BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 37462)
(Xem: 34133)
(Xem: 33633)
(Xem: 25027)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Gặp lại Phạm Thiên Thư sau 25 năm

31 Tháng Mười Hai 201512:00 SA(Xem: 763)
Gặp lại Phạm Thiên Thư sau 25 năm
51Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
51
Một buổi sáng tháng đầu tháng 9 năm 1981, Hoàng Văn Giang (1) đạp xe xuống rủ tôi đi uống cà phê. Hai thằng tôi đạp xe từ Ngã Ba Ông Tạ trên đường Lê Văn Duyệt nối dài (sau 75 VC đổi là Cách Mạng Tháng 8) về hướng Hoà Hưng định ghé quán café của Tô Duy Khiêm do Chu Vương Miện trông coi ở Hoà Hưng.

Trên đường vừa đi, vừa trò chuyện; như chợt nhớ ra điều gì, Giang nói với tôi:

– Hay là mình ghé đến quán café của Phạm Thiên Thư trên đường Yên Đổ; tiện thể thăm hắn luôn.

– Phải đấy! Lâu quá không gặp họ Phạm nên ghé thăm nhà thơ Động Hoa Vàng xem sao.

Khi đi ngang quán café của Chu tiên sinh, tôi nhìn thấy Tô Duy Khiêm và Phan Lạc Giang Đông đang ngồi trong quán. Vì đã có chủ đích đi thăm Phạm Thiên Thư nên hai thằng tôi đạp xe đi thẳng .

Chúng tôi ngừng xe ở gần góc đường Yên Đổ (VC đã đổi thành Lý Chính Thắng) và Hai Bà Trưng, dựng xe ở một gốc cây đầy hoa màu vàng, đã thấy Phạm Thiên Thư chạy ra tận cửa đón chúng tôi vào quán.

Quán cà phê (không có tên) là một căn nhà nhỏ nằm quay mặt ra đường Yên Đổ gần phía hẻm Bến Tắm Ngựa; Phạm thuê của một bà Dược sĩ, nhìn vẻ tối tăm, nhếch nhác; lỏng chỏng mấy chiếc bàn thấp lè tè, bên trong quán chai lọ, bình rượu ngâm thuốc xếp lộn xộn trên ke .

Chúng tôi ngồi ở cái bàn sát tường ngay chỗ lối ra vào. Phạm Thiên Thư đứng trong quầy pha cà phê từ trong một cái túi đen đuá; loại cà phê dân uống cà phê hay gọi bình dân là cà phê bít tất. Ở Sàigòn ngày xưa có cà phê Năm Dưỡng ở Bàn Cờ cũng chuyên bán cà phê bít tất nhưng rất ngon và rất đông khách.

Sau khi bưng ra bàn 2 ly cà phê đá, Phạm quân ngồi xuống trò chuyện với chúng tôi. Tôi hỏi:

Ông mở cái quán này bao lâu rồi? Bán buôn có khá không? (Hỏi vậy thôi, chứ tôi nghĩ là không khá vì thấy quán vắng teo nên biết là không khá).

– Cũng được vài năm nay. Thời buổi bây giờ khó khăn lắm. Cái gì cũng tổ hợp, cũng hợp tác xã, cũng phân phối…Người dân sau 75 lại cùng đói khổ như nhau nên ai cũng mở ra buôn bán lặt vặt; ai cũng nghèo xơ xác, nên đâu có nhiều khách! Phạm nói.

Sau đó Phạm quân hăng say nói với chúng tôi về Đại Trường Ca Việt Nam mà Phạm Thiên Thư viết để ca ngợi chiến thắng giành độc lập và thống nhất đất nước của những người cộng sản. Phạm nói với chúng tôi: “…đó là chiến thắng có một không hai trong lịch sử và Phạm rất hãnh diện được chứng kiến. Nước nhà đã độc lập thống nhất và thoát khỏi sự nô lệ và o ngoại bang…” Phạm trả lời rất thuộc bài, nói vanh vách những điều bọn VC đã bắt mọi người phải nói thuộc lòng như con vẹt lập lại những gì người ta muốn nó nói.

Sau ngày 30/4/1975, toàn thể nhân dân từ Nam ra Bắc, từ thành thị đến nông thôn, từ rừng sâu núi thẳm cho chí đến những hải đảo xa xôi, từ trung ương cho đến các địa phương thôn làng, xóm ấp… người dân trở thành những con vẹt chỉ biết lập lại những điều đảng nói. Anh nào dại dột nói khác với đảng thì sẽ bị quy chụp những tội tầy trời như: phản động, âm mưu chống đối đảng, âm mưu phản cách mạng v.v… và tương lai là lao tù đầy đoạ ở các vùng rừng thiêng nước độc, cưỡng bách lao động không có ngày về hoặc phải chết mất xác trong rừng sâu .

Tôi cười thầm trong bụng về cái sự ngây thơ của một anh thầy tu trốn lính, khi nói là ngày nay đã không còn bị ngoại bang nô lệ. Anh ta đã không nhìn thấy những người cộng sản VN đã nô lệ Nga Tàu còn hơn bất kỳ thứ nô lệ nào trên đời. Chúng đã khiêng cái chủ thuyết ngoại lai vô nhân về tròng cái ách ấy lên đầu lên cổ nhân dân, dùng những thủ đoạn hèn hạ, khát máu để khống chế người dân vô tội; tước đoạt mọi thứ quyền của con người mà cái quyền tối thiểu là quyền sống, quyền làm người cũng bị chúng dìm xuống tận đáy sâu điạ ngục đỏ

Tôi khẽ đá vào chân Hoàng Văn Giang để đang ai có phản ứng gay gắt vì e bất lợi. Dưới sự cai trị bạo tàn của cộng sản Việt Nam, có rất nhiều cạm bẫy mà chỉ cần sơ sẩy sẽ ân hận cả đời. Chúng tôi là những người đã có thừa kinh nghiệm tù đày trong lao tù cộng sản nên cần phải đề cao cảnh giác.

Nhưng tôi vẫn nói với Phạm Thiên Thư là: “Chuyện đó nên để cho lịch sử phê phán, mình là người cầm bút, làm thơ nên sống với những sự thật và đừng để lôi cuốn vào sự lừa dối. Khi nào ông viết xong, chúng tôi sẽ được đọc một đại tác phẩm để đời của ông. Bây giờ bỏ mấy cái chuyện chính trị chính em đó sang một bên mà hãy nói chuyện văn nghệ hoặc đời sống của ông ra sao.”

Phạm Thiên Thư lại đổi đề tài sang chuyện chữa bệnh bằng nhân điện và họ Phạm đã tìm ra một loại sâm đặc biệt ngâm vào rượu uống trị được bách bệnh được ông đặt tên là rượu Hồng Sâm. Vừa nói, Phạm vừa lôi một bình rượu lớn, bên trong có ngâm mấy loại củ trông giống như củ khoai từ, định rót cho chúng tôi.Nhưng cả tôi lẫn Hoàng Văn Giang đều cản lại vì giữa trưa nóng nực không ai trong chúng tôi muốn uống rượu.

Thấy nói chuyện với họ Phạm toàn những chuyện vớ vẩn và nhạt nhẽo, tôi và Giang đứng dậy từ giã ra về và để tiền trên bàn thanh toán cà phê. Về nhà, tôi vẫn còn ấm ức về những chuyện với họ Phạm, nên lấy giấy viết mấy câu thơ trách móc nhẹ nhàng:

GỬI PHẠM THIÊN THƯ

(Để nhớ lúc gặp Phạm Thiên Thư năm 1981 tại quán cà phê góc đường Yên Đổ và Hai Bà Trưng)

Bởi chưng xưa “gã từ quan”

Ngày nay ngồi ngắm hoa vàng mung lung

Xót trang bi sử ngượng ngùng

Thất phu thẹn với tang bồng nổi trôi

Mấy năm vật đổi sao dời

Hoài thân lận đận, vẫn đời hoang mang

Trước sân dăm cánh hoa vàng

Ngậm ngùi thế sự, ngàn hàng lệ sa

(Thơ Vũ Uyên Giang – 1981)

Tôi định bụng hôm nào rảnh rang sẽ ghé đưa cho Thư, nhưng tôi không còn cơ hội nữa khi sáng sớm ngày 8 tháng 10 năm 1981, Huỳnh Bá Thành (tức Thiếu tá công an Ba Trung, tức tên cộng sản nằm vùng Hoạ sĩ Ớt, chuyên vẽ hí hoạ cho nhật báo Điện Tín của ông Hồng Sơn Đông) dẫn lâu la đến nhà bắt tôi.

Đứng trong sân, nhìn ra thấy chiếc xe Jeep đậu bên kia đường, ngồi cạnh tài xế là Huỳnh Bá Thành, kế bên Huỳnh phía dưới đất là một tên nhà thơ của Miền Nam mang họ Phan làm chỉ điểm cho Thành.

Hai tên công an tuổi chừng 19, hoặc 20 đi vào nhà và hỏi tôi: Anh có phải là anh Vũ không? Tôi xác nhận là đúng thì chúng nói thuộc Bảo Vệ Chính Trị 2 của Sở Công An Thành phố, có lệnh bắt tôi. Biết tình thế nguy hiểm, nên tôi đã phóng chạy bằng ngã sau nhà sau khi xin chúng cho vào nhà mặc áo và rửa tay.

Trốn tránh ở Sài gòn cả tháng rồi vượt biển tìm tự do nên không có cơ hội gặp lại Phạm Thiên Thư để tặng bài thơ. Sau năm 1975 được nhà nước cộng sản xuất bản một số sách “vớ vẩn” chẳng có giá trị gì như pho (phải dùng đến chữ pho vì nó rất dầy) sách “Tiếu Liệu Pháp, Tự Điển Cười” gồm các chuyện cười mà Phạm Thiên Thư góp nhặt được, mới chỉ có 3 mẫu tự ABC đã dày 500 trang; như các pho sách nói về công dụng của Hồng Sâm và nhân điện và các pho sách nói về Phạm có “công năng” cõi trên cho để chữa bách bệnh v.v… Những bệnh nan y trên đời mà y giới (kể cả Đông Y lẫn Tây Y) đều chưa tìm ra cách chữa trị hữu hiệu thì Phạm Thiên Thư đều chữa khỏi như: Ung Thư, Tiểu Đường, Cao Máu v.v…

Ngày 13/4/2006, vừa đặt chân xuống phi trường Tân Sơn Nhất, tôi được nhà thơ Vương Tân (tức ký giả Hồ Nam) chở đến chỗ hiện nay nhà thơ họ Phạm đang trụ trì ở Quán cà phê Hoa Vàng toạ lạc ở số Y 3 Bis đường Hồng Lĩnh (cư xá Sĩ Quan Chí Hoà cũ). Bà chủ quán cà phê Hoa Vàng ngày nay (hiền thê của Phạm thi sĩ) chính là bà Dược sĩ chủ nhà nơi họ Phạm thuê mở quán cà phê không tên trên đường Yên Đổ – Hai Bà Trưng ngày nào. Chắc bà yêu thơ của thi sĩ nên yêu luôn cả thi sĩ?

Ngày ngày người ta sẽ thấy một ông già tóc bạc, vóc dáng nông dân thể hiện rõ nét khi thấy ông mặc quần ống thấp, ống cao chuyên ngồi trước của quán, vừa trông xe cho khách, vừa phun khói thuốc như ống khói tàu.

Đôi khi ngồi với khách nói chuyện hoang tưởng về việc được “cõi trên” sai xuống trần cứu nhân độ thế, về “nhân điện” v.v… Tại đây tôi đã gặp lại những người bạn cũ nhiều năm không gặp như Tô Duy Khiêm, Trần Ngọc Tự, Kha Thùy Châu, Phổ Đức; mỗi người có những kỷ niệm thời trai trẻ khi cùng nhau sinh hoạt văn nghệ tại Sàigòn. Ở hải ngoại đã có một thời rộ lên tranh cãi về tác giả bài thơ Ngày Xưa Hoàng Thị; có người cho rằng bài thơ này của Nguyễn Tất Nhiên; có người cho rằng đó chính là thơ của Phạm Thiên Thư. Lại có một bà cũng họ Hoàng, chủ nhiệm một tờ báo ở Nam California đã viết trên báo tự nhận mình chính là Hoàng Thị Ngọ mà Phạm thi sĩ viết thành thơ. Những người biết chuyện chỉ cười thầm bà họ Hoàng đã là vợ một nhà tho đã thành danh mà không giữ được chồng lại còn vơ vào một nhà thơ khác làm gì?

Bà Hoàng Thi Ngọ


Nàng thơ Hoàng Thị Ngọ của Phạm Thiên Thư là một con người thật bằng xương bằng thịt, vóc người mảnh khảnh với mái tóc xoã vai. Nàng không đẹp lắm nhưng vóc dáng thanh tú, hay mặc áo dài màu trắng hoặc đen đi học ở Trường Văn Lang bằng xe đạp. Nhà thơ họ Phạm sau khi bị trường Chu Văn An đuổi học vì kỷ luật đã quay về Văn Lang và gặp nàng thơ Hoàng Thị Ngọ.

Phạm cứ lẽo đẽo đạp xe theo sau nàng không nói năng gì, ôm mối tình câm nín. Có những lần nàng thơ quay lại mắng anh chàng mũi to, răng vẩu, đen đuá như một anh nông dân chất phác…

Ngày qua ngày, thấm thoắt thời gian đã 3 năm trôi qua, Phạm quân áp dụng phương châm “đẹp trai không bằng chai mặt”; khi nàng thơ thực sự cảm động mối chân tình của họ Phạm để đáp lại mối tình câm nín của chàng thì cũng chính là lúc họ Phạm xuống tóc quy y cửa Phật làm một thầy tu. Dù chỉ đi tu để trốn lính…

Và từ đó đời được thưởng thức những áng thơ tình Phạm Thiên Thư viết trong Chùa. Tính từ ngày gặp tôi nhà thơ họ Phạm ở quán cà phê không tên trên đường Yên Đổ năm 1981 cho đến lần gặp lại năm 2006 tại Quán Hoa Vàng Y 3 Bis đường Hồng Lĩnh, đã là 25 năm; một phần tư thế kỷ trôi qua với biết bao đổi thay.

Đến lúc đó tôi mới có cơ hội chép bài thơ Gửi Phạm Thiên Thư cho nhà thơ. Nhân dịp gặp nhau ở Quán Hoa Vàng của Phạm quân, Bùi Đức Dung đưa cho tôi xem bài thơ viết sau khi đi cải tạo về có nhắc đến Phạm thi sĩ như sau:

KHI VỀ

Khi về gặp Phạm Thiên Thư,

Thầy lang nửa áo thầy tu nửa chùa

Cầm tay bắt mạch như đùa

Vỗ lưng ta gọi bốn mùa rong chơi

Về toàn gặp chuyện trời ơi,

Chuyện may thì ít, chuyện xui thì nhiều.

Bùi Đức Dung

Hoàn cảnh của Phạm Thiên Thư bây giờ thật đáng tội nghiệp vì dù mang tên là chủ quán Hoa Vàng nhưng thực sự chỉ có cái hư danh để có ngày hai bữa cơm. Với tiếng tăm của anh, nhất là từ sau ngày Phạm Duy trở về Việt Nam sinh sống và được hát lại những bài nhạc phổ thơ của Phạm Thiên Thư; khi được báo chí phỏng vấn, Phạm Duy đã giới thiệu quán Hoa Vàng cua Phạm Thiên Thư nên sinh viên nam nữ đã kéo đến khá đông. Nhìn thấy nhà thơ họ Phạm cứ phải ngồi vỉa hè trông xe cho khách và phun khói thuốc lá phì phèo như khói tàu hoả tôi ái ngại cho bạn tôi quá nên đã khuyên Phạm quân nên bỏ dần thuốc lá vì với tuổi đời gần 70 tuổi đầu, vẫn hút nhiều như vậy không tốt cho sức khoẻ, nhất là anh cũng không được khoẻ từ sau cái dạo nghiên cứu Pháp Thân Tâm bị tẩu hoả nhập ma đến nay, dường như anh không còn là một người tỉnh táo mà ngơ ngơ ngáo ngáo như một kẻ trên mây; bằng chứng là khi ký tên tặng sách, anh cũng quên luôn cả tên Phạm Thiên Thư ghi ra sao; Trần Ngọc Tự phải ghi giúp anh và nói anh ký tên ở ngay chỗ có ghi sẵn tên. Tâm trí anh cũng lãng đãng khi nhớ khi quên không còn tỉnh tao như lần tôi gặp trước (dù anh vẫn có vẻ bình thường như mọi người bình thường khác) khi anh cứ luẩn quẩn với ý nghĩ hoang tưởng là người có “công năng đặc biệt do cõi trên trao cho” để cứu nhân độ thế, để chữa những bệnh nan y cho thế gian như Ung Thư, bệnh Aids, bệnh Tiểu Đường mà cả Đông Y lẫn Tây Y đều chưa tìm ra cách chữa trị v.v…

Vũ Uyên Giang

(1) Hoàng Văn Giang, Đại úy Đại Đội trưởng thuộc Sư đoàn 1 Bộ Binh trú đóng ở vùng địa đầu giới tuyến ở Vùng I Chiến thuật. Anh thường có bài viết trên Bách Khoa trước năm 1975. Sau ngày 30/4/1975, anh cũng như bao nhiêu quân nhân QLVNCH bị tập trung trong các Trại tù của cộng sản. Thời gian từ 1978 đến 1981, anh ở tù chung 1 trại K.1 ở Suối Máu Biên Hoà với người viết. Hiện nay anh đang định cư ở thành phố Chicago, Illinois và viết văn, viết báo, viết sách dưới bút hiệu Việt Dương.

Trích Thơ Phạm Thiên Thư:

ÁO THU

Xưa em phơi áo giữa thu phong

Lá vàng cài lên lụa rực hồng

Nay áo cuốn trôi về thiên cổ

Lá vàng bay lạnh nỗi niềm không

Đôi nét về Phạm Thiên Thư:

PHẠM THIÊN THƯ tên thật Phạm Kim Long. Sinh tại Hải Phòng, năm Canh Thìn 1940;

Nguyên quán: Kiến Xương, Thái Bình.

Thi phẩm đã xuất bản: – Qua Suối Mây Hồng (tức Kinh Ngọc – thi hóa Kinh Kim Cương) – Động Hoa Vàng – Đoạn Trường Vô Thanh – Ngày Xưa Người Tình – Hội Hoa Đàm (tức Kinh Hiền gồm 12.000 câu lục bát – thi hóa Kinh Hiền Ngu) – Quyên Từ Độ Bỏ Thôn Đoài – Suối Nguồn Vi Diệu (tức Kinh Thơ – thi hóa Kinh Pháp Cú) – Trại Hoa Đỉnh Đồi.
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn