BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 37721)
(Xem: 34360)
(Xem: 33654)
(Xem: 25068)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Bàn về những lá cờ và bóng ma phía sau lưng

12 Tháng Chín 201312:00 SA(Xem: 799)
Bàn về những lá cờ và bóng ma phía sau lưng
53Vote
40Vote
30Vote
20Vote
10Vote
53
Năm 2007, có một cuộc biểu tình của sinh viên Việt Nam tại quảng trường Trocadéro. Cuộc biểu tình này nhằm chống các hành vi xâm lược vùng biển của Trung Quốc trên lãnh thổ Việt Nam, tiêu biểu là các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Vì lý do “chống Tầu” nó không được sự đồng tình của sứ quán nhưng cũng không bị dọa nạt hay khủng bố. Sứ quán Việt Nam giả vờ câm và điếc trong vụ việc này.

Tại thủ đô Paris, quảng trường Tropécardo được coi như địa điểm đặc biệt và thường trực dành cho các loại biểu tình. Người ta gặp thường xuyên ở đó sự xuất hiện của “Những con hổ Tamun” trước ngày nó bị bắn chết tại bản xứ. Người ta cũng gặp các cuộc biểu tình của người nhập cư không giấy tờ, và cũng không hy vọng có giấy tờ, dân Arménie đòi thanh toán nợ diệt chủng với dân Turque, dân Turque đòi gia nhập khối Châu Âu, du cư Tsigan đòi quyền cư trú, đám người Rom đòi quyền hành nghề... đại loại là đủ thứ kêu gào, khổ đau, phẫn nộ. Trước những cuộc biểu tình có tính “bán chuyên nghiệp” như vậy, đa số dân Paris thờ ơ. Họ đã qua thời cách mạng và ảo vọng, họ đang mỏi mệt về các vấn đề của chính họ nên tiếng kêu gào của tha nhân khó mà lọt vào tai. Tuy nhiên, trước cuộc biểu tình của nhóm sinh viên Việt Nam lúc ấy, không ít người dừng lại, chăm chú theo dõi. Để ngăn chặn một ảo tưởng mới, tôi cần phải nói ngay rằng sự chăm chú này không dành cho người Việt Nam. Sự quan tâm của dân Pháp khởi điểm từ mối lo âu cho chính bản thân nước Pháp và Châu Âu.

Sự bành trướng của Trung Quốc trên toàn thế giới, đặc biệt là Châu Phi đã đánh thức nỗi băn khoăn trong đám trí thức phương Tây, trước hết là một loạt bài viết của một số nhà chính trị và nhà văn Thụy Điển vào khoảng năm 2006 và đầu năm 2007, nếu tôi không nhầm, sau đó, mối nghi ngại này lan qua nhiều nước khác. Ở Pháp, không thiếu người lôi cuốn “hiểm họa da vàng” của Alain Peyrefitte ra đọc lại. Vì lẽ đó, tôi cho rằng sự quan tâm của nhóm dân Paris không nằm ngoài mục tiêu tìm hiểu món “hiểm họa da vàng.” Đọc trong ánh mắt họ, chúng ta sẽ không thấy sự tò mò nhưng khá nhiều nét băn khoăn. Bởi thấy tôi đứng cách đoàn biểu tình một đoạn khá xa, dường như sắm vai quan sát hơn là nhập cuộc nên một tốp liền tiến đến, cất tiếng hỏi:

-Ông không tham gia vào cuộc biểu tình này?

-Không. Tôi thích quan sát hơn.

-Ông là người Trung Quốc?

Tôi phì cười:

-Người Trung Quốc không có mặt ở đây hôm nay. Cuộc biểu tình này nhằm chống lại hành vi xâm lược vùng biển Châu Á của chính phủ nước họ.

-Thật vậy sao?

-Tôi biết các vị có thành kiến về tính dối trá của người Châu Á, người Châu Á vốn quen nói dối vì sợ, vì không muốn mếch lòng kẻ đối thoại, vì trục lợi... Tóm lại có vô số lý do để họ nói dối nhưng cá nhân tôi, tôi không có nhu cầu phải nói dối các vị.

Người đàn ông ngập ngừng, đưa mắt liếc qua nhóm sinh viên biểu tình rồi hỏi tiếp:

-Xin lỗi, nhưng quả tình tôi không hiểu. Tại sao sinh viên Việt Nam biểu tình chống Trung Quốc mà họ lại trương cờ Trung Quốc?

-A!

Lúc đó, lại đến lượt tôi sững sờ: Người nước ngoài không thể phân biệt cờ đỏ một sao vàng của Việt Nam với cờ đỏ năm sao vàng của Trung Quốc. Vậy thì chúng phải giống nhau ở một mức độ đặc biệt, có thể ví như các chủng loại cùng ngành. Ếch với nhái, lươn với chạch chẳng hạn. Sau một giây trấn tĩnh, tôi liền giải thích cho đám người Pháp về sự khác biệt giữa hai lá cờ nhưng nhìn vào mắt họ, tôi biết rằng sự tương đồng giữa hai lá cờ đó quá mạnh, còn sự khác biệt giữa chúng lại quá mờ nhạt nên chỉ có những người thật sự chú tâm mới có thể phân định được mà thôi.

Đám người Pháp đi rồi, tôi tự nhủ:

“Thử đặt mình vào địa vị của họ, những người phương Tây? Làm sao có thể phân biệt nổi hai lá cờ, khi chúng đều là một mảnh vải đỏ chóe và trên đó, in hình những ngôi sao? Một sao hay năm sao cũng đều là một thứ mầu vàng phản cảm, thứ mầu khiến mắt người khó có thể nhìn lâu. Từ mầu sắc cho đến biểu tượng, cờ Việt Nam quả là con đẻ hoặc em út của cờ Trung Quốc, đó là điều không thể chối cãi. Chúng là những lưỡi cầy đúc ra từ cùng một cái khuôn, là sự sáng tạo trên cùng một nguồn cảm hứng: chủ nghĩa cộng sản du nhập vào mảnh đất Châu Á.”

Phía trước mặt tôi, nhóm sinh viên vẫn tiếp tục hò hét, một số em quấn lá cờ đỏ sao vàng trước trán, số khác choàng qua vai. Bỗng nhiên, mối thương cảm khiến tim tôi đau nhói: Những chàng trai trẻ kia đầy lòng hăng hái và tình yêu nước, họ là sự tiếp nối của truyền thống Việt Nam, chống xâm lược, bảo vệ chủ quyền và lãnh thổ. Họ muốn là những người Việt Nam độc lập, chứ không phải một thứ dân tỉnh lẻ của nước Trung Quốc. Họ muốn tự do nhưng không biết rằng lá cờ họ quấn trên đầu lại chính là biểu tượng rõ rệt về tính chất nô lệ, là minh chứng hiển nhiên về sự tòng thuộc tinh thần của nhóm quan lại đứng trên đầu họ, nhóm cộng sản Việt Nam. Vì thế, cuộc biểu tình của họ gợi nên một sự thắc mắc khá hài hước đối với người nước ngoài:

“Chống Trung Quốc sao lại trương cờ Trung Quốc?”

Đối với tôi, vấn đề đặt ra nặng nề hơn:

“Sự nô lệ tinh thần, thói tôi tớ cho ngoại bang còn tồn tại đến bao giờ?”

***

Người ta vẫn nói đến một từ: GoƯt. Dịch sang tiếng Việt, nó có thể diễn ra khá nhiều nghĩa: Hương vị, thị hiếu, sự ham thích, khiếu thưởng thức, cách xét đoán... Muốn phân tích sự giống nhau giữa hai lá cờ Việt Nam và Trung Quốc, ắt chúng ta phải dùng chữ mượn: GoƯt. Dẫu ghét cay ghét đắng lối chen từ nước ngoài vào các loại diễn ngôn của xứ sở nhưng trong một số trường hợp cần thiết, tôi đành phải sử dụng từ mượn sau khi tự trấn an mình:

“Đừng sợ vay mượn từ ngữ. Mọi sự vay mượn hay học hỏi đúng đắn đều làm phát triển tài năng cũng như nhân cách của con người. Gốc tiếng Nôm của chúng ta hơn sáu mươi phần trăm vay mượn từ tiếng Hán mà chúng ta vẫn chống lại phương Bắc để bảo tồn nòi giống đó sao? Giờ đây, ông Alexandre de Rhode đã dùng Latin và tiếng Hy lạp cổ để mã hóa tiếng Việt, đem cho chúng ta một món quà hậu hĩ là tiếng Việt hiện đại, điều đó cần phải trân trọng. Từ GoƯt có tính bao hàm và do đó, chính xác hơn.”

Vậy thì, xin phép độc giả, tôi xin dùng chữ GoƯt.

Phải nói rằng việc lựa chọn một lá cờ là vô cùng quan trọng bởi cờ là biểu tượng tinh thần, vừa phản ánh não trạng vừa phóng chiếu ngọn lửa tâm hồn của một tập đoàn, một trường phái, một cộng đồng dân tộc. Lá cờ là hình ảnh thâu tóm nhất, cô đọng nhất để cụ thể hóa tôn chỉ chính trị, cảm ứng về địa lý, khát vọng tương lai và đặc trưng nhân cách của một đám đông. Dân Việt xưa thường căn cứ vào lá cờ mà gọi: Giặc Cờ Đen để chỉ nhóm Lưu Vĩnh Phúc, Giặc Cờ Vàng để chỉ nhóm Hoàng Sùng Anh... Vì ý nghĩa của một lá cờ có tính cốt tủy như vậy nên việc chọn lá cờ đỏ sao vàng của những người cộng sản Việt Nam dù vô ý hay hữu tình cũng đã phản ánh cả một bề dầy tâm thức: Họ không thoát khỏi ống tay áo của người đàn anh phương Bắc. Cái GoƯt của họ sao chép cái GoƯt của triều đình Trung Hoa gần như trăm phần trăm. Bởi nếu có một con mắt khác đi, họ sẽ nhận ra sự phối cái mầu đỏ chóe với mầu vàng ệnh kia quả là một thứ thẩm mỹ... sơ khai (xin lỗi, tôi không tìm được danh từ nào chính xác hơn). Một khi mà GoƯt đã giống nhau đến thế thì chỉ có thể chấp nhận thân phận đàn em hoặc con cháu, họ hàng, theo truyền thống gia đình Châu Á, hoặc tồi tệ hơn, đầy tớ, chư hầu theo “chính danh” của thời phong kiến xa xưa. Điều oái oăm là dân Việt Nam lại cứ muốn là Việt Nam, chứ không phải dân một tỉnh của Trung Quốc. Họ chưa quên Quảng Đông Quảng Tây trước đây là Việt Đông, Việt Tây. Họ cũng chưa quên là ngoài Việt Đông, Việt Tây còn có Việt Mân, Việt Thường và rất nhiều nước Việt cổ khác và tất cả đã bị xóa sổ trên bản đồ Trung Quốc. Còn sót lại duy nhất Việt Nam, nhờ sự che chở của núi non, nhờ sự hiểm độc của khí hậu, nhờ sự ngoan cường của dân chúng, và sự hy sinh không tiếc thân của các bậc anh hùng mà nước Việt Nam tồn tại.

Nhưng Bắc phương không bao giờ quên cái mẫu đất phương Nam. Trong tâm thức của họ, cái mẫu đất bé tí ấy cần phải thanh toán nốt. Kiểu như con rồng đã nuốt gần hết con dê còn mỗi một cái cẳng chân thò ra ngoài miệng thì làm sao chịu nổi. Bắc phương chỉ tạm quên ý đồ đó khi bản thân họ đau ốm, ghẻ lở, hấp hối, ví như thời Mãn Thanh với bà hoàng dâm đãng Từ Hy, cái thời mà người Anh treo biển trước các vườn hoa: “Cấm chó và người Trung Quốc.” Nhưng một khi triều đình lớn mạnh: “Bốn phương phẳng lặng, hai kinh vững vàng” thì cái ý muốn thường trực trong vô thức, “cần nuốt trọn cái chân dê còn lại,” sẽ trở thành sự thúc hối.

Cái thời điểm đó là hiện tại của chúng ta giờ đây: Năm 2012, một ông chủ quán ăn ở Trung Quốc đã treo biển:

“Cấm người Nhật, người Philippines, người Việt Nam và chó.”

Vậy thì chiến tranh, như thường lệ là một tương lai rất gần. Một cuộc xâm lăng chờ trước ngõ. Một nghìn năm Bắc thuộc mới tái hiện chăng? Đó là con tính mà người Việt Nam phải làm. Một trong những điều họ cần suy nghĩ lúc này, suy nghĩ một cách nghiêm cẩn và ráo riết: Để có một nước Việt Nam mới ắt phải có một ngọn cờ mới. Họ không thể chống lại Trung Quốc khi vẫn đội trên đầu ngọn cờ cộng sản “đàn em cộng sản Trung Quốc.”

Khương Công

Theo Người Việt
Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn