BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 35628)
(Xem: 33244)
(Xem: 32320)
(Xem: 24665)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Viết Cho Những Người Cha

23 Tháng Chín 201012:00 SA(Xem: 555)
Viết Cho Những Người Cha
52Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
52
Cha tôi sinh trưởng tại 1 làng, mà cũng là một Phố Quận thuộc Tỉnh Kiến An, sau này sát nhập vào Hải Phòng. Thế hệ của Cha tôi cũng nhiều gian truân, điêu đứng không khác nhiều so với thế hệ của chính tôi (năm nay cũng đã 76 tuổi).

Cụ cho tôi ra thành phố Hải Phòng theo học bậc Trung Học dù rằng điều đó rất tốn kém đối với gia đình, nhưng Cụ, với sự góp ý của Anh tôi (hơn tôi chừng 6, 7 tuổi, cũng đã từng ra Hải Phòng theo học nhiều năm) cho rằng: thời nào cũng vậy, có học một chút, cuộc đời sẽ tốt đẹp hơn. Thế nhưng, chẳng được bao lâu thì cuộc chiến Pháp-Việt nổ ra bắt đầu từ Hải Phòng, vào tháng 11-1946, trong khi chúng tôi đang ngồi trong lớp. Với tuổi thiếu niên, nhưng tôi đã ý thức được bổn phận của một công dân đối với Tổ Quốc lúc lâm nguy, tôi xin phép Cha Mẹ lên đường, theo các bậc đàn anh, trong đó có anh tôi, kháng chiến chống Pháp xâm lược, tùy theo khả năng và sức lực của mình. Cha Mẹ, chị và các em tôi gạt nước mắt để tôi ra đi. Hai lần bị Tây bắt, lần đầu năm 1949, lúc 18 tuổi, nhưng được thả ngay, chỉ sau 1 đêm bị cùm chân ngoài trời. Lần đó cũng là nhờ có chút vốn liếng Pháp Ngữ và khả năng trình bày lý lẽ, thuyết phục được 2 viên chỉ huy cao cấp nhất tại Đồn "Làng Hệ", huyện Thụy Anh, Tỉnh Thái Bình, 1 Trung Úy và 1 Đại Úy người Pháp. Bị Tây bắt cùng với hàng chục người mà ngay ngày hôm sau một mình tôi đã được thả về, trình diện cơ quan, quả là 1 điều đáng nghi ngờ và tai hại cho tôi sau này bởi vì cộng sản là thứ người "đa nghi Tào Tháo" nhất loài người. Lần thứ hai, năm 1951 lúc 20 tuổi, tôi bị Tây bắt giam dài lâu hơn, nhưng là lần tôi tự nguyện để cho Tây bắt trong 1 cuộc hành quân đại quy mô càn quét toàn thể 12 Phủ Huyện, Tỉnh thái Bình, do đích thân Đại Tướng De Lattre de Tassigny, Tổng Tư Lệnh Quân Đội Pháp tại Đông Dương chỉ huy trên máy bay "Quan Sát" như L-19 của Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa sau này, vì Tỉnh Thái Bình là hậu phương cuối cùng của Liên Khu 3 cộng sản, nơi đặt cơ sở chỉ huy, lãnh đạo các cơ quan, Ban, Ngành, như Đảng, quân sự, chính trị, hành chánh, chuyên môn, kỹ thuật của Liên Khu cũng như các Tỉnh lân cận. Vì đã qua 1 lần bị Tây bắt nên tôi hiểu là: Tây bắt không đáng sợ cho lắm, nhưng là cơ hội để tôi từ bỏ hàng ngũ kháng chiến do cộng sản lãnh đạo, khi tôi đã chọn con đường, lúc đó chưa hẳn là tốt nhưng không xấu, không ghê tởm bằng tuân theo cộng sản để làm những điều tôi đã biết, đã rõ là vô cùng tàn bạo và kinh khủng. Vì công tác luân phiên, thay đổi ở các cơ quan lãnh đạo (nhờ sự can thiệp của anh tôi và có chút vốn chữ nghĩa) rồi qua ngành Tuyên-Huấn, tôi được đọc tài liệu, báo chí nên biết Chính Phủ chống Cộng sản, Quốc Gia Việt Nam đã được thành lập và Ông Bảo Đại là Quốc Trưởng, với sự trợ giúp của người Pháp. Tôi phải chọn cách "để Tây bắt" vì 2 lý lẽ:

1/- Thoát khỏi hàng ngũ cộng sản mà không làm liên lụy đến những người thân yêu, bạn bè, nhất là ngươiụ anh ruột thịt có chức vị lãnh đạo đã hết lòng che chở cho tôi, nhưng không được như tôi mong ước. Anh tôi là con người cộng sản từ trước ngày "Tổng khởi nghĩa, cướp chính quyền" 19 tháng 8-1945 nhưng không giống những người cộng sản khác: gốc tiểu tư sản, trí thức, ly khai gia đình nhưng luôn luôn lo lắng cho gia đình, phái người hướng dẫn cha mẹ và các em di tản tránh họa chiến tranh, tới những vùng hậu phương an toàn, gửi gấm vào những gia đình thật tốt, hết lòng giúp đỡ, nhất là che chở cho tôi trong những tháng ngày gian khổ, lăn lộn với chiến tranh, chui hầm, rúc hố, dưới quyền chỉ huy của những người cộng sản sắt máu, khác nhiều, không giống và dưới quyền của anh tôi.

2/- Tôi đã có cơ hội biết rõ 1 lần: người Pháp rất đáng sợ khi hai bên nổ súng, giao chiến, bắn giết nhau, nhưng khi đã bị họ bắt rồi thì nỗi sợ đó không có gì đáng kể nữa. Điều này khác hẳn với trường hợp tù binh, quân địch bị cộng sản bắt được. Tôi phải nói thật là người Pháp " văn minh, nhân đạo" hơn cộng sản rất nhiều trong việc đối xử với địch quân, tù binh bị họ bắt. Ở đây, tôi chỉ viết ra để nói lên sự hy sinh cao cả, sự lo sợ vô biên của người Cha dành cho tính mạng đứa con của mình bị Pháp bắt hai lần trong giai đoạn chiến tranh ác liệt thì sẽ ra làm sao, rồi cũng chính người Cha đó lặn lội, đường sá xa xôi nguy hiểm để đi tìm đứa con bị giam, bị tù ở đâu vì lần thứ hai, tôi bị bắt cùng với hàng trăm ngàn thanh niên các loại của Liên khu 3 và Tỉnh Thái Bình, đông đến mức phải đưa các địa tạm giam khắp nơi trong mấy Tỉnh Thái Bình, Nam Đnh, Ninh Bình. Tôi bị tạm giam ở sân vận động Thái Bình không nhà cửa, vào mùa mưa 1 tháng, thật là khổ sở, nhưng chuyện dài lắm, lúc khác mới viết được. Qua các đợt thẩm vấn tôi "được" chuyển sang Thành phố Nam Định. May sao, khi Cha con gặp lại nhau thì đứa con đó vẫn còn sống, chưa chết, không cụt tay, mất chân, thương tích đầy người như Cha tôi lo lắng. Trái lại đứa con ấy vẫn còn sống, sống trong khung cảnh thoải mái, dễ chịu không thể ngờ được vì tôi với tuổi 21, được Trung Úy Halot, Chỉ Huy Trại, chỉ định làm Trưởng Trại Giam (Chef de Camp) coi 500 tù chính trị với 1 phụ tá (Adjoint du Chef de Camp) và 10 Trưởng Toán (Chefs de Groupes) do chính tôi chọn lựa trong số những anh em biết tiếng Pháp và tính tình tôi cho là được. Anh em sống với nhau, làm lao động nhẹ nhàng, gọi là có như sửa đường Nam Đnh - Ninh Bình, dọn dẹp vệ sinh quanh vùng, làm 1 ngày, nghỉ 2 ngày, 9 toán đi làm, cứ thay phiên nhau mỗi ngày 3 toán thôi, toán thứ 10 ở trại lo nấu ăn, vệ sinh lặt vặt, linh tinh. Tiếng là đi tù nhưng tất cả chúng tôi thoải mái và...dễ chịu hơn khi chưa vào tù, khi còn ở với cộng sản... Hi vọng gần đây tôi sẽ có dịp viết 2 chuyện: "Bị Tây bắt" và "Đi tù Tây" một cách đầy đủ, nhiều chi tiết khó ai ngờ được..

Nói sao cho hết tình thương của 1 người Cha dành cho đứa con trai, mà tôi biết từ lúc còn nhỏ là người rất thương yêu tôi, rồi đứa con trai đó lại sớm thoát ly gia đình để đi làm nghĩa vụ thiêng liêng: chống xâm lăng, bảo vệ Tổ Quốc. Có điều Cha tôi không thể hiểu được tại sao tôi lại phải rời bỏ cái hàng ngũ có danh hiệu cao đẹp đó để ra đi, và tôi cũng chưa bao giờ nói với Cha tôi cái điều: tôi đã cố tình nằm lại trong ruộng lúa (ngày xưa lúa cao lắm, trên thắt lưng người lớn), chờ cho Tây đến bắt, mặc dầu tôi đã được phát đầy đủ dụng cụ, phao bơi để vượt qua sông, sang Huyện Ninh Giang, Tỉnh Hải Dương bên cạnh.

Ơn nghĩa báo đền công ơn Cha Mẹ thì tôi chỉ đơn giản nhớ được 2 trường hợp như thế này:

A/- Từ giã Cha Mẹ cuối năm 1946 đi kháng chiến chống Pháp, ăn và ở hoàn toàn nhờ vào dân chúng nơi cơ quan làm việc đặt tại đó. Lúc ban đầu, do sự tuyên truyền, động viên vô cùng khôn khéo của cộng sản, hầu hết mọi người dân đất Bắc đều rất thương yêu những người đi kháng chiến như chúng tôi. Họ sẵn sàng hi sinh tất cả cho "Cách mạng giải phóng dân tộc", chống xâm lăng bảo vệ Tổ Quốc. Có những cụ già, khi rảnh rỗi, nói chuyện với tôi, một thanh niên mới lớn, có chút học hành, mà các cụ yêu thương như con cháu ruột thịt, luôn luôn động viên tôi cố gắng trên con đường cứu dân, cứu nước chắc chắn còn dài và nhiều gian khổ. Có cụ còn vui vẻ nói rằng: Lão mong muốn sau này có được cậu làm con rể của Lão, khi đất nước thanh bình. Các cụ làm sao hiểu được cuộc chiến tranh thực sự nó như thế nào và đến bao giờ nó mới chấm dứt, chấm dứt rồi thì đất nước này sẽ ra làm sao, có được như các cụ mong ước hay không. Cuối năm 1948, những kẻ như tôi bắt đầu có quy chế lãnh lương chút ít. Tôi gần như không tiêu sài gì cả, ngoại trừ mua một cái đồng hồ đeo tay đầu tiên trong đời, hiệu Niklès, mặt trắng, có đốm dạ quang (lumineux/ luminous) ở khu Phố Đống Năm, Thái Bình, một Tỉnh hậu phương cuối cùng của Liên Khu 3, dưới quyền Tư Lệnh của Tướng cộng sản Nguyễn Sơn và Phó Tư Lệnh Đại Tá Hoàng Minh Thảo, để biết giờ giấc, thời gian, nếu không, ngày cũng gần giống như đêm và đêm cũng gần giống như ban ngày. Tôi để dành được một số tiền, rồi nhân 1 chuyến đi công tác, tôi xin được đi cùng, và tìm cách ghé thăm Cha Mẹ và các em tôi đang còn đi tản cư, lánh nạn chiến tranh, do anh ruột tôi điều động người liên lạc và hướng dẫn. Cũng vì cái chuyện...nặng tình với gia đình như thế mà anh tôi dù là bậc Thầy của Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh bây giờ (anh tôi gia nhập Đảng năm 1944, Nông Đức Mạnh gia nhập năm 1963), Bộ Chính Trị Trung Ương Đảng đặt anh tôi ra ngoài lề kể từ cuộc cải cách ruộng đất và vụ tiêu diệt phong trào Nhân Văn Giai Phẩm năm 1956 tại đất Bắc, cùng nhóm bạn bè chừng mươi người. Anh tôi, nói thông thạo tiếng Việt - Pháp - Anh - Nga đã từng được cử cầm đầu phái đoàn Hà Nội, đi tham quan, học hỏi, rút kinh nghiệm tại khắp các nước cộng sản đã lớn mạnh như Liên Sô, Đông Đức, Pháp và các nước Đông Âu vv... Đi thăm các nơi, trở về ngồi lại với nhau cả tháng làm bản tổng kết, nhận định những cái hay của thiên hạ để mình học hỏi, áp dụng. Thế là chết! Những cái dở, cái dốt của Đảng mình lòi ra, và nhóm này cả chục người công lao... không biết nói thế nào cho đúng, bị coi là "có tư tưởng xét lại nguy hiểm cho Đảng"... Anh tôi sống với số tiền hưu hàng tháng 800 ngàn đồng tiền Hồ, chị dâu tôi, được coi là "Hoa Khôi" trong một đám cưới tập thể 5 cặp do Đảng tổ chức, cựu cán bộ khá cao tiền hưu 500 ngàn, cộng lại là 1 triệu 3 tiền Hồ, gần 100 đô la Mỹ, bằng tiền... một con điếm, gái gọi loại tầm thường được lũ cán bộ hạng B, hạng C kêu đến khách sạn ở gần đó "nhẩy dù 1 phát"... Anh tôi qua đời cách đây không lâu tại một căn nha nhỏ xíu trong khu chung cư nghèo nàn, dành cho người về hưu, sau tai nạn trượt ngã tại mảnh sân gạch ướt át trơn trợt, bể sọ, kéo theo cái chết của chị dâu bị xúc động mạnh đang khi đau tim nặng, mà hai người trông nom săn sóc chính là anh tôi và đứa con trai đã mất việc khi anh tôi không còn tại chức... Sống thì nghèo nàn khổ cực như thế, mà khi chết thì đám tang của cặp vợ chồng già này lại quá lớn vì thành phố đứng ra tổ chức, đàn em, học trò của anh tôi từ các nơi xa gần kéo về từ biệt người quá cố được nhiều người mến phục. Những vòng hoa người ta không nhớ là đếm được bao nhiêu nữa... Cuộc đời là thế đó! Tôi gặp lại Cha Mẹ và các em vào đầu năm 1949, sau hơn 2 năm xa cách. Thật là...mừng mừng, tủi tủi, những giọt nước mắt xót thương sao mà quên được! Tôi móc mớù tiền trong túi chiếc áo vải mầu nâu gụ, thứ áo vải nhuộm nâu rồi nhúng vào nước bùn hòa tan với nước, phơi nắng cho ngả mầu nâu đậm như pha...mầu tím Hoa Sim, trông đẹp và dịu mắt hơn (thứ mầu bị coi là mầu nâu... Tiểu Tư Sản) chẳng nhớ là bao nhiêu tiền, gói trong giấy báo, đưa cho Cha tôi: "Xin Thầy Mẹ cầm lấy cho con, để thêm vào nuôi gia đình, nuôi các em..." Tôi nghẹn ngào không nói được nữa, trong lòng cảm thấy sót sa. Cha tôi mắt long lanh ướt, đưa gói tiền cho Mẹ tôi, không nói một lời. Mẹ tôi lặng người, nước mắt rơi từng giọt... Mãi lúc sau, Mẹ tôi mới nói: "Gia đình ta làm ăn vất vả thật, Chị con còn có gánh hàng xén, cả nhà quay sợi, quay tơ đem đi chợ bán, cũng sống được qua ngày. Thầy Mẹ và gia đình biết con ra đi là vất vả, gian lao, nguy hiểm. Thôi, con cứ giữ lấy mà tiêu, có lúc cần đến..." Đúng lúc đó thì có người chạy vào nhắc tôi: "Đến giờ tập họp đi rồi, Chú Tư ơi!" Tôi chào Cha Mẹ, vẫy tay với mọi người trong gia đình, định quay ra nhưng thình lình tôi dừng lại ôm chặt 2 đứa em nhỏ nhất, 1 gái, 1 trai, ba mái đầu gục xuống, chụm lại với nhau, hai đứa em nấc lên từng tiếng, rồi tôi chạy vọt ra sân lẫn vào đám người đang chờ đợi...

B/- Trường hợp thứ hai, tôi có cơ hội giúp đỡ cha mẹ chút ít tiền bạc và thuốc men là hồi năm 1954, cuộc chiến Điện Biện Phủ sắp đến hồi ngã ngũ, nhân chuyến đi công tác Nam - Định về Hà Nội, Đại Úy Miraucourt lái xe Jeep, tôi ngồi bên cạnh. Tuy còn là Hạ Sĩ Quan nhưng tôi rất thân thiết với Ông vì Ông đã bổ nhậm tôi thay thế 1 Hạ Sĩ Quan người Pháp (Sergent-Chef Cordier) hồi hương về Pháp, để trông coi cho Ông một cái Văn Phòng quản trị 600 nhân viên về mọi mặt: tài chánh, quản trị, sổ sách, giấy tờ liên lạc trên dưới, hàng dọc, hàng ngang. Ông luôn coi tôi như 1 người bạn rất thân, thường xuyên dạo chơi bách bộ chuyện trò với nhau trên đường phố Nam Định những ngày chủ nhật, sau khi ông vào kiểm soát doanh trại xong, đậu xe Jeep ở trại, chớ không coi tôi chỉ là 1 nhân viên dưới quyền, cấp bậc còn quá nhỏ. Có khi ăn trưa ở Phố thì Ông dành phần trả tiền và nói: Tôi là Đại Úy, lương tôi cao hon, để tôi trả tiền. Tôi đáp lại: "Đại Úy nói đúng, nhưng Đại Úy trả 2 lần thì cho tôi trả 1 lần thì tôi mới dám ăn trưa với Đại Úy. Ông bằng lòng. Ông đã bằng mọi cách đề nghị thăng cấp đặc biệt cho tôi từ 1 Binh Nhì (Soldat de 2ème classe - Mỹ kêu là Private) lên Hạ Sĩ (Caporal) chỉ sau 3 tháng nhập ngũ - vì tôi không đi học Trường Sĩ Quan trừ bị Thủ Đức khi được gọi, mà tình nguyện nhập ngũ vào đơn vị của Ông Đại Úy này để được ở thành phố sau khi ra khỏi nhà tù Nhà Máy Rượu, Nam Định ít lâu, còn mệt mỏi và đã có đủ giấy tờ hợp lệ. Chỉ 16 ngày sau, cũng tại sân cờ hôm nào, Đại Úy Miraucourt đọc Quyết Định của Tướng Tư Lệnh Đệ Tam Quân Khu cho tôi đặc cách thăng cấp Trung Sĩ (Sergent) có hiệu lực hồi tố (Mỹ kêu là: retroactive effect) kể từ ngày lên Hạ Sĩ, nghĩa là từ Binh Nhì lên thẳng luôn Trung Sĩ, để có đủ cấp bậc tối thiểu ngồi vào chỗ thay thế Sergent-Chef Cordier, điều khiển cái văn phòng quản lý hầu như mọi mặt của một đơn vị mang danh hiệu Đại Đội 3 Truyền Tin Việt Nam (3ème Compagnie de Transmissions Vietnamienne) nhưng quân số lại tới 600 người, đông gấp rưỡi 1 Tiểu Đoàn Bộ Binh (Bataillon d'infantry). Ông lại còn đề nghị cho tôi lên thẳng cấp cao nhất của hàng hạ Sĩ Quan là "Adjudant-Chef" để 6 tháng sau, trong thời kỳ chiến tranh, Ông đề nghị cho tôi lên thẳng cấp Thiếu Úy thực thụ (Sous-lieutenant à titre définitif) chỉ vì một câu nói nửa đùa nửa thực của tôi: "Nếu tôi xin Đại Úy cho tôi lập hồ sơ đi học khóa đặc biệt Sĩ Quan hiện dịch Đà Lạt, chỉ sau 9 tháng, tôi sẽ mang lon Chuẩn Úy Hiện Dịch (Aspirant de l'armée active) thì Đại Úy tính sao? - Ông nói: "Anh cứ làm việc đi, khỏi cần đi học như thế, mà 9 tháng sau, anh không những lên Chuẩn Úy, mà lên thẳng luôn Thiếu Úy, anh chịu không? Tôi sẽ thay mặt thượng cấp móc lon Thiếu Úy thực thu, 1 vạch vàng lên vai anh, anh nghĩ sao?" - Tôi bảo: "Nếu Đại Úy đeo 3 sao trên vai thì tôi tin điều đó, nhưng tiếc rằng trên vai Úy mới có 3 vạch vàng thôi." Thế là Ông ra lệnh cho Trung Úy Khôi, Sĩ Quan phụ tá, sau này lên Đại Úy và thay thế chức vụ của Ông khi Ông hồi hương trở về Pháp, lập ngay hồ sơ đề nghị thăng cấp kiểu đó cho tôi. Cần lời phê, chữ ký, con dấu của cấp chỉ huy nào trong lãnh thổ Đệ Tam Quân khu hồi đó là đích thân Ông chở tôi bằng xe Jeep của Ông tới trình diện cấp chỉ huy, Pháp cũng như Việt, kể cả Tướng Tư Lệnh Đệ Tam Quân Khu ở Hà Nội. Hồi đó tiếng nói của 1 Đại Úy người Pháp, chỉ huy đơn vị 600 quân, phụ trách công tác truyền tin cho cả 1 Quân Khu Việt Nam, miền Bắc Việt, luôn cả cái "Zône Sud du Nord Vietnam" và thêm cái "Subdivision Nam Định" của Pháp nữa, nó có trọng lượng to tát lắm. Vì vậy, hồ sơ đề nghị thăng cấp đặc cách cho tôi tới cửa nào cũng đều lọt, với chữ ký và con dấu đỏ chót của cấp chỉ huy có thẩm quyền. Chỉ khi phải gửi hồ sơ từ Nam Định vào Bộ Tổng Tham Mưu ở Sài Gòn là Ông bảo tôi: "Anh chịu khó chờ, tôi cam đoan sẽ móc lon Thiếu Úy thực thụ lên vai anh đúng như tôi đã nói..."

Một hôm, Ông lái xe, cùng tôi từ Nam Định lên Hà Nội công tác. Việc xong, Đại Úy Miraucourt cho tôi nghỉ 2 ngày và nói: "anh muốn nghỉ ở đâu cứ cho tôi biết. Còn Ông thường nghỉ ở Câu Lạc Bộ Sĩ Quan Pháp gần nhất. Tôi muốn về Hải Phòng, nhà Chú Thím ruột của tôi buôn bán tại đây. Khi đưa tôi tới nhà xong xuôi, Ông chúc tôi vui vẻ và chào Chú Thím tôi rồi quay ra. Cả nhà Chú Thím tôi đổ xô lại, 2 đứa em họ, kém tôi chừng 8 và 10 tuổi reo mừng vì lâu lắm anh em mới gặp lại nhau. Vừa lúc ấy thì Cha tôi ở trên lầu, thấy ồn ào, đi xuống. Trời ơi! Cha con ôm lấy nhau nghẹn ngào... Sau khi chuyện trò một lúc, Cha tôi xin phép cả nhà để hai cha con tôi nói chuyện riêng với nhau ở ngoài phòng khách. Cụ kể cho tôi nghe những chuyện bi thảm nơi quê nhà: đất cát, ruộng vườn bị chính quyền "cách mạng" tịch thu hết, chỉ để lại cho 1 chút làm chỗ ở, ruộng nương tất cả biến thành của nhà nước, nhà cửa tan hoang vì chính sách "Tiêu thổ kháng chiến, vườn không nhà trống" trước khi chiến tranh kéo đến, nhưng kỳ thực là chính sách của "cách mạng": mọi người đều phải nghèo như nhau, trong khi nhà đất, ruộng vườn của gia đình tôi thuộc loại... hơi nhiều. Cha mẹ tôi lo buồn rồi phát bệnh, tiền bạc đâu còn nữa, may nhờ có ông chú ruột tức là em ruột Cha tôi buôn bán khá giả ở Hải Phòng, hết lòng giúp đỡ. Cụ nói trong tiếng nghẹn ngào: "mỗi lần thiếu quá, Thầy lại ra đây, Chú Thím giúp cho một ít, khi nào có thì trả lại sau, anh em ruột thịt cứu giúp nhau là vậy." Tôi hỏi: "Thầy vay mượn của Chú Thím tới lúc này là bao nhiêu rồi?" Cha tôi nói: "Nhiều lắm con ơi! Không biết bao giờ nhà ta mới trả nổi!" Tôi lại hỏi: "Thầy nói nhiều là bao nhiêu?" - 4 ngàn 500 đồng, tính ra lúc đó hình như gần 5 lạng vàng thì phải. Tôi nói: "Thầy khỏi lo! Con đí công tác, có mang theo trong cặp da 10 ngàn đồng, con chỉ giữ lại 500 đồng đề phòng phải tiêu, còn lại bao nhiêu con xin đưa Thầy để trả xong cho Chú Thím, số còn lại Thầy đem về chi tiêu cho gia đình. Thầy Mẹ và các em đỡ khổ." Bà Chị tôi đã lấy chồng cũng ở trong Huyện. Hai cha con tôi cùng vui mừng, cảm tạ Trời Đất đã cho gặp lại nhau trong hoàn cảnh như thế này. Gương mặt già nua của Cha tôi đang lo âu, sầu khổ, bỗng rạng ngời, sáng hẳn lên. Cụ nói: "Gặp lại con, biết con vẫn còn sống sau những tháng năm lưu lạc giang hồ, lại còn giúp cho Thầy Mẹ trả được món nợ tưởng như hết cả cuộc đời cũng không sao trả nổi. Con đã cứu gia đình. Xin Trời Đất phù hộ cho con..." Tôi nắm tay Cụ dẫn ra gặp Chú Thím tôi và nói: "Cháu xin hết lòng cảm ơn Chú Thím đã cứu giúp gia đình Thầy Mẹ con trong những ngày khó khăn. Nay con xin phép gửi lại Chú Thím số tiền Thầy con đã vay mượn từ mấy năm nay. Xin Trời Đất phù hộ cho Chú Thím và các em." Cha tôi nói: "Thật cảm ơn Chú Thím, tôi nghĩ không biết đời mình liệu có cách nào trả lại Chú Thím được không. May mà gặp được cháu ở đây, giúp gia đình tôi trả lại sự giúp đỡ của Chú Thím." Chú tôi quay ra hỏi: "Cháu trả hết Chú Thím thế này, có còn đưa cho Bác được ít nhiều để về quê làm ăn sinh sống hay không?" Cha tôi đỡ lời: "Nói thực với Chú Thím, cháu nó giúp tôi trả hết nợ cho Chú thím, còn lại cháu đưa hết cho tôi 5 ngàn, đủ sức làm ăn sinh sống qua ngày ở quê làng mình rồi..." Mọi người nhìn nhau chẳng biết nói chi thêm nữa, nhưng tôi nhận thấy rõ ràng là niềm hạnh phúc bất ngờ đã đến với tất cả mọi người chúng tôi. Có những dòng nước mắt long lanh, xúc động, cảm thông đấy ắp tình người thương yêu và bác ái, trong lúc 2 đứa em con Chú thím tôi đứng nhìn ngơ ngác, lặng yên...

***

Hôm nay, trên đất Mỹ, ngồi trước bàn máy, tôi viết mấy dòng này kèm theo bài thơ song ngữ "My Father" gửi đi khắp bốn phương trời, đến với mọi người Cha, trong đó có cả Cha tôi đã xa rời cõi thế khi không có tôi ở gần, khi tôi đi tù cải tạo trên núi trên rừng hiểm độc âm u, nhưng tôi cũng đã có 1 lần, lần đầu và chắc cũng là lần cuối, sau hơn nửa thế kỷ cách xa làng xóm, năm 2000, về bên mộ của Cha Mẹ tôi, đã được xây đắp cẩn thận để thắp vài nén hương và nói lên những lời cầu nguyện...

Verse: My Father
(With affection, offered to all fathers, especially Vietnamese ones)

* I remember my native village
Surrounded by green bamboo hedges,
Ornamented with columns of white-blurring smoke,
At nightfall, rising slowly.
* I remember the winding village road,
On which herds of cattle
Were coming back to their stables
When the church bell was heard.
* I left my village at the age of fourteen,
Separating from my parents and family
To go studying at Haiphong City.
When the war broke out, getting harder and
harder
I followed the elders to fight against
French aggressors.
Twice, captured by the enemies, I knew
The person, who made patiently great efforts
To find out where I had been detained, was
father.
* With the spirit of Confucianism,
He taught me how to live with dignity
In all circumstances of life, even in misery.
Thanks to my father's teachings,
I've overcomed almost everything
To survive regardless lots of challenges
Occuring continuously in my rough lifetime.
* During 76 years of living in this world,
I never forget his image and teachings
That help me overcome almost everything.
Sometimes, seemingly I still hear his words:
"My son! You ought to live with dignity!"
Always I've been proud of my father.
When growing up. I haven't done yet
A tiny bit for him as response, unfortunately!

San Diego, California
Phan Duc Minh

(Member of The International Societry of Poets)

***

Phỏng dịch: Cha Tôi
(Mến tặng tất cả những người Cha, đặc biệt là những người Cha Việt Nam).

Làng xưa gợi nỗi vấn vương
Hàng tre xanh ngắt, lớp sương mịt mờ.
Hoàng hôn phủ xuống như mơ,
Khói lam lưu luyến vật vờ bay lên.
Nhớ sao xóm nhỏ bình yên,
Từng đàn mục súc vẫn quen lối về
Quanh co một nẻo đường quê,
Chuông đâu văng vẳng tiếng nghe vang rền.
Ra đi từ tuổi thiếu niên,
Cách lià Cha mẹ, anh em gia đình,
Ra Thành làm cậu học sinh,
Chiến tranh bùng nổ, thân mình phải đi,
Thân trai gian khổ xá gì,
Bước theo huynh trưởng, cũng vì núi sông..
Đôi phen giặc bắt cùm gông,
Chính Cha lặn lội, hết lòng tìm con.
Tuổi Cha ngày một héo mòn,
Nhưng luôn dậy bảo: phải luôn làm người
Sống sao xứng đáng ở đời,
Tổ Tiên, dòng dõi mấy đời Nho Gia.
Nhờ lời khuyên dậy cuả Cha,
Cuộc đời chìm nổi vượt qua mọi điều. Gian truân, cực khổ bao nhiêu,
Vinh quang, hạnh phúc càng nhiều về sau.
76 năm, tóc đã bạc mầu,
Tai tôi còn vẳng những câu cuả Người:
Làm trai sống ở trên đời,
Sao cho xứng đáng làm người nghe con!
Tôi luôn mang giữ trong hồn
Bóng hình Cha đã thương con suốt đời.
Phần tôi, nghĩ lại: Chao ơi!
Chưa đền đáp trả thì Người còn đâu!

San Diego, California
Phạm Ngọc Nhiễm
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn