BÀI ĐỌC NHIỀU NHẤT
(Xem: 35759)
(Xem: 33270)
(Xem: 32473)
(Xem: 24696)
SỐ LƯỢT XEM TRANG
0

Những kẻ khổ nhục (2)

28 Tháng Năm 201312:00 SA(Xem: 751)
Những kẻ khổ nhục (2)
50Vote
40Vote
30Vote
20Vote
11Vote
11
 Unfortunate people



 Kỳ 5




Ông Minh tù ở trại Vĩnh quang, được về năm 1974. Năm 1963 ông lên đường vào trại, gia đình bị cưỡng bức đi kinh tế miền núi. Năm 1969, gia đình ông cũng như hàng vạn gia đình khác liều lĩnh về Hà nội, đang trong tình trạng chiến tranh nên đảng khoan nhượng. Ông có tám người con, khi ông vắng nhà, vợ đi ngoại tình và ly dị. Chẳng phải riêng ông, phần lớn những người đi tù đều rơi vào cảnh vợ bỏ, con hư. Đầu năm 1976, vợ ông vào Nam. Bốn đứa con ra ga tiễn mẹ, chúng thấy bà khoác vai một gã kém tuổi đứa con trai cả của bà. Gã này đã có thời là con rể tương lai. Cả bốn đứa đứng xa khóc nhìn mẹ rồi bỏ về.


Tám người con của ông đều hư hỏng, bội bạc. Với tuổi gấn sáu chục, biết không thể trông cậy vào con, ông mở nhiều cuộc công du để tìm người bạn đời khác trên miền đất lạ. Ròng rã nhiều năm, ông lui tới miền quê tỉnh Nam hà nhưng đều xôi hỏng, bỏng không. Ông lại tiếp tục mở những cuộc hành trình lên miền thượng du, cuối cùng ông đã thực hiện được mục đích. Người tình của ông ở Mù cang chải, sinh được một bé gái mấy tháng thì ông về cõi. Ông làm nghề mộc, năm 1974 anh Thư được về cùng làm mộc với ông. Tháng tám năm 1976, ông ký hợp đồng làm nhà tạm cho công ty vận tải cấp một với danh nghĩa là tổ trưởng mộc của hợp tác xã 307. Đương nhiên, ông là cai của mười một người, trong đó có tôi và anh Thư. Sau đó, tổ mộc làm cho ông Lã văn đồng theo giá khoán thoả thuận. Tôi nói với ông Minh:


– Khi bác nhận công trình của cơ quan, bác là cai, cháu làm thuê. Còn hiện tại đều làm thuê cho ông Đồng, vậy tiền công phải được chia công bằng, sòng phẳng.



Ông Minh đồng ý. Khi làm việc, tôi có thói quen theo dõi nhân công (nhớ chứ không ghi) và kết quả công việc để tiên liệu hiệu quả lao động. Qua ba công trình liên tiếp, ông Minh thanh toán tiền công rất thấp so với sự tính toán của tôi, buộc tôi phải tìm ra số liệu xác thực qua ông Lã văn Đồng. Thì ra ông Minh tăng số công lên và bớt khối lượng công việc đã làm để ăn chặn với những bằng chứng ông Minh không thể chối cãi. Tôi quyết định không làm với ông Minh nữa. Người chống lại tôi quyết liệt là anh Thư. Anh nói:



– Quả thực ông Minh có bớt lại một số tiền để mua hàng hối lộ kiếm việc làm.



– Hối lộ cho ông Đồng hay ông cai nào? – Tôi biết anh Thư cũng chẳng xơ múi gì, chỉ vì nghe những lời đường mật mà anh Thư bênh vực cái sai “gà què ăn quẹn cối xay”.



– Cậu nói khôi hài quá, việc gì phải hối lộ cai? Ông Minh hối lộ cán bộ nhà nước để có công trình.



– Nếu thế ông Minh sẽ là cai. Thử hỏi, công trình nhà tạm ở công ty vận tải, em được bảy đồng một công, trong khi đó ông Minh có thể được hàng trăm đồng một ngày, ông có chia cho ai không?



– Không cần nói dài dòng, tôi quyết định cậu phải làm ở hội mộc này. Nếu cậu ly khai, cậu sẽ chịu hậu quả.



– Sao anh lại có quyết định sai trái ấy?



– Nếu cậu không nghe tôi, thành phố Hà nội không phải là nơi cậu dung thân. Tôi sẽ làm bất cứ giá nào để ngăn chặn việc làm của cậu.



– Tuỳ anh – Vì chịu ơn anh nên tôi không có lời phản ứng cứng rắn, Khi làm một việc gì, tôi suy tính rất kĩ càng và khi đã quyết thì thực hiện đến cùng.



Tổ mộc chia thành hai nhóm. Nhóm ông Minh có anh Thư, ba đứa con trai của ông ấy và hai người nữa. Nhóm của tôi có ba thanh niên mới học nghề nhưng có sức khoẻ và nhiệt tình. Anh Thư đến nói với ông Đồng:



– Chúng tôi thương thằng Tâm, thực sự nó chưa đảm nhận được việc gì. Nếu ông giao việc cho nó là hoàn toàn hỏng, bán nhà cửa để đền có ngày.



– Tôi xin lỗi bác. Chú Tâm đến với tôi bằng trái tim. Vì vậy tôi cũng đón tiếp chú ấy bằng một tấm lòng chân thực. Tôi nghĩ rằng, quan hệ với nhau lấy nhân tình làm gốc sẽ không bao giờ có hại.



– Không biết làm dẫn đến bê bối thì sao?



– Mộc xây dựng là một nghề đơn giản, tôi không tin là chú Tâm chịu bó tay. Nếu gặp khó khăn chúng tôi sẽ mau chóng tìm ra lối thoát. Các bác là những nạn nhân của sự bất công, tại sao lại cư xử bất công với những người đồng cảnh của mình? Nếu không giúp đỡ, thương yêu nhau được nên để mỗi người một nẻo đường kiếm sống.



Sau một thời gian anh Thư tìm mọi cách để bôi nhọ uy tín của tôi không có kết quả gì, anh viết một bức thư gửi chị Hoa với nội dung như sau: “Kính gửi anh Tâm. Anh làm ơn cho tôi xin lại bộ đồ mộc để tôi kiếm ăn. Tôi lưu ý anh phải trả ngay, không được chậm trễ. ”



Không biết cá tính của anh Thư, chị Hoa cứ trách tôi, tôi đành ngậm ngùi im lặng, không dám nói với chị về sự đổ vỡ này. Còn bộ đồ mộc anh Thư cho tôi, tôi dùng đến thời điểm đó đã hỏng gần hết. Tôi có thể trả lại anh Thư những đồ tôi mới sắm nhưng trước hết tôi phải nghỉ việc vì thiếu đồ dùng. Tối hôm ấy, tôi đến nhà anh Thư để thương thảo. Thật lạ lùng, anh Thư lại vô cùng niềm nở. Anh nói:



– Từ nay, chúng ta khép kín quá khứ lại, mở đầu những trang quan hệ tốt đẹp mới. Tôi lại cộng tác làm ăn với cậu.



– Còn ông Minh?



– Để ông ấy đi con đường riêng. Không làm với cậu tôi thấy buồn và nhớ lắm.



Nói xong anh Thư siết chặt tay tôi. Từ hồi đó, quan hệ giữa hai người không có gì nổi sóng. Anh Thư dành cho tôi một tình cảm thân ái. Tuy nhiên do tính khí thất thường về cách đối xử của anh với người khác và công việc có những chặng thời gian anh Thư xa tôi.



* *

 

*



Ba ngày liền, khi tôi đi làm thì ở nhà chị có người đến hỏi tôi, họ nói là cán bộ sở công an. Ngày thứ tư tôi nhận được giấy gọi với nội dung sau: “… Đúng hai giờ chiều ngày 3 – 12, Nguyễn Tâm có mặt ở 87 Trần hưng Đạo. Nếu sai phải hoàn toàn chịu trách nhiệm… ”



Chiều hôm ấy, tôi đến cổng gác công an thành phố đã có người đợi sẵn, hắn khoảng năm mươi tuổi, tiếng nói lơ lớ miền Trung.



– Anh là Nguyễn Tâm?



– Vâng, thưa ông!



– Anh theo tôi – Hắn ra lệnh.



Hắn dẫn tôi đến phòng số chín, có hai người ngồi chờ. Một người khoảng bốn mươi tuổi, mắt xếch, khuôn mặt hung dữ tợn, một thanh niên khoảng hai mươi nhăm tuổi, có thể gã này đã nhiều lần đến nhà chị tôi. Gã mắt xếch đi đóng kín các cửa lại, bật hai đèn ống, và ra lệnh cho tôi ngồi xuống đối diện với ba người của gã. Gã miền trung nói mở đầu:



– Từ ngày anh được về đến nay, chúng tôi thường xuyên cử người đến thăm hỏi, tìm hiểu cuộc sống của anh. Được biết anh có việc làm, sinh hoạt hàng ngày ổn định, sở có phần yên tâm. Vậy hôm nay, chúng tôi gọi anh đến đây để nghe anh trình bày, cho rõ ràng hơn.



– Cảm ơn ông, từ ngày tôi về cuộc sống cũng bình thường như nhận xét của ông…



– Anh hãy im – Gã mắt xếch trừng trừng nhìn thẳng vào mặt tôi quát – Bình thường cái gì? Chúng tôi muốn anh phải trình bày cho rõ. Từ ngày được về đến nay, anh đã quan hệ với những phần tử nào nói xấu chế độ ra sao, viết lách những gì đề chống đảng?



– Tôi vô cùng ngạc nhiên về câu hỏi nặng nề của ông – Tôi bình tĩnh trả lời – Nếu tôi có sai phạm gì xin ông cho biết?



– Chúng tôi muốn sự thành khẩn của anh. Nếu ngoan cố, pháp luật tiếp tục thẳng tay trị tội. Anh quan hệ với tên Thư thế nào?



– Cùng làm mộc ở hợp tác xã 307, chỉ có thế thôi, thưa ông.



– Còn ngoan cố à? Hai tên phản cách mạng làm việc với nhau hàng ngày mà không nói xấu chế độ?



– Cùng ở một nhà tù ra, cái gì tôi biết thì anh Thư cũng chẳng lạ gì. Thưa ông, chẳng còn gì để nói với nhau.



– Trong tù, hai anh thân nhau, hay nói chuyện với nhau à? – Gã miền Trung ôn tồn hỏi.



– Thưa ông, trong tù chúng tôi đều có thể trao đổi, chuyện trò, không cứ gì anh Thư.



– Các anh có hay nói xấu chế độ không?



– Không, chúng tôi không nói xấu chế độ, mà chỉ nói sự thật.



– Anh cho một ví dụ?



– Thời thực dân phong kiến, người bị áp bức có thể tha phương, cầu thực. Còn thời nay không thể, bị trói lại, bịt mắt, bịt mồm để đánh.



– Như thế mà không phải nói xấu chế độ à?



– Thưa ông, đó là sự thật chứ không phải nói xấu.



– Tôi hỏi anh, ai bị áp bức? – Gã mắt xếch lại quát.



– Chúng tôi, thưa ông!



– Anh bị áp bức thế nào? – Gã thanh niên ngồi giữa làm thư ký cũng hỏi xen vào.



– Thưa ông, tôi đi học thì bị đuổi, khi trưởng thành không xin được việc làm để kiếm sống vì lý lịch gia đình. Như thế có phải là bị áp bức không?



– Cách mạng chỉ mang lại quyền lợi cho nhân dân lao động. Các anh thuộc thành phần đối lập phải chịu thiệt thòi – Gã miền Trung giải thích.



– Chúng tôi bị áp bức, bị vùi dập đã đành. Còn người dân mới được hưởng những lời hứa tốt đẹp của đảng mà thôi.



– Mày phủ nhận tính ưu việt của chế độ đối với người lao động à? – Gã mắt xếch quát to và lấy tay đập mạnh xuống bàn.



– Tôi xin ông hãy bình tâm. Ông có to tiếng trấn áp tôi thì cũng chỉ làm cho ông mệt. Với tôi đã quen rồi.



– Còn gì nữa, anh nói tiếp đi? – Gã miền Trung hỏi.



– Tôi cho rằng, hiện tại quyền lợi là của đảng, còn tương lai là của nhân dân…



– Đảng đã, đang mang lại quyền lợi cho người lao động. Do vậy nhân dân ta tin tưởng tuyệt đối vào đảng, một lòng một dạ đi theo cách mạng. Điều đó đã được minh chứng bằng công cuộc chống Mỹ, cứu nước thu được thắng lợi hoàn toàn. Anh nghĩ gì về sự kiện trọng đại này? – Gã miền Trung hỏi.



– Thưa ông, chiến thắng quân sự không có sức thuyết phục về tính ưu việt của chế độ. Những chiến tích của quân Nguyên, Macédoine, Napolêon, Hitler… không minh chứng được rằng các thể chế đó là được lòng dân.



– Theo anh, sự nghiệp của đảng rồi cũng sụp đổ như các đế quốc đó chăng?



– Thưa ông, đúng thế.



– Mày đừng có mơ tưởng hão huyền. – Gã mắt xếch lại quát – không bao giờ cách mạng mất cảnh giác để bọn phản cách mạng trỗi dậy, nghe chưa?



– Thưa ông, chính học thuyết Marx cũng viết “mọi sự vật đều biến đổi phát sinh, phát triển và diệt vong”. Với sức tàn, lực kiệt, chúng tôi không có hy vọng gì cuộc đời mình nữa. Và có thể trọn

đời phải sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên mọi thể chế tất yếu phải có ngày cáo chung. Chỉ có thời gian và vũ trụ là vĩnh tồn.



– Hàng chục năm tù, mày vẫn chưa chịu cải tạo?



– Thưa ông, bạo lực không thể ép buộc con người nhận thức sai một chân lý. Thời gian tù tội làm cho con người yếu sức đi, cơ thể bị tàn phế. Và từ đó có thể làm cho người đó hoảng sợ trước hình phạt mà thôi. Đương nhiên, tôi cũng hiểu rằng chân lý thuộc về kẻ mạnh.



– Lời nói và thái độ ngoan cố của mày trước cơ quan pháp luật là chứng cớ để tiếp tục đưa mày vào trại – Gã mắt xếch lại nặng lời.



– Thưa ông, nếu tôi nói trước đám đông hoặc rải truyền đơn, các ông mới có thể buộc tội phản tuyên truyền. Còn hiện tại các ông hỏi, tôi phải nói thật những ý nghĩ của mình. Chả lẽ đảng không muốn nghe những lời nói thật? Còn những kẻ trước các ông tỏ thái độ khúm núm, vâng dạ thì đó chỉ là những cử chỉ và lời giả dối. Xin lỗi, tôi vốn tin vào số mệnh, nếu có một biến cố nào lại đến với tôi để chấm dứt hoặc rút ngắn cuộc đời khổ nhục, vô vọng, biết đâu cũng là một điều may? Thưa các ông, con vật khi bị đánh còn được kêu, huống chi con người khi bị đòn đau, đảng cũng nên ân xá cho tội khóc than.



– Chúng tôi gọi anh đến đây để xem xét thái độ của anh với cách mạng. Còn trại tập trung hiện nay phải dành cho bọn ngụy quyền Sài gòn. Tất nhiên kẻ nào vẫn ngoan cố chống lại thì cánh cửa nhà tù sẽ mở rộng để đón vào – Gã miền Trung nói.



– Thưa ông, pháp luật của nhà nước giờ đây có thay đổi gì không? Như xưa kia, các trại tập trung tiếp tục xây dựng thêm mới chứa hết người, mà thực tế có mấy người dám chống lại đảng đâu.



– Chính sách của đảng trước sau như một. Những kẻ có tư tưởng không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa tức là chống lại, tức là kẻ thù của đảng – Gã mắt xếch nói – một xã hội còn giai cấp đối lập, còn tồn tại các tôn giáo là còn kẻ thù của đảng. Thế giới còn các thế lực đế quốc phản động cho các giai cấp đối lập thì những người Cộng sản phải phát động những cuộc chiến tranh cách mạng để tiêu diệt chúng.



– Chúng tôi thay mặt sở yêu cầu anh thực hiện hai vấn đề. Thứ nhất anh phải kịp thời tố cáo những sai phạm của kẻ khác, thứ hai anh phải tạo điều kiện xây dựng gia đình. Làm được việc này, cuộc sống của anh sẽ ổn định và chúng tôi cũng bớt phần phải chú ý đến anh. – Gã miền Trung nói.



– Thưa ông, tôi xin trả lời vấn đề thứ nhất, tôi cũng như mọi người đi tù về ngày đêm phải lo kế sinh nhai không còn thời gian nào để quan tâm đến viêc khác. Vả lại, đất nước đã thống nhất, vũ khí tuyên truyền sắc bén trong tay đảng nên chẳng ai dại gì gây tai vạ vào thân. Vấn đề thứ hai, chúng tôi cũng đang mong ước thế nhưng thực hiện được xem ra còn xa lắm. Các ông chẳng lạ gì, do sự tuyên truyền của đảng, đại đa số người dân coi chúng tôi như những bệnh lậu, giang mai, ghẻ lở… liệu có người đàn bà nào dám lấy? Mặt khác, muốn xây dựng gia đình thì phải có nhà riêng, trong lúc tay làm hàm nhai còn chật vật, lấy tiền đâu ra mua sắm?



– Muốn có tương lai, anh phải cố gắng dành dụm tự tạo ra phương tiện. Còn đối tượng, nếu anh xác định được vị trí của mình thì chẳng khó khăn gì lắm. Xưa kia các cụ có câu: môn đăng hộ đối, ngày nay cũng thế thôi. Anh có vết đen với đảng thì nhiều người đàn bà có vết nhơ với xã hội. Chẳng hạn gái làm tiền, lừa đảo, buôn gian, bán lậu phải đi cải tạo về. Thực ra, xếp hạng thứ trong xã hội họ còn cao hơn anh đấy. Vết nhơ của họ được đảng dễ dàng tha thứ hơn vết đen của các anh nhiều – Gã miền Trung trả lời.



– Tôi cảm ơn lời nói chí tình của ông. Chúng tôi cũng biết rõ vị trí của mình.



Từ đầu đến cuối buổi thẩm vấn, trấn áp, gã thanh niên chỉ hỏi một lần, thời gian còn lại, gã cắm đầu viết liên tiếp. Viết xong, gã bảo tôi kí vào biên bản, kí vào lề từng trang, cuối cùng ghi rõ họ tên.



– Các anh gọi tôi đến đây như một buổi hỏi cung?



– Tội phản cách mạng, một vết đen khắc sâu vào cuộc đời mày. – Gã mắt xếch quát – Nay đảng tạm tha nhưng vết đen còn đó. Bất cứ lúc nào sở cũng có thẩm quyền gọi mày đến hỏi tội.



Tôi lặng lẽ bước ra khỏi phòng, gã miền Trung dẫn tôi ra cổng gác. Gã ôn tồn nói:



– Anh chưa trực tiếp đứng trong hàng ngũ đối phương cấm súng chống lại cách mạng, tôi khuyên anh hãy sống lương thiện và lập gia đình. Chắc chắn thành kiến của xã hội đối với anh sẽ mờ dần.



– Tôi cảm ơn ông.



Tôi thất thểu đi bộ về nhà chị, tâm hồn chìm đắm trong nỗi suy tư. Có thể sắp đến đại hội đảng, chúng gọi tôi đến sở để uy hiếp tinh thần. Tôi đang sống những tháng năm vô vọng, khổ nhục, quá khứ, tương lai vẫn triền miên như thế. Không tìm thấy một nguồn an ủi, không hẹn một niềm vui, tôi sẽ chết dần mòn trong cảnh cô đơn, tủi nhục vò xé.



Bóng chiều chạng vạng tôi mới đến nhà chị. Cả nhà im lặng nhìn tôi. Chị Hoa lạnh lùng hỏi:



– Họ hỏi cậu chuyện gì?



– Chuyện cũng bình thường thôi chị ạ.



– Công an sở gọi hỏi tội mà chuyện bình thường à? – Lập nhìn tôi, mỉm cười chế giễu, hỏi.



– Đối với tôi, khổ nhục, tù tội là chuyện bình thường. Nếu được sống bình yên mới là chuyện bất thường…



– Cháu chào cô chú, anh chào các em – Thằng Vinh con anh Q

uang đến.



– Cháu ở đâu về? – Chị Hoa hỏi.



– Cháu vào Nam chiến đầu đã ba năm. Từ thị xã Kontum, cháu ra nghỉ phép. – Vinh trả lời.



– Cháu biết ai đây không? – Chị Hoa chỉ vào tôi hỏi.



– Không, cháu hoàn toàn không biết.



– Thế ra bố cháu không nói với anh là còn chú Tâm – chú ruột anh nữa à?



– Không, thưa cô! Bố cháu bảo ở Hà nội, chỉ có cô và chú Đản đã chết vì bom bi Mỹ năm 1967, thế thôi.



– Bố mẹ anh vô tâm đến thế là cùng. Đây là chú Tâm, em ruột bố anh.



– Ra thế! Đến nay cháu mới biết có chú.



– Trí nhớ của anh tồi đấy. Khi tôi xa quê hương, anh đã lên sáu. Năm 1963, bố con anh lên chơi Hà nội, chính tôi dẫn đến thăm gia đình ông Nghiệm ở phố hàng Vôi. Qua hồ Gươm, tôi mua kem cho anh ăn.



– Bác Quang không nói gì cho anh Vinh là đúng lắm. – Lập nói vẻ hồ hởi – không ai muốn có một người nhà như cậu. Cậu chỉ mang lại nỗi nhục hoặc ảnh hưởng xấu đến gia đình.



– Sao lại ảnh hưởng xấu? – Vinh hỏi Lập.



– Mắc tội chuẩn bị vượt tuyến vào Nam theo địch phải đi cải tạo hàng chục năm. Như thế có ảnh hưởng xấu đến người nhà không?



Nghe Lập nói, mặt Vinh hơi biến sắc. Vinh ngồi lùi xa tôi hơn. Nó nói:



– Nguy hiểm thế cơ à? Bố cháu không nói có phần sai, cũng có phần đúng. Sai là về tình cảm. Đúng là nếu địa phương cháu biết chú đi tù, chúng cháu sẽ bị vùi dập. Trước mắt đường tiến thân của cháu – vào đại học và kết nạp đảng – sẽ bị ngăn cản.



Nghe Vinh nói, tôi rùng mình hoảng sợ. Ghê tởm chưa, đường tiến thân của cháu tôi là gia nhập một tổ chức tội phạm đã thiết lập nên một chế độ tàn baọ dã man nhất trong lịch sử?



Được mệnh danh là một con người, ít ra nó không thể quên mối hận thù ai đã bắn ông nội nó, ai đã dồn ông ngoại nó đến chỗ phải tự kết liễu cuộc đời, ai đã cướp hết tài sản gia đình nó, ai đã áp bức bố mẹ nó phải từ bỏ quê hương đi đến một cuộc sống khắc khoải ở nơi rừng thiêng, nước độc.



Đến nay nó phủi sạch nỗi đau thương, nhục nhã ấy để muốn đi cùng đường với lũ vô thần, khát máu.



Hơn ba thập kỷ đàn áp và bịp bợm, có lẽ Cộng sản đã thành công trong sự nghiệp thuần hoá một dân tộc để con người lẫn lộn trắng đen, lẫn lộn giữa cái vinh và cái nhục, phủ nhận ông cha, coi chúng là thiêng liêng, tuyệt đối về chân lý và sức mạnh:



Thuở anh chưa ra đời,



Trái đất còn nức nở,



Nhân loại chưa thành người,



Đêm ngàn năm man rợ.



Thấy tôi im lặng, Vinh nói tiếp:



– Cháu cũng biết thế hệ bố cháu và chú bị vùi dập nhưng tại sao chú lại hành động điên rồ như vậy? Tại sao chú không cam tâm chịu đựng như hàng triệu người cùng số phận để mặc cảm của xã hội đối với gia đình mình được phai nhạt, tạo cho con cháu bớt phần tủi hổ.



Cũng may là mỗi người sống một địa phương nên bản lý lịch của cháu coi như không có chú. Nhưng nếu họ điều tra thấy thì số phận anh em cháu sẽ ra sao? Tất nhiên là bị đuổi học, bị cản trở mọi đường tiến thân.



– Vâng, tôi sai, xin lỗi các anh – Tôi nghẹn ngào trả lời cho qua chuyện. Vì tôi có giải thích về xã hội hoặc phản ứng trong lúc này chẳng những vô ích như mang đàn gẩy tai trâu mà còn bị tra tấn bằng những lời nhục mạ nặng nề hơn.



– Cháu kể cho chú nghe chuyện một người cùng đơn vị cháu. Hoàn cảnh gia đình anh ấy cũng giống như chú. Hồi cải cách, bố bị bắn, mẹ bị bức tử, tài sản bị tịch thu toàn bộ. Anh ấy ở nhờ chị gái đang học sư phạm sơ cấp thì bị đuổi. Muốn bỏ trốn khỏi quê hương không được, anh ấy bị chính quyền địa phương hành hạ, chèn ép, sống vô cùng khổ nhục. Năm 1973 nhận được giấy báo nhập ngũ, anh ấy sung sướng như người chết đi sống lại, cho rằng đây là bước ngoặt trọng đại trong cuộc đời mình. Thời gian chiến đấu ở miền Nam, anh ta lúc nào cũng tỏ rõ tinh thần ngoan cường và dũng cảm. Nhiều đồng đội hỏi về động cơ của tinh thần đó thì anh ta trả lời: “các anh chiến đấu vì sự nghiệp thống nhất tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì lý tưởng Cộng sản. Riêng tôi, chẳng những thế mà còn để rửa nỗi nhục về tính giai cấp của ông cha tôi để lại… ”. Đến năm 1974, trong một trận đánh chống bọn nguỵ quyền Sài gòn lấn chiếm, anh ấy bị thương nặng. Trước khi tắt thở, anh ấy yêu cầu người chỉ huy: “Cuộc đời tôi đã hy sinh cho cách mạng, đảng cho phép tôi được có tên trong tầng lớp nhân dân lao động”. Tuy không được kết nạp đảng nhưng anh ấy được tuyên dương danh hiệu chiến sĩ quyết thắng. Từ tấm gương của một người biết chết để đổi lấy danh dự, xoá bỏ mặc cảm của xã hội, cháu mong chú hãy nghiêm khắc với lỗi lầm của mình.



– Xin lỗi, anh dạy tôi thế đủ rồi. – Tôi muốn hét lên mày và cả thằng ấy nữa là những con vật biết nói tiếng người, may mà kiềm chế được.



– Cháu góp cho cậu một ý kiến thôi. – Thằng Lập nói – nếu cậu không dám chết, không biết chết như tấm gương trên ít ra cậu cũng phải biết sống thế nào để con cháu và họ hàng khỏi oán trách mình.



– Vâng, tôi đã sai, xin các anh tha lỗi – Nói xong, tôi bỏ ra ngoài đường và ngẫm nghĩ, đúng là một thời đại loạn lăng nhăng, châ

n lý bị đảo lộn.



Lần tới, mời các bạn đón đọc: Những kẻ khổ nhục – Kỳ 6



NHỮNG KẺ KHỔ NHỤC – Unfortunate people



NHỮNG KẺ KHỔ NHỤC – Kỳ 6



Tôi đi làm không có xe đạp, gần thì đi bộ, xa thì nhờ Quang, Thắng, hai phó nhỏ đèo. Tôi không đi ô tô được từ khi ra khỏi nhà tù, chỉ ngồi trên ô tô vài cây số là tôi bị say, đầu óc quay cuồng nôn mửa. Chiều hai mươi nhăm tết, chúng thu đồ dùng từ xí nghiệp sứ Bát tràng về Hà nội. Tối hôm ấy, tôi đến nhà ông Đồng lấy tiền công cho cả nhóm. Mãi đến chín giờ ông Đồng mới về, theo chân ông là một thanh niên phụ nề. Hồi tháng sáu, khi còn xây dựng nhà kho cho xí nghiệp Nam thái, gã ăn cắp vặt bị bảo vệ bắt được và yêu cầu ông Đồng phải đuổi.



– Mày đến đây làm hay là để ăn cắp? – Ông Đồng quát gã – Từ nay tao không cho mày làm nữa – Nói xong ông Đồng thanh toán tiền công cho gã và quát – Cút



Khi gã ra đường, ông đuổi theo gã, nói:



– Ở đây, xí nghiệp họ không cho cháu làm nữa, cháu vui lòng vậy. Chú cho cháu thêm mười đồng và chờ công trình khác chú lại gọi cháu đi làm.



Tháng sau đến làm nơi khác, gã vẫn không bỏ tính gian tham, lần này ông Đồng đuổi hẳn. Nay gã biết ông Đồng lấy tiền qua ngân hàng nên đến hỏi vay:



– Chú cho cháu mượn hai chục đến sát tết cháu xin trả.



– Một đồng cũng không cho mày vay. Tao chỉ có thể cho mày hai chục, thế thôi và từ nay mày đừng đến nhà tao nữa – Nói xong ông đưa cho gã hai tờ đỏ và nói tiếp:



– Đi ngay cho tao làm việc.



Gã cầm tiền cười tít mắt lại, chẳng chào hỏi ai.



Để bọn trẻ mừng, ngay đêm hôm ấy tôi mang tiền đến nhà từng đứa: Quang ở Phan đình Phùng, Tiến ở Yên phụ, Thắng ở dốc Tam đa. Tôi mượn chị Hoa cái xe đạp đi cho chóng vánh. Đây là lần đầu tiên tôi phiền chị nhưng vừa dắt lên đường thì anh Hoàng gọi tôi lại và bảo:



– Nhà này chỉ có hai cái chân, không may cậu bẻ gẫy một thì treo niêu à?



Tôi lặng lẽ dắt xe quay lại trả chị và đi bộ đến nhà Quang. Từ đó, Quang đèo tôi đến nhà Thắng, Tiến và về nhà chị. Trên đường Quang nói:



– Chú cứ đi bộ thì vất lắm. Trước mắt chú nên quên cái tết, vay mượn thêm để mua cái xe tòng tọc đi lại cho đỡ khổ?



– Tao có ước mơ từ ngày về, cố gắng dành dụm cả tiền công đợt này được khoảng sáu trăm. Nếu số tiền đó mua được cái xe cọc cạch thì tết này tao sẵn sàng nhịn đói.



– Sáu trăm thì yên tâm rồi, có thể mua được chiếc phượng hoàng cũ.



– Ngày mai mày mua giúp tao nhé!



– Chiều mai cháu gặp chú ở chợ giời.



Thế là ngày hai mươi sáu tết, tôi có xe đi. Cái xe giúp tôi bớt phần vất vả, không ngờ lại gây cho tôi một vấn đề rắc rối. Buổi tối ngày đầu mua xe, tôi dắt vào nhà thì anh Hoàng cản lại và bảo:



– Nhà này chứa cậu đã quá tải, còn chứa cái xe nữa sao được?



Tôi chưa biết xử sự ra sao thì chị Hoa nói:



– Buổi tối, cậu để xe ngoài sân khoá lại, khoảng mười giờ hãy cho vào nhà.



– Không hẳn là mười giờ, cứ người nhà đi ngủ hết mới được cho vào, đến năm, sáu giờ sáng phải đưa ra – Anh Hoàng ra lệnh.



Từ hôm đó, tôi cố gắng giữ gìn, tránh những lời nặng nề vì cái xe nhưng người ta cố tình gây sự thì không thể…



Một ngày chủ nhật vào khoảng bốn giờ sáng, tôi đang ngủ thì thằng Lập quát:



– Ông Tâm dậy mau. Ông để xe thế này ai mà lấy xe khác được? Ông mang xe ra ngoài sân mau.



– Ngày nào cũng vậy, tôi dắt xe vào nhà sau cùng thì phải để ngoài cùng – Tôi tỉnh dậy trả lời – Anh đi đâu cứ dùng xe tôi.



– Ông im đi, dậy dắt xe ra ngoài – Nó ra lệnh.



Chỉ có việc dắt xe vào nhà và đưa ra, tôi cũng không biết làm sao cho vừa ý những người trong gia đình chị. Buổi tối dắt xe vào nhà sớm bị ngăn cấm đã đành nhưng muộn cũng chẳng yên, bị kêu la cà làm mất ngủ. Buổi sáng không biết có người đi đâu sớm đột xuất lúc mấy giờ mà dậy dắt xe?



Một cái tết cô đơn, buồn tẻ đã đến. Nghe tiếng pháo nổ dồn báo hiệu năm cũ qua, mùa xuân đến làm tôi thêm tê tái. Mùa xuân – mùa hoa nở, mùa hy vọng và ước mơ đối với tôi là mùa tàn héo, mùa hiu quạnh và tủi nhục. Mấy ngày tết sao dài thế, thời gian cứ như đứng ỳ ra không muốn bước?



Tôi mong tết qua nhanh để tôi và bọn trẻ lại sang Bát tràng làm việc. Thứ nhất tôi tránh nơi tủi nhục là gia đình chị được ngày nào hay ngày ấy. Thứ hai, việc lao động nặng nhọc sẽ giúp tôi vợi bớt nỗi buồn. Phương ngôn có câu “Vạn sự bất như nhàn” với tôi thì ngược lại, thời gian nhàn rỗi là nguy hiểm – Thời gian dìm tôi vào trong đau thương, khổ nhục của cuộc đời cũng là thời gian buộc tôi phải nghĩ đến một tương lai đen tối và vô vọng.



Chiều mùng bốn tết, một người đàn ông trạc ngoài bốn mươi dẫn một bé gái hơn chục tuổi đến nhà chị. Người đàn ông tự giới thiệu mình là em chồng chị cả, và bé gái là cháu Diệu. Chú đưa cháu lên Điện biên với anh ruột nó là thằng Báu. Lần đầu hai cậu cháu gặp nhau làm tôi vô cùng xúc động. Trong khi đó thật lạ lùng, lần đầu cháu đến nhà dì và cũng là lần đầu hai dì cháu biết mặt nhau, chị Hoa cứ dửng dưng như người xa lạ. Khi chưa gặp mặt, dì tỏ ra thương

cháu lắm. Nào là nó mồ côi mẹ lúc năm tuổi, phải sống trong cảnh dì ghẻ con chồng. Lên tám tuổi, nó mồ côi bố phải ở với chú thím bữa rau, bữa cháo. Nào là chị rất thương cháu, chị và cả cậu nữa phải có trách nhiệm giúp đỡ cháu. Đến nay, cháu đến thăm dì, tình thương của dì biến đâu mất cả. Thì ra, tình thương máu mủ dì dành cho cháu bằng ba tấc lưỡi, khi chưa biết mặt.



Sự hiện diện của cháu làm lưỡi dì xơ cứng lại, không một lời chào hỏi ân cần. Phải chăng tâm hồn dì đã nhiễm bệnh máu xám của thời đại?



Chú Tiền – chú ruột của cháu Diệu nói:



– Tôi đưa cháu lên ở với anh nó, không may bị nhỡ xe vậy đến đây để nhờ gia đình vài ngày.



Chị Hoa và anh Hoàng đều im lặng. Anh Hoàng nét mặt cau có, gọi tôi ra ngoài sân, anh nói:



– Đây là người nhà cậu, cậu phải có trách nhiệm, chúng tôi không biết.



– Sao anh nói lạ lùng thế? Con Diệu gọi em là cậu thì gọi chị ấy là dì. Vả lại, em cũng đang ở nhờ anh. Nếu không đồng ý, anh cứ nói thẳng với người ta.



– Tôi không có trách nhiệm việc gì tôi phải nói – Anh Hoàng đùng đùng nổi giận – Mặc cậu.



Anh trốn tránh làm điều thiện, chị phớt lờ trách nhiệm, tất cả muốn dồn tội bất lương lên đầu tôi phải chịu.



Tối hôm ấy, cả nhà ăn một bữa cơm đạm bạc trong bầu không khí ngột ngạt lạnh lùng. Khách mời chủ nhà, cháu mời dì, mời chú ăn cơm, được trả lời bằng những nét mặt giận dỗi và im lặng.



Có lẽ do đi xe mệt, khách đặt mình xuống giường là ngủ. Tôi nằm thao thức mãi, tôi xót thương cháu bé bỏng, gầy yếu, côi cút nhưng hoàn toàn bất lực. Chỉ những ai sớm mất cha, mất mẹ – thiếu vắng nguồn tình cảm thiêng liêng cao quý nhất không có gì thay thế hoặc bù đắp mối đồng cảm với nỗi đau của cháu.



Sáng hôm sau, dì dậy sớm đi làm, cháu cũng dậy nhìn dì với ánh mắt len lét cầu xin, dì chỉ trả vài cái nhìn thờ ơ, ghẻ lạnh. Không một chút vấn vương, dì im lặng dắt xe ra đường, cháu thất vọng nhìn theo dì với hai dòng lệ tuôn rơi. Một giờ sau dì về, tưởng như ngọn lửa tình thương vừa được bốc trong tâm hồn dì bằng cái nhìn thường trực và ánh mắt như dán vào từng cử chỉ của người ruột thịt. Dì chỉ nhìn cháu lướt qua một lần và nói trống không:



– Tao quên mang phiếu vải nên phải về lấy.



Dì mở tủ lấy phiếu mua hàng rồi đi thẳng. Hy vọng hoá thành thất vọng, cháu sững sờ nhìn theo hình ảnh người cùng máu mủ lần cuối.



Trước giờ đi làm, anh Hoàng lại cau có bắt vạ:



– Tôi không muốn thấy người nhà của cậu ở đây nữa. Cậu phải giải quyết.



Tôi thầm nhủ, đến cơ sự này, mình phải làm trọng tài thôi. Tôi nói với chú Tiến và cháu:



– Từ chiều hôm qua đến sáng nay, có lẽ anh và cháu đã cảm nhận được “lòng hiếu khách và tình máu mủ” của gia đình này. Về phần mình, tôi cũng là người đi ở nhờ phải chịu trăm cay nghìn đắng. Tôi vô cùng đau xót vì không giúp đỡ anh và cháu được, mặc dù chỉ là việc nhỏ.



– Cậu cứ yên tâm. Chúng tôi quê mùa nhưng cũng biết điều hay dở. Không may nhỡ tàu xe, tưởng rằng dì Hoa là chỗ thân quen nhất ở Hà nội nên mới đến đây nhờ vả để chờ đợi vài ngày – Nói xong, chú Tiền và cháu mang hành lý ra đường. Tôi theo chân hai người và hỏi:



– Bây giờ hai chú cháu định đi đâu?



– Chúng tôi đến phố Mai hắc đế, nhờ một người đồng hương ở đó.



– Bà Nghiệm – cô tôi ở phố hàng Chiếu, chú cháu đến đó, tôi chắc rằng mọi việc đều ổn thoả.



– Bà Nghiệm sống với ai? – Chú Tiền hỏi.



– Dạo trước cô tôi ở với con dâu. Nàng dâu có quyền có chức trong thời buổi này lại đảo ngược cảnh mẹ chồng nàng dâu thời phong kiến. Hiện nay cô tôi ở với vợ chồng người con gái. Tuổi già phúc đức cho cô tôi là được người con rể rất hiếu thảo và giàu lòng nhân ái. Chú cháu không may nhỡ bước, tôi tin rằng gia đình đó sẽ hết lòng giúp đỡ.



– Ngoài chồng con, xem ra dì Hoa rất hẹp hòi với những người thân?



– Vâng, chị tôi sống ích kỷ nhưng không biết ích kỷ.



– Tại sao? – Chú Tiền ngơ ngác hỏi.



– Mở rộng cánh cửa tâm hồn, sẵn lòng giúp đỡ mọi người, trước mắt tưởng như chịu thiệt nhưng về lâu, về dài người đó nhận được những phần thưởng tương xứng. Sau khi về cõi còn để lại tiếng thơm. Ai xem việc yêu thương, giúp đỡ nhau là một nghĩa vụ thiêng liêng đáng làm và phải làm, người đó sẽ nhận được nhiều quyền lợi cao quý sau này.



Trước khi chia tay chú Tiền và cháu Diệu lên tàu điện, tôi cho cháu Diệu mười đồng và nói:



– Cậu chỉ còn thế này, cậu cho cháu. Chúc chú cháu sẽ gặp nhiều may mắn.



Từ ngày ấy, chị Hoa không nhắc đến cháu Diệu một lần nào nữa. Đã mười bảy năm tôi không biết cuộc sống của Diệu ra sao?



Sáng hôm sau, tôi sang Bát tràng làm việc. Quang, Thắng, Tiến đã sang từ ngày hôm trước. Bữa trưa hôm ấy, đồng bọn ăn bánh chưng thay cơm. Quang hỏi:



– Chú ăn bánh chưng có nóng ruột không?



– Tao ăn thấy ngon miệng lắm.



– Chú bảo không thích ăn đồ nếp cơ mà?



– Không ăn được thường xuyên nhưng thỉnh thoảng thì tuyệt vời.



– Nhà bà chị chú không gói bánh chưng à? – Thắng hỏi.



– Gói hai chục cái, nhưng…



– Cháu đoán ra rồi – Quang nói – Ông thày Appagon lại chơi trò bẩn.



Tôi im lặng nhưng thoáng nghĩ thằng Quang nói đúng. Miếng bánh chưng ngày tết anh Hoàng cũng tìm mọi cách đối phó với tôi.



– Appagon là ai? – Thắng ngơ ngác hỏi.



– Trí nhớ của mày tẩm quá – Quang nhanh nhảu trả lời – Trước tết chú Tâm kể chuyện Lão hà tiện của Molière cho chúng mình nghe là gì?



– À, à, tao nhớ ra rồi – Thắng vỗ tay vào đùi, nói – Rồi đi đến nhận xét anh rể của chú Tâm là bậc thày của lão hà tiện chứ gì – Thắng hỏi tôi.



– Có phải chú ăn bữa bánh chưng này là lần đầu trong dịp tết này không?



– Đúng thế.



– Biết vậy, cháu đã mang thêm mấy chiếc để chú ăn cho bõ giận.



– Nói thật là hành động ti tiện chỉ làm tao khinh bỉ chứ chẳng giận hờn gì. Mặt khác, theo quan niệm của một nhà xã hội học thì anh rể tao đáng thương nhiều hơn đáng trách – Một nạn nhân của chính sách bần cùng hoá để đảng dễ bề cai trị. Khi đói khổ con người dễ tối mắt lại để miếng ăn điều khiển.



– Cháu tưởng là đói ăn vụng, túng làm liều chứ?



– Mày ngu quá – Quang lên giọng – Câu nói đó chỉ đúng trong quan hệ giữa con người với nhau thôi. Kho lương thực và thực phẩm của nhà nước đầy ra đấy, ngoài cán bộ và nhân viên cửa hàng, đứa dân đen nào dám vào mà ăn vụng. Khi đói, mọi người đều có chung một ý nghĩ là được ăn, nhưng thức ăn trong tay đảng. Đảng lại có guồng máy vũ trang khổng lồ bảo vệ. Kẻ nào ngoan đảng cho ăn đủ sống, chính sách kiểm soát bao tử của đảng cực kỳ hữu hiệu, đến mức cha chết không đau buồn bằng mất sổ lương thực…



Ngày đầu về nhà chị, tôi đã tự oán trách mình vội có ý nghĩ không tốt về gia đình chị và hy vọng coi đây là một gia đình, sẽ làm hết mình để duy trì tổ ấm gia đình ấy. Nhưng cuộc sống không như mong đợi, diễn biến mỗi ngày một xấu hơn. Gia đình chị thực sự đã trở thành nơi ngục tù mới. Được làm việc với bọn trẻ, tôi vợi bớt nỗi tủi buồn. Quang, Thắng, Tiến rất mến tôi. Khi đi làm trong nội thành chúng nói:



– Chú không phải ăn bánh mỳ hoặc không phải lo gì bữa cơm trưa nữa, chúng cháu có trách nhiệm



Những lời chất phác bộc trực nhưng đượm tình người làm tôi vô cùng cảm động. Rừng không bao giờ sạch lá, CS không thể thú tính hoá hoàn toàn xã hội, tình người vẫn tồn tại.



Cuối tháng giêng âm lịch, bọn trẻ làm xong công việc ở Bát tràng. Chiều hôm ấy, chúng tôi tắm giặt, thu đồ về Hà nội. Giữa đường tôi thấy mệt mỏi, đầu choáng váng.



Khi đến vườn hoa hàng Đậu, Quang đi sau nhìn thấy tôi đạp xe loạng choạng, Quang hỏi:



– Chú làm sao thế?



– Có lẽ tao bị sốt.



– Chú cố gắng đến nhà cháu, rồi cháu sẽ đèo về.



– Không cần đâu, tao có thể đi về được – Nói thế, nhưng tôi nửa tỉnh, nửa mê, không còn tự chủ được mình. Tôi định xuống xe, đi bộ.



– Chú đi xe lảo đảo lắm, không an toàn đâu. Cháu phải đưa chú về.



– Thôi được, mày giúp tao với.



Quang đèo tôi về nhà chị, tôi gục vào lưng Quang, mê man. Đến đầu phố hàng Bột, Quang phanh gấp để tránh ô tô làm tôi bừng tỉnh. Trước mặt tôi, dòng người xuôi ngược trên đường, hàng cây trên hè phố, nhà cửa… đều đảo lộn, quay cuồng. Sực nhớ ra, tôi nói:



– Khi đến cửa hàng thuốc, mày dừng lại để tao vào mua nhé.



Tôi vào cửa hàng, mua thuốc cảm cúm, không có thuốc gì ngoài khung chỉ, tôi buộc phải mua nhưng thoáng nghĩ, rồi lại nhục với anh Hoàng khi uống loại thuốc này.



Khi đến nhà chị, Quang dắt xe cho tôi xuống sân rồi đi bộ về nhà. Lúc đó, tôi quên khuấy mất là bảo Quang đi xe đạp của tôi, tránh được nỗi bận tâm khi tôi đang ốm. Tôi vào nhà lấy thuốc ra ngoài sân uống thuốc. Chị Hoa nhìn thấy hỏi:



– Cậu bị ốm à?



– Vâng, em bị sốt.



– Tại sao không uống thuốc trong nhà?



– Chị không nhớ lời của anh ấy à?



– Chị nhớ nhưng anh Hoàng đi làm đã về đâu?



– Nhỡ đang uống, anh ấy về thì phiền lắm.



– Thôi cậu vào giường mà nằm.



Tôi đặt mình xuống giường là mê man thiếp đi ngay.



– Tâm điếc ơi, mày ăn vạ nhà tao đấy à? Mày phải dậy ngay, không được ăn vạ nhà tao nữa.



Tôi tỉnh lại, nghe tiếng nói của thằng Biển. Tôi im lặng và tự hỏi, thẳng Biển vẫn có tình cảm với tôi. Tháng bảy năm 1975, nó theo chị Hoa đến thăm tôi ở trại Vĩnh quang. Khi tôi về, nhiều lần nó đèo tôi đi làm ở 16 Trần bình Trọng. Tại sao nay nó vô lễ thế? Có lẽ nó nghe lời anh Hoàng và thằng Lập để gây sự với tôi.



– Quân mất dạy, mày gọi cậu thế à? – Chị Hoa quát thằng Biển.



Thực ra trong cuộc chiến cốt nhục tương tàn này, chị Hoa không phải là người trung gian hoà giải, chị đứng về phía chồng con, chị đã thờ ơ lạnh nhạt với tôi. Tuy nhiên lời nói vô lễ của thằng Biển gián tiếp xúc phạm đến chị. Hàng xóm, láng giềng biết chuyện thì uy tín của chị cũng bị tổn thương.



– Tâm điếc ơi, tại sao mày ăn vạ nhà tao? – Bỏ ngoài tai lời chị Hoa quát mắng, thằng Biển đứng ở đầu giường tôi, tiếp tục tuôn ra những lời thô bỉ, nó muốn chọc tức chị Hoa thêm nữa.



– Đồ mất dạy, mất dạy. – Chị Hoa gào lên.



Lúc đó anh Hoàng và thằng Lập cùng về, chị Hoa chạy ra sân phân bua:



– Con anh mất dạy quá! Cậu Tâm đi làm về bị sốt, nó cứ đứng ở đầu giường, chửi bới cậu.



– Bà im đi, đừng bênh em bà nữa – Lập quát mẹ.



Anh Hoàng im lặng, trợn mắt nhìn chị Hoa. Dắt xe vào đến cửa, anh vội chạy ra ngoài sân, kêu toáng lên:



– Không chịu nổi, không chịu nổi. Đã bảo khi uống thuốc phải ra ngoài.



– Nó uống ở ngoài sân đấy, có dám uống ở trong nhà anh đâu?



– Làm sao thì làm, đừng để tôi phải ngửi mùi khó chịu này.



– Nó đang sốt nặng, tôi xin anh.



– Không được, từ nay nó ốm đau phải đi chỗ khác.



– Tôi xin anh tha cho nó – Nói xong, chị Hoa cũng đi nằm.



Tôi tỉnh dậy, chứng kiến cơn điên loạn của gia đình chị, sau đó lại thiếp đi. Có lẽ đến nửa đêm, tôi tỉnh giấc, đầu đau như búa bổ. Tôi sực nhớ ra, xe để ngoài sân. Tôi gắng sức bò dậy, lảo đảo ra ngoài khoá xe, đây là tài sản duy nhất, tôi dành dụm, chắt chiu từ ngày về, để ngoài sân ban đêm còn hay mất là do may rủi chứ chẳng an toàn.



Khốn nỗi, nếu tôi mang xe vào nhà lúc đó sẽ chịu một trận lôi đình nữa. Tôi lại vào giường nằm, trong khoảng khắc lại rơi vào một cơn ác mộng:



– Tâm điếc ơi, mày ăn vạ nhà tao đấy à? Mày phải dậy ngay, không được ăn vạ nhà tao nữa.



– Bà im đi, đừng bênh em bà nữa.



– Không được, từ nay nó ốm đau phải đi chỗ khác…



Thình lình tôi bừng tỉnh bởi tiếng quát của thằng Lập:



– Ông Tâm dậy mau! Ông xem đây, vì ông mà gia đình tôi tan nát.



Tôi ngồi nhổm dậy thấy anh Hoàng và thằng Biển đang ôm chặt lấy chị Hoa.



– Ông thấy chưa? Nó đập phá nhà tôi – Thằng Lập càng quát to hơn – Nó đập phá nhà tôi, ông phải chịu, ông phải chịu.



– Lập ơi, mẹ mang nặng đẻ đau, con gọi ai là nó? – Chị Hoa vừa nói vừa khóc nức nở.



– Chính bà, bà là nó. Bà đập phá nhà tôi vì thằng em bà.



Tôi vùng dậy, loạng choạng chạy ra ngoài, dắt xe lên đường và ngồi lên yên, đạp. Trước mắt tôi mọi cảnh vật, con người đều quay cuồng, đảo lộn, bên tai vẫn văng vẳng tiếng quát, nó đập phá, ông phải chịu, ông phải chịu.



Bầu trời mây đen bao phủ ảm đạm, mưa xuân mù mịt, đường thưa thớt người qua lại. Qua ô chợ dừa, tôi rẽ sang phố Khâm thiên. Tôi không có ý định đi đâu cả. Như một bản năng, tôi chạy trốn khỏi nơi tủi nhục.



– Ơ, ơ, cái anh này đi thế à?



Tôi bàng hoàng bừng tỉnh nhận ra, xe tôi suýt nữa đâm vào xe một cô gái đi bên trái.



– Xin lỗi – Biết mình không tự chủ được nữa, tôi xuống xe dắt bộ. Mệt và đau đầu quá, tôi muốn gục ngay xuống đường. Nửa mê, nửa tỉnh, tôi loạng choạng bước như đang chơi vơi trong không khí. Đến cửa rạp Dân chủ, tôi khoá xe, ngồi thu lu lại, đầu gục xuống hai đầu gối. Có lẽ chỉ khoảng khắc tôi lại thiếp đi.



– Bốp! một cái tát mạnh vào má bên trái làm tôi hoảng hốt tỉnh lại. Đứng trước mắt tôi một người đàn ông hơn bốn mươi tuổi. Thấy tôi mở mắt ngẩng đầu lên, ông ta nở một nụ cười đôn hậu và liền hỏi:



– Anh bạn ngồi đây mà ngủ à?



Tôi ngơ ngác chưa biết ra sao thì ba thanh niên cách xa mươi bước chạy lại, một đứa quát:



– Đánh bỏ mẹ thằng kia đi, chúng mày ơi, nó làm mình hỏng ăn rồi.



Người đàn ông vội chạy vào ngõ Thổ quan. Thấy thế, tôi mở khóa dắt xe đi. Một em bé trai hơn chục tuổi, chạy theo tôi, nói:



– Chú không biết bọn bụi định lấy xe của chú à?



– Không!



– Bác vừa giờ đến đánh chú là để báo động cho chú đấy.



– Cảm ơn cháu, vừa rồi chú mới hiểu ra.



Như trong cõi mộng, tôi dắt xe đi mà không biết mình đang đi đâu nữa? Một phụ nữ đi qua, dừng xe tới hỏi:



– Anh này say rượu à?



– Tôi bị sốt – Tôi giật mình trả lời.



– Bước đi lảo đảo, nghiêng ngả ngã dễ như chơi, tại sao anh không lên xích lô mà về nhà.



– Tôi cảm ơn chị – Tôi muốn kêu lên, tôi có nhà đâu. Vì vô gia cư, tôi mới đến nông nỗi này.



Đi hết phố Khâm thiên đến phố Nguyễn thượng Hiền, tôi thấy trong chòi

gác chỉ đường, một cảnh sát giao thông đang ngồi ở đó. Tôi thoáng nghĩ, chỗ này có thế an toàn.



Tôi dắt xe đến vỉa hè bên chòi gác, khoá xe và ngồi dựa lưng vào một bức tường. Có lẽ cũng chỉ trong khoảnh khắc, tôi lại rơi vào một cơn ác mộng:



– Tâm điếc ơi, mày ăn vạ nhà tao đấy à?



– … Ông xem đây, vì ông mà gia đình tôi tan nát. Nó đập phá, ông phải chịu, ông phải chịu.



Một bàn tay đặt trên đầu tôi, lắc làm tôi chợt tỉnh.



– Khoá xe của mày đâu? – Một thanh niên mặt rỗ, hung tợn, tay nắm ngực áo tôi, tay kia lăm lăm con dao nhọn, hỏi.



– Ơ, ơ! Anh làm gì tôi? – Tôi hoảng hốt kêu lên. Và nhìn chòi gác chẳng thấy cảnh sát nữa.



– Im ngay! Ông đâm chết bây giờ.



– Phải đưa chìa khoá xe đây mày mới được an toàn – Một gã nữa vừa doạ, vừa móc túi áo, túi quần tôi. Không thấy chìa khoá xe, gã nói:



– Mày giấu đâu?



– Có thể tôi bỏ rơi rồi. – Tôi trả lời và thoáng nghĩ mất chìa khoá là may trong lúc này.



– Nó có tiền không? – Gã cầm dao nhọn, hỏi.



– Có mấy đồng thôi – Gã kia móc ở túi áo tôi ra và nói – mình thu để nốc một chầu bia. Ta phá khoá chăng?



– Tay không phá thế nào được, phải có búa.



– Gọi xích lô chở xe đi.



– Phải đấy! Xích lô – Gã gọi bác xích lô đang đi trên đường Nam bộ. Bác xích lô vô tình tiến lại gần, khi nhìn thấy rõ, bác vội vã đạp xe bỏ chạy và kêu to:



– Cướp, cướp!



Có lẽ nghe thấy tiếng kêu, tên cảnh sát giao thông lúc nãy mới từ nhà dân gần đó thong thả đi ra. Thấy bóng công an, hai gã trấn lột buông tôi, đi rảo bước rẽ sang phố Yết kiêu. Khi đó, trời đã tạnh mưa, hửng nắng, xe đi lại như mắc cửi trên đường. Trên vỉa hè, người đi bộ qua lại tấp nập. Ai thấy cảnh tượng trấn lột này đều hoảng sợ bước cho nhanh, từ xa ngoái cổ nhìn lại rồi đi thẳng. Riêng bác xích lô vừa rồi lại đến, bác nói:



– Thế là anh gặp may rồi.



– Vâng, thưa bác. Nhờ có tiếng kêu của bác đấy. Cháu xin cảm ơn.



– Anh thấy đau lòng chưa? Cướp giật giữa nơi đông người, trong lúc thanh thiên, bạch nhật mà không có một khí phách anh hùng nào xuất hiện để bênh vực kẻ yếu.



– Bác nói đúng lắm.



– Xã hội này đảo lộn rồi anh ạ – Bác già phấn chấn nói tiếp – Trong nhà con cái mất dạy, bố mẹ sợ con, ngoài đường, người ngay sợ kẻ gian, sợ lũ côn đồ. Một xã hội tham lam ích kỷ. Từ thằng tai to mặt lớn đến đám dân đen ai cũng chỉ cuốc vào lòng. Cũng đúng thôi, đảng dạy phải có lòng tin yêu đảng, đảng không muốn người dân thương yêu giúp đỡ nhau. Xích mích, cắn xé nhau là thực hiện đấu tranh giai cấp, có thế đảng mới dễ bề cai trị.



– Lời bác nói thật là chí lý.



Nhìn vào chiếc xe của tôi, bác nói tiếp:



– Tàng tàng thế này mà một công nhân làm hàng năm, nhịn ăn chưa chắc đã đủ tiền mua, may mà chúng không tìm thấy chìa khoá.



– Chìa khoá mất rồi bác ạ.



– May quá nhưng bây giờ phá khoá à?



– Khoá xe của cháu chỉ chiếu lệ thôi. Bác xem đây – Tôi giật mạnh điểm mở khoá, lập tức càng cua bật ra.



– Thế là số anh chưa mất của – Bác xích lô mỉm cười, nói.



– Bác làm nghề xích lô lâu chưa? – Tôi hỏi. Đến lúc này tôi hoàn toàn tỉnh táo nhưng rất mệt.



– Tôi bị xích lô hoá hơn một chục năm rồi. Chẳng giấu gì anh, xưa kia tôi dạy học. Sau thời kỳ tiếp quản, tôi là giáo viên lưu dung. Như quả chanh vắt hết nước, tôi bị sa thải, cũng may là không phải đi cải tạo.



– Nghề của bác kiếm ăn có khá không?



– Xã hội này làm nghề gì cũng vậy nếu cứ thật thà thì khá sao được? Thật thà ăn cháo, lếu láo ăn cơm, lôm côm ăn thịt. Biết thế đấy nhưng tôi không thể sống trái với lương tâm.



– Thôi chào anh bạn nhé – Nói xong, bác xích lô đạp xe đi.



Tôi muốn tạ ơn bác và nói chuyện với bác nhiều hơn nữa nhưng mệt quá. Vả lại, tôi cũng chẳng còn tiền, địa chỉ của bác, tôi quên không hỏi.



Chợt nhớ tới người anh họ ở khu tập thể nhà máy cơ khí nông nghiệp, tôi đạp xe đến đó. Vợ chồng người anh họ tuy nghèo nhưng có lòng nhân ái. Buổi trưa tôi ăn cơm và nghỉ ngơi ở đó. Đến chiều tôi đến nhà ông Đồng.



– Chú bị ốm hay sao mà mặt tái nhợt? – Ông Đồng ân cần hỏi.



– Vâng, em bị sốt từ chiều hôm qua.



– Công việc bên Bát tràng đến đâu rồi?



– Xong rồi, bác ạ.



– Nhanh thế cơ à? Anh tưởng chưa xong nên chưa chuẩn bị tiền thanh toán cho chú.



– Thong thả cũng được ạ. Em có một việc hệ trọng đến hỏi ý kiến bác.



– Việc gì, chú nói đi?



– Em không còn đủ tính kiên nhẫn vào nơi em ở nhờ nữa. Em xin bác một lời khuyên.



– Khó đấy chú Tâm ạ. Đối với anh, không riêng gì chú là chỗ thân tình, anh luôn mở rộng cửa bốn phương, tám hướng của tâm hồn đón nhận mọi người trong lúc thất cơ lỡ vận nhưng cơ quan an ninh không để cho chú được quyền lựa chọn, chú bị người nhà hắt hủi là ước mong của họ. Chú đi ở nhờ chỗ khác dài nhất cũng chỉ được một vài tuần, công an sẽ tìm kiếm thấy và bắt chú phải về nơi ở cũ. Khi đó thêm một cái cớ để gia đình hành hạ chú. Theo anh, phương kế tốt nhất là chú cắn răng mà chịu nhục thêm một thời gian nữa. Chú cố gắng dành dụm lấy một số tiền và anh hứa sẽ giúp đỡ chú thêm để có thể sắm một gian nhà lá hay một túp lều thôi, có chủ quyền cũng giảm bớt cho mình một phần khổ nhục.



Đêm khuya tôi mới về nhà chị. Chị Hoa đi làm, cả nhà đã đi ngủ, còn thằng Lập đang học bài. Thấy tôi, nó hỏi:



– Tưởng ông không về đây nữa?



Tôi im lặng, gượng nhẹ dắt xe vào nhà.



Lần tới, mời các bạn đón đọc: Những kẻ khổ nhục – Kỳ 7



NHỮNG KẺ KHỔ NHỤC – Unfortunate people



NHỮNG KẺ KHỔ NHỤC – Kỳ 7



Tối mùa xuân năm 1977, một buổi chiều chủ nhật, tôi gặp Nga đang sánh bước với một người đàn ông bên bờ hồ Hoàn kiếm. Thấy tôi, Nga đon đả chào:



– Em chào anh Tâm.



– Nga dạo chơi à?



– Vâng, em giới thiệu đây là anh Hiển – chồng em. Xưa kia anh Hiển cũng ở trại An Thịnh, anh có biết không?



– Anh ở bên số lẻ – Hiển nói – còn em bên số chẵn, chưa chắc anh đã biết.



Lục lọi trong trí nhớ một hồi, tôi chợt nhớ và hỏi:



– Có phải Hiển trốn tù bị bắn vào đùi không?



– Vâng, ngoài ra còn nhiều sự cố khác.



– Tôi nhớ ra rồi.



– Gia đình anh và gia đình em có nét tương đồng nhưng cách sống của mỗi người đi theo một nẻo.



– Tôi biết – Tôi trả lời và chìm trong nỗi suy tư về con người vừa đáng thương vừa tội lỗi này.



Hồi cải cách ruộng đất, bố Hiển bị bắn, nhà cửa bị tịch thu. Hiển còn nhỏ, ở với chị, học ở Hà nội nên thoát nạn. Bà chị thương em, cho Hiển học đến nơi đến chốn. Hết phổ thông, Hiển vào đại học. Năm cuối cùng nhà trường thẩm tra lại lý lịch để cấp bằng tốt nghiệp mới phát hiện ra hoàn cảnh của gia đình Hiển. Trường quyết định đuổi Hiển và bắt bồi thường học bổng. Sau đó, Hiển không xin được việc làm kiếm sống, anh chán ghét xã hội đến cực độ và buông thả mình vào con đường tội lỗi: ăn cắp, ăn trộm, trai gái đĩ bợm.



Hiển bị sa lưới nhiều lần nhưng trong túi có tiền – bùa hộ mệnh – giải thoát cho anh. Mùa thu năm 1966, Hiển bị bắt, lần này không có bùa hộ mệnh, anh bị tống giam vào Hoả lò hai tháng rồi đưa đi trại An Thịnh. Những năm tháng tù, Hiển chịu nhiều hình phạt. Chẳng những thế, do không đủ nghị lực chịu đói, anh nhiều phen điêu đứng.



Một buổi sáng chủ nhật, nhà bếp gánh lá xu hào luộc lên nhà ăn chia, Hiển lẻn vào ăn vụng không may bị bắt quả tang, anh bị trật tự đánh cho một trận khá nặng nề: gẫy một răng, máu mồm, máu mũi trào ra và ngất lịm. Vào một buổi sáng chủ nhật khác, trại cho tù ăn chè sắn nấu với mật, Hiển nói với toán trưởng xuống nhà bếp – khiêng thùng chè lên chia và xin được vét thùng. Chia xong Hiển dùng bàn tay vét chè ăn, bốn đứa khác cũng đến vét tranh với Hiển. Nhanh như máy, Hiển rứt hết khuy để cởi áo ra, ném vào thùng chè lau thật sạch. Bọn kia không chịu bỏ cuộc, chúng giằng xé áo của Hiển, áo rách tung, mỗi đứa được một mảnh liếm chè dính. Một cuộc chiến diễn ra do Hiển phát động, rốt cuộc Hiển bị một trận đòn đau và vào nhà kỷ luật hai tuần. Từ một chàng trai cao, lớn đến mùa xuân năm 1967, Hiển lọm khọm như một ông già, da bọc lấy xương. Hiển quyết định một trò mạo hiểm: trốn tù, từ chiều ngày hôm trước đến sáng hôm sau, Hiển bị một viên đạn xuyên qua đùi và bị bắt lại. không được băng bó gì vết thương, Hiển bị xích chân còn lại trước cổng trại, triển lãm cho tất cả các tù nhân xem: máu ra nhiều, Hiển bị ngất đi, cai ngục mới đưa Hiển vào xà lim cùm ba tháng.



Sau khi được tha kỷ luật, sức Hiển cạn kiệt, lúc mê, lúc tỉnh, do vậy, Hiển được nằm trạm xá. Một buổi chiều mùa hè, tên y tá trại báo cáo với cai ngục là Hiển đã tắt thở. Không cần kiểm tra lại, cai ngục ra lệnh bốn tù nhân tự giác cho xác Hiển vào quan tài mang chôn ngay. Thời gian đó đang trong vụ bội thu của tử thần, có ngày thiếu gỗ đóng quan tài nên cai ngục cho thợ đóng dự trữ. Bốn thằng tù khiêng quan tài Hiển lên đồi A1, đào lỗ và hạ huyệt xong, họ bảo nhau nghỉ ngơi cho đỡ mệt rồi hãy lấp đất. Mươi phút sau, thấy quan tài có tiếng động, hai người nhát gan bỏ chạy, còn hai người bạo gan hơn, lấy lưỡi mai cậy nắp quan tài. Lập tức Hiển ngồi nhổm dậy và kêu khát nước. Nước trên đồi cao lấy đâu ra, bốn thằng tù thay phiên cõng Hiển xuống suối uống nước và cõng Hiển về trại. Cũng trong thời gian đó, để hạn chế tù chết đói hàng loạt, bộ công an cho tù ăn thêm sáu cân ngô mỗi tháng, và chuyển trại sang một khu rừng khác. Nhờ vậy, Hiển thoát khỏi bàn tay của tử thần.



Năm 1968, Lê Tâm, người Hải phòng trốn trại, bị bắt lại. Tối hôm ấy, sân trại treo hai cây đèn măng xông sáng như ban ngày, mười vũ trang lực lưỡng quần đùi, áo may ô dẫn Lê Tâm vào giữa sân đánh biểu diễn cho tù coi. Những cú đấm, cú đá liên tiếp từ mọi phía vào mặt, vào người kẻ phạm tội không kịp đo ván. Một vài phút đầu, Tâm còn ú ớ kêu, sau đó các võ sĩ như luyện tập nghề nghiệp vào cái xác chết. Hiển ở trong buồng giam nhìn ra, không kiềm chế nổi, bật kêu lên:



– Tàn bạo quá!



Không may hai thằng tù nằm bên nghe thấy, chúng đặt điều kiện với Hiển:



– Ngày mai, mày phải ép rệp, dành cho bọn tao. Nếu không, sẽ tố cáo.



Hiển van xin mãi không xuôi, cuối cùng phải nhận lời. Ngày trước nhịn đói, ngày hôm sau đi lao động, Hiển mệt quá không làm được lại bị vũ trang giáng cho mươi báng súng.



Cuối năm 1968, Lê Tâm lại chơi canh bạc mới. Lần này, giám thị thiếu tá Phạm ngọc Ky phán quyết số mệnh của Tâm. Trên một quả đồi bị bao vây, Lê Tâm đang lẩn trốn thì thượng sĩ Dương nhìn thấy, gọi:



– Anh Tâm! Chạy đi đâu nữa, quay lại tôi bảo.



Biết không thoát, Tâm đến chỗ Dương, chịu bị bắt. Cách xa khoảng ba mét, mục tiên là ngực Tâm, Dương khai hoả. Tâm trúng đạn gục ngã, Dương tiến sát lại bắn hết một loạt đạn AK vào ngực Tâm.



Người đi chôn Lê Tâm về kể lại, tim phổi Tâm nát bét chẳng còn hình thù gì nữa.



Nghe xong, Hiển nói:



– Lần này, ông không hở d. ’…để một vài thằng cắn đâu.



Hai thằng lợi dụng cơ hội cướp cơm của Hiển dạo trước lại nghe được câu nói ấy, chúng bảo nhau báo cáo với quản giáo toán. Hiển phải vào nhà kỷ luật hai tuần.



Một buổi sáng, tù đi làm thì gặp nhà bếp gánh ngô thối về kho để chuẩn bị bữa trưa. Mọi người đều bịt mũi, Hiển và vài người khạc nhổ. Không may, Hiển khạc nhổ vào chân tên vũ trang áp giải,

hắn liền giáng cho Hiển mấy báng súng. Sáng hôm ấy, tại nơi lao động phát hoang, Hiển báo cáo quản giáo toán, xin đi đại tiện. Tên quản giáo chỉ Hiển đi về phía chân đồi, nhưng tên vũ trang lại rúc còi, bắt Hiển phải đi về phía bờ suối.



Không biết chấp hành lệnh của ai, Hiển nói:



– Chỉ có việc xin đi ngoài cũng có hai lệnh ngược chiều nhau, tôi biết theo lệnh ông nào để không mang tội?



Tên vũ trang gọi Hiển lại chỗ hắn, dùng báng súng đánh Hiển túi bụi và quát:



– Láo xược này, láo xược này!



Hiển đau quá, nằm lăn lộn, ỉa tung toé ra quần, hắn mới buông tha.



Đấy là chưa kể đến chuyện thường xuyên bị đánh đập vì tội vi phạm nội quy: bắt cóc nhái nướng ăn, nhặt rau rừng, lấy cắp hoa màu, đun nấu ngoài đồng. Và nhiều lần bị khoá tay vào song cửa suốt đêm vì tội đun nấu trong phòng…



– Anh đang suy nghĩ gì mà vẻ mặt đăm chiêu thế? – Hiển hỏi.



– Tôi đang hồi tưởng lại trang đời buồn đau của cậu.



– Thế ra anh cũng biết và nhớ em?



– Bên số chẵn, tôi nhớ tỉ mỉ một số người, trong đó có Hiển.



– Anh nhớ để khinh bỉ? – Nga hỏi.



– Tôi không dám khinh ai. Số lẻ hay số chẵn cũng chỉ đáng thương thôi, đều là những nạn nhân.



– Anh thấy chúng em có môn đăng hộ đối không?



– Rất xứng đôi. Hai người thành hôn lâu chưa?



– Được gần một tháng. Và thời gian chúng em tìm hiểu cũng rất nhanh. Nói thật là có mặt anh vẫn theo vết đường mòn của Cộng sản.



– Mặt nào?



– Chúng ta đều là những nạn nhân của sự phân chia giai cấp. Thế thì tại sao giữa chúng mình, mặt nào đó, anh cũng dựng nên một hàng rào?



– Mỗi con người ngoài phần tư tưởng dành cho cộng đồng, phải có cái riêng, đó là cá tính và sở thích khác nhau. Cộng sản muốn tiêu diệt cái riêng của con người và áp đặt khuôn mẫu Marx – Lénine vào mọi tâm hồn để tính đảng thay thế tính người. Hay nói cách khác, CS muốn con người có bộ óc xơ cứng và trái tim băng giá, trở thành cái máy để đảng điều khiển. Nga nên hiểu rằng, hàng rào giữa chúng ta là cá tính và sở thích, không phải là cách phân chia giai cấp và kích thích đấu tranh của Cộng sản.



– Cải cách ruộng đất đẫm máu, anh có nghĩ là ông Hồ đã thực hiện một phần chính sách của Việt vương Câu tiễn không?



– Một ý kiến mới mẻ quá, tôi chưa nghĩ đến.



– Vì ước mơ độc lập, tự do, gia đình em tận tâm, tận lực dành cho cách mạng. Năm 1946, bố em lên đường nhập ngũ. Sau chiến tranh chống Pháp, người làm bí thư đảng bộ xã. Hồi cải cách gia đình em bị quy lên địa chủ, còn bố em bị buộc tội một tên quốc dân đảng, chui vào hàng ngũ cách mạng để phá hoại. Người bị bắn, tài sản bị tịch thu. Đến sửa sai họ có minh oan và trả lại một phần nhà cửa, em cứ tưởng nỗi đau thương của gia đình như thế đã lùi về dĩ vãng. Khi bị đuổi học, em mới chợt hiểu rằng, những gia đình bị xử trí oan, đảng vẫn coi là đối tượng của cách mạng. Suy cho cùng, không phải đảng mắc sai lầm mà là chủ trương của ông Hồ. Ông ta đã lợi dụng lòng yêu nước, không quản ngại hy sinh xương máu và tài sản của toàn dân để chống lại thực dân Pháp. Nhưng cách mạng giải phóng dân tộc chỉ là bước quá độ của cái gọi là cách mạng vô sản. Khi bước quá độ đó giành được thắng lợi, với cái gọi là đấu tranh giai cấp, ông ta đã ra lệnh tàn sát hàng nghìn người yêu nước cùng chung chiến tuyến. “Khi rừng hết thú quý thì chó săn và cung tên cũng bỏ đi” tương tự như khi vắng bóng thực dân xâm lược trên nửa nước thì nhiều người có công với cách mạng thành những kẻ tử tội.



– Nếu không giỏi lừa, ông ta không thể dựng lên một chính quyền độc tài, tàn bạo hiện nay.



– Anh được trả tự do lâu chưa?



– Chế độ CS làm gì có tự do mà trả? Họ tha cho tôi cuối tháng hai năm ngoái. Còn Hiển?



– Cuối năm 1975, anh ạ. Anh sống có dễ chịu không?



– Tôi ở nhờ nhà chị nhục lắm, có thể còn nhục hơn trong tù.



– Em cũng thế thôi.



– Chị cậu tốt lắm cơ mà?



– Ngoài chị ra, còn anh rể và các cháu. Chẳng riêng gì anh em, đại bộ phận người đi tù về đều điêu đứng cả, mất vợ, mất anh em, đều trong cảnh cốt nhục tương tàn. Anh nói nhục hơn trong tù là đúng. Trong tù, khi bị nhục, mình có thể trả giá để bảo vệ danh dự. Còn người nhà làm nhục, mình đành ngậm đắng nuốt cay. Từ khi em lấy Nga thì thoát khỏi cảnh nhục đó.



– Hiện nay cô, cậu ở đâu?



– Ở nhà em – Nga nhanh nhảu trả lời – Anh Hưng sống cô đơn, anh ấy muốn chúng em ở một nhà cho vui.



– Anh Hưng tẩy sạch mùi Bol chưa?



– À, sạch lâu rồi. Cả nhà đau thương tan nát vì Bol, con người chứ con vật đâu mà còn Bol nữa. Đáng buồn là từ một người cuồng tín đến nay anh ấy không còn niềm tin nữa, thậm chí không tin cả chính mình. Em hỏi, anh nghĩ gì về tương lai? Anh ấy trả lời, bây giờ anh đang tồn tại, chưa biết cuối ngày và ngày mai sẽ ra sao? Xưa kia em ghét anh ấy bao nhiêu, đến nay em thương anh ấy bấy nhiêu.



– Dù sao, anh Hưng đã sớm tỉnh ngộ. Tôi ước mong nhiều người Việt nam sẽ như anh ấy. Được như vậy, cơn hôn mê của lịch sử dân tộc sớm được chữa trị.



– Anh có tin vào tương lai không? – Hiển hỏi.



– Với cuộc đời mình thì không nhưng tương lai dân tộc tất nhiên là có. Bóng tối của bạo lực, gian manh, xảo trá rồi sẽ được xua tan.



– Nghĩa là trọn đời chúng mình cứ thế này?



– Đúng thế! Vài ba thập kỉ đối với lịch sử là thời gian ngắn ngủi nhưng đối với chúng ta lại quá dài. Đến khi lịch sử sang trang, có thể chúng ta đã về nơi yên nghỉ, cũng có thể đang trong buổi hoàng hôn của cuộc đời.



– Em cho rằng, một thời gian ngắn nữa chủ nghĩa CS sẽ lỗi thời.



– Tôi phản đối khái niệm lỗi thời của Hiển. Nếu nói chế độ quân chủ chuyên chế đã lỗi thời là đúng. Còn chủ nghĩa CS cũng như chủ nghĩa phát xít là những thực thể gây tội á

c và thảm hoạ không có thời nào hợp với quy luật tiến hoá của lịch sử nhân loại. Thế thì làm gì có lỗi thời? Dần dần nhân loại nhận thức được chân lý đó và ném thứ chủ nghĩa ma quỷ ấy ra bãi rác của lịch sử.



– Hiện nay, anh làm gì để sống?



– Thợ mộc. Còn vợ chồng Hiển?



– Chúng em làm mọi việc. Chẳng giấu gì anh, chủ yếu là buôn gian, bán lậu. Trót sinh ra trong một xã hội nhiễu nhương, điên loạn, mình cũng phải làm sao hoà nhập với cộng đồng. Sống thật thà, lương thiện lúc này là con đường tự sát, chẳng những thiệt thòi về vật chất, mà còn về nhân cách, người ta xem mình là một thằng ngốc, một thằng ngơ ngẩn. Chúng em tuân theo lẽ sống của một thời đại đi bằng đầu.



– Còn anh, chúng em biết, không có mẫu số chung với xã hội, cũng không thể quy đồng – Nga nói.



Khi chia tay, Nga lùi lại hỏi nhỏ tôi:



– Em đã sang sông, anh có hối tiếc không?



– Không, anh mừng cho em.



– Có lẽ khối bê tông này còn trường tồn mãi – Nga nói với giọng mỉa mai – Nỗi cô đơn sẽ tiếp tục gặm nhấm cuộc đời anh cho đến ngày về với cát bụi.



* *



*



Cuối năm 1977, tôi đến thăm gia đình người anh họ. (anh em thúc bá) ở một tập thể nhà máy cơ khí nông nghiệp I, chị dâu tôi hỏi:



– Chú có ý định xây dựng gia đình chưa?



Tôi cười chua chát hỏi lại:



– Chị không giễu cợt em đấy chứ?



– Chị hỏi thật đấy.



– Nhưng chị có thể giúp em không?



– Chị muốn giới thiệu cho chú một cô nên tham khảo ý kiến chú trước.



– Cảm ơn chị. Em biết thân phận chẳng ai yêu nên chưa nghĩ tới.



– Đành rằng hoàn cảnh chú thì cực khó nhưng chẳng lẽ chịu à? Nếu phương pháp chính quy chắc chắn thất bại, ta dùng phương pháp du kích vậy.



– Em không hiểu chị định nói gì?



– Thế này nhé, với lý lịch của chú, nếu cứ thật thà không giấu giếm quá khứ, không đứa nào dám lấy chú đâu. Người ta có hỏi, cứ trả lời chung chung vì nghèo khổ, ít quan hệ nên chưa có gia đình. Sau này, khi mọi việc đã xong xuôi, người ta có biết thì đã muộn. Bỏ chồng không phải dễ như thay chiếc áo.



– Nhưng giả dối để lấy vợ sau này không thể sống hoà thuận, mình phải trả giá đắt.



– Tất nhiên là phải chịu hậu quả, song với hoàn cảnh của chú, không còn cách nào khác. Chả lẽ chú sống độc thân trọn đời sao?



– Theo em, cách tốt nhất là nói toạc móng heo ra, người ta không ưng thuận thì đành.



– Không ổn, chưa nói đến đứa con gái bình thường mà ngay một con điếm chắc gì nó đã ưng? Thời đại này coi tội phản cách mạng nặng nề hơn bất cứ một tội trạng nào.



Tôi thoáng nghĩ, chị nói phần nào có lý. Trái tim tôi đang băng giá, coi tình yêu là việc của người, mình không có quyền can dự. Xưa kia, khi còn trai trẻ tôi cũng chỉ dám yêu thầm nhớ trộm, xem việc tỏ tình với lòng tôi thấy xôn xang, tuy nhiên tình yêu và gia đình đối với tôi vẫn là khái niệm mơ hồ, xa cách, lạnh lùng. Giờ đây phải bưng bít, khép kín quá vãng để tìm một người bạn đời thì đau lòng quá – một quá vãng không phạm gì đến lương tâm, đạo đức. Đúng như lời của Nghệ: “cuộc đời là sự bịp bợm”, muốn có một cuộc sống tầm thường, khốn khổ, mình cũng phải tuân theo logic đó chăng?



Tôi đang miên man trong suy tư thì chị lại hỏi:



– Chú nhất trí với chị chứ?



– Vâng! Em sợ sau này người ta trách cả chị nữa.



– Tất nhiên, nhưng tôi dễ biện bạch thôi. Cứ nói là lấy anh ấy mới được mấy năm nên chưa hiểu rõ người trong họ nhà chồng.



– Chị cho em biết qua tiểu sử gia đình và bản thân cô ấy.



– Họ và tên cô ấy là Chu thị Mật, người Đan phượng, bố chết sớm, mẹ tái giá. Cô ấy có hai anh em. Người anh sống với bà cô ở Hà nội, còn Mật sống với mẹ và chú dượng, đến tuổi trưởng thành đi thanh niên xung phong chống Mỹ. Cách đây mươi năm, Mật được chuyển về Hà nội làm thợ phay tại nhà máy này. Năm nay, Mật khoảng ba mươi tuổi, với chú là đẹp đôi vừa lứa.



– Tại sao cô ấy vẫn cô đơn?



– Nói chung, người ta cho là duyên số, nhiều người theo đuổi cô ấy nhưng chẳng thành. Nói riêng, cô ấy hơi lạnh tính, quan hệ rất dè dặt và thận trọng nên phái mày râu chàng nào thiếu kiên trì là bỏ cuộc. Có thế chị mới giới thiệu cho chú. Thời buổi này, con gái dễ yêu nhưng lại dễ bỏ chồng. Hơn nữa, hiện nay chú phải ở nhờ chịu khổ nhục, nếu cô Mật và chú thành gia thất, chú sẽ về đây ở tập thể nhà máy tránh được một nỗi đau cắn xé hằng ngày. – Chị nói đến đây làm tôi như được cởi lòng cởi dạ. Ngày đêm tôi hằng mong ước được thoát khỏi cái trại giam vô hình đầy đoạ tinh thần là nơi tôi đang sống nhờ nhà chị ruột. Trong tâm hồn tôi loé lên một tia hy vọng mong manh.



– Bao giờ em có thể được gặp cô ấy?



– Tối thứ bảy này, khoảng tám giờ, chú đến đây. Tối hôm ấy, tôi gọi Mật đến nhà chơi, coi như tình cờ hai người giáp mặt.



Thời gian như ngừng lại, tôi chờ mong tính từng ngày mãi mới đến thứ bảy. Cũng dễ hiểu thôi, trước đây tôi sống những ngày vô vọng nên thời gian cứ vùn vụt trôi qua không cần biết đến. Còn nay, tôi đang nâng niu một tia hy vọng mong manh nên tưởng như quy luật vận động của vũ trụ cũng mắc những sai lầm. Ngày hôm ấy sao dài thế? Cứ nặng nề chậm chạp trôi đi từng giây, từng phút, một ngày như dài hàng thập kỷ. Buổi tối tôi đến nhà anh họ đúng giờ đã thấy cô Mật ngồi trên giường đang nói chuyện với chị dâu tôi.



– Chào anh chị, chào cả nhà – Tôi nói.



– Chú đến chơi đấy à? – Chị dâu mau mồm mau miệng:



– Đây là cô Mật cùng làm việc với chị. Và đây là chú Tâm, anh em thúc bá với anh Giang.



– Rất hân hạnh được làm quen với cô – Tôi nói.



– Em chào anh!



Sau mấy lời giao tiếp mọi người đều im lặng. Quả thật lúc đó, lưỡi tôi xơ cứng lại, chẳng biết nói gì thêm. Cô Mật

bỏ về ngay. Nhác trông khuôn mặt và nhìn theo dáng dấp người đàn bà này tuy đã hàng chục năm thoát ly nhưng chưa xoá được hình ảnh của cội nguồn – một cô gái nông dân ít học.



– Cô ấy như thế đấy, chú có ưng không?



– Em như người sắp chết đuối vớ được cọc, cọc nào mà chẳng tuyệt vời. Chị hãy dành cho cô Mật câu hỏi ấy.



– Thôi được rồi, tôi sẽ liệu. Dù sao việc trăm năm chú cũng nên suy tính kỹ.



– Thế này chị ạ, chưa bao giờ em dám nghĩ một tình yêu đến với mình, chỉ ước ao thoát khỏi cảnh ở nhờ. Một thằng vô gia cư, một thằng cha căng chú kiết, một tên phản cách mạng làm gì có quyền lựa chọn ai trên xứ sở này?



– Tối mai chú đến đây. Đừng quên là phải giấu kín quá khứ đấy, để lộ là hỏng việc.



Trên đường về, lòng tôi tràn ngập nỗi ưu tư: “Cả dân tộc là nạn nhân của sự bịp bợm. Hơn nữa, ta còn là nạn nhân của sự tàn bạo, của cái gọi là đấu tranh giai cấp. Thế rồi kẻ khốn khổ đó muốn có một cuộc sống tầm thường, khổ nhục cũng trở thành kẻ lừa dối cuộc đời. Ngày đêm ta thường nguyền rủa, hờn căm cái guồng máy tuyên truyền bịp bợm khổng lồ, đến nay không có gan sống thật thà để chịu đựng thêm khổ nhục, ta lại bước vào vết đường mòn của thời đại, thật đau lòng quá! Nếu ta tin có kiếp luân hồi, chắc rằng ta tìm ra lối thoát.



Những tháng năm bệnh đói kinh niên vò xé trong tù chưa bao giờ ta chịu bỏ cái tôi – một cái tôi ngay thẳng, thật thà. Ngày nay để mưu cầu một cuộc sống tầm thường, khốn khổ, ta phải từ bỏ cái tôi mãi mãi chăng? Nghĩa là ta bị cuốn theo trận cuồng phong của ý thức hệ giáo điều, phi nhân ấy, chống lại cái tôi để hoà đồng với sự u mê, tăm tối, bịp bợm mà thời đại đang đầu độc… ”



Y hẹn, tối hôm sau tôi lại đến, chị dâu bảo:



– Cô Mật đồng ý gặp chú ở nhà chị Lý ngay tối nay. Chị nhắc lại là chú phải nói năng cho khéo, đừng để lòi đuôi quá khứ đấy.



Tôi thoáng nghĩ, thật khôi hài, nói chuyện với một cô gái nông dân mà phải chuẩn bị đối phó như cung khai trước toà án.



Tôi đến nhà chị Lý, cô Mật đã ở đấy. Sau khi chào hỏi xã giao, gia đình chị Lý vào nhà trong xem vô tuyến để gian nhà ngoài chúng tôi tự do nói chuyện. Ngồi đối diện nhau qua cái bàn nước nhỏ, tôi hồi hộp lúng túng mãi mới vận hành được cái lưỡi như bị xơ cứng.



– Đây là lần đầu trong đời tôi có vinh hạnh được nói chuyện với một phụ nữ với hy vọng sẽ trở thành người bạn trăm năm…



– Anh nói gì lạ thế? – Mật cướp lời – Chả lẽ anh chưa yêu bao giờ sao?



– Yêu thì có đấy nhưng tôi chỉ yêu vụng, nhớ thầm chưa bao giờ dám thổ lộ tâm tình với một người nào.



– Em không tin anh. Đến như em, một đứa quê mùa cũng đã được nhiều chàng trai để tâm đến. Có như con gái đâu, đàn ông các anh có quyền được bầy tỏ kia mà.



– Cái chung tôi không phản đối. Tuy nhiên, do thân phận mình nghèo hèn nên thấy mình nhỏ bé quá, bầy tỏ tình cảm với một phụ nữ có thể người ta cho là điều phạm thượng.



– Theo cách nghĩ của anh, những người nghèo khổ phải sống độc thân à? Thực tế không phải thế, dù ở cương vị nào cũng theo luật tạo hoá là trai có vợ, gái có chồng. Phải sống độc thân là con số nhỏ.



– Xưa kia thì thế, còn hiện tại tôi đang nói chuyện với cô. Và hy vọng giữa chúng ta có một quan hệ tốt đẹp.



– Để trả lời sự mong muốn của anh, em cần phải có thời gian suy nghĩ. Tuổi em ở quê thuộc diện ế chồng rồi, tuy vậy việc trăm năm cũng không thể giải quyết một sớm một chiều.



– Hiện tại cô có cảm nhận gì về tôi. ?



– Điều đó lẽ ra em chưa nên nói nhưng anh hỏi, em cũng xin trả lời thành thật. Nghe chị Bích kể lại, em thắc mắc là tại sao anh không làm việc ở một cơ quan nhà nước? Và qua tiếp xúc, em thấy anh là người hoạt bát, tại sao anh chưa có gia đình?



– Có gì đâu, tôi thích làm nghề tự do, chẳng phải lệ thuộc một người nào. Còn chưa có gia đình, như đã nói, do nghèo khổ, không nhà cửa.



– Chắc anh cũng biết, nếu không phải là công nhân biên chế, sau này con cái sẽ bị thiệt thòi. Với lý lịch bố làm nghề tự do hoặc hợp tác chẳng tốt đẹp gì cho chúng. Còn việc anh chưa xây dựng gia đình có thể vì nguyên nhân nào khác hoặc anh chưa muốn chứ đàn ông ngày nay lấy vợ có khó khăn gì? Sau thời chiến, đàn bà nhiều, đàn ông ít nên nhiều người tuyên bố vơ tay trái cũng được dăm cô. Anh nói, anh nghèo khổ, không nhà cửa cũng chẳng quan trọng lắm. Ngày nay, trai về ở nhà vợ cũng là chuyện bình thường.



– Cô nói đúng nhưng hoàn cảnh mỗi người một khác. Có thể do điều kiện làm việc, tôi ít có cơ hội được gần gũi nữ giới, có thể do tính tự ti, mặc cảm mà tôi không dám tìm kiếm mối quan hệ với người khác giới. Cô quan tâm nhiều đến chỗ đứng trong xã hội làm tôi có cảm tưởng rằng cô là một đảng viên?



– Em hằng mong ước điều đó nhưng chưa có cơ hội. Em muốn biết anh có ý nghĩ gì về một đảng viên?



– Tôi ấy à? – Tôi bối rối vì câu hỏi đột ngột của cô ấy – Đảng viên là người đang phấn đấu xây dựng chủ nghĩa CS có phải thế không?



– Đấy là định nghĩa, em hỏi anh quan niệm vị trí của một đảng viên trong xã hội cơ?



– À, với chế độ này thì đảng viên có địa vị cao nhất chứ gì?



– Sao lại với chế độ này? Anh không biết sau này cả thế giới chỉ có một chế độ là chủ nghĩa CS hay sao?



– Nói thật là trí khôn của tôi ngắn ngủi, chỉ biết hiện tại mà thôi, còn cái thiên đường CS xa vời quá tôi chẳng hiểu gì về nó.



– Xem ra về chính trị anh còn mơ hồ lắm. Nó đến nơi rồi, chậm nhất là đời con cháu mình thôi. Vì thế, những người thức thời phải biết làm gì cho con cháu mình được hưởng. Nếu là một đảng viên mà con muốn vào đại học thì có gì đảm bảo hơn thế nữa. Công nhân biên chế là loại hai, người làm hợp tác là loại ba, làm nghề tự do như anh là loại bốn, người phạm pháp khi hết hạn tù là loại năm.



– Cô nói còn chưa đủ đâu.



– Vâng, em cũng biết là còn thiếu. Những người thuộc giai cấp đối lập và những phần tử phản cách mạng không được coi là những công dân.



– Chính trị cô khá lắm!



– So với người khác, em đã ra gì. Ngày nay công nhân được học tập nhiều nên giác ngộ cách mạng rất cao…



– Cô có sợ những người chống lại đảng không? – Tôi hỏi nhưng giật mình vì sợ hớ hênh.



– Ai mà chẳng sợ.



– Sợ cái gì ở họ?



– Sợ liên quan đến họ sẽ bị xã hội vùi dập lây, lãnh đạo cơ quan có ấn tượng xấu, chặn hết mọi đường phấn đấu – Ngừng một lát, như phát hiện ra điều gì mới, Mật hỏi – Quái lạ, những người đó có quan hệ gì với anh mà hỏi nhiều thế?



– Hỏi thế thôi, tôi chẳng có quan hệ gì với những người như thế. Tuy nhiên, ai mà chẳng có người nhà hoặc họ hàng là đối tượng của cách mạng như thành phần tư sản hoặc địa chủ…



– Còn anh, có sợ họ không?



– Tôi ấy à? Chỉ thương họ thôi.



– Anh có thương thì để trong lòng, nếu không đảng sẽ quy anh vào tội mất lập trường cách mạng. Như em, nếu chỉ sợ họ thôi cũng chưa đủ nếu muốn phấn đấu trở thành một đảng viên, thì phải coi họ là bọn phản động, phản quốc hại dân…



Cô ấy nói đến đây làm tôi rùng mình hoảng sợ. Tôi muốn giải thích cho cô ta điều ngược lại nhưng chắc chắn không thể đưa ánh sáng vào khối óc u mê này và để lại cho cô ta một sự hoài nghi về quá khứ của tôi. Tôi nói lảng sang chuyện khác:



– Mật cùng làm với chị Bích à?



– Vâng, em là thợ phay, chị ấy là thợ cưa.



– Hiện nay, cô hưởng lương bậc mấy? Bao nhiêu tiền một tháng?



– Bậc ba, sáu mươi đồng một tháng. Lương công nhân của em chỉ bằng anh làm ngoài chưa đến một tuần.



– Nhưng được nhà nước bán cung cấp nhiều mặt hàng thiết yếu, ốm đau được điều trị miễn phí.



– Điều quan trọng nhất là được đảng tin tưởng về chính trị bảo đảm tương lai cho con cái sau này. Em phấn đấu trở thành công nhân loại một sẽ có nhiều quyền lợi hơn.



– Tôi tưởng cô phấn đấu thành công nhân giỏi thì hay hơn chứ, nhất nghệ tinh, nhất thân vinh mà.



– Em xin lỗi, hình như anh có phần lạc hậu với xã hội hiện nay thì phải. Bác đã dạy “…Vừa hồng, vừa chuyên”, trước hết công nhân phải có phẩm chất cách mạng sau đó mới đến tay nghề. Chỉ là công nhân bậc ba mà có đảng sẽ đứng trong hàng ngũ lãnh đạo, quyền lợi lâu dài sẽ cao hơn công nhân bậc bảy ngoài đảng. Ngay kĩ sư, bác sĩ mà không có đảng suốt đời cũng chỉ là những nhân viên: chức trưởng, phó phòng, phân xưởng trưởng, chủ nhiệm khoa dù có giỏi chuyên môn cũng đừng có mà mơ tưởng.



– Hay lắm, cô nói như một cán bộ tuyên huấn vậy.



– Em cứ nghĩ là sự hiểu biết đơn sơ đó thì ai mà chẳng rõ. Anh không quan tâm đến xã hội à?



– Có thể thế. Và cũng có thể là một trong những nguyên nhân làm tôi ế vợ.



– Điều đó có gì khó khăn đâu, chỉ quan tâm đến là hiểu biết ngay thôi. Đã là công nhân ai chẳng giác ngộ tính giai cấp của mình đối với cách mạng.



Thật ngán ngẩm, trai gái nói chuyện riêng với nhau toàn những lý thuyết giáo điều trống rỗng. Nếu coi CS là một tôn giáo, nó đã sản sinh ra hàng triệu tín đồ như cô gái nông dân ít học này. Thứ tôn giáo không dạy lòng nhân ái, lòng bao dung, độ lượng như kitô giáo, phật giáo, khổng giáo… mà tiêm nhiễm vào đầu óc con người tính kì thị, sự hận thù, chia rẽ…



– Sao anh im lặng thế?



– Ồ, tôi vẫn nghe cô nói đấy chứ. Hàng chục năm được đảng dạy dỗ, đào tạo xem ra cô tiến bộ lắm!



– Em đã đi đến đâu. Nhiều người văn hóa cao họ còn tiến bộ hơn em nhiều – Mắt cô gái long lanh, nở một nụ cười tươi tắn vì được tôi khen ngợi. Tôi cũng biết cái bí quyết chiếm được cảm tình nhanh với một phụ nữ là những lời khen, tâng bốc, nhất là về sắc đẹp.



Tuy vậy, tôi không thể kiếm đâu ra chất men kích thích tôi làm việc đó. Tôi đã khen em ư? Đâu phải, đó chỉ là những lời chế giễu chua cay!



– Hơn mười giờ rồi, ta về thôi anh ạ!



– Thứ bảy tới, mình lại gặp nhau chứ?



– Vâng!



– Lần sau không nên làm phiền gia đình chị Lý nữa mà gặp nhau ở chỗ khác, trên đường Kim Liên chẳng hạn?



– Thứ bảy tới anh cứ đến đây rồi sẽ liệu.



Trên đường về, tôi đi theo quán tính, đầu óc triền miên suy tưởng: “Thế là buổi nói chuyện đầu ta đã thành công trong việc bưng bít quá vãng của mình. Cứ như tối nay, ta thành kẻ dối trá, bịp bợm có lẽ không khó khăn gì lắm. Giả thiết mọi việc đều suôn sẻ, sau này ta chịu đựng lời nói của tín đồ vô thần đó được bao lâu? Chắc chắn đến một thời điểm nào ta sẽ phát điên lên và quát: Mày là đứa u mê, đồ con lợn, tao đã chịu hết nổi rồi. Và mỗi đứa xéo đi một nẻo… ” Đến đây tôi chợt nhớ đến Nga và hối tiếc: “Chỉ có em biết rõ quá khứ của ta. Em thông cảm và cầu xin ta dang cánh tay bao dung ra đón nhận em một người bạn đời. Không, không thể được, chỉ sau lần đầu ân ái, trái tim ta sẽ bị vò xé, đau đớn về sự mất mát không có gì thay thế hoặc bù đắp. Ta sẽ hành hạ, ruồng bỏ em. Ta hiểu ta hơn ai hết, hiểu rằng ta là kẻ cực đoan số một về ái tình… ”



Rẽ qua nhà chị dâu, tôi phàn nàn:



– Chị ạ, xem ra cô ấy Bol lắm. Buổi nói chuyện đầu gặt hái được một mớ lý thuyết sặc mùi Bol.



– Con gái thời này thế đấy, chẳng riêng gì ai – Chị nói – ngay trẻ em cũng thế nữa là.



Yêu biết mấy mẹ nghe con học nói



Tiếng đầu lòng con gọi Staline



Cháu Hùng nhà chị đang học vỡ lòng, lúc nào học bài cũng thấy cháu đọc đến bác Hồ, ông Lénine.



– Thường thường những cô gái nhiều tuổi chưa chồng nếu không phải do ngoại hình xấu xí thì có những cá tính kỳ dị phải không chị?



– Chú nói đúng đấy, đòi hỏi chú phải kiên trì mới được.



– Hình như em chẳng còn gì để mặc cả với cuộc đời này nữa. Em coi tình yêu giống như canh bạc, một trò chơi nếu thua cũng chẳng mất mát gì.



Tạm biệt gia đình người anh họ, đạp xe chầm chậm trên Kim liên, bỗng tôi rơi vào thế giới cô đơn, lạc lõng. Nhìn những người đi trên đường tôi thấy hãi hùng, có thể họ đều là những tín đồ ngoan đạo của lũ vô thần như cô Mật. Một mớ lý thuyết giáo điều, lộn xộn, không có đầu, không có cuối bám rễ sâu vào khối óc tối tăm của họ. Sự ngu dốt, tối tăm mà họ tưởng là ánh sáng. Nhục nhã chưa, giờ đây muốn có một tổ ấm tầm thường, khốn khổ tôi phải giấu kín cái dĩ vãng tâm hồn tôi hằng hướng về ánh sáng, hướng về thế giới tự do. Tôi lẻ loi, đơn chiếc giữa một thế giới u mê, tăm tối, mọi người đều chống lại tôi, đều dối trá, đều lẫn lộn giữa cái ác và cái thiện.



Ngày xưa, Bruno là kẻ thù của giáo hội và có thể của cả loài người lúc đó. Bởi vì họ chưa ý thức được chân lý trái đất xoay quanh mình nó và xoay quanh mặt trời. Ngày nay, khoảng một phần ba nhân loại đang nghẹt thở trong thế giới của lũ vô thần, còn lại ánh sáng của nền văn minh vẫn đang toả chiếu. Như thế, tôi đâu đến nỗi cô đơn, tuyệt vọng như nhà bác học.



Không, cái tôi ơi, lập luận như thế là lí sự cùn rồi, Bruno bị thiêu trên giàn lửa nhưng thân thế và sự nghiệp của người ngời sáng ngàn thu, còn anh bạn chỉ là một nạn nhân vô danh tiểu tốt sống nhục, chết âm thầm, lặng lẽ với thời gian vô tri, vô giác.



Tối thứ bảy tôi đến đã thấy Mật đợi trên đường rẽ vào khu tập thể.



– Em gặp anh ít phút thôi, sau đó em phải về nhà máy làm đêm để hoàn thành kế hoạch năm.



– Cô có suy nghĩ hay quyết định gì chưa?



– Sao mà quyết định nhanh thế được? Em và cả anh nữa, muộn thì đã muộn rồi; Còn suy nghĩ thì có đấy. Thật ra em chẳng dám chê anh điều gì, không chê già trước tuổi cũng chẳng chê dáng người, cứ băn khoăn là tại sao anh không làm việc trong cơ quan nhà nước. Thôi thì anh nhiều tuổi rồi chẳng cần nghĩ đến bước tiến trong tương lai nữa nhưng ít ra phải lo cho con cái sau này.



– Vì lẽ đó, cô không muốn quan hệ với tôi nữa.



– Không phải thế – Mật cướp lời – Chúng ta cứ quan hệ bình thường để em có thời gian suy nghĩ.



– Bao giờ cô gặp lại tôi?



– Tháng này em phải làm việc ngày đêm hoàn thành kế hoạch. Muốn nói với em điều gì, anh hãy viết thư gửi nhà chị Lý.



Ngừng một lát, cô ta hỏi:



– Anh có nhiều bạn không?



– Rất ít, nếu có chỉ là những người cộng tác làm ăn thôi.



– Gần đây anh có quen với ai không?



– Trên đường đê la thành gần đầu ngõ chợ có ông Đồng, tôi thường nhận công trình làm việc qua bác ấy.



– Bác Đồng là cai đầu dài à?



– Về danh nghĩa thì đúng thế nhưng bác ấy là người quân tử, giàu lòng nhân ái.



– Chào anh nhé, hy vọng đến năm mới em gặp lại.



Trên đường về, tôi chợt nghĩ, cô ấy muốn tôi viết thư và hỏi bạn bè có lẽ cũng là cách để tìm hiểu tôi đây. Thôi được tôi sẽ viết nhưng viết cái gì trong khi cô ta chỉ gây cho tôi những ấn tượng bực mình. Xem ra cô ta cũng có duyên nhưng sặc mùi Bol sáo rỗng làm trái tim tôi không mảy may rung cảm, vẫn im lìm băng giá. Dù sao buổi đầu nói chuyện tôi đã thành công trong việc bưng bít dối trá. Tôi sẽ viết một bức thư na ná thế xem cuộc chơi diễn biến đến đâu.



Ngày 4 – 12 – 1977.



Mật em! Khi bóng đời đã ngả, với trái tim vốn dĩ cô đơn, lạnh lẽo thì nay anh có vinh hạnh được gặp em. Ôi, tình yêu hai chữ ngọt ngào đã thiếu vắng trọn tuổi thanh xuân nghèo khổ, bỗng nó đến gõ cửa trái tim hiu quạnh làm tâm hồn anh xao xuyến, bồi hồi.



Anh tự hỏi: “Nó đến để cùng ta xây tổ ấm hay nó chỉ vuốt ve, mơn trớn rồi lại bỏ đi để trái tim cô quạnh của ta dồn nén thêm đau khổ?” Dù sao, anh và em có nhiều điểm tương đồng. Em cũng như anh mồ côi cha từ thuở nhỏ. Em xuất thân từ luỹ tre làng thoát ly tìm cuộc sống mới, anh giã từ tiếng sáo diều êm ả của miền quê, tha hương tìm hạnh phúc. Lẽ nào hai trái tim cô đơn ấy không cùng nhịp đập. Qua hai buổi tâm tình, anh đã yêu em. Và khi được em đáp lại, anh sẽ hiến dâng em một trái tim trong trắng, thuỷ chung. Những ngày tạm xa nhau, anh cầu mong đôi lần em nhớ đến anh, nhớ chứ chưa phải là yêu đâu nhé – Nhớ một người đàn ông nghèo khổ chưa từng được ai yêu, người đó đang yêu say đắm mình. Em nhớ anh thôi với anh cũng là một nguồn an ủi, một niềm hạnh phúc. Anh đang mỏi mắt trông chờ ngày gặp lại. Ngày ấy, như em nói, hết tháng này nhưng với anh sao mà dài thế? Một tháng đợi chờ xa vời vợi tưởng chừng một thập kỷ ngóng trông.



Gửi đến em những lời chân thành, trân trọng. Chúc em luôn vui mạnh, mở rộng cánh cửa tâm hồn để đón nhận một mối tình chung thuỷ.



Người cô đơn: Tâm.



Sau một thời gian gửi thư cho cô Mật, tôi đến nhà chị dâu, chị hỏi:



– Chú viết thư cho cô Mật đấy à?



– Vâng, sao chị biết?



– Mật nói, thư của chú dồi dào tình cảm lắm, song có vẻ lạc hậu thế nào ấy. Thấy lạ, cô ấy đưa thư cho anh ruột đọc. Ông anh la lên, thư viết thế này mà bảo nó chưa yêu ai bao giờ à? Hoàn toàn vô lý. Đến như tao trước khi lấy vợ cũng đã yêu hàng tá đàn bà, viết hàng trăm lá thư tình mà không viết được những lời ngọt ngào, êm đềm như nó. Hơn nữa, thư của nó còn pha trộn cái chất tiểu tư sản lỗi thời. Coi chừng mày gặp phải một thằng đại bợm.



– Anh cô Mật kỳ quặc quá nếu không nói là chẳng hiểu biết gì. Cứ yêu nhiều sẽ có những bức thư hay vậy thì ai muốn trở thành nhà văn cũng dễ dàng như thế chắc?



– Chị cho rằng, anh cô Mật chẳng có lỗi gì, lỗi là do chú. Công nhân họ chỉ thích đơn giản dễ hiểu, chú viết văn vẻ làm gì có thể là một trò cười cho thiên hạ. Vả lại, muốn chiếm được cảm tình cô Mật, sao chú không ca ngợi vai trò của giai cấp công nhân đối với cách mạng thì hay biết mấy? Thời buổi này, người ta viết thư cho người yêu thường thăm hỏi sắp được kết n�

�p đảng chưa hoặc sắp được lên bậc lương chưa? Và thường chúc nhau học tập, công tác tiến bộ. Học tập ở đây phải hiểu là tiếp thu và thấm nhuần những lời răn dạy hay chủ trương, chính sách của đảng ban hành. Thư của chú mang màu sắc lãng mạn tiểu tư sản là hỏng bét. Người ta có bằng chứng để kết tội chú là một phần tử lạc hậu, chậm tiến của xã hội.



– Thư để báo tin và bầy tỏ tình cảm với nhau. Chả lẽ đảng muốn chính trị hoá cả tình cảm của con người?



– Lâu rồi chứ, nó đã thành một thói quen, một nếp sống văn hoá của xã hội. Chỉ vì hàng chục năm cách biệt với xã hội nên chú không biết mà thôi.



Tôi thoáng nghĩ, thế thì tôi xin chịu thua rồi, chịu tiếng là lạc hậu, chậm tiến chứ a dua kiểu ấy tôi không thể uốn cong ngòi bút.



– Chú nên viết cho cô Mật một bức thư khác theo ý chị. Nếu không thì người ta có ấn tượng xấu về chú đấy. Chẳng những thế mà còn bị thiên hạ chê cười chị có một đứa em họ lạc hậu, chậm tiến thậm chí quay lưng lại với thời đại mới. Trong lúc mọi người, nhất là lớp trẻ đang học tập, rèn luyện không ngừng để xây dựng chủ nghĩa xã hội lại có kẻ hoài vọng dĩ vãng xa xưa, hoài vọng cái thủa văn chương lãng mạn, lỗi thời.



– Nói thật là em chẳng hoài vọng gì quá khứ vì dân tộc xưa nay vẫn sống lầm than cơ cực. Hàng nghìn năm Bắc thuộc, gần một trăm năm Pháp thuộc rồi mấy thập kỷ qua, đất nước này đã biết gì đến hương vị tự do, dân chủ. Học tập, rèn luyện và phấn đấu cái gì trong khi miếng cơm chưa đủ no, manh áo chưa ấm vẫn lệ thuộc vào sự ban ơn của đảng? Còn hoài vọng văn chương lãng mạn thì có đấy. Thứ văn chương man mác tình người, giải phóng con người khỏi sự ràng buộc, bất công vô lý của ý thức hệ phong kiến. Nó khác loại văn chương đơn đặt hàng, vô hồn phục vụ cho quyền lực của đảng hiện nay. Theo ý chị, để đạt được mục đích, phải nói dối đôi chút em có thể làm được, còn cầm bút mà uốn cong ngòi, đối lập với cái tâm của mình thì không thể.



– Có điều là cô Mật đã nhiều tuổi, không biết cô ấy nghĩ thế nào, cứ như lá thư chú viết cho cô ấy theo chị thì khó thành lắm.



– Cũng đành thôi chị ạ! Em cũng biết mình khó hoà nhập với xã hội này.



– Tuỳ chú, nếu lần này thất bại, chú nên rút kinh nghiệm kẻo gặp người khác cũng thế thì…



Trên đường đê La Thành về Ô chợ dừa, tôi ghé thăm bác Đồng. Bác siết chặt tay tôi và nói:



– Chú có tin vui, anh mừng cho chú.



– Có tin gì đâu, bác? – Tôi ngơ ngác hỏi.



– Chú còn giấu anh à? – Bác Đồng vỗ vào lưng tôi cười và nói – Anh biết bồ của chú rồi.



– Nói thật là chưa đâu vào đâu cả. Cô ấy đến đây à?



– Phải, mới đến tối qua. Anh hỏi, cô ấy trả lời là vừa quen chú. Có lẽ đi tìm hiểu anh về chú mà cứ như công an thẩm tra lý lịch vậy.



– Bác có nhận xét gì cô ấy?



– Một cô nông dân chất phác được pha trộn mớ hổ lốn lý thuyết giáo điếu thành một người đàn bà nhố nhăng một cách đáng thương.



– Nếu cô ta đồng ý lấy em, bác thấy thế nào?



– Trước hết phải xác định rằng chú lấy được vợ cho dù ai chăng nữa cũng là điều may mắn. Tuy nhiên với cô ấy, chưa nói đến hạnh phúc, chú khó tìm được nguồn an ủi. Từ cuộc sống cô đơn, vô vọng của chú hiện nay sẽ trở thành một cuộc sống chất đầy những nỗi u uất. Nói cho cùng, nỗi cô đơn trống trải chưa phải đã hoàn toàn bất hạnh vì nó có chứa vùng yên lặng. Từ vùng đó, chú vẫn có những giây phút êm đềm, thanh thản sau những giờ lao động kiếm ăn vất vả.



– Theo ý bác, em nên trốn chạy một cuộc tình duyên như thế?



– Không phải thế, anh không khuyên chú từ bỏ cô ta mà chỉ tiên liệu thế thôi. Nếu chú cho rằng cuộc đời không còn gì để mất nữa thì hãy coi đây là một canh bạc đỏ đen. Phải nói thẳng ra rằng, thời đại đã dập tắt mọi hy vọng, ước mơ, ý nguyện của chú rồi. Chú chỉ có quyền thay đổi từ bất hạnh này sang bất hạnh khác mà thôi.



– Vâng, em hoàn toàn nhất trí. Em vẫn cho rằng nỗi bất hạnh đến với em là chuyện bình thường, chỉ có được sống bình yên mới là khác thường thôi.



– Ai cũng biết, một thời đại chỉ gieo rắc đói nghèo, lạc hậu, một thời đại phi nhân gây ra bao thảm hoạ cho dân tộc thì nó không thể tồn tại lâu dài nhưng biết đến bao giờ, trong khi đó cuộc đời của một người lại quá ngắn ngủi so với lịch sử?



– Ngẫm nghĩ đời mình, em không còn đủ can đảm nhìn về tương lai nữa. Quá khứ, hiện tại, tương lai chìm đắm trong bóng đêm vô tận. Bác ạ, ai cũng sợ cái chết song nó có thể là cách tối ưu đối với những cuộc đời bất hạnh. Cái chết trước sau sẽ đến khi biết chắc sống thêm một ngày là thêm một nỗi đau. Thế thì tại sao không đủ can đảm ra đi sớm để rút ngắn những tháng năm bất hạnh.



– Ý kiến ấy không ổn rồi chú Tâm ạ. Tự sát có thể được coi là can đảm, cũng có thể coi là hành động cùng đường của những người hèn nhát không đủ nghị lực để chịu những cơn đau về mặt tinh thần. Những người khổ nhục, nếu có thể, hãy cố gắng quên cái tôi chắc sẽ làm được nhiều điều bổ ích cho mình và cho xã hội. – Ngừng vài giây, bác Đồng nói tiếp – Mặc dù tuổi của chú đã nhiều nhưng hoàn cảnh lại chưa cho phép, chú định tìm một tổ ấm lúc này có thể vội vã quá chăng?



– Thực ra, em đã dám nghĩ đến đâu, em vẫn coi tình yêu là mặt hàng xa xỉ. Chả là gần đây, bà chị dâu họ chạnh lòng thương xót em phải đi ở nhờ nhà chị ruột nên giới thiệu cô Mật, nếu thành gia thất thì em thoát khỏi một nỗi nhục ở nhờ đang hành hạ. Đúng như bác nói có nên chăng cũng chỉ thấy nỗi bất hạnh mà thôi.



Nếu thế, giải pháp của chú không có lối thoát rồi. Phải khẳng định là chú và cô Mật không thể sống với nhau lâu dài. Chẳng hạn được nửa năm đã chia tay, lúc đó chú đi đâu, về đâu? Còn hiện nay chú ở nhờ vẫn là điều hợp pháp, cơ quan an ninh không gây phiền hà cho chú về phương diện đó. Theo ý anh, chú lấy vợ để bớt phần nhòm ngó của cá chìm, trước hết và bằng mọi cách chú hãy sắm

một nơi chui ra, chui vào đã. Như đã hứa, anh sẽ góp phần nhỏ bé.



NHỮNG KẺ KHỔ NHỤC – Unfortunate people



NHỮNG KẺ KHỔ NHỤC – Kỳ 8



Mùa đông rồi mùa xuân năm 1978 lặng lẽ trôi qua. Quan hệ hững hờ giữa tôi và cô Mật đã lùi về dĩ vãng, chúng tôi không gặp nhau một lần nào nữa. Chị dâu tôi bảo, anh cô ấy và nhiều người trong nhà máy khuyên Mật rằng, có ế cũng không nên lấy một người không có tương lai cho con cái.



Cũng từ đầu năm 1978 việc làm chẳng có, tôi phải chơi dài hết tháng này qua tháng khác. Thất nghiệp ảnh hưởng đến miếng cơm manh áo đã đành, tôi lại chịu thêm một nỗi nhục. Ban ngày nghỉ ở nhà chị không yên, anh rể và các cháu sẽ tạo ra cớ để hành hạ, để làm nhục. Tôi đi lang thang, vạ vật từ phố này sang phố khác, nay ngồi vườn hoa này mai đến công viên khác. Tâm hồn tôi mông lung, buồn da diết.



Một hôm ngồi ở công viên Cột cờ, tôi lơ đãng nhìn dòng người qua lại, cõi lòng đang chìm đắm trong nỗi suy tư thì một người đàn ông đến ngồi bên cạnh. Anh ta trạc tuổi tôi, vóc người dong dỏng cao, khuôn mặt trái xoan thanh nhã nhưng đượm vẻ trầm tư. Cả hai đều im lặng nhìn nhau trong khoảng khắc, tôi đưa mắt nhìn đàn chim nhỏ đang ríu rít trên cành cây gần đó.



– Anh bạn có vẻ buồn lắm phải không? – Anh ta hỏi.



– Bình thường thôi, sao anh hỏi thế? – Tôi hỏi lại.



– Tôi thấy nét mặt anh buồn rười rượi. Nói thật là tôi cũng chẳng vui gì, hỏi anh thế cho khuây khoả đôi chút.



Ngừng một lát anh ta nhìn thẳng vào mặt tôi, nói tiếp:



– Mà biết đâu gặp được người cùng hội cùng thuyền.



– Anh nhầm rồi. Đất nước này chỉ có hội những người gọi nhau là đồng chí và những nạn nhân của họ. Dưới chế độ chuyên chính vô sản không thể tồn tại những người cùng hội cùng thuyền.



– Nói cho vui – Anh ta vỗ vào vai tôi, thì thầm – Cùng hội để thành trâu ngựa ở miền rừng thiêng nước độc à? Tuy nhiên cùng thuyền thì có chứ, cùng thuyền trên sông nước, cùng thuyền ra khơi đánh cá… cũng có thể cùng thuyền để chịu đựng những cơn giông tố hung bạo của biển cả. Đó là những người cùng cảnh ngộ – những nạn nhân.



– Anh biết cơm cân không? – Tôi hỏi.



– Sơ sơ năm năm thôi.



– Anh họ hàng gì?



– Tôi dòng họ Bulùm, chắc anh cũng thế?



– Vâng, tôi mười một mùa lá rụng, cùng họ với anh. Nom anh ít tuổi, chưa phải thế hệ xỏ giày nhầm. Tại sao anh phải chịu cảnh ngộ ấy?



– Lý do đơn giản lắm, không chịu biến thành chú cá Ngầm để hại bạn bè. Còn anh?



Anh ta nói đến đây làm tôi sửng sốt:



– Tôi ấy à? Chuẩn bị vượt tuyến vào Nam chống cộng. Có phải anh là Long ở phố Chu văn an?



– Đúng rồi. Và có thể anh cùng vụ với Khoa phố Nguyễn thái Học – Long cũng sửng sốt trả lời và hỏi.



– Rất mừng được gặp anh – Tôi siết chặt tay Long và nói tiếp – Do trời xui đất khiến tôi mới gặp anh để thanh minh cho Khoa – một người đã quá cố.



– Tôi vẫn cho là Khoa phản bội bạn bè, sự thể thế nào anh cho biết?



– Cái lỗi của Khoa là viết nhật ký những lần gặp anh hồi ấy chưa kịp cất giấu thì công an đến bắt khám nhà. Từ đó dẫn đến sự kiện tủi nhục của anh. Khoa không hề rắp tâm hại bạn bè.



– Cảm ơn anh đã giải thoát cho tôi một ý nghĩ sai lầm. Khoa học với tôi từ lớp một đến khi Khoa bỏ học. Có điều khó hiểu là khi còn ở trường Khoa rất yêu đời, say mê với bầu trời, trăng gió, với cỏ cây hoa lá. Đến tuổi trưởng thành Khoa hoá ra một người xa lạ với chính mình lúc thiếu thời ít nói, nỗi buồn thường trực trên nét mặt. Nhiều lần tôi hỏi nguyên nhân, Khoa chỉ im lặng, duy có một lần Khoa đã trả lời: Tạo hoá sinh ra tao để yêu đời sau đó CS đã biến tao thành kẻ chán đời. Nói gì đến tao – một hạt cát trong hoang mạc, nếp sống văn hoá của dân tộc cũng hoàn toàn bị đảo lộn nữa là. – Nghĩa là một xã hội toàn những ngịch lý? – Đúng thế, một xã hội người ngay sợ kẻ gian, kẻ ngu làm thày người sáng, thằng vô học răn dạy người trí thức. Một nhóm người vừa ác, vừa giàu thủ đoạn cấm bó đuốc ngoại lai dẫn đường bắt cả dân tộc phải đi theo. Chẳng phải tao buồn cho tương lai cuộc đời mình mù mịt, điều đáng buồn là một dân tộc có truyền thống chống ngoại xâm với những trang sử vàng chói lọi mà nay u mê, tăm tối, bất lực trước sự xâm lược tàn bạo của ý thức hệ Marx – Lénine. Sau lần nói chuyện đó, tôi thấy sờ sợ, có khi một vài năm mới đến nhà Khoa một lần. Và chỉ gặp nhau mấy phút rồi lại chia tay.



– Ông thân sinh ra anh là công chức cũ?



– Sao anh biết? – Long ngạc nhiên hỏi lại.



– Tôi đọc nhật ký của Khoa năm 1961.



– Thật khốn khổ cho bố tôi, một người cúc cung tận tuỵ cho chế độ này. Sau khi được chấp nhận mức lương thấp như những cán bộ cách mạng, ông vẫn mơ tưởng một cuộc sống bình yên. Tháng tám năm 1964, bố tôi khăn gói lên đường vào trại, hai năm sau bỏ xác ở rừng núi Lào cai. Thế đấy, có ngoan ngoãn, có hèn, thậm chí có cắn cỏ lạy ông, đảng vẫn không tha. Thứ pháp luật dựa vào quá khứ để suy diễn tư tưởng mà kết tội con người thật là độc ác chưa từng thấy trong lịch sử.



Sau vài giây im lặng, Long nói tiếp:



– À này, một sự kiện cực kỳ quan trọng có thể giáng vào đầu chúng ta, anh có biết không?



– Không, tôi chẳng biết gì cả. Tôi cho rằng mình ở cái đáy của xã hội không thể rơi đi đâu được nữa nên chẳng quan tâm gì thời sự.



– Thế mà mình vẫn còn cái để mất đấy. Anh có biết người ta gọi Hà nội là đất thánh không?



– Chuyện ấy thì tôi biết nhưng sao?



– Hiện nay đảng chủ trương thực hiện câu nói của ông Hồ năm 1964 “làm Hà nội trong sáng như pha lê” nghĩa là diện chúng ta, họ sẽ quét sạch trên vùng đất thánh này.



– Nay tôi mới nghe anh nói.



– Năm ngoái, trung ương đảng chọn một trong hai người làm bí thư thành uỷ. Từ đó có câu:



Kiệt mà không kiệt!



Lương mà bất lương!



Kiệt mà không kiệt thì chưa chắc nhưng lương mà bất lương thì đúng quá rồi. Lê văn Lương sẽ thực hiện triệt để câu nói của ông Hồ. Chúng ta đang ở đáy của đất thánh, có thể thời gian tới mình lại bị đẩy đến cái đáy của một miền hoang vu nào đó. Theo tôi, chỉ có chết mới không còn cái gì để mất, nếu còn sống thì còn nỗi cơ nhục làm gì có giới hạn, nhất là với một chế độ coi việc hành hạ, tiêu diệt con người là một biện pháp tất yếu của lịch sử.



Nghe Long nói, tôi rùng mình hoảng sợ và tự hỏi, cuộc đời bị đầy đoạ đến thế này vẫn chưa phải là giới hạn cuối cùng sao?



Mấy ngày sau, tôi đến nhà Đăng một người cùng làm mộc ở ngõ chợ Khâm thiên. Đăng cũng nói như lời của Long và thêm:



– Em đi tù vì phạm pháp hình sự. Mặt khác em thuộc gia đình cán bộ đảng viên, tuy có nhẹ cân hơn anh nhiều nhưng nếu không mau chóng chui vào cơ quan nhà nước nào đó cũng sẽ bị tống đi. Anh cũng nên xin vào một cơ quan để thực hiện kế hoãn binh. Năm 1963 – 1964 những người vội vàng đi trước là chịu thiệt. Đến năm 1965, Mỹ bắn phá miền bắc ác liệt, kế hoạch giải toả đô thành phải dừng lại. Lần này biết đâu cũng tương tự thế.



– Nhưng cơ quan nào họ nhận tôi.



– Có đấy, công trường hoặc ngành xây dựng. Cái khó là công nhân ngành này phần lớn văn hoá thấp, ăn nói lỗ mãng, liệu anh có chịu nổi, nhịn nhục được không? Đấy là chưa kể những khó khăn trong năm đầu: tem phiếu chưa được phát, tất cả cuộc sống trông vào mấy đồng lương chết đói. Chẳng những thế, do lý lịch mình xấu nên dễ bị bọn lãnh đạo từ tổ trưởng sản xuất, công đoàn trở lên lợi dụng đánh đập, hắt hủi.



– Nếu không có biến cố về chính trị, trước sau mình cũng phải đi thì chui vào cơ quan làm gì cho thêm nhục.



– Anh nói đúng nhưng mình làm ngoài sẽ bị tống đi ngay đợt đầu, nhất là những người thân cô, thế cô như anh. Chui vào cơ quan nhà nước để họ tống mình đi muộn hơn, biết đâu đến lúc đó lại xảy ra một biến cố quan trọng buộc họ phải dừng lại hoặc huỷ bỏ. Vì thế em mới nói là vào cơ quan để thực hiện kế hoãn binh.



Nghe Đăng nói có lý, tôi cũng đành cựa quậy để duy trì cuộc sống khốn khổ ở mức này, nghĩa là vẫn được tồn tại ở miền đất thánh.



Thắng có ông chú ruột làm trưởng phòng tài vụ tại xí nghiệp sửa chữa nhà cửa quận Hai bà, nó rủ tôi vào cơ quan đó. Ông giám đốc xí nghiệp là người đồng hương với ông Lý (chủ nhiệm hợp tác xã 307). Nhờ vậy, xí nghiệp đã nhận tôi qua sự giúp đỡ của ông chú Thắng và ông Lý. Ông giám đốc nói với ông Lý, nể anh, tôi nhận anh ấy nhưng chỉ làm hợp đồng dài hạn. Ông Lý cũng nói, người ta cũng chỉ cần thế thôi, biên hay không chẳng hệ trọng gì. Thủ tục, giấy tờ đưa tôi vào xí nghiệp không gặp trở ngại gì đáng kể, chỉ mất một trăm đồng làm bữa tiệc để mời ban giám đốc, bí thư chi bộ, phòng tổ chức tại nhà Thắng. Tưởng như nơi dung thân tạm sẽ gặp may nhưng nỗi nhục đang chờ tôi phía trước. Ngày 4 – 5 đài Bắc kinh loan tin phản đối “nhà cầm quyền Hà nội xua đuổi bài xích người Việt gốc Hoa”, nghĩa là mâu thuẫn giữa hai nước CS này đã công khai và bút chiến quyết liệt. Nhờ biến cố đó, kế hoạch “làm Hà nội trong sáng như pha lê” của Lê văn Lương chưa mở đầu mà đã vội vàng kết thúc. Mới làm được mấy ngày, tôi định bỏ ngay xí nghiệp nhưng do mâu thuẫn Việt, hoa, cơ quan an ninh ráo riết theo dõi, thẩm vấn những đối tượng của cách mạng nên tôi chưa dám quyết. Gặp tôi, Đăng nói, do đối ngoại căng thẳng nên việc giải toả đô thành họ tạm thời bỏ để giảm bớt mâu thuẫn nội bộ. Biết đâu, sau một thời gian nữa họ lại bắt đầu, anh nên kiên trì, nhẫn nhục để tránh một tai hoạ có thể đến.



* *



*



Tôi đi làm, sửa chữa nhà cửa của dân thuê nhà nước. Người cùng nhóm mộc có ba thanh niên tuổi từ mười tám đến hai mươi. Sau một vài tuần, có tình cảm với tôi, chúng nói:



– Bọn em còn trẻ, lêu lổng ở ngoài không yên với khối phố nên phải đâm đầu vào xí nghiệp này. Tuổi anh thì tội gì phải chui vào đây cho thêm khổ nhục?



– Mỗi người một cảnh, sau này các em sẽ biết – Tôi trả lời chung chung như thế, nhưng một hôm gã tổ trưởng sản xuất đến, gọi tôi ra chỗ vắng, Ngạn bảo:



– Ông Sang (đội trưởng) cử anh làm nhóm trưởng nhóm mộc. Anh đôn đốc bọn trẻ làm. Đứa nào đi muộn, về sớm, lấy cắp vật tư, lao động chây lười, anh phải báo cho tôi.



– Tôi chỉ biết làm, không có khả năng phân công, chỉ bảo ai, anh hãy cử người khác.



– Không được, phòng tổ chức cho tôi biết, anh mới đi cải tạo về, xí nghiệp độ lượng nhận nhưng anh phải tỏ ra gương mẫu, chấp hành tốt hơn các đồng chí công nhân khác. Xí nghiệp ta có một số người từ trại cải tạo về nhưng đều là người phạm pháp hình sự, độc nhất anh là tội phản cách mạng. Nói thật là ban giám đốc, phòng tổ chức, ban chỉ huy đội giao cho chúng tôi giám sát chặt chẽ anh. Sẽ còn nhiều thử thách, anh phải quyết tâm, kiên trì mới được.



Tôi thoáng nghĩ, có thể mình lại tự dẫn thân vào một nhà tù kiểu khác rồi đây. Để giảm bớt sự chú ý của bọn lãnh đạo, tôi đóng vai một người ít nói, ngây ngô. Vai trò này tôi đã thành đạt, sau mấy tháng, ngay cả ông giám đốc và trưởng phòng tổ chức cũng nói với tôi: “Anh có vẻ hơi hâm hấp”. Đến nhà dân, bọn trẻ cùng làm thường nói với mọi người tôi chưa vợ. Thấy tôi ít nói, hiền lành nhiều người tỏ ra thương cảm hỏi: Tại sao anh vẫn cô đơn? Tôi chỉ trả lời ngắn gọn là do nghèo khổ, vô gia cư. Họ còn nghĩ rằng tôi là kẻ đần độn, dở hơi nên đã làm mối cho tôi nhiều cô gái nhiều tuổi chưa chồng vì ngoại hình xấu xí



– Cô Rá ở làng Kim liên vóc người to như hậu pháp, bước đi nặng nề như bước chân voi, khuôn mặt to bành bạnh trông dễ sợ. Bà mẹ cô ta nói với người làm mối nếu anh ấy đồng ý, chúng tôi sẽ lo liệu hoàn toàn lễ cưới và xây nhà cho ở. Cô Rá cũng khoe vốn liếng gần một cây vàng và một xe Phượng hoàng mới. Chỉ một lần gặp cô ta tôi đã thấy tủi hổ cho thân phận của mình;



– Cô Màng ở dệt kim Đông xuân, thấp lè tè, cổ rụt. Từ vai đổ xuống béo tròn trùng trục như một khối thịt di động, hai bầu vú to như hai quả dừa đeo trên ngực. Bầu vú lắc lư đánh nhịp theo bước chân đi. Cô ta từ giữa sân nhà máy ra cổng để gặp tôi. Khi còn cách khoảng ba mét, như một bản năng tự vệ, tôi ngồi lên yên xe đạp thật nhanh bỏ chạy, bỏ rơi luôn cả người làm mối;



– Cô Hồi ở làng Khương thượng, bố mất sớm, cô ta là đứa con duy nhất của gia đình. Hai mẹ con ở một ngôi nhà ngói ba gian, vườn tược rộng rãi. Cô ta còn trẻ khoảng hai mươi nhăm tuổi, dáng người nhỏ bé, quắt queo. Đáng buồn nhất là cô ta bị chột. Nhiều người nói hoàn cảnh khốn khổ của tôi hiện nay được gặp cô Hồi là một ước mơ đã thành hiện thực nhưng tôi thấy xót xa, tủi hổ và chỉ một lần tiếp xúc trong im lặng rồi thôi;



– Cô Lệ nhà ở vườn hoa Cửa nam. Nghe nói, hơn mười năm trước, cô ta yêu con trai ông chủ tịch khu Hoàn kiếm nhưng vì gia đình có hai anh ruột xỏ nhầm giầy nên mối tình đó không thành. Trong một xã hội sự phân chia giai cấp đã trở thành quốc sách thì mối tình đó tan vỡ là điều tất yếu. Cô Lệ chán chường đến tột đỉnh và thề trọn đời sẽ sống độc thân nhưng không phải là nhà tu kín mà giữa nơi phồn hoa đô hội, làm sao cô ta chịu được cảnh chăn đơn, gối chiếc trọn đời? Người làm cũng cơ quan với cô ta đồng thời cũng là người làm mối nói với tôi, tôi dẫn chú đến nhà xem mặt, nếu chú đồng ý thì chẳng phải lo gì nữa từ cưới xin đến nhà ở. Đúng là cơm no bò cưỡi.



Buổi đón tiếp tôi khá chu đáo, cô ta nhờ đứa cháu gái đến pha trà, pha nước chanh đá để mời khách. Một gian nhà hai tầng rộng rãi mặt phố Tràng thi, công trình phụ: nhà bếp, nhà tắm, nhà vệ sinh, máy nước đầy đủ. Gia đình chỉ có cô ta và bà nội gần tám chục tuổi. Đúng là nơi cư trú lý tưởng cho tầng lớp trung lưu thành phố, còn đối với tôi thì quả thật là ngoài mơ ước. Nói đến đây có lẽ nhiều bạn đọc mừng cho tôi lắm nhưng đó mới là phương tiện của cuộc đời. Của cải, tiền tài, địa vị là những phương tiện chứ đâu phải bản chất của tình yêu. Mưu cầu cuộc sống hạnh phúc là công việc của khối óc còn tình yêu phải lệ thuộc vào sự rung cảm của trái tim mình. Vốn dĩ trái tim bao giờ cũng chân thật, không ngả nghiêng, không giả dối trước bất kỳ một thứ uy lực nào chi phối.



Tuổi cô ta ngang tuổi tôi, khuôn mặt gẫy gập, trán và gò má như tạo thành một góc nhị diện.



– Mời bác Sắc và anh xơi nước – Giọng cô ta khàn khàn vịt đực, thứ âm thanh khác lạ của phái yếu đến tai làm tôi khẽ rùng mình sờ sợ. Ông mối ra sức tán tỉnh, vun vào:



– Chú Tâm thấy chưa, nhà cửa, tiện nghi thế này thì hết ý rồi, chẳng tội gì phải đi ở nhờ nữa? Tôi sống ở Hà nội đã hơn ba mươi năm mà vẫn chui rúc trong ngõ ngách như hang chuột. Mùa hè, cả đêm xếp hàng lấy nước có khi mang thùng về không, trời nóng như hun, mất điện thường xuyên, khi có mưa rào cho mát lại sợ mưa to ngập ngõ thành một con mương, phân, rác rưởi nổi lên lềnh bềnh trôi dạt cả vào nhà. Mùa xuân, đường đi lại trong ngõ lầy lội như dưới ao bùn. Chẳng những thế, còn bí đái, bí ỉa, hàng nghìn người chỉ có một nhà vệ sinh công cộng, khi đi đại tiện phải xếp hàng dài. Nay do trời xui đất khiến, phúc của chú còn lớn lắm nên mới gặp cô Lệ.



Sau một hồi huyên thiên, ông mới bỏ ra ngoài để tôi với cô Lệ tâm tình. Giống như gặp những cô gái khác, lưỡi tôi líu lại như câm, có lẽ thời gian im lặng nặng nề trôi qua hàng chục phút. Cô Lệ cúi mặt xuống còn tôi vờ vĩnh đưa mắt nhìn trần nhà và nhìn ra ngoài đường phố, đầu óc rối mù chẳng biết xử trí ra sao.



Đến nay tôi mới biết, chỉ khi nào trái tim rung cảm, đài tiếng nói của tình yêu mới phát sóng. Thời trai trẻ, tôi đã yêu thầm vụng hai cô gái họ Lê, Lê thanh Ngân và Lê minh Nguyệt. Mỗi lần giáp mặt em, trái tim tôi đập rộn ràng, đài ái tình khi được em thỏ thẻ đã hoạt động hết công suất, chẳng cần bài bản, chẳng cần kí giả, phóng viên.



Tôi đang theo dòng tư duy về quá khứ thì mất điện, gian phòng chìm trong bóng tối.



– Không sao, cô chú cứ nói chuyện đi, sao mà mặc niệm mãi thế? – Ông mối ở ngoài sân nói:



– Cháu thắp cho cô cái đèn – Cô Lệ sai cháu, giọng vẻ khàn hơn trước – Chỗ nhà anh ở có hay bị cúp điện không?



– Thường xuyên chị ạ!



– Chú này lạ nhỉ? – Ông mối từ ngoài sân chạy vào nói – Sao không gọi là em hay ít ra cũng phải gọi là cô. Gọi một người bạn trăm năm tương lai là chị thì khó nghe lắm.



– Em xin lỗi bác – Tôi nói.



– Chú có lỗi gì với tôi đâu? Chú xin lỗi cô Lệ ấy chứ.



– Vâng! Hiện nay cô làm việc ở đâu? – Tôi lẩn tránh lời xin lỗi theo yêu cầu của ông mối nhưng lại bật ra một câu hỏi vô duyên quá.



– Em tưởng bác Sắc đã nói cho anh biết về em rồi chứ? Em làm ở xí nghiệp dược cùng cơ quan với bác Sắc.



– Phải, tôi đã nghe bác Sắc nói – Sau đó tôi nói với ông mối:



– Ta về thôi bác Sắc ạ.



– Bây giờ mới có chín giờ – Cô Lệ nói.



– Nói thật là nếu tôi về muộn, ảnh hưởng đến giấc ngủ của gia đình chị tôi thì phiền lắm.



– Bác đã dạy: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” – Ông mối nói – Khi chú về đây có đi sớm về muộn cũng chẳng ai dám chạm đến lông chân mình.



– Vâng thuần tuý câu nói ấy là một chân lý nhưng em chỉ sợ… (người ta đã đội lốt chân lý để hành động điều ngược lại) – Tôi vô ý buột ra nhưng đã kịp thời ngừng lại.



– Chú sợ gì nào?



– Em sợ ước muốn như thế là vội vàng quá.



– Cái chú này nhiêu khê thật, buổi đầu gặp nhau chưa nói được điều nào hay đã tuôn ra điều gở. Vội vàng gì nữa, coi như việc đã quyết rồi phải không cô Lệ?



– Vâng, em thì thế nào cũng xong, còn tuỳ vào anh ấy chứ.



Nghe cô ấy nói tôi cũng mủi lòng thương nhưng…



– Nói thật là người ta bảo tôi thuộc vào người cám hấp, cô hãy cân nhắc kĩ càng.



– Chính anh nói ra điều đó thì em không sợ. Bởi vì người mắc bệnh dở hơi không bao giờ biết mình như thế.



– Ngoài ra, biết đâu tôi có một quá khứ chẳng tốt đẹp gì.



– Nếu không liên quan đến đạo đức cũng chẳng hệ trọng gì.



– Có liên quan đấy cô Lệ ạ! Đạo đức cách mạng!



– Em xin anh đừng bàn đến phương diện ấy.



– Bây giờ khuya rồi, tôi phải về. Chân thành cám ơn sự đón tiếp nồng hậu của cô – Tôi đứng dậy chào ông mối rồi bước nhanh ra khỏi nhà, đạp xe về ô chợ dừa.



Người ta làm mối cho tôi hàng chục cô gái dị dạng như trên. Tôi cũng buồn thương họ và trách tạo hoá đã chẳng công bằng nhưng biết sao khi trái tim không phục tùng mệnh lệnh của lý trí. Trái tim có thể mãi mãi cô đơn nhưng khi có cơ hội, nó sẽ tự chọn ý trung nhân. Tôi trách trái tim mình hẹp hòi quá, giá mà nó cũng độ lượng, bao dung như trái tim Tô vũ thì…



Tạo hoá thật bất công, sinh ra kẻ đẹp người xấu, tật nguyền; Kẻ khoẻ mạnh, người ốm đau, bệnh hoạn, kẻ thông minh, người đần độn, kẻ thiện, người ác… Chủ nghĩa CS muốn giành thắng lợi cuối cùng như trong học thuyết Marx “làm theo năng lực hưởng theo nhu cầu” thì trước hết phải chiến thắng tạo hoá, bắt nó phải tuân theo lẽ công bằng. Nếu không, chỉ là thứ chủ nghĩa hoang tưởng, nửa vời và gây thảm hoạ triền miên cho nhân loại mà thôi.



Ngược lại, khi gặp những cô gái đẹp trái tim tôi rung cảm mãnh liệt, như thế chắc cũng không khôi hài chứ? Theo Marximgorky thì con người bẩm sinh là nghệ sĩ cơ mà? Không hiểu sao, tôi chỉ yêu say đắm những sản phẩm tuyệt vời của thiên nhiên và tạo hoá, còn những sản phẩm nhân tạo nếu có yêu chăng cũng chỉ trên phương diện lý trí mà thôi. Bởi vì tôi quan niệm những thành tựu khoa học thường là những con dao hai lưỡi. Và nền văn minh tăng tốc của nhân loại hiện nay sẽ góp phần không nhỏ vào sự huỷ diệt sự sống trên hành tinh này sớm hơn thời điểm thượng đế đã an bài. Cuối năm 1978, tôi sửa chữa cửa ở khu tập thể Tân mai, một chị chủ nhà có tấm lòng nhân hậu và cởi mở, hỏi tôi:



– Này chú Tâm, nghe các chú thợ trẻ nói, chú chưa có vợ phải không?



– Vâng! – tôi trả lời.



– Tại sao lại muộn mằn thế?



– Đơn giản là em nghèo, vô gia cư, phải ở nhờ nhà chị ruột.



– Nếu chú yêu cầu, tôi sẽ giúp.



– Vâng, trước hết em cảm ơn hảo tâm của chị.



– Tôi làm ở nhà máy 8 – 3. Nhà máy này có nhiều cô gái quá lứa đang sống ở khu tập thể. Tôi sẽ giới thiệu cho chú một cô.



– Chị cho em biết qua đối tượng?



– Cô ấy tên là Mây, hai mươi tám tuổi, quê ở Hà nam. Đó là một cô gái đẹp người, đẹp nết.



– Tại sao cô ấy vẫn cô đơn?



– Nguyên do là người yêu cô ấy đi chiến trường B, biền biệt tăm hơi, đến năm 1975 mới có giấy báo tử. Bố mẹ ở quê lại ốm đau bệnh tật, năm 76 bố chết, năm sau mẹ qua đời. Một khoảng thời gian dài vừa chờ đợi, vừa tang thương. Mặt khác cô ấy lại ít quan hệ với bên ngoài nên chưa có cơ hội để yêu lần nữa.



– Thế thì chắc gì cô ấy đã yêu em vừa nghèo, vừa không nhà cửa.



– Nhà ở không lo, nếu cô Mây đồng ý lấy chú đã có nhà tập thể. Còn nghèo thì cả xã hội chứ riêng gì chú. Thành vợ thành chồng là do duyên số, có câu trả lời nào đúng cho trái tim đâu?



– Có đấy chị ạ, trái tim thường chỉ rung cảm trước tiền tài, địa vị, anh ấy có phải là cán bộ đảng viên không, chức vụ gì, trưởng phòng hay giám đốc? Nếu anh ấy công tác tại ngành thương nghiệp thì tuyệt vời.



– Nhưng không phải hầu hết phụ nữ đều như thế.



– Vâng nếu có ngoại lệ cũng chỉ là con số nhỏ nhoi.



– Chú cứ thử xem, biết đâu cô Mây trong số nhỏ nhoi ấy?



– Em nghe theo ý chị. Bao giờ em có thể gặp cô ấy?



– Chú còn làm ở đây hết tuần chứ gì? Có thể chiều mai hoặc ngày kia.



Sáng hôm sau, chị Hòa cho biết:



– Cô ấy đồng ý chiều nay đến nhà gặp chú.



Bao lần thất vọng nên lần này tâm hồn tôi chẳng thấy rạo rực, bồi hồi. Chiều hôm ấy tôi đang mải mê làm việc thì chị Hoà gọi:



– Chú Tâm ơi, nghỉ tay vào uống nước.



Lúc đó tôi mới nhớ ra buổi hẹn hò này, không mong mỏi, chẳng đợi chờ tâm tâm niệm niệm như buổi đầu gặp cô Mật năm qua.



Tôi bước chân vào nhà, nhác trông thấy một cô gái nét mặt tươi như hoa đang hướng cặp mắt bồ câu ngời sáng vào tôi. Bỗng tôi run lên, trống ngực đập thình thình. Tự tin, hổ thẹn trước sắc đẹp của đối tượng, tôi không dám nhìn em nữa. Vâng, em là bông hoa tuyệt vời trong vườn ngự uyển, chẳng những tôi không có quyền được hái mà còn… Đối với em, tôi muôn trùng xa cách tựa hằng nga trên cung quảng lạc. Em xuống thăm để trêu ghẹo, mơn trớn trái tim tôi – một trái tim cô đơn, giá lạnh bỗng rung lên đến cực đại tần số và biên độ – rồi em vội vã ra đi để lại cho tâm hồn tôi nỗi tủi hận mênh mang. Tôi trách tạo hoá sinh ra tôi nhầm thời đại để thành kẻ không tài, không tiền, không lực…



– Chị giới thiệu với Mây, đây là chú Tâm công nhân xí nghiệp sửa chữa nhà cửa quận Hai bà. Còn đây là cô Mây cùng làm việc với tôi, chú Tâm ạ. Bây giờ tôi bận ra ngoài một lúc, cô chú nói chuyện với nhau vui vẻ nhé – Nói xong chị Hoà đi đâu đó.



– Em chào anh – Lời cô gái ngọt ngào trìu mến.



– Tôi hân hạnh được gặp cô – Tôi đáp lời và liếc nhìn người đẹp.



– Anh làm ở xí nghiệp đã lâu chưa?



– Tôi mới vào thôi nhưng làm nghề mộc đã lâu rồi.



– Xưa kia bố em cũng làm nghề thợ mộc. Người bảo, nghề mộc là nghề lương thiện cả ý nghĩ lẫn việc làm.



– Tôi tưởng người có lương tâm thì làm nghề nào chẳng lương thiện.



– Em cũng thắc mắc như anh thì được bố em giải thích, chẳng hạn nghề thày thuốc muốn phát đạt phải có nhiều bệnh nhân. Chữa bệnh là lương thiện nhưng ý nghĩ có nhiều bệnh nhân là không lương thiện. Ông thợ chữa xe đạp cười khi thấy người mếu máo dắt chiếc xe cong vành đến. Càng nhiều xe hỏng thì ông thợ càng vui. Còn nghề mộc cũng như nghề nông đều phù hợp với xã hội phồn vinh hay mưa thuận gió hoà. Hai nghề đó lương thiện cả ý nghĩ và việc làm. Em nói thế có đúng không, anh?



– Mây giải thích thật tuyệt vời, giá mà cô là cán bộ đảng, đoàn thì phải?



– Anh khen em quá lời rồi. Nghề của em là thợ dệt cơ mà, có diễm phúc được làm cán bộ đâu.



Nhìn dung nhan và nghe giọng nói, tôi thầm nhủ, cô ta được cả sắc và ngôn, tôi buột miệng:



– Có bao giờ Mây nghe nói đến tứ đức không?



– Có phải là công dung ngôn hạnh không, anh?



– Đúng thế, hiện nay có trường nào dạy đâu mà Mây biết?



– Xưa kia nghe bố em nói. Thuở nhỏ, bố em học chữ nho.



– Thế là Mây được cả tứ đức rồi nhé, chẳng phải tôi nịnh đầm đâu.



– Anh lại đưa em lên chín tầng mây –Cặp mắt bồ câu của em long lanh ngời sáng.



– Mây có phản đối gì tứ đức không?



– Nhiều người phản đối hai chữ: dung, ngôn nhưng em lại cho là đúng. Phương ngôn có câu “… con lợn béo cỗ lòng mới ngon” chẳng sai bao nhiêu đâu anh ạ.



– Còn tam tòng?



– Tam tòng thì khắc nghiệt, bất công quá, giam hãm người đàn bà trong cuộc đời nô lệ, tuy nhiên cũng không phải hoàn toàn là dở. Thời nay phụ nữ lợi dụng tự do hôn nhân để đi quá trớn, bỏ chồng dễ như trở bàn tay. Cũng vì điều này mà em phải một phen điêu đứng.



– Sự việc diễn ra như thế nào?



– Đang lúc làm việc, một anh ở gần chỗ em, nói mọi cái đều theo mệnh lệnh, theo khuôn khổ, việc xe duyên có nhiều trường hợp đảng cũng thay ông tơ, bà nguyệt; Dân mình chỉ có một quyền tự do cho phái yếu Mây có biết không? Em im lặng. Anh ấy tự trả lời, đó là quyền tự do bỏ chồng. à quên, còn nhiều quyền nữa chứ, chẳng hạn quyền tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo sáng suốt của đảng, quyền căm thù qiặc Mỹ xâm lược, bọn phản động bá quyền Trung nam hải, quyền lao động hết mình, quyền xếp hàng mua sắm… vv và vv…



Bảo vệ nghe thấy, bắt anh ta lên phòng tổ chức lập biên bản và sau đó mấy ngày thì đuổi khỏi nhà máy. Còn em bị cấp uỷ kiểm điểm nghiêm khắc vì lỗi nghe giọng lưỡi phản động mà không lên tiếng phản đối hoặc tố cáo ngay.



– Thế ra Mây là một đảng viên? – Nghe cô ấy nói đến đây, tôi như bị dội gáo nước lạnh vào đầu. Lòng tôi đang tưng bừng, rạo rực bỗng thấy bàng hoàng.



– Vâng! Anh sợ đảng viên à?



– Không, sao lại sợ. Tôi mừng cho Mây ấy chứ.



– Em thấy mặt anh tái đi, vẻ buồn lộ rõ.



– Thế à, có thể tôi vui mừng quá thành xúc động. Không ngờ tôi đang nói chuyện với một phụ nữ tuyệt vời, một người đang phấn đấu cho lý tưởng CS.



– Đừng cho em đi tàu bay giấy nữa. Lý tưởng cái gì ở em, đứa con gái quê mùa ra thành phố, trí khôn ngắn ngủi không đầy gang tấc. Khổng Tử nói, lòng từ thiện trong nhà đi ra. Tương tự thế, em thì lòng từ thiện xuất phát từ bản thân mình, phấn đấu vì mình. Đó mới là lý tưởng thực sự của đời thường…



Tôi lơ đãng nghe những âm thanh ngọt ngào, trìu mến, nhìn cặp môi hồng xinh xinh duyên dáng, đầu óc tôi quay cuồng đuổi theo một dòng tư duy khác: “Ngay giây phút đầu nhìn thấy em, ta đã linh cảm em muôn trùng xa cách. Em đứng trên cao quá, ta không thể nào với tới. Ngồi đối diện với em, ta thấy mình nhỏ bé, tầm thường. Giờ đây lại xuất hiện một bức ngăn vô hình – em là một đảng viên. Giả dụ, vâng, chỉ là giả dụ thôi, giả dụ rằng em sẽ yêu ta, khi đó bằng cách nào ta vượt qua được vách ngăn vô hình ấy là tính đảng? Một giả thiết khác là em từ bỏ đảng để đi theo tiếng gọi của tình yêu, nhưng ta là ai mà em hy sinh lớn thế? Không, ta chẳng là ai ở địa vị thường dân, ta là kẻ khốn khổ, không nhà cửa, ta là đứa dưới mức cùng đinh đang tồn tại dưới cái đáy của xã hội. trong khi đó, đối với em đảng là vĩ đại là mặt trời chân lý. Chẳng phải riêng em mà nhiều người là nạn nhân của đảng: gia đình tan nát, cuộc đời tù tội, đoạ đầy, vẫn coi đảng là là thiêng liêng và tuyệt đối. Ta biết trước cuộc tình éo le nghịch cảnh này sẽ tan tành xác pháo, ta hãy chào từ biệt sớm để bớt phần nước mắt và tủi nhục. Cuộc tình mới bắt đầu nhưng đã bước vào hồi vui. Em là tên xâm lược tàn bạo, tên lính lê dương hung hãn xông vào xoá đi, đuổi đi, tàn phá những kỷ niệm êm đềm và đặt ách thống trị lên trái tim ta. Nhà văn nào đó viết “trong một buổi liên hoan, khi vui nhất thì nên đi về”. Giờ đây đang bước vào hồi vui nhất, ta hãy ra đi để em và cả ta nữa khắc sâu vào ký ức mình những kỷ niệm ngọt ngào pha lẫn vị đắng cay. Có lẽ từ nay hình ảnh Lê thanh Ngân và Lê minh Nguyệt sẽ bị chôn vùi trong dĩ vãng. Và em là ánh hào quang rực rỡ, là yêu thương, là buồn nhớ, là nuối tiếc, là tủi hận, là tiếng cười hoà trong nước mắt của cõi lòng ta. Vâng, em là bà hoàng sắc đẹp và tình yêu… ”



– Anh nghĩ gì mà im lặng thế? Nói chuyện cho vui chứ?



– Anh vẫn nghe em nói – Như trong giấc mơ, tôi sực tỉnh và vội vã trả lời. Có lẽ do trái tim ra lệnh, tôi bắt đầu gọi cô ấy là em – Đảng thay ông tơ, bà Nguyệt thế nào, em cho anh biết với?



– Những đảng viên như em khi định lấy ai thì người đó phải khai lý lịch đưa cho đảng bộ nhà máy xét. Tổ chức có nhất trí mới thành vợ thành chồng. Nếu bản thân hoặc gia đình người đó là đối tượng của cách mạng thì đành phải chia tay.



– Nếu họ cứ lấy nhau?



– Người là đảng viên sẽ bị khai trừ, từ đồng chí trở thành kẻ thù của đảng – Em đăm đăm nhìn tôi với cặp mắt long lanh – Anh quan tâm đến chuyện đó làm gì, ta chuyển sang đề tài khác thôi anh Tâm ạ?



– Xin chiều người đẹp. Nghe chị Hoà nói, em ít quan hệ với người ngoài nhà máy, vậy thời gian rảnh rỗi làm gì?



– Em không làm gì cả cũng chẳng đi đâu, chỉ đọc sách thôi. Người ta bảo em là con mọt sách.



– Mây hay đọc sách nào?



– Em thích đọc những tác phẩm dịch của nước ngoài. Nếu mượn được thì đọc tự lực văn đoàn hay thơ lãng mạn.



– Anh mong ngày thế kỷ đầu râu bạc



Anh đuổi em qua từng thành phố



Anh hôn em trong bầu trời sương đục Luân đôn.



Em có biết những vẫn thơ ấy của ai không?



– Của Maiacovsky chứ gì, em học kỹ lắm.



– Em học trường nào thế? – Tôi ngạc nhiên hỏi.



– Học ở trường đại học tổng hợp văn. Maiacovsky là nhà văn hiện thực XHCN.



– Lạ nhỉ, tổng hợp văn mà làm thợ dệt à?



– Đời là cuộc bể dâu, người ta lên voi xuống chó cũng là chuyện bình thường huống chi sự thay đổi của em.



– Nguyên nhân nào dẫn Mây đến sự thay đổi ấy?



– Thực ra đó là chuyện buồn nhưng có thể bị pha trộn tính hài hước, anh Tâm ạ. Khi học ở phổ thông, em có năng khiếu về văn rồi nâng niu một ước mơ trở thành một nhà văn hay một nhà thơ. Anh đừng cười em đấy nhé, vì ước mơ bao giờ cũng xa với hiện thực. Năm 1968, hết phổ thông em vào đại học. Tưởng như ước mơ lãng mạn của mình đã có đường thênh thang đến đích nào ngờ đâu tai biến ập đến: Bố em ốm nặng nằm viện. Là đứa con gái duy nhất, em phải nghỉ học để trông nom chăm sóc người đằng đẵng hết mùa hè và mùa thu năm 1969. Thời gian sau đó, bố mẹ cứ ốm đau luôn, người yêu đi chiến trường B lại tuyệt vô âm tín. Vì hoàn cảnh éo le, vì buồn em bỏ lỡ cơ hội quay lại trường đại học. Và giữa năm 1970, em xin học nghề tại nhà máy này. Thế là ước mơ một writer hay một poet biến thành mây khói nhưng không hiểu sao cái thú văn chương em không thể nào từ bỏ.



– Nếu Mây quyết tâm, ước mơ vẫn còn nhiều cơ may chứ. Nhà văn, nhà thơ không phải ai cũng được học thành tài.



– Vâng, em cũng biết thế và cũng hiểu rằng văn chương thuộc về thiên chức chứ không phải nghề nghiệp. Nhưng do buồn quá nên em chẳng đủ nghị lực làm nổi việc gì khác với đời thường.



– Anh phản đối! Việc em phấn đấu vào đảng có phải là một hành động khác thường không?



– Giai cấp công – nông, ai muốn phấn đấu vào đảng đều được cả, sao anh nghĩ đó là hành động khác thường? Đơn giản em chỉ cho đó là giấy thông hành đỏ của cuộc đời thôi. Những người có học muốn leo cao hoặc đi xa trên con đường mưu cầu công danh, địa vị thì giấy thông hành đỏ mới có giá trị đích thực. Còn những người mà kiến thức gom góp lại vừa qua khỏi Spell thì vào đảng làm gì? Con số này không nhỏ. Nếu một đất nước có hai triệu đảng viên, như anh nói nghĩa là hai triệu con người phấn đấu cho một lý tưởng cao đẹp thì đất nước ấy phải biến thành một vườn cây đầy hoa thơm, trái ngọt chứ không nghèo nàn, lạc hậu như hiện nay.



– Cứ cho là có hai triệu người vì dân, vì nước nhưng những người lãnh đạo họ có đi theo quy luật phát triển của lịch sử không hay ngược lại?



– Vâng! Yếu tố đó là quyết định. Tuy nhiên, do trí khôn ngắn ngủi của mình nên không có khả năng phán xét. Ô hay! – Mắt em chớp chớp nhìn tôi, nở một nụ cười hoa ghen, nguyệt thẹn – Em và anh đang đóng vai hề trên sân khấu chính trị, mình vô duyên quá!



– Ta đi lang thang một chút đã sao. Anh phỏng vấn Mây thêm một câu thôi nhé?



– Em đồng ý, song lưu ý anh, ta không nên biến buổi gặp này thành một cuộc hội thảo về chính trị.



– Anh tuân lệnh. Và đây là câu hỏi cuối cùng: Xem ra em không thần thánh đảng như nhiều người khác?



– Vâng! Nhưng mình chỉ là hạt cát trên sa mạc, gió chiều nào phải bay theo chiều đó dù ngọn gió lành hay gió độc. Em vào đảng cũng là để tuân theo cái logic ấy.



– Mây có phát hiện thấy không, người ta bảo anh là người dở hơi đấy?



– Thế thì hay quá? Em không ngờ lại có buổi tương ngộ của hai tâm hồn cũng từ một nồi cám hấp mà ra.



– Sao lại thế? – Tôi ngạc nhiên.



– Một con lập dị – Công nhân nhà máy bàn tán về em – tuổi đã nhiều, không đi đây đi đó để bắt bồ, bắt bịch, lúc nào cũng ru rú ở nhà đâm đầu vào cuốn truyện, nay Puskin, mai Victorhugo, ngày kia lại WalterSott. Có thể anh cũng thế chăng, ăn cơm gạo hẩm độn bảy mươi phần trăm mỳ sợi, ngày đêm quan tâm đến hoà bình thế giới?



– Em nói thật chí lý.



– Người ta ước mơ Honda, tủ lạnh, cassette Sony chứ cần gì Balzac, Bernard Show, Homer hay Nguyễn Du cơ chứ. Anh Tâm ạ, ta phải biết mình lạc lõng với cộng đồng. Họ bảo mình, dở hơi, cám hấp là đáng lắm. Nhưng điều này em nói vụng với anh thôi nhé, trong số hàng nghìn hoặc hàng vạn kẻ dở hơi sẽ xuất hiện một danh nhân. Nghe đâu vua hề Charlot và nhà bác học Albert Einstein cũng từ một nồi cám hấp mà ra.



– Em có nhiều bạn không?



– Cho đến lúc này, anh tự biết.



– Có thể giống như anh, em cũng ít bạn bè?



– Đúng thế, có một vài người bạn cùng nghề, đồng nhiều, hoà ít.



– Anh cứ tưởng một phụ nữ mười phân vẹn chín như em phải có hàng tá vệ tinh?



– Vệ tinh thì nhiều đấy nhưng không có lực hướng tâm nên chỉ sau một thời gian ngắn vệ tinh rơi vào khoảng không vũ trụ – Ngừng một lát, em mỉm cười thỏ thẻ –… Hôm nay, em được gặp anh khác nào tiếng đàn Bá Nha đã có Chung tử Kỳ nghe.



– Anh vô cùng cảm động và vinh hạnh khi em có nhã ý dành cho anh một nhận xét tuyệt vời. Tuy nhiên ai đó đã nói, khi tìm được tri kỷ thì chết. Có thể chúng ta gặp nhau không bi quan như thế, song biết đâu mình đến với nhau rồi vội vã xa nhau?



– Sao kết cục lại buồn thế, anh? – Em khẽ rùng mình, nét mặt bỗng trở nên ủ rũ, đầu cúi xuống.



– Anh linh cảm thế thôi.



– Ít ra, anh coi em như người bạn gái?



– Chỉ chừng ấy thôi đối với anh cũng là một vinh hạnh lớn, có thể chỉ là một mơ ước hão huyền. Vốn dĩ anh sinh ra để chịu đựng đau thương, khổ nhục chứ không phải để hưởng những niềm vui. Nếu anh có em là bạn – một người bạn tri tâm – niềm hạnh phúc ấy ngược với số phận bất hạnh của anh mà thượng đế đã an bài sẽ bị người ta băm vằm, xâu xé. Hôm nay, anh có diễm phúc được gặp em, một lần và chỉ một lần tương ngộ này thôi cũng đã để lại cho anh một niềm vui to lớn. Mai ngày đôi ta mỗi người một ngả, anh sẽ khắc sâu hình ảnh tuyệt vời của em trong ký ức. Khi vui, khi buồn, khi vất vả, khi tủi nhục, trong giấc mơ lúc nào cũng có em ở bên để cùng chia sẻ. Từ nay, anh không lủi thủi một mình một bóng mà một mình hai bóng, bóng anh và bóng em. Bóng em như bóng mây hồng che mát cho anh trong những ngày nắng hạ, tạo ra nguồn sinh lực để anh vượt qua chặng đường cuối đầy gian nan, khổ ải ở thế gian này…



– Thôi, em không muốn nghe anh nói nữa đâu – Mây nhìn thẳng vào mặt tôi, khoé mắt rưng rưng lệ biểu thị nỗi bất bình, em nói nhỏ nhưng không kém phần gay gắt – Anh tàn ác lắm, em căm ghét anh! Đã thế anh bày ra buổi hẹn này làm gì?



– Mây, em bình tâm lại để anh giãi bầy bầu tâm sự. Anh hẹn gặp em với ước mong tìm một người bạn đời môn đăng hộ đối với hoàn cảnh nghèo khổ của mình, nào biết em cao quá, anh không thể nào

với tới? Anh giả dụ rằng, xuất phát từ tình thương mà em hạ cố yêu anh, cuộc tình duyên lãng mạn và nghịch cảnh ấy, em biết phía trước có bao nhiêu kẻ thù không? Là ý thức hệ thời đại, là những người mệnh danh khuôn vàng, thước ngọc, là điều o�ng, tiếng ve của xã hội, là sự túng thiếu, đói rách… Bằng ấy thứ kẻ thù súm lại băm vằm, xâu xé – Ngừng vài giây tôi nói tiếp – Ngày xưa dựng xong vương nghiệp cho Lưu Bang, Trương Lương từ bỏ công danh phú quý, lên núi tu tiên để trốn chạy sự ghen tuông, đố kỵ của người đời. Ngày nay, nếu có phép nhiệm màu biến xứ sở này thành một hòn đảo hoang vu, anh mới dám mong em là của anh mãi mãi, mới dám mong một tổ ấm trường tồn. Được như vậy, anh sẽ mở rộng cửa bốn phương, tám hướng của tâm hồn nghênh đón tình yêu của em, nghênh đón em – hoàng đế của trái tim anh.



– Em sợ lắm rồi, anh Tâm ạ. Hồn ma Pessorine đã nhập vào anh.



– Em nhầm rồi, khác với Pessorine, anh chỉ là người khốn khổ cả vật chất lẫn tinh thần. Thuở xưa, khi anh còn trẻ, lý trí đã mách bảo anh rằng: “Mi là kẻ khốn cùng, mi hãy quên, hãy đào sâu, chôn chặt cái ái tình dưới nấm mồ vĩnh cửu để đời mi bớt đắng cay” Cũng từ thời buổi đó, anh không dám nghĩ đến tình yêu nữa, cho đó là việc của người, mình không có quyền can dự, tuy có yêu thầm, nhớ trộm – một thứ tình yêu đơn phương, câm lặng. Ngày nay khi bóng đời đã ngả, anh chỉ tìm người sửa túi nâng khăn chứ đâu dám nhờ cậy Cupidon che chở. Giờ đây, anh có vinh hạnh được gặp em – một giấc mơ yêu tuyệt đẹp đến với anh. Một hạnh phúc lớn quá mà anh lại nhỏ bé tầm thường bất tài, bất lực trước những trận cuồng phong của cuộc đời, không bảo vệ được chính mình thì hạnh phúc đến có chăng cũng chỉ như làn gió mát thoảng qua. Anh coi em như làn gió mát, tuy nhiên vẫn đọng lại trong anh một kỷ niệm yêu thương sâu sắc nhất và cũng từ nay em toàn quyền thống trị…



– Xin đủ rồi, gửi anh lời chào từ biệt – Nói xong, Mây đứng dậy rảo bước ra ngoài và đạp xe về.



Tôi bàng hoàng nửa tỉnh nửa mê như trong cõi mộng, bỗng vang lên những âm thanh từ băng cassete nhà bên:



Không phải tại em cũng không phải tại anh



Tại đời đen trắng nên chúng mình xa nhau…



Những âm thanh ấy làm tôi bừng tỉnh. Như một bản năng, tôi lao ra ngoài đuổi theo người đẹp nhưng hình bóng em đã mất hút trong ánh tịch dương mờ ảo. Tôi lặng lẽ dắt xe ra ngoài cổng lại chợt nhớ ra gia đình chủ đi vắng nên tôi quay lại. Một lúc sau, khi màn đêm buông xuống, bóng tối trùm lên dầy đặc mới thấy chị chủ nhà về và vội hỏi:



– Chú nói gì mà cô Mây buồn bực thế?



– Em tôn trọng, hơn thế nữa có thể em đã tôn thờ cô ấy.



– Lúc nãy, tôi gặp Mây trên đường về, nét mặt cô ấy rất buồn, tôi hỏi: Buổi nói chuyện đi đến đâu rồi? Cô ấy trả lời, chán lắm chị ơi, biết thế này thì em đã… Đã sao? – Tôi hỏi. Em đã chẳng nhận lời gặp anh ấy. Bây giờ em phải về, để thư thả em sẽ nói chuyện với chị sau. Trả lời xong, cô ấy phóng xe thật nhanh, không để tôi hỏi thêm một câu nào nữa. Chú nói có vẻ mâu thuẫn lắm, tôn trọng mà cô ấy buồn bực thế à?



– Sự thật là em tôn trọng Mây. Có điều chị giới thiệu cho em một đối tượng quá cao, mình không đủ tài, đủ lực để sánh đôi.



– Chú cũng nói với cô ấy thế?



– Vâng, đằng nào cũng không thành hoặc tan vỡ nên chia tay sớm thì hơn.



– Nếu cô Mây yêu chú?



– Em chắc rằng, hiện thời cô ấy đã yêu em nhưng thế giới này đâu chỉ có hai người, còn nhiều thế lực cản trở, dèm pha. Thà cuộc tình duyên không thành còn hơn để sau này tan vỡ, em đành phận nhưng Mây phải chịu những nỗi buồn lẽ ra không có.



– Chú muốn gặp lại cô Mây không?



– Nếu cô Mây coi buổi tái ngộ như là để đọc nốt những trang tiểu thuyết còn bỏ dở thì em đồng ý.



Chiều hôm sau, chị Hoà đi làm về, nói:



– Suốt ca làm việc, Mây buồn bã chẳng nói một lời nào. Thấy vậy, cậu thanh niên đứng máy bên trêu, Mây thất tình hay sao mà tẻ ngắt?



Gió mưa là bệnh của trời



Tương tư là bệnh của tôi yêu chàng.



Có đúng thế không Mây? Cô ấy vẫn làm thinh. Một cô cùng phòng với Mây kể lại, suốt chiều qua chị ấy đi đâu vắng, đến tối mới về. Thấy chị ấy như kẻ mất hồn, chúng em hỏi nguyên do, chị ấy chỉ trả lời chung chung thương cha, nhớ mẹ.



Tôi cũng muốn gặp cô ấy nhưng trước tình cảnh ấy thôi cũng đành im lặng chờ đợi. Mình thật vô duyên quá, làm ơn hoá oán cũng nên.



– Một lần nữa em xin cảm ơn chị, biết ơn thiện chí của chị. Em nghĩ rằng cô Mây cũng thế mới phải. Vì xét cho cùng chẳng có ai có lỗi gì?



– Chú khôi hài thật đấy. Người ta trốn chạy bất hạnh chứ có ai từ chối hạnh phúc bao giờ?



– Em không sai đâu chị ạ, một hạnh phúc đến xét thấy mình không có khả năng bảo vệ thì trước sau nó cũng ra đi để mình phải gánh nỗi bất hạnh.



– Chú đi tìm vợ có phải đi tìm hạnh phúc không?



– Đúng là em đi tìm hạnh phúc nhưng một hạnh phúc tương xứng với số phận của mình. Hay nói cách khác em đi tìm một người đàn bà làm vợ chứ không dám nghĩ đến tình yêu, nhất là một mối tình tuyệt đẹp như với cô Mây.

Gửi ý kiến của bạn
Tắt
Telex
VNI
Tên của bạn
Email của bạn