh.

– Gió rất mạnh, đúng lắm! Và ai cũng thấy được. Nhưng đó không phải là điều tôi muốn hỏi. Hải quân, khi nói tới gió là phải kèm theo hướng. Cái tôi muốn hỏi là gió hướng nào nếu ta ủi vào đầu cầu?

Tôi ngước nhìn chiều bay của lá cờ lúc chiến hạm đang xuôi dòng. Tôi đáp:

– Khi ủi vào ponton, gió sẽ thổi ngang tả hạm.

Ông gật đầu:

– Nước đẩy mạn tả, gió cũng đẩy mạn tả, tàu sẽ “bay” như chiếc lá.

Ông còn lèm bèm câu gì đó khi nhìn chiếc cầu Bắc và ra lệnh cho máy tiến xuôi dòng. Lúc gần ngang cầu, ông nhìn tôi, ra vẻ thú vị:

– Nào, bây giờ hãy nhìn vào chiếc ponton, anh thấy sao?

Tôi kinh ngạc về sự biến dạng của chiếc ponton. Ở cách xa khoảng ba trăm thước, nó trở nên nhỏ bé đến nỗi nếu không có nhịp cầu sơn đen có thể tôi đã tìm ở một hướng khác. Tôi nghe câu hỏi lặp lại một cách nóng nảy của hạm trưởng:

– Anh thấy sao?

– Thưa với mục tiêu nằm lơi khơi nhỏ bé như vậy, với gió ngang hông thổi mạnh, hợp với sức đẩy của dòng nước, quả thật khó mà điều khiển chiến hạm tiến đúng vào ponton.

– Cứ cho là chiến hạm vào đúng ngay ponton, thì còn gì khác phải quan tâm?

Tôi cố moi óc, cuối cùng lắc đầu:

– Thưa sau đó thì… nhận thiết vận xa!

Hạm trưởng lắc đầu, cười mỉa:

– Được thế thì còn gì bằng!

Hạm trưởng quay sang hạm phó Được:

– Nè ông hạm trưởng tương lai, nếu ông đang là hạm trưởng, ông sợ điều gì nhất?

Được nảy giờ vẫn giữ im lặng, lên tiếng:

– Thưa, chiến hạm có thể ủi sập cầu!

Hạm trưởng reo lên: s

– Đúng như vậy! Chỉ một sơ sảy là sập cầu. Nên nhớ chiếc bắc rộng hơn chiến hạm gấp mấy lần nhưng ngắn hơn, ít bị tác động của sức gió và dòng nước. Thuyền trưởng thì hành nghề mỗi ngày chỉ với mỗi công việc ủi vào ponton. Máy của nó đơn giản hơn máy chiến hạm nên điều khiển tăng giảm nhanh chóng, dễ dàng. Tấm sắt đổ bộ của nó rộng hơn, dài hơn, bám vào cầu chắc hơn. Thử tưởng tượng, với gió và nước mạnh thế này, con tàu đang hùng hục phóng vào mà lệnh cho máy ngưng hoặc lùi không được thi hành kịp thời hoăc sai lầm… Hoặc neo không ăn, cửa đổ bộ không bám, con tàu trôi tấp vào các chiếc bắc khác…

Thì ra đây là lý do khiến ông thốt lên “Đành liều vậy!” Bây giờ tôi thấy sự việc rõ hơn và đồng ý là có… liều! Tuy nhiên mọi sự diễn ra không bi quan như ông tưởng dù ông phải ủi đi ủi lại đến bốn lần. Lần đầu ông ước lượng sai tác dụng của dòng nước và sức gió. Lần thứ hai, cửa đổ bộ hạ xuống chậm trễ không giữ được mũi tàu bị trượt khỏi ponton. Lần thứ ba, neo sau không cắn đất nên không giữ được lái tàu bị đẩy trôi. Phải mất hai tiếng đồng hồ để vào đúng vị trí nhận hàng nhưng vẫn đủ để hạm trưởng hài lòng. Tôi cũng gặt hái được nhiều kinh nghiệm vận chuyển thật quý báu. Chỉ tội cho dân phải đợi chờ qua bắc suốt thời gian đó.

Sau bữa ăn vội vàng, chúng tôi rời Cao Lãnh lúc nhá nhem tối. Trong năm qua, chiến hạm có dịp trở lại Năm Căn đến ba lần, có hôm đi ngày, có bữa đi đêm. Tôi đã khá quen với các địa thế thủy đạo của từng đoạn sông Cửa Lớn, Bồ Đề và tin rằng mình có thể tự lái ra vào mà không cần sự hiện diện của hạm trưởng. Nhưng lần này, cả một giang trình hoàn toàn mới lạ và rất dài. Nó đi qua bốn con sông nuôi sống miền Tây: Cửa Tiểu, Tiền Giang, Vàm Nao và Hậu Giang.

Không như sông Cửa Lớn, Bồ Đề, thủy trình từ Cao Lãnh đi Long Xuyên gần như hoàn toàn an ninh. Đây là vùng ảnh hưởng Phật giáo Hòa Hảo và cộng sản ít dám héo lánh đến trà trộn hoạt động. Ai mà đội chung trời với kẻ đã hạ sát giáo chủ của mình. Dù biết vậy, hạm trưởng vẫn ra lệnh giang hành kín và sẵn sàng hỏa lực… Ông cho máy tiến ba, một bậc thấp hơn so với tốc độ đường trường. Nếu ước tính với dòng nước ngược, chỉ độ 14 cây số một giờ. Thiếu úy Tiến lãnh phiên đầu từ 8 giờ tối đến nửa đêm. Tôi từ nửa đêm đến 4 giờ sáng và thiếu úy Danh tiếp sau.

Nếu là ở biển, khi chiến hạm vào hải trình an toàn vạch sẵn, hạm trưởng hạm phó có thể rời đài chỉ huy và… phè cánh nhạn. Nhưng ở trong sông, hai vị là những người vất vả nhất. Riêng với ông hạm trưởng mới nhậm chức này thì càng vất vả hơn. Làm sao ông có thể an tâm khi chưa nắm được khả năng hải hành của các các sĩ quan dưới quyền mình. Vì vậy, dù hạm phó đang ở đài chỉ huy, ông hạm trưởng vẫn chiếm vị trí tốt nhất để sẵn sàng điều chỉnh mệnh lệnh do hạm phó ban ra. Hạm phó, cũng như tôi, nhân đó mà nghiền ngẫm, học hỏi.

Trời đã tối hẳn. Dòng sông trước mặt chỉ là khoảng không gian đen ngòm. Con tàu tiến tới như người mù. Chiếc radar bị hỏng bóng phát hình còn chờ hàng thay thế. Tất cả rủi may giang hành chỉ dựa vào mắt thường. Thiếu úy Tiến có lẽ là người lo lắng nhất. Dù hạm trưởng là sĩ quan thâm niên hiện diện anh vẫn trách nhiệm phát giác mọi vật cản trên đường di chuyển. Mắt anh không lúc nào rời khỏi chiếc ống dòm. Trợ giúp anh là hai quan sát viên, một trung sĩ, một hạ sĩ. Tôi không trách nhiệm gì, nhưng không muốn bỏ lỡ cơ hội để học hỏi. Những bóng đen lù lù của hai hàng cây bên bờ lùi nhanh về phía lái tàu. Lẫn vào đó là những điểm sáng vàng úa của các ngọn đèn dầu. Đếm những điểm sáng là suy ra mật độ dân cư.

Chợt tiếng la to của thiếu úy Tiến:

– Báo cáo có đèn phía trước mũi.

Hạm trưởng hạm phó cùng lúc vội nâng ống dòm. Hạm phó ra vẻ sành sỏi:

– Làm gì có hàng đáy ở đoạn này, sáng tác mới chăng?

Tiếng lèn èn của hạm trưởng:

– Hai máy tiến hai.

Chiến hạm sựng lại rồi giảm dần tốc độ. Giọng thách đố của hạm trưởng vang lên:

– Nào! Ông chuẩn hạm trưởng sẽ tránh thế nào đây?

Tôi nâng chiếc ống dòm mượn của quan sát viên. Trong vùng lờ mờ phản ánh từ các vì sao, một hàng đáy chắn ngang mũi tàu. Thật khó mà quyết định cho chiến hạm lách qua phải hay trái. Càng mù tịt bên nào cạn bên nào sâu. Bên nào cũng đủ khoảng trống cho chiến hạm băng qua nhưng mũi thì đang hướng vào nửa phần bên trái.

Hạm phó ra lệnh cho tàu hướng qua phải. Chiếc ghe cột ở trụ thứ ba vừa lên đèn, cho thấy đang lắc lư dữ dội. Hạm phó cho lệnh ép sát cột cuối cùng. Những chòm cây có hình thù quái dị như vươn tay bám lấy con tàu. Sóng vỗ sạt sào khi ập lên bờ. Tôi run giọng:

– Hạm phó lái ghê quá!

Giọng Được kiêu căng:

– Vậy mới lên hạm trưởng được chứ!

Giọng càm ràm của hạm trưởng:

– Sao không đợi tàu đụng chìm rồi hãy thắp đèn! Mấy ông làm nghề hạ bạc ông nào cũng như ông nào, thích giỡn với tử thần!

Tôi dọ hỏi:

– Theo lời dặn của hạm trưởng Hảo trước đây, nếu thấy không thể tránh kịp hàng đáy cá thì cho tắt máy để tàu lướt qua. Sao ta không thể làm như vậy lúc này?

Trời quá tối, tôi không nhìn thấy nét mặt lúc ông giải thích:

– Đó không phải là giải pháp hay nếu ta xét còn đủ thì giờ để tránh cho dù tàu có phải ủi vào bờ. Đâm vào đáy cá, không chỉ dân thiệt hại mà chân vịt tàu cũng dễ quấn lưới. Để chân vịt quấn lưới là biểu hiệu của một hạm trưởng bất tài. Mắc cạn, tàu rút ra được nhưng làm mất lòng dân là khó lấy lại. Tôi thích các sĩ quan đặt câu hỏi. Thiếu úy Tiến có thắc mắc gì không?

– Thưa, tôi đã hiểu rõ, cám ơn hạm trưởng.

– Anh chưa rõ đâu. Ông hạm phó, hãy giải thích cho các sĩ quan hiểu vì sao anh chọn lách qua phải trong khi bên trái gần hơn?

Giọng nghiêm túc của Được vang lên:

– Tôi nhìn kỹ thì thấy bờ bên phải được chừa khoảng rộng hơn. Chừa như vậy hẳn là dành cho thương thuyền.

Hạm trưởng reo vui:

– Tôi cũng chọn bên phải, dù bên trái không có gì chứng tỏ mình không qua được. Nếu cạn, ghe câu đã cột bên trái để la hét hoặc quơ đèn báo động.

Tôi mỉm cười ngắm vầng sáng ở chân trời báo hiệu trăng sắp lên. Hạm trưởng nói vậy thì nghe vậy chớ chưa chắc mấy ông hạ bạc có hưỡn mà la hét báo động. Thậm chí đến việc đốt đèn trên ghe để bảo vệ sinh mạng chính họ mà họ còn không làm. Vài ngôi sao nhấp nháy xa thẳm bên trên nền đen của rặng cây. Tôi nghe hạm phó cho lệnh tăng máy. Anh vẫn giữ ống dòm dán chặt vào mắt. Khi đương phiên, tôi cũng phải làm như vậy. Không có gì khổ hơn là nhìn chằm chằm qua ống dòm trong bóng đêm mù mịt để tìm cái gì không biết được. Nhìn qua ống dòm, nhất là qua mưa đêm là cả một cực hình. Chỉ trong một thời gian ngắn mắt sẽ mõi đừ, đầu nhức như búa bổ. Tuy nhiên không ai dám rời ống dòm. Để chiến hạm lâm nạn đồng nghĩa với để hải nghiệp lâm… đại nạn! Nhưng tôi chưa lên phiên thì tội gì phải hành xác. Trăng sắp trãi ánh vàng lên chiếc tàu thong dong như chiếc du thuyền. Không đi Hải quân thì làm sao tôi được hưởng những phút êm ả mộng mơ đến thế này.

Hạm phó cho giảm máy, ép sát chiến hạm vào bờ, nhường hải trình an toàn cho đoàn tàu kéo nhiều xà lan dài thường thược. Tiền Giang là thủy trình chính đưa lúa gạo tiếp tế thủ đô Sài Gòn và cũng là con sông huyết mạch đưa từng đoàn thương thuyền lên tận thủ đô Nam Vang. Đây còn là con sông bận rộn đêm ngày với những chiếc ghe chài chở khẳm đến gần chìm…

Mặt trăng tròn vạnh đã nhô lên khỏi chân trời, đang loang loáng chạy giữa các vòm cây. Đó là một hình ảnh lạ mắt so với khi trăng nhô lên khỏi mặt biển. Nhìn bao quát, quang cảnh đêm trăng ở đất liền đẹp hơn. Ở biển, ánh trăng chỉ tạo một đường sáng lung linh mờ ảo chạy dài tới chiến hạm, còn chung quanh chỉ là không gian mông lung đen tối. Trăng ở biển xa xăm và cô đơn. Trăng ở đất liền gần gụi và chia sẻ. Nó thắp sáng dòng sông. Nó xóa tan những hình thù quái dị. Nó che mờ các vì sao cho mây trắng hơn. Nó đưa vẻ man mác lên vùng trời bao la cho thêm nét êm ả, thanh bình.

“Thanh bình”, tôi thầm nhắc lại hai tiếng đó mà lòng chua xót. Mấy năm thanh bình của miền Nam đang dần tàn lụi trước quyết tâm nhuộm đỏ bằng máu đổ thịt rơi từ miền Bắc. Chỉ vì một một thế giới đại đồng không tưởng mà họ đan tâm gây cuộc huynh đệ tương tàn. Chỗ này, chỗ nọ đang thành mật khu, nơi dấu súng đạn. Họ công đồn đả viện, họ chơi chiến thuật biển người. Họ pháo kích trường học. Họ giật mìn xe đò. Họ đặt chất nổ lung tung. Đến bao giờ họ mới thấy lầm đường? Chừng đó biết tôi còn sống sót để lại được hưởng thanh bình?

Đột nhiên người tôi bị hất mạnh về phía trước, ngực va vào một góc cạnh nào đó đau điếng. Tôi ôm lấy chỗ đau, nhìn quanh quẩn. Tiếng hạm trưởng hét to:

– Hai máy ngưng.

Giọng đầy lo lắng của hạm phó:

– Bỏ mẹ, mắc cạn rồi!

Hạm trưởng cho lệnh máy lùi hết tốc lực. Chiến hạm khua động, run rẩy như con vậy khổng lồ bị mắc bẩy. Tiếng nước do hai chân vịt quay cuồng phát ra ào ào như thác đổ. Có hơn năm phút trôi qua mà đáy tàu vẫn bám đất không một chút lùi. Ông cho chuyển đổi máy tiến máy lùi, sai biệt vòng quay. Cách nào con tàu vẫn bướng bỉnh. Hạm trưởng cho tắt máy, trách nhẹ hạm phó:

– Anh quẹo hơi sớm. Lẽ ra anh phải chạy thêm một đoạn nữa rồi mới cho quẹo. Ngoài ra, nếu anh để ý, anh sẽ nghe triệu chứng sắp mắc cạn mà bớt máy kịp thời.

Hạm phó ngượng nghịu bào chữa:

– Thưa hạm trưởng, quả là tôi không nghe một triệu chứng bất thường nào. Vả lại, mấy năm trước, tôi từng qua chỗ này, cũng cho quẹo như thế.

– Chúng ta ở mùa nước đổ, ngã ba này là chỗ đất bồi, mỗi năm một bồi thêm. Lại đi ban đêm cũng khó mà ước tính giữa dòng hay lệch dòng. Hơn nữa anh quên mất tàu đang chở đầy thiết vận xa. Đây là bài học cho các anh nhớ. Khi chở nặng và gặp nước ròng, chỗ nào nghi ngờ thì phải giảm tốc độ.

Ông nghiêng người nhìn xuống dòng sông và chợt reo lên:

– Không phải nước ròng. Tính ra, chúng ta đang trong mùa nước nổi, hay nói cách khác là mùa nước đổ. Nước đổ, lại gặp trăng rằm thì không lâu, nhiều lắm nửa tiếng là ta có thể lại lên đường.

Tôi không biết ông dựa vào đâu mà nói chắc như đinh đóng cột. Mùa nước nổi thì đang ở cuối mùa. Trăng rằm thì cũng chỉ là một yếu tố của thủy triều. Đúng ra ông phải lật sách Almanac. Hay là ông thừa kinh nghiệm về thủy triều vùng đồng bằng Cửu Long? Hạm phó yên lặng nhìn ánh trăng đã lên chênh chếch. Tôi đoán là anh đang bất mãn với lời khiển trách. Anh đâu phải là sĩ quan đương phiên. Xét theo hải quy về quyền thâm niên hiện diện, hạm trưởng là người lãnh đủ. Ông đang hiện diện trên đài chỉ huy cùng hạm phó, cùng không ghi nhận triệu chứng sắp mắc cạn, vậy mà lại quy lỗi cho hạm phó. Một người thì cầu toàn, trọng nguyên tắc. Một người thì lèn èn, đổ vấy đổ vá, thì e tương lai khó thuận buồm!

Lại giọng lè nhè của hạm trưởng:

– Thôi đừng buồn ông hạm phó ơi! Tôi báo cho anh tin vui. Không có sĩ quan hải quân nào trước khi thành hạm trưởng mà không “cho” tàu mắc cạn vài lần. Chấp nhận giang hành là chấp nhận mắc cạn. Chính tôi cũng một lần mắc cạn ngay ngã ba quái quỷ này. Ai lái ca 12 đến 4?

Tôi lên tiếng:

– Tôi, thưa hạm trưởng.

Giọng ông trở nên thân mật mà tôi nghĩ là quá muộn:

– Anh và hạm phó nên xuống nghỉ ngơi. Tôi sẽ lái qua khỏi sông Vàm Nao rồi giao cho hạm phó lái đến Trà Nóc. Sông Vàm Nao khó chơi lắm. Một là nước chảy xiết và xoáy, rất khó lái. Hai là đáy cá chăng chằng chịt, dễ bá vào.

Tôi bật đèn tìm vị trí chiến hạm trên giang đồ. Cục gôm tượng trưng cho con tàu đang nằm trên bãi bồi ở ngã ba sông Vàm Nao. Tôi tắt đèn, nhìn về hướng làng Hòa Hảo. Đất thánh địa đang im lìm bên dưới vùng ánh sáng tỏa rộng. Thời còn tiểu học, tôi được được ba tôi đưa đến viếng một lần. Tôi chỉ còn nhớ lối đi nhỏ trồng đủ loại cây kiểng dẫn đến Tổ Đình là một ngôi nhà gỗ khá rộng khang trang. Phía đối diện bên kia Vàm Nao là quận lỵ Chợ Mới cũng đang im lìm bên dưới vòm trời ửng vàng.

Tôi nhìn đồng hồ. Hai cây kim chỉ số 22:54. Gần mười một giờ khuya. Còn một tiếng nửa mới nhận ca. Có lẽ cũng nên xuống kiếm cái gì dằn bụng và làm một ly cà phê cho tỉnh ngủ. Hạm trưởng đã ngửa người trên chiếc ghế tựa êm ái của ông. Sĩ quan đương phiên và các nhân viên vẫn đặt ống dòm quan sát. Tôi và hạm phó lặng lẽ rời đài chỉ huy. Qua phòng ăn sĩ quan, tôi bước vào và anh đi thẳng về phòng riêng.

Tôi mở tủ tìm gói mì trước khi bắt ấm nước và pha bình cà phê mới. Tôi ngồi bụm mặt định thần cho đến khi còi ấm nước báo sôi. Tôi vừa ăn mì vừa liếc qua xấp công điện. Không có tin tức gì đặc biệt cho chiến hạm, nhất là cho tôi. Vẫn mịt mờ tin thuyên chuyển. Tôi hút chưa hết điếu thuốc, nhâm nhi vừa được nửa tách cà phê thì nghe tiếng máy khởi động. Tôi thấy hạm phó lướt qua cửa chắc là đang lên đài chỉ huy. Đúng ra anh không cần phải làm thế. Hạm trưởng đã cho phép anh nghỉ ngơi. Nhưng tôi cũng sẽ làm như anh. Có ai “để” tàu mắc cạn rồi tỉnh bơ ngủ khi tàu đang cố gắng ra khỏi chỗ cạn. Vả lại, trong mọi trường hợp, hạm phó phải luôn luôn sát cánh với hạm trưởng để học hỏi và để thay ông khi cần. Một lý do khác, quan trọng hơn là có đến 80% cơ hội được lên hạm trưởng là do lời phê tốt của đương kim hạm trưởng! Tương tự, tôi có lên hạm phó hay không cũng tùy lời đề nghị của… hạm phó. Tôi uống ngụm cà phê chót, rít vài hơi thuốc cuối cùng. Vừa chạy trên các bậc thang, tôi vừa thầm phục kinh nghiệm của hạm trưởng. Ông tính toán đúng. Nước chảy xuôi ra biển nhưng nước vẫn dâng cao nhờ trăng rằm.

Tôi lên đến đài chỉ huy vào lúc con tàu bắt đầu quay mũi để xuôi dòng Vàm Nao. Mùa nước nổi, nước sông Tiền đổ dồn vào Vàm Nao tuôn ra sông Hậu. Chiến hạm đi xuôi dòng, tay lái mất đi nhiều hiệu tác, càng khó lái. Hạm trưởng đứng cánh mặt, hạm phó cánh trái của đài chỉ huy. Tôi đứng giữa, cạnh thiếu úy Tiến. Hai mươi phút nữa tôi thay Tiến.

Con tàu đã nằm xuôi theo dòng. Hạm trưởng giữ máy tiến hai. Chẳng bao lâu nó như lạc vào một rừng đèn, rừng cọc chừng như không có lối ra. Các hàng đáy được chăng ngang theo thế cài răng lượt. Vì vậy chiến hạm phải tốn thêm thì giờ chạy theo đường zigzag.

Sông Vàm Nao ngắn, chưa đầy tám cây số nhưng rộng và sâu. Rộng có đến gần cây số và sâu trung bình 17 thước. Tám cây số thì mất chừng nửa tiếng nhưng với cái trận đồ rắc rối này, không chừng phải cần cả giờ. Tiếng hạm trưởng vang lên trong không gian căng thẳng, lặng lờ:

– Hạm trưởng giao quyền chỉ huy cho hạm phó.

Tiếng Được khô khan:

– Đáp nhận.

Hạm trưởng trở về ghế ngồi nhưng thỉnh thoảng đặt ống dòm và nhắc nhở. Tôi hồi hộp theo dõi lệnh hạm phó đưa ra và phản ứng của con tàu.

– Quê thiếu úy Bằng ở đâu?

Câu hỏi bất ngờ của hạm trưởng làm tôi giật mình:

– Dạ, Châu Đốc.

– À, vậy là láng giềng gần! Có câu ca dao này rất tình: “Ngó lên Châu Đốc. Ngó xuống Vàm Nao. Sóng bổ lao xao. Anh thương em ruột thắt, gan bào. Biết em có thương lại chút nào hay không?”. Và câu này còn tình hơn nữa: Ở trên Châu Đốc, ngó xuống Vàm Nao.Thấy con cá đao nó nhảy nhào vô lưới. Anh ngồi chắc lưỡi. Không biết chừng nào mới cưới đặng em.” Thiếu úy Bằng có thương ai ở Vàm Nao chăng?

– Dạ không!

Tôi muốn thêm “ Thương toàn là dân miền Trung” nhưng thấy không thích hợp. Hạm trưởng lại tiếp:

– Với tôi, câu ca dao phải đổi Châu Đốc thành Chợ Mới. “Ngó qua Chợ Mới. Ngó lại Vàm Nao…” Bà xã tôi là dân Vàm Nao. Cũng nhờ vậy tôi biết một ít chuyện Vàm Nao. Tôi kể, nhưng không được phân tâm lái tàu.

Chúng tôi nhìn về phía trước, tai lắng nghe nhưng ông chưa kể. Dường như ông đang sắp xếp chuyện trước chuyện sau. Một lúc, lối nói ề à vang lên:

– Đầu tiên, tôi cần báo động rằng, những gì tôi sắp nói, tôi nghe từ thời còn học trò, thời còn qua lại Vàm Nao chơi cò cò với… bà xã! Tam sao thất bổn, kể lại không có gì bảo đảm như đã nghe. Các anh nghe qua rồi coi lại sách vở!

Ông lại ngưng, chậm rãi châm điếu thuốc, rít vài hơi. Cái lối rề rà của ông làm tôi nổi cơn thèm thuốc lá. Tôi cũng châm một điếu,vừa lúc tiếng còi đổi phiên vang lên. Tôi nhận phiên nhưng thiếu úy Tiến vẫn đứng chỗ cũ. Có lẽ anh cũng muốn nghe ông hạm kể chuyện Vàm Nao.

– Rất xa xưa, con sông này chỉ là con lạch nhưng do nhiều đàn voi di chuyển dẫm lên làm con lạch lớn dần. Rồi nước sông Tiền mùa lũ đổ tuôn qua sông Hậu làm bờ sạt lở rộng thêm. Ở đầu Vàm, phía sông Tiền, tức là gần nơi mình mắc cạn, nước xoáy mạnh nên nhiều cá lớn dữ dằn tập trung về đấy. Nhưng vì là thủy trình ngắn nhất nối sông Tiền sông Hậu nên ghe thuyền tấp nập đi qua. Nhiều ghe không may bị nước cuốn chìm và khi ghe chìm thì ít ai được sống sót. Khi nghe kể lại, không ai không nao lòng. Thuận tình, người ta đặt luôn là Vàm Nao.

Ông lại ngưng khi hạm phó ban lệnh vận chuyển tránh một đợt nhiều ghe chài đi ngược chiều. Trên mui ghe, đèn hải hành tỏ rõ, một bên là ngọn đỏ, một bên là ngọn xanh trông như một đoàn tàu. Không như trên sông Bồ Đề – Cửa Lớn, đa phần là ghe đánh cá, sông Vàm Nao dầy đặc đủ loại ghe tàu. Đôi khi có thêm những chiếc thương thuyền bề thế.

– Về nước xoáy, từng có ca dao cảnh giác: “Thuyền xuôi Châu Đốc, thả xuống Vàm Nao. Thẳng tới Ba Sao, coi chừng con nước đẩy”. Đến ông Bùi Hữu Nghĩa cũng phải ghi thành thơ: “Núi Sập sấm rền vang tiếng muỗi. Vàm Nao nước chảy đứt đuôi xà”. Còn về cá, cũng đã có câu: “Chiều chiều quạ nói với diều. Cù lao Ông Chưởng có nhiều cá tôm”. Đầu cù lao Ông Chưởng chính là Sông Vàm Nao. Huyền thoại về cá thì có nhiều. Như ngày xưa người ta nói Vàm Nao có lắm cá mập, cá sấu mà bây giờ không còn thấy. Lại còn có cá Nược biết nghe tiếng người, thường nổi lên lội đua với lũ trẻ tắm sông, khi đám trẻ ngổ ngáo lên tiếng thách đố. Ngày nay vẫn còn một số cá khổng lồ. Như cá Vồ, cá Tra dầu, có con nặng tới ba trăm ký. Một loại khác nhỏ hơn, có con nặng hai trăm ký, được mệnh danh là vua của những loại cá và được dân nhà nghề và gan dạ ưa thích lùng bắt. Chỉ cần bắt được một con trên trăm ký là vài tháng sống phây phả. Nó được đặt tên cá Hô có lẽ do cái miệng hô quá cỡ. Thịt nó rất ngon, chuyên trị lẫu “tả pín lù” và món cá xào với khóm. Đặc biệt nhất là cái bong bóng của nó, dân nhậu khó bỏ qua. Nổi danh không thua cá Hô là loại cá không có đối thủ dành cho món canh chua, ngon đến đổi người ta đua nhau đánh bắt đến gần tuyệt chủng. Loại cá này lớn nhất chừng mười lăm ký, có đặc điểm là khi còn sống chẳng những không tanh mà lại tỏa mùi thơm. Vảy có màu trắng bạc long lanh giống màu cỏ bông lau nên được đặt tên là cá Bông Lau. Một điểm khác khá lạ lùng là người ta chưa bao giờ đánh bắt được một con cá bông lau nào có chửa, hoặc tìm thấy trứng của chúng…

Ít nhiều cảm tình bắt đầu hình thành trong tôi. Cái vẻ bề ngoài lè phè xem ra chẳng đại diện chút nào cho cái bộ óc tưởng chừng chứa cả một kho tàng kiến thức miệt vườn. Tôi cũng sinh trưởng gần Vàm Nao như ông mà giỏi nhất cũng chỉ biết tên con sông và vài loại cá. Thậm chí còn không biết các giống cá này là sản phẩm của Vàm Nao. Lại càng không biết xuất xứ tên của chúng. Nói chi chuyện ca dao với huyền thoại. Tôi thấy mừng là rồi đây sẽ được ông cho biết thêm những chuyện dân gian của vùng sông nước Cửu Long.

Hạm trưởng ngưng kể, nhìn chăm chăm về phía trước. Vành trăng vằng vặc giữa vài đám mây đen chiếu xuống mặt sông tạo thành một đoạn rực vàng như xuyên qua lớp nước phù sa, như khuếch tán đủ soi hai bức tường đen chạy dọc hai bên bờ. Các hàng đáy đã thưa thớt. Hạm phó cho lệnh tăng máy. Anh bảo tôi:

– Đoạn nguy hiểm nhất đã qua, từ đây Thiếu úy Bằng lái được rồi.

– Đáp nhận.

Tôi lên tiếng mà lòng cảm thấy bất an. Các hàng đáy có thưa bớt nhưng nhất định là không có nghĩa nguy hiểm đã qua. Tôi ít có kinh nghiệm giang hành trên những dòng sông chộn rộn. Các hàng đáy thưa bớt cũng có nghĩa ghe tàu tăng tốc nhanh hơn và khó tránh hơn. Tôi nhìn hạm trưởng hạm phó mỗi người một cánh đài chỉ huy và mỉm cười trấn an. Hai bên tôi đang được cả hai xếp tả phù hữu bậc, thì lo chi cho mệt!

Mũi tàu đang hướng vào phần cuối của hàng đáy chạy dài sát bờ bên mặt nhô quá nửa sông. Tôi cho lệnh hướng qua trái, dùng độ nghiêng bánh lái nhiều hơn bù trừ xuôi dòng. Con tàu từ từ vượt sát cột ngoài cùng, bỏ trọn hàng đáy về bên tay mặt. Giữ thẳng con tàu giữa dòng được một lúc thì một hàng đáy khác hiện ra, đa phần nằm hướng bờ bên trái. Tôi lại ra lệnh cho tay lái nhiều về bên mặt để vượt qua. Trong cái lấp lánh bàng bạc của mặt nước, cây cột ngoài cùng của hàng đáy vươn lên khá rõ khiến tôi dần dần tự tin hơn và bắt đầu thấy thích thú. Giang hành ban đêm có khổ cực nhưng đó lại là một trắc nghiệm sinh động về khả năng hải nghiệp.

– Mình đang ở đâu, thiếu úy Bằng?

Tôi giật mình trước câu hỏi bất ngờ. Trong sông và ban đêm, làm sao biết chắc mình đang ở đâu! Chỗ nào cũng hình thù quái dị, chỗ nào cũng lem nhem như chỗ nào! Không có núi đồi, không có hải đăng thì lấy gì đo hướng. Vậy thì chỉ còn cách phỏng định. Căn cứ theo thời gian từ lúc ra chỗ cạn đến giờ là gần một tiếng, thì chắc cũng sắp đến cuối sông. Tôi nhìn phía mũi. Mặt sông còn mênh mang, tít mờ. Tôi chợt để ý vùng trời ửng sáng ở phía xa chếch sau tả hạm. Chắc chắn là đèn của quận lỵ Chợ Mới. Tôi bước vội đến chiếc la bàn, quay do hướng vùng sáng rồi kẻ lên giang đồ. Tôi nói:

– Thưa hạm trưởng, một hải lý nửa sẽ gặp sông Hậu giang.

– Cám ơn anh.

Thật hú vía, suýt nữa là bị chê trách. Hơn thế nữa, trường hợp này, câu “cám ơn anh” còn ngầm ý là lời khen. Thì cứ cho là thế, cho sướng!

Tôi cho lệnh quẹo trái để vào sông Hậu. Chiều rộng của khúc sông này cũng cỡ Vàm Nao, cũng nhiều hàng đáy cá nhưng không “loạn”. Tất cả gần như nằm một bên, y như trên sông Bồ Đề và Cửa Lớn. Một thủy trình được dành sẵn khá thênh thang. Những sợi thần kinh căng thẳng chợt chùng hẳn đi. Tôi bật đèn, lấy compa đo khoảng cách, phỏng định tốc độ. Con tàu sẽ đúng hẹn, không tệ! Máy cũng chỉ mới tiến ba, nếu cần thì tiến bốn. Nhưng chắc khó tiến bốn. Sông đổi khúc thì tiết trời cũng đổi thay. Mây đen bắt đâu kéo về nhiều hơn, rủ nhau từng lúc che mờ ánh trăng. Giọng rề rà của hạm trưởng:

– Đừng có mưa nghe ông. Ông mà mưa là hại nhau đấy!

Tôi ráng hiểu ngụ ý của câu nói. Radar không có mà gặp mưa to thì chỉ còn nước neo nghỉ! Neo nghỉ thì sẽ trễ nãi. Tôi dọ dẫm:

– Thưa hạm trưởng, gặp mưa, chắc là đến không kịp giờ.

Ông gật đầu, hờ hững đáp:

– Thì chắc cũng phải “lết” đến đâu hay đến đó. Neo tàu tránh mưa, mấy tay thiết giáp cười cho thúi đầu… Mà tàu mình đang đến đâu rồi thiếu úy Bằng?

– Thưa vừa vào sông Hậu.

– Tốt, mình sẽ đúng hẹn và phải đúng hẹn! À này, như ở đoạn sông này, anh làm sao định vị trí chiến hạm?

Tôi nhìn hai bên bờ. Trăng đã biến vào đám mây tạo mỗi bên bờ một dãy tường đen kịch. Tôi lại dọ ý:

– Thưa hạm trưởng, căn cứ vào thời điểm tàu vào sông Hậu rồi phỏng định theo tốc độ xuôi dòng…

– Đó là cách ẩu nhất! Trên giang đồ có ghi các điểm mốc đặc biệt để định vị trí. Chuyến về tôi sẽ chỉ cho, nếu anh muốn học.

Cái lối nói nghe thật sóc hông nhưng tôi cũng đành lả dả:

– Muốn quá. Cám ơn hạm trưởng.

Cảm giác hân hoan sắp học được điều mới lạ gây tôi thèm nhớ mùi thuốc lá. Tôi mò túi tìm kiếm.

– Anh cho tôi một điếu. Tôi hết thuốc mà làm biếng xuống phòng.

Tôi kéo nhô ra một điếu, đưa gói thuốc qua mời. Ông rút một điếu đưa lên môi. Tôi quẹt que diêm. Que diêm chưa cháy thì nghe tiếng ông la:

– Thuốc hiệu gì mà hôi dữ! Trả lại anh.

– Dạ, Bastos xanh quân tiếp vụ, thưa hạm trưởng.

– Hèn gì. Xem ra anh ghiền nặng.

– Thưa không. Chẳng qua muốn tiết kiệm.

– Anh còn trẻ mà biết tiết kiệm là tốt. Anh tính chừng nào lập gia đình?

Tôi ngần ngừ. Nếu câu hỏi là của ông hạm tiền nhiệm, tôi sẽ tâm sự ngay về kế hoạch năm năm nhưng tôi không muốn nói với ông này. Thật khó mà có hứng thú kể lể tâm tình với người ngay phút đầu gặp gỡ tôi không mấy thiện cảm. Tôi đáp qua loa:

– Thưa chưa có ý gì về việc đó.

– Tại anh chưa gặp người vừa ý. Nếu gặp, nhất định là muốn cưới ngay, như tôi. Nhưng cưới vợ sớm nhiều khi cũng kẹt. Ở đời mà, sau khi mình gặp một người vừa ý, thì mình thường thấy có người khác vừa ý hơn! Năm ngoái, tàu công tác Châu Đốc, tôi gặp một cô thật vừa ý. Cô cũng dành cho nhiều cảm tình. Thế rồi, sau khi rời Châu Đốc, tôi không dám trở lại. Biết chắc rằng, nếu trở lại là sẽ bỏ vợ hoặc vợ bỏ. “Thương em Bảy Núi cũng trèo.Ghét em núi Két vượt đèo cũng không!”

Ông cười sảng khoái. Tiếng cười dòn tan, đôn hậu. Tôi mím môi chúm chím cảm thông. Ông chỉ mới gặp hai “vừa ý”, còn tôi, có đến ba và xem ra cô nào tôi cũng vừa ý… hơn hai cô còn lại. Và cũng không muốn bỏ cô nào!

Suốt gần một năm qua, mỗi tuần, tôi vẫn viết đều đều cho Hồng một lá thư cho dù hơn nửa năm qua Hồng không trả lời lá thư nào. Trong lá thư cuối cùng Hồng có gợi ý rằng chắc không duyên nợ nên Hồng xin ngưng mọi liên lạc. Ban đầu tôi cứ ngỡ Hồng nói đùa, chắc Hồng muốn trừng phạt tôi về cái tội ngày xưa sáu tháng không viết thư. Nhưng sau ba tháng không thư, tôi bắt đầu sốt ruột. Tôi mong tàu có dịp ghé Nha Trang nhưng tàu còn mãi mê đi các vùng khác.

Trong cùng thời gian đó, qua những giây phút yếu lòng, tôi đã hai lần viện cớ đến chơi với Dũng để xem dung nhan đó bây giờ ra sao! Hiền đã dành cho tôi ánh mắt nồng nàn và cả hai lần tôi đều thấy vắng bóng Thanh. Thế là tôi vô cùng hạnh phúc và cố đè nén khát khao muốn trở lại…

Tôi cũng đã hai lần đi tìm Tuyết, ở Hollywood Snackbar và cả ở nhà nàng nhưng cả hai nơi đều không gặp. Nhưng tôi chưa tin là Tuyết muốn vĩnh biệt thật. Tôi vẫn tin là sẽ gặp lại nàng. Cái khổ nhất của tôi là mối lần cầm đọc quyển “Ý thức mới…”, tôi vẫn không sao tránh khỏi nhớ đến cái đêm cuối cùng gặp Tuyết. Dĩ nhiên cũng khó mà tránh không mường tượng cái vóc dáng tuyệt mỹ trần trưồng và những động tác hiến dâng cuồng dại…

– Báo cáo có một ghe ngay trước mũi tàu.

Tôi giật nẩy người nghe tiếng hét của quan sát viên. Hạm trưởng phóng khỏi ghế. Hạm phó chồm người quan sát rồi la to:

– Tay lái hết bên phải. Hai máy tiến hai. Hai máy tiến một.

Chiến hạm quay nhanh mũi vừa kịp bỏ chiếc ghe bên tả hạm. Chiếc ghe chồng chành dữ dội, lùi dọc theo hông tàu. Tiếng hạm trưởng hối hả:

– Bên trái hết! Hai máy ngưng!

Tôi đặt ống dòm, tim đập thình thịch. Chiếc ghe quá nhỏ, ánh trăng quá mờ. Dường như có hai hoặc ba người trên ghe. Họ thoát chết hai lần trong đường tơ kẻ tóc. Tàu tránh kịp thời nên không cắt ngang chiếc ghe. Chân vịt ngừng đúng lúc nên chiếc ghe thoát khỏi sóng quậy chìm. Hạm trưởng đích thân nắm cần đèn pha, chớp chớp kêu ghe cặp vào tàu. Ông bảo tôi thủ khẩu đại liên. Khi chiếc ghe kè sát bên dưới đài chỉ huy, hạm trưởng nói như quát:

– Bộ không muốn sống sao mà sấn ngay mũi tàu?

Ánh đèn pha cho thấy trước mũi là một cụ già gầy gò, sau lái là một gã trung niên. Một người đấp mền nằm giữa ghe. Cụ già đứng khoanh tay trong dáng diệu khúm núm, ngước nhìn lên, miệng lắp bắp:

– Quan lớn thương tình, quan lớn thương tình, chúng tôi không thấy…

Hạm trưởng bực bội hỏi tới:

– Giờ này mà ghe đi đâu? Làm giao liên hả?

Cụ già còng lưng, chấp tay xá:

– Quan lớn thương tình, con gái tôi nó đạp trúng lựu đạn, tôi mãi lo chạy hết ga đi nhà thương nên không nghe tiếng tàu…

Ông cụ nói xong bảo gã trung niên giở phần mền ở chân người đang nằm. Chiếc quần dài đen rách lỗ chỗ dính đầy máu. Ông hạm trưởng bảo một nhân viên chạy xuống kêu sĩ quan cơ khí cho mở cửa đổ bộ và bảo quan sát viên còn lại kêu y tá sẵn sàng băng bó thuốc men. Ông bảo gã trung niên chờ, khi có lệnh cho ghe chạy đến mũi tàu. Ông nhờ hạm phó xuống trông coi việc cứu giúp và báo cáo tình trạng thương tích. Hạm phó rời đài chỉ huy. Hạm trưởng quay qua tôi:

– Cố gắng giữ tàu tại chỗ…

Ông dõi mắt xuống cửa đổ bộ. Tôi nhìn quanh, xác định vị trí. Con tàu đang xuôi giữa dòng và sớm muộn sẽ trôi vào hàng đáy xa xa trước mũi. Tôi nhẩm một đặc tính của con tàu: “Khi lùi, lái tàu lên hướng gió”. Gió hiện tại thật nhẹ đến không đủ mát. Tôi nhìn lên lá cờ đang cuốn tròn. Vậy cho hai máy lùi, tay lái số không là coi như lùi thẳng, tàu vẫn giữa dòng. Đợi một lúc, thấy hàng đáy đã khá gần, tôi ban lệnh. Có tiếng máy khởi động. Thân tàu hơi run rẩy. Chiến hạm vừa bắt đầu lùi, tôi cho ngưng máy. Vậy mà cái trớn cũng đủ qua khỏi chiếc ghe một đoạn ngắn. Hạm trưởng khen:

– Được lắm, được lắm! Cứ tiếp tục như vậy.

– Nhận rõ!

Cửa đổ bộ vừa hạ, hạm trưởng chớp đèn vào ghe và vào mũi chiến hạm. Chiếc ghe nhanh chóng, êm xuôi cặp vào. Anh y tá tiếp tay gã trung niên nâng người đàn bà bị thương lên cáng rồi khiêng vào phòng cấp cứu. Các binh sĩ thiết vận xa tò mò nhốn nháo, cố nhìn vào. Một lúc sau, hạm phó trở lại trình hạm trưởng sự việc. Một bàn chân bị nát, hai ống chân bị nhiều vết thương. Y tá đã tạm băng bó không còn ra máu. Người bị thương còn tỉnh. Y tá cũng chích mũi thuốc giảm đau.

Hạm trưởng trầm ngâm rồi ra lệnh đưa gã trung niên lên đài chỉ huy. Gã là chồng của nạn nhân. Ông đề nghị chiến hạm giúp đưa đi nhà thương nhanh hơn. Người chồng cùng đi theo tàu. Khi đến Long Xuyên một giang đỉnh và xe hậu cứ sẽ chờ đưa nạn nhân lên bệnh viện. Người chồng vui mừng chấp tay xá. Hạm trưởng khoát tay, bảo gã đi xuống báo sự việc cho cụ già.

Vài phút sau ông cho lệnh đóng cửa đổ bộ và cho tiến máy. Trước khi rời xa chiếc ghe, hạm trưởng nói vói một lời, nửa cà rỡn nửa nghiêm túc với cụ già đang ngẩn nhìn theo tàu:

– Cụ ơi! Cụ ở lại mạnh khỏe và làm ơn từ nay bỏ dùm cái kiểu “bẩm cụ lớn, bẩm quan lớn”. Xưa quá rồi! Tây nó về nước hết rồi!

Dứt lời ông vẩy tay từ giả, cất tiếng cười dòn. Tôi không chắc cụ già có nghe có thấy được gì không! Nhưng riêng tôi, tôi nghe nhiều cảm kích dâng tràn dù rằng tôi chẳng nhận gì từ tấm lòng nhân ái của ông…

***


Chương 13


Từ ga xe lửa Nha Trang, tôi cuốc bộ đến mướn một phòng ở khách sạn Hoàng Anh đầu đường Trần Quý Cáp. Tắm rửa xong, tôi leo lên giường cố gắng ngủ bù cho tỉnh táo, tươi tắn trước khi đi gặp Hồng. Suốt đêm qua tôi cứ nôn nao chập chờn trên xe lửa. Cái lắc lư của xe không ru ngủ như cái lắc lư của tàu. Tôi cứ băn khoăn không biết có gặp được Hồng không. Theo hoạch định thì Hồng đang theo học đại học Huế, chỉ còn hy vọng nàng về sum họp gia đình nhân tuần lễ giáng sinh-năm mới.

Cũng như đêm qua, mắt nhắm kín mà đầu không ngưng nghỉ. Chiếc giường đôi với cặp gối thêu gợi tôi hình ảnh đêm mặn nồng với Tuyết và gợi nhớ những dòng chữ vĩnh biệt của nàng. Nửa mảnh giấy học trò lúc nào cũng nằm trong ngăn bóp của tôi như vật bất ly thân. Mỗi lần nhớ đến nàng là tôi lại lấy bức thư đó ra xem. Hơn một năm qua, từng nét bút, từng chữ, từng dòng đã nằm trong tâm thức:

“Anh sẽ chẳng bao giờ gặp lại em và đừng tìm em vô ích. Cám ơn anh đã yêu em hết mình và đã cho em những giờ phút thần tiên. Em đành lòng trả anh về với Hồng vì quả Hồng xứng đáng được như thế. Em từ bỏ ý định tham lam chiếm giữ một phần đời của anh. Em sẽ rất hạnh phúc nhưng anh không hoàn toàn hạnh phúc. Mà nếu anh có phần nào đau khổ thì lại là điều em không muốn thấy. Em có biết Hồng và gia đình Hồng. Đó là một gia đình thế tộc, đạo đức. Bản thân Hồng cũng không có một lời ra tiếng vào từ lũ con trai trời ơi đất hởi của trường chúng mình. Hồng xứng đáng hưởng anh trọn vẹn! Và em ước mong anh cưới Hồng càng sớm càng hay. Em từng chờ đợi nên rất hiểu cái khổ của đợi chờ… Một đêm với anh là đủ cho em hạnh phúc suốt đời. Một đêm với anh cũng là mở đường cho tương lai của em. Vĩnh biệt!”

Tuyết nói “vĩnh biệt” từ một năm trước nhưng mới tuần rồi lại dành cho tôi một ngạc nhiên lớn. Sự việc khởi đầu bằng một lá thư nhận được bất ngờ mà tôi cũng đã thuộc lòng:

 Anh Bằng,

Đừng ngạc nhiên vì sao em biết địa chỉ của anh. Rất giản dị: Em xin anh Tâm địa chỉ rồi thay tên anh Tâm bằng tên anh. Giản dị như ngày xưa em thay hình ảnh anh Tâm bằng hình ảnh của anh. Em có phần gian trá nhưng biết sao hơn khi rất muốn viết cho anh mấy dòng.

 Suốt năm qua em đã giữ lời hứa “vĩnh biệt” cho dù hai lần anh đến tìm em, em đều có mặt trong nhà. Nếu anh biết em đã rơi nước mắt để tự ngăn mình không mở cửa. Nhưng chừ em mong anh đến. Rất mong! 

Và rất thương,

Tuyết

Lá thư ngắn, mơ hồ khiến tôi hăm hở phóng đến nhà Tuyết ngay chiều hôm đó. Tôi nhấn chuông đến lần thứ ba thì bà hàng xóm nhô đầu khỏi cửa nhà bà, hỏi bằng giọng thân thiện:

– Cậu muốn tìm ai?

– Dạ, cháu tìm cô Tuyết.

– Cậu tên gì?

Tôi ngạc nhiên, nhăn mặt nhìn bà. Bà vui vẻ giải thích:

– Cô Tuyết dặn là phải hỏi tên. Tôi cười:

– Bác có thể cho biết lý do hỏi tên?

– Cô nhờ tôi trao một vật mà phải nói đúng tên mới giao. Cô có tả hình dáng, thì đúng cậu rồi nhưng cậu vẫn phải nói tên cho tôi yên trí.

Tôi dọ hỏi:

– Cô Tuyết đi đâu vậy bác?

– Cô không nói…

– Cô ấy có nói chừng nào về?

– Không!

– Dạ, cháu tên Bằng.

– Họ?

– Dạ, họ Võ.

Bà đưa tay ngoắc:

– Cậu lại đây.

Tôi đến trước cửa nhà bà thì cửa đã đóng. Chờ một lúc bà mới lại xuất hiện và đưa tôi một chìa khóa:

– Cô Tuyết dặn tôi giao chìa khóa cho cậu và bảo cậu cứ vào nhà…

Tôi cầm chìa khóa, nói lời cảm tạ. Tôi mở cửa nhà Tuyết và nhìn sâu vào tận bếp tối om om. Tôi bật núm điện và khép cửa lại. Mọi thứ vẫn như lần tôi đến đây. Vẫn bộ xa lông êm ái. Vẫn ba bức tranh bờ biển Nha Trang. Vẫn cái bếp gọn gàng với bộ bàn ăn bốn chỗ ngồi….

Tôi ngồi vào chỗ cũ, cạnh chiếc ghế tựa Tuyết ngồi tiếp tôi ngày tái ngộ. Tôi như còn thấy Tuyết đang đùa giỡn với tôi và Tâm. Mới đó mà đã một năm rưởi trôi qua. Còn như kể từ cái đêm “vĩnh biệt” thì cũng gần mười bốn tháng. Nhưng lần trở lại này tôi ngồi một mình. Điều vô lý là Tuyết thiết tha mời đến mà không tiếp đón.

Mới đây vài tháng, tôi có dịp gặp lại Tâm nhân hai tàu cặp cạnh nhau. Tôi hỏi thăm về “tình hình” của hai người. Tâm bảo thỉnh thoảng vẫn đến chơi tối thứ ba nhưng gần đây Tuyết bảo đừng đến nữa vì sắp dời đi nơi khác. Tâm có hỏi đi đâu nhưng Tuyết không nói và từ đó Tâm không đến nữa. Tâm cho là Tuyết không còn muốn gặp…

Hút hết điếu thuốc, tôi bắt đầu sốt ruột. Chừng nào Tuyết mới về? Tôi phải chờ đến bao giờ? Tôi tìm một tờ báo, một quyển sách. Các mặt bàn đều trống trơn. Tôi bước tới mở máy truyền hình. Băng tần 9 đài Sài Gòn đang phát tin chiến sự. Nhiều cuộc đụng độ lớn nhỏ khắp bốn vùng. Sau phần tin tức là một vở kịch. Tôi tắt máy và cảm thấy bực mình, chán nản. Tôi đứng lên, muốn ra về nhưng lại ngại gõ cửa bà hàng xóm trả lại chìa khóa.

Tôi bước tới bước lui từ bếp ra cửa, hít thuốc liên hồi. Tuyết bảo đến mà không nói đến ngày nào, lúc nào, dù vậy tôi đã cẩn thận đến ngay hôm nay là chiều thứ ba, là ngày Tuyết dành hẹn với Tâm, tưởng chắc là có mặt ở nhà. Tuyết đi đâu mà suốt hai tiếng vẫn chưa về. Bụng tôi bắt đầu cồn cào đòi ăn và uống. Trước khi đến, tôi đã dành bụng trống để mời Tuyết đi nhà hàng Catina. Thật ra thì hẳn ai cũng đều làm như tôi. Chính Tuyết đã chọn nhà hàng đó rồi đưa tôi vào mê hồn trận. Mười tám tháng qua, tôi vẫn còn vương vấn mê hồn hương từ Tuyết. Tôi hy vọng ngửi lại được mùi ngây ngất đó tối nay…

Tôi mở tủ lạnh tìm chai bia. Khi trở lui, ngang qua bàn ăn, tôi chợt để ý một bao thơ đặt tựa vào chiếc lọ cắm hai nhánh hoa lay ơn đỏ rực. Tôi không biết lay ơn biểu lộ ý nghĩa gì nhưng màu đỏ rực chắc chắn là gửi gắm niềm say đắm. Lá thư say đắm, Tuyết gửi ai đây? Tò mò, tôi cúi nhìn hàng chữ viết tay nhỏ nhắn: “Gửi anh Võ Bằng”. Tôi ngạc nhiên nhìn lại lần nữa. Đúng là tên tôi. Hẳn Tuyết có chuyện bất thường phải rời nhà nên để lại vài lời cáo lỗi? Tôi xé toạt bao thơ, mở toang mảnh giấy, đọc vội:

Anh Bằng,

Nói thật lòng, sau “cái đêm hôm ấy đêm gì” em đã cố hết sức để dừng gặp lại anh. Gặp lại anh thì không tài nào có thể rứt áo ra đi. Mà đeo dính anh, thì…tội nghiệp cho Hồng. Em dân Huế nên hiểu lòng gái Huế. Yêu đắm say mà đau khổ cũng tận cùng. Hồng chưa từng đau khổ, còn em thì đã … quá quen. Thêm một lần khổ nữa không chừng lại thấy vui. Cuối cùng, em vui thật.

 Sáng mai, anh ấy về xứ và mang theo người vợ anh hết lòng thương yêu. Anh ấy là ai, em đã có lần kể với anh. Là bạn thân ông chồng quá cố của em đấy mà. Em vui vì quyết định của em chắc chắn mang niềm vui đến mọi người.

Nhưng ra đi mà bỏ anh côi cút năm năm nữa thì cũng không đành. Mà có tha thiết ước mong anh cưới Hồng thật sớm thì cũng không rút ngắn được thời gian. Em từng chờ đợi nên rất hiểu cái khổ đợi chờ. Vì vậy hãy để em lo cho anh một lần, cho em yên tâm hưởng hạnh phúc và cho anh cũng sớm hưởng hạnh phúc như em. Chẳng hạnh phúc sao khi em sống êm ấm bên chồng và thấy người mình thương cũng mặn nồngbên vợ….

Đây là phương tiện giúp cho ước mong của em sớm thành hiện thực. Căn nhà của em, bây giờ đã là của anh. Em cũng để lại cho anh mười ngàn đô la, thừa để anh chi tiêu tiệc cưới và đủ để phòng bị khi gặp khó khăn.

Tiền và giấy tờ địa ốc được dấu dưới nệm ở cuối giường.Tuy bằng khoán nhà còn mang tên em nhưng em cũng đã lập sẵn một giấy ủy quyền cho anh toàn quyền sử dụng. Thực lòng, em muốn sang tên cho anh nhưng thủ tục sang tên cần anh hiện diện. Mà em biết tính anh, nên chỉ còn cách phải đặt anh vào… sự đã rồi!

Một ngày nào đó, sau khi biết chắc anh và Hồng hạnh phúc trong căn nhà này, em sẽ cho anh địa chỉ của em phòng khi có ngày anh đi Mỹ du học hoặc lãnh tàu. Anh còn độc thân thì khó mà tin rằng anh cũng dứt khoát như em là biến“người thương yêu” thành “người bạn tốt”…

Chúc anh và Hồng trọn đời hạnh phúc.

Rất thương,

Tuyếtơn mười baKhi tôi tỉnh giấc, chiếc đồng hồ trên tường chỉ đúng một giờ mười phút. Bụng tôi cồn cào. Lòng tôi nôn nao. Tôi phải gặp ngay Hồng để hân hoan thông báo, rằng nàng muốn làm vợ tôi ngày nào là… tùy nàng. Còn với tôi, càng sớm càng hay. Tôi rửa mặt, thay bộ đồ bảnh nhất. Tôi duyệt lại mấy món quà. Trên đường đến nhà Hồng, tôi dừng lại tiệm phở Hợp Lợi trứ danh gần rạp Tân Tiến. Tôi khoan khoái thưởng thức tô phở còn nguyên hương vị của ngày xưa. Rồi tôi nhâm nhi ly cà phê phin đậm đặc ưa thích ngày nào. Tôi ôn lại những lời ba tôi căn dặn và nhờ chuyển đến ba mạ Hồng. Tôi sắp xếp ý tưởng trình bày việc cưới xin. Tôi thử đoán Hồng sẽ đặt ra những câu hỏi gì và lựa câu trả lời thật vui thật đẹp. Chắc chắn là nàng không thể không nêu thắc mắc là do đâu mà tôi có khả năng cưới nàng mau mắn đến thế! Tôi đã dự trù sau năm năm mà đến nay mới chỉ hơn mười ba tháng. Tôi không có chọn lựa nào khác là sẽ phải nói láo đôi chút. Tôi sẽ khoe là có người bạn khá giàu đi du học nhiều năm và có thể ở luôn bên Mỹ, nhờ tôi trông coi nhà dùm, nên chuyện nhà cửa không còn thành vấn đề. Riêng chi tiêu cho lễ hỏi, lễ cưới là phần lo liệu của ba tôi…

Càng gần đến nhà Hồng, tôi càng chậm bước và càng hồi hộp. Nếu Hồng vẫn còn ở Huế, không về nhà dịp Giáng Sinh thì sao? Nếu nàng về, liệu nàng sẽ thực sự vui hay chỉ ngạc nhiên rồi bảo chờ tốt nghiệp đại học? Hoặc giả chính ba mẹ nàng từ chối? Tôi bi quan quá chăng?

Tôi dừng trước chiếc cổng quen thuộc và nhấn chuông. Người mở cửa là mẹ Hồng. Bà quay lui như để thông tin người bấm chuông là ai rồi hối hả ra mở cổng. Bà dịu dàng trách:

– Đi mô mà biệt xứ rứa? Vô nhà đi cháu.

Tôi bước qua cổng vừa lúc ba Hồng vui vẻ đi tới. Ông đưa tay cho tôi bắt và nồng nhiệt đón mừng:

– Bác nhớ cháu và rất mong gặp cháu. Hai bác có nhận quà lần trước. Cám ơn cháu lắm. Trà thật ngon.

Tôi nói bằng giọng xúc động:

– Cháu có mang thêm. Cả quà tặng bác gái nữa…

Mạ Hồng xua tay:

– Lần ni thì bác nhận nhưng nhất định không lần sau.

Khi ngồi ở ghế sa lông, tôi trao quà cho ông bà. Mạ Hồng mang quà vào trong, nói để pha trà. Ba Hồng thân mật hỏi:

– Cháu chưa ghét Hải quân chớ?

Tôi xăng xái lắc đầu:

– Dạ, cháu thích lắm.

– Rất tốt! Phải thích mới trở thành Hạm trưởng giỏi. Cho bác biết đôi điều về ông tân Tư lệnh Hải quân?

– Cháu chỉ nghe nói tốt nghiệp trường sĩ quan hải quân Pháp, chắc giỏi.

– Tình hình Sài Gòn ra răng?

Tôi e ngại, lắc đầu:

– Cháu thường đi công tác nên không theo dõi thường xuyên. Có vẻ như ông Quốc trưởng và ông thủ tướng không thuận nhau. Có vẻ như trong hậu trường các tướng còn tranh chấp…

Nhưng dường như ông hỏi chỉ cốt để làm đà cho ông thao thao bất tuyệt. Hoặc giả lâu nay ông ghiền nói mà không có người nghe. Ông luận về sự rối ren của tình hình nước nhà và tình hình thế giới. Ông phân tích về sự sai lầm của Mỹ khi ủng hộ việc lật đổ và giết Tổng thống Diệm. Ông bàn về luật nhân quả của nhà Phật với cái chết liền sau đó của Tổng thống Kennedy. Tôi tỏ vẻ lắng nghe nhưng mắt dáo dát nhìn quanh. Hồng ở đâu mà không xuất hiện? Hay đúng là nàng còn ở Huế? Tôi nghe thất vọng đến nghèn nghẹn. Cuối cùng, tôi buộc phải lên tiếng giữa lúc ông tạm dừng để nhận tách trà từ tay vợ:

– Thưa hai bác, trước đây khi cháu còn là sinh viên sĩ quan, hai bác thường cho cháu đi ăn nhà hàng cuối tuần. Nay nhân gặp lại hai bác, cháu xin được hân hạnh mời hai bác và Hồng một bữa ăn tối, ngày nào thuận tiện cho hai bác.

Ông cười sảng khoái:

– Hai bác nhận lời. Tối mai hỉ?

– Dạ, tối mai. Bảy giờ cháu sẽ đến đây để cùng hai bác đến La Frégate. Thưa hai bác, Hồng chắc đi vắng?

Ông nhìn sang bà. Mạ Hồng mỉm cười:

– Nó không còn ở đây nữa cháu ạ. Nó về nhà riêng mấy tháng rồi! Nhưng nó có dặn hai bác là khi nào cháu về đây thì chỉ nhà cho cháu đến chơi.

Tôi ngạc nhiên kêu lên:

– Hồng có nhà riêng? Ở một mình?

Mạ Hồng lắc đầu, tỏ vẻ lúng túng:

– Nó cũng dặn hai bác là đừng nói chi hết. Nó muốn đích thân nói chuyện với cháu…

Tôi nôn nóng đứng bật dậy:

– Cháu xin phép đi gặp Hồng ngay.

Ba Hồng chặc lưỡi:

– Ở chơi thêm tỵ nữa, bác đã kịp hỏi han chi mô! Về Nha Trang lần ni, tàu cháu có mở dạ tiệc không, cho hai bác dự với? Lần rồi, nghe Hồng kể lại, hai bác rất thích. Không hiểu sao bác ưa Hải quân chi lạ!

Tôi cho đó là một gợi ý nên không còn e dè:

– Thưa hai bác, tàu cháu còn đậu bến ở Sài Gòn. Cháu xin nghỉ phép bảy ngày để xúc tiến việc… của tụi cháu.

Mạ Hồng mở to mắt nhìn tôi. Ba Hồng tỏ vẻ ngạc nhiên:

– Việc của tụi cháu? Việc của tụi cháu là việc chi?

– Thưa hai bác, năm ngoái cháu có ghé thăm hai bác nhưng nhằm lúc hai bác đi Huế. Cháu có bàn với Hồng về dự định đám cưới…

Ba Hồng gật đầu, mỉm cười ngắt lời:

– À, việc nớ! Việc nớ Hồng có nói lại. Dự tính là năm năm, phải không? Kể đến bữa ni thì còn bốn năm nữa. Phải nói là hai bác đã rất hài lòng khi nghe cháu bàn chuyện nghiêm túc. Bác gái thường khen bác có tài thoáng nhìn là biết người tốt xấu.

Tôi nóng nảy tiếp lời:

– Thưa hai bác, cháu biết năm năm là quá lâu nên hai hôm trước, cháu đã gặp ba cháu để trình sự việc là cháu muốn cưới Hồng trong vài tháng tới. Ba cháu tán thành và mong sớm được hai bác cho phép gặp gỡ để chính thức bàn về lễ hỏi và lễ cưới…

Mạ Hồng kêu lên:

– Ô! Việc nớ thì…

Ba Hồng nhìn bà, chận lời:

– Việc nớ thì… Hồng sẽ nói chuyện với cháu. Chừ thì cháu có thể đi gặp Hồng. Nhớ là tối mai hai bác chờ đi ăn tối. Dĩ nhiên nếu có Hồng cùng đi, thì không còn chi vui bằng…

Theo địa chỉ ba Hồng vẻ cho, tôi hối hả gọi xích lô. Đó là khu nhà mới cất cuối đường Trần Nguyên Hãn. Tôi nhìn lại số nhà và gõ cửa. Hồng mở cửa, reo vui:

– Ồ! Anh Bằng! Linh tính em hay thật. Mấy bữa ni em có ý chờ anh. Anh vào đi.

Nhìn căn nhà mới tinh, tươm tất, tôi lột đôi giày. Hồng la lên:

– Anh cứ mang vào nhà.

Nhưng tôi vẫn để đôi giày ở cạnh cửa. Sàn nhà lót gạch bông màu hồng phơn phớt trông mát mắt. Tất cả mọi thứ đều có sắc dịu nhẹ, thanh nhã. Hồng mời tôi ngồi lên chiếc ghế tựa đôi bọc da trắng tinh. Một ghế tựa đơn tạo thành góc vuông với một chiếc nôi đặt cạnh. Tôi đặt hộp quà tặng lên bàn trước khi an vị. Hồng vẫn đứng, hướng mặt lên thang lầu, gọi lớn:

– Anh Luận ơi! Có anh Bằng đến.

Tôi nghe tiếng vọng:

– Ai? Anh xuống ngay!

Giọng Hồng sôi nổi:

– Xuống ngay làm quen anh Bằng!

Tiếng khóc ré từ chiếc nôi. Hồng bước tới vỗ về:

– Mạ xin lỗi to tiếng. Ngủ đi con. Ngủ đi con trai cưng của mạ.

Tôi ngẩn người đứng lên bước đến chiếc nôi. Một đứa trẻ sơ sinh da mặt còn đỏ hỏn, mắt nhắm nghiền được bọc kín trong khăn vải. Đứa trẻ trở về giấc ngủ dễ dàng. Tôi nghe tiếng bước chân và ngoảnh nhìn. Một thanh niên tuổi khoảng ba mươi, ăn mặc tề chỉnh, vừa bước xuống bậc thang vừa nhìn tôi đăm đăm. Hồng giới thiệu vui vẻ, nồng nhiệt:

– Anh Luận, chồng em.

Quay sang tôi, giọng cợt đùa:

– Còn đây là anh Bằng. Là ai, ông chồng tôi quá biết!

Luận đưa tay bắt, ngắm nghía tôi và cười cợt một cách thân tình:

– Anh đẹp trai hơn nhưng tôi là người may mắn.

Ruột gan tôi rối bời nhưng cũng cố buông lời bông đùa:

– Quả đúng vậy! Anh quá may mắn!

Cả ba chúng tôi cười vang. Tôi đã lấy lại sự bình tâm. Chiến trường còn chưa run thì tình trường có gì phải lúng túng. Luận cùng ngồi chung ghế với tôi:

– Tàu anh cặp Cầu Đá?

– Không! Tôi đi xe lửa ra đây.

– Để thăm Hồng?

Tôi nhìn thẳng vào mắt Luận, trả lời cũng thẳng thừng như câu hỏi:

– Dĩ nhiên là để thăm Hồng. Nhưng cũng để bất ngờ… quen anh!

Luận cười:

– Ban đầu thì quen, sau tiến tới biết. Bởi rứa, tôi xin tự giới thiệu: Tôi là giáo sư triết của Võ Tánh, và là thầy của Hồng, một năm về trước.

Hồng vừa ngồi xuống chiếc ghế đơn vừa tiếp lời:

– Một năm về trước là thầy, sau đó là… chồng. Chuyện cũng giản dị. Năm ngoái, vài tuần sau khi em chia tay anh, thầy Luận nhờ người mai mối đến xin ba mạ cho thầy cưới em. Ba mạ để tùy em quyết định. Em gặp thầy và nói thẳng với thầy rằng em rất tiếc đã có người yêu. Thầy bảo thầy không tin. Em đưa thư anh cho thầy đọc. Thầy bảo “yêu hải quân” thì cần xét lại: Liệu em có đủ can đảm đợi chờ, có tràn đầy hạnh phúc với ông chồng nhiều ngày ở biển, nhiều ngày ở bến lạ hơn là ở bến … trông chồng! Nếu làm vợ thầy, lúc nào em cũng có thầy bên cạnh. Em bảo chắc chắn em sẽ không bao giờ quên anh và một người như vậy thầy không nên cưới. Thầy bảo cứ làm vợ thầy và cứ… yêu anh, không thành vấn đề! Nếu anh Bằng là em, anh có từ chối không?

Những lời thẳng thắn, tự nhiên của Hồng tác động vào phần tâm não nào đó làm méo mó nụ cười tôi cố giữ vui tươi. Tôi nghĩ Luận dạy về tâm lý học sẽ thành công hơn là triết. Tôi đáp:

– Anh không phải là em nên khó trả lời. Nhưng anh xin đưa một gợi ý, rằng Hải quân thường lênh đênh xa bến nhưng chưa từng có ai ế vợ. Hơn nữa, bất cứ bà vợ Hải quân nào, bất kỳ lúc nào, cũng đều vui vẻ… làm vợ! Nên viện lý do khác chí lý hơn.

Hồng liếc xéo tôi trong lúc Luận gục gặc đầu:

– Ngay từ đầu, tôi đã nhận tôi là người may mắn. Cho nên tôi chỉ biết cầu chúc anh Bằng sớm gặp may mắn…như tôi.

– Thật ra, may mắn chỉ là một cách nói. Có lẽ tôi phải oán trách quân trường Hải quân không dạy môn tâm lý học để ngày nay không có lời thuyết phục Hồng hiệu quả bằng anh!

Luận cười khoái trá. Hồng lại liếc xéo tôi. Tôi thấy “đối đáp” thế là đủ. Có còn gì để cay đắng, xót xa! Tốt hơn là giúp Hồng vui trọn vẹn. Tôi cất tiếng cười dòn hòa điệu:

– Chắc thầy Luận cũng không hẹp hòi gì mà không giới thiệu cho tôi một cô học trò thay thế!

– Rất sẵn lòng, nhưng anh ở xa quá và ít ghé nơi ni. Có giới thiệu rồi anh cũng lại thiếu may mắn mà thôi! Tôi đề nghị anh làm quen một cô sinh viên văn khoa Sài Gòn bằng cách ghi tên học lớp triết. Khoa triết thường mang đến nhiều may mắn!

Tôi gật đầu:

– Tôi đã có ý định đó từ lâu mà bị kẹt… một người. Giờ thì hết kẹt rồi, nhất định theo lời anh khuyên.

Luận cười hể hả. Tôi cũng hỉ hả cười theo. Hồng lại liếc xéo tôi, điểm chút mím môi kiêu kỳ. Sực nhớ ra, tôi đổi giọng nghiêm trang:

– Tôi vừa mời hai bác dùng cơm tối và hai bác đã nhận lời. Tôi đến đây, trước để thăm, sau để mời Hồng và anh Luận một bữa ăn hội ngộ.

Luận sửa:

– Tái ngộ chứ?

Tôi gật:

– Tái ngộ và cả hội ngộ.

Hồng vùng vằng:

– Các anh cứ chơi chữ! Mệt dễ sợ! Chúng em nhận lời. Anh Luận coi chừng con, em đi thay quần áo!

Luận nhìn vợ, âu yếm:

– Coi bộ em rối lên, quên cả đêm nay là Giáng sinh La Frégate đóng cửa. Tối mai đi. Còn tối nay, với tư cách gia chủ, mình nên mời khách quý từ xa tới thăm. Anh sẽ ghé mời ba mạ rồi chạy kiếm vài món ăn ở các tiệm còn mở cửa. Anh Bằng ở chơi, không lâu đâu.

Luận đứng lên. Tôi nói vội:

– Tôi đinh ninh mọi sự bình thường nên trót mua quà tặng Hồng. Món quà không khác lần trước nhưng giờ đây xem ra không còn thích hợp. Tuy nhiên, không lẽ mang về. Mong Hồng nhận cho và nếu anh cho phép!

Luận cười, nói một câu mà tôi biết Hồng có khoe món quà lần trước:

– Nhận đi em, ngày mai em mặc đi ăn tối cho anh Bằng vui.

Nói xong Luận tỉnh bơ ra cửa. Hồng dặn vói:

– Anh Luận, xin ba một chai rượu chát. Ba biết anh Bằng thích loại nào.

Luận bắt chước giọng nhà binh, nói qua khe cửa trước khi đóng kín:

– Nhận năm trên năm!

Chúng tôi ngồi nhìn nhau bằng ánh mắt thân tình. Hồng cúi đầu nói nhỏ:

– Một người chồng như vậy, đáng yêu quá phải không anh? Thú thật là em rất yêu anh Luận. Nhưng cũng thú thật là em vẫn chưa quên anh. Hai tuần trước, em mơ thấy anh về và thất tha thất thểu đi tìm em. Em nằm mơ có thể là từ ước muốn thiết tha được gặp lại anh. Em muốn gặp anh để nói một sự việc rất quan trọng mà em tin là khi anh biết, anh sẽ không còn giận em sớm lấy chồng, lại cũng không thông báo… Làm sao em có can đảm báo tin cho anh?

Tôi lắc đầu:

– Có gì mà giận, chẳng qua không nợ không duyên. Thì nay, tuy biết tin muộn, anh cũng xin chúc mừng em. Chúc mừng em lấy được người chồng vui tính. Chúc mừng em có đứa con đầu lòng đẹp trai. Nó được mấy tháng?

Hồng nheo mắt:

– Chi mà mấy tháng? Mới hơn ba tuần! Nếu anh đến hai tuần trước, anh hẵn gặp em còn nằm bèo nhèo trong nhà bảo sanh. Em sanh khó lắm anh ạ. Thập tử nhất sinh. Đến độ rằng bác sĩ dứt khoát không cho em sinh đẻ nữa.

Hồng nhìn chiếc nôi:

– Anh lại nhìn thằng bé xem. Nó giống anh … dễ sợ.

Tôi không nhìn đứa bé mà trợn mắt nhìn Hồng. Nàng cười tươi:

– Dĩ nhiên nó chẳng dính dáng chi với anh. Nhưng với em, nó là con của anh. Đây là điều em mong gặp anh để kể cho anh biết. Mọi chuyện giữa anh và em, em đều kể hết cho anh Luận, chỉ riêng chuyện này là em dấu kín. Như em nói, em gặp ca sinh khó. Trong những giây phút cận kề cái chết, em chỉ nghĩ đến anh, chỉ thầm kêu tên anh, chỉ sợ anh… buồn khi nghe tin em chết! Và vì vậy em cố vùng vẫy, cố hít thở, cố bám víu vào khuôn mặt dễ thương của anh…

Tôi không kềm được tiếng gọi tha thiết:

– Hồng!

– Cuối cùng em thoát chết. Và con em cũng khỏe mạnh! Cho nên em xem nó là con anh. Lúc nào nhìn nó là em thấy anh, là em thấy hạnh phúc!

Tôi nghẹn lời. Hồng có những ý tưởng lạ lùng. Yêu một người, lấy một người. Có con với chồng, lại coi là con người yêu. Bỏ đi lấy chồng không sợ người yêu buồn, lại sợ chết đi người yêu sẽ khổ! Tôi phải nói gì đây? Có cần khuyên lơn gì không? Không! Không cần! Mọi sự rồi sẽ tốt đẹp. Bên người chồng như Luận, Hồng sẽ yêu chồng hơn nữa. Và với thần dược thời gian, tôi sớm biến mất khỏi đời Hồng. Nhưng hiện tại, tôi thấy cần phải đáp lại cái nhiệt tình Hồng dành cho tôi.Tôi ngập ngừng:

– Nếu điều đó thực sự mang đến em hạnh phúc thì em cứ tiếp tục. Nhưng hãy cho anh thực sự là cha đứa bé. Hãy cho anh là cha đỡ đầu của con em.

Hồng để nước mắt tuôn rơi:

– Cám ơn anh. Cám ơn anh. Đó là điều em mong ước. Em sẽ tuyên bố ngay buổi họp mặt tối nay.

Tôi nhắc:

– Em nên bàn với Luận.

– Tuần rồi em đã bàn và anh Luận tán thành ngay.

Tôi cười, hân hoan:

– Thấy em lấy chồng, anh tưởng đau khổ lắm, hóa ra lại là vui mừng!

Mặt Hồng tươi tắn mà giọng ngậm ngùi:

– Phải chi anh đừng là Hải quân mà là giáo sư triết…

– Phải chi em đừng vội lấy… giáo sư triết!

Hồng xua tay phân bua:

– Không! Em không vội! Em đã đắn đo dễ sợ lắm, không đơn giản như em vừa kể. Nếu lấy anh, việc chờ đợi khi chồng đi công tác là bổn phận, em không có gì than phiền. Cái em sợ là, mỗi khi anh đi công tác, em đâu dám ở Sài Gòn một mình. Em sẽ bay về Nha Trang. Rồi lại bay trở vào khi anh về bến. Tốn kém quá, gian nan quá. Đó là chưa kể lúc ba mạ đau yếu. Em có xin ba mạ về Sài Gòn sống. Mạ đồng ý nhưng ba thì không. Ông thù ghét Sài Gòn là nơi có những người đã tàn bạo giết vị lãnh đạo ông tôn kính.

Cái lý do Hồng đưa ra hoàn toàn hợp với những gì ba tôi vin vào để thoạt đầu ông không tán thành. Nhưng tôi cứ năn nỉ ông. Nay ông biết tin đám cưới bất thành hẳn ông mừng lắm. Bây giờ tôi mới thấy ông có lý. Và Hồng có lý. Tôi nói:

– Em đã có một quyết định tuyệt vời. Anh nói thật đó.

Hồng chớp đôi mắt tỏ vẻ biết ơn. Tôi đứng lên, bước lại chiếc nôi nhìn đứa bé. Nó vẫn ngủ say sưa. Khuôn mặt chữ điền bụ bẫm, dễ thương. Chiếc mũi cao và miệng rộng. Nó giống Luận…

Giọng Hồng đều đều, pha chút tiếc rẻ:

– Lẽ ra nó là con ruột của anh.

– Đúng là vậy, nếu em chờ anh đến hôm nay…

Hồng nghiêng mặt, đợi thêm lời giải thích. Tôi nói chậm rãi:

– Ba mạ em sẽ nói rõ vì sao…

– Em muốn nghe ngay chừ.

Tôi nghe tiếng mở cửa. Ba mạ Hồng vào trước, Luận đi sau cùng….

Bữa ăn tái ngộ và hội ngộ không ngờ là thật hồn nhiên, vui vẻ và thân tình…

Nhưng việc Hồng lấy chồng đã khiến tôi rút ngắn ngày phép ở Nha Trang. Sau bữa ăn tối thứ bảy do tôi khoản đãi, sau gần suốt ngày chủ nhật ở chơi với vợ chồng Hồng và thằng con đỡ đầu, đến năm giờ chiều tôi ngỏ lời chia tay. Hồng mong tôi ở lại thêm ngày nữa theo chương trình nhưng tôi nhất quyết cám ơn. Ở lại, sáng thứ hai thầy Luận đi dạy, hai “cố nhân” suốt ngày ở cùng nhà tránh sao khỏi tiếng thị phi, xầm xì…

Về đến Sài Gòn, tôi đến ngay nhà Dũng. Cả nhà đều mừng tôi dành cho một ngày đoàn tụ sau hơn một năm tôi “quên” về. Nhưng nhằm thứ hai nên Dũng và Hiền đều phải đi học. Dũng bảo nội buổi tối là đủ cho đờn ca xướng hát mệt nghỉ! Việc Dũng đi học, lại là điều hay giúp tôi có thì giờ ngủ lấy sức cho ngày mai trở lại tàu.

Tôi tắm rửa và thay bộ đồ dạo phố duy nhất còn sạch. Tôi móc bóp, thuốc lá, hột quẹt từ bộ đồ đi đường để lên bàn rồi nhét bộ dơ bẩn vào bị xách. Cái bị bây giờ chứa tổng cộng bốn bộ đồ dơ, chưa kể bộ pyjama mặc từ đêm về quê thăm cha. Đó là là tất cả tài sản thường phục của tôi. Ngày mai về tàu, tôi sẽ nhờ đệ tử mang đi bỏ giặt. Tôi nằm ngửa trên tấm phản, cảm thấy mọi sợi dây thần kinh như chùng hẳn đi…

Khi tỉnh dậy, tôi bắt gặp Hiền đang ngồi vắt vẻo trên lan can, hướng mặt về khu phố ngập nắng. Gió thoảng đưa lời bài hát “tình ngỡ đã quên đi như lòng cố lạnh lùng. Người ngỡ đã xa xăm bỗng về quá thênh thang”…Trên nền trời xanh thẳm, những đám mây trắng chầm chậm lang thang.

Hiền chợt quay về phía tôi, bắt gặp tôi đang ngắm nàng. Nàng mỉm cười hiền hòa, đôi mắt to và đẹp như chứa nỗi buồn xa xôi. Tôi có cảm tưởng Hiền hoàn toàn mới lạ, một giai nhân gặp lần đầu. Tôi trở mình về phía ngược lại, tâm hồn xao xuyến. Tôi cảm thấy đuối sức. Tuyết lấy chồng. Hồng lấy chồng. Rốt cuộc, tôi lại về bến cũ, bến cuối cùng. Mong rằng Hiền không còn gây thêm phiền muộn.

Những tia nắng xuyên qua kẻ lá rung rinh từ cây cổ thụ. Tôi đoán giờ chừng mười một giờ. Chưa tới giờ cơm mà Dũng thì còn lâu mới về. Tôi lại nhắm mắt, mơ hồ tơ tưởng đến Tuyết. Em đã hết cơn bĩ cực mà anh chưa tới hồi thới lai. Căn nhà em “cho” bây giờ trở nên trơ trẻn. Anh chưa từng qua đêm ở đó và chắc còn lâu lắm. Ngủ ở đó, nằm một mình trong buồng ngủ em từng nằm, chỉ làm anh thêm khó ngủ chứ ích gì!

– Anh Bằng!

Tôi vờ không nghe. Bức vách đã tróc nhiều mảng cần sơn phết lại. Trong những ngày tôi không đến đây, Thanh có đến thường không, Hiền có xa lánh như nàng nói không? Thanh và Hiền còn hôn nhau bao nhiêu lần nữa? Tôi mắng thầm mình. Mi có tử tế gì mà cứ ghen tức mãi. Mi thậm chí còn ôm ấp Tuyết cả đêm…

– Anh Bằng!

Tôi chầm chậm xoay lại đúng lúc Hiền ngồi lên bộ phản, sát bụng tôi. Nàng thong thả cuốn chân mùng vắt lên nóc. Tôi chăm chú theo dõi cử chỉ của nàng rồi nhìn thẳng vào khuôn mặt của nàng. Thùy đẹp, thật đẹp, có thể một phần do những người đẹp kia không còn thuộc tôi nữa. Tôi thấy lòng rung động, mềm yếu. Tiếng Hiền dịu dàng:

– Anh nhìn chi mà ghê thế? Khuôn mặt của em vẫn là khuôn mặt của thuở mười ba…

Tôi nói để ngăn tiếng thở dài:

– Nếu đúng là vậy thì anh đâu có phải cố tìm xem Hiền xấu ở điểm nào…

Đôi mắt Hiền chớp nhanh:

– Lời tán của anh làm em rung động. Anh còn thấy em đẹp sao?

Tôi xua tay, chán nản:

– Anh không có ý tán tỉnh! Anh chỉ muốn tìm xem Hiền xấu ở điểm nào để khi gặp Hiền anh chỉ nhìn nơi đó. Anh muốn thấy Hiền xấu để anh không còn yêu, còn khốn khổ!

– Anh tìm thấy không?

– Không! Ngoại trừ…

Môi Hiền bịt tắt tiếng nói của tôi. Hiền hôn tôi nồng nàn với tất cả thèm khát. Sự tiếp xúc gây cho tôi cảm giác ngột ngạt. Tôi muốn ôm xiết Hiền, xiết thật chặt, thật lâu để Hiền không còn sống nữa. Tôi cố chống chỏi. Còn mặt mũi nào đến đây nhỡ ra ba má Hiền và Dũng bắt gặp. Tôi cố đẩy Hiền ngồi thẳng lên. Hiền vẫn say đắm nhìn tôi. Tôi tránh né đôi mắt đam mê đó. Một quyển sách trên nóc mùng đang đè trũng xuống. Tôi đưa tay đấm mạnh. Quyển sách rơi xuống nền gạch tạo ra một âm thanh ngắn ngủn, nặng nề. Qua động tác đó, ngực tôi va vào bộ ngực chỉ một lớp vải mong manh che đậy. Tôi bắt đầu có cảm giác như khi gần Tuyết. Hiền nằm hẳn lên người tôi thì thầm:

– Em yêu anh. Em yêu anh vô cùng…

Tôi không cần biết điều đó. Tôi chỉ biết hiện tại Hiền nằm đè trên tôi và tôi đang khép vòng tay qua lưng Hiền. Nhưng bất chợt hình ảnh Thanh lướt qua trong trí tôi. Tôi hỏi nhỏ:

– Hiền nằm như vầy với Thanh bao nhiêu lần rồi?

Bằng một cử chỉ giận dỗi, Hiền ngồi bật dậy, rời khỏi tấm phản đi về phía lan can. Hai tay nàng nắm chặt thanh sắt, đầu cúi thấp rồi đột ngột quay người lại. Nàng gằn giọng:

– Em cũng vừa bắt chước anh nhìn xuống xem khoảng cách có đủ cao để giết chết em ngay không! Anh Bằng, sao anh khinh Hiền đến như thế? Ngoài cái chết, em phải làm gì để anh tin là em yêu anh? Để anh tin em coi anh Thanh như một… bóng mờ?

Tôi không trả lời, ngồi bỏ chân ra ngoài phản, xỏ vào đôi giày. Tôi lặng lẽ gom góp mọi thứ trên bàn nhét vào túi rồi nhấc cái bị xách thong thả bước đến thang lầu. Cả người tôi bất ngờ bị Hiền ghì chặt từ phía sau suýt đẩy tôi ngã xuống cầu thang. Tôi nói như năn nỉ:

– Anh cần về tàu.

Hiền hôn lấy hôn để vào vai vào cổ tôi. Tôi xoay người, đẩy Hiền ra, nói khẻ:

– Coi chừng! Sao liều quá vậy?

Hiền vẫn bám cứng:

– Cả nhà đi vắng hết rồi! Em muốn được hưởng những gì chị Tuyết đã hưởng. Em muốn anh cưới em chớ không cưới chị Hồng….

Ngày xưa, tôi từng có những giờ phút gần gụi riêng một mình Hiền như thế này nhưng có bao giờ được Hiền đoái hoài. Bây giờ, cơ hội đến nhưng tôi lại muốn thoát khỏi tay Hiền. Hiền đang cho nhiều hơn là tôi ước muốn. Mà lòng tôi thì lúc nào cũng mang nặng ơn huệ từ ba mẹ Hiền. Tôi chỉ muốn Hiền yêu tôi bằng cuộc tình lãng mạn, quan tâm riêng tôi bằng những nụ hôn học trò. Tôi lại năn nỉ:

– Hiền nên để anh về tàu.

– Không! Anh phải ở đây với Hiền. Anh phải là của riêng Hiền.

Tôi tìm cách thoát thân:

– Ít nhất Hiền cũng cho anh đi rửa mặt.

Hiền quét tia nhìn ngờ vực, nới lỏng vòng tay:

– Hiền chờ ngay cửa phòng rửa mặt.

Tôi bước xuống cầu thang, tạt qua phòng tắm của Dũng. Hiền lửng thửng theo sau và đứng trước buồng riêng nhìn theo tận khi tôi đóng cửa lại. Nước mát rượi giúp tôi tỉnh táo hơn. Tôi cầm cây lược của Dũng vuốt lại mái tóc. Bộ mặt tôi già hẳn đi sau nhiều ngày di hành mệt nhọc, nhiều đêm thức trắng. Tôi cạo sạch lớp râu bắt đầu thành dạng. Nhưng rồi trông cũng không khá hơn gì. Phải về tàu ngủ thì ngày mai mới làm việc hiệu quả.

Tôi mở cửa phòng tắm và mừng là không thấy bóng dáng Hiền. Khi đến đầu cầu thang, sắp bước xuống thì nghe tiếng Hiền từ phòng riêng:

– Anh về đấy à?

Tôi không trả lời, tiếp tục bước xuống. Tiếng Hiền lớn hơn:

– Vào lấy hai lá thư rồi hãy về.

Tôi bước xuống thêm mấy bước nữa và nghe tiếng Hiền vọng xuống:

– Nhìn lên xem hai lá thư của ai?

Hiền quơ quơ hai tờ giấy có dấu xếp tư quen thuộc đã thành một phần đời của tôi. Tôi chợt hiểu tại sao Hiền biết tên Hồng, biết chuyện tôi định cưới Hồng. Tôi phóng vọt trở lên và Hiền nhanh nhẹ chạy vào buồng. Khi tôi đến dừng ở cửa, Hiền đang ngồi trên giường tận cuối góc. Tôi nói cộc lốc:

– Hiền bậy quá, sao lại lục lạo bóp anh. Đưa lại anh đi.

Hiền cười, bỡn cợt:

– Leo lên đây mà lấy.

Tôi phát một cử chỉ nổi sùng:

– Anh không thích đùa. Trả lại cho anh.

Hiền nhướng mày:

– Chị Tuyết viết mùi mẫn quá. Hai anh chị mùi mẫn quá. Còn Hồng là ai vậy? Có nhà rồi, có tiền rồi chừng nào anh cưới người ta? Thảo nào anh không còn yêu em.

Tôi gằn giọng:

– Không yêu đương gì cả. Trả lại anh rồi nói gì thì nói. Nếu không thì…

– Thì anh về hả? Về đi…

Hiền làm như không có tôi, thản nhiên đọc:

– “Cám ơn anh đã yêu em hết mình và đã cho em những giờ phút thần tiên. Em đành lòng trả anh về với Hồng vì quả Hồng xứng đáng được như thế”.

Tôi bước tới, chồm lên giường định giựt lấy. Hiền ném thư vào vách, nằm dài đè lên:

– Có giỏi cứ lấy!

Tận cùng khoảng drap mênh mông đầy hoa màu xanh nhạt, thế nằm của Hiền tênh hênh, khêu gợi. Trong một thoáng, tôi quên mất là tôi đang muốn làm gì. Tim tôi đập mạnh và đầu óc bấn loạn. Giọng Hiền êm ái, mơ hồ:

– Nằm xuống với em đi anh. Ôm em đi anh yêu. Hãy cho em… những giờ phút thần tiên! Và em sẽ chứng minh cho anh thấy là em hơn hẳn họ….

Hiền nắm chặt tay tôi kéo mạnh. Người tôi ngã dài lên nệm, đầu rơi xuống ngực nàng. Nụ cười của Hiền đẹp lạ thường. Đôi mắt long lanh và đôi môi gợi cảm. Môi tôi tìm môi của Tuyết. Tôi vùi mặt vào mái tóc thom tho man dại của nàng. Tôi nắn nót đôi gò bồng đảo nhô cao…

– Ôm em đi, anh Bằng!

Không, không phải Tuyết. Trong phút đắm say Tuyết không nói, chỉ ậm ừ, u ơ. Tôi bừng tỉnh, lòm còm ngồi thẳng lên. Hiền cũng bật người, tay bá lấy cổ tôi ghị xuống. Môi Hiền lại gắn chặt môi tôi. Cả thân thể Hiền như dính keo vào tôi. Người tôi như hừng hực bùng cháy. Hiền thì thào:

– Anh khóa chốt cửa buồng, kéo kín rèm cửa sổ.

Tôi ngơ ngẩn làm theo lời nàng. Căn phòng như tối sầm lại nhưng còn đủ ánh sáng soi rõ thân hình ngà ngọc vừa phơi bày. Tôi cũng lột phăng quần áo, ngã ập lên người Hiền. Tuyết đã dứt dạt theo chồng. Hồng cũng yên vui làm vợ làm mẹ. Chỉ còn Hiền là của tôi, đang nằm đây, trần truồng, chờ đợi. Thì trước hay sau, nàng cũng sẽ là vợ…

Chúng tôi quấn quít ôm ấp. Bàn tay nâng niu ân cần từng phân da thịt. Tôi nhắm mắt tận hưởng. Rồi bỗng dưng hiện lên trong tâm trí tôi hình dáng con thằn lằn bám ở góc trần nhà. Nó cũng đang rình con thiêu thân.

Rồi tôi cũng thấy con thằn lằn cong người phóng tới con thiêu thân…

***


Chương 14


Vì máy điều hòa không khí tạm ngưng để tu bổ, tôi đẩy chiếc quạt máy hướng thẳng vào giường ngủ rồi đổi sang tốc độ nhanh nhất. Luồng gió hâm hấp nóng vùn vụt tạt vào người. Mồ hôi vẫn còn chờ dịp để thoát ra. Mái tóc như được ve vuốt, nhịp nhàng. Tôi nhớ những ngón tay mềm mại của Hiền luồn vào tóc tôi. Tôi nhớ thân thể ngà ngọc của Hiền trên tấm drap đầy hoa xanh nhạt…

Sau trưa ngày thứ hai cuồng nhiệt, dù đã hẹn gặp lại nhau thứ bảy, mới tối thứ năm tôi đã lò dò đến nhà nàng. Nhưng vì Dũng lúc nào cũng cạnh kề, cả khi ngủ nên Hiền và tôi không được giây phút nào riêng tư. Hy vọng ngày mai ba mẹ Hiền và Dũng lúc nào đó cùng đi vắng. Ngày mai, theo lời hứa, Hiền sẽ đích thân đi chợ và nấu ăn. Tôi như còn nghe văng vẳng những lời thủ thỉ dễ thương: “Bắt đầu từ giờ phút này em đã là vợ anh. Vợ thì phải lo cơm cho chồng, phải biết nấu các món chồng ưa thích. Thứ bảy anh muốn ăn gì nào? Em sẽ chuẩn bị thịnh soạn để mừng năm mới và mừng “chúng ta”. “Em cho ăn gì anh cũng thấy ngon”. “Mấy món mẹ nấu, chắc anh ngán rồi. Để em nấu các món Huế. Em có sách dạy nấu món Huế”. “Làm ơn đừng nấu món Huế. Tốt hơn là đừng nấu gì hết! Để anh ăn em là ngon nhất”. “Đó ăn đi!”…

– Thiếu úy! Thiếu úy!

Dường như tôi đã nghe tiếng gọi nhiều lần trước khi tỉnh giấc. Tôi hé mắt, nghe tiếng mình nhề nhệ:

– Gì đó anh?

– Có công điện, thiếu úy.

Tôi bực mình xẵng giọng:

– Thì để vào hồ sơ “công điện đến”

– Thưa công điện “thượng khẩn”

Tôi đưa tay nhận tờ giấy, nói cám ơn rồi lại chìm vào giấc ngủ…

Tiếng còi xoáy vào tai, rền rĩ trong óc. Tôi giật bắn người, tim thình thịch đập. Tôi đưa hai tay đè lên ngực lắng nghe những rung động, những mõi mệt lan dần. Thêm một hồi còi nữa. Khó ai ngủ yên với tiếng còi rùng rợn đó. Tùy âm nhịp phát ra, nó buộc nhân viên phải ý thức ngay việc sắp làm. Như tiếng nhịp đôi “tích te” ba lần, rồi tiếp tục, có nghĩa là mười lăm phút nữa sẽ đến giờ điểm danh và tiếng nhịp ba “te te tích” có nghĩa giờ làm việc bắt đầu.

Tôi ngồi bật dậy. Có tiếng sột soạt khi tôi xoay người rời khỏi giường. Tôi cầm mảnh giấy và chợt nhớ công điện thượng khẩn được trao tận tay. Mình ẩu thật. Tôi đọc vội vàng và càng thêm lo lắng: “Chiến hạm được đặt dưới quyền điều động của Vùng 4 Chiến thuật trong thời hạn 8 ngày kể từ ngày 2 tháng 1 năm 1965. Có mặt tại Đồng Tâm để họp với Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 7 hồi 10:00 H. Mọi chậm trễ Hạm trưởng hoàn toàn chịu trách nhiệm”. Ký tên và đóng dấu: “Hải quân Trung tá …Chỉ huy trưởng Hải lực”

Nhớ ra hôm nay ngày đầu năm, tôi tỉnh hẳn ngủ. Có mặt ngày 2 ở Đồng Tâm có nghĩa là phải khởi hành bất kỳ lúc nào hôm nay. Vậy mà khi nhận công điện, tôi vẫn tỉnh bơ ngủ tiếp. Tôi phóng qua buồng hạm phó. Bên trong tấm màn che cửa, căn phòng tối đen. Tôi gõ vào vách và tăng độ khẩn khi đánh thức:

– Hạm phó! Hạm phó! Có công điện “hỏa tốc”.

Hạm phó Được choàng dậy hỏi dồn:

– Đâu? Đâu? Đưa coi!

Đèn bật sáng. Hạm phó nhíu mày nhìn lướt tờ giấy rồi hấp tấp thay quần áo. Chợt nhớ trên người chỉ có mỗi chiếc quần đùi, tôi cũng vội về phòng mình. Tiếng Được vói theo:

– Này Bằng, chốc nửa điểm danh, báo tôi biết ngay nhân viên thiếu đủ thế nào. Tôi phải báo ngay với hạm trưởng.

– Nhận rõ.

Mặc xong quân phục, tiếng còi điểm danh buổi chiều cũng vừa ré lên. Khi ông quản nội trưởng báo cáo Hạ sĩ nhất Thành vắng mặt tôi mới chợt nhớ là sáng nay chính tôi cho phép Thành về nhà săn sóc con bị bệnh. Anh hứa sẽ về tàu trước điểm danh chiều. Tôi rất hiểu hoàn cảnh gia đình anh. Tôi cũng tin anh đã trở thành một nhân viên tốt từ sau khi thăng cấp hạ sĩ nhất gần một năm trước. Anh không vào tức là anh thực sự đang gặp khó khăn.

Tôi cho tan hàng và bước chầm chậm trong lòng tàu. Tôi sẽ trình bày ra sao với hạm phó về sự vắng mặt của Thành. Từ lần đầu nói chuyện khi mới đổi xuống tàu, tôi đã có cảm tình đặc biệt với Thành. Thỉnh thoảng tôi dành vài phút hỏi thăm gia cảnh và cười đùa với anh. Đôi lần anh kẹt tiền, tôi sốt sắng cho mượn. Gần đây nhất, anh cho biết hai đứa con lớn đã tới tuổi đi học nên một đứa gửi cho bên nội, một đứa gửi cho bên ngoại. Còn bốn đứa nhỏ thì gần như là do một mình vợ anh quán xuyến. Bởi vì rõ ràng là tàu thì cứ công tác liên miên mà về bến lại còn bị cấm trại. Tôi nghe thì nghe vậy nhưng không hề hình dung những thống khổ mà vợ con Thành phải trải qua.

Cho đến một lần, tàu đi công tác gấp, không đủ nhân viên đi gọi phân đội đi bờ về tàu, tôi tình nguyện đi tìm Thành vì lúc đó anh là nhân viên thuộc ban Vận chuyển của tôi. Theo địa chỉ, chiếc taxi chở tôi qua cầu Ông Lãnh, quẹo mặt chạy dọc theo bến Vân Đồn. Tôi cho taxi dừng đổ tôi xuống ở cái số nhà đầu tiên tiếp theo hai số tách nhau bằng hai dấu gạch nghiêng.

Tôi vào một con hẻm rồi tạt qua con hẻm khác nhỏ hơn. Đi một lúc thì đến khoảng trống nhỏ nhưng đầy các dãy thùng quanh một vòi nước máy. Cuối khoảng đất trống là một chòi canh. Tôi không thể gọi đó là nhà của Thành. Nó đúng là một chòi canh của nhân dân tự vệ mà do một “cơ duyên” nào đó trở thành nơi ăn chốn ở của gia đình anh. Căn chòi có hình khối vuông mỗi chiều bốn thước mà vách là những tấm ván gỗ thông lấy từ thùng đạn pháo binh. Nó được ngăn thành hai tầng. Tầng trên dành cho ba đứa nhỏ đã biết leo cầu thang, ngủ lăn lóc trên sàn. Tầng trệt, một bên đặt chiếc phản gỗ vừa vặn cho vợ chồng và đứa bé nhất. Phản gỗ cũng là nơi dọn thức ăn. Phần còn lại dành cho việc bếp núc. Còn cầu tiêu thì nằm nơi công cộng trên một con lạch gần đó. Tôi có hỏi Thành sao không xin nhà khu gia binh. Anh cho biết đã xin nhưng khu gia binh hiện tại thì đầy, phải chờ khu mới đang xây, mất chừng một năm nữa.

Bây giờ thì tôi đã hiểu vì sao Thành rất thường xin về nhà ngay khi sáng sớm trở lại tàu. Ăn ở chật chội như vậy, tại một chốn xô bồ dơ bẩn như vậy, gần như ngày nào các con anh không đứa này thì cũng đứa khác ngã bịnh. Nhưng anh đâu thể xin phép về mỗi ngày nên đành phó thác sinh mạng lũ con cho Phật Trời. Chỉ khi có đứa bịnh nặng cần đi bác sĩ thì anh không còn cách nào khác. Vợ anh không thể dắt ba đứa kia theo cùng, anh phải về đưa con vào bệnh xá Hải quân. Anh than là không ai cảm thông hoàn cảnh của anh, chỉ biết vắng mặt là phạt. Đó cũng là lý do trước đây anh không kềm chế được cơn nóng giận…

Bước gần đến mũi tàu, tôi quay trở lui rồi leo cầu thang đứng gần hạm phó đang nói điện thoại ở hạm kiều. Qua trao đổi, tôi hiểu người đầu máy kia là hạm trưởng. Anh dạ vâng một lúc rồi gác máy, quay sang tôi:

– Hạm trưởng đã biết tin và sắp về tàu. Nhân viên đủ không?

– Thưa chỉ thiếu hạ sĩ nhất Thành.

– Nó đi đâu? Ai cho nó rời tàu?

– Dạ tôi. Sáng nay Thành xin tôi vài tiếng về nhà lo cho con đau nặng.

– Sao anh không hỏi ý kiến của tôi?

– Thưa hạm phó, tôi tưởng việc lặt vặt này chỉ cần sĩ quan trực giải quyết.

Hạm phó Được quắt mắt:

– Với tôi thì không lặt vặt. Chuyện này tính sau. Bây giờ anh cho người đi tìm Hạ sĩ nhất Thành về tàu ngay.

Tôi thấy nên tình nguyện tìm Thành, vừa tỏ ra biết lỗi vừa lợi dụng dịp này tạt qua nhà cho Hiền biết là mai tôi không đến được:

– Thưa hạm phó, tôi xin đi tìm Thành.

Hạm phó gạt ngang:

– Anh trực mà đi đâu!

Tôi cố nhẫn nhục:

– Tôi có lỗi cho Thành rời tàu nên muốn đích thân gọi Thành về. Tôi sẽ nhờ người trực thế.

Giọng hạm phó lạnh lùng:

– Tôi bảo không! Việc anh cần làm bây giờ là thông báo các sĩ quan chuẩn bị họp với hạm trưởng lúc ba giờ. Họp để chuẩn bị tàu đi công tác.

Tôi buồn rầu đáp buông xuôi:

– Đáp nhận.

Chiến hạm tách bến lúc bốn giờ. Hạm trưởng quyết định khởi hành sớm vì radar chưa khiển dụng, vẫn còn chờ cơ phận thay thế. Sau chuyến công tác đi Trà Nóc, ông quá ớn với việc giang hành đêm như người mù. Khi mặt trời vừa lặn thì tàu cũng vừa ra khỏi cửa sông Soài Rạp. Hạm trưởng cho neo ngoài khơi chờ sáng sớm vào Cửa Tiểu cho ăn chắc.

Đúng như tính toán, chiến hạm vào cặp cầu vịnh Đồng Tâm lúc 9:30 H. Riêng phần tôi, tôi bị một vố ngoài dự đoán. Tôi đoán rằng việc Thành về tàu trước giờ khởi hành sẽ giúp mọi chuyện êm đẹp nhưng vừa khi hạm trưởng rời tàu đi họp hành quân với Sư Đoàn 7 Bộ Binh, Hạm phó Được cho gọi hạ sĩ nhất Thành trình diện ở phòng làm việc sĩ quan. Theo phép lịch sự, các sĩ quan đều rời phòng. Chỉ với riêng tôi, ông bảo:

-Thiếu úy Bằng cứ ngồi đó.

Với chút ngạc nhiên, tôi ngồi im theo dõi cuộc đối đáp. Hạm phó hỏi:

– Hạ sĩ nhất Thành có biết mình phạm lỗi gì không?

Thành liếc nhìn tôi, đáp khẽ:

– Thưa hạm phó, lỗi trình diện trễ, tôi nhận lỗi.

– Anh trình diện trễ như vầy là lần thứ mấy?

Thành sốt sắng trả lời:

– Thưa hạm phó, tôi chưa từng trình diện trễ?

Hạm phó sửa lại thế ngồi, quát lên:

– Anh giỡn với tôi hả?

Thành giật mình, lúng túng:

– Thưa, tôi nói thật. Vắng mặt thì có nhưng trình diện trễ thì chưa bao giờ!

Hạm phó vẫn giữ cao giọng:

– Vắng mặt bao nhiêu lần?

Thành gãi đầu:

– Thưa tính từ năm nào?

Giọng hạm phó bẳn gắt:

– Đúng là anh giỡn với tôi.

– Thưa, lâu rồi tôi cố gắng không vắng mặt. Bằng chứng là tôi được thăng cấp.

Hạm phó lật sổ phạt, xem xét tới lui. Một lúc sau ông ngẩn lên nghiêm nét mặt:

– Tôi mừng thấy anh hoàn toàn thay đổi. Ráng giữ mãi như vậy. Lần này cảnh cáo, nhớ đừng tái phạm. Thôi cám ơn anh.

Khi Thành đi khuất, Hạm phó bảo tôi:

– Tên đó có cái dĩ vãng khá lẫy lừng, anh có biết không?

– Tôi có nghe Hạm phó Đắc nói lại.

Ông đổi thế ngồi và đổi giọng khô khan:

– Bây giờ đến lượt xét xử anh. Mời thiếu úy đứng lên, nghiêm chỉnh.

Tôi trân trân nhìn ông. Hạm phó Được cũng chiếu tướng tôi không chớp. Xét xử tôi? Nghe như tôi phạm trọng tội! Mà nào tôi có phạm lỗi gì cho cam. Lại thêm cái giọng hách dịch khiến máu trong người tôi sôi sục. Tôi định ngồi lỳ xem ông sẽ làm được gì nhưng rồi cố dằn cơn giận. Tôi thấy giữ hòa khí là tốt hơn. Tôi thấy nên hòa điệu với bản tính hách xì xằng cố hữu của ông. Tôi đẩy nhẹ chiếc ghế ra sau và đứng thẳng người. Giọng hạm phó êm nhẹ như mang theo sự hài lòng:

– Về việc anh cho Hạ sĩ nhất Thành đi phép con đau, anh không thấy có lỗi gì sao?

Tôi mạnh dạn lắc đầu:

– Tôi thấy không có lỗi gì. Tôi chỉ áy náy là Thành không về tàu đúng giờ như đã hứa. Tôi có thể đề nghị phạt Thành về tội về trễ nhưng Hạm phó đã tha…

Hạm phó trở lại giọng khô khan, hách dịch:

– Tôi vẫn nghe các hạm trưởng đều khen anh là sĩ quan ưu tú nhưng tôi chả thấy anh ưu tú ở điểm nào! Kể cả hải quy cũng không thuộc. Anh vi phạm hải quy về quyền thâm niên hiện diện. Anh cho phép nhân viên rời tàu mà không tham khảo ý kiến của tôi với tư cách hạm phó có mặt trên tàu.

Tôi rủa thầm: “Đúng là hắc ám”. Tôi đã từng sống qua hai đời hạm phó, đã từng cho nhân viên đi phép đặc biệt trong ngày trực nhưng không ai quan tâm đến việc này. Quyền thâm niên hiện diện được đặt thành Hải quy là để áp dụng cho những trường hợp cần thống nhất chỉ huy hoặc cần đưa ra những quyết định quan trọng. Không ai đem áp dụng quyền thâm niên cho cái phép vài giờ. Tôi nhìn ông bằng ánh mắt chán ngán pha chút xem thường:

– Hạm phó đã viện đến hải quy thì tôi xin chịu lỗi.

Được nói bằng giọng ân nghĩa:

– Nghĩ cái tình từng sống chết cùng nhau gần năm qua nên tôi chỉ đề nghị phạt anh rất nhẹ là bốn ngày khinh cấm, chỉ để cảnh cáo. Hạm trưởng sẽ gọi anh trình diện sau. Anh có gì khiếu nại không?

Tôi nở nụ cười mai mỉa. Phạt là phạt, cảnh cáo là miễn phạt, như ông cảnh cáo hạ sĩ nhất Thành. Phạt để cảnh cáo thì Hải quân thế giới chắc chỉ có mình trung úy Được, hạm phó thân mến của tôi. Với người như vậy, tôi có nói gì cũng vô ích. Tôi lắc đầu:

– Thưa không ! Và xin cám ơn hạm phó đã chỉ… cảnh cáo!

Hạm phó gật đầu, vui vẻ:

– Tốt!

Tôi thở ra một hơi dài! Vậy là sau chuyến công tác tám ngày, Hiền phải chờ thêm bốn ngày nữa. Nhưng vẫn còn hy vọng gặp nhau. Thường sau một chuyến công tác, chiến hạm cặp bến từ năm ngày đến một tuần để nhân viên đoàn tụ gia đình và để chiến hạm tu bổ và tái tiếp tế. Sau bốn ngày tù, tôi vẫn còn ít nhất một ngày được gần gụi Hiền…

Trong giờ cơm trưa, hạm trưởng nói qua về cuộc hành quân hỗn hợp liên binh. Cuộc hành quân sẽ diễn ra sáng sớm ngày mai ở khu vực Tây Bắc Hồng Ngự. Xem ra khá quy mô. Chiến hạm sẽ đổ bộ hai đại đội thuộc Sư đoàn 7 lên sát biên giới Kampuchia thuộc xã Thường Phước. Một đại đội khác được trực thăng vận xuống đồn Thường Thới, sâu trong đất liền. Hai cánh quân phối hợp tảo thanh tiêu diệt một đại đội Việt cộng vừa xuất hiện theo tin tình báo rất đáng tin cậy. Một giang đoàn tuần tiểu chận xét mọi ghe thuyền dọc Tiền giang từ biên giới đến Hồng Ngự. Trực thăng võ trang, một trung đội pháo binh và chiến hạm trách nhiệm yểm trợ hỏa pháo.

Ngày nào cũng đụng trận. Ngày nào ta và địch cũng có chết và bị thương. Đến ngày thứ tư, cánh quân Thường Thới đã tiến sát ven đô quận lỵ. Cánh quân từ chiến hạm tiến đến đồn Thường Phước ở khúc quanh nhìn qua phố chợ Tân Châu. Tàn quân Việt cộng tháo chạy qua Miên để lại 18 xác chết và nhiều người bị thương tích nặng. Giang đoàn bắt giữ một số tình nghi giải giao cho quận. Âm mưu pháo kích và tấn công vào quận lỵ Hồng Ngự của đại đội Việt cộng đã hoàn toàn bị bẻ gãy. Chiến hạm tái nhận hai đại đội mang trả về Đồng Tâm, rồi trực chỉ Sài Gòn.

Hai giờ trưa thứ sáu chiến hạm cặp cầu C. Một nửa nhân viên hí hửng đi bờ. Một nửa vui vẻ chờ ngày mai đến lượt. Tôi thì chán chường chờ hạm trưởng gọi trình diện. Ông bảo là ông thấy sự việc không đáng nhưng hạm phó đã đề nghị thì ông không thể không xét. Nhưng nếu phạt tù thì rất có thể cái lon trung úy tự động hai năm của tôi sẽ bị treo một thời gian. Vì vậy ông dung hòa bằng cách đổi bốn ngày khinh cấm thành bảy ngày cấm trại.

Xét về “lý” thì sự thay đổi này quả là có lợi cho tôi về tương lai hải nghiệp nhưng xét về “tình” thì tôi và Hiền đều bị thiệt hại nặng. Chúng tôi sẽ không gặp nhau không phải chỉ thêm ba ngày mà có thể lâu hơn. Ba ngày tăng thêm đó là thời điểm tàu lại khởi hành công tác bất cứ lúc nào. Tất nhiên tôi không thể vì… chút tình mà đeo lon chậm hơn bè bạn.

Từ ngày đầu bị cấm trại, sau còi tan việc buổi chiều, tôi thường ngồi trên chiếc trụ sắt dùng buộc dây neo ở sân lái cho tới khi anh chiêu đãi viên mời xuống dùng cơm tối. Ngồi ở vị trí đó tôi có thể quan sát khắp công viên Bạch Đằng và suốt con đường Cường Để. Bất cứ bóng dáng áo dài trắng nào xuất hiện, tôi cũng nghĩ là Hiền. Nhưng ngày qua ngày, tôi vẫn mõi mòn ngóng trông. Ông Trời sao cắc cớ. Lúc tôi không muốn gặp Hiền thì được dịp đi bờ liên miên, chừng khi muốn gần thì cơ hội cứ thi nhau lẫn trốn.

Tôi nhớ lần duy nhất Hiền xuống tàu thăm tôi và tôi đã tỏ ra hất hủi. Bây giờ tôi lại thiết tha mong Hiền xuất hiện. Có phải tại tôi không còn ai khác ngoài Hiền? Hay tại vì dư âm những xúc cảm thịt da khiến tôi điên cuồng thương nhớ? Tôi cứ muốn đi gặp Hiền rồi đào ngũ luôn bên Hiền. Nhưng cuối cùng tôi không phải ngồi trông mong vào chiều ngày thứ sáu thọ phạt. Đúng như tôi dự đoán, tàu nhận lệnh công tác sau năm ngày nghỉ bến. Công tác ngắn hạn thôi: Chỉ năm ngày cho chuyến đi Cần Thơ chở tù ra Phú Quốc. Hiền ơi! Đời thủy thủ của anh là thế. Hãy vì yêu anh mà cảm thông, không giận không hờn…

Cuối cùng, khi tàu trở lại Sài Gòn, tôi hưởng một may mắn nhỏ là được gặp Hiền sớm hơn một ngày. Thay vì tôi phải thi hành thêm một ngày cấm trại còn nợ, hạm trưởng và hạm phó hội ý ban đặc ân xí xóa cho tôi. Và tôi được đi bờ ngay cùng lúc phân đội không trực. Nhẫm tính sơ sơ, tôi và Hiền đã không gặp nhau đúng hai mươi mốt ngày…

Trên đường đến nhà Hiền, chưa bao giờ tôi thấy nôn nao đến thế. “Hiền ơi! Dù có ‘nguy hiểm’ đến thế nào, bữa nay anh cũng nhất định phải ôm em cho thỏa. Anh nhớ ngất ngây mùi da thịt kỳ diệu của em. Anh mong ba mẹ và Dũng đi vắng. Hẳn em cũng mong như anh?” Tôi đã tính toán đâu vào đó. Bốn giờ Hiền sẽ ra khỏi Đại học Sư phạm. Bốn giờ rưởi về đến nhà. Tôi sẽ gõ cửa nhà Hiền vào lúc năm giờ kém mười lăm. Hiền sẽ mở cửa và ngạc nhiên reo mừng…

Nhưng trái với mong ước, người mở cửa là mẹ Hiền. Như đã đợi giờ phút này từ lâu, bà buông lời vừa trách móc vừa cảnh báo:

– Con Hiền giận cháu lắm đó. Hôm trước nó nấu ăn linh đình, chờ mãi cháu không tới. Chốc nữa nó đi học về cháu liệu nói khéo với nó.

Tôi cười hứa chắc:

– Cháu sẽ xin lỗi Hiền. Chắc chắn là Hiền sẽ hết giận cháu.

– Có bác trai ở nhà. Cháu lên nói chuyện chơi với bác trai chờ nó về. Còn thằng Dũng thì chắc lại đang họp hành biểu tình chống ông đại tướng thủ tướng. Không biết đất nước bao giờ mới được bình yên cho người dân làm ăn…

Tôi lên lầu hai. Ba Hiền đang ngồi uống trà, đọc báo. Tôi hỏi thăm sức khỏe của ông và ông hỏi thăm những ngày đi biển của tôi. Chúng tôi bàn qua về tình hình thời sự. Ông chê ông tướng râu dê xử sự như tên hề và miền Nam đang thiếu người tài lãnh đạo. Tôi nói đùa rằng ông tướng đã cạo râu chắc rồi sẽ lãnh đạo khá hơn. Được nửa giờ, nhân lúc ông phải vào nhà tắm, tôi leo lên lầu ba, mở cửa phòng Hiền. Chiếc giường phẳng phiêu không còn một dấu vết gì của ngày nào quấn quít. Tấm drap đầy hoa xanh nhạt cũng đã được thay băng tấm drap trắng tinh…

Chiếc dồng hồ báo thức trên đầu giường chỉ năm giờ ba mươi. Hiền đi đâu mà về nhà trễ gần một tiếng rồi. Tôi ngồi vào bàn học của nàng. Sẵn viết và giấy, tôi vẻ những nét dọc nét ngang, những hình thù rối rắm vô nghĩa… Khi tờ giấy đã dày đặc mực đen, tôi vò nát rồi ném vào sọt rác cạnh bàn. Tôi nôn nóng và bắt đầu bực bội. Hiền đi đâu sau giờ học? Hiền không thích biểu tình, chẳng lẽ đi đến nhà Thanh? Không! Không thể! Hiền đã nói Thanh chỉ là bóng mờ. Hiền đã chứng minh bằng sự tự nguyện từ bỏ trinh trắng…

Tôi nhìn quanh tìm thời khóa biểu. Có thể tôi nhớ sai giờ tan học. Bức ảnh bán thân từ cuối bàn nhìn tôi mỉm cười duyên dáng. Tôi nở nụ cười tươi đáp lại. Tôi vói tay cầm khung ảnh định đặt môi nàng vào môi tôi thì nhận ra một điều đau lòng. Tôi đặt khung ảnh vào chỗ cũ và tưởng như có một lúc nào đó căn buồng tối sầm lại và quay mòng. Thế là nghĩa lý gì? Hiền đã trở lại với Thanh rồi sao? Hôm đó tôi đã yêu cầu Hiền vất cái khung ảnh do Thanh tặng sinh nhật nàng và nàng đã vui vẻ lấy bức ảnh ra rồi ném cái khung vào thùng rác. Thế mà bây giờ vẫn tấm ảnh cũ trong cái khung cũ và đặt đúng chỗ cũ. Hiền không đếm xỉa gì ước muốn của tôi. Mà làm sao lại có thể thay đổi dễ dàng bất chấp kỷ niệm sâu đậm đầu đời?

Không chừng Hiền giận tôi không đến như đã hứa nên lại diễn cái trò chọc giận tôi như trước? Tôi gật gù hài lòng với ý nghĩ này. Hiền vẫn trẻ con và nông nổi quá. Hiền đã tự cho là vợ tôi, đã hứa lo cho tôi miếng ăn giấc ngủ thì không thể xử sự như vầy được. Tôi úp khung ảnh lên mặt bàn. Một quyển sổ dầy cỡ nửa quyển vở học trò nằm phía sau khung ảnh trơ vơ hiện ra. Kẹp giữa trang sách là mảnh giấy viết thư màu xanh xếp đôi. Không ngăn được tò mò, tôi rút mảnh giấy ra cầm đọc:

“Hiền,

Mấy tháng nay dường như em giận anh điều gì thì phải. Anh đã cố gắng tìm hiểu mà vẫn không nghĩ ra nguyên do. Lúc nào anh cũng tha thiết yêu em. Nếu anh có lỗi, hãy vì mối thiết tha đó mà bỏ qua cho anh.

Em không đến nhà anh, đã đành, còn anh, ngày nào anh cũng đến với em mà em vẫn lạnh lùng lánh mặt. Anh đã nghi ngờ là em yêu Bằng nhưng thật vô lý vì suốt thời gian đó em cũng không gặp Bằng. Cho dù em có lần em bảo là em bận học thi nhưng đâu lẽ em bận đến độ không còn chút thì giờ nào ban cho anh lời chào xã giao!

Anh nhớ ngày xưa mà buồn. Anh xưa mỗi lần anh đến nhà là em vồn vã, âu yếm. Chẳng lẽ không bao giờ anh còn được những giờ phút hạnh phúc đó nữa sao em? Đừng giận anh nữa! Giận hoài, anh khốn khổ, học hành không một chữ vào đầu đến thi rớt mất. Anh rất sợ thi rớt, không phải vì xấu hổ với bạn bè mà vì sợ phạm vào điều cấm của em. Em đã từng ra lệnh : “Cấm không được thi hỏng” kia mà. Giúp anh thi đỗ nghe em! Rất mong em đến nhà chiều mai, sau giờ học. Ngày mai là sinh nhật của anh. Không có em chắc anh buồn chết được. Nếu em không đến vì anh thì cũng nên vì ba mẹ anh. Ông bà đã quen sự hiện diện của em nhiều lần sinh nhật. Vắng em lần này thế nào anh cũng bị hỏi han và thật tình anh không biết câu trả lời! Ba mẹ có lần xúi anh cưới em sớm đi, kẻo chậm người khác rước mất. Anh thấy rất có lý. Thiếu gì cặp thành vợ thành chồng mà vẫn cắp sách đến trường. Nếu em bằng lòng, anh sẽ cưới em ngay… Không phải là lời nói đùa!

Anh sẽ đợi em đến bảy giờ tối. Quá giờ đó, anh tự hiểu là em đã thật sự hết yêu anh. Và nếu thật thế, đời anh sẽ ra sao?

Nhớ nhiều và… hôn em nhiều!

Thanh”

Tôi nghe nghèn nghẹn ở cổ và đăng đắng ở miệng. Tôi nhắm mắt, nín thở thật lâu. Nhưng tôi vẫn cứ muốn hét to và đập phá. Tôi nghe đau nhói ở lồng ngực. “Hôn em nhiều” nghĩa là họ từng hôn nhau và vẫn hôn nhau. Và hiển nhiên là giờ phút này họ lại đang hôn nhau. Tôi tưởng như thấy Hiền trần truồng bên Thanh cũng trần truồng… Tôi vẫn là kẻ chiến bại. Người con gái cuối cùng tôi từng đem hết dạ yêu thương cũng đã bỏ tôi. Thôi, về đi. Thôi, vĩnh biệt đi. Còn trông mong gì nữa. Tôi thở ra một hơi dài tưởng chừng như trút đi hết cơn giận. Nhưng cơn giận lại bùng thêm hơn. Hình ảnh Hiền quấn quít Thanh ngập tràn tâm não tôi. Chỉ mới ba tuần trước chính Hiền dâng tôi những quấn quít đó. Liệu có đúng tôi là người đầu tiên hay chỉ là kẻ đến sau? Tôi run tay nhét là thư vào vị trí cũ rồi chống lên mép bàn cố gắng đứng thẳng lên. Khi quay người định bước ra khỏi phòng mắt tôi bỗng dán chặt vào quyển sổ. Tôi cầm lên, mở từng trang. Đến trang thứ tư mới bắt đầu những chữ dầy đặc. Hiền viết nhật ký, bắt đầu với ngày tháng trước hôm nay chưa tới một tuần:

“Chủ nhật 17/1/1965

Tối buồn mênh mang nghe Hồ Diệp ngâm thơ. Từng câu từng câu sao mà thắm thía. ‘Đứa con gái bỗng nhiên thành thiếu phụ. Mơ tương lai bằng dĩ vãng đau buồn’. Thơ của ai mà diễn tả đúng tâm trạng mình quá xá. Hôm kia“bỗng nhiên” thành thiếu phụ để rồi hôm nay không dám ước mong gì cho hạnh phúc mai sau!

Tôi căm thù anh. Trọn đời tôi sẽ căm thù anh. Tôi dâng anh một lần với niềm tin trọn đời được dâng riêng anh mà sao anh nỡ hưởng một lần rồi không trở lại? Có phải đó là cách trả thù những lần tôi làm anh đau khổ? Nếu quả thế thì lòng anh độc địa quá! Bây giờ anh đã toại nguyện và bắt đầu khinh tôi lắm phải không anh? Anh có quyền tự mãn nhưng đừng khinh tôi tội nghiệp. Bởi lẽ tôi vì tha thiết chân thành yêu anh nên mới thua không còn manh giáp. Anh không tin tôi ư? Anh không tin cũng phải vì chính tôi, tôi cũng không tin là có ngày tôi… dâng hiến cho anh! Tôi không còn cách nào chứng minh tôi yêu anh thật lòng.

Thứ bảy hẹn hò, anh không đến. Tôi tự nhủ là anh bị cấm trại hoặc công tác bất thường. Tôi buồn phiền nhưng vẫn chờ anh suốt tuần sau. Suốt hai tuần anh bặt tăm và không có lời giải thích nào? Tôi phải nghĩ gì đây? Tôi phải giải quyết sao đây nếu… chẳng may bụng tôi ngày một lớn? Anh đã không cho tôi một chọn lựa nào khác hơn là trở về với Thanh. Và sớm làm vợ Thanh.

Tôi phải quên đi. Phải cố mà quên tất cả đi! Quên để xây đắp tương lai cho người thiếu phụ chưa chồng…”

Tôi bàng hoàng thảng thốt đến không thể đọc tiếp. Hiền đã hiểu lầm một cách quá tai hại. Hiền cay đắng và căm thù tôi quá nông nổi, vội vàng. Sao Hiền có thể dễ dàng liệt tôi vào hạng người hạ cấp đến thế! Chính ba mẹ Hiền đã cho tôi nơi chốn ăn học, dĩ nhiên tôi không thể có hành động thấp hèn với Hiền. Với Hồng, dù nàng cho tôi cơ hội suốt ngày đêm tôi vẫn từ chối. Lúc đó tôi chưa có nhà cửa, chưa tiền bạc, tôi phải giữ gìn cho Hồng theo kế hoạch năm năm. Nhưng với Hiền, mọi sự đã sẵn sàng, tôi thấy không cần phải … bỏ chạy như bỏ chạy với Hồng. Tôi đã định bàn việc cưới hỏi với Hiền vào bữa ăn mừng năm mới nhưng cơ hội không đến. Hôm nay tôi sẽ nói hết. Tôi sẽ nói về Tuyết nhưng dấu biệt chuyện cưới hụt Hồng. Tôi nói tôi đã bịa ra nhân vật Hồng để Tuyết dứt khoát theo chồng về Mỹ. Hiền sẽ tin vì nàng còn giữ thư Tuyết. Hiền sẽ hiểu và hết giận! Và tôi và nàng sẽ …

– Ai cho phép anh vào buồng riêng của tôi? Ai cho phép anh lục lạo sách vở của tôi?

Giọng Hiền giận dữ truyền vang trong tiếng quát tháo. Tôi nhìn Hiền đang đứng cạnh Thanh ngoài khung cửa. Mặt nàng đỏ bừng, mắt sòng sọc long lên. Chân tôi chôn cứng, người lịm đi. Hiền đứng đó từ bao giờ? Sao tôi không nghe bước chân của nàng?

– Anh câm hả?

Câu hỏi xấc xược kéo tôi bừng tỉnh. Mắt tôi chiếu thẳng vào mắt Hiền nhưng vẫn thấy cánh tay Thanh vòng ngang lưng nàng và đôi môi Thanh đang nở nụ cười đắc thắng. Mặt tôi bắt đầu nóng bừng. Tôi muốn phóng tới đấm cho nát nụ cười đểu cáng đó. Tuy nhiên tôi vẫn đứng yên, giữ giọng nhỏ nhẹ với Hiền:

– Anh tưởng anh có quyền…

Hiền vẫn cao giọng:

– Quyền gì? Quyền ăn nhờ ở đậu? Quyền… bất lịch sự?

Tôi vẫn đăm đăm nhìn Hiền. Có thật Hiền vừa thốt ra những lời bất lịch sự đó? Cứ cho là tôi ăn nhờ ở đậu thì có dính dáng gì chuyện hôm nay. Và việc Hiền xem lén và tiếp tục giữ thư riêng của tôi thì không phải là hành động bất lịch sự? Hiền muốn làm nhục tôi trước mặt Thanh để chứng minh Hiền coi tôi như cái bóng mờ? Sẵn cầm lá thư của Thanh tự lúc nào, tôi bóp nhàu nó mà tưởng chừng bóp nát thân thể Hiền. Một ý tưởng thoáng hiện. Tôi chỉ có thể lấy lại thư Tuyết bằng cách trao đổi. Tôi vứt lá thư của Thanh vào thùng rác, dứ dứ quyển sổ nhật ký của Hiền:

– Anh xin lỗi đã tự tiện vào buồng Hiền. Anh chỉ muốn tìm quyển sổ tay và đã tìm thấy. Vẫn còn thất lạc hai lá thư của Tuyết, Hiền có tình cờ thấy đâu không?

Những nét đanh đá trên gương mặt Hiền tự dưng biến mất. Nàng cúi mặt, lặng thinh. Tôi lảo đảo đi ra phía cửa. Thanh kéo Hiền sát vào người để nhường lối. Tôi dừng trước nàng, định vung tay tát thật tàn bạo nhưng rồi chỉ nói bóng gió:

– Có lúc nào đó Hiền thấy hai lá thư của Tuyết, xin báo anh đến lấy.

Hiền ngẩng lên, mắt ngấn lệ. Tôi thất thểu bước xuống thang lầu. Đầu óc tôi rỗng không.

– Cháu về sao? Ở lại ăn cơm rồi hãy về…

Tôi giật mình chùn bước. Mẹ Hiền đang nấu ăn, nhìn tôi chờ câu trả lời. Tôi cố giữ giọng tự nhiên:

– Dạ, cám ơn bác. Nhưng cháu phải về tàu, cháu chỉ được đi vài tiếng.

– Bác nghe con Hiền lớn tiếng…

– Dạ không có gì đâu bác. Cháu đã xin lỗi…

Tôi băng ngang đường, đi dọc theo hè phố. Đường phố chưa lên đèn nhưng bên trong những căn phố đã bật sáng. Cái nóng và bụi và tiếng ồn làm tôi thêm choáng ngộp. Tôi cứ bước mà không biết về đâu. Hiền đã ném tôi ra đường khi dự định của tôi là bên nàng suốt đêm. Tôi quay lại nhìn về căn nhà của Hiền. Hiền và Thanh đang làm gì? Họ đang hôn nhau. Họ đang… Không, không thể. Ba mẹ Hiền đang ở nhà. Nhưng còn những tối vừa qua ở nhà Thanh? Hiền đến nhà Thanh bao nhiêu lần từ sau khi nhận được thư Thanh? Còn đêm sinh nhật?

Tôi nghe lòng chua xót đắng cay. Không, không còn gì cứu vãn. Nhật ký của Hiền đã ghi rõ. Nàng trở lại với Thanh và sẽ sớm làm vợ Thanh. Đứa con, nếu chẳng may là của tôi, sẽ trở thành con của Thanh hoặc thực sự là con của Thanh. Không ai biết, kể cả Hiền! Kể cả con tôi! Tôi dừng lại dưới một mái hiên vắng người qua lại, mở quyển nhật ký. Hiền còn viết nhiều, chừng vài chục trang nữa. Tối nay về tàu, tôi sẽ đọc nhiều lần…

Mà sao Hiền không một phản ứng ngăn tôi cầm đi quyển nhật ký? Hiền muốn tôi đọc hay muốn tránh lôi thôi với Thanh? Có lẽ điều sau là đúng hơn vì chắn chắn là Thanh sẽ đòi đọc. Và chắc chắn Hiền không muốn Thanh biết nàng không còn trinh trắng. Tự dưng tôi thèm khát như điên dại thân thể của Hiền. Những gì xảy ra trong căn buồng chập choạng sáng lần lượt hiện lên. Nhưng từ nay sẽ không bao giờ còn được hưởng những giờ phút thần tiên đó nữa.

Bỗng dưng tôi nghĩ đến Lưu Ngọc Anh. Hồng đã lấy chồng và Hiền rồi cũng sớm lấy chồng. Tôi tiện tặn nữa để làm gì? Thôi thì vui chơi một bữa bù cho cả năm kham khổ. Và cũng để trả thù Hiền…Tôi gọi taxi và nói tên con đường của “chỗ quen biết”. Tôi không còn nhớ số nhà nhưng tôi vẫn nhớ như in cánh cổng sắt của ngôi biệt thự. Tôi nhấn chuông. Tiếng đàn bà còn rất quen tai:

– Ai đó?

– Bằng Hải quân, bạn Lê Vĩnh Tường.

– Dữ hôn! Vào đi!

Cánh cổng hé mở đủ cho tôi lách vào. Khi tới cửa căn biệt thự, cánh cửa cũng tự động mở, nhưng bằng chính tay bà chủ. Chị ôm choàng lấy tôi vui vẻ:

– Biến đâu biệt tích! Mang luôn cả người của chị đi mất.

Tôi ngạc nhiên:

– Chị bảo sao? Tôi có mang ai đi đâu đâu? Lâu nay xa Sài Gòn, hôm nay mới trở về. Chị cho gặp cái cô gì hôm trước…

– Chớ không phải cha nội xúi nó nghỉ.

– Thân tôi tôi lo chưa xong, sức đâu mà nuôi thêm người khác.

Chị chủ cười xòa:

– Nói giỡn anh thôi. Nó đã nghỉ từ bữa đó, hơn cả năm rồi. Để tôi giới thiệu cô khác, ngon hơn.

Tôi nhìn bà chủ. Bà vẫn như ngày nào, duyên dáng, hấp dẫn. Tôi cười:

– Khỏi giới thiệu! Giữ lời hứa lần trước, lần này tôi… “đi” chị!

Chị lắc đầu, nghiêm mặt:

– Đừng cà rỡn nữa, cha nội non!

Tôi lắc đầu, cũng làm mặt nghiêm:

– Tôi nói thiệt. Giá gấp đôi cũng đi.

– Gấp mười lần cũng không! Chị có chồng.

Tôi nhìn chị, ngờ vực:

– Có chồng? Chị nói thật?

Chị cười mỉm, gật đầu:

– Không có chồng mà được giá gấp đôi, ngu sao chê.

Chị hướng về cầu thang nói lớn:

– Huệ ơi! Có khách em.

Tôi cảm thấy mất hứng, vội xua tay:

– Thôi để lần khác! Tôi thích cô gì đó, hoặc thích… chị thôi.

Cô gái xuất hiện đầu cầu thang, từ từ bước xuống. Càng đến gần, đôi môi sơn đỏ càng nở tươi nụ cười. Cũng cỡ tuổi Lưu Ngọc Anh, cũng mơn mởn hồn nhiên duyên dáng. Nhưng cô không mặc áo trắng nữ sinh mà lại mặc chiếc jupe bó sát thân người thon thả. Hai đồi ngực vun cao như muốn xé toạt lớp vải màu hoa mang tên cô. Khi đến trước tôi, cô gập nghiêng lưng chào kiểu dân Nhật. Động tác cô thật chậm như để tôi có thì giờ nhìn vào đôi vú no tròn. Tôi chợt nhớ đến động tác cúi người lấy bia của Linda. Cả hai cùng một cách thức câu khách. Nhưng… với hai cặp vú có cùng hình dạng và phẩm chất thì dại gì đi chọn thứ đắt tiền. Về với “tiểu muội”, uống vài chai bia giải sầu, và biết đâu còn được cùng nàng vào Hotel Catina để mặc sức nhớ Tuyết. Tôi bắt chước cúi gập người rồi cười nói:

– Anh chỉ muốn đến đây tìm một người. Cám ơn em đã… chào, nhưng xin hẹn lần sau. Cám ơn bà chị. Thứ lỗi cho cách ăn nói xớn xác lâu nay!

Tôi phớt lờ hai đôi mắt ngơ ngác nhìn theo, đi thẳng ra cổng. Tôi gọi taxi về đường Tự Do. “Tiểu muội” mừng rỡ tiếp đãi ân cần. Tôi uống năm sáu chai gì đó, nhiều hơn bao giờ. Tôi cảm thấy ngà ngà và ăn nói bạo dạn hơn. Khi “tiểu muội” thông báo đã đến giờ đóng cửa, tôi trả tiền bia và cho buộc hoa hậu hỉ. Tôi lè nhè nói một câu mà đáng lẽ tôi nên chỉ nói vào một hôm khác khi quen biết nhiều hơn:

– Nghĩa huynh đêm nay quá buồn, Linda hiền muội có hoan hỉ chia sẻ nỗi buồn cùng huynh chăng?

Linda cười cười khẳng khái:

– Chết chưa. Tiểu muội quá khinh suất, quên giới thiệu …hiền đệ của nghĩa huynh.

Linda chỉ một tên Mỹ trắng dềnh dàng đang thu dọn chiến trường:

– Gã tiểu tử đó không đêm nào là không kẻ lông mày cho tiểu muội. Bye bye. Tái kiến. Tái kiến. Xin bảo trọng!

***


Chương 15


Khi Hồng còn là của tôi, sau ngày tôi ra trường, phải mất sáu tháng tôi mới có cơ hội gặp lại nàng lần đầu và phải mất hơn năm để gặp lại nàng lần hai! Gặp lần hai để nhận con nàng làm dưỡng tử! Và buồn thay, khi nàng đã thuộc về người khác, chỉ chưa đầy hai tháng là tôi đã có dịp quay về nơi từng để lại một vài luyến tiếc. Hai tuần sau Tết Ất Tỵ, giữa tháng hai năm 1965, tàu tôi nhận công tác chở tiếp liệu cho Quân đoàn 2 và chở hàng triệt thối về Sài Gòn. Thật tình lòng tôi cũng có ít nhiều mong muốn nhìn lại người xưa nhưng cái động lực chính vẫn là từ bổn phận của một dưỡng phụ. Khi mua hai bộ áo quần cho trẻ con ba tháng, cô bán hàng vốn từng lựa dùm tôi hai bộ thời trang cho Hồng trước đây đã ngõ lời chúc mừng chúng tôi có con trai đầu lòng. Tôi chỉ đau xót mỉm cười, nói lời cám ơn cho xuôi chuyện. Lúc đó, nếu không có ý nghi cô nàng cũng đã lập gia đình, tôi hẳn đã bắt đầu tán tỉnh bằng cách bắt chước Hiền thú nhận với cô nàng là tôi đang… thua không còn manh giáp!

Tàu ủi bãi Nha Trang từ sáng sớm và tuy không nhằm ngày trực, tôi vẫn chờ đến sau cơm trưa mới tà tà đến thăm ba mạ Hồng. Và ráng ngồi nghe ông thuyết trình tình hình Việt Nam, tình hình thế giới để canh đúng 6 giờ là xuất hiện ở cửa nhà vợ chồng nàng. Tôi muốn chắc chắn rằng giờ đó Luận đã về nhà. Gặp lại, cả hai vui mừng ra mặt. Luận mời tôi cơm tối. Tôi nhận lời với điều kiện có gì ăn nấy, không mua gì thêm. Tôi muốn tỏ cho Luận thấy rằng tôi hiểu cái cớ bỏ đi lần trước của Luận cốt là để tôi và Hồng có được những phút riêng tư cuối cùng. Chúng tôi đã nói hết, và nay Hồng và tôi chỉ còn là bạn.

Trong bữa ăn, cả ba chúng tôi cợt đùa tự nhiên một cách đầm ấm thân tình. Trả lời một câu hỏi, tôi thành thật cho Luận biết tàu tôi sẽ lưu lại ba ngày. Luận mời tôi mỗi chiều đến dùng cơm. Còn Hồng thì tự nhiên như thời chưa chồng, mời tôi ở lại qua đêm. Tôi biết nàng chân chất, chỉ tại cái đầu tôi lúc nào cũng mang ý đen tối. Tôi không đáp thành lời, chỉ cười cười…

Khi Hồng đang rửa chén thì cậu dưỡng tử khóc ré lên. Luận bồng con, nâng niu vỗ về. Hồng ngoảnh lui, nhỏ nhẹ bảo Luận đưa con tôi bồng cho quen hơi. Luận nồng nhiệt dạy tôi cách ẵm, cách ru ngủ. Tôi có hơi lúng túng lúc đầu nhưng cậu dưỡng tử lại có vẻ chịu tôi. Nó nín thinh! Lạ chưa, ngay từ đầu mà nó đã quen hơi rồi! Da nó không còn ửng đỏ non nớt như lần gặp trước mà trắng ửng mịn màng. Mắt mở to, lòng đen tròn và lớn đưa qua đưa lại, có lúc nhìn thẳng vào tôi. Tôi tự hỏi không lẽ ở cái tuổi mới gần ba tháng, nó muốn hỏi tôi là ai? Tôi mỉm cười thầm trả lời: “Nếu mạ mi chịu khó đợi thêm một năm, tao đã là… tía mày!” Tôi nhẹ bước, tới lui từ cửa đến bếp. Nhìn khuôn mặt bé bỏng dễ thương, bỗng dưng tôi có cảm tưởng nó là con tôi thật. Một sức mạnh thương yêu dồn vào hai cánh tay nâng nó lên và một sức mạnh khác đẩy đầu tôi cúi xuống. Một mùi thơm lạ thường làm tôi sảng khoái. Lúc đó, tai tôi như nghe tiếng Hồng gọi tên tôi đang khi nàng sinh khó.

Khi đi ngang Hồng, tôi ngẩn mặt. Vẫn mái tóc đen huyền phủ lưng chừng chiếc lưng thon thả. Vẫn cái dáng đứng ung dung thư thái pha trà cho ba nàng và tôi trà đạo ngày nào. Bất chợt nàng quay lại, thấy tôi nhìn và nàng mỉm cười. Vẫn gương mặt kiêu sa. Vẫn nụ cười e ấp trước khi trao tôi những nụ hôn nồng nàn. Tim tôi như sững lại. Mắt tôi như không chịu rời cái thân thể gái một con. Chính vì vậy tôi không muốn ở lại lâu hơn. Đúng tám giờ, tôi ngõ lời cáo biệt. Luận và Hồng ngạc nhiên, cố lưu giữ nhưng tôi nhất định ra về. Hồng chịu lùi bước, bảo chiều mai tôi phải đến. Tôi cười buồn lắc đầu và thầm nhủ từ nay mỗi lần tàu ghé Nha Trang, tôi chỉ có thể dành ra nhiều nhất là hai tiếng để thăm cậu dưỡng tử. Quá hai tiếng e rằng lòng tôi lại hướng về … mạ nó!

Tôi đi xe Lam về Chụtt, vào lòng chợ gọi một tô lớn phở gà danh trấn giang hồ. Đa số khóa sinh của Không quân và Hải quân, trước khi vào lại quân trường sau cuối tuần đi bờ, thường dành bụng trống ghé vào quán này. Thưởng thức để giữ hương vị cho tuần huấn luyện kham khổ kế tiếp…

Khi đứng đón xe đi trở ngược về tàu, tôi chợt có ý muốn thả bộ để có nhiều thời giờ ngắm lại chốn xưa, nơi một thời đổ mồ hôi lẫn nước mắt. Đêm nay tàu đang ủi bãi cách quân trường không xa. Tôi lững thững bước. Hàng quán đều còn mở cửa, tiếng ồn, tiếng nhạc tuôn ra đường. Tiếp đến là một đoạn tối tăm hoang vắng. Tôi đã quá quen đoạn này. Thuở đó, đã biết bao lần tôi “nhảy rào” đi ăn phở và cuốc bộ trở về! Qua đoạn tối là một vùng ánh sáng bên trái. Cái lô cốt đầu tiên xuất hiện, nơi tôi từng lãnh nhiệm vụ canh gác hoặc tự ý nhảy rào. Bên trong là bệnh xá. Kế tiếp là nhà ăn sinh viên. Ngay lề đường là cổng trung tâm. Sâu bên trong là hai tòa nhà hai tầng đối xứng qua một sân bóng chuyền. Học viên ở bên trái. Sinh viên bên phải. Phía ngoài, ngang tòa nhà sinh viên, là khu hành chánh, nơi tập trung các huấn luyện viên từng tốt nghiệp các trường Hải quân nổi tiếng nước ngoài. Cho tới nay, sau gần hai năm, đầu óc tôi vẫn còn chứa đầy các bài học hải nghiệp mới lạ đến không ngờ. Khi qua lô cốt cuối cùng, tôi mới sực nhớ rằng tôi sắp sửa tiến thẳng đến một ngôi miễu mà nhiều tài xế xe lam, xích lô đồn rằng, ngay nơi đó thỉnh thoảng có một cô gái rất đẹp đứng đón xe. Lúc thì cô lên xe về hướng Chụtt, lúc cô lên xe ra chợ Đầm. Nhưng không một tài xế nào thấy cô xuống xe! Vì vậy họ xây miễu thờ và thường xuyên nhang khói cúng vái cầu mong cô siêu thăng tịnh độ. Tôi vừa bước vừa lo ngại. Bộ cô chưa siêu thoát hay sao mà ngôi miễu còn lờ mờ phía trước?

Tôi bước tạt qua trái, đi bên kia lề đường. Người tôi bắt đầu nổi da gà từng cơn. Bước được mấy bước, tôi lại muốn đổi hướng đi thẳng xuống bãi biển và nương theo ven nước về thẳng tàu. Nhưng vùng bãi biển sau miễu quá tối. Đi trên đường, tuy phải qua gần ngôi miễu nhưng thỉnh thoảng còn nhờ được ánh đèn xe. Tôi quyết định bước thẳng, bước nhanh hơn, lưng buốt lạnh, người rởn gai ốc. Khi gần đến ngôi miễu thì người tôi bắt đầu rịn mồ hôi rồi chảy thành dòng. Tôi không còn can đảm bước thêm. Tôi bắt đầu chạy, mắt nhắm, mắt mở…

Khó mà tin rằng, nhờ chạy mà tôi về tàu đúng lúc để khởi hành tham dự cuộc hành quân khẩn cấp. Vào xế trưa, một chiếc tàu khá lớn được nghi ngờ từ Bắc Việt xâm nhập vịnh Vũng Rô bị Không quân dội bom đánh chìm. Chiến hạm sẽ đến Tuy Hòa nhận hai tiểu đoàn bộ binh và đổ vào Vũng Rô lục soát. Vì vậy việc dở hàng khỏi tàu đã được đôn đốc cấp tốc. Ba giờ sáng, chiến hạm nhắm ngọn đèn đỏ của đỉnh núi Chóp Chài để quay mũi hướng vào bãi. Bãi hoang vắng, chỉ tiếng sóng xạc xào. Chúng tôi chờ, chờ mãi đến gần trưa thì được công điện hủy bỏ việc… chờ! Thay vào đó, chiến hạm được yêu cầu đơn thương độc mã thám sát tàu chìm. Hạm trưởng đã lầu bầu bộ giỡn sao chớ!

Gần hai giờ chiều, chiến hạm đi sát cù lao Nưa, cao 102 mét trông như một pháo đài phòng thủ cửa vịnh Vũng Rô. Từ tọa độ này nhìn lên đỉnh núi cao nhất của ngọn Đèo Cả, một khối đá khổng lồ mang tên hòn Đá Bia, cao trên bảy trăm mét, đứng sừng sững, chơi vơi, thoạt nhìn có dạng mẹ bồng con. Tuy nhiên, khi đã vào trong vịnh, hòn Đá Bia không còn mang chút gì hòn Vọng Phu vùng Phù Mỹ mà thành một khối trụ hoa cương nổi bật giữa nền trời xanh. Hạm trưởng cho biết, theo lời dân gian đồn đại, trên các vách đá có khắc ghi chiến công Nam tiến của tiền nhân. Tôi tự hứa là khi đất nước thanh bình thế nào cũng đến tận nơi để biết thực hư.

Nhìn bao quát, Vũng Rô hoàn toàn khác biệt với vịnh Cam Ranh. Cam Ranh rộng lớn nên mọi thứ mờ nhạt. Cam Ranh đang đô thị hóa với thương thuyền, tàu chiến, nhà cửa, phi trường…. Bãi biển chạy vòng mênh mông trắng xóa. Núi thì thấp hơn với rừng thưa khô cằn. Ở Vũng Rô, mọi thứ còn nguyên vẹn nét thiên nhiên. Trừ vài khoảnh nhỏ có phần trơ trụi, rừng xanh bao quanh dày đặc trải lớp nắng vàng từ vòng cung mép nước lên tới các đỉnh núi nối tiếp hình dợn sóng. Nhìn rộng hơn, toàn cảnh là một bức tranh cùng màu -màu xanh trong của nền trời, màu xanh tươi của lá rừng, màu xanh thẳm của mặt vịnh nhưng lại vừa hài hòa vừa nổi bật. Vịnh có dạng nửa hình bầu dục với bán kính ngắn trên hai cây số và mỗi bờ hình cung dài gấp ba lần. Nhiều bãi cát nhỏ nằm rải rác dọc ven mép nước đầy những tảng đá lớn nhỏ có màu trắng hếu hoặc rong rêu chen lẫn. Xa trong cùng là bãi cát trắng dài và rộng hơn. Gió mùa Xuân mát rười rượi, mơn man. Nếu hạm trưởng Hảo hiện diện lúc này, thế nào ông cũng khen khung cảnh hữu tình và làm vài bài thơ ca ngợi nhưng với hạm trưởng đương nhiệm, tâm trí ông hẳn chỉ bận rộn với câu hỏi nơi nào nước cạn, nơi đâu có đá ngầm.

Vào đến giữa vịnh, hạm trưởng cho nhận còi nhiệm sở tác chiến. Cái tiếng đôi “tích tích, tích tích” dồn đập, thúc bách như có ma lực đẩy mọi người chạy nhanh đến vị trí chỉ định. Từ đài chỉ huy, tôi lướt bay xuống phòng truyền tin, vừa kiểm soát nhân viên vô tuyến thuộc quyền, vừa mặc áo giáp và đội mũ sắt. Sau khi chắc chắn máy móc hoạt động tốt, tôi bước ra khẩu đại bác 20 ly gần đó. Khi tác chiến, tôi kiêm nhiệm luôn chức trưởng khẩu gồm khẩu đại bác này và khẩu gần lái tàu. Mỗi khẩu có một xạ thủ và một tiếp đạn. Hạ sĩ nhất Vận chuyển Thành là xạ thủ khẩu gần phòng truyền tin. Trung sĩ Phòng tai Đạt phụ trách khẩu còn lại. Từ ngày Trung úy Được nhận quyền hạm phó, Thành bỗng dưng bị thất sủng. Anh không còn được giao tay lái trong các nhiệm sở đòi hỏi phản ứng nhanh, chính xác như tác chiến, ủi bãi, cặp cầu. Theo nhân viên xì xầm thì chỉ vì hạm phó không ưa Thành.

Tôi kéo cao cổ áo. Gió khá mạnh và lành lạnh bất kể cái áo giáp dày và nặng. Tôi đứng sát vào Thành cho bớt gió. Anh quay sang tôi, nói nhỏ:

– Gió mát quá hả thiếu úy!

Tôi lắc đầu:

– Với tôi thì không mát quá mà là… quá mát!

Thành ngập ngừng:

– Cả tháng nay tôi có ý gặp thiếu úy mà ngại. Tôi muốn gặp để xin lỗi lần rồi về tàu trễ khiến thiếu úy lãnh củ!

Tôi cười khỏa lấp:

– Chuyện lẻ tẻ, cho qua! Nhân dịp, tôi có một thắc mắc muốn hỏi. Nếu anh không thích, không cần trả lời. Cái “cơ duyên” nào đưa anh làm chủ căn nhà đang ở?

Thành phì cười:

– Làm chủ được cái chòi đó cũng đã là có phước! Phải trả ba trăm một tháng đó thiếu úy! Mà ngẫm nghĩ cũng còn hên. Đó là cái giá rẽ nhất trong số những nơi tôi tìm mướn. Trước đó, tụi tôi sống chung nhà cha mẹ, chị em. Rồi con đông dần, quá chật hẹp. Một cái hên khác là cái chòi đó gần trường học nên vợ tôi đã có thể trổ tài nấu xôi bán cho học trò, bù đắp thiếu hụt.

Tôi thấy thêm một lý do đã khiến vợ Thành quá khẳng khiu. Tôi đồ chừng có thể chính nhờ nụ cười lúc nào cũng tươi tắn mà đến nay các con chị vẫn còn mẹ để mà nương tựa. Thành lại tiếp:

– Bây giờ đến lượt tôi có một thắc mắc với thiếu úy. Chỉ e…

Tôi ngạc nhiên:

– Cứ nói!

– Tôi chỉ hỏi cho có chuyện, thiếu úy không cần trả lời!

– Nói!

– Lúc thiếu úy mới đổi xuống tàu, có một cô rất đẹp xuống thăm. Từ đó không thấy cô đó nữa. Tụi này chấm điểm mười trên mười cho cô đó với thiếu úy. Hai người thật đẹp đôi. Và bởi vậy mới thắc mắc…

Tôi cười to:

– Các anh cũng nhiều chuyện dữ! Lẽ ra thì tôi làm thinh nhưng đã trót nợ anh một giải đáp nên đành trả nợ. So với cái điểm rộng lượng các anh vừa cho thì cô ấy khe khắt hơn nhiều. Cô ấy cho tôi điểm zéro!

Thành trợn mắt:

– Nghĩa là…

– Nghĩa là tôi được… zéro điểm!

Thành cười ha hả:

– Thậm vô lý! Khó tin quá thiếu úy ơi! Thiếu úy đẹp trai, học giỏi, con nhà giàu…

Tôi cũng cười to:

– Anh Thành ơi! Xấu đẹp tùy người đối diện mà!

Thành bất chợt hướng mắt lên đài chỉ huy, nơi phát ra tiếng lát chát bất thường. Tiếp liền theo là nhiều tràng nổ từ hai bên bờ như để giải thích. Tôi bỗng nghe tiếng hét trong vi âm nội thoại:

– Địch bắn đó! Tất cả bắn! Tất cả bắn!

Tôi thét to:

– Khẩu 23, 24 bắn!

Thành đặt vội mắt vào ổ nhắm. Tám khẩu 20 ly quanh tàu phát ra những tiếng nổ chát chúa hòa vào tiếng rầm rầm làm rung rinh cả thân tàu của khẩu 40 ly đôi. Tôi nhìn theo lằn đạn của Thành. Bờ trước mặt còn khá xa và chiếc tàu khá dài bị đánh chìm nằm khoảng giữa. Nó không chìm hẳn, nửa thân còn phơi trên mặt nước với đài chỉ huy vỡ toang. Tôi chờ đến gần hơn, nhìn kỹ hơn nhưng tiếng tiểu liên, đại liên lại rộ lên từ ba mặt núi rừng. Tôi hốt hoảng đứng sát vào Thành, là nơi có hai tấm sắt chắn đạn che chở xạ thủ của khẩu đại bác. Đúng lúc đó đạn va lốp bốp vào tấm sắt. Tôi hú hồn và bắt đầu ớn sợ. Tôi nghe tiếng hét của Hạm trưởng vang xuống:

– Hai máy ngưng! Tay lái số không! Hai máy lùi một. Hai máy lùi hai! Tiếp tục bắn!

Thành tiếp tục siết cò. Đạn bay tua tủa hướng về khu rừng cánh phải. Tiếng đại bác 40 ly mũi và 20 ly quanh tàu đè bẹp tiếng tiểu liên của địch. Con tàu run rẩy dữ dội khi tuân hành lệnh hai máy lùi ba! Nước bên hông cuộn ào ào tuôn về phía mũi. Tàu xa bờ dần, xa tầm đại liên và thả trôi ở khoảng cách gần bờ nhất cũng trên một ngàn mét. Ở tầm xa này, súng cối địch có thể chơi tới nhưng rơi trúng ngay tàu thì coi như họ ngáp phải ruồi! Tôi theo hạm trưởng vào phòng truyền tin. Ông báo cáo thẩm quyền diễn tiến sự việc. Kết quả có hai thủy thủ bị thương nhẹ và tàu bị đạn nhiều chỗ. Ông cũng ước lượng tình hình địch và đề nghị cho tiếp viện.

Trời tối hẳn, Hạm trưởng cho neo tàu nhưng vẫn chia phiên như khi hải hành. Tiêu lệnh đặc biệt của ông là bắn quấy rối khu tàu chìm suốt đêm, bắn cảnh cáo các ghe đến gần và bắn tiêu diệt nếu ghe tiếp tục đâm vào tàu. Tôi đi phiên đầu đến nửa đêm và sau đó vì mệt và căng thẳng tôi phè cánh nhạn tới sáng bạch.

Chín giờ ngày 18, chúng tôi được lệnh đến Đại Ngãi gần đó rước một đại đội biệt kích. Trong khi nhận quân, hai chiến thuyền cùng hai người nhái từ Sông Cầu cặp vào trình diện. Hạm trưởng, hạm phó, đại đội trưởng biệt kích, sĩ quan trưởng toán chiến đỉnh họp bàn kế hoạch đổ bộ và thám sát. Sau cơm trưa, khi các khách mời rời bàn ăn, hạm trưởng bắt đầu lèm bèm đưa nhận xét không mấy hài lòng. Ông tỏ ý không hiểu “thiên hạ” đã nghĩ gì khi thay hai tiểu đoàn bằng một đại đội, dù là đại đội biệt kích. Sự chênh lệch xem ra quá xa bất kể biệt kích nổi danh thiện chiến. Theo ông, địch chơi tới tiểu liên và trung liên thì quân số không phải là ít! Ông chỉ cầu mong là ông đoán sai…

Một giờ chiều, từ giữa vịnh, Hạm trưởng cho lệnh hai chiến thuyền kèm hai bên chiến hạm tiến về bãi cát trong cùng, nơi duy nhất có thể ủi bãi mà cũng là nơi duy nhất địch có ưu thế tấn công cả ba mặt. Theo ghi chú trên hải đồ, suốt hai bờ cánh cung dài mười bốn cây số không nơi nào là không có đá ngầm. Hạm trưởng cho khai hỏa khẩu 40 ly đôi khi bờ trong tầm đạn. Rồi đến lượt 8 khẩu 20 ly. Cuối cùng thêm các khẩu đại liên 50 từ đài chỉ huy và từ các chiến thuyền. Nhưng chỉ năm phút sau, bất chấp mọi khẩu súng phe ta còn nổ rền, đạn địch vẫn tập trung vào khối trụ lêu nghêu làm bắn sơn tung tóe. Như hôm qua, hạm trưởng cho thu quân về giữa vịnh. Ông và đại đội trưởng biệt kích mỗi người tường trình cho thẩm quyền của mình kèm theo đề nghị riêng. Hạm trưởng cho rằng có thể ủi bãi với một cái giá chấp nhận được sau khi tăng cường hải pháo và phi pháo. Còn ông đại đội trưởng thì từ chối đổ bộ nếu bãi ủi không được bảo vệ tương đối an toàn. Chỉ cần vài khẩu tiểu liên tập trung vào cửa đổ bộ là không ai còn lành lặn…

Mười giờ sáng ngày 19, từ giữa vịnh, ba chiến hạm gồm một hải vận hạm, hai hộ tống hạm tăng cường dàn đội hình hàng ngang tiến vào bãi ủi. Chiếc hải vận hạm đi giữa, kèm sát hai bên hông, mỗi bên là một chiến thuyền và một chiếc Zodiac chở trung đội người nhái đổ bộ lập đầu cầu bảo vệ cho đại đội biệt kích xung phong. Lực lượng trông rầm rộ nhưng không phá tan được sự tĩnh lặng đầy vẻ đe dọa bao trùm khắp vùng vịnh. Khi đoàn tàu đến giữa vịnh thì trên bầu trời xuất hiện các phóng pháo cơ ào tới dội bom. Bây giờ thì cả thung lũng vang dội tiếng ầm ì. Từng cụm khói bùng lên nhuộm bạc cả màu lá cây trước bãi ủi. Rồi đến lượt các trực thăng võ trang. Ba chiếc đảo vòng thi nhau nhả từng tràng đại liên giòn giã. Tôi say sưa theo dõi cảnh tượng mà tưởng như đang xem một bộ phim chiến tranh sôi động.

Không yểm đã xong đợt đầu. Giờ đến lượt hải pháo. Các hộ tống hạm nả đì đùng loại đạn trái phá 76ly, 40 và 20 vào hai triền núi. Chừng một giờ sau, các phóng pháo cơ tái xuất hiện chúc mũi oanh kích. Rồi lại đến lượt các trực thăng võ trang.

Một tiếng sau, gần giữa trưa, tàu tôi đã đến vị trí từng bị bắn. Các khẩu 40 ly đôi và 20 ly cày nát khu bổ bộ. Mùi khói súng khét nghẹt đến khó chịu. Bãi cát trắng phía trước mũi phơi mình lồ lộ, ngon lành. Cường độ nước chạy lùi dọc theo hông cho thấy tàu đã giảm tốc, nhưng ngược lại hai chiến thuyền và chiếc Zodiac phóng nhanh tới, vượt qua mũi chiến hạm. Tất cả cúi rạp người nhưng trong tư thế sẵn sàng phản công. Tôi chợt hiểu là đã đến thời điểm người nhái đổ bộ và chẳng bao lâu nữa sẽ đến lượt đại đội biệt kích. Tôi cảm thấy ê người khi nghĩ đến khoảng thời gian đăng đẳng chiếc hải vận hạm phơi mình trên cát, lồ lộ làm mục tiêu lý tưởng cho địch nhả đạn.

Đột nhiên nhiều loạt đạn vang lên thật dòn tiếp theo là nhiều tiếng lớp bớp phát từ khối tháp hình trụ. Các mảnh sơn lại túa bay vung vẩy. Tôi hét vào âm thoại:

– Báo cáo địch bắn trúng phòng lái.

– Nghe 5. Tiếp tục phản pháo cho đến lúc người nhái đổ bộ.

Chiếc hải vận hạm vẫn lầm lì tiến tới. Một số đạn khác lại ghim vào thành đài chỉ huy màu xám sậm để lại thêm nhiều đóm trắng lỗ chỗ. Chắc chắn là hàng chục viên đạn đã… né tôi. Cầu mong chúng tiếp tục lánh xa. Tôi nghe rờn rợn chạy theo cột xương sống. Tôi mắng thầm mày phải gan lì như Thành, như anh tiếp đạn. Mày mà tỏ ra sợ hãi thì chẳng bao giờ mày còn có cơ hội chỉ huy.

Nhưng tôi chưa kịp bớt sợ thì nhiều loạt đạn khác dồn đập bay tới. Đạn rít nghe thật gần, tách biệt hẳn tiếng nổ đinh tai điếc óc của các khẩu đại bác. Những mảnh bấc bắn tóe từ chiếc bè nổi cứu cấp đặt cạnh phòng vô tuyến và một dáng người từ đó chạy vụt vào trong. Tôi không kịp nhận ra là ai nhưng hẳn là một nhân viên vô tuyến tò mò ra đứng xem. Mong anh không bị thương. Tôi lại la to vào âm thoại:

– Báo cáo đạn trúng phòng truyền tin. Không rõ thiệt hại.

– Nghe 5.

Tiếng đạn càng lúc càng ghê rợn. Đột nhiên chiến hạm bị rung mạnh, đong đưa dữ dội sau một tiếng nổ long trời. Nước từ trên cao ập xuống người tôi như thác đổ. Tôi bước lùi sát vào ổ súng hy vọng tấm sắt chắn đạn cứu mạng mình nhưng bị vấp phải thùng đạn và ngã xuống. Tôi cố định thần xem mình bị thương nơi nào. Thủy thủ Hoài tiếp đạn quỳ xuống, cúi thấp hỏi:

– Thiếu úy bị thương?

Tôi lắc đầu không trả lời, dành sức lòm còm đứng lên. Tôi sửa lại âm thoại để nghe rõ hơn tiếng hạm phó từ đài chỉ huy:

– Địch vừa pháo kích. Các nơi báo cáo thiệt hại…

Tôi nhìn Thành đang say sưa bóp cò. Tôi nhìn sang khẩu phía sau cũng đang nhả đạn ngon lành rồi mạnh dạn lên tiếng:

– Khẩu 23 và 24 vô sự.

– Tất cả ngưng bắn! Lập lại, tất cả ngưng bắn và ở nguyên tại chỗ!

Tôi ra dấu với Thành và với trưởng khẩu phía lái. Cùng lúc tiếng còi nhiệm sở thả neo vang lên. Một số nhân viên chạy dồn về sân lái. Tôi hiểu là tàu chuẩn bị ủi bãi. Tôi quay nhìn về mũi tàu. Người nhái đang túa khỏi chiếc Zodiac, chạy vội vào khu rừng. Bên tả hạm, hai ghe Yabuta cũng đang thả người. Dưới lòng tàu, đại đội biệt kích đang dạt thành hai hàng, mỗi hàng một bên thành tàu. Đúng lúc đó tôi nghe tiếng máy tàu tắt hẳn và tiếng thả neo. Nhưng con tàu vẫn còn trớn phăng phăng lướt tới. Lướt tới, lướt tới rồi sựng lại. Mũi tàu đã trườn lên bãi cát.

Cùng lúc nhiều tiếng súng vang lên trong khu rừng trước mặt. Thành kê miệng sát tai tôi thì thầm: “Người nhái chạm địch”. Tôi gật đầu, lòng nôn nao lo lắng. Tôi cố trấn an bằng cách đặt nhiều kỳ vọng vào kinh nghiệm thiện chiến của đơn vị đặc biệt này. Lần thứ nhì trở lại Năm Căn, tôi gặp người bạn cùng khóa nay là một trong những trưởng toán người nhái. Anh kể về một năm thụ huấn vô vàn gian khổ, cam go. Anh kể về những cuộc đột kích tưởng chừng bất khả thi vào lòng địch ở Năm Căn, Rừng Sát…Tôi tin lần này họ cũng sẽ hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ an toàn bãi đổ bộ.

Tiếng súng dồn dập nổ chừng năm phút rồi giảm dần và im hẳn. Tôi nghe lệnh của hạm trưởng vang lên từ đài chỉ huy:

– Sân mũi! Mở cửa đổ bộ!

Hai cánh cửa mũi tàu từ từ hé ra, rộng dần, rồi mở tung. Tấm ramp đổ bộ nặng nề, chậm chạp hạ xuống. Rõ ràng đây là thời điểm hiểm nguy nhất cho đại đội biệt kích dù. Địch chỉ cần sót lại mỗi một khẩu tiểu liên nhắm vào ngay cửa đổ bộ là đủ để gây tổn thất nặng. Với băng đạn choàng đầy người, với lựu đạn đeo lủng lẳng, với súng cá nhân gọn nhẹ, không một tiếng hô kích động, hai hàng biệt kích nhanh nhẹn vọt lên tấm ramp vừa chạm mặt cát. Mỗi hàng rẽ sang một phía. Tôi đang ngưỡng mộ theo dõi thì nghe tiếng hạm phó sắc lạnh trong âm thoại:

– Thiếu úy Bằng lên đài chỉ huy gặp hạm trưởng!

Tôi lột âm thoại giao cho Thành, vừa lo không biết đã phạm lỗi gì vừa sợ đoạn đường thăm thẳm lên đài chỉ huy. Tôi phải vượt hai cầu thang chơi vơi, một từ bên ngoài phòng truyền tin và một từ bên ngoài phòng lái. Cả hai đều hoàn toàn lộ thiên, hoàn toàn ngon xơi cho các tay bắn sẻ. Hoặc chỉ cần một tràng đạn vô tình. Tôi loạng choạng bước đi và cố trấn tĩnh bằng ý nghĩ nếu tới số thì ở đâu cũng chết. Từ đầu cầu thang, tôi bắt đầu chạy thật nhanh trong cảm giác của một kẻ đang đứng trước muôn ngàn mũi súng. Vừa thấy tôi, hạm trưởng quát:

– Sao không đội mũ sắt? Muốn chết hả?

Tôi đưa tay lên đầu. Chiếc mũ đã rời khỏi đầu khi tôi bị trợt ngã. Anh giám lộ đưa tôi chiếc khác gần đó. Tôi vừa đội vừa nhìn anh y tá băng cánh tay đẫm máu của hạm phó. Mặt ông tỉnh bơ như người nào khác bị trúng đạn, không phải ông. Còn hạm trưởng thì cũng hết lè nhè trong bầu không khí đầy khói súng. Lệnh ông ban ra luôn luôn sắc gọn, rõ ràng, không cà kê, lèm bèm như ngày thường:

– Hạm phó đi kiểm điểm tổn thất. Thiếu úy Bằng tạm phụ tá tôi.

Phụ tá hạm trưởng? Phụ tá trong thời điểm ngặt nghèo, chỉ sơ sẩy là hết sống!

– Đeo âm thoại vào! Khi địch bắn, anh trả đũa bằng khẩu đại liên 50. Nhớ là nhắm đúng hướng 2 giờ hoặc hơn. Đừng quên có quân ta lẫn quân bạn trước mũi, trong rừng.

Tôi nghiêm giọng đáp:

– Nhận rõ, thưa hạm trưởng.

Hạm phó trao tôi bộ âm thoại. Tôi đeo vào nhưng tai vẫn nghe được diễn tiến hành quân giữa giữa các đơn vị tham dự phát từ chiếc loa truyền tin liên quân. Các trực thăng đang đổ quân tăng cường trên quốc lộ 1. Hai tiểu đoàn khác sắp lên đường. Giữa tiếng hải pháo đì đùng vào các sườn núi từ hai hộ tống hạm, giọng trưởng toán Người nhái vang lên:

– Trình Hải Âu, Hai lần November đã hạ ba tên địch, bắt sống 2 và đã chiếm giữ một kho vũ khí và đạn dược khá lớn. Xin tăng cường nhân viên để chuyển xuống tàu. Hạm trưởng gật đầu, nói vào máy liên hợp:

– Nhận 5. Trong khi chờ đợi, anh cho mấy thằng em thám sát… con mồi.

– Đáp nhận hành!

Ngay tiếp theo là tiếng Đại đội trưởng biệt kích:

– Báo cáo Hải Âu, Thiên Sứ khám phá một kho súng đạn rất lớn. Có thể đến hàng ngàn khẩu súng đủ loại và hàng trăm ngàn tấn đạn cũng đủ loại. Có cả chất nổ. Năm xác địch nằm rải rác. Bắt sống tám…

Lần đầu tiên tôi nghe Hạm trưởng chửi thề:

– Tiên sư lũ giặc cộng! Thế mà cứ bai bải chối là không dính dáng gì đến Mặt trận Giải phóng!

Một loạt đạn nổ giòn từ cánh phải. Tôi hoảng hốt hụp đầu xuống khỏi thành đài chỉ huy. Hạm trưởng đứng yên, cười:

– Thay vì né, anh phải phóng đến khẩu đại liên. Rồi anh sẽ quen. Nào, đứng thẳng lên.

Tôi ngượng nghịu làm theo lệnh ông nhưng thâm tâm thì nhất định không để ông còn có dịp ra lệnh tương tự. Tôi đã từng tỉnh bơ khi bị bắn trong các lần vào ra sông Bồ Đề mà lần này xệ quá. Nhưng quả là lần này khác xa và dữ dội. Lần này địch chơi toàn cỡ tiểu liên thượng liên chớ không cá nhân lẻ tẻ. Vừa thẳng người, tai tôi vẳng nghe giọng hốt hoảng:

– Báo cáo đài chỉ huy, Hạ sĩ nhất Thành bị thương nặng.

Quên cả việc lập lại cho hạm trưởng, tôi chạy đến đầu cầu thang nhìn xuống. Thành đang nằm đúng ngay chỗ tôi vấp ngã. Tiếng quát của Hạm trưởng từ phía sau:

– Việc gì thế?

Tôi lắp bắp:

– Xin lỗi hạm trưởng! Hạ Sĩ 1 Thành bị thương nặng…

– Bảo toán cứu thương đến ngay và báo cáo tình trạng thương tích.

Tôi lập lại lệnh vào máy. Lại thêm một tràng đạn tiểu liên. Tôi phóng tới khẩu đại liên đáp trả vào sườn núi chỉ định. Hạm trưởng la to:

– Tốt lắm! Anh giao âm thoại cho sĩ quan đương phiên rồi tiếp tục bắn từng loạt nếu địch còn tiếp tục!

Tôi lắng nghe lời báo cáo của y tá rồi lập lại cho hạm trưởng bằng giọng run run:

– Trình hạm trưởng, y tá báo cáo Thành bị viên đạn vào đầu, e khó sống!

Giọng ông trầm xuống:

– Bảo hạm phó lên gặp tôi ngay.

Nói xong, ông chộp lấy tờ đặc lệnh truyền tin. Tôi chuyển lời ông mà có cảm tưởng như đài chỉ huy bị chao đi và đổ ập. Tôi nắm chặt thanh sắt để nén xúc động. Tiếng “khó sống” đập vào tâm não tôi như nhát búa. Lẽ nào…

Tôi lột máy âm thoại trao cho thiếu úy Danh. Tiếng hạm trưởng vang lên:

– Hải Âu gọi Đại Bàng. Xin cho trực thăng tải thương khẩn cấp.

– Đồng ý. Nhận tải thương tại bãi Đại Lãnh.

– Đáp nhận. Cám ơn.

Ông quay sang Danh:

– Gọi ghe Yabuta sẵn sàng ở cửa đổ bộ.

Hạm phó trình diện. Hạm trưởng ưu tư nhìn cánh tay băng bó của hạm phó:

– Anh cần tản thương?

Hạm phó lắc đầu, giọng cương quyết:

– Không cần, thưa hạm trưởng. Chỉ bị sớt mất chút ít thịt thôi mà!

– Vậy anh ở đây. Tôi đi xem thằng Thành ra sao. Nếu địch bắn rát quá, anh cho đóng cửa đổ bộ.

Hạm trưởng chạy bay xuống thang. Tôi cũng vội bước theo ông.

Thành đang nằm ngửa giữa một số nhân viên đứng vây quanh, đầu tựa trên vũng máu tươi nhầy nhụa óc màu ngà tràn ra từ lỗ đạn. Da mặt trắng nhợt như người đã chết. Mắt lờ đờ trừng mở, miệng liên tục hớp không khí. Thân anh có lúc vặn vẹo, giật từng cơn. Anh y tá lặng lẽ bôm ống thuốc vào cánh tay. Hạm trưởng khom người nhìn vết thương với dáng vẻ tuyệt vọng. Những vệt máu chạy dài từ đầu Thành đến khẩu 20 ly. Chiếc băng ca được đưa đến. Mọi người dạt ra nhường chỗ để chuyển anh sang và sau đó xúm lại tiếp tay đưa anh xuống lòng tàu. Tôi lặng người trước hình ảnh khủng khiếp lần đầu trông thấy.

Hạm trưởng nhặt chiếc mũ sắt còn đầy máu xem xét. Viên đạn đến từ phía sau lưng, xuyên qua lớp sắt, phá vở ót bên trái. Đó cũng là viên đạn duy nhất trúng Thành. Nếu tôi không được gọi lên đài chỉ huy, hẳn tôi lãnh trọn viên đạn đó. Quả là cái số anh quá đen! Cả đến chiếc mũ sắt cũng không cứu nỗi cuộc đời lận đận. Tôi đứng ngẩn ngơ một lúc rồi lắc đầu bước trở lên đài chỉ huy.

– Hạ sĩ nhất Thành đã tắt thở.

Dù biết chắc là Thành không thể sống nhưng tiếng la thất thanh của một nhân viên vẫn nghe não nuột đến rợn người. Tôi chạy vội ra cầu thang. Hạm trưởng đang đi lên nửa chừng, xoay người bước nhanh trở xuống. Tôi vội vàng theo ông. Mắt Thành còn mở trừng trừng, như người còn sống. Hạm trưởng đặt tay lên trán Thành chầm chậm vuốt xuống. Như một phép lạ, mắt anh khép chặt lại khi bàn tay vừa qua khỏi. Khuôn mặt xương xẩu với những đường nét du đảng cũng trở nên thanh thản yên bình như người đang ngủ. Một nhân viên đưa hạm trưởng tấm drap trắng mới tinh. Ông xổ ra chuẩn bị đắp kín người Thành. Mọi người đứng quanh cúi đầu nhìn khuôn mặt Thành lần cuối trước khi bị che khuất, trước khi vĩnh viễn khuất xa. Nhiều tiếng khóc tiễn đưa anh. Tôi cũng rơi tuôn nước mắt. Khi chiếc Yabuta đến kè bên cửa đổ bộ, hạm trưởng ra dấu khiêng Thành đi. Hai bạn thân của Thành nhấc cao chiếc băng ca. Mọi người dạt sang hai bên nhường lối. Tiếng Hạm trưởng trầm buồn:

– Tất cả! Nghiêm!

Ông đưa tay lên chào vĩnh biệt. Chúng tôi cùng đứng nghiêm chỉnh, bàn tay phải giữ thẳng ngang mày cho tới khi thân xác Thành yên vị trên chiến thuyền. Nước mắt tôi lại ứa ra. Sức tôi như đã cạn. Tôi đứng tựa vào vách tàu để mặc nước mắt tuôn rơi. Một vài ngày tới, trong lễ tang quân cách, Thành sẽ được truy thăng Trung sĩ và được biểu dương hy sinh vì Tổ Quốc. Anh có hay biết để hãnh diện không? Và cái lương trung sĩ có giúp thêm được gì cho vợ con nheo nhóc của anh. Tôi hình dung căn chòi không còn bóng dáng Thành. Tôi hình dung người đàn bà khẳng khiu ôm mặt khóc ngất và ngã xỉu khi được báo tin người chồng chẳng bao giờ trở lại. Tôi lắc đầu xua đuổi hình ảnh quá bi thương, không dám tưởng tượng tiếp.

Tiếng ầm ầm của các khẩu 76 ly liên tục vang đều. Thỉnh thoảng một tràng tiểu liên vọng đến. Rồi thật bất ngờ một tiếng nổ kinh thiên động địa rung động cả vùng vịnh phát từ triền núi phía tả và kéo dài bằng vô số tiếng nổ nhỏ. Tôi cảm nhận được là tôi đang sợ. Tôi cố xua đuổi nó nhưng nó cứ bám. Và tôi ngạc nhiên biết bao khi khám phá ra lần sợ này tôi không ớn lạnh và đổ mồ hôi như lần sợ ma. Chỉ thiếu tự chủ, mất bình tâm…

Tiếng hạm phó vọng xuống:

– Thiếu úy Bằng về ngay khẩu 23.

Tôi bừng tĩnh nhìn quanh. Cửa đổ bộ đã đóng lại tự bao giờ. Sân sau đang chạy máy kéo neo. Tôi leo bậc thang thẳng đứng gần đó. Vũng máu đã được rửa sạch. Thủy thủ Kính phụ trách tiếp đạn đưa tôi bộ nội đàm. Tôi đeo áp vào tai, sửa ngay ngắn chiếc nón sắt rồi đứng vào vị trí tác xạ, thay thế Thành. Liệu có viên đạn vô tình nào đi đúng đường viên đạn giết chết Thành? Tôi vẫn còn may. Các họng súng trên bờ bắt đầu im tiếng.

Tàu bắt đầu chạy máy lùi rồi quay đầu ra giữa vịnh, cặp vào chiếc Dương vận hạm vừa nhập vùng. Nhiệm vụ của nó là tiếp đạn và cứu thương. Hạm phó và hai nhân viên được hướng dẫn đi gặp bác sĩ. Tôi không rõ hai chiếc hộ tống có ai bị thương không. Chắc là không vì không chiếc nào cặp khẩn bên hông còn lại. Chúng tôi tập họp phân công chuyển đạn về tàu và đến các ụ súng. Đến 8 giờ tối, chiếc hải vậm hạm tách ra neo gần cửa vịnh nhường chỗ cho chiếc hộ tống.

Sau bữa cơm tối lặng lẽ và nhanh chóng dù bữa trưa bỏ ăn vì tác chiến lu bu, tôi leo lên sân thượng ngồi lên một trụ sắt quấn dây cột tàu gần nơi Thành ngã gục. Gió lồng lộng mang theo ít nhiều giá lạnh. Tôi mở rộng áo choàng, cố châm điếu thuốc đầu tiên trong ngày. Khói thuốc chạy rần khắp vùng ngực và lưng. Tôi hít lấy hít để rồi búng mẩu thuốc lá còn hơn phân nữa. Mẩu thuốc va vào thanh an toàn, bắn lửa tóe lên. Trời rất trong và sao rất tỏ. Chếch đỉnh đầu là chòm sao Orion với ba sao thẳng hàng như thắt lưng hiệp sĩ. Cạnh đó là ngôi sao sáng rực Procyon được lấy đặt tên cho chiến hạm mà tôi từng lên đó thực tập hải vụ. Từ sao Procyon, tôi dõi mắt ngược chiều kim đồng hồ. Tôi đếm đủ sáu vì sao sáng nhất trong vòm trời nhỏ đầy thiên thể. Sáu ngôi sao sáng đó tạo thành một hình lục giác mà ở đầu của một trong hai cạnh phát xuất từ sao Procyon là ngôi sao Sirius rực rỡ nhất. Ánh sáng huyền diệu nên thơ của chúng đang tỏa tràn khu vịnh chưa tan mùi khói súng. Mặt nước nhấp nhánh chập chùng muôn sóng gợn. Dãy rừng đã ngã màu đen tang tóc vây quanh. Trên đỉnh của ngọn núi ngay mũi Varella tại cửa vịnh, ngọn hải đăng vươn cao đều đặn quét ba vệt sáng mỗi chu kỳ.

Một loạt đạn nổ dồn đâu đó. Tôi chợt nhớ tới trung đội Người Nhái và đại đội Biệt Kích còn trong bờ. Ngày mai, ngày mốt hay ngày nào chậm hơn, tàu tôi cũng không thể tránh khỏi ủi bãi lần nữa để đón họ ra cùng với chiến lợi phẩm. Tôi cảm phục họ và thấy mình đáng xấu hổ. Chính họ mới ở chỗ đáng sợ hơn, suốt đêm ngày trực diện kẻ thù, trong khi tôi chỉ phải chịu gian nguy trong dăm ba giờ ngắn ngủi! Can đảm lên, thiếu úy Bằng! Đừng sợ nữa, thiếu úy Bằng! Có lỡ… xui xẻo như Thành thì cũng nhanh chóng đi về một thế giới khác, một thế giới có người bạn tên Thành dễ thương và có người đẹp nào đó biết đợi chờ!

Nhưng thực tại thì tôi vẫn hiện diện trên dương thế và vợ con Thành chẳng bao giờ còn được thêm một lần gặp lại anh. Cái trụ cột của gia đình đã bị đốn quỵ. Vợ Thành có nấu thêm sôi buổi trưa, buổi tối cũng không cách nào nuôi nổi năm miệng ăn và trang trải tiền nhà. Tiền tử tuất thì nhiều lắm cũng chỉ là một phần của lương cũ vốn đã thiếu trước hụt sau. Chiến hạm có thể giúp được gì? Một số tiền ủy lạo thì cũng chỉ đỡ đần thời gian ngắn. Hải quân giúp được gì? Phòng địa ốc đã hứa cấp nhà trong năm tới. Năm tới đồng nghĩa với suốt cả năm dài vợ Thành và lũ con ngày thêm nheo nhóc.

Còn phần tôi, tôi giúp được gì? Tôi dành cho Thành nhiều cảm tình ngay từ ngày mới xuống tàu và Thành cũng dành cho tôi nhiều quý mến. Lẽ nào tôi làm ngơ trước khó khăn của vợ con người bạn cùng tàu, cùng đời thủy thủ? Mỗi tháng “ủy lạo” một số tiền? Cũng nên lắm và cũng dễ dàng. Chỉ cần tôi không… xài bậy. Và việc này tôi cũng đã nhiều kinh nghiệm. Hơn thế nữa tôi còn đang giữ số tiền “lèo” khá lớn Tuyết để lại, muốn cưới vợ lúc nào chả được. Lại còn thêm căn nhà. Hơn một năm qua tôi chỉ về căn nhà đó không quá mười lần, mỗi lần một buổi, chỉ cốt mở cửa, ra ngồi đọc sách ở bao lơn cho hàng xóm thấy là nhà có chủ. Tôi chưa hề ở lại ngủ qua đêm. Một là ngủ một mình sợ ma. Hai là sợ… nhớ Tuyết. Chắc chắn là sẽ nhớ đến điên người.

Xét lại lòng mình, quả thật là tôi chưa muốn lấy vợ. Ít nhất cũng năm ba năm nữa, ở cái tuổi chính chắn hơn. Vậy thì tôi sẽ cho vợ con Thành về ở căn nhà đó. Tôi sẽ nói là nhờ coi nhà giùm vì tôi đi công tác liên miên. Tôi sẽ nói là tôi sẽ không bao giờ đòi lại cho tới khi Hải quân chính thức cấp nhà.

Trường hợp tôi cưới Hiền khẩn cấp? Giả sử rằng Hiền thực sự có mang với tôi và lại dùng Thanh làm “vật xúc tác” kích động tôi thương yêu nàng. Và giả sử rằng chúng tôi rốt cuộc sẽ thành chồng thành vợ thì hậu sự vẫn không có gì thay đổi. Chúng tôi sẽ ở căn phòng hiện tại của Hiền mà tôi tin rằng nó luôn luôn khoáng đãng cho tới khi đứa con thứ hai chào đời. Trước lúc đó hẳn vợ con Thành cũng đã được cấp nhà riêng.

Tôi ngẩng mặt hít chầm chậm một hơi dài. Luồng hơi lạnh lan nhanh đến tận cùng mọi ngõ ngách. Trong niềm sảng khoái chưa từng được hưởng, tôi chợt bắt gặp một chòm sao nằm phía trên rặng núi chếch trái ngọn hải đăng. Chòm sao trông rất quen mà nhất thời không sao nhớ ra tên…

***


Chương Kết


– Kìa, anh Bằng, phải anh Bằng không?

– Chính hắn. Còn em, phải đúng là em không?

– Nghe như xạo! Em là ai, nói tên xem!

– Dạo này anh bị bịnh, nhưng không phải bịnh mất trí nhớ.

– Anh bị bịnh gì vậy?

– Bịnh này bác sĩ không trị được nhưng với sinh viên y khoa thì chỉ cần… xoa bóp là hết.

– Bịnh gì ngộ vậy?

– Bịnh tương tư!

– Bây giờ mới thật là xạo! Mà anh tương tư cô nào vậy?

– Cái cô anh đi tìm hai lần. Lần đầu “bà chủ” truy hỏi là anh đã… làm gì cô Anh mà cô Anh không đến nữa! Lần sau, mới gần đây thôi. Nhưng tìm em như thể tìm chim, chim ăn biển bắc đi tìm biển đông.

– Chị ấy truy anh cũng đúng! Em không còn đến nơi đó ngay sau đêm đi chơi với anh. Khi về nhà thì đã thấy ba em được thả và hôm sau vẫn được đi làm sở cũ. Em cứ nghĩ, nhờ gặp anh mà em gặp hên nên muốn gặp lại anh để… cám ơn! Mấy lần em xuống bến tàu tìm anh và hễ gặp áo trắng là em hỏi thăm nhưng không ai biết tin anh. Một lần khác, em trở lại nơi đó nhờ chị chủ trao anh bức thư. Trong thư, em có ghi địa chỉ nhà em và mong anh đến chơi. Chờ cả năm nào thấy bóng dáng!

– Bà chằn đó có đưa bức thư nào đâu! Mà thôi, cần quái gì cái thư đó nữa! Mình lại gặp nhau đây rồi! Còn cái vụ “cám ơn” vì nhờ anh mà gặp hên, cho anh từ chối. Anh không tin dị đoan, mà nhận thì giống như mình ban ơn thật! Anh thích em nhưng không thích lợi dụng.

– Chớ không phải tại vì anh có hẹn với cô nào ở đây?

– Hẹn hò gì! Anh dẹp hết mấy cô rồi! Anh đến đây ghi tên đi học.

– Đi học? Anh nói anh đi tàu mà, thì giờ đâu đến trường.

– Thì vẫn đi tàu nhưng tàu đang vào ụ sửa chữa đại kỳ.

– Vào ụ là vào cái quái quỷ gì?

– Người bị bịnh thì vào nhà thương, tàu bị hư thì vào ụ. Người bị bịnh nặng thì điều trị trường kỳ, tàu bị hư nặng thì sửa chữa đại kỳ.

– Sửa chữa đại kỳ? Bộ tàu anh bị hư nặng sao? Có phải vì vụ Vũng Rô? Cả tuần vừa qua em có theo dõi vụ tàu xâm nhập bị đánh chìm và thắc mắc không biết tàu anh có dự trận đổ bộ không và anh có mệnh hệ gì không!

– Được em thắc mắc là anh đủ bình an rồi! Nhưng anh nghi em xạo quá. Mắc mớ gì khiến một cô y khoa lại đi chú ý đến Vũng Rô, rồi còn thắc mắc thắc mớ!

– Nói chuyện với anh tức chết! Nếu không thương thì mắc mớ chi phải thắc mắc!

– Thương cái kiểu gì mà học bên y khoa lại lang thang sang văn khoa! Chàng nào tốt số vậy?

– Vừa tan lớp em qua kiếm con bạn rủ đi ăn bún tôm nướng chợ Bến Thành. Ngon hết sẩy. Thôi, bây giờ gặp anh thì không cần con bạn nữa. Anh đi ăn với em nghe.

– Đừng đánh trống lãng. Nói thật đi. Con bạn hay thằng bạn?

– Con bạn thì sao và thằng bạn thì sao?

– Nếu là con bạn thì anh sẽ đi ăn với em cùng với “con bạn” của em. Còn nếu là “thằng bạn” thì cho anh dọt! Anh đã quá đủ rắc rối với mấy “thằng bạn” và “thằng chồng” rồi!

– Tội nghiệp dữ hôn! Nghe càng thêm thương! Cũng như anh, em dẹp hết mấy “thằng bạn” rồi, từ ngày gặp anh!

– Nghe như thiệt!

– Thiệt! Trong đầu em từ sau ngày gặp anh, chỉ còn có hai thứ. Một là học. Hai là lỡ nhớ đến anh thì nhớ năm phút rồi lại học! À, mà anh nói anh ghi tên học là học cái quái quỷ gì vậy? Các môn ở Văn khoa thì có môn nào dính dáng đến Hải quân đâu! Họa chăng là “môn” nữ sinh viên! Nói thật đi, anh đến đón người đẹp phải không? Nếu anh đã có hẹn thì em xin kiếu.

– Em suy luận thật tài tình. Nhưng chỉ đúng một phần. Nói chung thì nữ sinh của bất cứ trường nào cũng đều là thần tượng của thủy thủ. Chẳng qua có một giáo sư Triết khuyên anh nên chọn môn học này vì theo kinh nghiệm của ông, môn Triết sẽ mang may mắn cho người học.

– Ô! Con bạn em cũng học triết!

– Đúng là Triết mang đến may mắn! Giới thiệu “con bạn” em cho anh đi.

– Anh vô duyên! Phải hiểu theo ý này: Triết đã mang anh đến trường này và đã cho “đôi ta” cơ may gặp lại nhau. Thế nên em chưa ngu mà đi giới thiệu bạn em cho anh!

– Đang buồn mà còn bị chê vô duyên thì còn gì mà không thắt cổ tự tử cho rồi! Thôi, xin vĩnh biệt tình em!

– Khoan, chết chi uổng! Anh quên em sắp là bác sĩ sao? Em có thuốc chữa bệnh buồn. Buồn tới cỡ nào cũng chữa được!

– Cỡ hết thuốc chữa!

– Hết thuốc chữa không phải là cái cỡ. Thí dụ vài cỡ buồn: Buồn rười rượi, buồn thắm thía, buồn thảm thê…

– Cỡ anh đang mang là buồn thúi ruột!

– Dữ vậy? Bị cô nào đá chắc?

– Đá còn đỡ. Đàng này thêm cả đấm! Cú đấm thôi sơn dứt… tình máu mủ!

– Nói nghe ghê! Chuyện ra sao?

– Nhắc đến chỉ thêm thúi gan!

– Nếu thực sự anh đang thúi ruột thúi gan thì đây là thuốc chữa, bảo đảm kết quả trăm phần trăm: Đi ăn rồi đi chơi!

– Đi chơi? Nghe hấp dẫn đấy! Nhưng đi đâu?

– Tùy anh!

Vũ Thất
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn