BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 34349)
(Xem: 32852)
(Xem: 31054)
(Xem: 24356)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Ngày Xưa Hoàng Thị

17 Tháng Chín 201312:00 SA(Xem: 726)
Ngày Xưa Hoàng Thị
50Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
00
Năm tàn, tháng tận. Khi xé tờ lịch cuối cùng của một năm, tôi thấy lòng mình sao buồn quá đổi. Nhất là mấy bửa nayHouston trở lạnh (8, 9tháng 12). Gió thổi, mưa bay, trời đầy mây xám, không một chút nắng. Đêm về, nhiệt độ 30, lại có tuyết lay bay. Tiếng nhạc mừng Giáng Sinh vang vang trên truyền hình báo tin mùa đại lễ đã tới. Tôi khoác áo ấm, muốn ra đường cho khuây khỏa, nhưng chưa tới cửa nhà xe, lại quay vào vì sợ bị “hắt xì”. Ôi thôi, khi về già, cơ thể của mình hay bị thời tiết hành hạ, mà ngồi mãi trong computer thì mắt mỏi, vai đau..

Những lúc tiết trời ủ ê như vậy, bạn đọc có biết tôi mơ gì không? Nỗi mơ ước này tôi thấy nó thật tầm thường. Nhưng lâu rồi, mỗi năm tôi một nhớ, mà chưa thực hiện được. Đó là được gặp bạn đồng trường, cùng nhâm nhi cà phê, kể chuyện xưa một thời áo trắng, hoặc là bạn đi buôn - của một thời gian rất khổ sau tháng Tư đen. Mỗi cái mốc thời gian đi qua của đời người, đều để lại nhiều kỷ niệm. Vui hay buồn, nó đều đeo đẳng tâm tư ta trong suốt cuộc đời. Mỗi khi cuối năm, lại chổi dậy trong tâm tư thật sống động, thôi thúc, nhất là những khi trời lạnh, mưa bay, một mình trong phòng vắng.

Sáng nay, thấy cháu nội, cháu ngoại đến trường, tự dưng mình lại nhớ thời đi học. Nhất là cái tuổi mười bốn, mười lăm, ăn chưa no, lo chưa tới.

Thường thì cuốc bộ đến trường. Tóc xỏa ngang vai, tay thì xách cặp. Thế nào cũng có trái xoài, trái cóc hay vài viên xí muội nằm bên trong, hứa hẹn giây phút chia quà rất hào hứng trong giờ ra chơi. Nhóm năm, nhóm ba, vừa đi vừa trò chuyện với bạn, con đường hai ba cây số, vậy mà thấy ngắn. Khi tan lớp, thế nào cũng ghé qua xe chè đậu đỏ bánh lọt, làm một ly rồi về. Cũng không dám la cà lâu, về trễ quá đôi khi còn bị “ăn roi mây” của cha mẹ. Hôm nào trời mưa, có dịp tấp vô hiên nhà người, e ấp ôm cặp che ngực, sợ đường cong con gái phô ra ngoài. Bên trong có thêm mấy anh nam sinh trú mưa nữa, lại có dịp cho nhau tia nhìn bẻn lẻn. Áo dài ViệtNamcoi vậy mà khêu gợi vô cùng, nhất là chỗ đường tà ở hai bên hông, khoe chút xíu hở giữa áo và lưng quần, đã làm nhiều nam sinh ngẩn ngơ! Sau này có anh tỏ lộ trong một bài thơ, thì đám con gái mới biết. Chẳng có xe hơi, không có điện thoại như bên Mỹ, cho nên thời gian học trò của thập niên 1950, 1960 sao mà hồn nhiên và thơ mộng quá.

Các nam sinh lớp trên, lẽo đẽo theo chân cô bạn chung trường, chỉ để nhìn mà chẳng có dịp nói câu chào, vì nón lá che nghiêng và cô cứ nhởn nhơ cười nói cùng lũ bạn.

Một thoáng đôi lần, thầy bệnh bất thình lình, nghỉ dạy. Được 2 tiếng đồng hồ rong chơi, cả bọn kéo nhau vô chùa nhởn nhơ nhìn ngắm. Có lần, rủ nhau vô nghĩa địa nhà giàu Mạc Đĩnh Chi, xem ngôi mộ nào đẹp! Có đứa còn rủ nhau cầu cơ ngay trên mộ. Một bà chị lớn tuổi, khi nghe chuyện đã rầy cô em:

-Tụi bây đang tuổi lớn, vào đó có ngày bị “bắt” đi thì đừng có trách.

Theo bà chị, hồn ma thường hay vẩn vơ đi chơi trong giờ đúng ngọ (12 giờ trưa), gặp cô nào hạp vía, xinh đẹp thì “bắt” đi theo!

Thế là cả bọn sợ quá, không dám rủ nhau làm chuyện khờ dại như thế.

Nghĩa trang Mạc Đỉnh Chi


Dịp may như vậy, đi viếng Chùa hoặc long nhong ở Sở Thú đều vui như nhau. Mỗi nơi, đều đem lại cho đám nữ sinh nhỏ, nhiều điều thích thú. Thế là cả bọn cứ mong cho “thầy bị trúng gió” để được thỏa thuê đi chơi một cách hợp pháp (mà cha mẹ không biết).

Năm mười sáu, mười bảy tuổi, cường độ chiến tranh ngày một gia tăng, các nam sinh lần lượt đi lính. Trên đài phát thanh Quân Đội luôn nghe bài hát, có câu “đi quân dịch là thương nòi giống”, cho nên tuổi học trò bị ảnh hưởng rất nhiều trong giai đoạn này.

Một cô bạn nhỏ, có người anh là một Y-sĩ, làm việc tại Tổng Y Viện Cộng Hòa, có lẽ vì vậy, nên cô rất rành đường đi nước bước. Ngày Thứ Bảy, Chủ Nhật, thay vì rủ nhau đi xi nê, cô ta dắt cả bầy đi chợ. Ngôi chợ rất nhỏ, nằm sau lưng bệnh viện Cơ Đốc, Phú Nhuận, sát nhà cô ta. Đám nữ sinh để dành được chút tiền ăn quà, mua trái thơm, cóc, ổi, xoài, xách đầy một giỏ. Về nhà cô, cùng nhau cắt, gọt, xâm cây, xếp ngay ngắn, ướp nước đá trong suốt đêm Thứ Bảy. Sáng Chủ Nhật, cả bọn kéo nhau lên bệnh viện Cộng Hòa. Ở đây, các cô túa ra, tặng quà, viết thư gìum cho anh bị thương ở mặt, cắt móng chân cho mấy anh bị băng tay. Sinh hoạt rất vui, đem lại nụ cười rạng rỡ cho vợ, mẹ của nhiều thương binh. Thời gian đó, các bà Tổng Thống, Thủ Tướng cũng ra vô bệnh viện này thường xuyên. Mấy bà tặng khăn lông, bàn chải đánh răng, dầu gió...Còn đám nữ sinh này chỉ có chút lòng, chút quà mọn, nhưng chắc làm mấy anh vui hơn, vì tiếng nói, tiếng cười ngây thơ. Khi các tà áo dài trắng quay lưng, còn thấy nụ cười buồn và ánh mắt luyến tiếc của người chiến sĩ. Có anh nói rằng:

-Cả tuần lễ trôi qua rất lâu, mà sao ngày Chủ Nhật các cô đến, thời gian đi mau quá!

Thời gian này, chuyện tử sinh xảy ra như cơm bữa, nào là giật mìn, đắp mô, pháo kích, mà chánh phủ thì cứ bị biểu tình chống đối liên miên, cho nên cha mẹ có đôi phần dễ dãi.

Thuở tôi mới lên bảy tám tuổi, tôi thấy các phụ huynh khó khăn rất nhiều trong việc dưỡng dạy con cái, nhất là con gái. Tôi thấy chị hàng xóm, khoảng 17 tuổi, cho anh chàng lối xóm mượn xe đạp đi thi, vì xe đạp anh bị xì lốp. Có vậy thôi, mà ông bố bắt nằm trên phản gỗ, đánh cho mười roi không được nhúc nhích, về tội “cho trai mượn xe” mà không hỏi ý gia đình!!

Sau khi chị bị đòn, tôi sang nhà, vào phòng xoa dầu cho chị, mà nước mắt cứ rơi. Về sau, chị đi lấy chồng, tôi không biết chị có được hạnh phúc, hay phải lập gia đình vì lệnh của ông bố?

Thật là tội nghiệp cho thân phận làm con gái ViệtNam.

Đám nữ sinh làm công tác “thăm viếng thương binh” một thời gian rất dài, sau khi Thanh Cần lên Đà Lạt học, thì không còn ai thúc hối và hướng dẫn nữa. Mấy đứa lần lượt lên lớp, học thi, học thêm, nên chẳng có thì giờ làm công việc đầy tình hậu phương này. Lúc sau, có đứa rủ nhau đến số 38 đường Tú Xương là trung tâm Caritas, nơi có mấy bà Sơ trẻ, mặc áo dòng màu Xanh, chuyên nuôi con nít bị bỏ rơi, què quặt. Con đường này rất đẹp, toàn khu biệt thự, đi trong bóng mát thấy lòng thênh thang. Đôi khi còn vừa đi, vừa nhảy cà tưng nữa!

Thế là cả bọn thay phiên tắm rửa, cắt tóc, cắt móng tay, đút cho bé ăn, ẵm bồng, giúp các Sơ một tay. Công việc chẳng kéo dài được bao lâu, đứa đi lấy chồng, đứa về quê nhà vì cha chết, mẹ yếu, cần sự cậy nhờ. Rồi đến thời chiến tranh tràn ngập quê hương, của năm cuối thập niên 1963, thanh niên đến tuổi lần lượt nhập ngũ. Anh chàng nào thuộc dạng “con ông, cháu cha” được gởi đi “du học” nước ngoài để tránh tuổi đôn quân, mặc dù không có học trình xuất sắc. Nhiều mối tình vừa chớm nở, đành đứt đoạn, ly tan. Người lên đường nhập ngũ, đời sống lang bạt, lấy đâu làm điểm tựa để nghĩ đến chuyện hôn nhân. Theo lệnh gia đình, cô con gái đôi khi phải ôm cầm sang sông, không thể chờ đợi ngày chàng làm xong nhiệm vụ. Rồi Thu qua, Hè đến, quay đi ngoảnh lại thì ai nấy đều có hai màu tóc. Thỉnh thoảng trong đời, đôi lần tình cờ gặp nhau, thì cũng giống như lời thơ của cụ Phan Khôi: 24 năm sau tình cờ gặp nơi đất khách. Đôi cái đầu đều bạc. Nếu chẳng quen lưng, đố nhìn nhau ra đặng. Ôn chuyện cũ mà thôi. Liếc đưa nhau đi rồi. Con mắt còn có đuôi!”

Mấy chục năm rồi, bài thơ rất cũ, vậy mà đọc tới, đọc lui thấy thắm thía quá đổi! Rồi thì cũng xong một đời!. Mỗi người nay đã có bổn phận của mình! Buồn hay vui đều từ trong tâm mà ra. Đau khổ hay hạnh phúc do bề trên đã định, vì đó là định số của cuộc đời!

 * * *

Tôi được cắt nhau ở nhà thương Từ Dũ, thủ đôSaigon. Tôi không có cơ hội về thăm quê nội, quê ngoại tận ngoài miền Trung xa xôi, cho nên rất thích thú khi nghe chuyện đặt lờ, giăng câu, hái trái cây ở các tỉnh. Tôi lại không được đi du lịch miền Tây, lúc ấy không được yên, đường xá thường bị đắp mô, ngoại trừ đi nghỉ hè ở thành phố Nha Trang (cách Saigon 4 tiếng đồng hồ lái xe) hay biển Vũng Tàu (cáchSaigonhai tiếng đồng hồ xe đò) trong thời gian còn nhỏ. Cho nên, kỷ niệm về ViệtNam, chỉ nằm trong khu phi trường Tân Sơn Nhứt thênh thang gió lộng và thành phốSaigonvới những con đường đầy lá me bay. Thủ đô này nằm trong lòng tôi, với nhiều kỷ niệm thật đẹp. Bây giờ nó là một thành phố ô nhiễm, người đông và bụi!

Đường vào phi trường Tân Sơn Nhất


Chiều mưa mỗi năm trong những ngày lưu lạc xứ người, tôi còn để trí nhớ trôi về ngồi cao ốc 85 đường Lê văn Duyệt,Saigon(đối diện với công viên Tao Đàn). Đây là một trong các địa điểm của cơ quan Viện Trợ Dân Sự Hoa Kỳ, gọi tắt là USAID.

Lúc đó, đám đồng sự vừa tròn 20 tuổi. Có người vừa đi làm, vừa đi học. Có anh chị đang học các đại học buổi tối. Có người thì theo học các khóa tu nghiệp của cơ quan USAID tổ chức (trường nằm trên đường Sương Nguyệt Ánh). Nhân viên được học miễn phí, lãnh lương như đi làm. Anh văn, lưu trữ hồ sơ, đánh máy, tốc ký... môn gì cũng có, miễn là “xếp” ở trên ký giấy, xác định vì “nhu cầu của chức vụ”.

Chúng tôi làm việc trên cao ốc số 85 Lê văn Duyệt. Nơi đây có hằng trăm nhân viên Việt Mỹ, bãi đậu xe riêng biệt, có người canh gác. Ra vào rất khó khăn. Phụ nữ đi làm phải mặc áo dài hoặc áo đầm, không được mặc quần tây, ngoại trừ có giấy chứng nhận bị tàn tật gì đó.

Đường Lê Văn Duyệt - Bùng binh Công Trường Dân Chủ


Chúng tôi làm việc từ 8 giờ sáng đến 6 giờ chiều, không kể 15 phút được thay phiên nhau đi ăn sáng.

Giờ nghỉ trưa từ 12 giờ đến 2 giờ. Năm thiếu nữ sàn tuổi nhau, chung một phòng (Hành Chánh), nên gọi nhau bằng tên hoặc ... mày, tao! Đang tuổi ăn diện, nên chúng tôi có quá nhiều đề tài để nói. Cơ quan USAID I này cách chợ Bến Thành không xa, nên sau khi ăn trưa, nhiều cô đi dạo. Cô thì đi xem bói, cô thì rủ nhau vào công viên Tao Đàn xem hoa nở. Vườn Tao Đàn khi xưa gọi là vườn Bờ-rô, lớn và rộng mênh mông, nơi có các cặp tình nhân hò hẹn, nơi có những người thợ chụp ảnh dạo, hành nghề nhàn nhã. Nhờ ba tôi lưu giữ trong Album gia đình, nên chị em tôi vẫn còn nhiều hình ảnh lúc hai, ba tuổi chụp trong khu vườn xinh đẹp này.

Mỗi khi được nghỉ giải lao, tôi thường phóng tầm mắt sang vườn Tao Đàn, nhớ về tuổi thơ của mình.

Đường Trương Công Định ngang qua công viên tao Đàn


Hôm nào Saigonmưa và lạnh, đường xá ướt át, tôi và các bạn có thói quen lên sân thượng của chỗ làm. Nơi đây có một quày hàng, chuyên bán thức ăn sáng và trưa theo lối Mỹ, bánh Donut, sữa tươi. Trong căn phòng ấm cúng, từ lầu cao nhìn qua khung cửa kiếng, thủ đôSaigonrất đẹp. Sau bữa ăn, chúng tôi uống cà phê, cùng nói chuyện thời trang (áo dài cổ vuông, cổ thuyền, cổ cao, xẻ tà trước ngực, nút Tàu v.v.) và bàn chuyện phim ảnh đang trình chiếu tại các rạp ci -nê quanh vùng. Hai tiếng đồng hồ nghỉ trưa trôi qua rất mau, trở về phòng làm việc, chúng tôi còn trao đổi bằng... bút đàm, để tránh sự lưu ý của xếp. Cuối năm, ông xếp Mỹ sau khi được nghỉ hai tuần vacation thăm gia đình, trở lại nhiệm sở, ông rất vui. Trong phiếu phê bình điểm làm việc thường niên, ông cho điểm cao cho đám nhân viên rất trẻ này, bởi ông thấy tụi nó cắm cụi lo công việc làm. Đứa thì đánh máy, đứa xếp văn thư vào tủ (file), đứa phân phối thư (mail)..Dù ông đi vắng, công việc cũng trôi chảy như lúc ông ngồi chểm chệ trong văn phòng. Có hôm tôi bận đánh máy, không phải cho công vụ mà là một truyện ngắn vừa viết xong, để gửi đăng báo. Mãi miết trôi vào giòng tư tưởng, không hay ông xếp ra khỏi phòng riêng, đến bên cạnh, hỏi:

-Cô đánh thư gì mà không phải là tiếng Anh?

Tôi chỉ mở to đôi mắt (bồ câu?) nhìn ông xếp già đang hạ mắt kiếng xuống, mà không biết trả lời ra sao? Cũng may, có Tâm, ngồi bàn sát bên, đỡ lời:

-Con tôi đau, phải viết thư cho trường xin nghỉ học, tôi không biết đánh máy, nên nhờ cô ta!

Ông xếp đẩy gọng kiếng lên, cười nhẹ rồi phục phịch quay lưng vô phòng. 

Chúng tôi có một thời gian làm việc vui và rất thoải mái, vì lương cao và vì được đi học do cơ quan tài trợ.

Ngay sau lưng khu cao ốc này, có một biệt thự rộng, đẹp, với các cây hoa sứ bao quanh. Chủ nhà mở quán bán (ngòai sân) thức ăn Việt Nam cho nhân viên USAID, vì đâu có ai biết quán mà vào, bởi con đường này nhỏ, cụt. Ngồi ăn cơm trưa nghe chim hót, giữa bóng râm của của cây kiểng, trò chuyện rôm rả, khoe áo đẹp, giày mới, quên đi tiếng đại bác vọng về thành phố, thấy cuộc đời sao mà dễ thương quá. Mấy năm sau, có đứa xin được học bổng Mỹ du, có đứa theo chồng đổi đi xa, có đứa lấy chồng ngoại quốc và cũng có đứa ở vậy cho tới lúc chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa tan hàng. Cô bạn này chọn đời sống độc thân vì bà ngoại liệt, mẹ bị chứng đau tim nặng, một mình cô gồng gánh gia đình. Nghe nói sau năm 1975, cha cô tập kết từ Bắc về, làm Phường trưởng ngay khu nhà cô ở, nhưng cô nhất quyết không nhận ông, dù gia cảnh rất khổ!

Đến thăm Kim Dung sau năm 1975, thấy cảnh nhà quá neo đơn, chỉ 3 người đàn bà quanh quẩn ra vào, vì sau khi được lãnh tháng lương cuối cùng cộng thêm tiền bồi thường (vì cơ quan đóng cửa), cô mua căn nhà khá lớn nằm gần chợ Bà Chiểu, mục đích mở một gian hàng ngoài chợ.

Nghe nói rằng, một số đông nhân viên USAID đi thoát năm 1975, đều tập trung ở vùngWashingtonDCvì được thu dụng làm việc trở lại.

Số ở lại, có người phải đi học tập cải tạo rất cơ cực, vì bị phường xóm tố cáo là “nhân viên CIA” (Tình báo Hoa Kỳ).

Những người bạn xưa không biết lưu lạc về đâu, sau cuộc đổi đời 30 tháng Tư? 

* * *

Nếu cho tôi đựơc trở lại trên giòng đời xưa cũ, tôi chọn khoảng tuổi 14 cho đến 17, để cùng bạn tung tăng đến trường. Trường Lê Bá Cang, trường Nguyễn Khuyến, trường Nguyễn Bá Tòng, trường Lê Bảo Tịnh...

Lúc còn học tiểu học, nhà ở khu Bàn Cờ, chờ mưa tới là đi mướn xe đạp, rồi đua xe trong mưa! Hoặc chen nhau đứng dưới các máng xối, để tắm mưa mà chẳng quan ngại đến người qua đường. 

Saigonthời đó vắng tanh, vắng teo. .Nhiều con đường vừa chập tối đã có ma nữ hiện ra, nhát các thanh niên.

Sáng đi học, trên con đường Cao Thắng, khúc giữa của đường Phan Đình Phùng, dẫn tới rạp Đại Đồng, có nhiều biệt thự rất lớn, kín cổng, cao tường. Đám học trò con gái, lẫn con trai, thường cõng nhau lên, dùng thước kẻ để... bấm nút chuông điện! Có lần bị người làm của họ, chực sẵn sau cổng, xách chổi lông gà, rượt chạy có cờ..

Lớn lên một chút, không còn nhảy dây, chơi lò cò, cút bắt, đua xe đạp trong mưa, mà là thời hoa bướm. Đứa nào cũng nắn nót viết Lưu Bút trao nhau ngày tan trường, hoặc rón rén leo lên bục cao, hát bài “Hè Về”, để tặng cho bạn trong dịp văn nghệ cuối năm.

Tôi vẫn yêu quá, cái thời vừa lên Trung Học, cuối tuần đi tập võ Judo, té lên, té xuống, sưng cả đầu gối, thay vì đi học nhạc.

Tôi vẫn yêu Saigonxưa trong mùa mưa. Mưa chỉ thoáng đến, thoáng đi, đủ làm ướt rồi khô áo dài con gái trên đường đi, về.

Đường Tự Do


Tôi vẫn nhớ tiệm chụp hình trên đường Lê văn Duyệt, có chưng bày bức ảnh bán thân lúc tôi 16 tuổi. Bức ảnh ấy, sau cuộc chạy loạn từ Nha Trang về (tháng 3, 1975) bằng phi cơ trực thăng, tôi đã không đem theo được bất cứ cái gì, ngoài 2 đứa con thơ và l chai sữa!


Bây giờ, tới tuổi hoàng hôn bóng xế, cứ ngồi nhớ mãi khuôn mặt từng người bạn, từng kỷ niệm, nhất là những dịp cuối năm, tham dự các tiệc đồng hương, đồng trường, nghe các anh, các chị gọi nhau hai tiếng “mày, tao”. Nghe sao mà thân thương và hạnh phúc quá chừng..

Thân mến chúc quí đọc giả, thân hữu, mùa Giáng Sinh an bình và có sự đoàn tụ trong mái ấm của kỷ niệm./.

Hoàng Minh Thúy

(tháng 12, 2008)
Ý kiến bạn đọc
17 Tháng Chín 20137:00 SA
Khách
Van phong de thuong qua ...
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn