BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 35736)
(Xem: 33265)
(Xem: 32451)
(Xem: 24688)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Một đời mưu mẹo

16 Tháng Giêng 201412:00 SA(Xem: 799)
Một đời mưu mẹo
50Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
00
Cuối năm ngoái, tôi về quê tảo mộ. Buổi chiều hôm ấy tôi ra nghĩa trang bên bờ sông Cô, thấy người các nơi đổ về tảo mộ đông như hội. Lớn bé, già trẻ, trai gái, sang hèn đủ cả, mọi người thắp hương, đốt vàng mã, thành kính bên mộ người thân.

Nhìn cảnh thanh minh tảo mộ thật cảm động. Dòng chảy thời gian như tụ lại, những số phận tưởng đã chìm vào quên lãng bỗng hiện hữu quanh đây. 

Tôi thấy một nấm mồ không có nén hương nào, cỏ dại mọc trùm, lổn nhổn vết chân trâu bò. Tôi hỏi thím Phúc đang dãy cỏ ngôi mộ gần đó:

- Mộ của ai kia, thím?

Thím Phúc ngẩng lên nhìn ngôi mộ hoang, bảo tôi:

- Mộ ông Mưu đấy?

- Mưu nào thím?

- Mưu mẹo chứ mưu nào?

- Sao không ai chăm đắp?

Thím Phúc phủi tay, têm trầu, đủng đỉnh nói:

- Còn ai mà đắp? Mỗi thằng con thì chết năm 69. Đứa con dâu lấy chồng khác tận Thái Nguyên. Thằng cháu nội bỏ đi biệt tăm biệt tích...

- Thế họ hàng đâu?

- Sống ăn ở không gì, giờ chả ai ngó ngàng!

Thím Phúc vừa nhai trầu vừa cời đống vàng mã đang cháy trên ngôi mộ nhà mình, mắt chăm chú nhìn tàn vàng cuốn theo khói nhang bay lên trời.

Tôi mượn thím Phúc cái cuốc, giẫy cỏ trên nấm mộ ông Mưu, đắp lại chỗ sạt lở, thắp cho ông ấy mấy nén hương và đốt xấp vàng mã. Thấp thoáng trước mắt tôi một người đàn ông mặt nhọn, mắt sâu chân đi khệnh khạng hiện ra qua câu chuyện của thim cả Phúc.

Đó là ông Mưu, mà mọi người thường gọi ông là “Mưu mẹo” ở xã tôi, vì ông ấy rất nhiều mưu mẹo.

Hồi còn bé, Mưu đi ở chăn trâu. Hôm nào Mưu cũng thủ sẵn một bó rơm khô. Mưu cột trâu vào chỗ khuất cho nhai rơm để rảnh tay đánh khăng đánh đáo. Tàn cuộc chơi, Mưu dắt trâu ra sông cho uống nước rối dắt về. Chủ nhìn bụng trâu khen no, nào ngờ toàn nước!

Đi dậm bắt cá với bạn bè Mưu cũng có mẹo. Một hàng dậm dàn ngang, Mưu để dậm của mình tụt xuống như đơm đó, nhờ vậy bao giờ Mưu cũng được nhiều cá hơn.

Lớn lên, Mưu cầm đầu một toán thợ gặt thuê. Các toán khác đòi 7 lượm lúa một công, Mưu chỉ lấy 5 lượm. Sáng Mưu dẫn toán thợ mang liềm hái, đòn càn ra đầu chợ ngồi rình. Chủ ruộng nào ở xa lớ ngớ mò đến, ham rẻ, rước toán thợ của Mưu về gặt là mắc lỡm. Bởi vì gặt nửa buổi là Mưu lăn đùng ra ruộng, giãy đành đạch, bọt mép nhểu ra. Chủ ruộng sợ Mưu chết gây phiền hà cho mình vội vàng thương lượng với toán thợ trả công gấp đôi để họ khiêng Mưu đi. Nhận công xong, vừa khuất mắt chủ là Mưu khỏi bệnh động kinh, tỉnh như sáo cười hềnh hệch. Mưu đã dùng mẹo nhai trái găng phun bọt mép giả động kinh đánh lừa chủ ruộng một cách tài tình.

Năm ấy bộ đội về làng phối hợp với du kích đánh bốt Tràng. Hướng tập kích là cánh đồng trống Lác bằng phẳng, không có chướng ngại vật, bộ đội phải phơi mình giữa làn đạn bắn thẳng của địch, thương vong nhiều mà không tiến lên được. Xã đội trưởng kêu:

- Mưu đâu?

- Mưu đây!

- Có mẹo gì tránh thương vong không?

Mưu suy nghĩ một lúc rồi vào đống rơm húy hoáy bện chiếc nùn như con rắn khổng lồ, quấn tròn quanh khúc gỗ. Sau đó Mưu mời chỉ huy đơn vị bộ đội và xã trưởng ra ruộng mạ đầu hàng, nói:

- Ta dùng mẹo Gia Cát mượn tên Tào Tháo!

Mưu vừa bò vừa lăn cái bánh xe rơm về phía trước. Chiếc bánh xe rơm che kín người, đạn đại liên cũng khó xuyên thủng. Chỉ huy đơn vị bộ đội vỗ tay đánh bốp vào vai Mưu:

- Giỏi! Đúng là Mưu Gia Cát!

Sáng kiến dùng nùn rơm che đạn bắn thẳng của Mưu góp phần đánh thắng bốt Tràng, Mưu được thưởng huân chương, nổi tiếng cả huyện.

Hòa bình lập lại Mưu làm Chủ nhiệm Hợp tác xã mua bán (HTXMB). Ngày trước Mưu dùng mẹo góp phần thắng giặc, giờ dùng mẹo ăn hớt của dân. Thời bao cấp, từ cái kim sợi chỉ,cân muối lạng đường đều theo chế độ Nhà nước phân phối qua HTXMB. Từ con gà con lợn con cá xã viên chăn nuôi đều phải bán cho HTXMB. Quyền phân phối, thu mua nằm trong tay ông Chủ nhiệm Mưu.. Nhà có ma chay, cưới hỏi đều phải nhờ vả ông ta. Khéo luồn cúi thì được vài tút thuốc lá Tam Đảo, Điện Biên, vài cân kẹo Hải Châu, vài cân chè Hồng Đào, thậm chí tạ thịt lợn, không khéo thì vài gói thuốc Trường Sơn mốc. Có con lợn muốn bán mà không biết điều bị đánh tụt xuống loại B, loại C, bị trừ phân trừ nước, biết nịnh nọt lợn què thành lợn lành. Một năm 2 mét vải, tử tế thì được vải phin, vải phíp, không thì vải diềm bâu. Mưu ban phát cho ai người đó được hưởng, lấy của ai người ấy phải chịu. Ông ta nghĩ ra đủ mẹo luật để ăn bớt ăn xén. Cái quả cân bán bàng bị khoét rỗng ruột đề ăn bớt mỗi cân đường, cân muối, cân thịt nửa lạng. Cái quả cân thu mua thì đắp thêm chì để ăn gian mỗi tạ lợn, tạ gà của xã viên 2-3 kg. Những cái mẹo của Mưu ai cũng biết, nhưng chẳng làm gì được, vì Mưu đại diện cho cả một tập thể lãnh đạo. Bởi thế sau hơn 10 năm làm Chủ nhiệm HTXMB, Mưu xây nhà xây sân, mua xe đạp Favorít, đài Xiêng Mao, tiền bạc rủng rỉnh trong khi dân làng nghèo rớt mồng tơi.

Năm 1968 xã tôi mở Đại hội bầu ban lãnh đạo mới. Bí thư đảng ủy Ngọat được nhắc lên huyện, nên phải bầu bí thư mới. Cái chức đó Mưu và Quyết tranh nhau.

Thế lực Mưu, Quyết một chín, một mười. Ông Quyết nhỉnh hơn vì có cô con gái đi Thanh niên Xung phong (TNXP). Mưu đã trám chỗ khiếm khuyết ấy bằng cách dúi cho mỗi đảng ủy viên 1 tút thuốc lá Điện Biên, hai vị nữ thêm chiếc khăn bông bay. Nhưng Quyết không phải tay vừa, cứ bám riết vào tiêu chuẩn “Ưu tiên những đồng chí có con em trực tiếp ra tiền tuyến vào cơ cấu nhân sự”. Trong một buổi họp, Quyết đã rút trong túi ra chiếc phong bì chi chít dấu bưu điện, trịnh trọng nói với mọi người:

- Cháu Duyên nhà tôi vừa được bầu là chiến sỹ thi đua, từ trong tuyến lửa gửi thư ra thăm Ban lãnh đạo xã nhà!

Quyết đưa lá thư cho Bí thư Đảng ủy đọc lá thư của cô gái TNXP lời lẽ rắn rỏi kể những gian khổ hy sinh và tinh thần chống Mỹ cứu nước ở Trường Sơn làm mọi người xúc động. Xã đội trưởng bật dậy khoát tay:

- Chúng ta phải thực hiện nghiêm chình chính sách hậu phương!

Tan cuộc họp Mưu đạp xe về nhà hậm hực nói với vợ:

- Phen này thua tay Quyết!

Vợ Mưu nói:

- Thì để ông ấy làm Bí thư?

- Đồ ngu!

- Ông giàu gấp mười ông ấy rồi còn gì?

- Đúng là đàn bà! Mưu gắt.

Vợ Mưu hỏi:

- Thế ông tính sao?

Mưu chắp tay sau đít rảo mấy vòng trong sân,rồi hạ giọng:

- Đành phải cho thằng Mạnh vào bộ đội!

Vợ Mưu nắm vạt áo Mưu:

- Có mỗi mụn con đang đi học, vợ nó sắp đẻ, ông tha cho nó.

Mưu hất tay vợ ra:

- Hừm! Bộ đội năm bảy loại! Ai đưa nó vào chỗ chết?

Vợ Mưu nín thinh. Mưu mặc quần áo tinh tươm, ra cửa hàng lấy mấy tút thuốc lá Điện Biên bao bạc, mấy cân đường rồi đạp thẳng xe lên tTỉnh đội. Gặp ban chỉ huy xong, Mưu đạp xe sang trường Cao đẳng sSư phạm lôi thằng Mạnh về phòng trọ. Thằng Mạnh hỏi:

- Có việc gì thầy?

Mưu kể cho Mạnh nghe việc bầu bán sắp xảy ra ở xã, và bảo:

- Muốn đánh bại lão Quyết, mày phải nghỉ học vào bộ đội!

Mạnh nói:

- Tùy thầy!

Mưu hỏi:

- Mày có dám cắn ngón tay lấy máu viết quyết tâm thư không?

Thấy con trai chần chừ, Mưu móc túi lấy bịch máu thủ sẵn, bảo Mạnh chấm bút viết quyết tâm thư.

Thằng Mạnh hỏi:

- Máu gì ?

Mưu cười :

 - Máu gì chả là máu!

Mấy ngày sau tờ báo tỉnh đăng gương “Người tốt việc tốt” đồng chí Lê Mưu, động viên con trai độc nhất đang là sinh viên, cắt máu viết quyết tâm thư xin ra mặt trận đánh Mỹ. Nhờ cái mẹo ấy, Mưu thắng Quyết, trúng cử Bí thư Đảng ủy xã .

Mạnh được bố trí làm văn thư Tiểu đoàn (D) bộ đội phòng không địa phương, đóng quân ở Đông Phong, cách nhà hơn chục cây số. Mưu đã tính toán kiếm cho Mạnh “tý đảng viên” rồi sẽ chạy cho nó vào Đại học quân y, bỏ cái nghề “húp cháo phổi”. Không ngờ mới được vài tháng Mạnh hy sinh. Hôm ấy máy bay Mỹ ném bom trúng chỉ huy sở (CHS) tiểu đoàn (D), Mạnh hy sinh cùng 3 đồng chí khác.

Vợ Mưu vốn ốm yếu, bị xốc nặng đâm ra lẩm cẩm, suốt ngày lảm nhảm: “ Ông Mưu giết con! Ông Mưu giết thằng Mạnh rồi!”. Con dâu Mưu vừa sinh con trai được mấy tháng oán trách bố vì chức Bí thư Đảng ủy mà để nó mẹ góa con côi. 

Một hôm, bà Mưu đang bế thằng Tiến, con Mạnh cháu nội Mưu, ở ngoài sân thì nghe tiếng kêu oai oái trong buồng con dâu. Bà chạy vào, thấy Mưu đang đè con dâu xuống giường. Cô con dâu cố chống lại bố chồng cưỡng hiếp. Bà Mưu chẳng lạ gì ông chồng dê già, từng ngủ với mấy cô nhân viên HTXMB, làng nước kháo ầm lên lâu rồi, nhưng không ngờ con dâu lão cũng không từ. Bà Mưu rú lên, ngã vật xuống, 2 hôm sau thì chết. Chôn cất mẹ chồng xong, cô con dâu bế con về nhà mẹ đẻ, rồi đi lấy chồng khác,theo chồng lên làm công nhân khu gang thép Thái Nguyên. Cô muốn đưa con đi theo, bố chồng không cho, phải nhờ chính quyền can thiệp. Phó Chủ tịch xã phụ trách tư pháp nói với Mưu:

- Pháp luật quy định...

Mưu quát:

- Đừng mở mồm nói pháp luật với tôi!

Con dâu Mưu quỳ xuống lạy van Mưu:

- Xin bố cho con nuôi dạy con con nên người!

Mưu chửi:

- Mày không đủ tư cách dạy cháu ông!

Vợ Mạnh đành bỏ con ra đi. Thằng Tiến ôm lấy chân mẹ, bị ông nội đá cho một nhát văng vào góc nhà. Hàng xóm đến xem lắc đầu lè lưỡi. Chủ tịch Quyết rẽ vào, nói với Mưu:

- Đồng chí Bí thư nghiêm khắc quá nhỉ!

Mưu biết Quyết xỏ xiên, đang tức chửi bừa:

- Mả mẹ mày!

Từ hôm ấy ông Mưu mua chiếc ghế mây buộc vào khung xe đạp cho cháu nội ngồi, đi đâu chở nó theo. Thời gian đầu thằng bé nhớ mẹ khóc, sau quen dần nín thít bám theo ông nội. Khi Mưu họp, thằng Tiến ngồi bên cạnh tí táy nghịch cái bật lửa, cái bút máy, chán thì lăn ra ngủ. Lúc Mưu đến cơ sở hoặc ra đồng, thằng Tiến lon ton chạy theo sau. Nó bắt chước ông nội từ dáng đi khệnh khạng đến cách quát nạt cấp dưới, khom lưng với cấp trên. Mỗi khi có khách Mưu bắt tay, thằng Tiến cũng bắt tay, nói ngọng bi bô: “Tào tồng tí”. Ông Mưu và mấy người vỗ tay khen: “Đồng chí Tiến giỏi lắm!” giỏ nhà ai quai nhà nấy!

Một hôm đang họp Thường vụ Đảng ủy Trưởng Công an (CA) vào báo sư thầy Thanh Nhã chùa Rộc mới về. Mưu dừng ngay cuộc họp, cùng Trưởng CA tức tốc ra chùa. Mưu vốn không tin thần phật, đối với sư Nhã ông ta càng ghét vì cho rằng sư Nhã là phản động đã chỉ điểm cho máy bay Mỹ ném bom giết con trai mình.

Chuyện xảy ra đầu năm 1969, khi Mạnh mới nhập ngụ được mấy tháng. Hôm ấy sư Nhã đi lễ ngang qua làng Đông Phong, nơi D pháo phòng không đóng quân, thì có báo động máy bay. Sư vội vàng nhảy xuống giao thông hào, đánh rơi chiếc thanh la trên đường. Máy bay Mỹ nhào xuống ném bom vào làng Đông Phong, trúng CHS D pháo cao xạ, Mạnh cùng 3 chiến sỹ hy sinh. CA phát hiện chiếc thanh la cùa sư Nhã, kết tội ông làm gián điệp, dùng chiếc thanh la đồng làm gương phản chiếu chỉ điểm mục tiêu cho máy bay địch. Thời ấy, tinh thần cảnh giác cao, mọi hành động khả nghi đều bị theo dõi, 1 chiếc khăn mặt trắng phơi ngoài sân có khi bị coi là ám hiệu cho địch, nên chiếc thanh la của sư Nhã thành chuyện tày đình. Ông bị bắt đi cải tạo hơn 1 năm rồi thả về không có mảnh giấy minh oan.

Mưu ra chùa thấy sư Nhã đang tụng kinh. Mưu hỏi:

- Ai thả về?

Sư Nhã thưa:

- Báo cáo ông cán bộ trại B5 ạ!

- Giấy đâu?

- Thưa không có!

Mưu ra lệnh cho Trưởng công an:

- Gô cổ thằng phản động trốn cải tạo lại!

Suy nghĩ một lát Mưu ra lệnh tiếp:

- Dẹp luôn cái điểm mê tín dị đoan này đi!

Công an, dân quân răm rắp làm theo lệnh Mưu. Bỗng chốc ngôi chùa cổ kính hàng trăm năm bị đập phá tan hoang. Tin Bí thư Đảng ủy xã trói sư, phá chùa đến tai lãnh đạo tỉnh. Một ông cán bộ Ban Tôn giáo được cử về điều tra. Mưu làm cơm rượu mời ăn uống, biếu cặp gà trống thiến béo và bao gạo tám thơm, thế là êm chuyện. 

Thằng Tiến giống hệt tính ông nội. Cũng trí trá ngang tàng hống hách. Đến nhà trẻ nó giành hết đồ chơi, bắt nạt bạn, không nghe lời cô giáo. Có lần cô giáo Thu phạt nó quỳ. Nhưng cô vừa nói dứt lời thằng Tiến thụi vào mặt cô một nhát, rồi chạy về mách ông nội bị cô giáo đánh. Mưu đến ngay lớp, bắt các cô giáo xếp hàng trước mặt thằng Tiến, hỏi:

- Đứa nào đánh cháu?

Thằng Tiến chỉ cô Thu. Cô Thu chưa kịp nói câu nào đã bị ông Mưu giáng cho một cái tát nổ đom đóm mắt...

Không học hành, chữ nghĩa cóp nhặt chưa đầy một trang giấy học trò, mà ranh ma mưu mẹo đầy mình, luồn lách như trạch. Làm bí thư đảng ủy xã mới hơn một năm Mưu đã được nhấc làm phó chủ tịch huyện, phụ trách lưu thông phân phối. Sở trường chủ nhiệm hợp tác xã mua bán được phát huy, những cái mẹo trước kia Mưu bày ra xà xẻo của dân một xã, giờ nhân ra toàn huyện. Mưu có hàng chục “sáng kiến” bóp nặn dân, một trong số “sáng kiến” đó là “Quần bớt ống áo bớt tay”. Trước ống quần may chấm mắt cá, rộng hơn hai mươi phân, gấu lật hai phân, giờ cắt ngắn trên mắt cá, rộng mười tám phân, gấu viền nừa phân. Tay áo trước dài tới bàn tay, giờ cắt ngắn ngang cổ tay. Mưu cho tuyên truyền kiểu trang phục ấy vừa khỏe, vừa đẹp vừa tiết kiệm. Cái sáng kiến ấy được áp dụng toàn huyện, mỗi người bị cắt mất bốn mươi phân phiếu vải ngon ơ.

 

Mưu làm phó chủ tịch huyện được hơn một năm thì Sài Gòn giải phóng, và có chính sách tăng cường cán bộ lãnh đạo cho miền Nam. Khi còn chiến tranh cán bộ đùn đẩy nhau đi B, chả ai muốn dấn thân vào chỗ chết, giờ thì tranh giành nhau đi tăng cường. Họ biết miền Nam dưới chế độ Việt Nam cộng hòa giàu gấp vạn lần miền Bắc xã hội chủ nghĩa và quyết chớp lấy cơ hội kiếm chác.

 

Mưu và Khả là hai phó chủ tịch huyện được cân nhắc để chọn lấy một làm cán bộ tăng cường. Ban tổ chức trung ương nghiệng về Khả, vì ông này còn trẻ, có trình độ văn hóa lớp 10. Mưu biết trong tiêu chuần cán bộ tăng cường không chọn những người có thân nhân di cư vào Nam năm 1954, sợ bị móc nối mua chuộc, ăn phải “đạn bọc đường”, liền cho đàn em viết đơn tố cáo Khả có người anh họ di cư. Thế là Khả bị loại, Mưu giành xuất cán bộ tăng cường dễ như trở bàn tay.

Mưu gửi thằng Tiến cho một người trong họ nuôi, bán đài, bán xe lấy tiền vào Nam. Những cuộc liên hoan tiễn chân linh đình diễn ra liên tục. Không ngờ đêm cuối cùng Mưu đi liên hoan ở xã Đông Phong về khuya, tài xế chuyếnh choáng say rượu, lao xe xuống vực, đè gãy nát chân Mưu. Kế hoạch làm cán bộ tăng cường cho Sài Gòn của Mưu hoàn toàn thất bại và con đường hoạn lộ của Mưu cũng chấm dứt từ đó.

 

Như từ trên cao rơi tõm xuống, Mưu choáng váng điên dại, chửi trời, chửi đất và làm đơn tố cáo Khả đồng mưu với lái xe hại mình. Chả có chứng cứ gì, trong khi lái xe cũng bị thương suýt chết, vụ kiện chìm xuồng. Mưu buồn bực nhận quyết định về hưu đúng tuổi 53.

 

Hết chức quyền không vơ véo được nữa, của cải lại rủ nhau đi nhanh vì bệnh tật. Mưu càng buồn bực vì lãnh đạo không quan tâm, bạn bè đồng chí xa lánh, nên lấy rượu giải khuây. Khuôn mặt ông mỗi ngày một choắt lại, nhọn hoắt, râu ria tua tủa, hai mắt lõm sâu, cái cổ rụt vào hai bả vai, lưng còng xuống như con tép khô.

 

Hàng xóm cũng chả ai thèm đến nhà Mưu. Mưu ra đường không ai chào. Bao nhiêu chuyện gian dối của Mưu trước kia bị người ta mang ra nói công khai. Có lần Mưu chống nạng đi ngang qua cửa hàng thịt chó lão Tảo, giữa lúc đông người đang nhậu. Lão Tảo nháy mắt cười, hỏi Mưu:

- Bác còn nhớ cái năm sáu tám bác xin bịch máu chó của em không?

Mưu không đáp. Tảo giả say vừa cười hềnh hệch vừa nói:

- Em nghe nói bác xin máu chó cho con trai viết quyết tâm thư, đúng không nào?

- Mả mẹ mày!

Ông Mưu chửi rồi chống nạng đi, bỏ lại phía sau những tràng cười hô hố.

Thằng Tiến bị ông nội ép uống rượu đâm nghiện. Năm nó mười lăm tuổi tửu lượng đã hơn hẳn ông Mưu.

 

Cảnh nhà đã kiệt quệ, ông Mưu bày cách cho cháu ăn cắp lấy tiền uống rượu. Đi học nó ăn cắp sách bút của bạn, về nhà ăn cắp của hàng xóm. Ông bày cho cháu cái mẹo ăn trộm trứng gà. Nó lấy rọc mùng lùa vào ổ gà mái đẻ, gà tưởng rắn nằm im cho nó nhặt trứng. Ao nhà ai có cá mè, cá chép to, chỉ vài đêm là thằng Tiến bắt sạch. Ông Mưu bày cho cháu cái mẹo chọn góc ao sâu, úp nơm xuống, trong nơm có quả bưởi và bọc cám rang ghim chặt xuống bùn. Cá ngửi mùi cám thơm rủ nhau chui vào ăn, quẫy nát bùn, quả bưởi nổi lên bịt chặt miệng nơm cho tiền bắt cá.

Thằng Tiến vào đời bằng mưu mẹo của ông nội truyền cho. Chính cái vốn liếng ấy đẩy nó vào tù tội. Năm Tiến mười bảy tuổi, nó lên phố huyện lừa lấy xe đạp bán lấy tiền ăn chơi và bị bắt. Nó vừa bước vào phòng giam thì tên “đại bàng” mặt rỗ hỏi:

- Tội gì?

- Lừa đảo - Thằng Tiến đáp, vênh mặt lên, tưởng không ai dám bắt nạt mình.

Đại bàng mặt rỗ nói :

- Giỏi! Lừa được người là giỏi!

Thằng Tiến cười, nhổ một bãi nước bọt, ngồi bắc chân chữ ngũ châm thuốc lá hút. 

Thằng đại bàng nháy mắt cho đàn em, lập tức Tiến bị hất sấp mặt xuống nền xi-măng, máu mồm, máu mũi tuôn ra. Nó chưa kịp hoàn hồn thì bị dộng ngược đầu xuống đất, thúc cùi trỏ vào bụng phọt cơm ra miệng. Hôm sau, nó vừa cầm suất cơm định ăn thì bị đá văng vào góc nhà. Đại bàng bảo: 

- Phải lao động mới được ăn!

Chúng bắt hai chục con kiến bỏ vào cái lọ Penicilin, giao cho Tiến chăn. Mỗi buổi sáng Tiến phải thả đàn kiến ra góc nhà ngồi canh, tối bắt bỏ vào lọ. Mất một con, chết một con là ăn đòn. Từ nhỏ Tiến học ông nội mưu mẹo lừa người, cậy thế ông ngang tàng gây tội ác với người, giờ Tiến bị người khác trừng phạt. Nó chợt hiểu có vay có trả từ đó.

Hôm được tha về, nó xúc thúng thóc đội ra chợ bán lấy tiền làm cỗ cúng bố và bà nội rồi bỏ đi biệt.

Ông Mưu mỗi ngày một nghiện nặng. Cái thân hình quắt queo sống lắt lay nhờ rươu. Nhưng ông vẫn nghĩ mưu mẹo kiếm tiền uống rượu. Ông có mảnh vườn hoang, gà, chó hàng xóm hay vào bới giun bới cỏ và ỉa đái. Ông thường xuyên đánh bẫy bắt trôm bán lấy tiền uống rượu. Một hôm Mưu nhìn thấy con chó mực nhà ai mon men tới vườn. Ông vứt cho nó miếng xương. Con mực quen mui hôm sau lại đến. Mưu ước lượng con mực phài hai chục kí, liền làm một chiếc bẫy sập cực mạnh để bắt.

 

Làm bẫy xong Mưu mang ra vườn gài ngồi rình. Hai lần con mực thò đầu vào gặm cục xương tha đi mà bẫy không sập. Mưu kiểm tra thấy chiếc nẫy khít quá. Ông sửa lại, lấy mỡ bôi trơn. Cài bẫy xong, cảm thấy không yên tâm, Mưu cho đầu mình vào thử. Phập! Chiếc cần bẫy sập mạnh kẹp chặt lấy cổ Mưu. Ông giãy dụa, quẫy đạp nát đám cỏ không rút được cổ khỏi cái bẫy chó ông làm rất cứng, bị chết ngạt. Hai ngày sau hàng xóm mới phát hiện mang chôn.

 

... Năm nay tôi về que và cũng ra nghĩa trang tảo mộ. Tôi thấy mộ ông Mưu đã được xây, trên mộ có nhang, vàng mã. Gặp thím Phúc,tôi hỏi:

- Ai xây mộ cho ông Mưu vậy thím?

- Thằng cháu nội đấy!

- Nó về rồi hả thím?

Thím cả Phúc gật:

- Về rồi!

Tôi vội vàng chào thím Phúc, rồi đến thẳm chùa Rộc.

Không ngờ thầy chủ trì lại chính là thượng tọa Thanh Nhã, người hơn chục năm trước bị bí thư đảng ủy Lê Mưu bắt trói. Thượng tọa đã hơn tám mươi, da dẻ vẫn hồng hào tươi tốt, dáng đi nhanh nhẹn, thanh thản. Thượng tọa dẫn tôi đi thăm chùa. Chùa đã được tu sửa lại, nhưng những pho tượng bị ông Mưu ra lệnh đập sứt mẻ năm nào giờ vẫn chưa sơn lại, như những vết thương chưa lành. Tôi buồn nhắc lại chuyện cũ, Thượng tọa thâm trầm nói với tôi:

- Cả đời ông ấy mưu mẹo vì tham sân sì, rốt cục chết thảm vì chính cái mẹo của mình. Nhà họ Dương được coi là “Danh gia vọng tộc” ở đất càng kết cục thân bại danh liêt. Ông tướng ở Đông Phong chiếm lá gan của ngưới ta nên bị quả bào... Mình tự phán xét mình là thế!

 

Một người mặc áo quần nâu đi ngang qua sân chùa, mặt choắt, mắt sâu dáng đi khuyềnh khoàng giống hệt ông Mưu ngày trước. Tôi hỏi Thượng tọa:

- Thưa, có phải anh Tiến cháu ông Mưu?

- Phải, anh Tiến đấy! - Thượng tọa đáp.

- Con không ngờ...

Thượng tọa mỉm cười:

- Anh ấy vào Nam tu từ ngày ra tù, mới xin về chùa này mấy tháng.

Tôi muốn gặp Tiến thăm hỏi vài câu, nhưng đã đến giờ dâng hương. Sư Tiến đã dóng lên mầy hồi chuông. Tiếng chuông chùa ngân nga, bay bổng giữa chiều quê.

Minh Diện
Theo http://bongbvt.blogspot.be/2014/01/mot-oi-muu-meo.html#more
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn