BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 35477)
(Xem: 33219)
(Xem: 32175)
(Xem: 24632)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Đời Thủy Thủ (Chương 6,7,8,9,10)

30 Tháng Mười Hai 201512:00 SA(Xem: 1749)
Đời Thủy Thủ (Chương 6,7,8,9,10)
52Vote
40Vote
31Vote
20Vote
10Vote
4.33

Chương 6


Hai ngày liền sau đó, ngoại trừ các bữa cơm lai rai bia và tán gẫu với Tâm cùng các quan bị cấm trại, tôi nghiền ngẫm quyển Huấn thị Điều hành Căn bản chiến hạm. Sách mở đầu bằng một Sơ đồ tổ chức. Ô hình chữ nhật cao nhất ghi Hạm trưởng. Ô nhỏ hơn ngay bên dưới ghi Hạm phó. Dưới hạm phó là các ban ngành: Chiến tranh chính trị, An ninh, Truyền tin, Huấn luyện, Hải hành, Cơ điện khí, Vận chuyển, Phòng tai, Trọng pháo, Ẩm thực. Chương đầu tiên dành cho việc mô tả nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn của Hạm trưởng. Có một câu tôi đọc qua là nhớ ngay: “Hạm trưởng có toàn quyền sử dụng mọi biện pháp để duy trì an ninh trật và bảo vệ sinh mạng cùng tài sản quốc gia.” Và dĩ nhiên chương tôi đọc kỹ nhất là phần nhiệm ban ẩm thực mà tôi sắp nhận lãnh và chương nhiệm vụ sĩ quan trực nhật. Sáng nay đang cố ghi nhớ vài trang cuối thì tôi được Tâm khởi sự hướng dẫn cách nhật tu sổ lương thực và cách thiết lập danh sách lương bổng hàng tháng cho toàn thể thủy thủ đoàn. Tuy nhiên chỉ vừa bắt đầu thì Hạm trưởng bước vào. Theo sau ông là Hạm phó và sĩ quan trực nhật. Tôi và Tâm đứng lên chào. Ông ngồi vào chiếc ghế đầu bàn dành riêng cho ông. Hạm phó ngồi cạnh ông dãy bên tay phải. Trung úy Hào bên trái. Các sĩ quan lần lượt đến, ngồi vào ghế của mình theo thứ tự thâm niên.

Thấy đã đông đủ, Hạm trưởng nở nụ cười tươi và lên tiếng bằng giọng trầm ấm:

– Thế nào? Mọi người đều vui vẻ khỏe mạnh chứ?

Vài sĩ quan ồ ồ lên tiếng:

– Cám ơn hạm trưởng.

Ông nhìn thẳng vào tôi ở cuối bàn trực diện ông:

– Còn thiếu úy Bằng? Sau gần một tuần, hẳn là anh đã tóm thâu được phần nào hiểu biết căn bản về tổ chức và cấu trúc chiến hạm? Sẵn sàng nhận công tác đầu tiên chứ hả?

Tôi mạnh dạn:

– Thưa hạm trưởng, rất sẵn sàng!

Ông nhìn xuống tập công văn đóng dấu Mật/Khẩn, cười mỉm:

– Thiếu úy Bằng sẵn sàng thì hẳn mọi người dư sẵn sàng! Vậy thì tôi báo cho một “tin mừng”: Sáng chủ nhật, chiến hạm sẽ đi công tác. Khởi hành đúng mười giờ.

Tôi nhận cái nháy mắt đầy ý nghĩa của Tâm: “Vậy là thứ ba tới hết mong gặp nàng”. Giọng hạm trưởng khô khan:

– Lưu ý tất cả các anh, những gì tôi nói sau đây được coi là mật. Có nghĩa là các anh không được tiết lộ cho bất cứ ai, gồm cả nhân viên và người thân. Công tác thì giản dị nhưng hành trình thì khá gian nan. Tàu chúng ta sẽ đi Năm Căn. Năm Căn nằm ở mũi Cà Mau. Tôi nghĩ là tất cả các anh đều có nghe chiến dịch Sóng Tình Thương do Hải Quân điều động nhằm bình định và tái lập quận Năm Căn. Cuộc hành quân quy mô đó khai diễn từ đầu năm 1963 và sau hai tháng đã đạt kết quả mỹ mãn. Quận đã thành hình với bốn ngàn dân trở về sống bằng nghề làm than đước và đánh cá. Tuy nhiên thỉnh thoảng địch vẫn xuất hiện tiếp tục quấy phá. Suốt tuần qua, một tiểu đoàn bộ binh đã mở cuộc hành quân tảo thanh vùng này. Nhiệm vụ chúng ta là đến Năm Căn bốc tiểu đoàn bộ binh đưa về Đại Ngãi. Thú thật là tôi chưa từng đến nơi này. Chúng ta sẽ vào Năm Căn bằng cửa sông Bồ Đề, mất chừng hai tiếng. Dọc sông Bồ Đề là rừng đước, cây thon cao, ít lá nên dễ quan sát. Theo tin tình báo thì địch ở Năm Căn chỉ là các du kích địa phương. Tuy vậy chúng ta vẫn phải cẩn tắc vô ưu, phải chuẩn bị phản ứng tối đa. Địch cũng có thể bắn ra tàu từ các lò gạch. Mỗi lò gạch cách nhau vài trăm thước. Nhớ cho kỹ: Không được tự ý tác xạ. Chỉ bắn khi bị bắn và ngưng ngay khi có lệnh.

Hạm trưởng nhìn sang hạm phó:

– Dòng sông tương đối rộng nhưng các không ảnh chụp cho thấy có rất nhiều hàng đáy, vì vậy việc vận chuyển xem ra không mấy êm xuôi.Tôi muốn có hạ sĩ Thành đi chuyến này. Nếu đang cho đi phép thì cũng phải gọi về tàu. Tôi cũng rất cần Trung sĩ nhất thám xuất Tạo. Lòng sông thì khá sâu nhưng cửa sông lại cạn, chúng ta chắc chắn là phải dùng máy đo chiều sâu. Ngoài ra, tùy tình hình và thủy triều, có thể chúng ta phải quay về vào ban đêm. Vì vậy tôi muốn chiếc radar phải luôn chạy tốt bằng cách có đủ các bóng đèn thay thế. Đi ban đêm, địch khó thấy ta nhưng ta lại dễ thấy địch. Khi bị phục kích, nhân viên được phép tức khắc phản pháo vào ánh lữa trên bờ.

Còn việc tiếp nhận tiểu đoàn bạn, tôi sẽ gặp tiểu đoàn trưởng thảo luận các biện pháp an ninh và an toàn trước khi cho nhập hạm. Điều quan trọng nhất là Hạm phó và sĩ quan an ninh phải chắc chắn tất cả vũ khí, trừ vũ khĩ cá nhân của sĩ quan, đều được tập trung ở sân lái. Tôi sẽ có chỉ thị chi tiết tại chỗ. Và đây là việc mỗi các anh cần làm.

Ông tiếp tục hướng về hạm phó:

– Hạm phó có thể cho phân đội không trực đi bờ kể từ trưa nay. Phân đội còn lại đi bờ ngày mai. Thông báo tất cả nhân viên phải có mặt điểm danh lúc 8 giờ sáng chủ nhật. Mười giờ cho nhận còi nhiệm sở vận chuyển. Tất cả mặc tiểu lễ để dàn chào Bộ tư lệnh Hải quân và thủ đô Sài Gòn. Sau buổi họp, đánh ngay công điện cho các chiến hạm cặp phía ngoài tách ra đúng mười giờ để mình rời cầu. Kiểm soát tình trạng sẵn sàng của chiến hạm. Nhận rõ chứ?

– Thưa vâng!

– Công việc sĩ quan cơ khí như sau. Đôn đốc và hoàn tất sửa chữa máy chánh trước 4 giờ chiều mai. Kiểm soát tình trạng hai máy neo mũi và lái. Lấy đầy dầu và nước ngọt. Nhận rõ?

– Thưa rõ!

– Sĩ quan truyền tin liên lạc phòng sáu lãnh tài liệu truyền tin và nhật tu. Phải bảo đảm tình trạng khiển dụng các máy vô tuyến. Qua phòng hành quân nhận đặc lệnh hành quân. Nhận rõ?

Trung úy Hào:

– Thưa, nhận rõ!

– Thiếu úy Tâm và thiếu úy Bằng chuẩn bị thực phẩm bảy ngày. Chuẩn bị bảng lương cho nhân viên để nạp Phòng Tài chánh ngay khi về bến cho kịp định kỳ. Thiếu úy Bằng sẵn sàng nhận chức Trưởng ban Ẩm thực khi thiếu úy Tâm chuyển sang làm Trưởng ban Trọng pháo.

Tôi và Tâm cùng đáp:

– Nhận rõ.

– Trung úy Tùng?

Trung úy Tùng sốt sắng lên tiếng:

– Có tôi.

– Cho nhân viên bảo trì các khẩu đại bác và mang một số lượng đạn tương đối đến các ụ súng và cho ràng buộc cẩn thận trước khi ra cửa biển. Xem lại xem có đủ áo giáp và nón sắt. Xin bổ sung ngay nếu thiếu.

Ông tiếp lời, giọng vui vẻ:

– Có lẽ anh nghĩ là tôi quên? Về việc anh thuyên chuyển, anh liên lạc Bộ chỉ huy Hải Lực hỏi xem kết quả đơn xin nghỉ phép thường niên của anh ra sao. Nếu đã được chấp thuận, anh bàn giao mọi việc cho thiếu úy Tâm và rời tàu trước giờ khởi hành. Đồng ý chứ?

Tùng nói bằng giọng cảm động:

– Cám ơn hạm trưởng nhưng tôi muốn đi thêm chuyến này. Rời tàu đột ngột quá cũng buồn!

Hạm trưởng xoa tay, mỉm cười:

– Càng hay. Rất có thể chuyến công tác này chúng ta có dịp “thử súng”. Có anh tôi yên chí hơn.

Hạm trưởng nhìn lướt qua các sĩ quan:

– Ai trực ngày mai?

Hạm phó đáp:

– Dạ tôi!

– Thế thì nhất rồi. Nhớ chỉ thị nhân viên giám lộ chạy la bàn lúc 2 giờ sáng. Anh gặp tôi lúc hai giờ chiều nay để chuẩn bị hải đồ và hải trình.

– Thưa vâng!

Hạm trưởng chống hai bàn tay lên mép bàn trong tư thế sẵn sàng đứng lên:

– Có ai thắc mắc gì không?

Thiếu úy Được cười:

– Thưa tôi bị thất nghiệp!

Hạm trưởng gật đầu, tỏ vẻ hài lòng:

– Việc của anh thì… khó khăn đấy. Anh xem lại các dụng cụ phòng tai, áo phao, các bè nổi, phải chắc chắn là còn đủ cấp số. Kiểm soát các hộp mưu sinh thoát hiểm để bảo đảm mọi thứ còn đầy đủ và không quá hạn.

– Sẽ làm ngay, thưa hạm trưởng.

Ông lướt nhìn từng người, xoa hai tay, mỉm cười:

– Đêm qua tôi có làm mấy đoạn thơ khá vừa ý. Sẵn có mặt đông đủ, tôi đọc cho các anh nghe:

“Mắt tôi đã rướm buồn ly biệt. Chân ngập ngừng đi lúc tiễn nhau. Ven xóm bao lần nghe tiếng sóng. Bôn chôn luống nước đuổi theo tàu.

Mây hồng rợp bóng trời quan hải. Gió cũng xôn xao biển sóng cười. Nhưng đã xa em hàng mấy dặm. Xuân làm sao thắm mảnh tình khơi”. (thơ Hữu Phương).

Hạm phó gục gặc, cười nụ:

– Hay! “Bôn chôn luống nước đuổi theo tàu”. “Gió cũng xôn xao biển sóng cười”. Tôi khoái nhất hai câu này, không chỉ mang hình ảnh đẹp mà chất chứa cả một… tâm sự người đi biển.

Vẻ mặt hạm trưởng sáng rỡ:

– Đó chính là hai câu tôi ưng ý nhất. Vậy mà tôi cứ tưởng hạm phó của tôi dốt thơ!

Trung úy Hào, giọng cợt đùa:

– Câu “Gió cũng xôn xao biển sóng cười” còn gợi ta thấy cái hình ảnh sóng lăn tăn đùa giỡn vui mắt. Mong rằng sáng chủ nhật này mình ra cửa biển sẽ gặp môi sóng xôn xao chớ không… môi sứt lao chao! Cười bằng môi sứt thì chỉ có nước ói với mửa!

Chúng tôi cười ngặt nghẽo. Hạm trưởng vừa cười vừa đứng lên, nói với Tâm trước khi bước vào phòng riêng:

– Thiếu úy Tâm theo tôi lấy tiền ẩm thực.

Tâm đẩy ghế, lách người bước theo ông, giọng đùa cợt:

– Vẫn có những “đêm cháo gà” như chuyến trước, thưa hạm trưởng?

– Tôi không phản đối.

Tâm nheo mắt làm một cử chỉ có tiền đến nơi. Tất cả dõi mắt về phía cửa buồng. Một lúc sau Tâm hiện ra, tay cầm sấp bạc mới, mặt hí hửng. Trung úy Hào xô ghế định phóng đến nhưng anh sựng lại vì hạm trưởng cũng bước theo ra kèm với vài cái lắc đầu ngao ngán dành cho Hào. Anh bẽn lẽn ngồi xuống nhưng vừa khi hạm trưởng khuất dạng anh xòe bàn tay trước mặt Tâm, năm ngón tay lúc lắc:

– Ê, Thiếu úy Tâm! Hì! Hì!

Tâm lạnh lùng bỏ tiền vào tủ sắt, miệng lầm bầm:

– Thôi đi ông! Ông mượn hết một ngàn rồi!

Thấy tôi còn lơ mơ, thiếu úy Được giải thích:

– Phàm những kẻ độc thân đi biển như chúng ta, ai ai cũng thiếu hụt kinh niên. Lương lãnh ra, lả lướt vài ngày ở bờ xa bến lạ là… đi đứt. Cho nên sĩ quan ẩm thực luôn luôn là… vị cứu tinh!

Trung úy Hải đưa ra ba ngón tay dí dí trước tôi, miệng cười hì hì:

– Tân sĩ quan ẩm thực hiểu tôi muốn nói gì không? Cười hì hì là cười cầu tài. Mỗi ngón tay tượng trưng cho một trăm. Nhớ đấy, nay mai tôi sẽ dùng đến.

Tâm nói lớn:

– Mày mà yếu lòng là có khi đói cả tàu đấy. Tiền thì luôn luôn có dư, nhưng cho mượn nhiều quá, lỡ tàu đi công tác dài hạn là không còn tiền đi chợ. Cho mượn vừa phải thôi. Nhất là coi chừng… hạm phó. Chuyên viên sử dụng lục mạch thần kiếm!

Tôi cười thành tiếng:

– Nhận hiểu! Nhận hiểu năm trên năm.

Hạm phó đưa hai ngón tay trước Tâm:

– Hôm nay ta đi bờ. Hì! Hì!

Tâm lắc đầu nhưng bước trở lui về phía tủ sắt! Chúng tôi cùng cười vang trước khi giải tán mỗi người lo phần việc của mình.

Tôi cầm quyển Huấn thị Điều hành Căn bản đặt lại trên giá. Tôi rất hài lòng với nội dung của nó. Nó giúp tôi vỡ lẽ một nghề nghiệp tưởng là đơn sơ nhưng quả là có lắm điều rối rắm, chằng chịt. Muốn trở thành một hạm trưởng, tôi phải qua từng ban ngành, phải rành rẽ từng ban ngành cùng các mối quan hệ đồng bộ giữa chúng. Yếu kém về bất cứ ngành nào cũng khiến cho việc chỉ huy mất hiệu quả. Tôi tự hứa là sẽ theo sát việc ăn uống để mọi bữa ăn đều ngon lành, đầy đủ. Ngay nhiệm vụ đầu tiên, đã là bước đi quan trọng: Có thực mới vực được đạo mà!

– Ê, Bằng! Lại đây tiếp tục vụ lập danh sách lương bổng hàng tháng đi chứ…

Tôi bước sang ngồi cạnh Tâm và chú tâm theo dõi lời anh. Mỗi tháng bảng lương luôn luôn có sự thay đổi, không nhiều thì ít. Nhân viên thăng cấp, thăng trật, cưới vợ, đẻ con…Tôi tò mò dò theo vần T để xem tiền lương của hạ sĩ Thành. Lương hạ sĩ với vợ sáu con còn dưới mức lương thiếu úy độc thân của tôi. Tự dưng tôi cảm thấy ngỡ ngàng. Tôi sống một mình mà còn chật vật huống hồ cả nhà tám miệng ăn sẽ thiếu thốn cỡ nào! Liệu đúng là có phép màu: “Trời sinh voi sinh cỏ”? Tôi hỏi Tâm về sự khác biệt lương bổng giữa một hạ sĩ và một hạ sĩ nhất. Anh cho biết là khá nhiều vì hạ sĩ nhất không còn kể là lính nữa mà đã lên cấp hạ sĩ quan…

Tôi đang dò danh sách để tìm lương trung sĩ thì chợt nghe tiếng Tâm:

– Có việc gì đó anh?

Tôi quay lui theo hướng Tâm nhìn. Anh lính gác đứng ngay cửa chào tôi:

– Thưa thiếu úy, thiếu úy có người nhà tìm.

Tâm cười cười:

– Thiếu úy Tâm hay thiếu úy Bằng?

– Thưa, thiếu úy Bằng.

Tôi ngạc nhiên:

– Tôi?

– Dạ. Cô ấy nói muốn gặp thiếu úy Bằng.

Tâm lên tiếng đúng với ý nghĩ của tôi:

– Tuyết chăng?

Tự dưng tôi không muốn gặp Tuyết. Tôi bảo Tâm:

– Mày lên gặp Tuyết nói tao không có ở tàu.

Tâm cự nự:

– Bậy bạ! Mày đi mời Tuyết xuống đây. Lâu nay tao đã có ý mời mà còn ngại. Nếu mày không muốn nói chuyện thì tao nói.

Tôi vẫn lắc đầu:

– Đâu có đưa xuống chiến hạm được.

Tâm gắt khẽ:

– Tao bảo được. Sĩ quan nào cũng lai rai mời bồ bịch xuống để khoe tàu.

Thấy không còn cách nào khác, tôi miễn cưỡng theo anh lính gác. Đứng ở đầu hạm kiều nhìn xuống cầu tàu, tôi nhận ra ngay người con gái đứng tựa lan can nhìn về công trường Mê Linh không phải là Tuyết. Cùng lúc tôi nhận ra bóng dáng quen thuộc của Hiền. Tôi nghe tim đập mạnh nhưng vẫn đứng trơ không phản ứng. Anh lính gác đưa tay chỉ Hiền:

– Cô đó đó!

Tôi nói cám ơn anh rồi chầm chậm bước xuống. Được nửa cầu thang thì Hiền quay lại mỉm cười, vẩy vẩy tay. Tôi tiếp tục đi và Hiền tiến lại chân hạm kiều. Tôi đưa tay kéo Hiền bước lên. Hiền lặng lẽ theo sau tôi lên tàu và đi quanh co xuống các bậc thang. Chiếc áo dài màu trắng vướng víu khiến Hiền một tay nắm hai vạt một tay bám vai tôi.

Tâm trố mắt nhìn Hiền. Tôi nói:

– Thất vọng quá hả? Giới thiệu với Hiền, thiếu úy Tâm, người xúi anh bỏ học đi Hải quân.

Tâm cười thật tươi, xăng xái:

– Đâu có ngờ ông Bằng quen được một người đẹp đến thế này. Vậy cứ dấu anh em.

Hiền ngắm nghía Tâm:

– Em còn nhớ anh Tâm.

Tâm kêu to:

– Chết tôi rồi! Hóa ra tôi quá vô tình! Xin cho một chút gợi ý…

Tôi cười:

– Mày không nhận ra hả? Em gái thằng Dũng …

Tâm nhìn kỹ hơn rồi vẫn lắc đầu:

– Tao biết Dũng có em gái nhưng chịu thua, không nhớ ra.

Anh chiêu đãi xuất hiện đúng lúc. Tôi hỏi:

– Hiền uống cà phê, nước ngọt?

– Hiền xin một ly nước lạnh.

Anh chiêu đãi sốt sắng mang đến. Tâm đứng lên:

– Lần sau nhớ mang thêm một người đẹp như cô Hiền để giới thiệu tôi nghe. Đến một mình là không công bằng.

Khi Tâm vừa khuất, Hiền lên tiếng:

– Anh nhất định không đến nhà Hiền? Anh Dũng có hỏi anh.

Tôi nói đẩy đưa:

– Hiền tìm ra tàu anh thật tài. Anh đâu có nói anh đi tàu nào!

Hiền cười buồn:

– Thì tàu nào Hiền cũng hỏi. Bắt đầu từ cầu tàu ở cuối đường Nguyễn Huệ…

Hiền đã đi đúng con đường “trình diện tân đáo” của tôi. Rời nhà Hiền tôi đi tắc xi đến cầu A. Cuốc bộ qua Bộ tư lệnh Hải quân đến cầu B và tìm ra tàu cặp ở cầu C ngay cuối đường Cường Để. Một nỗi xúc động nhẹ nhàng len lỏi. Hiền hẳn phải thực lòng yêu tôi mới chịu khó lang thang giữa chốn ba quân thế này. Tôi phải nói gì cho Hiền vui đây? Từ khi gặp lại Tuyết, tôi gần như quên hẳn Hiền. Nhưng lần này không phải vì tôi nồng nàn với Tuyết mà quên Hiền. Tôi đã dứt khoát quên Hiền. Tâm trí tôi cứ mãi băn khoăn không biết là nên tiếp tục gặp gỡ Tuyết hay là chấm dứt hẳn để Tâm và Tuyết khỏi bận lòng với sự hiện diện của tôi. Ngày xưa Tâm đã đến với Tuyết trước tôi và …mất Tuyết. Giờ đây Tâm cũng lại đến với Tuyết trước tôi. Lần này tôi nên rút lui mới phải đạo. Tuyết cũng đã nói thẳng thừng là Tuyết cần một người chồng cho cuộc sống không còn buồn đau đơn độc. Tôi hy vọng là Tâm sẵn sàng…

– Cái huy hiệu đẹp quá!

Tiếng reo của Hiền mang theo sức mạnh kéo bộ mặt thẩn thờ của tôi ngẩng lên. Hiền đang say sưa ngắm chiếc huy hiệu gắn ở vị trí trang trọng nhất trên tấm vách ngay sau chỗ ngồi của hạm trưởng. Đó là huy hiệu của Hải quân Việt Nam Cộng Hòa, có dạng hình tròn với lá cờ vàng ba sọc đỏ tạo thành đường viền. Hai chữ Tổ Quốc và Đại Dương màu đen tương ứng ở đỉnh và ở đáy. Trên phần nền nửa biển xanh thẳm nửa trời xanh lơ là bản đồ Việt Nam với chiếc mỏ neo và ngôi sao Bắc Đẩu định hướng. Đây là huy hiệu được vẻ trên một bức tường nhỏ biệt lập thiết trí ngay trước sân cờ của quân trường mà ngày nào chúng tôi cũng hoặc đi, hoặc chạy ngang qua. Cái huy hiệu nhắc nhở chúng tôi lúc nào cũng phải đặt Tổ Quốc và Đại Dương lên trên hết, trên cả sinh mệnh của mình. Và có lẽ vì đã quá quen mắt nên không còn quan tâm xấu đẹp…

– Và cái phòng làm việc thật dễ thương, mát mẻ. Vì vậy mà anh quên Hiền chăng?

Tôi vẫn không biết lên tiếng thế nào…

– Ngày mai thứ bảy, anh đến nhà Hiền chơi. Hiền đích thân nấu cơm đãi anh.

Tôi nói chậm rãi, cố lấy giọng thân mật:

– Hiền ạ, anh muốn lắm nhưng tiếc rằng ngày mai anh bị … cấm trại.

– Cấm trại?

Tôi giải thích:

– Thì biểu tình tùm lum, tụi anh bị ảnh hưởng.

– Còn ngày mốt?

– Ngày mốt anh đi công tác.

Hiền nhìn tôi, ánh mắt ngờ vực:

– Công tác thật hay tại anh không muốn đến?

– Công tác. Nếu không tin, mười giờ chủ nhật Hiền đến đây tiễn anh.

– Anh đi bao lâu?

– Độ mười ngày.

– Anh đi đâu?

Tôi ngần ngừ rồi đổi giọng đùa cợt:

– Đi… nơi sẽ đến!

Hiền nhăn nhó:

– Không muốn nói thì thôi.

Tôi đành phải nói láo:

– Anh mới đổi xuống, chưa rõ công việc…

– Chưa rõ mà sao biết đi mười ngày?

Một cảm giác khó chịu nổi lên, tôi xẵng giọng:

– Cái nào nói được thì anh nói, cái nào không nói được , anh không thể. Xin đừng hạch sách…

Hiền ngắt ngang, rối rít:

– Hiền xin lỗi. Vậy, sau mười ngày Hiền chờ anh ở nhà. Bây giờ thì Hiền phải về, Hiền có lớp buổi chiều.

Tôi lặng thinh đứng lên. Tôi không muốn giữ Hiền và cũng không muốn hứa là sẽ tới. Mấy ngày qua Hiền đã thoát khỏi tâm trí tôi và tôi đã thấy nhẹ nhõm. Hy vọng nay mai, tôi sẽ có can đảm nói với Tâm là tôi đã quyết định dứt khoát không gặp Tuyết nữa. Chừng đó tôi tin là tìm được sự thanh thản hoàn toàn. Cái tôi đang cần là dành hết tâm trí cho việc học hỏi hải nghiệp. Rồi sau đó, sau đó tôi sẽ ghi tên học môn triết và… làm quen người mới. Với những người xưa, với tất cả yêu thương lần cuối, tôi trân trọng xếp vào hồ sơ… dĩ vãng!

Chúng tôi đứng chờ tắc xi ngay tại góc đường Cường Để-Bạch Đằng. Hiền thỉnh thoảng nhìn tôi âu yếm và không che dấu nét hân hoan. Tôi thì bực bội trông ngóng tắc xi. Cuối cùng Hiền leo lên xe, nói vói:

– Thôi Hiền về. Nhớ là Hiền mong chờ ngày anh trở lại.

Tôi như người vô cảm, vẫn lặng thinh, cũng không buồn vẫy tay từ biệt…

***


Chương 7


Tôi nhìn về hướng mũi tàu. Sa mù xám đục ngập phủ, ập xuống mặt nước như cố ngăn những lượn sóng ào ạt cuốn vào bờ. Từng loạt gió hâm hấp, cuốn theo các hạt nước bắn lên từ các ngọn sóng ngã đổ, vùn vụt lướt qua chiến hạm. Những vạt nước tóe lên từ bên hông tả hạm, tạt vào mặt vào mắt ran rát và cay xót. Gió va vào các bộ phận lộ thiên, phát ra những âm vang dị biệt, tạo thành một hợp âm lạ lùng đầy vẻ dọa dẫm. Chiến hạm lay lắc, từng khi hích mạnh vào cầu tàu, gây nên những cơn giật bất thường, ngầy ngật.

Từ đài chỉ huy trên chóp khối trụ tròn thiết trí ngay giữa hữu hạm, ông hạm trưởng nghiêng người nhìn dọc theo mạn tàu, kiểm soát tình trạng sẵn sàng của nhân viên trong nhiệm sở rời cầu. Ông quay sang hạm phó nói bằng giọng điềm đạm như khuôn mặt của ông:

– Biển còn động mạnh quá!

Hạm phó nhìn ông mỉm cười. Tôi thấy những tia hy vọng lung linh từ nụ cười cầu tài đó. Trong bữa cơm trưa, hạm phó đã đề nghị hoãn khởi hành đi Hoàng Sa thêm một vài ngày. Ông cho rằng việc hoán chuyển quân là việc không gấp gáp, tội gì phải oằn người vì sóng gió. Tôi biết cái lý do thầm kín mà ông không thể nêu ra. Sóng gió đối với ông là chuyện bỏ đi. Suốt hai ngày đêm từ Sài Gòn đi Đà Nẵng biển động tưng bừng, tôi gần như bỏ ăn bỏ uống nhưng ông và Hạm trưởng vẫn đều đều ngày ba bữa và vẫn hút thuốc trọn gói hai mươi bốn giờ. Đêm qua, ông khoe riêng với Tâm và tôi là mới quen được một cô nữ sinh trường Sao Mai. Chúng tôi đã trố mắt ngạc nhiên mà không mấy tin. Lẽ nào ông vẫn hào hoa khi mới bắt bảy ngày phép cưới vợ trước khi tàu khởi hành chuyến này? Giọng cà tửng quen thuộc của hạm phó:

– Hoãn thêm một ngày nữa là phải quá, thưa hạm trưởng. Một ngày rỗi rãi, hạm trưởng sẽ làm thêm được vài bài thơ tình, hạm phó sẽ hưởng thêm được những phút giây êm đềm trước khi…bó thân về với vợ!

Tôi không cười mà ngước nhìn hạm trưởng với hy vọng ông không đổi ý. Một tuần tránh cơn bão đầu mùa đủ để tôi quá chán cái thành phố xa lạ này. Những hôm trực thì tiêu khiển một ngày bằng những con bài qua các trò chơi cá nhân hoặc tập thể. Những bữa tự do thì đội mưa mà đi, la cà hết quán cà phê lại đến quán kem, nơi nào cũng nghe Hùng Cường hát Sầu Đông giữa mùa hè. Thành phố có dáng của thủ đô Sài Gòn, cũng có dòng sông êm đềm chảy ngang qua nhưng trọn một tuần gần như thiếu vắng bóng hồng. “Đà Nẵng vắng bóng hồng, hỏi rằng tôi yêu ai?” Lẽ ra giờ này tôi đã ngồi ở một quán kem ở đường Lê Lợi nhìn ông đi qua bà đi lại. Lẽ ra tôi đã được xem vài cuốn phim mới và lẽ ra tôi đã gặp lại… Tôi cười nhạo cho chính tôi. “Lẽ ra” cho lắm rồi cũng chẳng khác gì các lần về bến ba tháng qua, lần nào cũng phải ca bài “một trăm phần trăm em ơi giờ đây lại cấm trại rồi”! Và lần nào, người nhà của thủy thủ đoàn xuống tàu thăm nườm nượp, riêng Tuyết và Hiền đều bóng chim tăm cá. Về Sài Gòn bị cấm trại thì mong đi công tác. Đi công tác thì mong về Sài Gòn…

– Phải khởi hành thôi, hạm phó. Đại đội địa phương quân đã lên tàu. Tin khí tượng cho biết bão đã yếu dần. Phong vũ biểu đã tăng gần bình thường. Binh lính ngoài Hoàng Sa thì đang mong ngóng được về gặp lại vợ con. Họ đã quá cái hạn sáu tháng và chắc chắn là họ đang mỏi cổ ngóng trông hình dáng một con tàu. Không còn lý do gì mà không tách bến ông hạm phó thân mến ạ!

Ông đổi giọng rắn rỏi, dứt khoát:

– Tháo hết dây, trừ dây số ba.

Tôi vui sướng nghe anh vô tuyến lặp lại mệnh lệnh vào điện thoại nội bộ. Mặc cho các dây đã kéo về tàu nằm gọn vào ổ, con tàu vẫn bám chặt vào cầu. Hạm trưởng nhìn lên lá cờ để định hướng gió. Ông ban lệnh:

– Tay lái số 0. Máy tả lùi một.

Trung úy Được có trách nhiệm lặp lại lệnh hạm trưởng vào chiếc loa dẫn xuống phòng lái. Rất nhanh chóng, có tiếng hạ sĩ Thành từ phòng lái vang lên:

– Tả đã lùi một. Tay lái số không.

Sĩ quan vận chuyển đáp nhận rõ rồi lặp lại cho hạm trưởng. Ông gật đầu, hết xoay nhìn phía lái lại nhìn hướng mũi. Con tàu rùng mình rên khẻ bắt đầu chạy lùi. Tiếng điện thoại viên liên lạc sân mũi:

– Báo cáo dây số ba căng. Dây số ba rất căng.

Đúng vào lúc sợi dây duy nhất còn lại rung bần bật, bốc khói thì mũi tàu chầm chậm tách ra khỏi cầu.

Giọng trầm tĩnh của Hạm trưởng:

– Hữu tiến một. Tay lái 15 bên trái.

Nhìn vẻ mặt an nhiên ung dung của ông, tôi tự nhủ mình phải rèn luyện được như thế. Đây là lần đầu tôi được cho lên đài chỉ huy để học hỏi cách cặp và rời cầu. Ba tháng vừa qua, tôi quanh quẩn sân mũi, sân giữa, sân lái để học cách buộc dây, cách ném dây lên cầu và thu dây về tàu. Mỗi mạn tàu trung bình thường có sáu dây buộc. Phải buộc thế nào để bất kể nước lớn hay ròng, con tàu vẫn cặp sát cầu, không xê dịch và không bị căng đứt dây. Tôi đã học cách thả neo, kéo neo và cho neo vào ổ. Học cách sử dụng hệ thống điện đàm nội bộ giữa đài chỉ huy với các sân, các tổ súng, hầm máy, hầm lái tay, cửa đổ bộ…

Hôm nay là buổi nhập môn vận chuyển rời cầu trong điều kiện sóng gió chếch mũi. Mỗi khi hạm trưởng quay mặt hướng nào, tôi quay theo hướng đó. Mỗi lệnh ông ban ra tôi thầm lập lại và nghiền ngẫm. Và bây giờ mũi chiến hạm chầm chậm tách rời cầu…

Tôi nghe lệnh thật sắc của hạm trưởng hòa trong tiếng máy rầm rập, tiếng nước xoáy rào rào:

– Máy tả ngưng. Tháo dây số ba.

Một nhân viên đơn vị bờ nhanh nhẹn nâng sợi dây cuối cùng lúc này đã chùng khỏi chiếc trụ đen ngắn. Sợi dây được nhân viên sân mũi kéo về thật nhanh, kết vào ổ.

– Giải tán nhiệm sở vận chuyển. Hai máy tiến một. Tay lái bên trái 20.

Rất chậm và lầm lũi, chiến hạm hục hặc vùng vằng tiến tới theo góc bốn mươi lăm độ so với cầu tàu. Càng ra xa, con tàu càng chao đảo. Tiếng gió rít đâu đó như tiếng sáo ở cung bậc cao, hòa quyện với tiếng bầm bập từ tấm vải bố rộng lớn che kín lòng tàu và tiếng phần phật từ lá quốc kỳ ở chóp trụ sắt bên trên đài chỉ huy. Tôi ngẩng nhìn lá cờ vàng ba sọc đỏ mới tinh đang năng nổ phất phới tung bay và chợt thấy vui vui, hăng hái….

– Lái thẳng.

Tiếng Thành vọng lên rõ mồn một:

– Lái thẳng đường hai bảy hai.

– Hai máy tiến hai.

Tiếng leng keng báo máy đã tiến chìm trong tiếng sóng dồi gió dập ì ầm. Con tàu bất ngờ chui vào một vùng mây mù xám xịt. Vô vàn mảng nhỏ xoắn xuýt rồi tan nhanh. Người tôi nóng bừng, bứt rứt. Miệng tôi nhờn nhợn, khó chịu. Mồ hôi rịn ra ở ngực và lưng. Tôi biết là tôi đang muốn mửa. Cái khả năng chịu sóng của tôi qua mấy tháng thực tập hải nghiệp ở quân trường được ghi nhận là yếu. Trong suốt thời gian đó biển ngày nào cũng động, nhưng dù động mạnh hay nhẹ, không ngày nào tôi không ói mửa. Có hôm mửa cả mật xanh mật vàng. Tôi nhớ đã nghĩ đến chuyện đào ngũ, bỏ cuộc. Sáu chuyến công tác ngắn hạn vừa qua lúc nào biển cũng êm nên thấy đời nơi nào cũng đẹp. Giờ đây, ý nghĩ đào ngũ lảng vảng đâu đây. Tôi đặt ống dòm lên mắt, cố chú tâm quan sát. Phía trước mù mịt. Tôi chúc ống dòm xuống mặt nước. Mặt nước đục ngầu, giận dữ, lồng lộn sủi bọt. Hạm trưởng ra lệnh anh giám lộ kéo còi hải hành trong sương mù. Tiếng còi vang lên kéo dài, bị nuốt chửng vào không gian âm u rồi lại vang lên, kéo dài, đều đặn. Tôi cũng lắng nghe tiếng còi vọng đến từ đâu đó nhưng mọi phía vẫn chỉ là những âm thanh hỗn tạp, khó nghe…

Hạm trưởng ngồi vào chiếc ghế nệm bọc da dành riêng cho ông. Người ông đong đưa, đôi mắt đăm đăm nhìn xuyên qua khung trời mù mịt. Tôi đoán là ông đang ưu tư. Tôi nhớ một lời nói đùa khi học về hải hành trong sương mù. Nó không khác gì… hiệp sĩ mù nghe gió kiếm. Con tàu phải lắng nghe tiếng còi để tránh nhau. Khi “thấy” nhau thì coi như quá muộn.

Hạm phó nói lớn:

– Phòng radar báo cáo ba écho gần nhất.

Tôi nghe lệnh truyền đi và tiếng đáp nhận. Một lúc sau là tiếng báo cáo hướng và khoảng cách. Hạm phó loay hoay đo đạt, chấm tọa độ vị trí chiến hạm lên tấm hải đồ. Ông đề nghị hạm trưởng cho đổi đường.

Mũi tàu quay dần về phía hữu. Bất chợt con tàu chao đảo dữ dội. Tôi chụp lấy thành đài, bám chặt. Hạm phó buông thõng chiếc ống dòm lủng lẳng trước ngực, phóng tới ôm chiếc la bàn điện đặt trên một trụ sắt giữa đài chỉ huy. Ông nhìn vào chiếc la bàn, giọng thật sắc:

– Lái thẳng.

Tiếng vọng:

-Lái thẳng, đúng hướng bắc.

Con tàu hăm hở chúi mũi vào hết ngọn sóng bạc đầu này đến ngọn sóng khác. Tròi vẫn mịt mù. Nó không còn lắc lư mà lúc nào cũng chồm lên hụp xuống. Nước bắn tóe vào đài chỉ huy từ mọi phía. Các bộ kaki màu nước biển lấm tấm những đốm xanh thẫm. Sau hơn nửa tiếng sóng dập gió vùi, những tiếng ụa mửa bắt đầu phát ra từ lòng tàu. Chính lúc đó, hạm trưởng lại cho lệnh đổi đường:

– Tay lái bên phải 15.

– 15 bên phải. Hướng 10 độ. Hướng 20. Hướng 30. Hướng 40… Hướng 60… Hướng 80…

– Hai máy tiến ba. Lái đường 120.

Tiếng máy rầm rập lớn hơn như đang ráng sức đẩy con tàu nhanh hơn. Bây giờ thì khối sắt hình chữ nhật bắt đầu lăn qua lắc lại và chồm lên hụp xuống. Các sĩ quan hiện diện đều tỏ vẻ chịu đựng nhưng riêng hạm trưởng, hạm phó thì vẫn thong dong hợp tác điều khiển con tàu rời quân cảng và vịnh Sơn Trà. Mãi đến khi radar báo cáo thấy Cù lao chàm ở phía Nam Hạm trưởng mới rời khỏi ghế, bước lại bàn hải đồ. Ông gật gù tỏ vẻ hài lòng khi thấy vị trí chiến hạm nằm trên hải trình vạch sẵn. Từ điểm này đến điểm đổi đường trực chỉ Hoàng Sa chừng mười hải lý. Cũng từ điểm đó, coi như chiến hạm rời vùng cảng vịnh lắm thương thuyền. Ồng mở quyển nhật ký hải hành và ghi vài dòng tiêu lệnh. Ông hỏi hạm phó:

– Ai là sĩ quan đương phiên?

– Thưa trung úy Được.

– Ai kế?

– Thưa, Thiếu úy Tâm.

Ông quay sang tôi:

– Thiếu úy Bằng đi ca với trung úy Hào.

Ca của trung úy Hào bắt đầu tám giờ tối. Không đợi tôi đáp nhận, ông quay sang hạm phó:

– Hạm phó trách nhiệm hải hành từ giờ phút này cho đến khi tàu đổi đường tám mươi tư. Nhớ trừ độ dạt. Mình hiện còn trong vịnh, chạy máy tiến ba được rồi. Thiếu úy Bằng có thể xuống nghỉ ngơi…

Tôi hăng hái lên tiếng:

– Thưa hạm trưởng, tôi xin ở đây cho đến khi nhận phiên.

Ông gật gù:

– Còn năm tiếng nữa mới đến phiên. Mệt lắm đó. Tùy anh.

Ông xoay người bước đến cầu thang. Hạm phó hô nghiêm. Tất cả nhân viên đưa tay chào. Đợi Hạm trưởng khuất hẳn, hạm phó cười cười với Được:

– Anh hùng thấm mệt? Chưa bao giờ thấy mặt anh xanh như lần này.

Được tựa lưng vào thành đài, nhăn nhó:

– Đêm qua quần nhau tới sáng. Giờ gặp sóng gió thế này chắc…chết.

– Muốn hạm phó đi giúp ca này chăng?

Được lắc đầu:

– Rất cám ơn nhã ý nhưng tôi biết chắc hạm phó còn mệt hơn cả tôi! Mới trăng mật mà!

– Đằng nào tôi cũng phải ở đây cho đến khi đổi đường. Nếu không muốn xuống thì cứ đứng… nhắm mắt cho lại sức. Mãn phiên cùng xuống với tôi.

Nhưng Được không nhắm mắt, chốc chốc lại nâng ống dòm nhìn xuyên qua tấm kính chắn gió. Thỉnh thoảng anh loạng choạng, quơ tay lung tung để giữ thăng bằng khi con tàu nghiêng quá đà. Tôi biết là tôi chưa làm thế được. Tôi còn cần bám vào một cái gì đó mới khỏi bị ngã nhào. Tiếng gió rít veo véo, tiếng rào rào của các mảng nước bắn tung, tiếng đì đùng của các đợt sóng ngầm chặt vào lườn. Thỉnh thoảng chiến hạm va phải cơn sóng mạnh, cả thân tàu run rẩy theo tiếng răng rắc vang lên. Tất cả những âm thanh đó gợi tôi cái cảm giác bất an. Suốt mấy tháng trước, dù được đi ca chung với hạm phó, học hỏi được nhiều nhưng tôi vẫn chưa quen với những tiếng động lạ thường, những tiếng động tưởng chừng chiến hạm sắp gãy đôi…

Tiếng của hạm phó lạc vào âm thanh hỗn độn:

– Thiếu úy Bằng xuống kiểm soát việc trực radar. Đừng để nhân viên thám xuất rời mắt khỏi màn ảnh. Mọi bất thường báo cáo ngay.

Tôi đáp nhận rõ rồi xiên xẹo lần ra đầu cầu thang dẫn xuống phòng lái. Cầu thang như dài hơn, sâu hơn thường ngày. Tôi lần dò đặt chân lên từng bậc. Hai tay bám chặt thanh sắt an toàn. Con tàu chầm chậm nghiêng về bên phải rồi vặn mình nghiêng về bên trái. Tôi phải dồn toàn lực vào hai tay để bám víu mỗi khi con tàu nghiêng hết về một phía. Sự cộng hưởng tạo một sức ly tâm cực mạnh khiến tôi có thể bị bắn văng khỏi tàu. Xuống đến chân cầu thang, tôi thận trọng bước lần dò về cửa phòng lái. Cửa là một tấm sắt dềnh dàng đóng kín khi sóng to gió lớn. Cần khóa đang ở thế thẳng đứng. Muốn mở, phải vặn cho nó nằm ngang. Trời vẫn oi bức nhưng tôi cảm thấy lành lạnh, rợn người. Với mức độ chòng chành thế này, không cẩn thận chọn đúng thời điểm, cánh cửa ngàn cân có thể bật tung vào người gây thương tích nặng. Và một khi cửa đã mở mà không bước vào kịp, nó sẽ bật vụt lại, chặt gãy tay chân.

Một tay bám vào thanh an toàn, tay kia nắm cần chốt, tôi nín thở chờ đợi. Vừa khi con tàu trở về vị trí thăng bằng, tôi xoay phần tư vòng, mở vụt cánh cửa, lách vô thật lẹ. Chân vừa rút vào thì cánh cửa ập sầm lại. Tôi gài chốt mà… hú hồn. Phòng lái lờ mờ. Tôi bước đến chiếc radar đặt gần vách trong. Anh trung sĩ nhất thám xuất đưa tay chào. Tôi gật đầu, thân mật:

– Các anh đều êm cả chứ?

Anh cười:

– Cám ơn thiếu úy, tụi này cũng đỡ.

Tôi vỗ vai hạ sĩ Thành, nói đùa:

– Anh vẫn còn ôm “bánh xe nước mía”?

Anh cười thân thiện:

– Sau nhiệm sở vận chuyển là nhận luôn ca lái. Trông thiếu úy còn tỉnh táo lắm!

Tôi bước sang nhìn vào mặt kính radar hình tròn. Từ điểm trung tâm, một vệt sáng quét chầm chậm tạo nên hình ảnh hải cảng vịnh Sơn Trà. Phần sáng rực là bờ và núi. Phần nhạt hơn là biển với vài ba đốm trắng nổi bật. Anh thám xuất cho biết các đóm sáng đó là những đối vật di động, có thể là thương thuyền đang đi vào cảng. Ánh sáng khi lóe, khi lòe làm mắt và đầu tôi căng nhức. Tôi bước lui, tựa lưng vào vách. Qua lổ châu mai, mũi tàu cất lên thật cao rồi gục xuống đánh sầm. Một mảng sóng lớn tràn qua mũi như muốn nhận chìm chiến hạm. Nước tốc lên, túa ào ạt vào lòng tàu và ập vào ô kính các lỗ châu mai. Tôi nghĩ thầm, may mà tàu còn ở tiến ba, chớ tăng nữa thì coi như là đời đi đứt.

Như để thách đố, một giọng uể oải phát từ miệng loa:

– Phòng lái, hai máy tiến bốn. Lái đường 78.

Tôi cay đắng mỉm cười. Với tốc độ đường trường này, rồi mày lại thấy mật xanh mật vàng. Rồi mày sẽ còn mửa dài dài, còn khốn khổ dài dài…Tiếng lạch cạch từ cần tốc độ. Tiếng leng leng báo hiệu máy đã tăng. Con tàu vật vã, giật mình, rên rỉ. Nhìn về tả hạm qua lỗ châu mai, một khoảng không gian nhỏ bé chầm chậm chuyển từ vòm trời âm u sang vùng biển xáo động và ngược lại. Đôi lần, cả mặt hông biến thành đáy tàu một thời gian khá lâu. Những lúc đó, hai tay tôi bám chặt vào bất cứ vật gì vững chắc để chờ con tàu trở về sự nghiêng ngửa bình thường. Nhìn về trước mũi, có lúc nó cất lên thật cao rồi nghiêng mình chúc xuống trông tựa chiếc tiềm thủy đỉnh gầm gừ rẽ sóng. Những lúc đó ruột gan tôi như trào lên đè bẹp buồng phổi.

Tôi lại thấy ngột ngạt, bụng quặn lên, nước mắt ứa tràn. Đến cơn quặn đau thứ ba, tôi phóng tới chiếc sô đặt gần cửa ra vào. Chưa kịp gục mặt xuống, miệng đã há rộng. Tôi nôn thốc hết thức ăn bữa trưa. Rồi tiếp tục các chất bầy nhầy lợn cợn chừng là thức ăn chưa kịp tiêu của buổi sáng và của ngày trước đó. Nước mắt tôi ràng rụa. Tôi nín thở mà vẫn ngửi được mùi tanh hôi nồng nặc. Tôi không dám đứng lên, vẫn tiếp tục ôm chiếc sô chờ tới phiên mật xanh mật vàng. Trong giây phút toát mồ hôi đó, đầu óc tôi chợt hiện ra hình ảnh câu ca dao đã được một anh thủy thủ hiệu đính nhân một lần thấy tôi ói mửa: “Hôm qua lên gác đài cao, trông cá cá lặn trông sao sao mờ, buồn trông thiếu úy ôm sô”. Tôi thấy vui vui và bỗng nghe người nhẹ đi. Một cảm giác dễ chịu lan nhanh. Theo kinh nghiệm, tôi hiểu là công tác “nuôi cá” đã tạm dứt và từ giờ có quyền chờ dịp khác. Tôi gắng gượng đứng lên, bám vào vách, hổn ha hổn hển. Đúng lúc đó tôi nghe văng vẳng giọng ca Thanh Thúy. Tôi tưởng tôi đang mê nên cố lắng tai…Giọng ca nỉ non, rõ ràng từng tiếng: “… thì dù xa xôi tôi vẫn là của người”. Tôi bậc cười thì thầm: “Cám ơn em, cho dù có em ở đây, anh cũng chẳng ăn được cái giải gì!”.

Nghe tiếng tôi cười, hạ sĩ Thành quay sang:

– Phòng vô tuyến chơi điệu lắm, thiếu úy. Những lúc sóng to, biển động, họ mở nhạc yêu cầu nghe hết xảy!

Tôi gật đầu tán đồng nhưng không dám lên tiếng. Tôi biết, nếu há miệng, tôi sẽ không nói mà là mửa tiếp. Tôi nín hơi cố ngăn một cơn nôn. Giọng ca nức nở, ngọt ngào như ru tôi vào cõi mộng. “Nhiều khi ưu tư, tựa song cửa nhỏ, nhìn ngoài mưa tuôn sao nghe lạnh vào hồn”... Tôi thấy lạnh ở thân nhưng hồn thì tan theo tiếng hát.

Tiếng còi báo đổi phiên vang lên đúng mười lăm phút trước 3 giờ. Tôi nhớ tới lời bốc đồng với hạm trưởng là ở luôn trên đài chỉ huy cho tới nhận ca 8 giờ tối mà hối hận. Tôi cảm thấy quá mệt mỏi và thèm chiếc giường êm ái của tôi.

Tiếng vọng từ đài chỉ huy:

– Mời thiếu úy Bằng lên gặp hạm phó.

Tôi nói lớn đáp nhận rồi dứt khoát bước nhanh về cánh cửa sắt. Tôi xoay cần chốt, vừa đẩy mạnh vừa kềm giữ. Cánh cửa bật tung. Tôi bước nhanh ra. Cửa tự động ập lại. Tôi xoay cần chốt khóa chặt. Gió rít từng hồi mang theo những giọt nước li ti bắn túa vào người. Tôi lại lạng quạng từng bước lên các bậc thang. Con tàu chao nghiêng, trườn tới rồi chao nghiêng, chừng như đang biểu diễn một điệu luân vũ giữa muôn ngàn hoa sóng. Chiếc mũ lưỡi trai bất ngờ rời khỏi đầu. Tôi ngoái lui. Chiếc mũ bay vụt cao, la đà rồi lại vụt cao và mất hút. Cơn ớn lạnh len dài theo xương sống. Tôi nhớ ra là đã quên cái áo mưa trong phòng lái. Tôi muốn trở lui nhưng nghĩ đến phút giây phải mở cánh cửa chết người nên đành chịu ướt, chịu lạnh bước tiếp. Hạm phó nhìn tôi cười:

– Cho cụ chạy xuống chạy lên thử xem sức cụ tới đâu! Quả là chì! Thôi, xuống nghỉ ngơi đi. Sóng gió thế này mà đòi đi ca liên tiếp chín tiếng là …thăm thẳm chiều trôi đấy!

Mệt quá, tôi không cười nỗi với lời đùa của ông. Và cũng tự lờ đi lời vừa cam kết ngon lành với hạm trưởng. Tôi bước sang bàn hải đồ mở sổ Tiêu lệnh ông ghi trước đây “Hải đạo 84. Độ dạt -6. Hướng thật 78. Bớt gió, lái hướng 80. Áp dụng điều luật hải hành trong sương mù. Tốc độ phỏng định 10 gút. Quan sát bằng ống dòm và radar thật cẩn thận. Mọi bất thường gọi ngay hạm trưởng”. Tôi đọc lần thứ hai rồi chào từ biệt hạm phó và Tâm vừa lên nhận phiên. Có lẽ phải mất đến mười phút tôi mới lần dò tới được chiếc giường êm ấm của tôi bên dưới lòng tàu. Nhưng chỉ cần vài phút là tôi đã chìm vào giấc ngủ mê man, bỏ luôn bữa cơm tối…

Tiếng còi rền rĩ báo đổi phiên vang vang mơ hồ. Tôi muốn trở mình ngồi dậy nhưng lại chìm vào sâu vào giấc ngủ. Rồi tôi cảm giác được vai tôi bị lay động nhiều lần. Rồi âm giọng quen thuộc của trung úy Hào lọt vào tai tôi:

– Hê! Hê! Dậy đi ca chứ!

Tôi ngồi bật dậy, đong đưa chân ngoài giường cố định thần. Màn tối huyền ảo bao trùm khu buồng ngủ sĩ quan phát từ ánh đèn màu đỏ trên các vách. Sóng gió dường như tăng thêm cường độ… tiện xoáy bào. Chờ con tàu trở về thế thăng bằng, tôi nhảy phóc xuống. Giường tôi ở tầng ba, bên trên giường Tâm và Hào. Giữa cơn lắc lư thế này mà leo lên được vào giường là cả một công trình. Phía đối diện là hai giường treo của Trung úy Hải và Được. Tiếp liền là buồng ngủ riêng biệt của hạm phó có phần nhỏ hơn buồng của hạm trưởng. Cấp bậc thấp thường thiệt thòi nhiều thứ kể cả cái chỗ ngủ. Hạ sĩ quan thì giường treo bằng vải bố có lót nệm. Lính thì chỉ là giường bố và được đặt chồng chất nhiều tầng…

Tôi mang giày, nhét áo vào trong quần, ôm chiếc áo mưa rồi quờ quạng lên nhà tắm. Vài phút sau tôi lần mò đến cánh cửa sắt, thận trọng quay chốt, thận trọng đẩy mạnh và bước nhanh ra sân giám lộ. Đêm mịt mùng không một ánh đèn, chẳng như khi hải hành cận duyên trong thời tiết tốt. Mưa tạt khá mạnh. Gió vẫn rít từng cơn. Tôi khoác áo mưa, bước lên từng bậc thang. Trung úy Hào trưởng phiên đã có mặt ở đài chỉ huy nói vói xuống khi tôi vừa ngang phòng lái. Anh giao tôi trách nhiệm phòng lái, quan sát radar và kiểm soát nhân viên đương phiên. Tôi cỡi chiếc áo mưa mắc vào vách. Dưới chân tôi và quanh sàn một số nhân viên nằm la liệt. Một người đang độc quyền ôm cái sô thường được gọi mỉa mai là cái ao nuôi cá. Một phiên hải hành thường là bốn tiếng. Tất cả nhân viên được chia thành ba phiên. Trong mỗi phiên, tùy nghề nghiệp, tùy vị trí phiên trực và tùy số nhân viên hiện diện, mỗi nhân viên thường chu toàn phần nhiệm của mình từ một tiếng đến hết phiên. Phòng lái mỗi phiên có bốn hoặc năm người. Trừ anh thám xuất lãnh trọn suốt phiên quan sát radar, còn lại chia nhau lần lượt quay tay lái hoặc đẩy cần tốc độ. Lên phiên là không được lơ là. Con tàu không thể thắng như thắng… xe đạp. Muốn thắng, con tàu phải được điều khiển cho ngưng máy rồi lùi máy. Lệnh điều khiển truyền từ đài chỉ huy. Tất cả tùy thuộc vào kinh nghiệm và phản ứng của từng nhân viên. Đó chính là lý do hạm trưởng cần người thạo nghề. Tôi hỏi anh cầm lái:

– Ai đánh cần tốc độ?

– Thưa, thủy thủ Hòa.

– Thủy thủ Hòa đâu rồi?

Anh vận chuyển chỉ tay xuống sàn. Tôi đưa mũi giày hít nhẹ vào lưng người nằm sát chân tôi. Anh ngóc đầu rồi gục xuống. Tôi hét:

– Xuống hầm lái tay mà nằm!

Ba tiếng “hầm lái tay” quả là có tác dụng mạnh mẻ. Biển êm mà bị phạt xuống đó cũng đủ thấy đời khốn nạn huống hồ vớ phải cái tình trạng biển rất … khốn nạn lúc này. Anh lồm cồm quỳ một chân, chống tay lên đầu gối, gắng gượng đứng lên. Đúng lúc đó con tàu đánh sầm vào ngọn sóng lớn và anh lại từ từ rụng xuống. Tôi cũng muốn rụng theo nhưng cố lấy sức bước gần nâng cánh tay anh. Anh vẫn nằm yên, cố tình không hay biết hoặc quả tình đã mất hết tri giác. Tự dưng lòng tôi dâng lên mối cảm thương. Nếu tôi không là sĩ quan, không ôm cái mộng làm… ông Trời trên chiến hạm, chắc chắn là tôi cũng sụm như anh. Thôi thì radar vẫn còn chạy tốt và không đối vật hiển thị, một người vừa ôm tay lái vừa họa hoằn đánh cần tốc độ thì kể cũng đã quá đủ. Tôi ngầm lơ cho anh yên nghỉ! Phần tôi cũng có cái ao ước lúc này phải chi mình được… an giấc nghìn thu!

Tôi nhắm mắt, nín hơi, làm như mình đã chết và thân không còn dính dáng gì đến sóng gió loạn cuồng . Nhưng tôi vẫn tỉnh, vẫn thấy khắp người đừ mỏi và chân cứ muốn quỵ xuống. Nếu chân quỵ xuống thì tôi có khác gì anh đánh cần tốc độ? Bất chợt cái hình ảnh quỳ một chân, tay chống lên đầu gối mới rồi của anh gợi tôi liên tưởng đến buổi lễ ra trường cách đây gần bốn tháng. Buổi sáng hôm đó, tám mươi sinh viên sĩ quan của khóa tôi phải qua một phần nghi lễ trong các nghi lễ mãn khóa nhớ đời. Chúng tôi đứng thành hàng ở thế nghiêm trước sân cờ. Người điều khiển chương trình hô to:

– Sinh viên. Quỳ xuống!

Chúng tôi đồng loạt đưa chân trái tới một bước, đồng loạt quỵ đầu gối mặt xuống đất và đồng loạt đưa tay mặt lên dở chiếc mũ cát kết đặt trên đầu gối trái.

Sau khi nghe huấn lệnh và lời chúc mừng của vị Tổng tư lệnh Quân lực Việt Nam Cộng Hòa, tiếng hô lại vang lên mạnh mẽ:

– Sĩ quan. Đứng lên!

Chúng tôi nhất loạt đứng lên nhưng thay vì đội mũ và đứng nghiêm, chúng tôi dùng hết sức mình ném tung chiếc cát két. Cả đàn bướm trắng vút túa lên không trung. Không một ai quan tâm đến chúng, tất cả tìm nhau, ôm nhau mừng rơi nước mắt…

Tôi đã “đứng lên” thì giờ đây không còn lý do để “quỳ”, nhất là không thể để quỵ. Tôi bước đứng gần cần đánh tốc độ, một tay nắm chặt thanh sắt tròn gắn vòng quanh vách phòng lái. Tôi như muốn ngợp thở với cái bầu không khí hâm hấp, tanh tưởi.

Tôi hít vào, thở ra thật nhiều lần và lại nhắm mắt định thần. Tôi như thấy còn đang hưởng những ngày thật hạnh phúc ở quần đảo Hải Tặc (les Pirates) gần hai tháng trước. Đó là chuyến thứ ba của bảy chuyến công tác đầu đời thủy thủ, gồm cả chuyến này. Quần đảo nằm cách Rạch Giá chưa đầy 20 cây số, cách Hà Tiên 28 và Phú quốc 40. Hải tặc là tên gọi từ cuối thế kỷ 17 vì từ thời đó quần đảo gồm 16 hòn đảo là sào huyệt của bọn hải tặc đánh cướp thương thuyền. Thật ra chỉ có sáu đảo là có thể ở được. Đến thời điểm tàu tôi công tác vùng này vào cuối mùa Xuân năm sáu ba, một trung đội biệt động quân được cho đổ bộ lên sáu đảo này không chỉ để tiêu diệt bọn cướp biển mà còn để truy lùng lũ cộng nô. Tàu tôi, trên danh nghĩa là một đơn vị tham dự, nhưng thật ra chỉ có mỗi nhiệm vụ là chở trung đội từ đảo này sang đảo khác, tựa như đưa du khách thưởng ngoạn kỳ quan giữa biển trời nên thơ. Quả là có ba đảo trông rất nên thơ và có hình dáng thật độc đáo nhìn xa từ chiến hạm. Với đảo lớn, tôi có trọn hai ngày thưởng thức những đường nét thiên nhiên lạ mắt và tận hưởng sự thanh tịnh đến lạ thường. Với đảo nhỏ cũng thảnh thơi trọn ngày câu cá và thỏa thuê qua vị ngọt của nước dừa. Suốt thời gian đó dáng vóc của Hiền, của Tuyết đôi khi hiện ra mờ nhạt rồi cũng bị tôi thẳng thừng xua đuổi…

– Thiếu úy! Có écho hướng 10 giờ, cách 22 hải lý. Écho di chuyển nhanh.

Tôi bước vội đến chiếc radar. Trên cái màn ảnh đầy chấm trắng như hạt cát phản ánh từ cái mặt biển đầy ngọn sóng đổ vỡ, một vệt trắng lớn đang di chuyển hướng về chiến hạm. Tôi bước trở lui báo cáo lên đài chỉ huy:

– Đài chỉ huy! Có écho hướng 10 giờ cách 20 hải lý. Có thể là máy bay.

– Theo dõi và báo cáo liên tục.

Tôi bảo anh thám xuất thi hành lệnh và chuyển tin lên đài chỉ huy khi hướng và khoảng cách đối vật thay đổi. Anh đánh cần tốc độ tự động đứng vào vị trí của mình. Tôi nghe tiếng xì xào vọng xuống từ đài chỉ huy. Khi báo cáo écho biến mất trên màn ảnh, tôi thấy ánh đèn pha sáng rực chiếu thẳng lên tàu. Tôi mơ hồ nghe tiếng động cơ hòa vào tiếng máy tàu rồi tan mất.

– Thiếu úy Bằng lên gặp hạm trưởng.

Vừa bước khỏi phòng lái, tôi vừa lo thầm. Không biết mình báo cáo sơ xuất gì đây. Tôi lại quên áo mưa nên bị sóng tạt lấm tấm ướt bộ ka ki hòa điệu với những giọt mồ hôi. Gió rất mạnh nhưng không đủ làm khô…

Lên đến bậc thang chót, tôi đưa tay chào:

– Thiếu úy Bằng trình diện hạm trưởng.

Ông đợi tôi bước hẳn vào đài chỉ huy mới lên tiếng:

– Vừa có một máy bay của ta bay không tuần hỏi mật hiệu. Khi nào anh trở thành trưởng phiên, nhớ sử dụng mật hiệu có ghi trong đặc lệnh truyền tin giữ trong ngăn kéo của bàn hải đồ. Trường hợp anh là trưởng phiên tối nay, trước tiên anh phải làm gì?

– Thưa nhận chuông gọi hạm trưởng.

– Trong khi chờ đợi tôi lên, anh làm gì?

– Thưa, cho tắt hết đèn.

– Rồi làm gì nữa?

Tôi cố nghĩ nhưng đầu óc trống rỗng …

Trường hợp gặp máy bay địch thì anh làm sao?

– Thưa tôi cho nhận còi nhiệm sở tác chiến.

– Làm sao anh biết máy bay địch?

Tôi lại im lặng, lúng túng. Hạm trưởng hỏi tiếp:

– Anh có học cách nhận dạng phi cơ của ta, của bạn và của địch?

– Thưa hạm trưởng chưa.

– Thế thì anh phải học từ ngày mai. Hạm phó nhớ lấy hồ sơ nhận dạng phi cơ giao cho thiếu úy Bằng.

Tôi nhìn cái dáng lù lù đứng sát thành đài được nói đến là hạm phó. Tiếng hạm trưởng lại cất lên dành cho tôi:

– Ban đêm, khi thấy đối vật di chuyển nhanh bằng radar, anh cho gọi tôi và cho darken ship là đúng rồi. Còn ban ngày, nếu anh chưa biết nhận dạng phi cơ thì cứ coi như phi cơ nào cũng là của địch. Anh gọi ngay tôi và cho chạy chữ chi. Tàu nào của chúng ta, trên nóc đài chỉ huy đều có sơn lá cờ vàng ba sọc đỏ to tổ bố. Nếu phi cơ là của phe ta, nó thấy lá cờ sẽ bay thẳng. Còn nếu là phi cơ địch có thể nó sẽ tấn công. Trường hợp bị bắn, lập tức nhận còi nhiệm sở tác chiến. Nhận còi liên tục để thúc hối nhân viên vào ổ súng cho nhanh. Lên hai máy tiến full và đổi hướng liên tục… Anh nhận rõ chưa?

– Thưa hạm trưởng rõ.

– Thôi anh trở về vị trí cũ.

Tôi chào ông và trở xuống phòng lái. Ánh sáng khi mờ khi lóe phát ra tự mặt kính radar vừa đủ để nhận dạng. Anh quay tay lái và anh đánh cần tốc độ đã thay phiên. Tôi bước qua đứng cạnh chiếc radar, hai tay dang thẳng nắm thanh sắt tròn, áp lưng vào vách. Và tôi nhắm mắt, thở dài. Sau hai năm vùi đầu, mệt xác ở quân trường, tưởng tốt nghiệp được thảnh thơi, nào ngờ còn … mệt hơn. Vừa công tác liên tục, vừa học hỏi không dứt. Vừa được chấm đậu nội dung Huần thị Điều hành Chiến hạm, vừa bàn giao xong chức Ẩm thực, thì xúc tiến thảo bản tường trình tìm hiểu cấu trúc chiến hạm. Vừa xong bản này thì lần lượt được hạm trưởng đưa thêm các quyển Hải quy và Quy luật tác chiến trên biển, trong sông. Từ ngày mai lại thêm chuyện nhận dạng phi cơ! Xem chừng không dễ! Chiếc nào chẳng có mũi, có thân, có cánh, có đuôi? Vậy khác nhau chỗ nào hả trời!

Rồi tôi bỗng lang bang nhớ đến tai nạn phi cơ giết chết ba má Tuyết. Số mệnh con người sao quá vô thường, mong manh. Là đứa con duy nhất, Tuyết đang hưởng trọn tình thương của cha mẹ, đang sống trong giàu sang ấm êm thì đột nhiên mất tất cả, thành kẻ long đong giữa chợ đời. Đúng là hồng nhan bạc mệnh. Tuyết đã ngỏ lời muốn làm vợ tôi hoặc Tâm, ai cũng được, vậy mà cả hai chúng tôi đều lơ là. Chúng tôi mê cái sắc đẹp của Tuyết nhưng cả hai đôi chân đều còn nặng bước hải hồ. Thêm vào đó tôi chưa có một đồng xu dành dụm…

Cái màn radar đột nhiên mất hình cùng lúc mọi loại đèn phụt tắt. Phòng lái chỉ còn chút phát quang lờ mờ từ bóng điện đỏ dự phòng tù mù trên vách đối diện. Anh vận chuyển la lớn:

– Báo cáo tay lái mất điện.

Anh thám xuất cũng hô to:

– Báo cáo radar mất điện.

Tiếng của trung úy Hào từ đài chỉ huy vọng xuống:

– Hai máy tiến ba. Trừ thám xuất và nhân viên đang lái, tất cả xuống ngay hầm lái tay. Báo cáo khi lái tay sẵn sàng.

Tôi dựng dậy các nhân viên đang nằm và đôn đốc họ thi hành lệnh trưởng phiên. Con tàu giảm độ nghiêng ngửa nhưng tăng cơn chồm lên hụp xuống. Tôi lại nghe lệnh truyền sắc lạnh của trung úy Hào:

– Máy tả tiến hai.

Tôi nói lớn vào miệng loa và vói tay kéo cần tốc độ phía trái lui thêm một nấc:

– Đáp nhận, tả tiến hai, hữu tiến ba.

Tiếng leng keng báo thi hành của hầm máy. Tôi lại nói vào miệng loa dẫn lên đài chỉ huy:

– Báo cáo tả tiến hai, hữu tiến ba.

– Tả tiến một, hữu tiến hai.

Tiếng rầm rừ của hai máy chánh giảm xuống. Con tàu như sựng lại. Vẫn tiếng của trung úy Hào:

– Thiếu úy Bằng lên đài chỉ huy. Tôi xuống hầm lái tay. Thi hành lệnh tôi qua điện thoại.

Khi tôi bước lên các bậc thang thì trung úy Hào đang vội bước xuống. Tôi ép người sang một bên nhường lối cho anh. Khi lên đến đài chỉ huy, tôi nghe tiếng hạm trưởng từ phía đầu cầu thang. Tôi quay lui đưa tay chào ông. Ông bảo:

– Không có radar, các anh quan sát cho kỹ!

– Thưa hạm trưởng, nhận rõ.

Tôi đeo chiếc ống dòm dành riêng cho tôi vào cổ rồi bước sang đứng sát thành đài bên trái sau khi thấy hạm trưởng bước sang thành đài bên mặt. Tôi nâng ống dòm lên mắt. Trước mặt là vùng tối đen ngòm, chốc chốc lại ánh lên màu đỏ của đèn hải hành tả hạm qua ngọn sóng tạt vào tàu. Phải quan sát chăm chú mới thấy màu xanh của đèn hữu hạm loang loáng trong màn hơi nước. Các ngọn sóng cao nghệu liên tục tạt mạnh vào mạn tả tạo thành những cơn mưa xối xả. Bầu khí quyển như thêm hâm hấp và ẩm ướt. Con tàu đang nghiêng về hữu mạn bị một bức tường sóng ập vào làm nghiêng thêm, thêm nữa. Đài chỉ huy không còn cách mặt biển bao xa. Trời ơi! Một đợt sóng lớn nữa là con tàu khó tránh khỏi lật úp. Tôi nghe ớn lạnh khắp người. Hình như cái mong manh nhất của cuộc sống đang thể hiện rõ rệt lên khối sắt đang chênh vênh giữa biển bạo tàn.

Một đợt sóng khác lại đánh sầm vào mạn tả. Tôi buông ống dòm, cả hai tay bám chặt thanh an toàn, ngực và bụng dính vào thành đài đang nằm gần ngang mặt nước xoáy cuồng, hung tợn. Tôi nín thở chờ đợi, van vái con tàu đừng chìm… Và trong lúc tuyệt vọng nhất, đài chỉ huy bất ngờ bật ngược lại. Con tàu không còn trồi lên hụp xuống. Nó chỉ còn lăn qua, lăn lại, thường là hết về bên phải. Trời ơi, tôi còn phải chịu cái sóng ngang chết người này đến bao giờ! Như để giúp cơn sợ hãi của tôi tăng đến mức tối đa, nhiều tiếng ụa mửa, rên la của binh lính đại đội địa phương quân từ lòng tàu vọng đến đài chỉ huy. Tiếng ụa mửa rên la này trước đây chỉ văng vẳng nhưng lúc này thì át hẳn hợp âm lạ thường của tiếng gió rít, của tiếng sóng dập, của tiếng hai máy tàu rầm rập tốc độ đường trường.

– Trời ơi! Trời! Trời ơi! Sao mà khốn khổ thế này hả trời! Cho tôi chết còn… sướng hơn.

Tôi đồng ý với lời rên rỉ đó. Lúc này, đúng là chết còn sướng hơn! Hay tệ nhất cũng được nằm yên trên nệm ấm!

Tiếng của điện thoại viên:

– Báo cáo hạm trưởng hầm lái tay sẵn sàng.

Hạm trưởng nhanh nhẹn bước sang, chiếu đèn pin vào chiếc la bàn từ. Tiếng của ông át cả tiếng sóng gió:

– Máy tả tiến hai. Tay lái hết bên trái.

Anh hạ sĩ quan phòng tai đứng gần miệng loa lập lại lệnh hạm trưởng xuống phòng lái:

– Máy tả tiến hai.

Điện thoại viên nói với hầm lái tay qua đường dây nội bộ:

– Tay lái hết bên trái.

Tôi nghe các tiếng báo cáo thi hành. Tôi nghe các tiếng báo hiệu đã máy tăng. Hạm trưởng vẫn đứng ôm chiếc la bàn từ, chốc chốc lại rọi sáng. Con tàu bắt đầu cỡi lên các đợt sóng. Lệnh hạm trưởng:

– Hai máy tiến ba. Tay lái mười lăm bên trái.

Lại tiếng chuyển lệnh, tiếng đáp nhận, tiếng leng keng. Hạm trưởng bảo hạm phó thay ông giữ hướng 75 của la bàn từ. Ông bước sang ngồi thỏm vào ghế, bật lữa châm thuốc. Tôi tự hứa là ba tháng nữa tôi sẽ hút khi biển động như ông.

Tôi chợt nghe giọng reo mừng rỡ của anh hạ sĩ quan:

– Báo cáo đã có điện.

Tôi quay lui. Mặt kính chiếc la bàn điện đã bật sáng. Lại tiếng của hạm trưởng:

– Hạm phó cho lái hướng cũ, tốc độ cũ.

Tiếng vọng từ phòng lái:

– Tay lái đã có điện.

– Radar hình ảnh tốt.

Hạm trưởng cho lệnh giải tán hầm lái tay rồi rời đài chỉ huy. Hạm phó nói với trung sĩ Tất phòng tai:

– Hai máy tiến bốn. Lái đường 78.

Con tàu tăng tốc độ và dần dần trở lại tình trạng trước đây là vừa lăn qua lật lại,vừa hụp vừa chồm. Tôi lại nhờn nhợn nhiều lần nhưng không mửa. Còn gì đâu mà mửa. Cả mật xanh lẫn mật vàng đã tuôn hết ra từ khuya. Dù sao, tôi cũng mừng là đã làm quen được với sự đong đưa lay lắt.

Hạm trưởng giao quyền chỉ huy cho trung úy Hào khi anh từ hầm lái tay mò lên đài chỉ huy. Ông khen ngợi trung úy Hào đã báo cáo ông kịp thời tình trạng mất điện, đã cho giảm máy đúng cách đối với sóng gió chếch mũi tả hạm. Nhưng ông thêm rằng, lần sau, phải theo dõi la bàn từ, tùy độ lệch mà điều khiển sai biệt máy đúng mức để giữ đúng đường. Nếu để tàu bị sóng gió đẩy ngang như vừa rồi, rất nguy hiểm. May là cơn bão đã qua, sóng gió đã giảm…

Tôi thầm cám ơn Trời Phật, thầm cám ơn hạm trưởng lên đúng lúc. Hạm trưởng vừa xuống khuất, Hào phóng ngay vào ghế của ông. Anh nhăn nhó:

– Tao giao ca cho mày. Xuống hầm lái tay có 10 phút mà muốn bá thở.

Tôi gật đầu và đảo mắt một vòng. Các nhân viên câm lặng hoàn toàn, trái hẳn lúc gió lặng biển êm. Ý thức trách nhiệm bắt họ đứng đó mà thật ra cũng như tôi, họ chỉ muốn nằm bẹp… Lúc này mà được nằm bẹp là “quốc sách”! Tôi không thể nằm mà đứng cũng không còn sức. Xương cốt tôi đã rã rời. Tôi bật ngang mảnh nệm tròn nhỏ gắn chặt vào thành đài và xê dịch cái bàn tọa lên đó. Đây là chiếc ghế dành cho sĩ quan đương phiên khi trời trong biển lặng, không có dấu hiệu chiến hạm thiếu an toàn. Nhưng đêm nay, với cái radar chạy tốt nhìn xuyên cả khối sương mù, với cái mặt đại dương là những ngọn núi di chuyển tiếp liền các thung lủng tử thần, chắc chắn là không có tàu đánh cá nào dám ra khơi. Vậy thì có khác chi đang hải hành giữa ban ngày trời trong bể lặng? Bất chợt nhớ ra một điều, tôi lạng quạng bước lại bàn hải đồ bật ngọn đèn nhỏ vừa đủ sáng. Tôi ngó đồng hồ. Gần mười một giờ khuya. Tôi lấy compa đo đường kính 10 hải lý rồi ghim đầu nhọn vào vị trí phỏng định lúc 10 giờ và quay đầu có viết chì gạch ngang đường hải trình. Từ vị trí phỏng định mới lúc 11 giờ đến hòn đảo gần nhất thuộc quần đảo Hoàng Sa dài 90 hải lý, tôi thấy đáy biển suốt chiều rộng mỗi bên hải trình hai mươi lăm dặm đều có độ sâu rất đáng kể và gần như bằng nhau. Như vậy không còn gì mà không an toàn. Tôi mạnh dạn trở lại ghế ngồi, chân đạp chắc vào một chiếc loa, mắt nhìn mông lung…

Đầu tôi như có cái gì đè nặng trĩu. Tôi nhắm mắt lại, hai tay xoa thái dương rồi mở mắt tìm trong vùng mù sương mịt mùng một hình bóng thân yêu. Tuyết hiện ra. Rồi Hiền cũng hiện ra. Ai đẹp hơn ai đây? Hiền yêu kiều và Tuyết sắc xảo. Tôi yêu ai đây? Hiền có Thanh và Tuyết có Tâm. Hiền hôn Thanh và Tuyết hôn Tâm. Tôi thở dài chán nản!

Một thủy thủ trách nhiệm quan sát đứng cạnh tôi buông xuôi ống dòm, gục mặt xuống. Tôi nghe tiếng ọc ọc từ miệng hắn. Âm thanh rên rỉ vì quá gần nên nghe càng rền rĩ, rùng rợn hơn tiếng kêu trời của những người lính địa phương. Theo đà nghiêng của con tàu, hắn nghiêng theo rồi ngã sấp. Trung sĩ Tất thản nhiên vạch áo, quẹt lửa rèn rẹt cố châm điếu thuốc. Ánh lửa giúp tôi thấy trung úy Hào đang nhìn anh mỉm cười. Mùi thuốc làm tôi thấy thèm nhưng biết rằng chưa phải lúc…

Tiếng vọng từ phòng lái:

– Đài chỉ huy! Có écho hướng 2 giờ, khoảng cách 5 hải lý.

Tôi giật mình dõi mắt về hướng báo cáo. Bầu trời vẫn mịt mùng tối đen. Tôi đứng lên, nâng cái ống dòm chầm chậm đưa qua đưa lại. Vẫn chả thấy một dấu hiệu gì. Năm hải lý là quá gần, không thể không thấy. Tiếng vọng lại vang lên, kèm theo tiếng vỗ rầm rầm vào ông loa:

– Đài chỉ huy! Đài chỉ huy!

Tôi định đáp thì đã nghe trung úy Hào lên tiếng:

– Đài chỉ huy nghe. Có việc gì thế?

– Báo cáo écho hướng 1 giờ, cách 5 hải lý.

Hảo quát to:

– Sao để gần thế này mới chịu báo cáo? Bộ ngủ hả?

– Thưa radar mới khám phá.

Hào hừ một tiếng, rời ghế hạm trưởng, đứng sát thành đài bên phải vửa quan sát vừa nói lớn:

– Báo cáo liên tục hướng và khoảng cách.

Trung sĩ Tất nhanh nhẩu nhắc lại vào miệng loa. Một lúc sau, có tiếng đáp:

– Vẫn hướng 1 giờ, 4 hải lý.

Tôi phóng qua đứng cạnh trung úy Hào, chống hai khuỷu tay lên mặt thành để giữ vững ống dòm. Mặt biển đen thẩm trở thành xam xám rồi mất hút. Tôi quét thật chậm ống dòm từ mũi tàu qua hướng ba giờ và chầm chậm quét trở lại. Tất cả 2 quan sát viên đều làm như tôi.

– Hướng 2 giờ, 3 hải lý.

Hào và tôi càng chú tâm quan sát hướng 2 giờ. Tấm màn đùng đục vẫn che kín như bưng. Hào ra lệnh:

– Trung sĩ Tất. Nhận chuông phòng hạm trưởng.

– Hướng 2 giờ 2 hải lý.

Hào la to:

– Kéo ba tiếng còi dài.

Tiếng còi lay động đêm khuya. Có tiếng la từ chuồng cu đèn giám lộ:

– Đã thấy ánh đèn hướng 2 giờ.

Hào quát:

– Đèn màu gì?

– Đèn chớp màu trắng!

– Bố khỉ. Nó đánh đèn hiệu. Giám lộ bắt xem nó nói gì.

Bây giờ bằng mắt thường tôi đã nhận được ánh chớp ngắn dài. Hào hỏi anh giám lộ:

– Nó nói gì thế?

– Dạ nó đánh bằng tiếng Mỹ.

Hào bật cười thành tiếng:

– Đồng ý là tiếng Mỹ nhưng tiếng Mỹ nói gì?

– Thưa nhanh quá bắt không kịp.

Tôi thông cảm anh giám lộ mới ra nghề lại gặp cái thời tiết thổ tả, lên tiếng:

– Anh bảo nó slow down please.

Anh giám lộ chớp đèn. Anh đánh nhanh hơn tôi tưởng. Sóng gió chỉ làm anh hốt hoảng khi nhận. Đèn từ phía ngang hông đánh trả. Tôi đã đọc được nhưng lặng thinh nhường anh giám lộ báo cáo:

– Thưa trung úy, nó hỏi which ship?

Tiếng hạm trưởng từ phía sau:

– Đánh hỏi lại nó which ship.

Anh giám lộ chưa kịp thi hành đã gục mặt ụa mửa liên hồi. Ngay khi dứt, anh lấy tay lau mặt và dùng tay kia chuyển tín hiệu. Đèn đối tác đáp trả. Tôi nhận ra chữ USN ship (US Navy ship) vừa lúc hạm trưởng lên tiếng:

– Đánh trả nó VNN ship. (tàu Hải quân Việt Nam).

– Đài chỉ huy! Hướng 3 giờ. 2 hải lý.

Lại đèn từ tàu Hải quân Mỹ. Anh giám lộ nói ngay khi tin hiệu dứt chuyển:

– Thưa hạm trưởng nó nói where are you heading for.

– Bảo nó Hoàng Sa. À không, Paracel. Papa-Alfa-Romeo-Alfa-Cierra-Echo-Lima.

Anh giám lộ lại vật lộn với sóng gió và đèn hiệu. Đèn chớp thật rõ nhưng vẫn chưa thấy được hình dạng con tàu. Thậm chí cũng không nhìn thấy hai đèn hải hành xanh đỏ.

– Đài chỉ huy! Hướng 4 giờ. Một hải lý rưởi.

– Thưa hạm trưởng nó nói best wishes to the captain and sailors.

– Trả lời nó thank you, same to you all and good night.

– Đài chỉ huy! Hướng 5 giờ, 3 hải lý.

Anh giám lộ thận trọng rời chuồng cu leo xuống đài chỉ huy. Giọng hạm trưởng thân mật:

– Khá lắm giám lộ Bảo. Cám ơn anh.

Hào rọi đèn pin vào đồng hồ. Anh bảo trung sĩ Tất:

– Anh nhận còi đổi ca.

Tiếng còi quen thuộc vang lên nghe thật dễ thương! Tôi thở phào nhẹ nhõm. Khi Tâm vừa xuất hiện nhận ca, tôi vỗ nhẹ vào vai anh rồi lặng lẽ len lén xuống phòng…

Tôi chợt thức giấc vì cảm nhận một sự êm ả bất thường. Chiến hạm không còn đong đưa, lay lắt, không còn rên rỉ vì những cú đập tàn bạo của các đợt sóng ngầm. Tôi nghe máy tàu vẫn còn chạy ở vận tốc cao nhưng dường như đang hải hành trong một vùng vịnh không sóng gió. Tôi nhìn đồng hồ: 7giờ sáng. Khuya đêm qua, khi rời đài chỉ huy, biển còn động dữ dội. Không lẽ chỉ qua một giấc nam kha mà lại êm ru bà rù? Thì cũng dễ hiểu. Giấc nam kha kéo dài suốt bảy tiếng, đủ để tàu vượt qua một đoạn đường dài, dứt bỏ vùng bão tố.

Bụng tôi chợt cồn cào, ran ran. Tôi nhớ ra là tôi đã bỏ bữa ăn tối qua, đã mửa liên tục. Tôi cũng nhớ ra nhiệm vụ chính của tôi trên chiến hạm là kiểm soát việc ăn uống của thủy thủ đoàn. Bây giờ là giờ điểm tâm. Tôi ngồi bật dậy, cảm nhận cơn mệt mỏi rã rời… Tôi rửa mặt thật chậm, tận hưởng cơn sảng khoái từ độ mát của nước. Tôi mặc bộ quân phục mới rồi bước lên nhà bếp. Hai nhân viên hỏa đầu vụ đưa tay chào. Tôi chào đáp và hỏi:

– Trung sĩ Quân đâu, anh Lâm?

– Thưa Thiếu úy, trung sĩ đang kiểm soát phòng ăn đoàn viên. Thiếu úy cần, tôi đi gọi?

Tôi nhìn nhà bếp gọn gàng, sạch sẽ:

– Thôi khỏi. Còn thức ăn sáng cho sĩ quan?

– Tôi dọn thêm món trứng chiên này là xong. Thiếu úy đã bỏ cơm chiều hôm qua…

Tôi cười gượng:

– Sáng nay chắc cũng thế.

Giọng Lâm vui vẻ:

– Biển đã yên. Ăn được rồi, thiếu úy.

Tôi lắc đầu:

– Vấn đề là ăn không vô. Thức ăn chưa qua khỏi cổ là vọt ra liền! Hy vọng bữa trưa, may ra.

– Trưa không chừng mình có vít ăn. Đảo Hoàng Sa có nhiều vít, thịt ngon hơn thịt gà.

– Vít là con gì vậy?

– Một loại rùa nhưng lớn hơn con ba ba nhiều.

Tôi cười, lắc đầu:

– Rùa rắn là không có tôi.

Tôi bước qua khung cửa vào lòng tàu. Cả đại đội địa phương quân còn say sóng nằm la liệt từ mũi tới lái. Họ như ngủ say sưa, mà thật ra họ còn mê thiếp, như tôi đêm qua. Nhiệm vụ buộc tôi phải tỉnh lại. Không bao lâu nữa họ sẽ hạnh phúc lên bờ. Còn tôi, trọn đời khó thoát khỏi biển.

Tôi trở lại phòng ăn sĩ quan, nhắp thử ly cà phê sửa. Đây là ly cà phê hằng ngày mà sao hôm nay thơm ngạt ngào, vị ngọt ngào. Tôi ăn ngon lành một miếng trứng, một mảnh bánh mì. Đúng như lời anh hỏa đầu vụ, tôi đã ăn được. Và tôi ngốn ngáo hết phần ăn sáng của tôi.

Tiếng còi đổi phiên vang lên đúng lúc tôi đặt chân lên đài chỉ huy. Tôi chào trung úy Được. Anh trước tôi hai khóa và vừa được thăng Trung úy. Anh đưa tay, thân mật:

– Biết chú mầy thường lên sớm nên tôi đang mong đây. Lái dùm tôi cho đến khi trung úy Hào lên nhận phiên. Tôi có việc xuống sớm một tý.

Không cần biết tôi bằng lòng hay không, ông tỉnh bơ rời vị trí. Tôi tưởng ông đùa vì ông thừa biết tôi chưa đủ khả năng hải hành. Theo hạm trưởng, tôi phải cần đến ba tháng đi biển nữa mới được xét định tư cách trưởng phiên. Tôi lo lắng nhìn quanh. Không bóng dáng một chiếc tàu thuyền nào. Chỉ bao la một thảm xanh lao xao, lấp lánh. Muôn ngàn tia sáng lung linh chạy dài đến tận mặt trời chưa lên cao. Gió nhẹ, mát rười rượi. Tôi hít một hơi dài, thấy an tâm và hãnh diện. Hẳn trung úy Được đã thấy tôi tận lực học hỏi như thế nào suốt thời gian qua.

Nhớ đến việc đầu tiên phải làm khi nhận trưởng phiên hải hành là xác định vị trí chiến hạm, tôi bước sang bàn hải đồ nhìn vào hải trình. Hàng chục vòng tròn nhỏ có gạch chéo cách đều nhau trên một đường kẻ kéo dài từ ngoài khơi Sơn Trà đến trung tâm quần đảo Hoàng Sa. Vòng cuối cùng với ghi chú 1100H, nằm gần một nhóm đảo trông giống như là những quả trứng lớn nhỏ nằm ngổn ngang. Tôi hiểu là còn khoảng ba tiếng nữa sẽ đến điểm đổ bộ là hòn đảo lớn nhất có tên trên hải đồ là Pattle Island. Đó chính là đảo Hoàng Sa.

Tiếng trung úy Hào từ phía sau:

– Mình đến đâu rồi, thiếu úy Bằng?

Tôi quay lại đưa tay lên chào nhưng anh chỉ cười cười đưa tay ra bắt:

– Còn sức lên nhận phiên sớm là ngon quá rồi. Cứ tưởng anh hùng đã thấm mệt!

Tôi ráng nở nụ cười:

– Thưa trung úy, theo phỏng định thì còn ba tiếng nữa là đến điểm đổ quân.

– Anh tin vào cái vị trí phỏng định là có cơ hội chẳng bao giờ thành… hạm trưởng. Trong mùa sóng gió bão bùng, vị trí phỏng định là vị trí bi quan nhất. Theo tiêu lệnh hạm trưởng, hải trình là đường 84, trừ hao độ dạt – 6 ta cho lái hướng 78. Và chúng ta đã phỏng định tốc độ là mười gút. Nghĩa là chúng ta đi theo gió chếch mũi tả hạm, hướng gió do cơn bão tạo thành Nhưng chúng ta lại ở trong mùa gió Tây Nam, nghĩa là mùa gió thường trực thổi thổi từ chếch lái phía hữu hạm tới. Còn phải tính tới dòng nước ngầm. Tóm tắt, thật sự giờ này chúng ta ở nơi nào trên biển, chỉ có Trời biết. Không chừng ta đã tạt về phía Bắc sang vùng Amphitrite Group đầy đảo ngầm hoặc tệ hại hơn là dạt về phía Nam vào vùng nước cạn North Reef với những xác tàu chìm. Nói cho cùng, gặp cái nào thì cũng thân bại danh liệt. Tốt hơn hết là bắt đầu theo dõi độ sâu.

Anh kê miệng gần chiếc loa, đổi giọng lớn hơn :

– Phòng lái, cho mở Fathometer và báo cáo chiều sâu mỗi năm phút hoặc khi có thay đổi cạn hơn. Radar! Báo cáo ngay khi phát hiện écho. Thiếu úy Bằng và các quan sát viên quan sát cẩn thận bằng ống dòm, từ hướng 10 giờ đến 2 giờ.

Hào dò nhìn lên tấm hải đồ khi nghe phòng lái báo cáo chiều sâu. Anh gật gù vói tay lấy chiếc ống dòm rồi bước sang ngồi tỉnh bơ trên chiếc ghế của hạm trưởng, tréo chân thoải mái. Anh chầm chậm quét ống dòm qua lại vùng biển xanh thẳm trước mặt. Trung sĩ Tất, giám lộ Bảo và tôi cùng đưa ống dòm lên mắt. Vẫn chỉ là mặt biển lóng lánh, thăm thẳm, mênh mông… Con tàu thênh thang phóng tới, bọt biển tỏa hình cánh chim, đổ về phía sau thành một tràng dài trắng xóa.

Cột cờ trơ trọi cuối lái gợi tôi nhớ lá cờ trên đỉnh chót vót. Tôi bước ra phía ngoài, ngẩng mặt. Tôi nhìn trân trân. Lá cờ đã nhạt màu, phần đuôi rách te tua. Lá cờ vẫn bay phất phới nhưng uyển chuyển, nhẹ nhàng, trái hẳn hình ảnh vẫy vùng, mãnh liệt chiều qua. Tôi có cảm tưởng lá cờ cũng cùng mang sức sống như chúng tôi, cũng chịu đựng những vất vả gian nan, cũng tận hưởng những niềm vui thành đạt. Tôi bước trở lui, đứng thẳng người, quan sát cẩn thận vùng biển trước mặt theo đúng nhiệm vụ của sĩ quan đương phiên ghi trong huấn thị. Tôi đứng như thế rất lâu, đầu óc thênh thang như bầu trời không gợn chút mây…

– Báo cáo có écho hướng một giờ, khoảng cách 28 hải lý.

Tự dưng tôi thở ra nhẹ nhỏm. Hào đứng thẳng lên, chếch ống dòm về phía tay mặt. Anh chầm chậm, thật chậm quét ống dòm qua lại. Được vài phút, anh rời ghế, chạy vội xuống phòng lái. Khi trở lên, anh cười tươi tắn:

– Hải hành phỏng định mà… chính xác gớm!

Anh nhấc điện thoại:

– Thưa hạm trưởng, tôi trung úy Hào. Trình với hạm trưởng, đã thấy đảo hướng một giờ, cách 27 hải lý bằng radar. Chưa thấy bằng ống dòm.

Anh lặng thinh nhận chỉ thị một lúc, đáp nhận rõ và gác máy. Anh nhìn la bàn, ra lệnh:

– Lái đường tám mươi tư.

Hào đưa ống dòm lên mắt. Tôi bắt chước anh. Biển vẫn thăm thẳm, chập chùng đến ngầy ngật. Dường như gió đổi chiều, đưa ngược khói tàu lên tận đài chỉ huy. Mùi khói khó ngửi nhưng lại gợi tôi thèm một điếu thuốc. Tôi đã quên nó từ lúc tàu khởi hành. Tôi mở nắp túi, gắn điếu thuốc lên môi, thong thả châm lửa. Tôi nhả ngụm khói đầu tiên rồi hít một hơi dài tưởng chừng như đang hôn người yêu. Bất ngờ tôi ho sặc sụa và nghe bứt rứt khó thở. Chưa hút được. Tôi nhủ thầm, dứt khoát ném điếu thuốc. Nó nương theo gió bay thật xa rồi rơi hút vào bọt biển.

Bầu trời trong sáng, xanh ngát, không một dấu vết sa mù. Gió nhè nhẹ, mát rượi. đến từ mạn phải. Tôi hít một hơi sảng khoái và thấy lại yêu đời yêu biển…

Hạm trưởng xuất hiện ở chân cầu thang. Tôi báo cho Hào. Anh ra dấu cho nhân viên chỉnh đốn quân phục, tư thế. Tôi hô nghiêm và đưa tay chào khi ông đặt bước lên đài chỉ huy. Ông thân mật hỏi han từng người. Tôi là người cuối cùng.

– Thiếu úy Bằng trông tỉnh táo lắm. Được lắm.

Tôi chỉ biết lí nhí cám ơn. Ông chưa yên vị trên ghế thì có tiếng báo cáo:

– Đã thấy đảo hướng mười hai giờ.

Tôi chụp ống dòm. Tôi vốn nôn nao, nôn nóng muốn biết cái… dung nhan mùa hạ của cái quần đảo đã làm tôi khốn khổ, đau đớn. Phải khó khăn lắm tôi mới trông thấy một vệt đen trên đường chân trời. Vệt đen đó dần dần rõ dạng. Nó vươn cao cùng lúc lô nhô những ngọn cây. Rồi toàn bộ cái đảo thấp lè tè. Tôi cảm thấy thất vọng. Hoàng Sa là thế đó sao? Tôi quét chiếc ống dòm thành vòng 360 độ. Tất cả vẫn chỉ là mặt biển xanh thẩm mênh mông.

Hạm trưởng ra lệnh từ chiếc ghế dành riêng cho ông:

– Trung úy Hào có thể cho bớt máy.

Hào ra lệnh, không do dự:

– Hai máy tiến ba.

Sau tiếng leng keng, cường độ tiếng máy dịu hẳn đi. Tôi cũng cảm nhận được sự giảm tốc của con tàu. Sự thất vọng của tôi cũng tiêu tan. Tôi nhìn thấy thêm hai hòn đảo nữa bằng mắt thường. Tôi không ngờ trên đời lại có những hòn đảo nhỏ và thấp đến thế. Chúng chỉ vừa đủ nổi trên mặt nước. Một trông như con rùa đang bơi bập bềnh và một như chiếc tiềm thủy đỉnh đang lặng lờ trôi. Giữa cái mênh mông của sóng nước, hai hình ảnh đó trông lạ và đẹp mắt.

Cơn mỏi mệt, ngật ngừ bỗng dưng tan biến. Người tôi chợt xao xuyến, lâng lâng. Một mùi hương lạ thoang thoảng, sảng khoái. Mùi hương đã đến với tôi lần đầu khi chiến hạm hướng mũi vào sông Lòng Tào sau chuyến công tác đầu tiên. Mùi đất liền. Chỉ những ai đi biển lâu ngày mới nhận ra mùi hương tuyệt dịu đó…

Hạm trưởng lên tiếng nhận quyền chỉ huy. Ông ra lệnh nhận còi nhiệm sở vận chuyển và cho giảm máy. Con tàu sựng lại rồi tiến thư thả trên vùng nước trong veo, phô bày đáy biển toàn cát đá trắng. Xa xa hai bên hông là những dãy san hô ngầm long lanh ánh sáng. Chẳng bao lâu hòn đảo thấp lè tè hiện ra trước mắt thường. Tôi chỉ một đóm trắng nằm ở cuối đảo, hỏi ông trung sĩ giám lộ đứng gần:

– Có cái gì màu trắng? Anh có nhận thấy không?

– Thưa thiếu úy, đó là đài khí tượng. Chúng ta có một toán khí tượng hoạt động trên đảo. Tin tức khí tượng cho tàu chạy ven biển là từ đài đó.

Tôi cười vui sướng với một khám phá mới mẻ….

Vào đúng thời điểm đã định, hạm trưởng ra lệnh thả neo. Con tàu xuôi theo gió nằm song song với hòn đảo khá lớn. Hòn đảo có những lùm cây rậm rạp sau một bãi cát vàng nhạt chạy vòng. Cuối bãi cát về phía mặt là một tòa nhà màu trắng vươn cao. Đó chính là đài khí tượng. Nổi bật trên nóc tòa nhà là lá cờ vàng ba sọc đỏ đang ngạo nghễ phất phới giữa nền trời xanh. Tôi đăm đăm nhìn lá cờ. Như một thói quen, tôi chụm hai chân đứng vào thế nghiêm, đưa bàn tay lên ngang mày.

Trong tôi, những xúc động dạt dào dâng lên….

***


Chương 8


Tôi gọi điện thoại cho hạm trưởng theo tiêu lệnh của ông rồi đo hướng ba đối vật cố định, kẻ thành giao điểm vị trí chiến hạm. Tôi mở quyển Nhật ký hải hành, ghi chép:“ 0730 H: Vị trí: Vĩ độ…N. Kinh độ… E. Hướng lái 240. Hai máy tiến 4. Biển động nhẹ. Gió nhẹ.Trời trong. Báo hạm trưởng tàu sắp ngang hải đăng Vũng Tàu”. Tôi gấp quyển sổ, bỏ vào ngăn kéo dưới bàn hải đồ rồi leo ngồi trên chiếc bệ vành tròn của thành đài chỉ huy, chân đạp lên mảnh sắt nhỏ dùng làm mặt ghế cho sĩ quan đương phiên. Đây là một vị thế thiếu an toàn khi biển động nhưng trong những ngày trời trong bể lặng, ở vị trí này, tôi vừa hưởng thụ được những đợt gió mát lành lại vừa có thể quan sát khắp vùng biển bao la. Rồi khi xoay người vào ở thế thoải mái, mắt tôi không bỏ sót nhất cử nhất động của các nhân viên mà không biểu lộ mình không tin tưởng họ.

Tôi đã chính thức trở thành sĩ quan trưởng phiên khởi từ chuyến công tác này. Ông hạm phó Trần Vĩnh Đắc bất ngờ rời tàu để đảm trách chức Hạm trưởng một tuần duyên hạm. Công điện từ Phòng nhân viên vẫn theo ưu tiên … thông lệ: “thi hành ngay khi nhận”. Hào được nâng lên chức hạm phó kiêm nhiệm sĩ quan Hải hành-Chiến tranh chính trị. Trung úy Được lên sĩ quan đệ tam đảm trách An ninh-Truyền tin.Tâm lãnh Trọng pháo. Riêng phần tôi thì khá ôm đồm. Ngoài cái chức cũ Ẩm thực, tôi lãnh thêm Trưởng ban Chuyển vận- Đổ bộ và Trưởng phiên hải hành. Đây là chức vụ lẽ ra tháng tới tôi mới được cứu xét.

Trong năm ngày đêm của chuyến đi này, có đến bảy lần tôi thay hạm trưởng một mình chỉ huy chiến hạm. Không phải nói, dĩ nhiên là tôi rất lo ngại, nhất là về đêm. Dù mưa gió hay không, trong cái tối mịt mùng đe dọa, lòng tôi không sao ngưng thấp thỏm nghi ngờ chiến hạm sắp tông phải ghe thuyền hoặc đang chệch hướng vào vùng nước cạn đá ngầm. Có những khi thấy ánh đèn xanh hoặc đỏ xa xa là cứ phập phồng trong việc áp dụng nguyên tắc tránh đụng nhau “xanh đối xanh, đỏ đối đỏ”. Xanh là biểu hiệu mạn hữu, đỏ là mạn tả của một loại tàu thuyền lớn đủ để không còn được coi là ghe. Một lần khác cùng lúc tôi thấy đối vật có cả đèn đỏ lẫn đèn xanh, có nghĩa là hai tàu đang chạy ngược chiều trên cùng thủy trình. Vậy vận chuyển thế nào cho “xanh đối xanh, đỏ đối đỏ? Lần đó tôi đã có phần lúng túng khi vận dụng bài học và trí phán đoán để đưa ra quyết định đổi hướng. Kết quả là… thật may, chiếc thương thuyền khổng lồ kia chỉ suýt cắt đứt ngang hông chiến hạm! Tôi mừng là mỗi ngày trôi qua là một ngày tôi thấy bĩnh tĩnh hơn, tự tin hơn.

Hạm trưởng lên đài chỉ huy theo sau là hạm phó Hào, thiếu úy Tâm. Tôi giao phiên từ 8 đến 12 cho Tâm và thấy nhẹ người khi trách nhiệm trưởng phiên chấm dứt. Tuy vậy, dù thèm ly cà phê, dù đói, tôi vẫn đứng nấn ná để thưởng thức cái quãng thời gian con tàu đi vào cửa sông, bỏ lại đàng sau những lớp sóng bạc đầu lúc nào cũng bủa vây chiến hạm. Hiện thời con tàu bị sóng đẩy từ sau lái trong vùng nước không sâu nên chỉ lướt tới êm ru như chiếc xe đò một mình trên xa lộ Biên Hòa. Ngõ nào cũng tới Sài Gòn. Giang lộ đang đưa tôi về với những quán kem có người đẹp ngồi quày, với những góc phố có lắm ông đi qua bà đi lại. Tôi đã gạt bỏ tên Hiền và Tuyết khỏi Sài Gòn yêu dấu của tôi…

Hạm trưởng lên tiếng nhận quyền chỉ huy, cho lệnh đổi đường hướng vào vịnh. Tâm cười toe toét được thoát gánh nặng sau mới chỉ nửa giờ lên phiên. Anh trở thành sĩ quan quan sát và kiểm soát. Hạm trưởng quay sang tôi, giọng vui vẻ:

– Khi anh ra đi, chưa đến với em môi sóng đã cười. Bây giờ anh trở về, môi sóng cũng đuổi theo. Còn đòi hỏi gì hơn cho cuộc đời thủy thủ, phải không thiếu úy Bằng?

Tôi không biết trả lời sao, đành nở nụ cười vô tội vạ. Ông hứng khởi tiếp:

– Đêm qua tôi mới làm được một bài thơ, anh nghe thử: “Em về biển hé môi cười. Gió lên vang động, khắp trời mây bay. Giao thừa dường thể hôm nay. Hồn tôi rào rực: Tết đầy trong tim”. (thơ Hữu Phương)

Tôi bật thành lời trước khi nhận biết đó là lời khen thiếu nghiêm túc:

– Bốn câu hay quá, thưa hạm trưởng. “Tết đầy tim” là một ý lạ mà súc tích, vừa diễn đạt được sự rộn rã của con tim như tiếng pháo, vừa cho thấy được sự hân hoan gặp lại em như gặp… tiền lì xì!

Tâm che miệng cười, các nhân viên thản nhiên vờ như không nghe thấy. Ông cũng mỉm môi cất giọng cợt đùa:

– Cựu hạm phó ra đi nhưng để lại một đệ tử chân truyền! Nhận xét nhạy bén và sắc sảo!

Tôi mừng húm khi thấy ông không giận mà còn… hân hoan. Tuy vậy tôi cũng tự nhủ là mình phải ăn nói thận trọng hơn. Vì vậy khi ông đọc các đoạn kế tiếp tôi chỉ gật gù khen hay! Đúng ra, nếu tôi thật sự là đệ tử chân truyền, tôi phải có một phát biểu kết thúc, tương tự như một lần hạm phó Đắc nghe hạm trưởng đọc dứt một bài thơ : “Thưa hạm trưởng, nghe thơ hạm trưởng mà hứng khởi muốn bắt chước. Tiếc là tôi thiếu thi từ nên đành phải viết các mẫu tự cho vào nón rồi bắt thăm ráp lại. Không chừng nhờ thế mà thành bài thơ hay không kém bài này!”

Ông hạm trưởng nhìn về phía mũi khi nhân viên báo cáo có thương thuyền đi ra ngược chiều. Tôi nhìn vào cửa sông. Nó còn xa tít mù, chỉ có vệt khói nhả ra thành một áng mây xám xịt. Hướng mắt về xa khơi tả hạm, đường giao tiếp giữa biển và trời mỗi lúc một mỏng dần cây cối để chỉ còn là một đường chân trời mong manh. Mặt biển đục ngầu sủi bọt, rải rác những chiếc ghe câu. Bên hữu hạm thì sắc nét hơn nhiều. Một nửa mặt trời còn thẩm đỏ nằm vắt bên trên đường viền của dãy núi lưng chừng vài ngôi nhà mái đỏ và vút cao ngọn hải đăng sơn trắng. Bên dưới là hình dáng phố xá hàng quán phơi bày, thậm chí thấy cả màu xanh vàng đỏ trắng của các cây dù cắm trên Bãi Trước. Ba chiếc thương thuyền bề thế có màu thân tàu khác nhau, chiếc đen, chiếc đỏ, chiếc đọt chuối đang buông neo xa cách như màu sơn của chúng. Trừ vài nét giống nhau là cùng có thượng tầng sơn trắng, cùng có những trụ cột to lớn hoặc đứng thẳng hoặc nghiêng nghiêng, chúng khác nhau về hình dạng như để phân loại chở dầu hay chở hàng…

Trước đây, có lần thấy các thương thuyền buông neo phơi mình thảnh thơi nhàn hạ, tôi cất tiếng so đo với hạm phó Đắc là đời thủy thủ thương thuyền xem ra … ngon cơm hơn đời thủy thủ chiến thuyền. Hạm phó Đắc nghiêm túc giải thích rằng trông có vẻ là vậy chớ neo một ngày là mệt một ngày. Mệt vì nhân viên bị tù túng và chậm trễ ngày về. Thủ tục hải quan buộc họ phải chờ hoa tiêu Việt Nam hướng dẫn vào thương cảng Sài Gòn. Còn so về gian khổ sóng gió thì thủy thủ tàu nào chẳng là… thủy thủ? Mà kể ngon cơm thì chiến thuyền với súng đạn đầy mình phải ngon hơn thương thuyền trên dzăng dưới dzế!

Cuộc đời thủy thủ của tôi tính đến hôm nay vừa được hơn năm tháng với mười hai chuyến đi. Chuyến đi Hoàng Sa dài nhất, lâu nhất và sóng gió nhất cho tôi cái kinh nghiệm về tính bạo tàn của biển cả. Chuyến đi nguy hiểm nhất là cuộc chuyển quân từ Năm Căn về Đại Ngãi, cho tôi cái tiên nghiệm về làn ranh sống chết trong chiến tranh. Trong chuyến này, cái chết mà tôi thấy kề cận nhất là khoảng không gian và thời gian đi vào và trở ra trên sông Bồ Đề nhưng lại bình an với chỉ vài tiếng súng lẻ tẻ làm trầy sơn vỏ chiến hạm. Trái lại, tại hai địa điểm ủi bãi trông an toàn trên bờ sông gần cửa Tranh Đề thì bị bắn khá nhiều. Chiến hạm bị thương một, tiểu đoàn bộ binh đổ bộ bị ba. Một bộ binh chết trên đường tản thương bằng trực thăng. Đáp lại, tiểu đoàn giết 15 địch, bắt sống năm và kịp thời giải tỏa hoàn toàn áp lực địch muốn tràn ngập hai tiền đồn án ngữ ven sông.

Còn những chuyến công tác khác ngắn hạn hơn, ít sóng gió hơn, thường là phối hợp hành quân với các tiểu khu ven biển, tiếp tế đạn dược và triệt thối phế liệu cho các Quân đoàn, Hải khu. Bốn chuyến sau cùng biển khá động nhưng chưa đủ mức làm tôi nôn thốc nôn tháo. Biển có tệ nhất tôi cũng ăn được một bữa cho trọn ngày và còn cảm nhận được cái truyền cảm từ giọng ca Thanh Thúy nức nở, qua lời nhạc Trúc Phương nghẹn ngào vẳng đưa từ phòng lái…

Con tàu lần lượt vượt qua các chiếc phao định lối thủy trình. Hạm trưởng ra lệnh lái tàu qua khoảng trống hẹp giữa hai hàng đáy để nhường thủy đạo sâu nhất cho chiếc tàu buôn dềnh dàng. Khi nó lướt ngang qua chúng tôi, tôi thấy từ trên cao, nhiều bàn tay vẩy chào và môi mấp máy như lời cám ơn. Chúng tôi vẩy chào đáp lễ. Rồi tôi thấy một phần chân vịt của tàu buôn quay chầm chậm trên mặt nước. Xem ra nó không có nhiều hàng mang theo chuyến trở về.

Mặt trời đã vượt ngọn hải đăng, treo trơ vơ trên nền xanh dịu, phất phơ mây trắng. Cái dáng phố đã mờ nhạt. Hình ảnh ba chiếc thương thuyền buông neo đã nhỏ lại nhưng các ngọn sóng cao vẫn xủi đầy bọt đuổi theo chiến hạm. Tôi vươn vai hít sâu một làn gió thơm mát và thấy sảng khoái…

Hạm trưởng và hạm phó cất tiếng cười vang sau câu chuyện gì đó do hạm trưởng kể. Ông thường kể chuyện tiếu lâm về thời gian một năm tu nghiệp ở Mỹ. Tôi cũng có nhiều chuyện tiếu lâm trong thời gian một tháng thực tập trên Đệ thất Hạm đội nhưng còn ngại ngùng. Ngộ nhỡ mình kể chuyện cười mà không ai cười…

Tâm bước sang đứng cạnh tôi, tựa lưng vào thành bên trái đài chỉ huy. Tôi nhìn theo hướng anh đặt ống dòm. Chếch bên tả hạm là hàng lớp đáy cá chăng ngang. Cửa sông hẹp lại, bờ đất rõ dần. Nhưng cũng cần nửa tiếng để con tàu giả từ biển cả.

Quay nhìn phía lái, con sông chia ba phần rõ rệt. Ở giữa khuấy động và hai bên sóng dạt đều. Hương rừng thoang thoảng từ các vòm tràm đước dọc hai bên bờ. Một chiếc ghe vừa vượt mũi tàu qua bờ bên trái. Cô gái ngưng tay chèo, hướng mặt về con tàu đang chạy ngang qua. Và cô ngẩng nhìn lên đài chỉ huy. Bắt gặp các cặp ống dòm đang chỉa thẳng vào mình, cô gái cúi mặt, đưa tay nghiêng chiếc nón lá như muốn che dấu cả thân người. Mấy câu của bài thơ rất được ưa thích của Trần Quang Long phát xuất từ Quốc Học Huế bất chợt hiện ra: “Sao em biết anh nhìn mà nghiêng nón. Trời mùa thu mây che có nắng đâu. Nắng sẽ làm phai má tóc xanh màu. Và làm khô làn môi em dịu ướt. Còn tia mắt anh, có sao đâu mà em cúi đầu từ khước?” Vì trời đang chang chang nắng nên tôi biết mình chỉ tưởng tượng. Tuy nhiên mấy câu thơ đã đưa vào tâm tư tôi một bóng hình tưởng là mờ nhạt. Tôi có tệ lắm không khi suốt sáu tháng qua không viết cho nàng lấy một dòng!

Hôm đó, lần đầu tôi được ra phố Nha Trang sau hơn một năm về Sài Gòn và sau ba tháng quân trường. Trong sự háo hức gặp lại Tuyết, tôi đã ngẩn ngơ khi người chủ mới của ngôi nhà khăng khăng cho biết Tuyết không để lại địa chỉ chuyển tiếp thư từ. Tôi thất vọng nhưng không mất hy vọng, chắc rằng Tuyết còn quanh quẩn đâu đây, ở nhà người thân nào đó. Mỗi cuối tuần tôi cứ lang thang qua lại nhiều lần con đường nhà nàng và phố Độc Lập đông người. Một hôm, tôi mừng rơn khi bắt gặp một dáng đi quen thuộc phía trước. Cái mái tóc thề óng ả buông ngang vai đó. Cái dáng đi hơi hấp tấp mà uyển chuyển của ngày nào. Tôi bước vội đến gần cất tiếng reo vui:

– Tuyết!

Cô gái sựng người, quay lui. Đôi mắt mở to vừa ngỡ ngàng vừa phiền trách đủ cho tôi thấy tôi nhầm trước khi cô xoay người bước tiếp. Tôi quýnh quáng bước theo, miệng thì rối rít xin lỗi mà mắt thì không chịu buông tha cái dáng người. “Nhà không xa sao em bỗng nhanh chân. Sao loanh quanh chẳng chịu chọn đường gần!” Cô gái vào nhà đóng cửa, cài then. Tôi thu hết can đảm đưa tay nhấn chuông. May quá, bộ quân phục trắng chững chạc tạo uy tín cho tôi được ba nàng cho phép vào nhà. Từ đó cuối tuần tôi ghé nhà nàng để ngồi nhâm nhi trà ngon, để nghe ba nàng vốn là cựu dân biểu luận bàn thế sự và để len lén thu hình ảnh khuôn mặt hài hòa kiêu sa. Và khuôn mặt đó đã xua tan khuôn mặt tươi vui hiền hậu của Tuyết. Thêm một trớ trêu, nàng tên Hồng nhưng không với Tuyết cùng nòi tình đồng điệu. Tuyết chiều tôi đi bất cứ nơi nào tôi thích. Còn với Hồng, tôi có rủ đi đâu nàng cũng nhất mực chối từ. Tuần nào nàng cũng lặng lẽ lo châm trà, thỉnh thoảng tặng tôi nụ cười bằng ánh mắt cho đến khi tôi từ giã. Chỉ thế thôi mà nàng giữ được chân tôi và chính nhờ vậy mà tôi nắm rất vững tình hình thời sự thế giới trong suốt hai năm thụ huấn. Nếu có thiếu sót thì chắc chắn chỉ thua có… ba nàng! Nghĩ đến Hồng, tôi bỗng tha thiết nhớ nàng. Đến bao giờ tàu mới có dịp ghé lại Nha Trang? Và đến bao giờ tôi mới khỏi lu bu để rảnh rang tâm trí thảo một tình thư!

Tâm bỏ ống dòm treo ngang ngực, nghiêng mặt nói nhỏ:

– Lúc ăn sáng, hạm trưởng thông báo có công điện cấm trại 100% và ông chỉ thị hạm phó chia nhân viên ra thành hai phân đội, mỗi phân đội đi bờ một ngày. Sau hai ngày đó, tùy tình hình, ông tính tiếp. Tao đã nài nỉ ỉ ôi với Hào cho tao và mày vào phân đội đi bờ hôm nay vì hôm nay là thứ ba.

Còn đang mơ màng bóng dáng Hồng, tôi theo không kịp hàm ý của Tâm. Thứ ba hay cuối tuần thì có ăn nhậu gì đến cấm trại. Cấm trại thì ngày nào tôi cũng ôm lấy con tàu, còn tệ hơn đi biển. Đi biển thì biết chắc rằng mình đã thực sự xa Sài Gòn! Tâm tiếp:

– Thứ ba, Tuyết đợi chúng mình.

Thấy cơ hội đã đến, tôi nói:

– Mày chịu khó đi một mình. Tao phải đến nhà Hiền. Hôm trước Hiền xuống tàu mời tao đến nhà ăn cơm mà từ đó đến nay tao chưa đến.

Tâm trố mắt nhìn tôi:

– Chưa đến? Lần về bến vừa rồi, mày đã chẳng bảo là không thể đến Tuyết vì phải đến nhà Hiền ăn cơm tối?

Tôi ngẫm nghĩ một lúc rồi dứt khoát:

– Tâm nè! Tao muốn nói với mày điều này từ lâu, từ sau lần mày đưa tao đến nhà Tuyết. Lẽ ra tao từ chối ngay hôm đó nhưng tao cũng có phần tò mò muốn nhìn lại Tuyết. Tao đã gặp và không còn gì thắc mắc. Vì vậy tao quyết định không đến nữa. Đó là lý do lâu nay tao tìm cách từ chối khi mày rủ rê.

Tâm đăm đăm nhìn tôi:

– Đi thẳng vào vấn đề. Mày biết tao ghét quanh co. Mày giận gì tao chăng?

Thấy Tâm tỏ vẻ bực bội, tôi cười:

– Tuyệt không! Vấn đề là mỗi tuần, vào ngày Thứ ba Tuyết dành riêng cho mày. Rõ ràng là vậy. Rõ ràng việc hẹn hò đó có trước khi tao xuất hiện. Và tao không muốn làm kẻ không được mời! Và tao phải biết tự xử cho phải đạo!

Giọng Tâm đều đều:

– Sẽ không có một ngày khác riêng cho mày. Tuyết làm việc sáu ngày một tuần, chỉ nghỉ ngày thứ ba. Sáng thứ ba ngủ dậy trễ. Sau đó giặt giũ, đi chợ. Tao không… phiền về sự có mặt của mày. Trái lại, vui hơn…

– Mày thì vui nhưng còn Tuyết?

– Tuyết yêu mày, tất nhiên càng vui! Hay là mày không muốn tao đi cùng?

Tôi thấy không cần phải mất thì giờ chiêm nghiệm về tấm lòng vị tha của Tâm. Tôi đã từng “phá đám” một lần và Tâm rộng lượng xem như không có. Nay tôi nên dứt khoát để Tuyết…dứt khoát chọn Tâm. Tôi nói:

– Mày cũng thấy đấy, tao đang yêu Hiền. Nghe mày xúi dại mò đến nhà Tuyết, lỡ Hiền biết được, tao chỉ còn nước khóc! Vậy, từ nay mày nên chấm dứt rủ rê! Cứ đến Thứ ba, khi về bến, mày đi đường mày, tao theo lối tao. Vả lại, hai đứa đeo đuổi một đứa, hoặc là chẳng ai được cái giải gì, hoặc là cả hai cùng ăn cái giải rút!

– Nhưng Tuyết nó yêu mày!

– Khó mà biết Tuyết đang yêu mày hay yêu tao nhưng theo ý Tuyết lần gặp rồi, là Tuyết sẽ yêu người nào cưới Tuyết làm vợ. Tuyết cho thấy đã quá mệt mỏi với cuộc sống độc thân và đang rất cần một người chồng, rất cần một mái ấm gia đình. Mày ra trường trước tao. Có lẽ mày sẵn sàng tạo cho nàng một mái ấm.

– Nói thật là khi gặp lại Tuyết, tao đã có cái ý cưới Tuyết. Nhưng khi gặp lại mày, tao bỏ cái ý định đó. Thiếu gì đứa để cưới, việc gì phải cưới cái đứa bạn mình yêu hay yêu bạn mình!

Tôi nói một cách mạnh dạn, dứt khoát:

– Tao nói lại: Tao không còn yêu Tuyết.

Thấy Tâm nhìn tỏ vẻ ngờ vực, tôi bồi thêm một điều mà gần đây không còn đúng sự thật:

– Tao xác nhận một lần nữa là tao không còn yêu Tuyết. Bây giờ tao đang túi bụi bận rộn khổ sở vì Hiền…

– Nếu mày nói chắc như vậy thì tao xét lại! Tao cũng quá mệt mỏi với việc ăn ngủ triền miên trên tàu. Có một tổ ấm thực sự vẫn… ấm hơn!

Tâm vừa cười vừa nhìn con tàu không giảm tốc độ lượn vòng theo một khúc quanh khá gắt. Sóng dồn dập vỗ ven bờ khi phần lái tàu tạt sang gần sát hàng cây. Tôi nghĩ hạm trưởng hẳn đang nôn nóng về với gia đình. Tôi liếc nhìn ông, bắt gặp đôi mắt ông đang chiếu tướng vào mái tóc bờm xờm của tôi. Vài lần trong các bữa ăn, ông hạm trưởng cũng đã nhìn tóc tôi. Rất may cho đời tôi là có được một ông hạm trưởng với tâm hồn một nhà thơ. Tóc ông thường để dài chỉ vừa quá mức ấn định của một quân nhân. Còn tóc tôi thì đáng lẽ đã phải được hớt từ tháng trước. Tôi không cố tình nhưng quả là việc đưa tôi lên hai chức vụ cùng lúc làm tôi quên săn sóc bản thân mình. Rồi tàu đi công tác, tôi lại mãi mê bến lạ bờ xa. Cái nhìn của ông lần này khá nghiêm khắc như một nhắc nhở cuối cùng. Tôi không còn cách nào hơn là đi tìm nhân viên hớt tóc để kịp cho ông thấy trước khi ông rời tàu là tôi đã tiếp nhận cái nhìn của ông rõ ràng như cảm nhận thơ ông.

Mặc xong bộ tiểu lễ tôi leo lên tả hạm đứng dàn chào cùng toàn thể thủy thủ đoàn. Chiến hạm vừa qua khỏi thương cảng, bắt đầu tiến về cột cờ Thủ Ngữ. Tiếng còi từ đài chỉ huy ré lên một hồi dài. Chúng tôi đồng loạt đưa tay chào thủ đô Sài Gòn yêu dấu. Con đường Nguyễn Huệ nhộn nhịp, lao xao tận tòa Đô chính. Tượng đài Hai bà Trưng bất kể tiếng xì xầm vẫn là hình tượng nhắc nhở công đức tiền nhân. Bộ tư lệnh Hải quân uy nghiêm với sân cờ thiết trí bốn khẩu súng đồng trấn thủ và tận đỉnh cao đang phất phới lá đại kỳ Việt Nam Cộng Hòa. Những đôi nhân tình thì thầm trên ghế đá công viên mang thêm vẻ mộng mơ cho các biệt thự sang đẹp bên kia đường Bạch Đằng. Hai hàng cây chạy dọc đại lộ Cường Để tỏa cành thành hình cánh cung hun hút. Tất cả như còn mang nguyên vẹn hình ảnh của ngày đi. Chiến hạm tiến thẳng vào Thị Nghè rồi quay đầu cặp vào các ponton cầu R.

Nửa giờ sau, trong bộ thường phục trẻ trung, tôi và Tâm rời tầu. Hạm phó Hào vừa tiễn chân hạm trưởng, còn đứng ở hạm kiều. Thấy chúng tôi, ông nói đùa:

– Nè, hai cậu nhớ làm bản tường trình thám sát bãi ủi đấy nhé!

Tôi cười gật đầu. Chúng tôi nhịp bước kiểu nhà binh qua khỏi cổng sở Hàng Hà. Trong khi đứng chờ taxi, Tâm lại rủ tôi đến nhà Tuyết và tôi lại nói dối là phải đến nhà Hiền. Khi taxi đến, Tâm nhường tôi đi trước. Mãi tới khi tài xế lên tiếng hỏi, tôi mới e dè nói số nhà và tên con đường tận ngả tư Bình Hòa. Đây là một căn biệt thự khang trang, biệt lập, “chỗ quen biết” của cựu hạm phó.

Càng có thời gian gần ông, tôi càng khám phá ra con người tài hoa đa năng đa diện của ông. Ngoài cái nét điển trai trời cho, cái tài “hải nghiệp” thiên phú, ông còn có nhiều “biệt nghệ” đáng nể. Ông đàn giỏi, hát hay. Ông khiêu vũ tuyệt vời. Ông ăn nói hấp dẫn. Ông nhắm vào người đẹp nào, kể cả người đẹp xướng ngôn, là người đó hân hoan cặp kè với ông. Và một người đẹp thường được ông đề cập như một giai nhân hiếm và quý vừa trở thành vợ ông vài tháng trước. Cả thủy thủ đoàn được ông mời dự dạ tiệc tổ chức ở nhà hàng Caravelle. Quả là đúng lời ông: phu nhân là cô đầm chính gốc vô cùng xinh đẹp, con một ông Tây có thớ của tòa đại sứ “Phú Lãng Xa”.

Bên cạnh “biệt nghệ”, ông cựu còn có cả một “biệt khu” mà ông dấu kín, chỉ trước khi giả từ cô đơn một thời gian ngắn ông mới “bàn giao” cho Hào. Theo ông cựu, biệt khu còn là mật khu, “người thường” không vào được. Muốn vào, khách phải được tiến cử và phải hội đủ hai thứ hào: hào hoa và hào sảng. Nhờ cái tên của mình, Hào đương nhiên được chọn. Nhưng trái với ông cựu có tính e dè thuộc cấp cười chê, ông tân xem việc “lăng nhăng” là chuyện thường tình. Ông bảo rằng đến Tú Xương mà còn thà bỏ rượu bỏ trà chứ nhất định không từ cái lăng nhăng đàn bà! Cho nên khi ông cựu rời tàu, ông tân rỉ tai cho từng sĩ quan cả mật khu lẫn mật khẩu. Từ ngày được bàn giao “chỗ quen biết”, Hào rất muốn thăm dân cho biết sự tình nhưng lòng vẫn phập phòng cho dù ông cựu bảo đảm là bãi ủi trăm phần trăm an toàn. Chính bản thân ông chưa bao giờ bị… bể ống khói! Hào xúi tôi lần về bến này tôi thử… thăm dò thủy đạo xem sao. Tôi mùng húm. Anh có ngờ đâu rằng đó là “mật khu” tôi đang cần và còn cần dài dài. Cho dù anh có đòi hối lộ bia và hột vịt lộn như anh từng chung cho Tâm thì tôi cũng đành thỏa mãn.

Ra khỏi taxi, tôi nhìn cái biển số gắn ở cổng rồi đặt ngón tay lên núm chuông. Tôi ấn hai lần, ngưng lại rồi ấn tiếp hai lần. Mật hiệu dễ nhớ này đúng là của phó Đắc: Còi nhịp đôi là nhiệm sở tác chiến trên tàu. Tôi nghe giọng đàn bà phát ra từ chiếc loa nhỏ dấu kín trên núm chuông:

– Ai đó?

– Lê Vĩnh Tường.

Tôi cười thầm khi chợt nhớ đến ông phủ Vĩnh Tường của bà Hồ Xuân Hương. Ông cựu phó Lê Vĩnh Đắc quả là tay đáo để. Hết dùng còi tác chiến làm mật hiệu đến việc chọn cái tên giả cũng cắc cớ.

– Tường nào?

Giọng đàn bà mang vẻ ngờ vực. Hạm phó Đắc khoe là “chỗ quen biết”, đâu lẽ chủ nhân lại cần thêm chi tiết. Nhưng đã lỡ, tôi đành nói khẻ vào loa:

– Tường Hải quân.

Dù nói khẻ, tôi vẫn thấy ngượng. Đây đâu phải chỗ thích hợp để dùng tên binh chủng của mình làm…chuyện tào lao. Nhưng chừng như nếu không dùng đến cái từ đó thì khó có đủ mã lực để đẩy khung sắt nặng nề.

– Vào đi anh Tường. Anh tới đúng lúc. Em có quà đặc biệt cho anh!

Tôi vừa lách người vào là cánh cổng khép chặt lại. Trên con đường sỏi đá dẫn vào ngôi biệt thự vắng lặng, tôi rút điếu thuốc gắn lên môi và châm lửa. Cái không gian tĩnh mịch gợi tôi thèm hơi khói hơn là để trấn áp nhịp đập tăng dần của trái tim. Cửa chính đóng kín. Tôi lại nhấn chuông. Nắm tròn của khóa cửa chầm chậm xoay. Khi cửa mở rộng, tôi nhìn sững người đàn bà hấp dẫn tuổi chưa quá bốn mươi. Những đường nét nẩy nở mà thanh tú. Nụ cười vụt tắt thay cho tia mắt ngạc nhiên. Người đàn bà trách nhẹ:

– Sao lại mạo danh anh Tường. Lần sau đừng làm thế!

Tôi cười, tình thật:

– Sợ nói tên lạ, chị không cho vào.

– Cứ nói là bạn anh Tường Hải quân. Hoặc nói tên anh. Anh tên gì?

Bị hỏi bất ngờ tôi vọt miệng nhanh hơn tôi kịp nghĩ ra một tên giả:

– Bằng! Lê Vĩnh Bằng.

– Em của anh Tường?

– Không, trùng họ!

– Anh uống gì? Rượu, nước ngọt, cà phê?

– Chị cho một ly cà phê đen, nóng.

Người đàn bà bước nhịp nhàng đến chiếc bàn đủ loại ly tách. Tôi nhìn theo, nhủ thầm cần gì chọn ai khác. Một khối ngọc ngà kia rồi. Đến khi chị trao ly cà phê, tôi nói nửa đùa nửa thật:

– Chị khoe có quà đặc biệt cho anh Tường. Tôi đang thay mặt ảnh. Vậy chị cứ tự nhiên đưa cái đặc biệt… của chị cho tôi xem!

Người đàn bà nguýt dài:

– Ấm ớ vừa thôi nghe! Giỡn mặt là đến sao về vậy đó!

Nghe giọng kém vui, tôi hiểu là tôi đã đùa quá trớn cho lần đầu. Nhưng cần gì phải giữ kẽ ở chốn… lầu xanh, tôi nói chầm chậm:

– Hãy coi tôi như anh Tường, tôi được cái đặc biệt của chị thì chị cũng được… tiền đặc biệt.

Chị ngắm nghía tôi một lúc rồi nhoẻn miệng cười:

– Đúng là Hải quân, lỳ lợm như nhau. Thôi được, ngồi chờ một chút!

Tôi ngồi lên bộ sa lông êm ái, móc túi quần lôi ra gói thuốc lá. Tôi dụi tắt điếu đang hút và châm lửa điếu thứ hai. Nhân đặt gói thuốc lên bàn, tôi cầm tờ nhật báo lướt nhanh các tựa. Toàn tin tức bố ráp chùa chiền, bắt bớ chư tăng, biểu tình rầm rộ. Đàn áp thẳng tay. Những tin tức đáng buồn đó không thích hợp tâm trạng háo hức của tôi lúc này. Tôi vừa đọc lơ mơ vừa trách mình sao không nói thẳng là chọn… bà chủ để khỏi phải đợi chờ lâu lắc. Tôi ngước lên, hy vọng thấy người đàn bà hấp dẫn ngay trước mặt nhưng thay vào đó là một cô gái trẻ trung, tươi tắn đến không ngờ. Cô mặc nguyên bộ quần áo dài trắng mang dáng dấp nữ sinh. Cô nói, e ấp:

– Chào anh! Hân hạnh được biết anh.

Tôi đáp, có phần do dự:

– Chào cô. Vui được gặp cô.

Nói vậy mà không phải vậy. Tôi không vui. Các nơi bình dân khác cũng hay chơi cái trò “nữ sinh” này. Thì đàng nào cũng may mặc, tại sao không may mặc theo kiểu nữ sinh cho thêm phần… tâm lý! Đang ngỡ ngàng, tôi bị thêm một cú bồi bằng giọng của một tay chơi sành sỏi:

– Phải anh là lính, mời anh lên lầu!

Tôi nhìn gói Pall Mall nằm trên bàn. Cô vừa nói đùa mà cũng nói thiệt. Tuy vậy tôi vẫn ngồi yên ngắm nàng đang bước về phía thang lầu. Sao kỳ vậy? Ngay chính ở những ổ chuyên nghiệp, người ta cũng chưa hối thúc khách hàng như vậy. Gọi là biệt khu mà tôi chưa kịp nhấp một ngụm cà phê, chưa kịp rít vài ba hơi thuốc.

Thấy tôi vẫn ngồi yên, người đàn bà quyến rũ lên tiếng:

– Nhiều người tới đây sợ gặp người quen nên thường rút ngay vào buồng riêng. Như anh Tường chẳng hạn. Lỗi tại tôi dặn cô ấy chớ không phải do ý cô ấy. Chú em cứ mang theo cà phê, thuốc lá. Vào buồng, cứ nhởn nhơ. Giờ giấc thoải mái nhưng phải… lương thiện. Một nói một, hai nói hai. Không hài lòng cô này, tôi đổi ngay cô khác.

Tôi rùn vai, cầm ly cà phê, nhặt gói thuốc lá. Tôi đến đây là để thỏa mãn một nhu cầu. Ai chẳng được. Có điều xem ra không như… quảng cáo. Nhưng thôi lỡ rồi, đang nóng sốt, chẳng lẽ bỏ về. Tôi dứt khoát bước theo cô gái. Tiếng bà chủ lại cất cao từ phía sau:

– Khoan đã! Chú em tới lần đầu, cần nói rõ ràng về giá cả.

Tôi dừng ở bực thang lầu, quay lại. Bà chủ lên giọng đàn chị:

– Mỗi lần “đi” là một ngàn. Cứ thế mà tùy sức. Cả sức người lẫn sức của! Tôi không cần cái gọi là tiền đặc biệt chú em muốn dành cho tôi. Ngược lại, tôi giảm giá đặc biệt cho chú em như giá đặc biệt cho anh Tường. Giá bình thường là một ngàn. Giảm cho chú em hai trăm!

Tôi mỉm cười, bắt đầu thực sự thích thú vị chủ nhà. Bà ăn nói cũng… tiếu lâm đấy chứ! Tôi định đùa: “Với cô gái, giá tám trăm vẫn còn mắc. Nhưng với chị, chị khỏi bớt tôi cũng đi” nhưng tôi kềm lại được. Tôi ỡm ờ:

– Tôi cũng xin hỏi trước cho rõ ràng: Chị bớt như vậy là cho một lần “đi” hay lần nào cũng được bớt?

Bà chủ cười, nói như thách đố:

– Càng “đi” càng bớt!

Tôi bắt trớn bồi thêm:

– Nói thì nhớ nghe! Lần tới sẽ…“đi” chị.

Chị xụ mặt xuống, đe dọa:

– Tôi kêu chồng tôi là anh hết “đi” đó!

Tôi vọt theo cô gái lên lầu. Căn phòng rộng rãi, sạch sẽ, giường đôi, drap và bao gối trắng tinh. Có phòng tắm riêng cửa đang mở rộng phô bày bồn rửa mặt và búp sen kiểu hiện đại. Tôi khen thầm tiền nào của nấy. Nhưng quan trọng hơn hết, cái của trước mặt là đắt tiền nhất lại chưa rõ có thật đáng tiền. Biểu hiệu đầu tiên xem ra có phần khích lệ. Không như các cô khác làm nghề này, vào buồng là cởi quần cởi áo, vừa kích thích vừa thúc hối để được thêm giờ thêm khách, cô gái ngồi lên mép giường, cúi mặt lặng thinh. Tôi bước đến nâng nàng đứng lên, nhìn sâu vào mắt nàng. Nàng nhắm mắt tránh né. Kích thích từ đôi mắt đẹp, đôi môi tươi, thân thể thon nhã mà nở nang, tôi bắt đầu hôn lên môi lên cổ… Nàng đứng yên và từ tốn hưởng ứng. Rồi tôi từ từ lột nàng quần ngoài quần trong, rồi áo ngoài áo trong. Nàng yêu cầu tôi tắt đèn. Tôi hăm hở nhưng nàng dịu dàng. Tôi nôn nả mà nàng từ tốn.

Bằng vào những cử động xoay trở, bằng vào những vẻ e thẹn cố che dấu, tôi tin là nàng vào nghề chưa bao lâu. Nàng gần như không có một chút kinh nghiệm đàn ông. Nàng chỉ biết thụ động, bảo sao làm vậy hoặc xin khéo léo chối từ. Nhưng rõ ràng nàng như cục nam châm có cực âm cực mạnh đến độ biến tôi thành cực dương ngay phút đầu. Tôi nồng nàn ôm ấp nhưng nhẹ nhàng nâng niu. Nàng nhiệt cuồng bám víu mà ngượng ngùng hưởng ứng. Rồi đến một lúc chính nàng vô cùng hăm hở. Chính lúc đó tôi nghe giọng nàng thảng thốt: “Chắc em có mang với anh quá!” Tôi trấn an nàng trong cơn thúc hối: “Đừng nói khùng!” …

Nàng chạy ngay vào buồng tắm khi tôi lật ngang, nằm ngửa thở dốc. Tôi vói tay rút một điếu thuốc, bật lửa. Khói bay lên cây quạt trần bất động giao phần việc cho cái máy lạnh tỏa hơi vừa đủ mát. Rồi tôi bỗng thoáng nhớ rằng tôi đã nói câu trên một lần, đâu đó…Đúng rồi, tôi đã có nói từ thuở học trò. Đêm vĩnh viễn rời xa ngôi trường vì hết lớp, tôi rủ Tuyết lang thang xuống bãi biển. Bãi biển vắng, chúng tôi mắc sức hôn hít nâng niu. Chợt Tuyết xô tôi ra hốt hoảng: “Anh! Em sợ có mang”. Tôi cười ngất: “Đừng nói khùng. Chỉ ôm ấp … sơ sơ thì có mang có miết gì được!”. “Nhưng mạ nói trai gái gần nhau là có mang”. Tuyết của tôi ngày xưa dại khờ, ngu ngơ thế đó. Còn Tuyết bây giờ, xem ra chững chạc, rành đời. Và hiện giờ, Tuyết và Tâm có đang làm những gì tôi đã làm với cô gái này?

Tôi nghe tiếng nước xối xả trong nhà tắm và nghe cảm giác buồn buồn. Bỗng dưng tôi buông tiếng thở dài. Cô gái này, biết đâu đã gặp một vấn nạn còn đau thương hơn cả trường hợp của Tuyết? Một tai nạn xảy ra và Tuyết mất tất cả, khiến cuộc đời trâm anh phải lận đận lao đao. Cái kiểu cách của cô gái này xem ra cũng từ một gia đình nề nếp. Tôi thoáng thấy dáng nàng bước khỏi buồng tắm đi về phía cửa. Căn phòng bật sáng choang. Cô gái vẩy tay chào, hiện trở lại bộ cánh nữ sinh e ấp. Tôi hối hả nói:

– Khoan đã! Anh muốn gần em thêm vài phút…

Cô cười buồn:

– Để làm gì? Anh muốn mất thêm tám trăm?

Tôi bật cười:

– Anh sẵn sàng mất sạch túi!

Nàng bước đến ngồi lên giường, cúi hôn vào môi tôi thật lâu. Rồi nàng đứng lên, nói bằng giọng luyến tiếc mà dứt khoát:

– Em rất tiếc là không thể. Nếu anh có thực ý, xin trở lại ngày mai cũng giờ này…

Tôi thở dài thườn thượt:

– Ngày mai anh bị trực.

– Thì ngày mốt!

– Ngày mốt anh bị cấm trại.

Cô gái vạch cổ tay nhìn đồng hồ:

– Anh có mười lăm phút.

– Anh muốn suốt đêm…

Nàng nhìn sững:

– Đừng đùa anh. Đây là ngày đầu của em mà ở đây cũng không chứa khách qua đêm!

– Thì đi nơi khác.

– Bố ráp khắp nơi. Đi đâu!

– Chỉ bố ráp ở chùa. Phòng ngủ, miễn.

Nàng lại cúi xuống hôn tôi thắm thiết, thì thào:

– Có lẽ em bắt đầu yêu anh. Em ra về trước. Anh đừng nói gì với bà chủ. Bây giờ, là ba giờ. Gặp em ở rạp Rex lúc 7 giờ.

Tôi ôm chặt nàng, nói khẻ:

– Lâu quá!

– Tội nghiệp em mà! Đúng 7 giờ…

– Em tên gì?

– Gặp lại, em sẽ nói tên thực.

Chúng tôi hôn thêm nụ hôn tạm biệt đắm say. Trong lúc hôn, tôi đưa tay vói lấy cái bóp trong túi quần vứt ở góc giường. Tôi kéo ra tờ hai trăm. Khi nàng nhả tôi ra, tôi nói:

– Lúc nãy bà chủ có giảm giá do quen biết. Anh tặng lại em…

Cô gái cúi nhìn hai trăm rồi trừng mắt:

– Em không lấy! Và cả đêm nay cũng không…

Nàng đi thẳng ra cửa, không ngoái lại. Đợi cửa đóng hẳn, tôi phóng vào nhà tắm, tẩy rửa thật sạch. Dù có lời “bảo đảm”, tôi vẫn cẩn tắc vô ưu, thà phòng bệnh hơn trị bệnh. Lau mình khô, tôi quấn chiếc khăn tắm màu trắng mềm mại quanh người bước ra ngồi lên chiếc ghế nệm nhỏ cạnh chiếc tủ đầu giường. Bây giờ tôi mới có dịp nhìn quanh căn phòng. Tường và trần đều sơn màu trắng tinh khiết. Và một khung tranh khá lớn trên vách đối diện vách kê giường đôi. Bức tranh trông quen quá. Không phải tranh, chỉ là hình chụp bức tranh. Bức Starry Night của Vincent Van Gogh. À há, bà chủ còn là một tay… bí ẩn đáng tìm hiểu đây! Tôi uống cạn ly cà phê mà tôi biết đêm nay tôi cần nó.

Tôi mặc lại áo quần, nhặt cái bóp lăn lóc trên giường cầm luôn trong tay đi xuống thang lầu. Tôi đếm đủ tám trăm đưa bà chủ. Chị không được vui:

– Sao về nhanh vậy? Nếu không hài lòng, tôi kêu cô khác?

– Cám ơn chị, quá hài lòng! Nhưng chắc hài lòng hơn nếu… là chị!

– Nham nhở! Về đi! Bữa khác tới nghe!

– Nếu chị hứa dắt tôi vào… buồng giải thích cái đẹp của bức tranh…

Chị xua tay như đuổi tà ma:

– Cút đi cha nội non! Dai như đỉa đói!

Tôi cười bước nhanh ra cổng. Dừng lại đốt điếu thuốc, tôi quyết định: “Chỗ quen biết” của Vĩnh Tường nhứt định phải thành “chỗ quen biết” của Vĩnh Bằng”. Khi đứng đón taxi, tôi phân vân không biết về đâu. Tôi còn đến ba tiếng thênh thang mới tới giờ hẹn. Tôi bỗng nhớ Hiền da diết. Cái cớ rất hấp dẫn để tôi đến gặp nàng mà không thẹn với lòng là lâu rồi tôi chưa gặp… anh nàng. Nhưng khi lên taxi, tôi lại bảo đưa đến nhà Tuyết. Đến nhà Tuyết, tôi không cần lý do. Tôi chưa có lời vĩnh biệt Tuyết. Tôi chỉ muốn biết khi tôi nhấn chuông, thời gian sẽ mất bao lâu cho cửa nhà Tuyết rộng mở. Ơ hay! Mày đang ghen hả Bằng?

Và bất ngờ trong một phút giây sáng suốt nhất tôi nhận ra rằng tôi còn có một người đẹp chờ tôi ở Rex. Xem phim là đam mê của tôi. Rex là rạp tôi ưa thích. Và cũng lâu rồi chưa trở lại nơi này. Sao tôi lại dại dột không chui vào chốn ưa thích để thỏa mãn nỗi đam mê mà khi trở ra đã thấy nàng đang đứng đợi? Và là của riêng tôi suốt đêm.

Tôi nói với ông tài xế bằng giọng lịch sự nhất:

– Xin lỗi bác tài. Nhờ bác đổi hướng về rạp Rex.

***


Chương 9


Không có gì bịn rịn nhưng cũng mãi đến hơn 7 giờ sáng tôi mới rời được cô gái. Rất may, khi về đến tàu, tôi vẫn còn vài phút để thay vào bộ quân phục trước giờ điểm danh. Tôi cùng trung úy Hải lên lòng tàu đứng đối diện hàng quân. Ông quản nội trưởng báo cáo quân số hiện diện, số người vắng mặt có lý do. Trung úy Hải chìa tay ra thay cho lời bàn giao phiên trực. Tôi chào trước khi nắm bắt như một biểu lộ tiếp nhận trách nhiệm.

Phần vụ của sĩ quan trực là giải quyết các sự việc xảy ra bất thường trong ngày và khẩn thiết trong đêm, vì vậy khó mà biết trước ngày đó sĩ quan trực khỏe hay mệt. Nhưng hôm nay tôi biết trước là tôi sẽ có một ngày rất mệt. Suốt tối qua tôi đã nổ lực vượt bực, chỉ còn hy vọng đủ sức cho công việc bình thường. Phải làm thêm việc bất thường với khẩn thiết thì khó mà kham nổi cho đến giờ… leo lên giường.

Tôi cố giữ bước đi tự nhiên vào nhà bếp xem qua việc dọn dẹp chùi rửa. Trở ra lòng tàu, tôi “làm một vòng” từ lái ra mũi, quan sát việc làm từng nhân viên. Công việc thì vẫn như lệ thường khi tàu về bến: Tu bổ súng, gõ sét, sơn lót, làm vệ sinh… Gần chín giờ tôi leo lên hạm kiều chờ đón hạm trưởng về tàu. Chào đón xong, tôi theo ông xuống phòng làm việc để tề tựu cùng các sĩ quan khác báo cáo nhật vụ và nhận chỉ thị mới. Thật là may, không có việc đặc biệt cho tôi. Càng may mắn hơn là đêm qua ông không làm thơ, hay có mà ông quên đọc. Nghe ông bàn công việc tôi đã cứ phải chống mi mắt lên. Ông mà đọc thêm thơ nữa thì chắc chắn tôi không thể tránh khỏi thất lễ với ông.

Thông thường, có hai nơi cần sự hiện diện của sĩ quan trực. Đó là hạm kiều và phòng làm việc. Nhưng hôm nay tôi muốn lánh xa phòng làm việc. Ông hạm trưởng vừa bước vào buồng riêng là tôi đứng lên ngay. Tôi mà tiếp tục ngồi thì đố khỏi tiếng ngáy sẽ phát ra trước khi tròn một phút. Tôi lên đứng cạnh hạm kiều. Đây là nơi thích hợp nhất cho sĩ quan trực,vừa có thể kiểm soát bao quát việc làm, vừa có người trò chuyện, lại vừa có thể tiễn hạm trưởng rời tàu bất kỳ giờ phút nào. Chào tiễn hạm trưởng cũng là phần nhiệm của sĩ quan trực có ghi trong huấn thị điều hành. Vì vậy sơ sót có thể lãnh củ. Việc đón hạm trưởng “về tàu” tương đối dễ hơn là việc tiễn ông “rời tàu”. Khi ông đến, vừa lúc ông quẹo chiếc Vespa vào cầu tàu, người hạ sĩ quan hoặc nhân viên trực hạm kiều nhấc ngay ống liên hợp thông báo qua hệ thống phóng thanh: “Hạm trưởng sắp về tàu”. Sĩ quan trực, dù đang ở nơi nào, cũng nghe được và có đủ thì giờ có mặt chào ông. Nhưng khi ông rời tàu, sĩ quan trực có nghe lời thông báo thì cũng đành chào thua! Ông lên hạm kiều, không thấy sĩ quan trực, ông vẫn rời tàu. Hạ sĩ quan trực thay mặt chào tiễn ông. Khi ông hạ sĩ quan trực cầm được máy để thông báo thì có nghĩa Hạm trưởng đã rời tàu, khuất dạng. Thành thử để chắc ăn, sĩ quan trực thường lảng vảng ở hạm kiều khi cờ hạm trưởng còn bay phất phới. Với Hạm trưởng dễ tánh, sĩ quan trực chỉ bị cảnh cáo. Với vị thích nguyên tắc, quân kỷ được áp dụng.

Tôi đang đứng nói ba điều bốn chuyện với nhân viên trực thì hạm trưởng xuất hiện. Tôi chào tiễn chân ông và ghi vào sổ hạm kiều: “1100H: Hạm trưởng rời tàu, liên lạc Hải quân công xưởng”. Ghi xong, tôi lại vào nhà bếp coi qua việc nấu nướng rồi đến phòng ăn đoàn viên kiểm soát mức độ sạch sẽ. Sau đó lại trở ra lòng tàu làm nhiệm vụ sĩ quan trực. Đúng ngọ, anh chiêu đãi viên mời tôi xuống dùng cơm. Tôi quá rã rời, chỉ muốn nằm ngủ nhưng thấy hạm phó và Tâm có vẻ đang chờ nên tôi miễn cưỡng vào ngồi. Hào nói ngay:

– Từ sáng đến giờ hạm phó cứ mong đến giờ ăn để được nghe báo cáo kết quả … ủi bãi!

Tâm cũng hí hửng ra mặt:

– Tôi cũng thế! Ông Bằng ơi, bãi thế nào?

Hỏi gì mà cắt cớ! Ba cái vụ này làm sao mà tả! Phải tự ủi bãi mà khám phá chứ! Nhưng chợt hai câu thơ hiện cùng một lúc. Tôi tuôn ra luôn không chọn lựa:

Cỏ non xanh rợn chân trời. Và cỏ gà lún phún leo quanh mép!

Tâm cười ngất:

– Hấp dẫn thật!

Hào trố mắt, phản đối:

– Hấp dẫn cái con khỉ! Khó hiểu thì có. Không thể “xanh rợn” mà lại “lún phún”!

Tôi cười, cơn buồn ngủ tiêu tan:

– Hạm phó thay chữ “xanh rợn” bằng chữ “cỏ non” xem sao!

– Cỏ non, lún phún! A, hấp dẫn thiệt chứ! Còn việc… an toàn?

– Phải đợi vài bữa không… uống cà phê đen đái ra cà phê sữa, mới biết!

Giọng Hào nôn nóng:

– Tối nay tôi có ý định đến đó. Nhờ cụ mô tả … nội vụ rõ hơn!

Hào dùng từ “cụ” của ông phó Đắc thay vì dùng “anh” với tôi như trước đây. Tôi cảm nhận cái thân tình Hào dành cho nhưng tôi nghĩ không nên nói hết “nội vụ” diễn ra suốt hôm qua. Dù “đối tác” không dặn dò gì nhưng tôi vẫn nghĩ đó là những thố lộ riêng tư cần giữ kín.

– Sao? Bắt đầu đi chứ!

Tôi chầm chậm kể lại mọi chuyện từ lúc tôi “đột nhập” ngôi biệt thự cho đến khi về, trừ phần hẹn nhau buổi tối. Tâm có lúc vổ bàn khoái chí, có lúc cười rộ, có lúc mặt nghệch ra. Hào thỉnh thoảng chỉ mỉm cười. Tôi vừa kể dứt là hạm phó phán ngay:

– Có thể là “em mới”. Mới từ quê lên chứ nữ sinh cái quái gì! Mánh lới của bà chủ để lấy cao giá thôi.

Tôi định phản đối nhưng biết là mình khó thuyết phục. Phần có thể thuyết phục được lại nằm ở phần qua đêm. Đêm qua nàng thổ lộ đó là lần đầu nàng đến ngôi biệt thự và gặp tôi là người đầu tiên. Bà chủ đã “dặn dò” các tình huống xấu mà nàng có thể gặp phải ở mỗi người khách và dạy luôn cách ứng xử. Trong mọi trường hợp nàng có quyền… chạy làng! Nàng gặp tôi trong bao nỗi lo âu. Nhưng buổi đầu của nàng đã diễn ra ngoài mong ước. Theo dạy dỗ, nàng phải cưỡng lại mê đắm nhưng nàng không thể không buông xuôi… Cũng vì vậy nàng muốn tặng không cho tôi một đêm để đền ơn. Và giữa những yêu đương cuồng nhiệt, nàng thố lộ về gia cảnh của mình. Nàng kể một cách tự nhiên như tôi đã là người thân thương nhất đời nàng.

Vài tháng trước nàng gặp hai cái rủi gần như đồng thời. Đầu tiên, nàng bị người tình sinh viên bỏ rơi. Kế đến ba nàng bị bắt trong đêm chính quyền bố ráp chùa Xá Lợi và đến nay vẫn chưa thấy về. Mẹ thì không việc làm và ba đứa em thì còn đi học. Nàng thì không còn trinh trắng nhưng tương lai thì thênh thang. Cho nên nàng không thấy con đường nào thuận lợi hơn con đường nàng chọn. Nó giúp nàng vừa có tiền vừa có thì giờ tiếp tục y khoa. Nàng hy vọng cha được thả sớm để nàng quay về cuộc sống bình thường. Tôi im lặng nghe, sự im lặng chìm lắng đến độ nàng ngờ là tôi không tin. Thế là nàng cho tôi xem thẻ sinh viên. Tấm thẻ cho thấy nàng thực sự đang theo học y khoa năm thứ nhất. Tôi nổi máu anh hùng móc bóp chia hai số tiền tôi đang có nhưng nàng quyết liệt từ chối. Nàng bảo lấy làm gì cho tôi phải túng thiếu mà nàng cũng không sao thoát khỏi con đường định mệnh. Nàng nói thời trung học nàng rất mê truyện Kiều và tin rằng vì nàng không đẹp nên kiếp đoạn trường sẽ chẳng bao lâu. Tôi bảo tôi tin cơn hoạn nạn của nàng sẽ chóng qua nhưng lại chỉ dám nghĩ thầm là nàng còn “sắc sảo” hơn cả Kiều.

Giọng Hào nóng nảy:

– Nếu tối nay tôi đến, muốn gặp cô đó, hỏi tên gì?

Tôi moi óc. Bà chủ không giới thiệu. Nàng cũng chẳng bao giờ xưng tên. Tôi còn nhớ tên trong thẻ sinh viên là Lưu Ngọc Anh nhưng chắc chắn nàng không dùng tên thật để “hành nghề”. Tôi nói:

– Tôi quên hỏi. Hạm phó cứ bảo bà chủ cho gặp cô hôm qua giới thiệu cho Vĩnh Bằng. Bà có hỏi thêm Vĩnh Bằng là ai thì bảo là bạn của Vĩnh Tường Hải quân.

– Còn nhiều cô khác?

– Có thể lắm. Riêng trên lầu đã thấy bốn cửa buồng. Chỗ này vắng vẻ, yên tịnh và chơi đẹp. Hạm phó không thích cô này bà chủ thay cô khác. Riêng cá nhân tôi, khi đến, ngay phút đầu tôi đã chọn bà chủ nhưng bà cứ nhất định… bán cái!

– Bà chủ ngon lắm hả!

– Hơn cả ngon, rất tuyệt! Nhưng có vẻ như chỉ “dành riêng” cho cựu hạm phó!

Hào cười hỉ hả:

– Cựu hạm phó lấy vợ thì có tân hạm phó độc thân. Hạm phó nào cũng ngon như nhau thôi!

Chúng tôi cùng cười vang. Tôi cầm đũa gắp miếng rau muống xào. Hương vị nhạt phèo gợi tôi thèm hương vị tô phở ban sáng trước khi chia tay. Và đồng thời gợi nhớ thân thể thơm tho của nàng…

Sau cơm tối, từ 8 giờ, tôi ngủ vùi cho tới giờ cơm trưa kế tiếp. Bàn ăn hiện diện đủ năm sĩ quan là Hào, Hải, Được, Tâm và tôi. Hào kể chuyện hôm qua đến “chỗ quen biết”. Cả bốn bàn qua tán lại, nói cười vang rân. Khi biết Hào gặp một cô gái khác, tôi không còn quan tâm lắng nghe. Người còn nhiều mỏi mệt, tôi lặng thinh nhai và nuốt. Nhưng đầu thì tính toán hướng xuất hành. Hạm trưởng tiếp tục thông cảm cho chia phân đội đi bờ. Tôi lại được tự do nửa ngày với trọn một đêm. Tôi sẽ làm gì cho hết quãng thời gian quý báu từ giờ phút này? Trở lại “chỗ quen biết” và gặp lại Lưu Ngọc Anh? Hay đòi cho được … bà chủ? Không, tôi không còn thấy hứng thú. Trở lại không chỉ phí phạm thêm nhân lực mà còn phí phạm thêm cả tài lực! Bà chủ vẫn còn đó, dăm ba bữa tính tới! Hay đi ăn kem, uống cà phê? Rồi về tàu ngủ tiếp? Không tệ!

Tâm đột ngột quay sang tôi:

– Tuyết nói mày đến chơi. Tối nay!

– Tối nay? Tối nay là thứ năm, đâu phải thứ ba!

Tâm hất mặt:

– Dành riêng cho mày!

Tôi nhìn Tâm không chớp mắt. Gương mặt Tâm tươi vui, không nét biểu lộ trêu chọc hay đùa cợt. Anh cười hồn nhiên:

– Ê, tao vô tội! Tuyết không thấy mày, yêu cầu tao nhắn mày. Và tao làm theo. Chấm hết!

– Mày không nói là tao không muốn gặp lại nàng?

– Hoàn toàn không!

Tôi khoát tay, ậm ừ:

– Mà có nói hay không, cũng vậy thôi. Tao đã nói không đến là không đến!

Tâm nhìn đĩa thức ăn:

– Tại sao mày không đích thân nói với Tuyết, tối nay?

Tâm nói đúng. Tại sao tôi không nói thẳng lời chia tay với Tuyết như đã nói với Hiền? Tâm đã thổ lộ ý muốn cưới Tuyết. Tuyết không che dấu tình yêu của nàng dành cho tôi. Tại sao tôi không có lời dứt khoát để Tuyết khỏi phải ray rứt làm người phụ bạc? Tại sao không minh bạch một lần với sự hiện diện của cả ba? Tôi nói:

– Tao đến với điều kiện là mày cùng đi.

– Tao nghĩ là mày nên đến một mình.

– Tuyết có nói rõ ràng là chỉ muốn gặp riêng tao?

– Không! Tuyết chỉ nói nếu mày có thể đi được, tối nay. Tuyết sẽ chờ.

– Vậy thì mày phải đi với tao. Tao muốn nói lời dứt khoát với Tuyết trước mặt mày.

– Để làm gì? Cũng chả giúp ích được gì! Hôm kia tao có gợi ý muốn cưới Tuyết thì nàng bảo rất cám ơn. Nàng đã hết còn ao ước được làm vợ hoặc tao hoặc mày. Người đẹp chỉ còn muốn được làm bạn cả hai.

Tôi không ngăn được tiếng cười. Thói thường, khi không còn yêu một người nào đó, người ta chuyển thành bạn. Đàng này Tuyết yêu cùng lúc cả hai và cùng lúc chuyển cả hai thành bạn. Một điều bất bình thường. Tâm bịa chuyện để đùa cho vui chăng? Nhưng Tâm không có cái tài này. Và nếu thật vậy thì có gì phải gấp gáp. Tình bạn chớ có phải tình yêu đâu mà cần liền tối nay. Hơn nữa, nếu quả thật Tuyết muốn coi tôi như bạn thì tôi lại càng không nên đến. Tôi biết chắc rằng khi gần Tuyết, gần mùi hương da thịt từng đã dính vào tế bào của tôi, tôi không tài nào đáp ứng bằng tình bạn.

Tình bạn! Tình bạn! Cái từ gợi tôi một tình bạn chân thành. Một tình bạn mà lâu nay tôi bỏ quên. Tệ hại hơn, tôi cũng… bỏ quên cả ba mẹ người bạn đó mà lúc nào cũng dành cho tôi đầy thương yêu chăm sóc. Phải rồi, thay vì đến Tuyết, thay vì ra quán cà phê, tôi nên dành một buổi để trở về mái nhà xưa. Ngẫm nghĩ, tôi ngạc nhiên biết bao khi thấy cái ý muốn về lại nhà Dũng không mảy may bị thúc đẩy bởi lòng nhớ thương Hiền. Tôi vui mừng đã không nghĩ tới Hiền trong mấy ngày qua. Nhưng khi nói với Tâm, tôi mượn Hiền như một cái cớ chính đáng:

– Tao nhất định không đến nhà Tuyết tối nay chỉ vì tình bạn. Mày có đồng ý với tao là thăm bạn không quan trọng bằng thăm người yêu? Vậy tao lấy làm tiếc mà nói rằng, trọn buổi chiều và tối nay tao sẽ dành cho Hiền. Tối nay mày hãy đến với Tuyết và nói dùm rằng tao sẽ gặp người bạn mới vào một ngày khác.

Tôi nhấn chuông nhà Hiền. Nhà Hiền trước đây từng cũng là nhà tôi, nơi tôi trọ học. Vậy mà giờ đây trở về căn nhà xưa tôi lại băn khoăn hồi hộp. Tôi mong người mở cửa không phải là Hiền. Nếu là Hiền, có thể tôi không ngăn được ước muốn ôm lấy nàng. Người ra mở cửa là mẹ Hiền. Vừa thấy tôi bà mừng rỡ mà trách móc:

– Sao lâu quá con không về? Cứ vài ngày là Dũng hỏi thăm con có về không. Còn Hiền thì giận con từ ngày nó nấu cơm rồi chờ con mãi. Tôi nói lấp liếm:

– Con cũng muốn về nhưng bữa đó tàu đi công tác bất thường. Rồi lại bị cấm trại liên miên. Con cũng nhớ hai bác lắm.

Bà thở dài:

– Thời cuộc lộn xộn quá. Vào chùa nghe sư giảng thì thấy chính quyền không thỏa mãn yêu sách của Phật giáo. Về nhà nghe radio thì ông Diệm bảo là ông đã thỏa mãn cho Phật giáo treo cờ. Nhưng các Thầy là người tu hành, bác tin ở các Thầy.

Tôi không nắm vững tình hình nên chỉ biết lặng thinh. Bà cụ tiếp:

– Thằng Dũng đang đi biểu tình. Hiền thì chở ba nó đi bác sĩ.

– Thưa bác trai đau gì thế, thưa bác?

– Ông ấy kêu đau ở ngực, khó thở, ho nhiều. Con ở lại ăn tối nghe.

Tôi liếm môi ra vẻ thèm thuồng:

– Con rất nhớ các món bác nấu.

Bà bảo:

– Con lên lầu nghỉ đi. Trông con gầy và đen nhiều.

Tôi lột giày đi thẳng đến thang lầu được nối kết góc vuông bằng các đoạn nghiêng tựa sát bốn vách của một hình khối thẳng đứng. Đỉnh của khối nằm trên sân thượng được che mưa bằng một mái mica trong suốt. Khối vuông chia mỗi tầng tòa nhà thành hai phần. Phần trước rộng gấp đôi phần sau và mỗi phần nối nhau bằng một hành lang. Tầng trệt, phía trước là phòng khách và phòng ăn, phía sau là nhà bếp.

Màu xanh nhạt bóng láng của các miếng gạch xôn xao khi tôi bước như chạy lên sân thượng. Từng hai dành cho ba mẹ Hiền. Phần trước là nơi ông bà thù tiếp bạn bè. Phần sau là buồng ngủ. Tầng ba, Hiền chiếm phần sau. Một cửa sổ khá lớn được mở ra nhận ánh sáng ban ngày từ khối vuông hình trụ. Nhưng dù ngày hay đêm –nhờ ánh đèn- từ sân thượng nhìn xuống tôi có thể bắt gặp nàng đang học bài hay đang âu yếm với Thanh. Phần trước dành cho Dũng nhưng Dũng thường lên sân thượng học bài với tôi và có khi ngủ lại. Toàn bộ sân thượng là giang sơn riêng của tôi. Ngay giữa là căn nhà tiền chế đủ rộng cho một bộ phản đôi và một bàn học cho bốn người.

Tôi bước vào thế giới học trò của tôi ngày nào. Chiếc chiếu vàng úa nhưng sạch sẽ. Hai chiếc gối có bao trắng kẻ ô nâu chữ nhật. Bàn viết của tôi vẫn y nguyên sách vở cũ trừ quyển tiểu thuyết Z 28 đang mở đôi để úp là mới lạ.

Tôi ngồi lên bộ phản. Mãi đến bây giờ tôi mới để ý đến độ cứng của nó sau khi quen với chiếc giường nệm êm ái dưới tàu. Như có một lực nào đó kéo tôi nằm xuống. Lưng tôi lấn cấn khó chịu. Mình chọn Hải quân xem ra rất hợp lý hợp tình và đúng lúc. Nếu tiếp tục ở đây học, cho tới hôm nay tôi vẫn ngủ trên bộ phản gỗ cứng như sắt này và tôi vẫn chưa nghề chưa nghiệp. Bây giờ tôi đã là một thiếu úy Hải quân, không chỉ là một người chịu đựng được sóng gió mà còn có khả năng đưa con tàu vượt qua sóng gió. Tôi cũng đã một lần vào sinh ra tử mà cái chết đúng là nhẹ tựa lông hồng. Tôi hãnh diện thấy tôi lớn hơn, dày dạn hơn hẳn Dũng và Thanh. Tôi mỉm cười và chìm vào giấc ngủ.

– Hê Bằng, đi đâu biệt tích?

Tiếng Dũng vang lên, mừng rở. Tôi ngồi bật dậy. Chúng tôi ôm choàng lấy nhau. Dũng buông tôi ra, lắc đầu nói:

– Mày xuống tàu như mang theo cái êm ả của Sài Gòn. Ngày nào cũng rầm rộ biểu tình, ngày nào cũng dùi cui vung xích chó. Tao mới về từ chùa Xá Lợi. Cảnh sát dã chiến vẫn vây kín chùa. Nhưng họ sẽ không bao giờ ngăn được các cuộc biểu tình, không bao giờ chận được các Thầy tự thiêu. Tổng số các Thầy tự thiêu đã lên cả chục rồi mày biết không?

Tôi biết có những vụ tự thiêu nhưng không ngờ là nhiều như vậy. Tôi lặng thinh và Dũng lại tiếp:

– Các trường đại học và trung học đều bãi khóa. Các giáo sư từ chức. Vậy mà ông Diệm vẫn dửng dưng, tiếp tục cho đàn áp, bắt bớ, giết hại. Mấy lần tao suýt bị bắt. Mà mày đi tàu thì biết cái gì! Suốt ngày chỉ biết trời trăng mây nước…

Tôi phản đối:

– Dù không theo sát nhưng có biết vụ lộn xộn này.

Dũng cao giọng:

– Ai bảo đây là vụ lộn xộn? Mày nhìn sự việc thế nào mà ăn nói lơ mơ vậy?

Trước đây thỉnh thoảng tôi và Dũng vẫn tranh luận về bất cứ vấn đề gì không cùng một ý. Tranh luận có khi dữ dội cho đến khi vấn đề được sáng tỏ hoặc sau khi nhiều góc cạnh được xét tới mà chưa hề đi đến giận nhau. Tôi nói:

– Tao dùng cái từ lộn xộn là ý thế này. Tuần đầu tháng năm, Huế biểu tình đòi ông Diệm hủy bỏ lịnh cấm treo cờ Phật giáo. Một biến cố xảy ra làm nhiều người chết. Phật giáo bảo chính quyền bắn vào đám đông. Chính quyền bảo Việt cộng ném lựu đạn gây chia rẽ. Thế rồi tháng sáu biểu tình lan đến Sài Gòn và càng lan rộng sau vụ tự thiêu của hòa thượng Thích Quảng Đức. Chính quyền bảo đã cho treo cờ. Phật giáo bảo nói vậy mà không phải vậy. Tháng bảy dùi cui giải tán biểu tình. Tháng tám, tháng chín thêm nhiều nhà sư tự thiêu. Chùa chiền bị lục soát, sư sãi bị bắt giam. Học sinh, sinh viên bãi khóa. Hàng loạt giáo sư từ chức. Tháng mười, cảnh sát bắn chết một nữ sinh dự biểu tình ở chợ Bến Thành. Và thêm một nhà sư tự thiệu cũng tại nơi này. Thời cuộc tùm lum như vậy không gọi lộn xộn thì gọi là gì?

Tiếng Dũng bực bội:

– Phải dùng từ nghiêm túc cho một chuyện nghiêm trọng. Đây là cuộc đấu tranh chống kỳ thị tôn giáo, chống bắt bớ, bắn giết sư sãi của chính quyền. Một việc làm chính đáng chớ không phải một vụ lộn xộn.

Tôi thành thật:

– Tao nghe nói Phật giáo bị Cộng sản giật dây.

– Thì luận điệu của chính quyền. Họ chỉ muốn viện cớ tiêu diệt Phật giáo.

– Tiêu diệt Phật giáo? Để làm gì?

Dũng tỏ ra thêm bực bội, to tiếng:

– Mày chả biết gì hết! Ông Diệm theo đạo Thiên Chúa và muốn đạo này trở thành quốc giáo. Vì vậy phải tiêu diệt Phật giáo.

Tôi mới nghe lần đầu. Tôi hỏi Dũng tin này xuất phát từ đâu. Dũng bảo ai cũng biết… trừ tôi. Tôi bảo khó tin và cũng khó hiểu. Dũng bảo tôi bênh chính quyền. Tôi khẳng định:

– Dân mình có đến chín mươi phần trăm không theo Phật giáo thì cũng theo Hòa Hảo, Cao Đài và đạo thờ cúng tổ tiên. Ông Diệm có gan trời cũng không dám đưa đạo Thiên Chúa lên quốc giáo.

Bị cấm bàn chính trị dưới tàu, tôi nhân dịp này khích tướng cho Dũng huỵch tẹt để hiểu thêm tình hình. Chúng tôi còn lời qua tiếng lại thì Hiền xuất hiện. Tôi nói với Dũng quả tình là tôi không theo sát thời cuộc vì công tác liên miên. Nhưng bất kể ai đúng ai sai tôi cũng mong… vụ lộn xộn này sớm chấm dứt. Dũng đưa nắm tay lên trước mặt tôi rồi cười khì xuống lầu.

Hiền đứng yên ở đầu cầu thang, khoanh tay nghinh tôi. Cặp mắt mí đôi mở to trên khuôn mặt sáng rỡ dỗi hờn. Hiền có vẻ gầy hơn trong chiếc pullover tay ngắn và chiếc quần jean bó sát. Tôi nói khẻ:

– Chào Hiền.

Hiền thong thả tiến đến tôi, hôn nhẹ vào má tôi và cất giọng êm đềm:

– Mừng anh trở về. Hiền luôn luôn tin là anh sẽ trở về.

Tôi không muốn vướng sâu vào những lời kế tiếp có thể là đầy tình cảm. Tôi hỏi:

– Nghe Hiền đưa bác đi bác sĩ, kết quả ra sao?

– Cảm thường thôi anh ạ. Hú vía!

– Để anh xuống chào bác.

– Hiền thấy mẹ đang nấu các món anh thích. Anh ở lại qua đêm nghe? Khuya khuya Hiền sẽ hát tặng anh những bản nhạc anh thích. Vắng anh, Hiền thường hát gửi theo mây gió tới anh. Anh Dũng khen Hiền hát bản Tình Nhớ hay hơn cả…

– Thanh là người đàn?

Hiền giẫy nẩy:

– Thanh! Lúc nào cũng Thanh! Phải chi anh hiểu cho rằng Hiền đã học được bài học đắng cay về cái cách trả thù ngu dại của mình. Và Hiền đã chấm dứt việc lợi dụng anh Thanh. Anh Dũng đàn cho Hiền hát.

Tôi không ngăn được lời xỉa xói:

– Chấm dứt bằng cách nào? Đang nồng nàn mà cúp ngang xương dễ dàng vậy được sao?

– Hiền nói là Hiền bận học thi, Hiền nói là Hiền bận nhớ anh…

Tôi kêu lên:

– Đừng làm thế, Hiền. Coi chừng lại phải học thêm bài học đắng cay. Cái kiểu chọc anh cho tức để anh gần Hiền và rồi chọc cho Thanh giận để Thanh xa Hiền đều đưa đến kết quả trái ngược. Thanh lại càng muốn gần Hiền cũng như anh càng muốn xa Hiền! Hãy thật lòng với nhau…

– Hiền lập lại lời đã nói. Rất thật lòng: Hiền yêu anh!

Tôi xua tay:

– Gần nửa năm xa Hiền, thoạt đầu anh nhớ da diết nhưng rồi cũng quên dần. Hôm nay anh trở về như là một người thân trong gia đình. Hãy coi anh là … anh!

– Hiền hứa sẽ chuộc sai lầm của mình. Hiền sẽ không còn làm anh khổ! Hiền sẽ mang hạnh phúc đến cho anh.

Tôi nhìn ánh mặt trời tỏa sáng sau một tòa nhà vươn cao:

– Như đã có lần anh nói, anh không thể vui khi thấy Thanh buồn khổ. Anh từng trải qua buồn khổ…

Hiền nhăn mặt:

– Còn Hiền buồn khổ thì anh thấy vui?

– Hiện tại lòng anh thấy rất bình yên và anh muốn được mãi như vậy!

– Hay là anh đang yêu ai khác? Sáu tháng qua anh ghé bao nhiêu bến bao nhiêu bờ! Dễ gì Hiền được cái hân hạnh anh dùng toàn thời gian đó để nhớ Hiền như Hiền nhớ anh!

Tôi cười buồn:

– Đúng ra anh đã dùng toàn thời gian đó để tập… quên Hiền. Và anh đã thành công.

Hiền vồ lấy tôi, hôn vào môi tôi. Tôi đẩy Hiền ra nhưng nhỏ nhẹ nói:

– Hiền ẩu quá! Dũng có thể thấy.

– Anh Dũng biết Hiền yêu anh. Ba mẹ biết Hiền yêu anh. Tất cả hài lòng khi thấy em chọn anh…

Tôi lững thững bước lại cầu thang rồi ngoái lại nói:

– Anh xuống chào hỏi bác…

***


Chương 10


Chiếc hải vận hạm ủi bãi ở khoảng giữa khúc quanh của con sông thuộc một xã thôn có tên Thành Tuy Hạ. Theo lời hạm trưởng, Thành Tuy Hạ cũng là tên của kho đạn lớn nhất miền Nam. Từ lòng tàu nhìn xuyên qua cửa đổ bộ là một bãi lài lót đá dẫn lên một con lộ. Hai bên lộ chỉ là những căn nhà gạch đất bình thường. Không một dấu vết gì cho thấy kho đạn nằm ở chốn nào. Vậy mà chỉ một thời gian rất ngắn sau khi cửa đổ bộ mở ra, các xe GMC chở đầy đạn đại bác lần lượt chạy thẳng xuống tàu. Là sĩ quan chuyển vận và đổ bộ, tôi trách nhiệm việc nhận hàng. Nhưng thật ra tôi chẳng làm gì vất vả. Việc bốc dỡ là phần việc chuyên môn của nhân viên kho đạn. Tôi chỉ để mắt xem công việc tiến triển đến đâu!

Cái tin chiến hạm đi công tác Nha Trang mang đến cho tôi một cảm giác khác hẳn những lần công tác trước. Tôi không lo lắng, băn khoăn mà nôn nao, bồi hồi. Nha Trang là nơi tôi sống nhiều năm vào cái tuổi “phá xóm phá làng” chỉ nhường thua ma quỷ. Nhờ có ông anh đi quân đội rày đây mai đó, từ một cậu bé nhà quê, tôi bắt đầu ba năm trung học ở Sài Gòn và bốn năm kế tiếp ở Nha Trang. Bốn năm làm học trò của trường Võ Tánh cũng là một thời để yêu. Yêu bằng mối tình đầu. Và thêm hai năm rèn tập thành một quân nhân Hải quân lại là một thời để nhớ. Nhớ suốt tuần để cuối tuần chỉ dám… nhìn nhau. Rồi xa nhau như tình cuối. Tuyết là tình đầu và Hồng là tình cuối…

Sáu tháng qua tôi không viết một lá thư nào cho Hồng. Tôi có nên gặp lại không? Nếu gặp thì giải thích sao đây? Thực sự, tôi có còn yêu Hồng? Dường như tôi yêu tất cả những người con gái tôi quen khi còn thường xuyên gặp gỡ và lúc xa mặt thì tự nhiên cách lòng? Tôi sắp gặp lại Hồng nên tình yêu đang trở lại? Chắc chắn tôi sẽ rất bồi hồi khi nhìn lại cảnh cũ nhưng với người xưa, nếu đã quên thì sao nôn nao?

Buổi trưa không ngủ được, tôi lang thang trên sân tàu. Nhiều lần tôi bảo nhân viên canh gác nhường việc nhắm bắn lục bình trôi cho tôi rỉ rả giết thì giờ. Lục bình trôi, có khi từng đám lớn là đối vật khả nghi địch ngụy trang cho quả mìn từ trường. Gặp vỏ sắt của chiến hạm, ngòi nổ sẽ kích hoạt và chiến hạm lãnh đủ! Cũng có thể đặc công thủy Việt cộng ẩn dưới đó đến gắn mìn thời chỉnh. Lại cộng thêm số lượng bom đạn đang nạp chứa, chắc chắn cả tàu lẫn người sẽ tan nát như tương. Cũng có bọn đặc công không cần lục bình, lặn thẳng đến tàu. Vì vậy tôi thỉnh thoảng giành thêm việc “ném chơi” một quả lựu đạn áp suất xuống lòng sông. Nhưng có làm gì thì làm, thời gian cứ chầm chậm trôi trong cái không gian im vắng, lặng lờ đến buồn chán. Tôi có nôn nao cỡ nào thì cũng ít nhất bốn mươi tám tiếng nữa mới hy vọng gặp lại Hồng. Hy vọng thôi chứ chắc gì nàng tiếp đón…

Thành Tuy Hạ cách Sài Gòn không hơn hai mươi cây số nên những lần ủi bãi trước đây, cả hạm phó lẫn hạm trưởng đều “dọt” về nhà. Các sĩ quan không trực thì đi gần hơn, qua thăm bạn bè ở Căn cứ Hải quân Cát Lái. Nhưng lần này không ai được rời tàu. Theo hạm trưởng, tình hình Sài Gòn có thể có đảo chánh. Tôi nhớ thời còn ở quân trường, mấy năm trước đã xảy ra đảo chánh hụt…

Sau cơm tối, Hạm trưởng rút vào buồng riêng. Hạm phó và ba sĩ quan Hải Được Tâm chơi bài belotte. Tôi ngồi cạnh Tâm học cách chơi. Nhưng vì đã hứa với sĩ quan trực Hải nên cứ độ mười lăm, hai mươi phút là tôi lại leo lên lòng tàu, đi một vòng coi việc trực gác rồi ra cửa đổ bộ xem xét mực nước thủy triều. Nếu nước lớn, tàu phải được tiến tới để cửa đổ bộ bám dính bờ, khi xe lên xuống cáp treo không bị đứt. Khi nước ròng, tàu phải được lùi ra, sơ suất một con nước, tàu có thể mắc cạn vài ngày. Tùy tuần trăng, không phải lúc nào nước cũng lớn như nhau.

Tôi ra đứng sau lái. Lái tàu chiếm gần đến nửa sông. Trăng chưa lên nên trời tối mịt mùng. Những con đom đóm lập lòe quanh chiến hạm. Bên kia, ban ngày là đồng ruộng thênh thang giờ trở thành vùng tối đen đầy đe dọa. Chỉ có ít ánh sáng từ một tiền đồn lẻ loi nằm chếch bên bờ. Tôi cho rằng tình trạng an ninh ban đêm ở đây có phần ít được chính quyền địa phương quan tâm, ít nhất là đối với con tàu đang nhận đạn. Tàu nằm vài ngày thật khó mà tránh khỏi bị địch điều nghiên phá hoại, tấn công…

– Thưa thiếu úy, hạm trưởng mời thiếu úy xuống phòng sĩ quan.

Tôi nói cám ơn và bước theo anh chiêu đãi. Chắc ông vừa làm xong một bài thơ và muốn nghe lời bình của mình đây. Đã vài lần, thấy tôi còn ngồi đọc sách lúc hai giờ sáng, ông mang thơ ra ngâm tôi nghe và yêu cầu góp ý. Chúng tôi xem ra tương đắc về những sáng tác của ông.

Hạm trưởng đang ngồi sẵn ở ghế dành riêng và chung quanh đông đủ sĩ quan. Tôi ngồi vào ghế của tôi trong nỗi băn khoăn chờ việc quan trọng sắp được thông báo. Nhưng hạm trưởng chỉ cười tươi với mọi người:

– Hôm nay thảnh thơi tôi xem lại hồ sơ của chiến hạm và khám phá ra rằng thứ bảy cuối tuần này là đúng một năm chiến hạm được chuyển giao. Lâu rồi chúng ta không mở tiệc tùng vì tình hình lộn xộn. Đây là một cơ hội danh chính ngôn thuận, lại ở xa “mặt trời”. Địa điểm thích hợp mà thời điểm cũng vừa khớp. Ngày mai thứ tư chúng ta khởi hành đi Nha Trang. Thứ năm tới nơi và đạn sẽ được bốc dỡ trong ngày, trễ lắm là qua sáng thứ sáu. Ngay sau đó ta làm tổng vệ sinh chiến hạm. Thứ bảy ta trang hoàng, thiết trí. Tối ta mở dạ hội, các anh thấy sao?

Các sĩ quan nhìn nhau hớn hở. Hạm phó nói:

– Quá đẹp, thưa hạm trưởng! Cũng cả năm rồi chúng ta chưa trở về mái nhà xưa. Mở một dạ tiệc vui hội ngộ là nhất rồi!

Hạm trưởng đưa mắt ưu tư nhìn mọi người:

– Vấn đề là thời gian tổ chức có phần gấp rút. Chúng ta chỉ có chưa đầy hai ngày cho bao nhiêu việc phải làm. Tôi đã thử phân công. Các anh lắng nghe. Anh nào thấy trở ngại trong phần vụ của mình, cứ nêu lên, chúng ta cùng tìm giải pháp. Trước hết là phần việc của tôi. Tôi sẽ liên lạc với Tòa đại biểu Trung phần để mời ông bà Đại biểu đến dự.

Ông chỉ cái bảng đồng treo ở vách bên tay trái:

– Các anh biết cả rồi, phu nhân của ông Đại biểu là mẹ đỡ đầu chiến hạm của chúng ta. Sau khi mời ông bà Đại biểu, tôi sẽ đến Bộ chỉ huy Vùng 2 Duyên hải và Trung tâm huấn luyện Hải quân để mời các giới chức ở đây. Luôn tiện mượn luôn ban nhạc, bàn ghế và cả xe nữa.

Còn đây là việc của Hạm phó. Hạm phó được chỉ định làm Trưởng ban tổ chức kiêm hoạt náo viên. Nghĩa là kiểm soát, đôn đốc và làm mọi việc cần thiết để dạ tiệc thành hình và thành công.

Việc của sĩ quan cơ khí, trung úy Hải: Trang hoàng đèn và bảo đảm đèn không tắt. Chỉ dùng hai loại bóng đèn xanh và vàng chạy dọc hai dây an toàn.

Sĩ quan đệ tam, trung úy Được: Trang hoàng cờ chữ, cờ số dọc theo vách lòng tàu và nơi nào anh thấy đẹp. Phụ trách luôn việc chở bàn ghế và sắp xếp. Trừ những ghế mình có sẵn trên tàu, anh cho biết mình cần mượn thêm bao nhiêu. Dự trù tổng số tham dự là chín mươi người.

Thiếu úy Tâm: Chuẩn bị thức uống, ly, khăn giấy và dĩa, muỗng, nĩa, dao nhựa mỗi thứ chừng 200. Tôi sẽ đưa tiền sau.

Thiếu úy Bằng: Chuẩn bị thực phẩm cho 90 người. Anh họp ban ẩm thực để bàn xem gồm các món ăn gì. Ít nhất cũng năm món, không kể tráng miệng. Tiền dự chi không quá ba ngàn.

Các anh nhận rõ phần vụ chưa?

Chúng tôi đồng loạt đáp:

– Thưa, nhận rõ!

– Ngày mai các sĩ quan họp ban của mình để minh định công việc. Tôi muốn bữa dạ tiệc lưu lại một kỷ niệm đẹp cho mọi người. Mọi khó khăn cho tôi biết tối mai, cũng vào giờ này.

– Nhận rõ!

– Hạm phó xem coi tôi có bỏ sót gì không?

Hào gật đầu:

– Cần gì thêm, tôi sẽ trình hạm trưởng.

– Ngày thứ năm ủi bãi Nha Trang, trong khi chờ bốc dỡ số đạn, chúng ta có một ngày thảnh thơi để đi mời thân hữu. Phân đội trực sẽ đi từ buổi sáng đến ba giờ chiều. Phân đội không trực đi từ 3 giờ đến không quá 8 giờ sáng hôm sau. Nhân viên nào vi phạm giờ giấc sẽ bị phạt nặng.

Sáng thứ sáu, Thiếu úy Tâm và Thiếu úy Bằng dẫn nhân viên nhà bếp đi mua thực phẩm, bia, nước ngọt và ly dĩa vân vân. Cho uống bia. Bất kể sĩ quan hay nhân viên nào say sưa là đem nhốt ngay xuống hầm lái tay. Ngày mai cho tôi xem tờ thực đơn đề nghị. Thứ bảy, tiệc sẽ bắt đầu từ 7 giờ tối đến nửa đêm. Từ 7 giờ, Trung úy Hải và Trung úy Được hướng dẫn khách thăm viếng chiến hạm. Tám giờ khai mạc dạ tiệc. Tôi dự trù có khoảng trên 30 khách đến tham dự. Cần nói rõ điểm này. Khách đến tham dự sẽ dùng phương tiện tự túc. Nhưng khi tiệc tan sẽ có xe đưa về tận nhà. Thiếu úy Bằng phụ trách một chiếc, Thiếu úy Tâm một. Nếu có thêm xe, hạm phó lo. Sáng mai điểm danh, hạm phó thông báo cho toàn thể nhân viên biết chương trình này.

– Thưa hạm trưởng, nhận rõ!

Cuốc bộ từ bến xe lam đến nhà Hồng tôi cứ ngẩn ngơ liệu Hồng có làm mặt lạ với tôi không. Nếu Hồng làm mặt lạ, tôi sẽ phản ứng ra sao? Cứ đứng lỳ trước cổng? Chắc phải vậy thôi để “kêu gọi” sự rủ lòng. Mà Hồng có làm ngơ luôn thì tôi cũng… đáng đời! Nhưng nếu nàng vẫn niềm nỡ, tôi phải giải thích thế nào việc im hơi lặng tiếng suốt sáu tháng? Tôi phải giải thích sao cho có lý có tình?

Mãi gần tới nhà Hồng, tôi mới chợt thấy là mình quá sơ suất. Lời xin lỗi dẫu có lý có tình đến thế nào mà không kèm một bó hoa thì vẫn là một thiếu sót lớn không thể chấp nhận! Tôi quay bước ra chợ Đầm chọn cho bằng được bó hoa hồng đúng màu hồng tươi tắn nhất. Một tay cầm túi xách đựng quà từ Sài Gòn, tay kia ôm bó hoa đi lang thang giữa phố trông rất cải lương nhưng lại khiến tôi vững bước. Tôi đi qua ngôi nhà cũ của Tuyết, thêm hai ngã tư nữa là tới nhà Hồng. Dường như những người rời bỏ xứ Huế về cư trú Nha Trang thích chọn nhà bên đường Hoàng Tử Cảnh. Đó là khu nhà cổ trông đặc thù bản sắc Huế. Và có lẽ nó còn mang thêm cái không gian yên tịnh nên thơ của cố đô chăng? Tuyết và Hồng có cùng đặc điểm gia đình: Cả hai đều là con một. Cha mẹ đều ở mức khá giả và danh giá. Ba Tuyết lúc còn sinh thời là một trưởng ty. Ba Hồng trước khi thành dân biểu thất cử kỳ hai là bác sĩ trưởng một bệnh viện. Ông thích thời sự, chính trị. Cuối tuần tôi mong gặp ông để được ngắm Hồng, còn ông thì mong tôi đến để nghe ông bàn thời cuộc. Ông có lối trình bày hấp dẫn về các đề tài mà trước khi gặp ông tôi không hề quan tâm. Nhưng dù hấp dẫn đến đâu, dáng vẻ đài cát của con gái ông vẫn lôi cuốn tôi hơn.

Tôi đặt cái túi xách xuống đất đưa tay nhấn chuông. Tay kia dấu bó hoa ra sau lưng. Chờ một lúc, không thấy động tịnh,tôi nhấn lần hai. Cánh cửa nhà hé mở. Con chó nhỏ len ra phóng nhanh đến tôi. Nó sủa gâu gâu mừng rỡ, ngoe ngoảy đuôi liên hồi. Tôi cũng nhớ tên nó. Hai chân trước và mỏm của Lucy thò ra khỏi các song sắt cố chạm vào người tôi. Tôi đưa tay vỗ lên đầu nó và nó liếm lấy liếm để. Hồng đứng yên trong khung cửa đã mở rộng như chưa nhận ra tôi. Nàng mặc nguyên bộ đồ trắng trông như hồ ly liêu trai. Chợt nàng hối hả bước, đôi môi tươi cười thành hình chữ O. Nàng kéo chốt cổng, mắt không rời mắt tôi, giọng ngạc nhiên:

– Về khi mô?

– Tàu mới ghé bến!

– Răng mà không viết thư? Hồng trông thư bắt mệt!

Tôi nhấc chiếc túi xách qua cổng. Con chó nhảy lưng tưng, vồ vập tôi. Tôi đưa Hồng bó hoa:

– Anh được đổi xuống tàu. Trăm công ngàn việc. Cho anh ngàn lần xin lỗi!

– Cám ơn anh bó hoa thật đẹp. Anh vô nhà đi.

Hồng ôm bó hoa bước vội. Tôi theo sau. Mọi vật vẫn thân thuộc, ấm cúng. Nàng nâng bó hoa, chi chút hôn lên từng đóa, đôi mắt rưng rưng. Có lẽ nàng xúc động vì gặp lại tôi hơn là vì tôi làm một cử chỉ đẹp. Tôi nhè nhẹ thở ra. Phút khó khăn qua rồi. Tôi cũng mừng gần rơi nước mắt.

Hồng chỉ chiếc ghế sofa, nói dịu dàng:

– Mời anh ngồi.

Tôi ngồi vào nơi chỉ định. Con Lucy thót lên nằm cạnh tôi. Tôi đặt chiếc túi xách lên mặt bàn khảm xà cừ. Hồng ôm bó hoa vào bếp. Tôi vuốt ve con chó. Nó lim dim tỏ vẻ hài lòng. Hồng trở ra, đặt bình bông lên bàn. Những đóa hồng như bừng nở, tươi tắn hơn sau những nụ hôn của nàng. Nàng ngồi sát tôi, đối xứng con chó. Tôi ngại ngùng hỏi:

– Hai bác đâu Hồng? Anh có quà tặng…

Tôi nghiêng người ra trước, nhấc từng gói quà khỏi túi xách:

– Đây là hộp trà tặng bác trai. Khăn quàng tặng bác gái. Còn đây là quà của Hồng.

Đó là bộ thời trang thanh nhã nhập từ Pháp mà cô bán hàng phải mất nhiều thời giờ mới chọn được. Hồng tiếp nhận, ôm vào lòng nhưng không mở. Giọng nàng nghẹn ngào:

– Tự dưng em nhớ bài thơ của Nguyễn Thị Hoàng mà anh học cùng thời chị ấy chắc phải biết. Học trò Võ Tánh ai mà không biết. Em đọc lại anh nghe vài đoạn: “Chi lạ rứa, chiều ni tui muốn khóc. Ngó chi tui đồ cỏ mọn hoa hèn. Nhìn chi tui hình đom đóm trong đêm. Cho tui tủi bên ni bờ cô tịch”… Chi lạ rứa, răng cứ làm tui tủi? Tàn nhẫn chi với một đứa thương đau! Khối tình câm nên không sắc, không màu. Và vạn thuở chẳng nên câu luyến ái!”… “Tui không buồn răng mắt mờ lệ ứa, Bởi vì răng tui có hiểu chi mô! Vì lòng tui là mặt nước sông hồ. Chi lạ rứa, bên ni bờ tui khóc!”

Tôi nhìn nước mắt Hồng tuôn thành dòng mà hồn rung động. Hiền lau mắt bằng cánh tay áo. Sáu tháng qua tôi đã cư xử quá tệ với Hồng chỉ vì mãi mê trách cứ Hiền cư xử ác với tôi. Tôi kéo Hồng tựa đầu vào tôi, thì thầm:

– Em không là cỏ nội hoa hèn. Em là tôn nữ, là công chúa…

Hồng lắc đầu:

– Đừng nói rứa anh. Đừng làm em tủi thân thêm. Trong tình yêu, không được yêu thì khác chi cỏ mọn hoa hèn.

Tôi phản đối:

– Không yêu em mà suốt hai năm anh lại…chịu khó ngồi hầu chuyện ba em? Không yêu em mà…

Hồng bịt miệng tôi bằng nụ hôn nồng nàn. Khá lâu, khi rời môi tôi, Hồng cười bẽn lẽn, má bừng hồng. Tôi sững sờ. Một người có tánh liều mạng như tôi mà cho tới ngày chia tay, tôi chưa từng một lần dám hôn Hồng. Lúc nào nàng cũng giữ vị trí cách xa tôi hoặc có đi đâu thì nàng cũng kề vai với mẹ. Còn tôi thì luôn luôn cạnh kề ba nàng. Có khi chúng tôi được ngồi riêng hai đứa nhưng luôn luôn bị chia cách bởi một cái bàn. Tôi có thể liều mạng giả bộ đi vòng rồi bất ngờ hôn nàng nhưng vẻ đoan trang đôn hậu làm tôi dính tại chỗ. Vậy mà hôm nay Hồng lại là người liều mạng hơn cả tôi. Tôi chợt nhớ là Hồng chưa trả lời câu hỏi của tôi:

– Hai bác đi mô rồi hả Hồng?

Hồng gật đầu:

– Ba mạ em ra Huế lo vụ đất đai tranh chấp, thứ hai mới về. Anh có biết trong sáu tháng xa anh, em ao ước chi không? Em ước ba điều: Một là được gặp lại anh. Hai là phải tìm dịp hôn anh một cái hôn thật dài để đền bù. Và ba là…

Hồng im bặt, chớp mắt và má ửng hồng. Tôi cười đùa:

– Anh cũng đã mơ ước được một lần hôn em, nụ hôn dài… bất tận.

Hồng nhắm mắt chờ đợi. Tôi vòng tay xiết chặt nàng. Mãi thật lâu nàng đẩy tôi ra. Tôi cảm thấy hạnh phúc tràn trề. Tôi nói lời tha thiết:

– Cám ơn Hồng đã thương yêu và chờ đợi. Còn điều ước thứ ba là gì, nếu được, anh đền bù luôn…

Nàng đập vào vai tôi:

– Ăn nói chi lạ! Chưa biết em ước chi mà đã đòi đền bù. Thôi em không nói. Nghe dị òm.

– Anh muốn nghe. Hồng nói đi. Không dị mô!

Nghe giọng tôi trêu chọc, nàng đấm tôi túi bụi:

-Ghét anh dễ sợ!

Tôi đăm đăm ngắm Hồng. Mãi đến nay tôi mới để ý đến một nốt ruồi nằm gần giữa môi trên về phía trái. Chỉ là một chấm đen nhỏ nhưng đủ làm cho đôi môi tươi thắm thêm. Rồi thêm một nốt ruồi nhỏ ở cuối mi mắt phải tạo gương mặt thêm phần thanh thoát. Tôi lại bắt chước giọng Huế của nàng:

– Hồng đẹp dễ sợ! Mà cũng đài các dễ sợ!

Nàng nguýt, bẽn lẽn, mặt bừng đỏ. Tôi lại kéo nàng tựa vào vai tôi. Con chó ngẩng cao đầu nhìn, nghe ngóng rồi lại nằm cuộn tròn. Hồng cất giọng buồn bã:

– Nó là bạn thân thiết nhất của em từ ngày anh không đến nữa. Nếu không có nó, chắc em còn nhớ anh dễ sợ hơn!

Tôi tìm một câu đùa khác nhưng không nghĩ ra. Hồng lại tiếp:

– Em không hiểu mần răng mà em cứ nhớ anh hoài. Chúng mình mô có chi. Một nụ hôn cũng không! Gần đây, ba mạ cho em một chọn lựa. Hoặc sau trung học thì lấy chồng. Hoặc niên khóa tới vào nội trú đại học Huế. Cả hai em đều sợ. Cả hai đều cho thấy em xa anh vĩnh viễn. Ít nhất, học đại học ở Sài Gòn em còn hy vọng gần anh.

Tôi ngồi lặng thinh. Hai người con gái Nha Trang từng yêu tôi, khi vào Sài Gòn đều yêu người khác. Cứ giả sử Hồng lúc nào cũng son sắt, thì lại càng làm tôi thêm kẹt. Mỗi năm mỗi thêm tuổi, tôi đâu lẽ trốn né hoài việc cưới xin. Cho tới nhiều năm nữa, chưa chắc tôi đã có thể… dừng bước giang hồ. Tôi nói:

– Cư xá sinh viên ở Sài Gòn xô bồ lắm. Nên đi Huế. Một lý do khác, anh đi hoài, ít khi ở Sài Gòn. Mà có về bến thì cũng bị cấm trại.

Hồng cúi mặt:

– Thấy anh không viết thư, em cứ tự nhắc mình là đừng yêu anh nữa, đừng nhớ anh nữa và đừng hy vọng chi nữa. Rứa mà cứ nhớ. Tức quá nên em nói với ba mạ là em chọn… lấy chồng.

Hồng dừng lại nhìn tôi ý chừng muốn xem phản ứng. Tôi lặng thinh xem xét lòng mình. Nếu chưa muốn lấy vợ thì để người ta đi lấy chồng. Cứ nhấp nhứ cho người ta hy vọng rồi để tuyệt vọng thì không phải là một quân tử! Tôi nở nụ cười, ngâm thơ Nguyễn Bính:

Gái lớn ai không phải lấy chồng! Can gì mà khóc nín đi không! Mà người em chọn làm chồng là ai vậy?

– Là ai vậy? Câu hỏi làm em chua xót. Câu em mong đợi ở anh là: “Em xem xem anh có hy vọng được em chọn làm chồng không”. Cho dù đó là một câu đùa nhưng cũng cho thấy anh hiểu điều em muốn nói! Đằng này anh nêu câu hỏi quá vô tình. Nếu em có ý muốn làm vợ người nào khác, em đã không thèm nhìn mặt anh.

Tôi thấy mình quả đã thốt ra một câu hỏi ngu si. Tôi phải nói gì để Hồng đỡ tổn thương? Nàng lại tiếp:

– Chỉ tội cho ba. Chính ba cho phép anh vào nhà…nên ba không chọn ai khác. Cái lạ là ba lại thích anh ngay từ buổi gặp lần đầu. Ba bảo trông anh hiền! Mạ cũng tán đồng. Chính em chờ anh vì đồng ý với nhận xét của ba mạ. Nhưng anh trở lại chỉ để cho thấy anh không như ba mạ em nghĩ. Em sẽ nói với ba mạ là anh không hiền mô! Em sẽ lấy chồng vào mùa hè, bất kỳ là với ai, nhưng nhất định không là anh!

Tôi khe khẻ thở dài! Khi đeo đuổi cô nào đó tôi chỉ muốn chiếm tình yêu của họ mà không nghĩ đến việc họ còn có cả một gia đình. Và cũng không nhìn thấy chính người con gái đó sẽ phải chịu lao đao vì yêu nhằm một tên lêu bêu không định hướng. Tôi không lêu bêu, chỉ có điều là chưa thể lập gia đình. Trước sau gì tôi cũng phải có vợ có con. Nếu phải chọn một trong ba người con gái tôi từng yêu để làm vợ, tôi nghiêng hẳn về Hồng. Hồng dành cho tôi một tình yêu trinh nguyên như nhất. Nàng dành cho tôi trọn vẹn tình đầu. Không lý do gì tôi lại không trao nàng luôn cả tình cuối. Tôi thấy cần nói lên một sự thật và tùy Hồng định đoạt:

– Hồng ạ, đây là một thực tế, anh thực lòng bày tỏ. Những lời anh làm em buồn chính là từ sự thật này. Anh thấy rõ ràng là bất cứ kẻ nào có được người vợ như em kẻ đó có cả một diễm phúc. Anh vô cùng khao khát nhận cái diễm phúc đó. Nhưng để được em làm vợ, anh phải bước qua lắm bước nhiêu khê. Ba bước căn bản là: Phải có tiền trang trải cho đám cưới. Lại thêm một số tiền để sắm sửa và chi tiêu cho một tổ ấm và cuối cùng phải làm sao giữ cho cái tổ luôn luôn ấm. Như em thấy đó, anh mới ra trường, những bước nhiêu khê cần thời gian để vượt qua. Thời gian là bao lâu? Anh đã làm thử con toán và thấy rằng sớm nhất cũng phải năm năm. Bắt một người con gái chờ năm năm là điều không nên không phải. Vì vậy, anh có bổn phận gợi ý cho em sớm đi lấy chồng. Nhưng em đã hiểu lầm. Sự thật là thế đấy. Em hãy cân nhắc. Riêng phần anh, dựa vào ý ba em, anh thấy có một quãng thời gian thích hợp cho cả hai. Đó là quãng thời gian em cần để tốt nghiệp đại học. Đó cũng là thời gian anh chuẩn bị tổ ấm. Không chỉ chuẩn bị tiền, mà còn chuẩn bị một chỗ trên bờ. Sau năm năm liên tục đi biển, anh nghĩ rằng anh có đủ thâm niên để về bờ. Cho nên anh chỉ có thể hứa bằng tất cả danh dự: Năm năm nữa anh sẽ cưới em…

Hồng nhìn tôi không chớp mắt. Dường như những gì tôi vừa nói là một bất ngờ đối với nàng. Nàng biểu lộ nét xúc động nhưng không tỏ vẻ hài lòng. Tôi thấy cần thêm một câu đùa cho quãng thời gian được ngắn bớt:

– Trừ phi anh trúng số, anh cưới Hồng ngay. Từ nay mỗi tuần anh sẽ mua vé số!

Hồng cười như mếu:

– Được như rứa thì nói chi! Nhưng thời hạn năm năm nghe lâu chi lạ! Cho dù em có theo đại học thì cũng chỉ bốn năm.

– Em chọn bác sĩ thì năm sáu năm.

Hồng lắc đầu:

– Cái số năm học không phải là vấn đề. Cái vấn đề là anh với em sẽ còn tệ hơn Ngưu lang Chức nữ. Một năm có chắc chi gặp nhau được một lần!

– Một năm chúng ta gặp nhau một hai tuần ở đây, hay ở Sài Gòn, trong mùa hè…

Hồng trầm ngâm:

– Cám ơn anh nói ra một sự thật. Bây giờ chúng ta đi ăn cơm, em đói rồi.

Tôi như đang bị hụt hơi nên tán thành ngay:

– Trước đây hai bác cứ cho anh đi ăn nhà hàng hoài. Mấy lần anh đòi trả nhưng hai bác chê anh là sinh viên nghèo. Giờ thì anh không giàu nhưng cũng không còn nghèo. Thực sự, hôm nay anh đến với ý định mời hai bác và Hồng dùng cơm tối. Hồng đại diện luôn hai bác, hỉ?

Hồng cười, thoăn thoắt chạy vào buồng. Khi trở ra, nàng hoàn toàn là một cô gái khác. Chiếc áo sơ mi màu xanh nước biển và chiếc quần tây màu trắng bó sát mông đùi. Một tý má hồng, một tý môi son. Trông Hồng tươi trẻ, uyển chuyển như một người mẫu. Chúng tôi đi cạnh nhau như đôi bạn học. Đường phố vừa lên đèn. Tôi không biết mình đã qua những con đường nào trước khi đến nhà hàng La Frégate. Đây là nhà hàng tôi từng được ba mẹ nàng đưa đi ăn tối.

Người tiếp viên niềm nở tiếp đón và đưa chúng tôi đến ở một bàn nhỏ với hai ghế đối diện. Một chụp đèn xinh xắn gắn trên vách tỏa vừa đủ sáng. Một cánh hoa hồng cắm vào chiếc lọ nhỏ đặt giữa bàn. Trước mỗi ghế là một đĩa trắng lớn đựng khăn. Hai ly thủy tinh một cao một thấp phía trước và muỗng nĩa dao hai bên. Người tiếp viên mở khăn ăn cho Hồng trải lên đùi trước khi bước qua chỗ tôi. Hồng tự động chọn món chúng tôi cùng thích: món thịt bò Châteaubriand nướng khá chín và khoai tán với sauce. Món này cũng là món tủ của ba Hồng. Và như thường lệ, mỗi đứa một ly rượu chát có vị pinot noir.

Trong khi thưởng thức hương vị tuyệt vời, thưởng thức cảnh trí thơ mộng và sự phục vụ tận tụy, tôi hỏi thăm sức khỏe ba mẹ Hồng, hỏi thăm Hồng gặp trở ngại gì ở lớp đệ nhất ban văn chương. Hồng bảo là các môn học đều suông sẻ trừ những khi … nhớ tôi thì phải tốn thêm thì giờ đọc đi đọc lại. Tôi hỏi Hồng đã đọc hết các sách tự lực văn đoàn chưa. Đã đọc được mấy cuốn của Francoise Sagan rồi. Tôi hỏi Hồng đã xem những phim gì trong thời gian không gặp tôi.

Hồng hỏi tôi về hải nghiệp. Tôi ba hoa chích chòe toàn chuyện đi biển và dấu biến chuyện đi bờ. Tôi nói với Hồng sáu giờ chiều ngày mốt, thứ bảy, tôi sẽ đến đón Hồng dự dạ tiệc dưới tàu. Hông reo vui: “Em sẽ được biết tàu anh, sướng dễ sợ!”. Chúng tôi kết thúc bữa ăn bằng bánh flank và cà phê đen. Tôi gọi bồi bàn tính tiền. Hồng bảo: “Ba mạ dặn cứ đến chỗ ni ăn ba mạ về trả sau”. Tôi vẫn đưa tiền nhưng người bồi không dám lấy. Tôi để lên bàn phần tiền pourboire hậu hĩ.

Chúng tôi cuốc bộ ngang qua ty bưu điện ra bãi biển, từ đó chúng tôi tay trong tay thả dọc theo ven nước, đôi lúc thì thầm, nhiều khi lặng lẽ. Đến mười giờ, Hồng đề nghị về nhà cho con chó cưng đi vệ sinh.

Mười giờ, chuyến xe chót về Chụt (*) nơi tàu đang ủi bãi. Tôi dự trù về lúc chín giờ nhưng vì ba mẹ Hồng đi vắng nên cứ dùng dằng. Cùng lắm thì đi bộ nếu không tìm được cyclo. Hồng dắt con Lucy vào nhà, khóa chốt và tắt bớt đèn, chỉ còn ánh sáng từ hai bóng điện dùng như ngọn lữa cho cặp nến trên bàn thờ. Hồng ngồi tựa đầu lên cánh tay tôi trên sofa và con chó nằm bên. Tôi hôn lên tóc Hồng. Mùi thơm da thịt dìu dịu mà quyến rũ. Tiếng Hồng nhẹ trôi trong không gian huyền ảo:

– Ước mơ thứ ba của em là được nằm suốt đêm trong vòng tay anh…

Tôi nghe khắp người rúng động. Tôi ngắm nét thanh tú kiêu sa trên gương mặt nàng. Tôi nhích người ra và xoay ngang để có thể hôn lên đôi mắt còn nhắm kín sau câu nói. Và tôi hôn đôi môi. Hồng đáp ứng cuồng nhiệt. Tôi vụt đứng lên và quyết định ra về. Tôi nói trong hơi thở mạnh:

– Anh phải về. Tiếc rằng ước mơ cuối cùng của Hồng anh không đủ nghị lực để hoàn thành.

– Đừng anh! Cho em sống trọn ước mơ của em.

Tôi lắc đầu:

– Thật nguy hiểm Hồng ạ!

Hồng cười:

– Anh đừng hiểu lầm! Chuyện nớ không nằm trong ước mơ của em. Em chỉ ước mơ được nằm bên anh, được hôn anh và được anh hôn! Chỉ rứa!

Với tôi, khó mà chỉ rứa! Tôi không thể giải thích với Hồng. Hồng chưa biết mùi đàn ông và mang nặng danh giá gia đình, có thể chống đỡ hết mình. Còn tôi, kẻ từng biết mùi đàn bà và bất kham khi ham muốn. Hồng có chống đỡ hết mình thì cũng không ngăn được chuyện phải xảy ra. Bây giờ tôi còn sáng suốt nhìn thấy một chuổi hậu quả mà Hồng và gia đình phải nhận lấy. Và cũng chính là lúc phải ra về. Tôi đứng bật dậy và bước về phía cửa. Tôi mở chốt khi Hồng cúi mặt buồn bã ngồi yên. Tôi nói:

– Nhớ sẵn sàng sáu giờ ngày mốt anh đến đón. Đừng giận và hãy ngủ ngon.

Chỉ có con chó tiễn tôi ra cổng.

Theo dự trù, dạ tiệc bắt đầu đúng 8 giờ. Ban nhạc bắt đầu chơi các nhạc bản êm dịu. Hồng đứng cạnh tôi gần ban nhạc, nhìn quanh. Nàng khen nghệ thuật trang hoàng trông đơn giản mà vẫn huy hoàng. Chạy dọc hai vách của lòng tàu và phần lộ thiên là các dãy đèn vàng xanh, các hàng cờ chữ và số đầy sắc màu lạ mắt. Nó còn góp phần làm nổi bật cho trên năm mươi bộ tiểu lễ màu trắng đang lăn xăn di động. Từ cửa đổ bộ đi vào là những dãy ghế đặt hàng ngang tổng cộng tám mươi chiếc. Tiếp đến, đặt sát mỗi bên vách là một dãy bàn dài bày biện nhiều món ăn hấp dẫn. Cuối mỗi dãy là hai bàn tròn lớn, một dành cho ban nhạc giải lao và một dành cho các loại thức uống. Một sàn nhảy khá rộng ngay trước ban nhạc phối trí gần sân lái.

Vào lúc 8 giờ 15, trong khi mọi người ngồi vào chỗ, Hạm trưởng và các sĩ quan tiến ra cửa đổ bộ đón chào hai vị khách quan trọng nhất của đêm dạ hội: Hải quân Trung tá Chỉ huy trưởng Vùng duyên hải và phu nhân. Đúng ra vinh dự này là dành cho ông bà Đại biểu Trung phần nhưng cả hai đều bận công vụ quan trọng hơn. Hạm phó mời Hạm trưởng tuyên bố khai mạc Dạ hội kỷ niệm đệ nhất chu niên ngày nhận lãnh chiến hạm. Ông ngỏ lời chào mừng và cám ơn quan khách. Ông cũng cám ơn quân trường Hải quân đã cung cấp phương tiện tổ chức gồm ban nhạc và ca sĩ. Ông tổng kết vắn tắt thành tích chiến hạm sau một năm tích cực hoạt động và nhiệt liệt ngợi khen toàn thể thủy thủ đoàn. Cuối cùng Hạm trưởng chúc mọi người hưởng trọn đêm vui.

Hạm phó Hào lại cầm máy giới thiệu tôi lên đọc thực đơn. Tôi mỉm cười với Hồng để tự trấn tĩnh. Hồng bóp tay tôi khích lệ. Khi đối diện mọi người, tôi đưa tay chào đúng quân cách và nhìn vào hàng ghế thượng khách:

– Kính thưa Hải quân Trung Tá chủ tọa và phu nhân. Kính thưa Hạm trưởng và quý vị thực khách. Hôm nay là thứ bảy, ngày 26 tháng 10 năm 1963, nhằm ngày mồng 10 tháng 9 Âm lịch là ngày lành tháng tốt của năm Quý Mão. Bây giờ là đúng tám giờ tối, theo đồng hồ của vị chủ tọa. Tôi, Hải quân thiếu úy Võ Bằng, xin đọc thực đơn đêm dạ tiệc. Thực đơn hôm nay gồm có:

Thứ nhất: Súp măng cua vi cá. Thứ hai:Chả giò bào ngư. Thứ ba: Kim kê nhất bửu. Thứ tư: Hải sâm dồn thịt. Thứ năm: Tôm nướng Trường Sa. Thứ sáu: Cơm chiên Tây Sa. Thứ bảy: ice cream tráng miệng. Thức uống: Nước ngọt đủ loại và cà phê.

Kính chúc Trung tá chủ tọa và phu nhân, kính chúc Hạm trưởng và tất cả quý vị một bữa ăn ngon miệng.

Tiếng vỗ tay rộ lên cùng với tiếng xì xào, cười nói. Hạm trưởng đứng lên hướng dẫn khách lấy thức ăn dãy bàn bên mặt. Hạm phó hướng dẫn bên trái. Tôi gài micro, về ghế ngồi bên Hồng. Nàng quay qua tôi:

– Thực đơn hấp dẫn quá. Chắc tốn kém lắm.

Tôi cười:

– Nghe rứa mà không phải rứa! Cốt để nghe cho kêu rứa mà! Thí dụ chỉ là gà rô ti của nhà bếp nhưng gọi kim kê nhất bửu cho nó sang!

Hồng bấu tôi:

– Anh bỏ cái giọng nhại Huế đi. Nghe chướng dễ sợ! Còn khai mạc gần chín giờ mà bảo đúng tám giờ!

Tôi xoa chỗ đau:

– Cũng truyền thống Hải quân đấy. Ông chủ tọa đến trễ ra sao cũng mặc, sĩ quan ẩm thực phải nói đúng theo giờ đã định.

– Tại răng?

Tôi lắc đầu:

– Không rõ! Có lẽ, hoặc là tỏ ra tôn trọng ông chủ tọa bằng cách cho biết đã khai mạc đúng giờ hoặc là để chọc quê ông chủ tọa đã đến trễ!

Hồng bụm miệng cười. Tôi nâng Hồng đứng lên sắp hàng lấy thức ăn. Bây giờ thì ít còn ai ngồi. Đa số vừa đứng ăn vừa tán chuyện. Các cậu lính thủy thì đưa đào lên boong ngồi trên các trụ quấn dây. Một số đứng kề nhau tựa dây an toàn. Lấy thức ăn xong tôi đưa Hồng tìm Tâm giới thiệu. Bạn gái Tâm thật duyên dáng. Hạm phó và các sĩ quan khác đều có đôi. Chỉ mình Hạm trưởng là đơn lẽ nhưng ông lại tỏ ra vui tươi nhất. Ông hết nói chuyện với đoàn viên này lại hỏi han đoàn viên kia. Ông tiếp xúc chào mừng từng quan khách. Ban nhạc chơi những bản quen thuộc, nhuyễn nhừ, âm lượng vừa đủ. Tôi đưa Hồng lên tận đài chỉ huy. Trung úy Hải và cô bạn đang chiếm một phía nhìn về thành phố. Tôi và Hồng sang phía đứng nhìn về Cầu Đá. Biệt Điện Bảo Đại vươn cao trên nền trời đen thẳm đầy sao. Cuối độ nghiêng của sườn đồi hình dạng của hai chiếc thương thuyền đang cặp kè ở cầu tàu. Hòn Tre lừng lững một khối đen.

– Trời mát và biển về đêm đẹp dễ sợ.

Tôi muốn nói đâu bằng em nhưng thấy khuôn sáo vô duyên. Ánh đèn từ dưới hắt lên tạo khuôn mặt Hồng thêm vẻ kiêu sa đài các. Hai lọn tóc đen thả ngang bộ ngực vung đầy được cái thành bệ nâng lên. Màu trắng chiếc áo pullover như trong suốt. Tôi nghĩ là nếu tôi và Hồng không đang bận nhai thì chắc chắn chúng tôi đã hôn nhau. Ngẫm nghĩ tôi thấy mình thật may mắn. Và cũng thấy mình thật lạ lùng khi suốt sáu tháng chỉ đôi lần thấp thoáng nhớ nàng. Suốt sáu tháng đầu óc ngu muội vì những nụ hôn Hiền dành cho Thanh. Từ nay, phải đền bù cho cả tôi lẫn Hồng. Tôi nói:

– Thật đáng buồn là chúng ta chỉ còn gần nhau vài tiếng nữa. Sau dạ tiệc, anh đưa Hồng vào nhà là phải trở lui ngay để nhổ neo về Sài Gòn.

Hồng lặng thinh nhìn ra biển khơi. Một lúc lâu mới vang lên giọng buồn như muốn khóc:

– Rồi anh lại không viết thư cho Hồng?

Tôi nắm cánh tay nàng:

– Lần này anh sẽ viết bù.

– Khi trước, dù chưa có kỷ niệm, Hồng cũng đã nhớ anh. Lần ni, chắc nhớ… điên luôn! Rồi cứ như ri thêm năm năm nữa. Anh ác dễ sợ.

Tiếng hạm phó Hào vang lên từ các loa:

– Mời tất cả trở lại ghế ngồi để bắt đầu chương trình văn nghệ. Bây giờ là chín giờ. Chương trình văn nghệ bốn mươi lăm phút. Sau đó là khiêu vũ. Xin mời quý bà, quý cô, quý ông, quý bạn và toàn thể thủy thủ đoàn nhiệt tình tham gia. Mời tất cả mọi người trở lại chỗ ngồi. Mời ca sĩ ban nhạc trình bày trước.

Tôi và Hồng theo sau Trung úy Hải và cô bạn gái lần xuống lòng tàu. Tôi lấy hộp bia và một ly xá xị. Giọng nữ nũng nịu cất lên bài Hoa Biển. Rồi đến giọng nam rộn ràng với bài Thủy Thủ và Biển Cả. Một cô khách trẻ tiếp nối bài Tình Ca Người Đi Biển nói là để tặng tất cả các anh thủy thủ thương yêu. “Chiều nay ra khơi. Thoáng thấy mắt em nhuốm buồn. Đời anh là gió sương. Anh đi khắp muôn phương!”

Hồng kề miệng sát tai tôi:

– Đi, đi hoài! Nhuốm buồn là còn giỏi. Em muốn khóc đây.

Tôi cười:

– Hồng lên hát một bản vui vui sẽ hết muốn khóc…

– Em không biết hát.

– Em đờn piano hay thế mà không biết hát?

– Em chỉ chơi nhạc classic. Thôi anh hát tặng em đi.

Hát là đam mê của tôi nhưng bản gì đây? Bản gì hợp với tâm hồn cổ điển của Hồng? Phạn Duy có đặt lời cho nhiều bản cổ điển ngoại quốc. Trở Về Mái Nhà Xưa. Chủ Nhật Buồn, Chiều Tà. Dạ Khúc. Dạ Khúc có vẻ hợp với không khí tối nay nhất. Nhưng dường như tôi không thuộc hết lời. Tôi hỏi Hồng:

– Em thuộc lời bản Dạ Khúc?

Hồng chầm chậm nghiêng mặt, đôi mắt u buồn nhìn tôi, khe khẻ lắc đầu. Cái dáng vẻ của Hồng gợi tôi một bản nhạc. Một bữa trong tuần tôi đi phép, Dũng bảo bản nhạc này mới xuất bản và tập tôi hát. Càng hát tôi càng thấy bản nhạc hay lạ lùng. Phải chăng từ trong tiềm thức tôi bóng dáng Hồng luôn luôn ngự trị. Khi hạm phó Hào kêu gọi người tình nguyện kế tiếp, tôi bước lên. Tôi nhìn khán giả rồi hướng vào Hồng, nói một cách thiết tha:

– Bài này tôi mới tập nhưng tôi vẫn muốn hát để riêng tặng một người: Tôn Nữ Thụy Hồng , bản Dung Nhan Mùa Hạ của Y Vân.

Nàng đắm đuối nhìn tôi. Tôi quay nói nhỏ với ban nhạc cung bậc và nhịp điệu slow rock. Tôi lắng nghe nhạc dạo và cất lời từ trái tim:

Dung nhan mùa hạ (Click)

Khi em tắm nắng cho tôi xin hai thước mặt trời. Vẻ kiêu sa thần vệ nữ ngàn đời. Ôi đôi môi ấy và đôi mắt u hoài. Tôi từ bâng khuâng đến mê say.

Xin cho ngây ngất bên dung nhan đan trắng hạ này. Và cho xanh giấc ba mươi.

Vòm mây, bờ cát trắng. Trời cao, biển xanh thắm. Vàng nắng và gió êm. Nhạc đâu đó gợi buồn.

 Khi em tắm nắng không bao nhiêu hai thước mặt trời. Để dung nhan thắm trong tôi.

Bản nhạc quá ngắn, tôi định hát thêm cho đã nhưng ban nhạc báo dứt ở cuối lần hai theo thông lệ và tiếng vỗ tay đã bừng rộ. Tôi cúi đầu chào, chờ hạm phó đến trao chiếc vi âm. Tiếng hô bis từ nhiều người. Có tiếng la lớn: “Yêu cầu hát bản Nha Trang!” Nhiều người la hét: “Đúng rồi, Nha Trang. Yêu cầu hát Nha Trang của Minh Kỳ”. Tôi nhận ra giọng la lớn là của trung sĩ Quân. Hai đêm trước, anh xuống khu sĩ quan tìm tôi để dạy tôi khiêu vũ như anh hứa, đúng lúc tôi đang nằm trên giường hát trọn bản này. Anh chỉ báo sự hiện diện của anh bằng lời khen giọng tôi thiệt ngọt. Tôi nói với anh có lẽ tại vì tôi đang nhớ một người bạn học, nhớ những ngày cùng nhau quậy phá Nha Trang. Dũng là người dạy tôi cầm đàn và dạy tôi hát. Dũng là học trò của nhạc sĩ Minh Kỳ, được chính tác giả tập dợt bài này trước khi xuất bản. Tôi là học trò của Dũng…

Hạm phó nháy mắt:

– Hát Nha Trang đi, mắc cở gì nữa!

Biết không đừng được, tôi nâng chiếc vi âm:

– Bản này xin tặng Nha Trang và… người Nha Trang.

Nha Trang Minh Kỳ (Click)

Nha Trang là miền quê hương cát trắng. Có những đêm nghe vọng lại. Ầm ầm tiếng sóng xa đưa. Nha Trang cảnh đồng bao la bát ngát. Hương quê dâng lên ngào ngạt. Hòa cùng sức sống yên vui.

Nha Trang cảnh đẹp nên thơ khiến nhớ. Bao năm du khách hằng chờ. Một ngày ghé đến Nha Trang. Ai ơi người về cho ta nhắn với. Nha Trang quê hương dịu hiền. Ngàn đời lòng tôi mến yêu.

Còn đâu những chiều vui xưa. Còn đâu những chiều say sưa. Ngồi nơi biển buồn trông ra khơi mênh mông. Còn đâu Tháp Bà êm mơ. Còn đâu đá Chồng bơ vơ. Còn đâu bến Cầu Đá nên thơ.

Nha Trang cảnh đẹp trăng thanh gió mát. Ai qua không quên để lại. Một vài luyến tiếc xa xôi. Ai ơi người về cho ta nhắn với. Nha Trang quê hương dịu hiền. Ngàn đời lòng tôi mến yêu.

Tiếng vỗ tay lại rộ lên. Tôi cúi chào rồi xuống ngồi bên Hồng. Tôi như muốn hụt hơi. Đây là lần đầu tôi hát trước đông người. Hồng ôm xiết cánh tay tôi, nói nhỏ một cách hãnh diện:

– Anh hát hay dễ sợ. Thương anh dễ sợ! Ngàn đời lòng tôi mến yêu!

Các thủy thủ và quan khách thay nhau tiếp nối lời ca. Trong bầu không khí còn đang sôi động, Hạm phó trịnh trọng giới thiệu một màn trình diễn đặc biệt của một nghệ sĩ đặc biệt. Mọi người im phăng phắt chờ đợi Hào giới thiệu rõ hơn. Anh nói chầm chậm, nửa trịnh trọng, nửa cợt đùa:

– Để thay đổi không khí, đây là phần ngâm thơ. Tác giả đặc biệt đóng góp đêm vui bằng một bài thơ do chính ông sáng tác. Xin mời nhà thơ kiêm… hạm trưởng!

Tiếng vổ tay tưởng chừng phá vỡ con tàu. Tiếng la hét ủng hộ gà nhà. Hạm trưởng ngượng ngịu đứng lên, đến bên Hào tiếp nhận máy vi âm:

– Ông hạm phó chơi tôi sát ván! Cho máy tiến không xong mà lùi cũng không được. Thì thôi đành ngâm một bài mới sáng tác đêm qua. Đêm qua, nghĩ đến ngày mai phải rời xa Nha Trang tôi cứ trằn trọc mãi. Bài thơ có tựa Rời Bến.

Mọi người đều bất ngờ. Giọng ngâm của ông có thua gì Tô Kiều Ngân:

“Buồn sao tàu nhổ neo rồi. Trông ra chỉ thấy ngậm ngùi chấm con. Bờ lui, lui mãi… chỉ còn. Bâng khuâng nét núi, đồi thôn mập mờ. Đàn khơi dạo khúc vu vơ. Hồn trong ly cách thẩn thờ tìm nhau. Buồn sao giây phút lên neo. Tàu đi bỏ lại ngoằn ngoèo luống khơi. Tim như chìm mất cung vui. Càng xa khoảng biển càng ngùi nhớ thương. Rồi như tàu: nét chấm mòn. Nhạn bơ vơ giữa trùng dương mịt mùng.

“Chót dây buông hẵn con tàu. Mũi dần tách bến dạ cầu bơ vơ. Cố đô chiều xuống lên mưa. Triều dâng lẵng lặng, hồn ngơ ngác hồn.

“Hôm nao trông cánh thư màu. Cánh thư không lại, con tàu nhổ neo. Sóng lên trắng biển, gió vèo. Nỗi buồn hun hút đuổi theo chân trời…” (thơ Hữu Phương)

Xin cám ơn mọi người đã lắng nghe…

Tiếng vổ tay hòa tiếng la hét, tiếng hô bis vang đội. Hạm trưởng dơ cả hai tay lên thay cho lời cảm ơn rồi trở về chỗ ngồi. Đợi tiếng ồn lắng bớt, Hạm phó nói đùa:

– Thưa quý vị. Thật ra Hạm trưởng có thể ngâm tới sáng cũng chưa hết thơ của ông nhưng đã tới giờ khiêu vũ. Huấn thị điều hành căn bản có nói rằng giờ nào việc nấy! Vì vậy xin mời ông bà chủ tọa khai mạc phần dạ vũ!

Diệu nhạc Pasodoble nhộn nhịp vui tươi. Sàn nhảy đông dần và càng lúc càng sôi động. Tôi tự dưng thấy mình còn quá quê mùa trước những bước nhảy điêu luyện, quấn quít của các giai nhân và các chàng thủy thủ không còn làn ranh quan lính. Tất cả tận hưởng đêm vui. Trung sĩ Quân và người đẹp xem chừng vô cùng ăn ý. Hai người đi fantasy như đang thi đua tranh giải khiêu vũ đẹp thế giới. Tôi nhất định phải nhờ anh dạy tôi những điệu bebob, tango…

Ban nhạc và ca sĩ liên tục chơi nhạc tua. Đợi đến điệu slow, tôi rủ Hồng ra sàn. Nàng lắc đầu ngoày ngoạy. Tôi cũng chỉ mới được thầy Quân dạy cấp tốc điệu sơ đẳng này mà đã làm tàng:

– Đừng sợ! Dễ lắm. Điệu slow này, em chỉ ôm anh, đứng tại chỗ, hơi đong đưa theo nhịp, thế là ăn tiền.

Hồng vẫn lắc đầu nhưng tôi cứ nằn nì. Vào điệu slow của tua thứ ba, Hồng chiều tôi miễn cưỡng bước ra. Chúng tôi đứng ôm nhau trong tiếng nhạc dặt dìu. Không bao lâu nàng ôm chặt tôi, tựa mặt vào vai tôi, vào cổ tôi. Nàng hầu như không hay biết hai bàn chân đã bắt đầu di động tới lui qua lại. Từ đó Hồng không bỏ điệu slow nào….

***

Chúng tôi chạy từ đường này sang đường khác, thả từng người khách tận cửa nhà. Hồng là người sau cùng. Tôi dặn anh tài xế đậu chờ. Hồng mở cổng. Tôi đưa Hồng đến cửa. Hồng vặn khóa, kéo tôi vào trong và bấu cứng lấy tôi:

– Anh! Đừng về tàu. Ở lại với em…

Tôi nói dối:

– Không thể được! Vài tiếng nữa, tàu nhổ neo về Sài Gòn…

– Hãy ở lại với em đêm nay và ngày mai. Đã hơn sáu tháng mới gặp lại anh mà. Thứ hai, trước giờ đi học, em sẽ đưa anh ra bến xe… Hãy ở lại cho ba ước mơ của em được tròn vẹn. Hãy ở bên em ngày chót em còn được tự do…

Lời mời sao quá thiết tha hấp dẫn. Theo huần thị điều hành chiến hạm, một ngày vắng mặt đổi hai ngày tù. Bốn ngày tù quân kỷ nằm ôn những phút giây diễm tuyệt vẫn chưa hết… hạnh phúc!

Quá rẻ Bằng ơi! Nhất nhật bên nàng, thiên thu tại ngục vẫn là… quá ngắn! Tôi ôm chầm lấy Hồng hôn say đắm, thật lâu, như bất tận. Nhưng tôi kịp hốt hoảng buông nàng ra, dứt khoát chia tay. Câu nói của Hạm Trưởng trong buổi tôi trình diện tân đáo bỗng dội về mồn một: “Phải chơi cho phong nhã và không được gây tai tiếng cho Hải Quân”. Tôi dứt khoát xoay chốt cửa, nghiêng nhìn dáng đứng hờn giận dễ thương của Hồng và chợt nghĩ nên giả từ bằng câu đùa cợt, hơn là bằng nụ hôn có thể đủ sức giữ tôi ở lại:

– Anh phải về. Nhưng hứa chắc năm năm nữa anh sẽ ở lại với em suốt đời…

Câu nói đùa vô duyên đến độ khiến cả con Lucy cũng không tiễn tôi ra cổng!

(Còn Tiếp)
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn